Mạch Buồn

Lượt đọc: 273 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8

❊ ❊ ❊

Tôi là Fred Topsom. Tôi đến từ Poplar ở Đông Luân Đôn. Tôi từng tham gia Hội Nam Hướng đạo với những thành viên lớn tuổi trong hạt. Chiến tranh nổ ra và tôi được gọi vào sư đoàn Mèo Đen. Một đội quân cừ đấy. Từ đó chúng tôi mang mọi biểu tượng trên ống tay áo: mèo, gấu, quả đấm, miếng pho mát. Nhưng đi đánh nhau thì những cái đó chẳng quan trọng gì. Bạn có chiến đấu bằng ống tay áo đấu cơ chứ.

Tôi đã chứng kiến nhiều chuyện kể từ khi tôi đến sa mạc miền Tây. Tôi không thích cái tình thế của bọn tôi bây giờ chút nào. Việc đổ bộ ổn rồi. Coi như đó là một miếng của một cái bánh. Nhưng trên giấy, người ta viết: “Hãy chiếm lĩnh vị trí trên đồi cao”. Thay vì lên chỗ cao, chúng tôi lại đang lún sâu hơn trong bùn lầy. Trước mặt chúng tôi là núi, sau lưng chúng tôi là biển. Chính cái thế này làm các quy định rối beng hết cả. Tất nhiên, câu trả lời là đừng có đứng đó mà kêu ca: chiếm lĩnh vị trí trên đồi cao. Nhưng tôi hỏi các bạn, làm thế nào các bạn chiếm lĩnh vị trí trên đồi cao được khi mà các bạn không có được những gì cần thiết để chiếm lĩnh nó?

Có Chúa biết chúng tôi mệt mỏi đến nhường nào. Nhưng các bạn không thể đánh bại quân Đức bằng cách lừa phỉnh chúng. Trừ khi các bạn sẵn sàng cho chúng với một đòn áp đảo ngay khi chúng đã mắc lừa. Nhưng đây chúng tôi lừa phỉnh quân Đức xong lại mong đợi chúng rút về nước. Quân Đức không rút đâu. Xem những gì chúng tôi làm ở Campoleone đấy. Chúng tôi đã rút được cổ ra khỏi đó là may lắm rồi. Chúng tôi mất nửa quân số. Theo dự đoán chúng tôi sẽ chỉ vấp phải “những đơn vị yểm trợ không quan trọng”. Thay vì thế chúng tôi đã phải đối mặt với những gì nhỉ? Chúng tôi phải đụng đầu trực tiếp với trung đoàn Panzer-Grenadier 29. Lính của trung đoàn ấy nổi tiếng vì thiện chiến. Tôi chẳng thấy gì nổi bật từ những gã cục mịch được lệnh chiếm Cassino và tiến đến Rome. Họ nói phòng tuyến địch vẫn chưa bị chọc thủng. Có tin đồn rằng, người Mỹ đã nhảy sang Rapido và đã phải chịu tổn thất nặng nề.

Tuần này là một tuần khủng khiếp. Bắt đầu tấn công, đào đất, bắn nhau, nghỉ lấy sức, chôn người chết. Rồi lại bắt đầu tấn công, đào đất, bắn nhau, nghỉ lấy sức, và chôn người chết. Rồi lại bắt đầu quay trở lại điểm xuất phát. Giờ lại bắt đầu tấn công. Lần này là tấn công trong đêm tối. Pằng, bùm, pằng. Quân Đức không ưa gì chúng tôi. Giờ chúng được lệnh tấn công. Giờ trung úy của chúng tôi ra lệnh cho chúng tôi lùi về phía sau. Giờ đến lượt quân Đức rút. Giờ chúng tôi lại tấn công. Giờ quân Đức cũng tấn công. Trong sáu ngày, chúng tôi thu nhặt tù binh của tám sư đoàn khác nhau. Việc đó chẳng có ý nghĩa gì hết. Nó giống như trò chơi con rắn và thang leo mà ngày xưa chúng tôi từng chơi. Hôm qua chúng tôi chuyển quân trước khi đổi phiên và chính các khẩu súng của quân chúng tôi đã nã đạn lên đầu chúng tôi chứ không phải quân Đức.

