"Này, bạn cũ, thấy sao hả bạn cũ? Nể tình bạn bè bao năm."
"Sao lại ủ rũ thế này? Tình bạn của chúng ta đã trải qua quãng thời gian dài đằng đẵng, anh, tôi, và cả ông ấy nữa—đã chứng kiến biết bao cuộc đời..." — Stephen Sondheim, "Bạn cũ". Ngay từ sáng sớm thứ Bảy đã có tiếng gõ cửa, Cái Bóng đứng dậy ra mở.
Bên ngoài là Margaret Olsen. Cô không chịu vào nhà, chỉ đứng ở cửa, vẻ mặt có chút nghiêm nghị. "Ông Ansel...?" "Gọi tôi là Mike được rồi." Cái Bóng nói.
"Được rồi, Mike. Anh có muốn qua ăn tối tối nay không? Khoảng sáu giờ. Không có gì đặc biệt đâu, chỉ là mì Ý với thịt viên thôi." "Tôi thích mì Ý với thịt viên." "Tất nhiên, nếu anh có hẹn khác..." "Tôi không có hẹn gì cả." "Vậy thì sáu giờ nhé." "Tôi có cần mang theo bó hoa không?" "Nếu anh muốn. Nhưng bữa tối này chỉ là xã giao thuần túy thôi, không phải hẹn hò lãng mạn gì đâu." Sau đó, anh đi tắm, ra ngoài đi dạo một lát, đến cầu thì quay về. Mặt trời đã lên, hé lộ nửa vòng tròn ảm đạm phía xa đường chân trời. Khi về đến nhà, mồ hôi đã rịn trên người. Anh lái chiếc xe hai cầu đến cửa hàng thực phẩm Denver mua một chai rượu vang. Giá chai rượu là 20 đô la, trong mắt Cái Bóng, cái giá cao dường như là sự đảm bảo nhất định cho chất lượng rượu. Anh không rành về rượu vang, nên đã mua rượu vang đỏ California. Khi Cái Bóng còn trẻ, mọi người rất chuộng dán sticker lên cản xe, anh từng thấy một cái dán ghi: "Cuộc đời là một chai vang đỏ". Lúc đó, câu nói ấy khiến anh không nhịn được cười.
Anh còn mua một chậu cây cảnh làm quà, chỉ là loại cây lá xanh thông thường, không phải hoa tươi, chẳng có chút không khí lãng mạn nào.
Anh còn mua một hộp sữa lớn mà anh chưa từng uống bao giờ, cùng một giỏ trái cây anh chưa từng ăn.
Sau đó, anh lái xe đến cửa hàng của Mabel, chỉ mua một chiếc bánh nướng làm bữa trưa. Vừa nhìn thấy anh, Mabel đã nở nụ cười. "Hinzelmann đã đuổi kịp anh chưa?" "Tôi không biết ông ấy đang tìm mình." "Muốn tìm anh đi câu cá trên băng ấy mà. Còn cả Chad Mulligan nữa, ông ấy muốn biết tôi có thấy anh không. Em họ của ông ấy từ tiểu bang khác đến đây, là người em họ xa. Chúng tôi thường gọi kiểu em họ đó là "cô em họ có thể hôn". Cô ấy đúng là một người đẹp ngọt ngào, chắc chắn anh cũng sẽ mê cô ấy thôi." Vừa nói, bà vừa bỏ chiếc bánh vào túi giấy nâu, gấp mép túi lại để giữ ấm cho bánh.
Cái Bóng lái xe qua thư viện bên bờ hồ phía Nam, đi đường vòng về nhà, một tay lái xe, một tay cầm bánh ăn, vụn bánh rơi cả lên quần bò và sàn xe. Dưới lớp băng tuyết trang điểm, cả thị trấn chìm trong tông màu đen trắng. Mùa xuân dường như xa xôi đến mức không thể tưởng tượng nổi, tàu phá băng e rằng sẽ cứ đỗ mãi trên mặt băng, đồng hành cùng nó là những túp lều của người câu cá trên băng, cùng những vết bánh xe của xe bán tải và xe trượt tuyết.
Anh trở về trước tòa chung cư của mình, đỗ xe, băng qua đường lái xe, bước lên bậc thang gỗ dẫn vào chung cư. Vài chú chim sẻ vàng và chim gõ kiến đang đậu ở máng ăn, gần như chẳng buồn ngẩng đầu nhìn anh lấy một cái. Anh bước vào phòng, tưới nước cho chậu cây, cân nhắc xem có nên bỏ rượu vang vào tủ lạnh không.
Từ giờ đến sáu giờ vẫn còn một khoảng thời gian dài cần phải giết.
Cái Bóng thực sự ước mình có thể thoải mái xem tivi. Anh muốn giải trí, không dùng não để suy nghĩ bất cứ vấn đề gì, chỉ ngồi đó, đắm chìm trong âm thanh và hình ảnh của tivi. Muốn xem ngực của Lucy không? Trong ký ức của anh, một người nào đó có giọng nói của Lucy khẽ nói với anh. Ở đây chẳng có ai cả, nhưng anh vẫn lắc đầu.
Anh nhận ra mình hơi căng thẳng. Kể từ khi bị bắt ba năm trước, đây là lần tiếp xúc xã hội đầu tiên của anh. Xã hội thực sự, với người bình thường, không phải phạm nhân trong tù, cũng chẳng phải thần thánh, anh hùng dân tộc, hay giấc mơ. Anh phải lấy thân phận Mike Ansel, tìm chủ đề để trò chuyện với người khác.
Anh nhìn đồng hồ. Mới hai giờ ba mươi chiều. Margaret Olsen bảo anh sáu giờ đến. Ý cô ấy là đúng sáu giờ sao? Có thể đến sớm một chút không? Hay muộn một chút? Cuối cùng anh quyết định, mình sẽ đến nhà hàng xóm lúc sáu giờ năm phút.
Điện thoại đột nhiên reo lên.
"Hả?" Anh hỏi.
"Điện thoại không nghe kiểu đó đâu." Mr. Wednesday càu nhàu.
"Đợi đường dây điện thoại của tôi chính thức được nối, tôi sẽ nghe điện thoại một cách lịch sự bình thường." Cái Bóng nói, "Tìm tôi có việc gì?" "Tôi không biết." Mr. Wednesday nói. Ông dừng lại một chút, rồi nói tiếp: "Tập hợp các vị thần lại với nhau, cũng giống như việc xếp những con mèo thành một hàng ngay ngắn vậy, khó khăn tột độ. Làm thế nào cũng không tổ chức được, không phù hợp với bản tính của chúng." Giọng Mr. Wednesday vô hồn, nghe vô cùng mệt mỏi. Cái Bóng chưa bao giờ nghe ông nói chuyện như vậy trước đây.
"Xảy ra chuyện gì rồi?" "Quá khó. Thật sự mẹ kiếp quá khó. Thật không biết làm vậy rốt cuộc có ích gì không. Có vẻ chúng ta cứ tự cắt cổ họng mình thì hơn, tự giải quyết cho xong." "Ông không nên nói những lời nhụt chí như vậy." "Phải, cậu nói đúng." "Ừm, loại người như các ông cắt cổ cũng có cái hay," Cái Bóng nói đùa, muốn vực dậy tinh thần cho Mr. Wednesday, "không đau." "Sẽ đau đấy. Ngay cả loại người như chúng ta, tổn thương vẫn sẽ mang lại đau đớn. Cậu hoạt động, sinh tồn trong một thế giới vật chất, thế giới vật chất này tất yếu sẽ gây ra tác động nhất định lên cậu. Bị thương sẽ đau. Tương tự, lòng tham sẽ khiến chúng ta say mê, dục vọng có thể thiêu đốt nội tâm chúng ta. Chúng ta không dễ chết, dù có chết cũng không phải kiểu chết thọ hết tuổi già, nhưng chúng ta vẫn sẽ chết. Sau khi chết, nếu chúng ta vẫn được mọi người yêu mến, tưởng nhớ, thì một người nào đó giống chúng ta sẽ xuất hiện, thay thế vị trí của chúng ta, làm lại toàn bộ chuyện chết tiệt đó một lần nữa. Nhưng nếu chúng ta bị mọi người lãng quên, thì chúng ta thực sự xong đời rồi." Cái Bóng không biết nên nói gì để an ủi ông, đành đổi chủ đề. "Ông đang gọi từ đâu?" "Mẹ kiếp, không liên quan đến cậu." "Ông say rồi à?" "Chưa. Tôi cứ luôn nhớ đến Thor. Cậu không quen ông ấy, ông ấy là một gã cao lớn, vóc dáng gần giống cậu, tâm địa rất tốt. Người không thông minh lắm, nhưng chỉ cần cậu mở lời, ông ấy có thể cởi áo đưa cho cậu. Ông ấy tự sát. Năm 1932 ở Philadelphia, nhét súng vào miệng, thổi bay đầu mình. Đối với thần linh mà nói, kiểu chết này thật đáng buồn biết bao." "Tôi rất tiếc." "Nhưng vì lòng trắc ẩn này, cậu đến cả hai xu chết tiệt cũng không chịu bỏ ra, nhóc con ạ. Ông ấy đặc biệt giống cậu, đều là những gã ngốc không thích nói chuyện." Mr. Wednesday dừng lại, bắt đầu ho.
"Xảy ra chuyện gì rồi?" Cái Bóng không kìm được lại hỏi một lần nữa.
"Chúng tìm đến tiếp cận rồi." "Ai?" "Đối thủ của chúng ta." "Sau đó thì sao?" "Chúng muốn đàm phán, ký kết một hiệp định đình chiến. Đàm phán hòa bình, cùng tồn tại hòa bình với chúng ta đấy." "Tình hình bây giờ thế nào?" "Bây giờ tôi và mấy gã hiện đại đó đi uống cà phê chết tiệt đây, ở hội trường Hội Tam Điểm tại thành phố Kansas." "Đã rõ. Ông qua đón tôi, hay tôi đến đó gặp ông?" "Cậu cứ ở yên đó, cúi đầu làm người cho tử tế. Đừng có gây chuyện thị phi. Cậu nghe rõ lời tôi chưa?" "Nhưng mà—" Tiếng cạch vang lên, điện thoại ngắt quãng, không còn một chút âm thanh nào nữa. Không có tiếng tút tút. Tất nhiên, điện thoại này chưa kết nối, chưa bao giờ có tiếng tút tút.
Đành tiếp tục giết thời gian. Cuộc trò chuyện với Mr. Wednesday khiến Cái Bóng cảm thấy vô cùng bất an. Anh đứng dậy, muốn ra ngoài đi dạo, nhưng trời bên ngoài đã tối, anh đành ngồi xuống lần nữa.
Cái Bóng cầm cuốn "Biên bản Hội đồng thành phố Lakeside, 1872-1884" lên, mở trang sách, mắt tùy tiện quét qua những dòng chữ in nhỏ xíu trên đó, nhưng chẳng đọc vào đầu cái gì, chỉ thỉnh thoảng dừng lại, liếc nhìn những thứ thu hút ánh nhìn.
Cái Bóng biết được từ cuốn sách, tháng 7 năm 1874, Hội đồng thành phố thống kê số lượng công nhân đốn gỗ nước ngoài lưu động đổ xô đến thị trấn; một nhà hát sẽ được xây dựng tại giao lộ Đại lộ số 3 và đường chính; còn có việc người dân hy vọng có thể xây đê trên sông Mi-lặc, biến ao nước thành một cái hồ lớn. Hội đồng phê duyệt trả cho một người tên Samuel Samuels 70 đô la, cho người tên Heike Salemin 85 đô la, coi như phí bồi thường trưng dụng đất đai của họ, cũng như chi phí di dời nhà ở của họ ra khỏi nơi sắp bị nước hồ nhấn chìm.
Cái Bóng chưa bao giờ nghĩ cái hồ đó lại là hồ nhân tạo. Lúc đó chỉ có một cái ao được vây bằng đê, tại sao lại gọi thị trấn này là Lakeside (Bờ Hồ)? Anh tiếp tục đọc, phát hiện dự án hồ là do một ông Hinzelmann phụ trách, người này đến từ Hodemulin, Bavaria. Hội đồng thành phố phê duyệt cấp cho ông 370 đô la làm kinh phí dự án, số tiền thiếu hụt do quyên góp công chúng bù vào. Cái Bóng xé một mẩu khăn giấy, kẹp vào trang sách làm dấu. Anh có thể tưởng tượng, Hinzelmann khi nhìn thấy phần giới thiệu về ông nội của ông ta sẽ vui mừng đến mức nào. Không biết ông lão đó có biết gia tộc ông từng tham gia xây dựng cái hồ này không. Cái Bóng tiếp tục lật trang sách về phía sau, muốn tìm hiểu thêm về công trình xây hồ.