Và cái nơi này đúng là một nơi khỉ ho cò gáy. Chỉ có vài cái cây, vài cái nhà tranh trông thật buồn tẻ. Ngoài ra chỉ có đầm lầy, những bụi cỏ, và nước. Nhìn thức ăn của chúng tôi mà xem. Chúng tôi sống qua ngày nhờ những gì chúng tôi xoáy được ở đây và nhờ những gói lương khô của người Mỹ. Khốn nạn thật, ăn thứ thức ăn đó của người Mỹ mà đến giờ chúng tôi vẫn chưa thất trận kể cũng lạ. Tất cả đều là đồ đóng gói khó nuốt. Khi bạn nuốt kẹo bạc hà, thuốc lá, và kẹo làm bằng đường glucô nghĩa là bạn phải nuốt các chất khử nước có trong các thứ đó, bụng bạn có cảm giác rỗng không. Nhưng những thứ đó làm bạn bị đầy hơi. Chúng chẳng có chút gì được như mật đường và bánh pudding của người Anh hết. Bất cứ con gì có thể ăn thịt được ở quanh đây đều bị chúng tôi dùng làm thức ăn ngay trong những ngày đầu tiên rồi. Bên trái chúng tôi có những cậu lính là dân Dukes. Dân Dukes nổi tiếng là những người ăn như rồng cuốn. Dân Dukes quả là những người giỏi ăn.

Giờ chúng tôi lại đi. Trung úy của chúng tôi nói chúng tôi lại chuẩn bị tấn công địch. Người đã đẩy chúng tôi đến cái bình nguyên chết tiệt này cũng phải đi tấn công địch cùng chúng tôi mới đúng. Hi vọng rằng chúng tôi sẽ sớm thoát khỏi cái trò con rắn và cái thang leo này. Hãy lắc súc sắc thật mạnh và cố mà vớ được mặt sáu. Chúng tôi sẽ cần nhiều may mắn lắm mới có thể lên được những quả đồi kia.

Tôi là Franklin SHoltzinger, Jr. Tôi thuộc tiểu đoàn Ranger. Tôi là một GI, tức một lính Mỹ-chó của mọi người. Tôi là lính bộ binh, ra trận với một khẩu súng trường và một lưỡi lê.

Đơn vị của tôi chiến đấu ở Salerno. Tôi nhớ rõ tất cả, nhớ quá rõ. Wally và tôi (Wally là bạn thân của tôi) đang bò, cố lừa một tên lính Đức không đủ thông minh để nhận ra chúng tôi.

“Frankie,” Wally nói, “khi nào cậu ra khỏi cái mương này cậu sẽ dành được Trái tim màu mận chín.” Ôi, chúng tôi đã chẳng bao giờ rời khỏi cái mương đó được. Chí ít là theo cách Wally muốn.

“Tiến lên nào,” tôi nói với Wally, “Hãy tiến lên và thiêu tên Đức kia đi.”

Nhưng Wally không hề động đậy. Cậu ấy cứ nằm im đó, tựa đầu trên bờ mương nơi chúng tôi tránh đạn địch. Tôi cứ nghĩ cậu ta đang trêu tôi.

“Gì thế, Wally?” tôi nói, và rồi tôi nhận thấy cậu ấy bị bắn xuyên qua mũ sắt ngay phía trên tai. Tôi cho rằng khi những chuyện như thế xảy ra chắc hẳn tôi đã quên chúng tôi phải làm gì. Thật không tài nào chịu nổi, Wally và tôi đã kề vai sát cánh bên nhau suốt một chặng đường dài. Chúng tôi đã chiến đấu bên nhau, ăn cùng nhau, ngủ cùng nhau. Chúng tôi đã cùng nhau dẫn dắt đội bóng ở Kalamazoo trong ba năm. Cùng nhau hẹn hò với các cô gái.