Họ tổ chức lễ khánh thành hồ vào năm 1876, còn đề từ cho hồ, coi đó là lễ vật quan trọng kỷ niệm một trăm năm thành lập thị trấn. Hội đồng thành phố bỏ phiếu, nhất trí bày tỏ lòng cảm ơn đối với ông Hinzelmann.
Cái Bóng xem đồng hồ, bây giờ đã là 5 giờ 30 phút rồi. Anh bước vào phòng tắm, cạo sạch râu, chải tóc, thay quần áo. 15 phút cuối cùng cũng tiêu tốn hết. Anh cầm rượu vang và chậu cây, ra cửa đi đến trước cửa phòng bên cạnh.
Vừa gõ cửa, lập tức có người ra mở. Margaret Olsen trông gần như cũng căng thẳng bất an giống anh. Cô nhận lấy chai rượu và chậu cây, nói lời cảm ơn. Tivi trong phòng đang bật, đang phát băng ghi hình "Phù thủy xứ Oz". Hình ảnh trên tivi là tông màu nâu sẫm, Dorothy vẫn còn ở thành phố Kansas, nhắm mắt ngồi trong xe ngựa của giáo sư Marvel, lão lừa đảo đó thì giả vờ đang đọc suy nghĩ của cô, còn cơn lốc xoáy thay đổi cuộc đời cô sắp ập đến. Leon ngồi trước tivi nghịch một chiếc xe cứu hỏa đồ chơi. Vừa nhìn thấy Cái Bóng, nó lập tức lộ vẻ mặt phấn khích, đứng dậy chạy biến đi, kết quả vì quá phấn khích suýt nữa thì vấp ngã. Nó chạy vào phòng ngủ phía sau nhà, rồi lập tức chạy ra, trong tay vung vẩy chiến thắng một đồng xu 25 xu.
"Nhìn này, Mike Ansel!" Nó hét lớn một tiếng, rồi chắp hai tay lại, giả vờ nhét đồng xu vào lòng bàn tay phải, rồi xòe bàn tay này ra. "Cháu làm nó biến mất rồi, Mike Ansel!" "Cháu thực sự làm được rồi." Cái Bóng nói, "Đợi chúng ta ăn cơm xong, nếu mẹ cháu đồng ý, ta sẽ chỉ cho cháu cách làm thế nào để còn đẹp hơn nữa." "Nếu anh muốn, bây giờ có thể dạy thằng bé." Margaret Olsen nói, "Chúng ta vẫn phải đợi Samantha. Tôi phái nó ra ngoài mua kem chua, thật không biết sao lại chậm trễ lâu như vậy." Lúc này, như thể nghe thấy lời cô, trên sàn gỗ ngoài kia vang lên tiếng bước chân, có người dùng vai đẩy cửa phòng ra. Cái Bóng lúc đầu không nhận ra cô, sau đó anh nghe thấy giọng cô: "Tôi không biết bà muốn loại có calo, hay loại có vị như giấy dán tường. Dù sao thì tôi cũng mua loại có calo rồi." Anh biết cô là ai: cô gái đi nhờ xe trên đường đến Cairo.
"Loại đó được rồi." Margaret Olsen nói, "Sam, đây là hàng xóm của tôi, ông Mike Ansel. Mike, đây là Samantha Black Crow, em gái tôi." Tôi không quen cô, Cái Bóng cố hết sức nghĩ, cô chưa bao giờ gặp tôi, chúng ta hoàn toàn là người lạ. Anh cố gắng nhớ lại lần đó anh đã tưởng tượng tuyết rơi như thế nào. Lần đó thật nhẹ nhàng, mà lần này thì hoàn toàn tuyệt vọng. Anh chìa tay ra nói: "Rất vui được quen cô." Cô chớp chớp mắt, ngẩng đầu nhìn kỹ khuôn mặt anh, trên mặt hiện lên sự bối rối. Sau đó, trong mắt cô lộ ra vẻ nhận ra anh, khóe miệng cô cong lên, nở nụ cười. "Chào anh." "Tôi phải vào xem cơm nước thế nào rồi." Margaret nói, giọng rất căng thẳng, như thể cô là kiểu người rời bếp một lát thôi là lo thức ăn sẽ cháy khét vậy.
Sam cởi chiếc áo khoác phồng to và mũ của cô ra. "Hóa ra gã hàng xóm u sầu bí ẩn đó chính là anh." Cô nói, "Ai mà ngờ được?" Giọng cô hạ rất thấp.
"Còn cô," anh nói, "chính là cô gái tên Sam. Chúng ta có thể tìm thời gian khác để nói về chuyện này không?" "Chỉ cần anh thề sẽ nói cho tôi biết rốt cuộc chuyện này là thế nào." "Đồng ý." Leon dùng sức kéo quần Cái Bóng. "Anh có thể biểu diễn cho cháu xem ngay bây giờ không?" Nó hỏi, đưa tay cho anh xem đồng xu.
"Được rồi." Cái Bóng nói, "Nhưng sau khi ta dạy cho cháu, cháu phải nhớ một điều: bậc thầy ảo thuật không bao giờ tiết lộ bí mật ảo thuật của mình." "Cháu thề sẽ không nói cho người khác." Leon vẻ mặt nghiêm túc nói.
Cái Bóng đặt đồng xu vào tay trái, rồi nắm lấy tay phải của Leon, dạy nó làm thế nào để trông như thể đã đặt đồng xu vào tay phải, thực ra vẫn còn trong tay trái. Sau đó, anh để Leon tự luyện tập động tác này.
Sau vài lần thử, Leon đã nắm được bí quyết. "Bây giờ cháu biết được một nửa bí mật của ảo thuật này rồi." Cái Bóng nói, "Một nửa còn lại là: tập trung sự chú ý của cháu vào nơi đồng xu đáng lẽ phải ở, còn mắt thì nhìn vào nơi cháu muốn nó xuất hiện. Chỉ cần thần thái của cháu trông như đồng xu đang ở trong tay phải, sẽ không ai chú ý đến tay trái của cháu đâu, bất kể động tác của cháu vụng về thế nào cũng không sao." Sam hơi nghiêng đầu, nhìn cảnh này, không nói lời nào.
"Ăn tối thôi!" Margaret gọi, từ trong bếp bước ra, trên tay bê một nồi mì Ý bốc hơi nghi ngút. "Leon, nhanh đi rửa tay đi." Bữa tối còn có bánh mì nướng tỏi, nước sốt cà chua đỏ đậm đặc và thịt viên ngon tuyệt. Cái Bóng khen ngợi tay nghề nấu nướng của Margaret.
"Công thức gia truyền đấy." Sam nói, "Bố của mẹ Margaret đến từ đảo Corsica." Trong phòng chỉ có Sam đang uống rượu vang đỏ. "Khi bố rời bỏ bà, Margaret mới mười tuổi. Sau đó, ông chuyển đến thị trấn chúng tôi sống, sáu tháng sau tôi chào đời. Khi mẹ tôi và bố kết hôn, ông ấy vẫn còn đang kiện tụng ly hôn với người trước đấy. Đợi đến khi tôi mười tuổi, bố lại bỏ nhà ra đi. Tôi nghĩ, có lẽ gia đình chỉ có sức hút mười năm với ông ấy thôi." "Ồ, ông ấy còn ở bang Oklahoma mười năm nữa đấy." Margaret bổ sung.
"Gia đình mẹ tôi là người Do Thái đến từ châu Âu," Sam tiếp tục nói, "đến từ một quốc gia hiện giờ đang loạn cào cào. Tôi nghĩ, ý tưởng gả cho một người thổ dân Cherokee khiến bà khá đắc ý, như thể phối hợp bánh mì chiên với gan nghiền vậy." Cô lại uống một ngụm lớn rượu vang đỏ.
"Mẹ của Sam là một người phụ nữ điên rồ." Margaret có phần tán đồng nói.
"Đoán xem bây giờ bà ở đâu nào?" Sam hỏi. Cái Bóng lắc đầu. "Úc! Bà quen một gã trên Internet, gã đó sống ở Hobart. Sau khi hai người gặp nhau, bà cảm thấy gã đó thật kinh tởm. Nhưng bà thực sự rất thích đảo Tasmania, nên cứ thế ở lại đó, ở trong một tổ chức phụ nữ dạy người dân địa phương làm vải batik các kiểu. Có phải rất ngầu không? Ở độ tuổi của bà mà còn làm chuyện như thế?" Cái Bóng tán đồng quan điểm của cô, rồi lại lấy thêm chút thịt viên ăn. Sam kể với họ rằng, tất cả thổ dân trên đảo Tasmania đều bị người Anh diệt chủng, họ tạo thành hàng rào người, bao vây cả hòn đảo để truy lùng những kẻ lọt lưới, kết quả cuối cùng chỉ bắt được một ông lão và một đứa trẻ bị bệnh. Cô còn kể cho anh về chó sói túi—trên đảo Tasmania, địa vị tương đương với hổ—đều bị nông dân giết sạch, vì sợ chúng sẽ ăn trộm cừu của họ. Đến năm 1930, sau khi con chó sói túi cuối cùng bị giết, các chính trị gia lại đưa ra thông báo nói muốn bảo vệ chó sói túi. Cô uống cạn ly rượu thứ hai, lại tự rót cho mình ly thứ ba.
"Vậy, Mike," Sam đột nhiên hỏi anh, đôi má vì hơi rượu đã bắt đầu ửng đỏ, "kể cho chúng tôi nghe chuyện gia đình anh đi. Nhà Ansel là những người như thế nào?" Cô đang cười, nụ cười mang theo vẻ tinh nghịch.
"Chúng tôi đều rất tẻ nhạt." Cái Bóng nói, "Cả nhà không ai từng đi đến nơi xa xôi như Tasmania cả. Đúng rồi, cô học ở Madison à? Trường thế nào?" "Anh biết mà." Cô nói, "Tôi học lịch sử nghệ thuật, chuyên ngành của phụ nữ, còn nữa là điêu khắc tượng đồng của tôi." "Đợi cháu lớn lên." Leon đột nhiên chen vào, "Cháu muốn làm ảo thuật gia. Anh sẽ dạy cháu chứ, Mike Ansel?" "Tất nhiên," Cái Bóng nói, "chỉ cần mẹ cháu không phiền." Sam nói: "Sau khi ăn xong, anh dắt Leon lên giường ngủ đi, tôi muốn Mike đưa tôi đến quán bar Buck khoảng một tiếng đồng hồ." Margaret không nhún vai. Nhưng đầu cô cử động một chút, một bên lông mày cũng hơi nhướng lên.
"Tôi nghĩ anh ấy có hứng thú đi," Sam nói, "chúng tôi có rất nhiều chuyện để nói." Margaret quay đầu nhìn Cái Bóng, anh đang bận dùng khăn giấy lau một vệt sốt cà chua đỏ không hề tồn tại trên cằm. "Dù sao các người cũng là người trưởng thành rồi." Giọng điệu lại ám chỉ họ không phải, dù có là người lớn, hành vi này cũng quá ấu trĩ.
Sau bữa tối, Cái Bóng giúp Sam rửa bát, phụ trách lau khô bát đĩa. Sau đó, anh biến một trò ảo thuật cho Leon. Anh đếm tiền xu trong lòng bàn tay Leon, mỗi lần Leon xòe tay ra đếm lại số xu, luôn phát hiện ít hơn số lượng ban đầu một đồng. Còn đồng xu cuối cùng đó—"Nắm chặt chưa?"—khi Leon xòe tay ra, lại phát hiện tiền xu biến thành một đồng xu một hào. Leon không ngừng gào lên: "Anh biến thế nào vậy? Mẹ, anh ấy rốt cuộc biến thế nào vậy?" Âm thanh cứ đi theo Cái Bóng đến tận tiền sảnh.
Sam đưa áo khoác cho anh. "Nhanh lên." Cô giục. Rượu vang uống quá nhiều, mặt cô ửng đỏ.
Bên ngoài rất lạnh.
Cái Bóng dừng lại trước căn hộ của mình, nhét cuốn "Biên bản Hội đồng thành phố Lakeside" vào túi nhựa của cửa hàng tạp hóa, mang theo bên mình.
Hinzelmann có thể sẽ ở trong quán rượu Buck, anh muốn cho ông ta xem đoạn ghi chép nhắc đến ông nội ông ta.
Hai người họ sánh vai đi xuống lối xe chạy.
Anh mở cửa gara, cô cười ha hả. "Ôi, lạy Chúa." Khi nhìn thấy chiếc xe hai cầu đó, cô kêu lên, "Xe của Paul Gunther! Anh lại mua xe của Paul Gunther. Ôi, chúa ơi!" Cái Bóng mở cửa xe cho cô, rồi vòng sang ghế lái lên xe. "Cô quen chiếc xe này?" "Hai ba năm trước tôi đến đây sống với Marg, chính tôi là người thuyết phục ông ấy sơn chiếc xe thành màu tím đấy." "Ồ." Cái Bóng nói, "Cuối cùng cũng tìm được người có thể đổ lỗi rồi, thật tốt." Anh lái xe ra đường, xuống xe đóng cửa gara, rồi quay lại xe. Sam nhìn anh lên xe, biểu cảm có chút kỳ quái, như thể sự tự tin của cô đã trôi tuột khỏi người cô vậy. Anh thắt dây an toàn, cô nói: "Được rồi, tôi làm chuyện ngu ngốc này, đúng không? Lên cùng một chiếc xe với một kẻ giết người biến thái." "Lần trước, tôi đã đưa cô về nhà an toàn rồi mà." Cái Bóng nhắc cô.
"Anh giết hai người rồi." Cô nói, "FBI đang truy nã anh. Bây giờ tôi lại phát hiện anh dùng tên giả sống ngay cạnh nhà chị tôi. Chẳng lẽ Mike Ansel là tên thật của anh?" "Không phải," Cái Bóng trả lời, theo đó thở dài một tiếng, "không phải tên thật của tôi." Anh rất miễn cưỡng thừa nhận điểm này, như thể làm vậy, thứ gì đó quan trọng sẽ rời xa anh. Thừa nhận anh không phải người đó, chính là từ bỏ thân phận Mike Ansel. Cảm giác giống như rời xa một người bạn tốt vậy.
"Anh thực sự giết những người đó?" "Không." "Họ đến nhà tôi, còn nói thấy chúng ta ở bên nhau. Một gã trong đó còn đưa ảnh anh cho tôi xem. Tên hắn là gì nhỉ—Ông Mũ? Không đúng, là Ông Thành phố! Giống hệt tình tiết trong bộ phim "Kẻ đào tẩu" (The Fugitive). Nhưng tôi nói tôi chưa bao giờ gặp anh." "Cảm ơn cô." "Vậy." Cô nói, "Kể cho tôi nghe rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì. Chỉ cần anh giữ bí mật cho tôi, tôi cũng sẽ giữ bí mật cho anh." "Nhưng tôi không biết bất kỳ bí mật nào của cô cả." Cái Bóng nói.
"Là thế này, anh biết chính tôi là người ra chủ ý sơn chiếc xe này màu tím, thế là Paul Gunther trở thành trò cười của mấy quận xung quanh, ông ta đành phải rời khỏi thị trấn này. Lúc đó chúng tôi đều say bí tỉ." Cô thừa nhận nói.
"Chuyện này có thể tính là bí mật sao? Tôi nghi ngờ lắm." Cái Bóng nói, "Mọi người ở Lakeside đều biết." Đột nhiên, cô lại nói, giọng rất nhỏ, nói rất nhanh. "Nếu anh muốn giết tôi, xin anh đừng làm hại tôi. Tôi không nên ra ngoài đến đây cùng anh. Tôi đúng là mẹ kiếp quá ngu quá ngốc. Tôi có thể nhận diện anh đấy. Lạy Chúa!" Cái Bóng thở dài. "Tôi chưa từng giết bất cứ ai. Thật đấy. Bây giờ tôi sẽ đưa cô đến quán bar Buck, hoặc, chỉ cần cô lên tiếng, tôi sẽ quay đầu xe đưa cô về nhà. Tùy cô lựa chọn. Tôi chỉ hy vọng cô đừng gọi điện báo cảnh sát." Họ lái xe qua cầu, cả hai đều im lặng.
"Vậy, ai là kẻ đã giết những người đó?" Cô hỏi.
"Dù tôi có kể cho cô, cô cũng sẽ không tin đâu." "Tôi sẽ tin." Cô tức giận. Anh bắt đầu nghi ngờ việc mang rượu vang đến ăn tối tối nay có phải là một quyết định sáng suốt hay không. Bây giờ xem ra, cuộc đời tuyệt đối không tốt đẹp như rượu vang đỏ.
"Chuyện này rất khó để người khác tin." "Tôi," cô tuyên bố với anh, "có thể tin bất cứ chuyện gì. Anh hoàn toàn không biết tôi sẽ tin cái gì đâu." "Thật sao?" "Tôi có thể tin những thứ tồn tại thật, cũng có thể tin những thứ không tồn tại thật, còn có thể tin những thứ không ai biết chúng có thật hay không. Tôi tin ông già Noel tồn tại, tin Marilyn Monroe, ban nhạc The Beatles và Elvis Presley đều còn sống; tôi tin con người có thể hoàn hảo hơn, tri thức là vô tận, cả thế giới vận hành dưới sự thao túng của liên minh ngân hàng bí mật, người ngoài hành tinh định kỳ ghé thăm Trái Đất, người ngoài hành tinh tốt có ngoại hình giống vượn cáo đầy nếp nhăn, còn người ngoài hành tinh xấu làm què quặt bò, còn muốn cướp đoạt nguồn nước và phụ nữ của chúng ta; tôi tin tương lai vũ trụ sẽ sụp đổ, sao chổi sẽ đâm vào Trái Đất; tôi tin sẽ có một ngày người phụ nữ trâu nước trắng huyền thoại sẽ trở lại, đá đít mỗi người một cái thật mạnh; tôi tin đàn ông sâu thẳm trong lòng đều là những đứa trẻ to xác, không thể giao tiếp với người khác, sự cô đơn của người Mỹ giống như sự cô đơn trong phim của Wim Wenders; tôi tin họ nói đều là những chuyện nhảm nhí; tôi còn tin nếu không có hai người, có lẽ thế giới sẽ tốt hơn; tôi tin ông già Noel sẽ đọc thư gửi ông, rồi trả lời bạn vì ông rất ấm áp và có đầy đủ thời gian; tôi tin các chính trị gia đang phá hủy chúng ta một cách có hệ thống, như trong phim "Thế giới mới"; tôi tin hai thế kỷ vĩ đại nhất là thế kỷ 19, với Mark Twain và Don Marquis, ngọc lục bảo là tinh trùng khô của rồng, còn vài nghìn năm trước, kiếp trước của tôi là một phù thủy Shaman cụt tay ở Siberia; tôi tin vận mệnh tương lai của nhân loại ẩn giấu trên các hành tinh khác; tôi tin khi tôi còn nhỏ, kẹo ăn vào thực sự ngọt hơn, chuyến bay của ong nghệ ẩn chứa khí động học, ánh sáng được cấu tạo bởi sóng và hạt, ở đâu đó có một con mèo bị nhốt trong hộp, nó vừa là đã chết vừa là còn sống (nhưng tôi cho rằng nếu họ không mở hộp cho mèo ăn, thì mèo chắc chắn sẽ chết, và sẽ có hai kiểu chết khác nhau), trong vũ trụ tồn tại những hành tinh có lịch sử hàng tỷ năm, thậm chí còn cổ xưa hơn cả chính vũ trụ; tôi tin có một vị thần chỉ quan tâm đến một mình tôi, thuộc về riêng tôi, ông ấy sẽ nhìn thấy mọi thứ tôi làm, và quan tâm đến nó; tôi tin có một vị thần phụ trách duy trì sự vận hành của vũ trụ, không thuộc về bất kỳ ai, ông ấy rời bỏ vị trí của mình đi tán gái, hoàn toàn không biết đến sự tồn tại của tôi; tôi tin tồn tại một vũ trụ trống rỗng không có thần linh, bên trong đầy rẫy sự hỗn loạn gây ra bởi nguyên nhân nào đó, khắp nơi là tiếng ồn và tiếng ồn trắng, đầy rẫy sự xé nát và sai lầm; tôi tin giá trị của sự thật nằm ở chỗ những người không biết chân lý lại thường được hoan nghênh; tôi tin những kẻ tự cho mình là đúng sẽ làm được chuyện trên những việc nhỏ; tôi tin tất cả những gì tôi nói, không bao gồm những lời nói dối; tôi tin tôi nên có quyền lựa chọn, tôi có quyền lựa chọn những thứ tôi muốn tin; nếu bạn có thể giữ bình tĩnh trước những sự thật hệ thống, chính sách của chính phủ, thì mọi người đều sẽ chết hết, và cười nhạo bạn, nhưng thực chất chỉ có sự thật mới có thể tin được; tôi tin nhân sinh là một trò chơi, tôi tin nhân sinh là một cảm giác của nỗi đau, tôi tin cả dưới đáy cả đời người của nhân loại!" Cô cuối cùng cũng dừng lại, thở hổn hển. Cái Bóng suýt chút nữa buông tay lái, hai tay vỗ tay cho cô. Nhưng anh chỉ nói một câu: "Được rồi. Vậy thì, nếu tôi kể cho cô những chuyện tôi biết, cô sẽ không coi tôi là kẻ điên chứ?" "Có lẽ." Cô nói, "Thử xem." "Vậy, cô có tin, các vị thần lớn nhỏ mà con người từ xưa đến nay tưởng tượng ra, cho đến hôm nay, vẫn đang sống giữa chúng ta không?" "...Có lẽ vậy." "Còn có những vị thần mới sinh ra, thần máy tính, thần điện thoại, đại loại như vậy. Chúng khẳng định thế giới này không có nhiều không gian như thế, hai bên không thể cùng tồn tại. Hình như một cuộc chiến tranh nào đó sắp đến. Cô có tin không?" "Là những vị thần đó giết hai người kia à?" "Không, kẻ giết những người đó là vợ tôi." "Tôi nhớ anh từng nói vợ anh đã chết rồi." "Cô ấy đã chết rồi." "Vậy, cô ấy đã giết họ trước khi chết?" "Là sau khi chết. Đừng hỏi nữa." Cô chìa tay ra, gạt lọn tóc trên trán.
Họ rẽ vào đường chính, rồi đỗ lại trước quán bar Buck. Trên cửa sổ quán bar treo tấm biển, bên trên là một con hươu đực thể hình to lớn, đứng bằng hai chân sau, nó đang cầm một ly bia. Cái Bóng chộp lấy cái túi đựng sách, xuống xe.
"Tại sao họ phải khai chiến?" Sam truy vấn, "Hình như không cần thiết nhỉ. Thắng rồi thì sao?" "Tôi cũng không biết." Cái Bóng nói.
"Vẫn tin vào sự tồn tại của người ngoài hành tinh dễ dàng hơn đấy." Sam nói, "Có lẽ Ông Thành phố và người đàn ông không tên kia chính là nhân vật trong "Men in Black", là người ngoài hành tinh trong đó." Hai người đứng trên vỉa hè bên ngoài quán bar Buck, Sam đột nhiên dừng bước. Cô ngẩng đầu nhìn Cái Bóng, hơi thở ngưng tụ thành làn sương trắng nhạt trong bầu trời đêm. "Anh chỉ cần nói với tôi anh là người tốt là được." "Tôi không làm được." Cái Bóng nói, "Tôi hy vọng mình là, nhưng tôi sẽ cố gắng làm một người tốt." Cô ngẩng đầu nhìn lên anh, cắn môi dưới, rồi dùng sức gật đầu. "Vậy thì rất tốt." Cô nói, "Tôi sẽ không bán đứng anh. Anh có thể mua cho tôi một ly bia." Cái Bóng đẩy cửa cho cô, lập tức ập vào mặt là một đợt sóng nhiệt và âm nhạc bùng nổ. Họ bước vào quán bar.
Sam vẫy tay chào mấy người bạn, Cái Bóng cũng gật đầu chào vài khuôn mặt quen thuộc. Anh đã không nhớ tên họ nữa rồi, đều là người quen vào ngày tìm kiếm Alison McGavin, còn có người từng gặp khi ăn sáng ở cửa hàng của Mabel. Chad Mulligan đứng cạnh quầy bar, ôm vai một người phụ nữ nhỏ nhắn tóc đỏ—Cái Bóng đoán đó chính là cô em họ có thể hôn kia. Anh khá muốn biết rốt cuộc cô ấy trông như thế nào, đáng tiếc cô ấy luôn quay lưng về phía anh. Chad nhìn thấy Cái Bóng, giơ tay chào kiểu đùa giỡn, Cái Bóng cũng cười vẫy tay với ông ấy. Anh tìm kiếm Hinzelmann khắp nơi, nhưng ông lão đó tối nay dường như không có ở đây. Anh phát hiện một bàn trống phía sau quán bar, bắt đầu đi về phía đó.
Ngay lúc này, có người hét lên.