“Cậu nghĩ cậu đang làm cái quái gì thế hả?” trung sĩ của chúng tôi trườn xuống hào, nói.

“Tôi đang ngồi với Wally,” tôi đáp. “Wally chết rồi. Mẹ của Wally sẽ đau buồn lắm”.

“Lạy Chúa,” trung sĩ của chúng tôi nói.

Ôi, không có Wally chiến tranh không còn như trước nữa. Mớ bòng bong mà chúng tôi vướng vào ở Anzio này cũng chẳng khác mấy. Từ khi Wally ra đi chẳng có gì diễn ra suôn sẻ hết. Chúng tôi đổ bộ lên đất này trong đêm tối, ai cũng lạnh cóng. Chúng tôi chiếm được một con kênh. Sau đó lại để mất một con kênh. Sau đó chúng tôi chiếm lại con kênh đó. Trong ánh sáng ban ngày chúng tôi phải đào, đào, đào, và chết. Chỗ nào cũng có quân Đức. Radio nói chúng tôi đã tranh thủ được lúc quân Đức đang ngủ đổ bộ lên đây. Ôi, ngay trên bãi biển chúng tôi đã phải nếm đủ mùi khó chơi của quân Đức rồi. Và tôi đã nói với bệnh nhi Kassori: “Nếu quân Đức ở đây ngủ, thì điều gì sẽ xảy ra khi quân Đức thức dậy?”

Người anh em, chúng thức dậy rồi! Trong suốt một tuần, tôi cứ ước mình được trở về Kalamazoo. Lẽ ra tôi nên ở nhà học nốt năm cuối, như cha tôi nói. Thực ra quân Đức đâu có ngủ. Và chúng không để chúng tôi có thời gian tắm rửa. Chúng tôi bơm nước từ con kênh lên và lắp đặt một vòi nước. Nhưng cứ mỗi lần ai đó cởi quần áo vào tắm, thì y như rằng quân Đức nã đạn tới. Các anh chàng nhảy nháo nhào ra khỏi chỗ tắm, chạy thục mạng qua cánh đồng.

“Khi một người đàn ông đã cởi quần ra, anh ta đáng được hưởng tất cả những gì anh ta có được,” trung sĩ của chúng tôi nói.

Trung sĩ là người Georgia. Anh ấy đã chiến đấu trong cuộc nội chiến. Anh ấy ghét cay ghét đắng một thứ: xe tăng Sherman. “Xe tăng Sherman chết tiệt!”

Như thể chúng tôi vẫn chưa có đủ điều để lo lắng, trung úy Fetcher cho chúng tôi thêm thứ để lo.

“Nhìn thấy cái điểm bé tí ở chân đồi kia không?” Anh ta chỉ tay về phía Cisterna. “Nhìn xem, các cậu và tôi, chúng ta sẽ chiếm cái điểm đó từ tay quân Đức.”

Ôi, ai cũng biết chúng tôi không chiếm nổi nó. Người ta đã lệnh cho chúng tôi tới Cisterna. Giữa đêm tối, họ đã đưa chúng tôi đi dọc những con mương qua những vị trí, những trạm gác của địch. Vào ban ngày có lẽ người ta chỉ cần cầm một hòn đá ném mạnh là hòn đá có thể bay tới điểm đó. Nhưng quân Đức đã phát hiện ra chúng tôi - tất cả một nghìn hai trăm người chúng tôi.

“Nó đấy,” trung úy Fetcher nói. “Tiến lên!” b, chúng tôi không tiến lên được, chúng tôi không bao giờ rời khỏi căn cứ đầu tiên được.

“Tiến lên! Tiến lên! Tiến lên!” Ngài đại tá ra lệnh qua máy bộ đàm.