Là tiếng hét khủng khiếp dị thường đó, gào thét toàn lực kéo dài cổ, như thể thấy ma vậy. Tức thì, tất cả mọi người đều dừng trò chuyện, yên tĩnh lại. Cái Bóng nhìn quanh, còn tưởng có người bị mưu sát, sau đó mới nhận ra khuôn mặt của tất cả mọi người trong quán bar đều quay về phía chính mình. Ngay cả con mèo đen kia, nó vốn ban ngày luôn nằm ngủ trên bậu cửa sổ, cũng từ trên máy hát tự động đứng lên, đuôi dựng đứng cao, lông trên lưng cũng dựng cả lên, trừng mắt nhìn Cái Bóng.
Thời gian dường như lập tức ngưng đọng.
"Bắt lấy hắn!" Giọng người phụ nữ đó đang gọi, đã sắp đạt đến trạng thái cuồng loạn rồi, "Vì Chúa, phải có người ngăn hắn lại! Đừng để hắn chạy mất! Cầu xin các người đấy!" Cuối cùng anh cũng nhận ra giọng nói đó.
Không ai cử động, họ chỉ trừng trừng nhìn Cái Bóng. Anh cũng nhìn lại ánh mắt của họ.
Chad Mulligan đi qua đám đông lại gần. Người phụ nữ nhỏ nhắn đi theo sau ông vẫn cẩn trọng, vô cùng cảnh giác, mắt cô mở to, như thể bất cứ lúc nào cũng chuẩn bị hét lần nữa. Cái Bóng quen cô, tất nhiên anh biết cô là ai.
Chad vẫn cầm ly bia của mình, ông tiện tay đặt nó lên bàn bên cạnh. "Chào, Mike." Ông chào hỏi.
"Chào anh, Chad." Audrey Burton nắm lấy tay áo Chad, sắc mặt tái nhợt, trong mắt còn chứa đầy nước mắt. "Cái Bóng!" Cô nói, "Đồ khốn, đồ ác quỷ biến thái giết người!" "Cô chắc chắn mình quen người này chứ, cưng?" Chad hỏi, trông ông có vẻ không được thoải mái lắm.
Audrey Burton nhìn ông với vẻ khó tin. "Ông điên rồi à? Anh ta làm việc cho Robbie mấy năm liền. Người vợ lẳng lơ của anh ta là bạn thân nhất của tôi. Anh ta đang bị truy nã vì tội mưu sát. Đặc vụ liên bang từng hỏi tôi. Anh ta còn là một tên tội phạm đang lẩn trốn đấy!" Cô sắp bùng nổ rồi, khóc lóc, giọng run rẩy, khó khăn lắm mới không lên cơn cuồng loạn. Thật giống một nữ diễn viên truyền hình chuẩn bị đoạt giải Emmy. Cô em họ có thể hôn, Cái Bóng nhàn nhạt nghĩ.
Trong quán bar không ai nói lời nào. Chad Mulligan nhìn Cái Bóng: "Đây e là một sự hiểu lầm. Tôi chắc chắn chúng ta có thể làm rõ sự thật." Sau đó, ông quay sang nói với tất cả mọi người trong quán bar: "Được rồi, không sao cả. Không có gì phải lo lắng. Chúng ta sẽ nhanh chóng giải quyết thôi. Mọi chuyện bình thường." Tiếp theo ông nói với Cái Bóng: "Chúng ta ra ngoài nói chuyện, Mike." Ông có một năng lực khiến người khác bình tĩnh lại, Cái Bóng vô cùng khâm phục bản lĩnh kiểm soát cục diện của ông.
"Tất nhiên được." Cái Bóng nói.
Anh cảm thấy có người chạm vào tay mình, quay người lại, thấy Sam đang nhìn chăm chú vào mình. Anh cúi đầu cười với cô, cố gắng khiến cô yên tâm nhất có thể.
Sam nhìn Cái Bóng, lại quét qua những khuôn mặt đang nhìn chằm chằm họ trong quán bar. Cô nói với Audrey Burton: "Tôi không biết rốt cuộc cô là ai. Nhưng—cô—là—một—con—đĩ!" Nói xong, cô nhón chân, kéo đầu Cái Bóng thấp xuống, hôn mạnh lên môi anh. Môi cô ép chặt vào môi anh, Cái Bóng cảm thấy dường như đã trôi qua mấy phút, nhưng thực tế có lẽ chỉ ngắn ngủi chừng 5 giây.
Cái Bóng cảm thấy đây là một nụ hôn vô cùng kỳ lạ. Khi môi cô ép vào môi anh, anh cảm thấy nụ hôn này không phải dành cho anh, mà là để cho những người khác trong quán bar xem, để họ biết cô đã chọn ủng hộ bên nào rồi. Đây là nụ hôn biểu thị phe phái. Ngay cả khi cô hôn anh, anh cũng tin chắc rằng cô thậm chí còn chưa thích anh—được rồi, thích, nhưng không phải kiểu thích người yêu! Rất lâu trước kia, khi còn là một đứa trẻ, anh đã đọc một câu chuyện. Câu chuyện kể rằng một du khách trượt xuống từ vách đá, một con hổ ăn thịt người đứng trên vách đá, mà dưới vách đá là thác nước chết người, anh ta cố gắng muốn dừng lại xu hướng trượt xuống từ sườn núi, muốn bắt lấy cái gì đó để bảo toàn tính mạng. Bên cạnh anh ta là một bụi dâu tây, bên trên và bên dưới đều là đường chết. Vấn đề là: anh ta nên làm gì? Và câu trả lời vậy mà lại là: ăn dâu tây.
Khi còn là trẻ con, anh thấy câu trả lời này hoàn toàn không có lý. Nhưng bây giờ, cuối cùng anh cũng hiểu được ý nghĩa trong đó. Nên anh nhắm mắt lại, để mình toàn tâm toàn ý đắm chìm vào nụ hôn này. Ngoài đôi môi của Sam và làn da mềm mại cô nép vào người anh ra, chẳng nghĩ gì cả. Anh dường như đang thưởng thức một quả dâu tây tươi ngon.
"Nhanh lên, Mike." Chad Mulligan giọng điệu kiên quyết giục, "Mời anh ra ngoài, chúng ta ra ngoài giải quyết." Sam lùi lại. Cô liếm liếm môi, mỉm cười, ý cười hiện lên trong mắt cô. "Không tệ." Cô nói, "Đối với một nhóc con như anh, kỹ năng hôn của anh khá đấy. Được rồi, ra ngoài chơi đi." Sau đó, cô quay người đối mặt với Audrey Burton. "Nhưng còn cô," cô lạnh lùng nói, "vẫn là một con đĩ." Cái Bóng ném chìa khóa xe cho Sam, cô khéo léo dùng một tay bắt lấy. Anh đi theo sau Chad Mulligan, xuyên qua quán bar đi ra ngoài. Bên ngoài bắt đầu có tuyết rơi nhẹ, bông tuyết xoay xoay rơi xuống trước tấm biển quảng cáo đèn neon của quán bar. "Muốn nói về chuyện này không?" Chad hỏi anh.
Audrey Burton đi theo họ ra ngoài, đến trên vỉa hè. Trên mặt một biểu cảm chuẩn bị hét lần nữa. "Anh ta giết hai người, Chad! Người của FBI đến nhà tôi rồi, anh ta là một tên biến thái giết người! Nếu ông muốn, tôi có thể đi cùng ông đến đồn cảnh sát." "Cô gây ra rắc rối đủ nhiều rồi, thưa bà." Cái Bóng nói. Ngay cả trong tai chính mình, giọng anh cũng tỏ ra mệt mỏi rã rời. "Xin cô tránh ra." "Chad? Ông nghe thấy không? Anh ta đe dọa tôi!" Audrey Burton nói.
"Quay vào trong đi, Audrey." Chad Mulligan nói. Cô dường như còn muốn tranh cãi, rồi ngậm chặt miệng, đến môi đều ép tái lại. Cô quay người, vào trong quán bar.
"Những lời cô ta nói, anh muốn biện giải chứ?" Chad Mulligan hỏi.
"Tôi chưa từng giết bất cứ ai." Cái Bóng nói.
Chad gật đầu. "Tôi tin anh." Ông nói, "Tôi dám chắc, mọi chuyện này rất dễ làm rõ thôi. Anh sẽ không gây thêm rắc rối cho tôi chứ, đúng không, Mike?" "Tôi sẽ không gây rắc rối đâu." Cái Bóng nói, "Đây là một sự hiểu lầm." "Thực sự là vậy." Chad nói, "Tôi nghĩ chúng ta nên đến văn phòng của tôi, ở đó làm rõ mọi chuyện, thế nào?" "Tôi đã bị bắt chưa?" Cái Bóng hỏi.
"Chưa." Chad nói, "Trừ khi anh muốn bị bắt. Trong mắt tôi, anh đi cùng tôi đến đồn cảnh sát là do trách nhiệm công dân, mà chúng tôi thì sẽ nhanh chóng giải quyết chuyện này thôi." Chad khám người Cái Bóng, không phát hiện vũ khí, rồi họ lên xe cảnh sát của Chad. Lần này, Cái Bóng ngồi ở ghế sau, bị nhốt sau vách ngăn kim loại. Anh nghĩ: SOS, gặp nạn, cứu mạng. Anh muốn dùng ý chí của mình ảnh hưởng đến Mulligan, anh từng làm vậy với một cảnh sát ở Chicago. Đây là bạn cũ của ông, Mike Ansel, ông từng cứu mạng anh ấy. Ông không biết làm vậy ngu ngốc thế nào sao? Chuyện này ông cứ để nó qua đi.
"Tôi nghĩ nên đưa anh ra khỏi chỗ đó." Chad giải thích, "Chỉ cần có một cái miệng lớn gào thét một tiếng, nói anh chính là hung thủ giết Alison McGavin, đến lúc đó, e là chúng tôi phải đối phó với một đám đông bạo loạn chuẩn bị hành hình tư nhân anh mất." "Tôi hiểu." Suốt chặng đường lái xe về đồn cảnh sát Lakeside, cả hai người không ai nói thêm lời nào nữa. Cho đến khi đỗ lại trước cửa đồn cảnh sát, Chad mới mở miệng nói với anh, nói ở đây thực tế là bộ phận cảnh sát trưởng quận, đồn cảnh sát địa phương ở đây chỉ có vài văn phòng thôi. Nhanh thôi quận sẽ xây một tòa nhà văn phòng hiện đại hơn, nhưng trước mắt họ đành phải tạm thời ở đây vậy.
Hai người họ bước vào tòa nhà.
"Tôi có thể mời luật sư không?" Cái Bóng hỏi.
"Lại không buộc tội anh phạm tội gì," Mulligan nói, "anh tự mình quyết định đi." Họ xuyên qua vài cánh cửa xoay. "Ngồi trên cái ghế đằng kia một lát đi." Cái Bóng ngồi xuống ghế gỗ, bên cạnh ghế có một dấu vết bị tàn thuốc đốt cháy. Anh cảm thấy não bộ tê dại, đờ đẫn. Bên dưới biển báo "Cấm hút thuốc" trên bảng thông báo, dán một tờ tìm người nhỏ, bên trên viết: "Mất tích—Đánh giá nguy hiểm", ảnh chụp là Alison McGavin.
Trên bàn gỗ cạnh chỗ ngồi là một xấp "Sports Illustrated" và "Newsweek" đã quá hạn, ánh sáng trong phòng rất tối, sơn trên tường là màu vàng, tuy nhiên đoán chừng trước kia từng là màu trắng.
Mười phút sau, Chad mang cho anh một ly giấy nóng hổi mua từ máy bán hàng tự động. "Trong túi là thứ gì?" Ông hỏi. Cho đến lúc này, Cái Bóng mới nhận ra anh vẫn cầm cái túi nhựa đựng "Biên bản Hội đồng thành phố Lakeside" đó.
"Một cuốn sách cũ." Cái Bóng nói, "Bên trên có ảnh ông nội ông, có lẽ là cụ nội ông đấy." "Thật sao?" Cái Bóng lật trang sách, tìm thấy bức ảnh chụp chung của hội đồng thành phố, chỉ cho ông xem người đàn ông tên Mulligan đó. Chad cười khúc khích. "Tôi hoàn toàn không thấy bất ngờ." Ông nói.
Thời gian từng phút từng phút trôi qua, anh đã ở trong căn phòng đó mấy tiếng đồng hồ rồi. Cái Bóng xem xong hai cuốn "Sports Illustrated", đang bắt đầu lật xem "Newsweek". Chad thỉnh thoảng sẽ ra xem anh, một lần là hỏi Cái Bóng có muốn đi nhà vệ sinh không, một lần là đưa cho anh một chiếc bánh cuộn thịt nguội và một túi khoai tây chiên nhỏ.