Nhưng làm thế nào tiến lên được, thưa đại tá, khi mà những người phải tiến lên đã chết rồi? Chúng tôi đang trèo qua các đồng đội của mình đây. Chẳng mất nhiều thì giờ, chúng tôi đã hiểu ra mình đang bị mắc bẫy - mắc vào bẫy chết. Địch dành cho chúng tôi cả một cái bẫy lớn, dài tận chín thước: những khẩu súng tự động, những cỗ súng máy, những khẩu súng cối, những tay súng bắn tỉa. Chúng tôi bị bao vây trên một bình nguyên không cây cối, không có gì che chắn hết.

Cái kết cục đến vào buổi trưa khi những chiếc xe tăng địch từ Cisterna lù lù tiến ra đường cái nhằm thẳng hướng Isola Bella. Những chiếc xe tăng chạy giữa chúng tôi, xua chúng tôi ra khỏi những cái hố nông và dồn chúng tôi thành những nhóm nhỏ để tiêu diệt. Chúng tôi được lệnh phân tán. Nhưng quá muộn rồi. Ngày hôm đó quân Đức vớ bở. Ngày hôm đó trung đoàn chiến thuật của chúng tôi tiêu vong. Trong số bảy trăm sáu mươi bảy người, chỉ có sáu người chúng tôi thoát được. Nhiều đồng đội của tôi là dân Kalamazoo. Trong tổng số một nghìn hai trăm người chúng tôi xung trận, có bốn trăm người cố quay về được. Khi chúng tôi về đến nơi trú quân, ai nấy đều câm lặng. Điều khiến chúng tôi khó chịu đựng nhất là phải nhìn những người bạn của mình cố xoay xở để đến cứu chúng tôi. Họ đã làm tất cả những gì có thể và còn làm hơn cả những gì bất cứ ai mong đợi, nhưng thay vì cứu chúng tôi thoát ra, chính họ lại mắc bẫy. Quân Đức biết mình đang làm gì. Bọn chúng gài bẫy họ như đã gài bẫy chúng tôi. Nghe nói quân của chúng tôi ở trận tuyến phía nam cũng gặp phải số phận tương tự khi tiến qua Rapido, thậm chí tình cảnh của họ còn thê thảm hơn. Trung úy và trung sĩ của chúng tôi đều đã chết. Khi còn sống, trung úy nói rằng nếu chúng tôi chiếm được Cisterna, thì chúng tôi sẽ sớm chiếm được Rome. Nhưng tôi không biết chúng tôi muốn chiếm Rome để làm cái quái gì. Đây đúng là một cuộc chiến khó hiểu. Cái thằng tôi đây, xuất thân từ một gia đình người Đức có gốc gác lâu đời nhất trong thị trấn nơi tôi sinh ra, lại đang đi giết người Đức. Các bạn, các bạn có thấy khó hiểu không? Nếu đây là châu Âu, thì người Đức cứ việc giữ lấy. Tôi sẽ nói với thượng nghị sĩ của chúng tôi điều đó.

Một khuôn mặt mỏng và dài. Máu bắn tóe ra. Gần quá. Máu đang làm tôi ngột thở.

“Alles wohl… Schlaf… Your Krieg ist beendet, soldier…beendet… Krieg beendet…alles wohl.”

Chẳng ổn tí nào. Mặt của cái người Anh này đã trở nên mỏng và dẹt như một chiếc đĩa. Tôi đang trườn xuống một cái hố. Tôi là ai và tôi là gì? Tôi không còn chút hi vọng nào. Tôi thua rồi.

Chắc là tôi đã thiếp đi. Tôi lạnh cóng. Nửa người bên trái của tôi không có cảm giác.

“Anh ổn chứ?”

Một cái mặt khác cúi xuống tôi.

“Muốn hút điếu thuốc không?”

“Nưa,” tôi nói, “nước.”

Ai đó dấp chút nước lên môi tôi rồi đi.

Hai hay ba người đứng quanh tôi, lẩm bẩm gì đó. Họ quay sang những người khác đang nằm cạnh tôi.

Tôi vẫn còn có thể cử động đầu được. Bên trái tôi là một người da đen. Ánh mắt chúng tôi gặp nhau trong thoáng chốc. Chỉ có nỗi sợ hãi và e ngại. Bên cạnh người lính da đen là một Feldwebel nằm bất tỉnh. Bên phải tôi là một sĩ quan người Anh. Có một chiếc mũ cài băng đỏ để trên cáng của anh ta. Anh ta nằm bất động, như một xác chết, nhìn đăm đăm lên trần nhà. Phía ngoài anh ta là một người lính Mỹ. Cậu ta để ý thấy tôi đang nhìn quanh.

“Cậu thoát khỏi chiến tranh rồi,” cậu ta nói với sang.

Tôi cố mỉm cười.

“Cậu đang ở trong một cái tàu bệnh viện hạng ba đấy, anh bạn ạ,” cậu ta nói. “Phải sớm thoát ra khỏi đây thôi nếu không quân Đức sẽ sớm hỏi thăm chúng ta. Chúng ta đang bỏ neo ở đúng cái chỗ mà vài ngày trước quân Đức bị chìm mất một cái tàu bệnh viện.”

Cậu ta không biết rằng cậu ta đang nói chuyện với một người Đức.

Tôi đáp lại bằng thứ tiếng Anh ngập ngọng của mình. Người lính Mỹ có vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn thích nói. Cậu ta kể với tôi rằng cậu ta đến từ bang Illinois.

Tôi cố nói cho cậu ta chút gì đó về bản thân. Tôi là Fritz Steingarten. Tôi hai mươi ba tuổi. Tôi đến từ Kochel ở Kochelssee, vùng Thượng Bavaria, sinh ra và lớn lên trong một trang trại nuôi gia súc nằm dưới chân núi. Tôi là một Gefreiter tức một binh nhì của Trung đoàn Panzer-Grenadier 29. Chắc là người Anh đã nhặt tôi ở trận địa đưa xuống tàu này. Tôi chỉ có thể nhớ được rằng có một luồng chớp lóe lên. Thế thôi, tôi không nhớ gì nữa hết.

Nói mất sức quá. Ở đây mùi thuốc tẩy trùng và mùi thuốc gây mê sao mà nồng nặc thế. Một số người vừa mới được mổ cấp cứu. Khi chất gây mê hết tác dụng, họ gào thét như những con thú bị thương. Người ta đang mổ cho một người ở ngay phía sau tôi. Anh ta rống lên như một con bò bị nhốt trong chuồng giữa mùa đông đang đòi được cho ăn. Viên sĩ quan người Anh vừa moi được chiếc mũ mà người hộ lý đã cất xuống bên dưới cái cáng. Có lẽ quân đội là tất cả những gì anh ta có. Một mạng sống vừa chuồn mất. Cái xác được mang ra ngoài. Một người khác nhanh chóng được đưa vào thế chỗ trên chiếc cáng không.

Cuối boong tàu có một khoảng mở khá rộng và qua đó tôi có thể nhìn thấy bầu trời ở bên ngoài. Một chiếc máy bay chiến đấu của Đức bay qua, theo sau nó là những cụm khói xám xịt của súng phòng không. Người phi công thật can đảm. Anh ta gần như bay đơn độc trên bầu trời. Ở ngoài kia chắc là lạnh lắm. Âm thanh của trận đánh nào đó vọng lại từ xa xa. Một người lính Anh thổi kèn ác-mô-ni-ca. Cạnh anh ta một người khác đang lặng lẽ khóc.

Cửa đóng lại, tàu đã nhổ neo, động cơ bắt đầu rung. Giờ tàu bắt đầu chạy. Ánh sáng duy nhất chúng tôi có là thứ ánh sáng từ những ngọn đèn đang đung đưa phía trên đầu chúng tôi. Nằm ở đây giống như nằm trong một cái tủ sắt lớn vậy.