"Cảm ơn." Cái Bóng nhận lấy thức ăn, "Tôi bị giam giữ à?" Chad hít một hơi, không khí rít lên giữa kẽ răng ông. "Ồ," ông nói, "chưa. Xem ra anh dùng cái tên Mike Ansel này không hợp pháp lắm. Nhưng đổi góc độ mà nói, trong bang này, chỉ cần không phải vì mục đích lừa đảo, anh muốn gọi mình là gì cũng được. Anh đừng căng thẳng." "Tôi có thể gọi một cuộc điện thoại không?" "Là điện thoại nội bộ à?" "Là đường dài." "Dùng điện thoại của tôi gọi có thể tiết kiệm chút tiền. Nếu không thì anh phải dùng điện thoại công cộng ở đại sảnh, 15 phút 10 đồng." Thôi đi, Cái Bóng nghĩ, ông chẳng qua chỉ muốn biết số điện thoại tôi gọi, còn có thể dùng máy nhánh nghe lén.
"Tuyệt quá!" Cái Bóng đồng ý nói. Họ bước vào một văn phòng trống, Cái Bóng nói cho Chad biết số điện thoại cần gọi, là số điện thoại của một nhà tang lễ ở thành phố Cairo, bang Illinois. Chad quay số, đưa ống nghe điện thoại cho Cái Bóng. "Tôi để anh lại đây một mình." Ông đi ra ngoài.
Chuông điện thoại reo vài lần, có người nhấc ống nghe.
"Nhà tang lễ Jacquel và Ibis. Xin hỏi có việc gì?" "Chào, ông Ibis, tôi là Mike Ansel. Tôi từng giúp việc ở chỗ ông vài ngày trước Giáng sinh." Sau một hồi do dự, đối phương trả lời: "Tôi nhớ, Mike. Cậu thế nào?" "Không tốt lắm, ông Ibis. Gây chút rắc rối, tôi bị giam giữ rồi. Hy vọng ông có thể gặp chú tôi, hoặc giúp tôi nhắn một lời cho ông ấy." "Tôi tất nhiên có thể giúp cậu hỏi thăm xem ông ấy ở đâu. Đợi một lát, Mike, ở đây có người muốn nói chuyện với cậu." Điện thoại được chuyển đến tay người khác, sau đó, một giọng nữ đầy quyến rũ nói: "Chào, cưng, chị rất nhớ em." Anh dám chắc mình chưa bao giờ nghe thấy giọng nói này. Nhưng anh quen người phụ nữ này, anh chắc chắn mình quen cô ấy... Quên đi, trong đầu lướt qua một giọng nói mơ hồ, quên hết mọi chuyện không vui.
"Cô gái hôn em là ai thế, cưng? Em muốn làm chị ghen à?" "Chúng tôi chỉ là bạn bình thường." Cái Bóng trả lời, "Tôi nghĩ cô ấy chỉ là muốn chứng minh lập trường của mình. Đúng rồi, sao cô biết cô ấy hôn tôi?" "Nơi nào có người tộc tôi đi lại, nơi đó tôi có tai mắt." Cô nói, "Em phải cẩn thận đấy, cưng..." Trong ống nghe đột nhiên im lặng, rồi lại là ông Ibis, "Mike, cậu còn đó không?" "Tôi còn." "Tạm thời không tìm được chú của cậu, xem ra ông ấy bị chuyện gì đó quấn lấy không dứt ra được. Nhưng tôi sẽ tiếp tục liên lạc với ông ấy, nhắn thêm một lời cho dì Nancy của cậu nữa. Chúc cậu may mắn." Nói xong, điện thoại cúp máy.
Cái Bóng ngồi xuống, hy vọng Chad nhanh chóng quay lại. Anh ngồi trong văn phòng trống rỗng, hy vọng có thứ gì đó có thể phân tâm một chút. Anh miễn cưỡng cầm cuốn "Biên bản" kia lên lần nữa, lật đến giữa cuốn sách, bắt đầu xem.
Tháng 12 năm 1876, Hội đồng thành phố ban hành một sắc lệnh, từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều, nghiêm cấm khạc nhổ trên vỉa hè và sàn nhà trong các tòa nhà công cộng, đồng thời nghiêm cấm ném bất kỳ sản phẩm thuốc lá nào dưới hình thức nào xuống mặt đất.
Ngày 13 tháng 12 năm 1876, Lemmy Hotala, 12 tuổi, "được đánh giá là mất tích do đột nhiên xuất hiện tình trạng rối loạn tâm thần". "Công tác tìm kiếm lập tức được triển khai, nhưng do bão tuyết cản trở đường đi, đành phải dừng lại." Hội đồng toàn thể nhất trí thông qua, gửi lời chia buồn đến gia đình Hotala.
Tuần tiếp theo, chuồng ngựa nhà Olsen sau khi bốc cháy đã nhanh chóng được dập tắt, người và ngựa đều không bị thương hay tử vong.
Cái Bóng lật xem chương kế tiếp, phát hiện bên trong không còn nhắc đến chuyện của Lemmy Hotala nữa.
Sau đó, anh hứng chí, lật trang sách đến tận ghi chép mùa đông năm 1877. Cái Bóng phát hiện tháng 1 có một dòng ghi chú: Jessie Lavat (không nhắc đến tuổi cô bé), "một đứa trẻ da đen", mất tích vào đêm 28 tháng 12. Mọi người tin rằng cô bé có thể "bị thương nhân lưu động dụ dỗ". Hội đồng không gửi lời chia buồn đến gia đình Lavat.
Cái Bóng đang chuẩn bị lật xem biên bản năm 1878, Chad Mulligan gõ cửa bước vào. Ông vẻ mặt e dè, như một đứa trẻ mang một tờ phiếu điểm tệ hại về nhà vậy.
"Ông Ansel," ông nói, "Mike, tôi thực sự rất tiếc. Nói riêng tư thì, tôi rất thích con người anh. Tiếc là điều đó không thay đổi được gì, anh hiểu chứ?" Cái Bóng nói anh hiểu.
"Về việc này, tôi không có lựa chọn nào khác," Chad nói, "Chỉ có thể bắt giữ anh vì tội vi phạm điều khoản quản chế." Tiếp đó, Mulligan đọc quyền cho Cái Bóng, bắt anh ký vài tờ giấy, điểm chỉ lên đó, rồi dẫn anh đi dọc hành lang đến trại giam quận nằm ở phía bên kia tòa nhà.
Một bên căn phòng trại giam có một quầy trực dài, bên cạnh là mấy cánh cửa, hai cánh cửa kính dẫn vào các buồng giam, cánh cửa đối diện là lối ra. Một trong hai buồng giam đang có người - một gã đàn ông đang đắp tấm chăn mỏng, nằm ngủ trên cái bục bằng xi măng. Buồng còn lại thì trống không.
Phía sau quầy trực là một nữ cảnh sát mặc đồng phục màu nâu, trông có vẻ buồn ngủ, cô ta đang xem một bộ phim truyền hình sitcom tên là "The Honeymooners" trên một chiếc tivi đen trắng cỡ nhỏ. Cô ta nhận lấy giấy tờ từ tay Chad, ký tên tiếp nhận Cái Bóng. Chad chần chừ chưa rời đi, tiếp tục ký thêm vài tờ giấy nữa. Người phụ nữ bước ra khỏi quầy trực, khám người Cái Bóng, lấy đi tất cả vật dụng cá nhân của anh, bao gồm ví tiền, tiền xu, chìa khóa cửa trước căn hộ, sách và đồng hồ, đặt chúng lên mặt bàn. Cô ta đưa cho anh một túi nhựa đựng bộ quần áo tù nhân màu cam, bảo anh đi vào buồng giam đang mở cửa để thay đồ. Anh được phép giữ lại đồ lót và tất. Anh bước vào buồng giam, thay bộ quần áo tù màu cam và đôi dép đi trong phòng tắm. Trong buồng giam nồng nặc mùi hôi thối. Sau lưng chiếc áo tù màu cam có in dòng chữ "Trại giam Quận" bằng phông chữ đen cỡ lớn. Chiếc bồn cầu kim loại trong buồng giam không đậy nắp, bên trong đầy ắp phân nước sắp tràn ra ngoài.
Cái Bóng từ trong đó bước ra, đưa quần áo của mình cho nữ cảnh sát, cô ta bỏ quần áo cùng đồ đạc cá nhân của anh vào túi nhựa. Anh lấy ngón cái mân mê ví tiền một chút rồi mới giao ra. "Xin hãy giữ gìn cẩn thận thứ này," anh nói với nữ cảnh sát, "Cả đời tôi chỉ có chừng này thôi." Nữ cảnh sát nhận lấy ví, đảm bảo với anh rằng tất cả đồ đạc đều sẽ được giữ gìn chu đáo. Cô ta còn hỏi Chad xem đây có phải sự thật không, Chad ngẩng đầu lên từ tờ giấy cuối cùng vừa ký, xác nhận những lời Liz nói là đúng, họ chưa bao giờ làm mất đồ của phạm nhân.
Lúc thay đồ, Cái Bóng đã lén lấy ra 400 đô la tiền mặt trong ví, giấu vào trong tất, khi làm trống túi quần áo, anh còn giấu đồng tiền bạc Nữ thần Tự do mệnh giá một đô la vào trong lòng bàn tay.
"Xin hỏi," sau khi bước ra khỏi buồng giam, Cái Bóng hỏi, "tôi có thể tiếp tục xem cuốn sách đó được không?" "Xin lỗi, Mike, quy định là quy định." Chad nói.
Nữ cảnh sát Liz đóng gói đồ đạc của Cái Bóng, ký gửi trong căn phòng phía sau quầy trực. Chad tuyên bố rằng giờ đây anh ta chính thức bàn giao Cái Bóng cho cảnh sát Burt. Liz mang vẻ mặt mệt mỏi rã rời, chẳng hề chú ý đến những gì anh ta nói. Chad cuối cùng cũng rời đi. Lúc này điện thoại reo lên, Liz - tức cảnh sát Burt - nhấc máy. "Được rồi." Cô ta nói vào điện thoại, "Được. Không vấn đề gì. Được. Không vấn đề gì. Được." Cô ta đặt điện thoại xuống, nhăn mặt.
"Có vấn đề gì à?" Cái Bóng hỏi.
"Phải. Nhưng không sao, vấn đề nhỏ thôi. Họ định phái người từ thành phố Milwaukee tới đón anh." "Đây là vấn đề ạ?" "Vấn đề là tôi phải trông chừng anh ở đây ba tiếng đồng hồ," cô ta nói, "Còn buồng giam đằng kia" - cô ta chỉ vào căn phòng đang có người ngủ - "có người ở đó. Hắn có ý định tự tử, hiện vẫn chưa qua thời gian giám sát. Tôi không thể nhốt anh cùng với hắn, nhưng lại không đáng để phải ký giấy tờ nhốt anh vào trại giam quận rồi lại ký một lần nữa để thả anh ra." Cô ta lắc đầu. "Khỏi phải nói, anh cũng chẳng muốn bị nhốt ở đó đâu." Cô ta lại chỉ vào buồng giam trống mà anh vừa thay đồ, "Bồn cầu đầy rồi, trong đó hôi thối kinh khủng, đúng không?" "Vâng, kinh tởm vô cùng." "Nhốt anh vào trong đó thì quá vô nhân đạo. Chúng tôi sắp chuyển đến tòa nhà văn phòng mới rồi, đáng tiếc là tốc độ đối với tôi vẫn chưa đủ nhanh. Người phụ nữ chúng ta nhốt vào hôm qua chắc chắn đã ném băng vệ sinh vào bồn cầu rồi. Tôi đã bảo họ đừng làm vậy, chúng ta có thùng rác mà. Băng vệ sinh làm tắc ống cống. Mỗi lần tắc một cái băng vệ sinh chết tiệt nào đó là lại tốn 100 đô la ngân sách quận để thuê thợ sửa ống nước. Vì thế, tôi có thể để anh ở ngoài này, với điều kiện là phải còng tay; hoặc là không còng tay nhưng anh phải bị nhốt trong buồng giam đó." Cô ta nhìn anh, "Anh tự quyết định đi." "Tôi không thích còng tay," anh nói, "nhưng vẫn là còng đi." Cô ta tháo một chiếc còng tay từ thắt lưng cảnh sát, vỗ vỗ vào bao súng lục bán tự động, như thể nhắc nhở anh rằng cô ta có mang súng. "Đặt tay ra sau lưng." Cô ta ra lệnh.
Còng tay quá chật vì cổ tay anh rất to. Sau đó, cô ta còn khóa xiềng xích vào mắt cá chân anh, bắt anh ngồi trên chiếc ghế dài ở phía xa của quầy trực, dựa lưng vào tường. "Được rồi," cô ta nói, "chỉ cần anh đừng gây sự với tôi thì tôi cũng sẽ không gây sự với anh." Cô ta điều chỉnh chiếc tivi một chút để anh cũng có thể nhìn thấy màn hình.
"Cảm ơn." Anh nói.
"Đợi đến khi có văn phòng mới," cô ta nói, "sẽ không còn chuyện vô lý như hiện tại nữa." Chương trình "The Midnight Talk Show" đã kết thúc, tivi bắt đầu phát bộ phim "Cheers". Cái Bóng chưa bao giờ xem trọn vẹn bộ phim hài kịch này, chỉ mới xem qua một tập - tập mà con gái của huấn luyện viên đến quán bar - nhưng tập này anh đã xem rất nhiều lần. Cái Bóng sớm nhận ra rằng, nếu có bộ phim dài tập nào mà bạn chưa xem, bạn sẽ chỉ đụng phải đúng cái tập đó lặp đi lặp lại trong nhiều năm trời. Anh cảm thấy đây chắc chắn là một loại quy luật huyền bí của vũ trụ.
Cảnh sát Liz Burt tựa người ra sau ghế, cô ta không ngủ gật một cách rõ ràng, nhưng cũng chẳng tỉnh táo lắm, thế nên cô ta hoàn toàn không phát hiện ra đám người trong "Cheers" đã ngừng trò chuyện, cũng chẳng còn nói những câu bông đùa nữa, mà đang nhìn chằm chằm từ trong màn hình ra phía Cái Bóng.
Người đầu tiên lên tiếng nói với anh là Diane, nữ bồi bàn tóc vàng luôn tự cho mình là một trí thức ghê gớm. "Cái Bóng," cô ta nói, "anh đã rời bỏ thế giới của chúng tôi, chúng tôi lo lắng cho anh biết bao. Thật vui khi được gặp lại anh - mặc dù giờ anh đang bị nhốt, còn mặc cả bộ quần áo tù màu cam." "Theo tôi thấy," gã khách quen quán bar đáng ghét Cliff giả vờ nghiêm túc nói, "trong mùa săn bắn mà chạy trốn thì mặc quần áo màu cam rất hợp lý. Mùa này ai cũng mặc thế cả." Cái Bóng im lặng không nói gì.
"À, tôi đoán là mèo đã ăn mất lưỡi của anh rồi nhỉ." Diane nói, "Anh đã dẫn chúng tôi chơi một màn rượt đuổi rất thú vị đấy!" Cái Bóng dời ánh mắt đi. Cảnh sát Liz khẽ ngáy lên. Cô bồi bàn trẻ tên Carla búng tay một cái. "Này, đồ khốn. Chúng tôi ngắt chương trình phát sóng bình thường này là để cho anh xem vài thứ hay ho, đảm bảo sẽ khiến anh sợ đến mức tè ra quần. Chuẩn bị xong chưa?" Màn hình tivi chớp tắt, rồi tối đen hoàn toàn. Ở góc dưới bên trái màn hình hiện lên dòng chữ trắng "Phát sóng trực tiếp". Giọng nữ dịu dàng vang lên từ hậu trường: "Giờ đây quay sang phe sắp giành chiến thắng vẫn chưa quá muộn. Nhưng anh cũng có quyền tự do tiếp tục ở lại phe ban đầu. Đó chính là quyền lợi mà một người Mỹ nên được hưởng. Đây là kỳ vọng của nước Mỹ. Tín ngưỡng tự do có nghĩa là anh có quyền sở hữu những tín ngưỡng sai lầm. Tương tự, tự do ngôn luận cũng trao cho anh quyền giữ im lặng." Trên màn hình xuất hiện một khung cảnh đường phố. Ống kính máy quay tiến về phía trước chậm rãi, đây là thước phim được quay bằng máy quay cầm tay theo phong cách phim tài liệu chân thực.
Một người đàn ông lấp đầy khung hình, người này tóc lưa thưa, da rám nắng, vẻ mặt có chút lấm lét. Hắn dựa lưng vào tường, uống cà phê trong chiếc cốc nhựa. Hắn nhìn thẳng vào ống kính, nói: "Khủng bố thường ẩn mình sau những từ ngữ mơ hồ, ví dụ như 'chiến sĩ tự do'. Nhưng bạn và tôi đều rõ, chúng là loại cặn bã xã hội giết người cuồng loạn, đó mới là sự thật. Chúng tôi mạo hiểm tính mạng chính là để khiến thế giới này tốt đẹp hơn." Cái Bóng nhận ra giọng nói đó, anh từng có một lần tiến vào đại não của người đó. Giọng nói của Ngài Thành khi nghe từ bên trong cơ thể có chút khác biệt, giọng nói thực sự của hắn trầm hơn, vang hơn. Nhưng Cái Bóng tuyệt đối sẽ không nhầm lẫn.
Ống kính lùi lại, cho thấy Ngài Thành đang đứng bên ngoài một tòa nhà gạch trên một con phố điển hình của nước Mỹ, trên cửa có một khoảng trống hình vuông, đánh dấu một chữ G viết hoa.
"Đã vào vị trí." Một người nào đó ngoài khung hình tivi nói.
"Hãy để chúng tôi xem hình ảnh do máy quay trong nhà ghi lại." Giọng nữ hậu trường nói.
Dòng chữ "Phát sóng trực tiếp" vẫn nhấp nháy ở góc dưới bên trái màn hình. Giờ đây, hình ảnh chuyển sang bên trong một sảnh nhỏ, ánh sáng trong phòng rất mờ. Hai người đàn ông ngồi cạnh cái bàn cuối phòng, một người trong đó quay lưng về phía ống kính. Ống kính máy quay từ từ lấy nét phóng to. Một lúc lâu sau, bóng dáng cả hai đều mờ nhạt, rồi hình ảnh lại trở nên rõ nét, phóng đại lên. Người đối diện với ống kính đột nhiên đứng dậy, bắt đầu đi lại, giống như một con gấu bị nhốt trong lồng. Người đó chính là Mr. Wednesday! Ở một mức độ nào đó, ông ta trông có vẻ như đang tận hưởng niềm vui từ tình thế hiện tại. Sau khi hình ảnh của họ được lấy nét phóng đại, âm thanh hậu trường bắt đầu phát nhạc pop.
Người quay lưng về phía ống kính đang nói: "—Đề nghị của chúng tôi lúc này chính là cơ hội tốt nhất để chấm dứt cuộc chiến này. Từ nay về sau, không còn bất kỳ sự kiện đổ máu nào, không còn bất kỳ sự tấn công nào, không còn bất kỳ sự đau khổ nào, cũng không còn bất kỳ ai bị xử tử nữa. Chẳng lẽ điều này còn chưa đáng để các người từ bỏ một chút quyền lợi sao?" Mr. Wednesday đột nhiên ngừng đi lại, xoay người đối mặt với hắn. Ông ta tức giận đến mức lỗ mũi phập phồng. "Thứ nhất," ông ta gầm lên, "ngươi phải hiểu rõ, ngươi đang yêu cầu ta đại diện cho tất cả chúng ta phát biểu. Điều này hiển nhiên là vô lý hết sức. Thứ hai, dựa vào đâu mà ngươi nghĩ ta sẽ tin người của các ngươi sẽ giữ lời hứa?" Người quay lưng với ống kính lắc đầu. "Ngươi nói như vậy với bản thân thì chẳng công bằng chút nào, đừng đánh giá thấp chính mình quá." Hắn nói, "Người của các ngươi rõ ràng không có thủ lĩnh, nhưng họ chịu nghe theo ý kiến của ngươi, họ sẽ chú ý đến từng cử động của ngươi. Còn về việc giữ lời hứa của ta, cuộc nói chuyện mang tính dự bị lần này của chúng ta đã được ghi hình, đang phát sóng trực tiếp." Hắn giơ tay chỉ vào ống kính máy quay phía sau. "Một bộ phận người bên phía các ngươi đang theo dõi cuộc đối thoại của chúng ta, còn những người khác sẽ xem băng ghi hình. Ống kính máy quay là sẽ không biết nói dối." "Bất kỳ ai cũng sẽ nói dối." Mr. Wednesday khăng khăng nói.
Cái Bóng nhận ra giọng nói của người quay lưng lại với ống kính. Là Mr. World! Khi Cái Bóng chui vào trong não Ngài Thành, người nói chuyện với Ngài Thành qua điện thoại chính là hắn.
"Ngươi không tin chúng ta sẽ giữ lời hứa?" Mr. World hỏi.
"Theo ta thấy, cam kết của ngươi sớm muộn gì cũng sẽ bị phá vỡ, lời thề của ngươi toàn là những lời thề giả tạo. Tuy nhiên, ta sẽ giữ lời hứa của mình." "Ngươi có thông hành an toàn," Mr. World nói, "hai bên chúng ta đã đồng ý, coi nó như biểu tượng của việc đình chiến. Nhân tiện nói cho ngươi biết một câu, người được bảo hộ trẻ tuổi của ngươi đã lại một lần nữa nằm trong sự giám sát của chúng ta." Mr. Wednesday khinh miệt hừ một tiếng. "Không," ông ta nói, "không thể nào." "Chúng ta đang thảo luận về việc làm thế nào để đối phó với sự thay đổi sắp tới. Chúng ta không nhất thiết phải trở thành kẻ thù không đội trời chung, phải không?" Mr. Wednesday trông có vẻ như bị chấn động mạnh. Ông ta nói: "Ta sẽ làm bất cứ việc gì trong khả năng của mình..." Cái Bóng phát hiện hình ảnh của Mr. Wednesday trên màn hình tivi có chút không đúng. Mắt trái của ông ta, tức là con mắt thủy tinh giả, đang nhấp nháy ánh sáng đỏ. Khi ông ta di chuyển, điểm sáng nhấp nháy để lại một điểm huỳnh quang trên màn hình. Nhưng bản thân ông ta dường như không hề phát hiện ra.
"Đây là một quốc gia có lãnh thổ rộng lớn," Mr. Wednesday vừa nói vừa sắp xếp lại suy nghĩ. Đầu ông ta động đậy, điểm tia laser màu đỏ đó chuyển sang má ông ta, rồi lại cố định trở lại con mắt thủy tinh bên trái. "Có đủ không gian—" Đùng một tiếng vang lớn. Nhưng loa của tivi đã làm giảm âm thanh phát súng. Trong chớp mắt, bên đầu của Mr. Wednesday nổ tung. Ông ta lảo đảo, ngã ngửa ra sau.
Mr. World đứng dậy, vẫn quay lưng lại với ống kính, bước ra khỏi khung hình.
"Hãy để chúng tôi xem lại một lần nữa, lần này dùng bản phát lại quay chậm." Giọng phát thanh viên xuất hiện trở lại, an ủi khán giả nói.
Dòng chữ "Phát sóng trực tiếp" biến thành "Phát lại". Lần này, điểm laser đỏ từ từ chuyển sang con mắt thủy tinh giả của Mr. Wednesday, bên mặt ông ta lại nổ tung, máu văng tung tóe. Hình ảnh đứng yên.
"Vâng, đây vẫn là quê hương của chính các vị thần." Cuối chương trình, phát thanh viên tin tức tổng kết, "Vấn đề duy nhất là, rốt cuộc đây là quê hương của những vị thần nào." Một giọng nói khác - Cái Bóng cảm thấy hình như là giọng của Mr. World, giọng nói đó cũng khiến anh có vài phần quen thuộc - nói: "Giờ đây chúng tôi chuyển chương trình trở lại chương trình cố định mà các bạn đang theo dõi." "Cheers" lại xuất hiện trên màn hình tivi, nhân vật huấn luyện viên trên màn hình đang đảm bảo với con gái mình rằng, con bé thực sự xinh đẹp, xinh đẹp quyến rũ giống hệt mẹ nó.
Điện thoại reo lên, cảnh sát Liz giật mình ngồi bật dậy, nghe điện thoại. "Được, được. Phải, được." Đặt điện thoại xuống, cô ta bước ra khỏi quầy trực, bảo Cái Bóng: "Tôi phải nhốt anh vào buồng giam rồi. Đừng dùng cái bồn cầu đó. Người của cảnh sát trưởng quận sắp đến rồi, đến đây để đưa anh đi." Cô ta mở còng tay và xiềng chân của anh, khóa anh vào trong buồng giam đó. Sau khi đóng cửa buồng giam, mùi vị bên trong càng trở nên nồng nặc hơn.
Cái Bóng ngồi xuống cái giường bệ xi măng, rút đồng tiền bạc một đô la từ trong tất ra, di chuyển nó từ ngón tay sang lòng bàn tay, liên tục chuyển qua lại giữa hai tay. Làm như vậy mục đích duy nhất là để người giám sát anh không thể phát hiện ra sự tồn tại của đồng tiền. Anh đang giết thời gian, cảm thấy đại não của mình đã hoàn toàn rơi vào trạng thái tê liệt.