Nửa người bên trái của tôi vẫn không có cảm giác. Người lính da đen chưa hề nói lời nào. Những người hộ lý đi từ chỗ bệnh nhân này tới chỗ bệnh nhân khác.

Họ chỉ ném một tấm vải lên mặt viên thượng sĩ. Họ sẽ chôn anh ta biển.

Tôi đã ở đâu nhỉ? Ở Cassino chăng? Cassino, đã lâu lắm rồi… Tháng Mười Một, tháng Mười Hai, rồi tháng Một. Tôi không nhớ gì ngoài những trận chiến đấu - đánh trận mệt nhoài, chiến đấu một cách tuyệt vọng, đổ mồ hôi, đổ máu, rớt nước mắt xuống lớp bụi đất phủ trên mặt đồng đội. Tôi không sao nhớ nổi Giáng sinh vừa rồi như thế nào. Đánh, bỏ bom, đánh, bỏ bom, né, núp, chạy, đào, cầu nguyện. Trên mặt đất mênh mang nỗi sợ cái chết bất ngờ. Dưới mặt đất đầy nghẹt nỗi sợ bị chôn sống. Không thể tin được. Nhưng thực tế đúng là như vậy. Lúc không đánh trận bạn mặc nguyên quân phục mà ngủ, ngủ với cây súng trường lạnh buốt trong tay, ngủ với nỗi sợ hãi trong tim, và bạn lạnh cóng, thức ăn lạnh, và bàn tay bị phát cước của bạn mưng mủ, còn Tromelfeuer thì không lúc nào ngớt. Từng người từng người, từng ngày từng ngày, ra đi không trở lại. Một vài người tôi có thể ôm và an ủi lúc họ hấp hối, những người khác tôi không bao giờ còn nhìn thấy. Họ đã ra đi, thế thôi. Và đó là những con người vĩ đại. Một vài người trong số họ là người Kochel. Những chàng trai cùng tôi bơi thuyền trên hồ giờ đâu rồi? Đâu rồi những người mà một mùa hè cách đây không lâu đã cùng tôi đi thuyền trên hồ Konigsee và ghé tới làng St Bartholoma? Chẳng phải chúng ta đã cũng uống mừng cùng vui đùa mới đó sao? Những sườn đồi làm vọng tiếng cười của chúng ta. Các cậu không nhớ tiếng kèn dội lại qua những ngọn núi xa xôi, nguyên sơ, và huyền bí sao? Những chàng trai đến từ Kochel đâu rồi? Những chàng trai hôm nào còn ngồi quanh bếp ở nhà ngáp dài giờ đâu cả rồi? Không thể có chuyện tất cả bọn họ đều đã ra đi. Nhưng đúng là họ đã ra đi. Họ đã tìm đến nơi yên nghỉ ở Cassino. Tôi là người Kochel duy nhất còn sống.

Cassino ư? Cassino ư? Đúng, tôi nhớ mà. Khi quân tăng viện đến, chúng tôi đã không tin họ. Người ta luôn hứa sẽ cho quân đến tăng viện. Từ tháng Mười Hai, tuyến giao thông liên lạc đến Rome của chúng tôi bị các nhóm du kích đánh phá; các chuyến tàu hỏa chở lính bị trật khỏi đường ray, quân nhu bị phá hủy. Có đêm dưới thung lũng Liri, một đoàn tàu hỏa chở đạn dược bị làm cho nổ tung. Cuối cùng quân tăng viện cũng đến giúp chúng tôi khôi phục lại tuyến giao thông. Quân của chúng tôi chết khoảng một nửa. Một số người phát rồ phát dại - thoạt đầu thì khóc, sau đó cười không dứt. Chúng tôi được lệnh nã pháo, nã pháo xuống thung lũng Liri, dọc theo con đường uốn lượn dẫn tới Frosinone, và tại đó chúng tôi mệt đến nỗi khuỵu xuống trong một chuồng ngựa. Chúng tôi không quan tâm mình có lại đứng dậy được nữa hay không.