Bất chợt, anh nhớ đến Mr. Wednesday, và nhớ ông ta vô cùng vô cùng. Anh hoài niệm sự tự tin tuyệt đối của con người đó, quan điểm và thái độ khác người của ông ta, cùng với niềm tin kiên định đó.
Anh mở tay ra, cúi đầu nhìn chằm chằm vào hình ảnh Nữ thần Tự do trên đồng bạc. Các ngón tay khép lại trên đồng tiền, nắm chặt lấy. Anh không biết mình có phải là một trong những kẻ bị vu oan, vì những việc mình không hề làm mà bị tù đày cả đời hay không. Có lẽ anh thậm chí không cần phải bị người ta vu oan. Anh đã từng gặp Mr. World và Ngài Thành, biết rằng họ chẳng tốn chút sức lực nào cũng có thể lôi anh ra khỏi toàn bộ hệ thống tư pháp, có lẽ không đợi anh được áp giải đến trại giam tiếp theo, anh đã mất mạng trên đường vì tai nạn bất hạnh nào đó, cũng có thể bị bắn chết khi định bỏ trốn. Chuyện như thế này không phải là không thể xảy ra.
Trong căn phòng phía sau cửa kính có một trận xôn xao. Cảnh sát Liz lại quay lại, nhấn một nút bấm, một cánh cửa mà Cái Bóng không thể nhìn thấy mở ra, một phó cảnh sát trưởng da đen mặc đồng phục cảnh sát trưởng quận bước vào, tràn đầy tinh thần tiến về phía bàn làm việc.
Cái Bóng nhét đồng tiền lại vào trong tất.
Viên cảnh sát trưởng mới đến giao vài tờ giấy cho cảnh sát Liz, cô ta xem qua một lượt rồi ký tên vào đó. Chad Mulligan cũng bước vào, nói vài câu với người mới đến. Sau đó anh ta mở cửa buồng giam, bước vào.
"Được rồi, có người đến đây đón anh đi rồi. Xem ra anh có vẻ thực sự là nhân vật nguy hiểm đe dọa an ninh quốc gia nhỉ, anh có biết không?" "Xem chừng, trang nhất của tờ 'Lake Lakeside News' sắp có một tin lớn rồi." Cái Bóng nói.
Chad điềm tĩnh nhìn anh. "Đưa tin về một kẻ vi phạm điều khoản quản chế? Đó không phải là câu chuyện hấp dẫn gì đâu." "Định công bố ra ngoài như thế nào?" "Là những người đó dặn dò." Chad Mulligan nói. Cái Bóng giơ hai tay ra trước mặt anh ta, anh ta đeo còng tay cho anh, sau đó là xiềng ở mắt cá chân, cuối cùng dùng một sợi xích nối còng tay và xiềng chân lại với nhau.
Cái Bóng thầm nghĩ: Họ sắp áp giải mình ra ngoài rồi. Có lẽ mình có thể nhân cơ hội này bỏ trốn - với còng tay, xiềng chân, mặc bộ quần áo tù màu cam, chạy trốn vào vùng băng tuyết. Ngay cả bản thân anh cũng nhận ra ý nghĩ này thật ngu ngốc và thiếu thực tế biết bao.
Chad áp giải anh ra văn phòng bên ngoài, Liz đã tắt tivi từ lâu. Viên phó cảnh sát trưởng da đen đó nhìn anh từ trên xuống dưới một lượt. "Này, gã này đúng là một gã khổng lồ." Anh ta nói với Chad. Liz chuyển túi đựng đồ đạc cá nhân của Cái Bóng cho vị phó cảnh sát trưởng mới đến, còn anh ta chịu trách nhiệm ký nhận.
Chad nhìn Cái Bóng, lại nhìn vị phó cảnh sát trưởng đó. Anh ta điềm tĩnh nói với phó cảnh sát trưởng, nhưng âm thanh đủ lớn để Cái Bóng nghe thấy. "Anh xem này, tôi chỉ muốn nói, cách xử lý này khiến tôi thấy không thoải mái chút nào." Phó cảnh sát trưởng gật đầu. "Anh có thể phản ánh lên cấp trên phụ trách, thưa ông. Công việc của chúng tôi là đưa hắn đi." Chad khó chịu xị mặt xuống. Anh ta quay sang Cái Bóng. "Được rồi," Chad nói, "đi ra từ cửa đó, lối ra đấy." "Lối nào?" "Ở bên ngoài, xe đang đợi sẵn rồi." Liz mở khóa cửa. "Anh phải đảm bảo trả lại bộ quần áo tù màu cam đó." Cô ta dặn dò phó cảnh sát trưởng nói, "Phạm nhân lần trước của chúng tôi bị áp giải đi xong, chúng tôi không bao giờ nhìn thấy bộ quần áo đó nữa. Chúng đều được mua bằng ngân sách quận đấy." Họ áp giải Cái Bóng đến lối ra bên ngoài, ở đó đỗ một chiếc xe, nhưng không phải xe của bộ phận cảnh sát trưởng quận, mà là một chiếc xe nhà lưu động (RV) màu đen. Một vị phó cảnh sát trưởng khác là người da trắng để râu, tóc hoa râm, đang đứng bên cạnh xe hút thuốc. Vừa thấy họ tiến lại gần, anh ta lập tức vứt điếu thuốc xuống đất, dùng chân dẫm tắt, mở cửa sau xe cho Cái Bóng vào.
Cái Bóng lúng túng ngồi vào trong, vì bị còng tay và xiềng chân nên hành động của anh không linh hoạt lắm. Giữa ghế sau và hàng ghế trước của xe không có lưới sắt bảo vệ.
Hai vị phó cảnh sát trưởng ngồi vào ghế trước của xe, phó cảnh sát trưởng da đen khởi động động cơ xe, cùng nhau đợi lối ra dẫn ra bên ngoài mở ra.
"Nhanh lên, nhanh lên." Phó cảnh sát trưởng da đen nói, ngón tay gõ nhịp không kiên nhẫn lên vô lăng.
Chad Mulligan gõ gõ vào cửa sổ xe, vị phó cảnh sát trưởng da trắng nhìn người đồng nghiệp lái xe một cái, sau đó hạ cửa sổ xuống. "Quy trình xử lý này là sai," Chad nói, "chỉ muốn báo cho các anh biết một tiếng." "Ý kiến của anh chúng tôi sẽ ghi lại, sau đó chuyển cho người phụ trách tương ứng." Người lái xe nói.
Cánh cửa dẫn ra thế giới bên ngoài cuối cùng cũng mở ra. Bên ngoài vẫn đang có tuyết rơi, dưới ánh đèn pha chiếu rọi, những bông tuyết bay lả tả khiến người ta hoa mắt chóng mặt. Tài xế đạp ga, chiếc xe lập tức lao ra đường phố bên ngoài, chạy thẳng lên đường chính.
"Anh đã nghe tin về Mr. Wednesday chưa?" Tài xế lái xe hỏi. Giọng nói của anh ta lúc này nghe có vẻ có chút thay đổi, già đi rất nhiều, cũng rất quen tai. "Ông ấy chết rồi." "Vâng, tôi biết rồi." Cái Bóng nói, "Nhìn thấy trên tivi." "Đám khốn kiếp đó." Phó cảnh sát trưởng da trắng nói. Đây là lần đầu tiên anh ta lên tiếng, giọng nói thô lỗ ngang ngược, giọng địa phương rất nặng. Giống như tài xế, giọng nói của anh ta cũng là giọng mà Cái Bóng quen thuộc. "Nói cho anh biết, bọn chúng đều là lũ khốn kiếp, một lũ khốn kiếp!" "Cảm ơn các anh đã đến cứu tôi." Cái Bóng cảm kích nói.
"Không có chi." Tài xế nói. Dưới ánh đèn xe đang lao tới chiếu rọi, khuôn mặt anh ta trở nên già đi rất nhiều so với lúc nãy. Không chỉ vậy, vóc dáng của anh ta cũng thu nhỏ lại rất nhiều. Lần trước Cái Bóng nhìn thấy anh ta, anh ta mặc chiếc áo khoác kẻ caro, đeo đôi găng tay màu vàng chanh. "Chúng tôi lúc đó đang ở Milwaukee. Sau khi Ông Ibis gọi điện cho chúng tôi, chúng tôi như điên lao xe tới, lúc này mới kịp chạy tới." "Anh tưởng chúng tôi sẽ để mặc chúng nhốt anh, rồi đưa lên ghế điện sao? Tôi còn đang đợi dùng cây búa của mình đập nát đầu anh đây này." Phó cảnh sát trưởng da trắng giọng điệu u ám nói, mò mẫm trong túi quần lấy ra một bao thuốc lá. Anh ta nói chuyện mang theo giọng Đông Âu.
"Người áp giải thực sự chắc khoảng một tiếng nữa mới đến." Mr. Nancy nói, anh ta lúc này từng chút một biến trở lại dáng vẻ bản thân mình. "Đợi đến khi bọn chúng xuất hiện, chúng ta đã sớm chạy trên đường cao tốc số 53 rồi, còn tháo hết xiềng xích trên người anh, để anh thay lại quần áo của chính mình." Czernobog giơ chìa khóa còng tay lên, đắc ý cười.
"Tôi thích bộ râu của ông," Cái Bóng nói, "khá hợp với ông." Czernobog dùng ngón tay vàng ố xoa xoa bộ râu. "Cảm ơn." Cái Bóng hỏi: "Mr. Wednesday thực sự chết rồi? Không phải là giả vờ, là thật sao?" Anh nhận ra trong lòng mình đang mang theo một loại hy vọng nào đó, mặc dù làm vậy có hơi ngớ ngẩn. Đáng tiếc biểu cảm trên mặt Mr. Nancy đã nói rõ ràng câu trả lời mà anh muốn biết. Hy vọng của anh tan thành mây khói.
◆Đến nước Mỹ năm 14000 TCN Khi ảo ảnh xuất hiện trước mặt nàng, trời vừa lạnh vừa tối. Ở phương Bắc xa xôi, ngay cả vào thời điểm chính ngọ của một ngày, ánh mặt trời cũng chỉ là một mảnh ảm đạm xám xịt. Ban ngày cứ thế trôi qua từng ngày, chẳng qua chỉ là khoảng thời gian ngắn ngủi giữa những màn đêm.
Họ không phải là một bộ lạc lớn, số người không nhiều, họ là bộ lạc du mục ở vùng đồng bằng phía Bắc. Họ sở hữu một vị thần, đó là một chiếc sọ voi ma mút, cùng với một chiếc áo choàng thô sơ làm từ lông voi ma mút. Họ tôn xưng vị thần này là: Nu-nu-ni-ni. Khi họ không du mục bốn phương, nó nghỉ ngơi trên một cái giá gỗ cao bằng con người.
Nàng là thánh nữ của bộ lạc này, là người bảo vệ bí mật của thần, tên của nàng là Atsula, nghĩa là "Cáo". Hai người đàn ông trong bộ lạc dùng sào dài chở vị thần của họ tiến lên, Atsula đi trước họ. Trên người thần phủ tấm da gấu, như vậy, đôi mắt trần tục không thể nhìn thấy nó, vào những ngày không thánh khiết nó cũng sẽ không bị lộ ra.
Họ lang thang trên vùng lãnh nguyên băng giá, mang theo lều bạt di chuyển khắp nơi. Chiếc lều tốt nhất làm từ da tuần lộc tinh xảo, là chiếc lều thần thánh. Hiện tại, trong chiếc lều này đang ngồi bốn người: Atsula, nữ tế tư của bộ lạc; Gugwei, trưởng lão bộ lạc; Yanu, thủ lĩnh chiến tranh; và Kalanu, người thám hiểm của bộ lạc. Sau khi nàng nhìn thấy những ảo ảnh đó, nàng đã triệu tập họ đến đây.
Atsula gọt một ít rêu, ném vào trong lửa, lại dùng bàn tay trái gầy guộc vốc vài chiếc lá khô ném vào trong lửa. Lá cây bốc lên làn khói xám gây kích ứng mắt, tỏa ra mùi vị kích thích và kỳ quái. Sau đó, nàng lấy một chiếc cốc gỗ từ trên bàn thờ gỗ xuống, đưa nó cho Gugwei. Trong cốc đựng nửa cốc chất lỏng màu vàng đậm.
Atsula đã tìm thấy nấm độc. Mỗi cây nấm trên đó đều có bảy đốm, chỉ có thánh nữ thực sự mới có thể tìm thấy nấm có bảy đốm sao. Nàng hái chúng vào một đêm không trăng, treo trên một sợi sụn tuần lộc để phơi khô.