Thế rồi có báo động! Đối phương đã đổ bộ lên sườn phòng tuyến của chúng tôi ở Anzio! Người ta lay chúng tôi dậy, lay cuống cuồng. Quân đối phương đang đổ lên bờ biển. Quân phòng thủ của chúng tôi đâu cả? Họ vừa mới đến thay vào vị trí của các anh ở Cassino còn gì. Đúng! Nhanh lên, nhanh lên, nhanh lên! Vì Chúa, hãy nhanh lên trong khi vẫn còn thời gian. Đừng bận tâm đến việc anh thuộc trung đoàn nào - cứ chiến đấu như những người Đức. Nhanh lên, nếu không họ sẽ cắt quân ta ra làm hai.

Tôi không thể nhớ được những gì còn lại. Chắc hẳn tôi đã chiến đấu trong suốt vài ngày, nhưng ở đâu kia chứ? Tôi đã ở đâu?

Con tàu giật mạnh. Những ngọn đèn chao đảo trên đầu tôi, chao qua chao lại. Giờ chúng được bao quanh bởi ánh sáng ngũ sắc. Đạn pháo, tiếng ồn, sự tê liệt, cái khát.

Các cậu có nhớ Kochelsee chìm trong màn sương, có nhớ những tiếng gọi vọng qua những ngọn đồi không? Tôi phải sống. Tôi phải sống để trở về nơi đó; không có đồng đội về cùng, nhưng tôi có thể kể cho mọi người nghe những gì những đồng đội tôi đã làm. Không! Tôi không thể làm thế; tốt hơn nên im lặng. Tôi phải tránh những ánh mắt. Làm sao tôi có thể kể với mọi người về một cuộc đời đã ra đi, một cuộc đời không giống bất cứ cuộc đời nào khác, tất cả, bây giờ và mãi mãi? Tôi không thể kể với mọi người rằng tôi đã thấy người giết người và Đấng Cứu Chuộc, rằng tôi đã nhìn khuôn mặt của một con người chết vì một con người.

Nếu tôi trở về tôi sẽ trở về cùng với một tình yêu mới dành cho những điều bé nhỏ thân thương của cuộc đời, sẽ về cùng với một sự căm ghét mới đối với những lời đao to búa lớn về sứ mạng cứu tinh. Những điều vĩ đại mà chúng ta nói chúng ta sẽ chết cho đã tàn lụi chẳng khác nào một đám cháy rừng, chẳng để lại gì ngoài cảnh tan hoang. Tất cả đều tàn lụi. Nhìn ra vùng biển này, vùng biển của những người chết không toàn thây mà xem. Những điều nhỏ bé thân thương vẫn còn đó. Hình ảnh của những bông hoa rừng rực rỡ sắc màu rung rinh trong gió nhẹ, cảnh rực rỡ của đồng cỏ gợn sóng nhấp nhô theo những làn gió, hình ảnh mái nhà dốc nơi quê hương. Những điều bé nhỏ ấy thân thương ấy. Các cậu có nhớ dãy bậc lên xuống của một cửa hàng bách hóa ở Munich không? Đã bao lâu rồi nhỉ? Đã bao lâu rồi kể từ cái ngày chúng ta đứng nhìn những người bán hàng gỡ những bức tranh Chúa Giêsu và những tông đồ xuống, rồi sử dụng chính những cái đinh đã treo các bức tranh ấy để treo các bức chân dung những nhà quân sự hàng đầu của nước Đức lên. Và những đám đông chạy lên gác, chạy xuống tầng dưới, xô đẩy chúng ta, không thèm quan tâm, cứ điềm nhiên chộp giật. Và ngày ấy tôi không biết tại sao cho tôi lại xúc động đến thế!

Người ta vừa vào khênh viên thượng sĩ đi.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.