Ngày hôm qua trước khi ngủ, nàng đã ăn ba chiếc mũ nấm phơi khô. Giấc mơ của nàng tràn ngập những vật hỗn loạn và khủng bố. Có ánh sáng di chuyển nhanh chóng, còn có những tảng đá to như núi, rực cháy ánh sáng và lửa, phóng lên không trung giống như những cột băng. Nàng giật mình tỉnh giấc giữa đêm, mồ hôi đầm đìa, vội vã muốn đi tiểu. Nàng ngồi xổm trên chiếc cốc gỗ, đổ đầy nước tiểu của mình vào cốc. Sau đó, nàng đặt chiếc cốc bên ngoài lều, chôn trong tuyết, quay lại tiếp tục ngủ.
Sau khi tỉnh dậy, nàng nhặt vài mảnh băng ra khỏi cốc, chỉ để lại một mảnh có màu sẫm nhất. Đó là chất lỏng cô đọng tinh hoa.
Hiện tại thứ nàng truyền đi chính là chất lỏng này, nàng truyền cho Gugwei trước, sau đó là Yanu và Kalanu. Mỗi người trong số họ đều nuốt một ngụm lớn chất lỏng, Atsula nhận lấy phần còn sót lại cuối cùng. Nàng nuốt một ngụm, sau đó đổ số chất lỏng còn lại lên mặt đất trước vị thần của họ, coi như là tế phẩm dâng lên Nu-nu-ni-ni.
Họ ngồi trong chiếc lều đầy khói, đợi vị thần của họ mở miệng nói chuyện với họ. Bên ngoài, trong bóng tối, cuồng phong gào thét không ngừng.
Người thám hiểm Kalanu là một phụ nữ, nhưng cách ăn mặc và đi đứng đều giống đàn ông. Cô ta thậm chí còn cưới Tarani, một trinh nữ mới mười bốn tuổi làm vợ. Kalanu chớp chớp mắt thật mạnh, sau đó đứng dậy, đi đến bên cạnh sọ voi ma mút. Cô ta khoác chiếc áo choàng lông voi ma mút lên người, đứng ở đó, thò đầu vào bên trong chiếc sọ voi ma mút.
"Trên vùng đất này có tà ác." Nu-nu-ni-ni nói bằng giọng của Kalanu, "Tà ác. Nếu các người ở lại đây, ở lại trên vùng đất thuộc về mẹ của các người và mẹ của mẹ các người, tất cả các người đều sẽ chết." Ba người lắng nghe còn lại phát ra tiếng lầm bầm.
"Ý nói là bọn buôn nô lệ sao? Hay là lũ sói khổng lồ kia?" Gugwei hỏi. Ông ta có mái tóc trắng dài, khuôn mặt nhăn nheo như vỏ cây xám xịt của cây gai.
"Không phải bọn buôn nô lệ," Nu-nu-ni-ni nói, "cũng không phải lũ sói khổng lồ." "Là nạn đói sao? Nạn đói sắp đến rồi?" Gugwei hỏi.
Nu-nu-ni-ni im lặng không trả lời. Kalanu chui ra từ dưới chiếc sọ, cùng với những người khác kiên nhẫn chờ đợi.
Gugwei khoác lên người chiếc áo choàng lông voi ma mút, thò đầu vào trong chiếc sọ.
"Không phải nạn đói mà các người biết." Nu-nu-ni-ni nói, lần này thông qua cái miệng của Gugwei, "Mặc dù nạn đói sắp đến gần." "Vậy rốt cuộc là nguy hiểm gì?" Yanu truy vấn, "Ta không sợ. Ta sẽ đứng lên phản kích. Chúng ta có giáo, còn có ném đá. Cho dù có một trăm chiến binh cường tráng đến tấn công chúng ta, chúng ta vẫn sẽ giành thắng lợi. Chúng ta sẽ dẫn chúng đến vùng đầm lầy, dùng đá lửa đập nát hộp sọ của chúng." "Nguy hiểm không đến từ con người." Nu-nu-ni-ni nói bằng giọng già nua của Gugwei, "Nó đến từ bầu trời, bất kỳ ngọn giáo và tảng đá nào của các người đều không thể bảo vệ các người." "Vậy chúng ta nên bảo vệ bản thân thế nào?" Atsula hỏi, "Ta nhìn thấy trên bầu trời xuất hiện ngọn lửa, ta nghe thấy âm thanh còn lớn hơn cả mười tiếng sấm sét cộng lại, ta nhìn thấy rừng bị san phẳng, sông ngòi khô cạn." "A..." Nu-nu-ni-ni mở miệng, nhưng không tiếp tục nói nữa. Gugwei từ dưới chiếc sọ bước ra, cả người cứng đờ quỳ trên mặt đất. Ông ta già rồi, các khớp xương sưng đau.
Đám đông im lặng. Atsula ném thêm nhiều lá cây vào trong lửa, khói đặc khiến mắt họ chảy nước mắt không ngừng.
Sau đó, Yanu đi dạo đến trước sọ voi ma mút, khoác chiếc áo choàng lên đôi vai rộng lớn của mình, thò đầu vào trong chiếc sọ. Giọng nói của ông ta ầm ầm vang lên bên trong. "Các người phải đi xa," Nu-nu-ni-ni nói, "các người phải di cư đến nơi hướng về phía mặt trời. Ở hướng mặt trời mọc, các người có thể tìm thấy một vùng đất mới, ở đó các người sẽ an toàn. Đây sẽ là cuộc hành trình dài đằng đẵng: trăng tròn trăng khuyết biến hóa, trải qua hai lần sinh tử, trên đường sẽ gặp bọn buôn nô lệ và dã thú. Nhưng chỉ cần các người kiên định tiến về phía mặt trời mọc, ta sẽ dẫn dắt các người, bảo vệ các người bình an." Atsula nhổ một ngụm nước bọt xuống đất. "Không được!" Nàng có thể cảm nhận được vị thần đang trừng mắt nhìn nàng, "Nói với chúng ta những điều này, ngươi thật là một vị thần tồi tệ. Chúng ta sẽ chết trên đường, tất cả chúng ta đều sẽ chết. Vậy thì còn lại ai để chở ngươi đi từ ngọn núi này sang ngọn núi khác, dựng lều cho ngươi, dùng mỡ để bôi lên đôi ngà của ngươi đây?" Vị thần không trả lời gì cả. Atsula và Yanu đổi vị trí cho nhau. Khuôn mặt của Atsula nhìn ra bên ngoài thông qua chiếc xương ma mút vàng ố.
"Atsula không có tín ngưỡng." Nu-nu-ni-ni nói bằng giọng của Atsula, "Atsula sẽ chết trước khi các người đến được vùng đất mới, nhưng những người khác trong các người đều có thể sống sót. Hãy tin ta, vùng đất phía Đông đó vẫn chưa có người ở. Vùng đất đó sẽ trở thành vùng đất của các người, vùng đất của con cái các người, còn có con cái của con cái các người, kéo dài bảy đời, cho đến bảy đời sau của bảy đời sau. Nếu không phải vì sự không trung thành của Atsula, các người có thể sở hữu vùng đất đó mãi mãi. Đến sáng mai, hãy thu dọn lều bạt và tài vật của các người, tiến về nơi mặt trời mọc." Gugwei, Yanu và Kalanu đều cúi đầu, ca ngợi sức mạnh và trí tuệ của Nu-nu-ni-ni.
Trăng tròn, trăng khuyết, lại trăng tròn, trăng khuyết. Người của cả bộ lạc di cư về phía Đông, hướng về nơi mặt trời mọc, gắng sức tiến lên trong cơn gió lạnh buốt giá. Gió làm cho làn da phơi ra ngoài của họ tê liệt, nhưng lời đảm bảo của Nu-nu-ni-ni với họ là thật, trên đường đi, bộ lạc của họ không mất đi một ai, chỉ có một người phụ nữ sinh con bị chết, nhưng người phụ nữ sinh con là được mặt trăng bảo vệ, không được Nu-nu-ni-ni bảo vệ.
Họ băng qua cây cầu đất nối liền hai lục địa.
Ánh sáng đầu tiên xuất hiện, Kalanu rời khỏi họ để đi thám thính con đường phía trước, rất lâu sau cũng không quay trở lại. Xung quanh tối đen như mực, nhưng bầu trời đêm lại tràn ngập ánh sáng, vặn xoắn rối rít, chớp nháy đung đưa, quấn quýt xoay tròn, không ngừng biến hóa, mạch động. Ánh sáng màu trắng, ánh sáng màu xanh lục, màu tím và màu đỏ. Atsula và tộc nhân của nàng đã từng nhìn thấy cực quang, nhưng họ vẫn sợ hãi cực quang, mà lần này sự biến hóa của cực quang lại càng là thứ họ chưa từng nhìn thấy bao giờ.
Khi cực quang còn đang lưu chuyển trên bầu trời, Kalanu quay trở lại.
"Có đôi khi," cô ta nói với Atsula, "tôi cảm thấy chỉ cần tôi dang rộng cánh tay, là có thể lao vào lòng của bầu trời." "Đó là vì ngươi là người thám hiểm." Nữ tế tư Atsula trả lời cô ta nói, "Đợi đến khi ngươi chết, ngươi sẽ hòa vào bầu trời, trở thành một ngôi sao, giống như lúc ngươi còn sống, dẫn dắt chúng ta tiến lên." "Phía Đông có vách đá băng, vách đá cao ngất trời." Kalanu nói, cô ta có mái tóc đen nhánh như quạ, chải thành kiểu tóc giống đàn ông. "Chúng ta có thể vượt qua vách đá đó, nhưng phải mất vài ngày thời gian." "Ngươi sẽ an toàn dẫn dắt chúng ta leo qua vách đá," Atsula nói, "nhưng ta sẽ chết dưới chân vách đá, trở thành vật hiến tế trước khi các người đặt chân lên vùng đất mới tinh." Vài giờ trước, mặt trời đã lặn xuống phía Tây, chìm vào vùng đất họ đã đến. Nhưng lúc này, bầu trời phía bên kia lại lóe lên ánh sáng vàng điềm gở, rực rỡ hơn cả sấm chớp, sáng chói hơn cả ánh sáng mặt trời. Đây là ánh sáng chói lòa do vụ nổ tạo ra. Những người đứng trên cây cầu đất nối liền hai lục địa không thể không che mắt mình lại, nhổ nước bọt xua đuổi tà ma, sợ hãi hét lên hoảng loạn. Những đứa trẻ bắt đầu gào khóc thảm thiết.
"Đó chính là ngày tận thế mà Nu-nu-ni-ni đã cảnh báo chúng ta." Trưởng lão Gugwei nói, "Không nghi ngờ gì nữa, ngài là một vị thần thông thái và hùng mạnh." "Ngài là vị thần hùng mạnh nhất trong tất cả các vị thần." Kalanu nói, "Trên vùng đất mới của chúng ta, chúng ta sẽ thờ phụng ngài ở nơi cao, chúng ta sẽ dùng dầu cá và mỡ động vật để đánh bóng đôi ngà và hộp sọ của ngài. Chúng ta còn phải nói cho con cái của chúng ta, và con cái của con cái chúng ta, con cháu bảy đời, Nu-nu-ni-ni là vị thần hùng mạnh nhất trong tất cả các vị thần, ngài sẽ vĩnh viễn không bị chúng ta lãng quên." "Thần rất vĩ đại," Atsula chậm rãi nói, giống như đang tiết lộ một bí mật to lớn, "nhưng lòng người càng vĩ đại hơn. Thần linh đến từ trái tim của chúng ta, cũng sẽ quay trở lại trái tim của chúng ta..." Đây là những lời báng bổ, không ai biết nàng còn lại bao nhiêu thời gian để có thể tiếp tục nói những lời như vậy, nhưng cũng không có ai vì không thể dung thứ cho sự báng bổ của nàng mà ngắt lời nàng.
Tiếng nổ truyền đến từ phía Tây lớn đến mức lỗ tai của mọi người đều bị chấn động chảy máu không ngừng. Một thời gian dài, họ không nghe thấy bất kỳ âm thanh nào, tạm thời mất đi thị lực và thính lực. Nhưng họ đều còn sống, biết mình may mắn gấp trăm lần những bộ lạc khác ở lại phía Tây.
"Điều này rất tốt." Atsula nói, nhưng ngay cả chính bản thân nàng cũng không thể nghe thấy âm thanh này.
Khi mặt trời mùa xuân lên đến điểm cao nhất, Atsula chết dưới chân ngọn núi cao. Nàng không thể sống để nhìn thấy thế giới mới. Người của cả bộ lạc đều bước vào vùng đất mới tinh này, nhưng lại không còn thánh nữ đi cùng họ nữa.
Họ leo qua vách đá ngọn núi, tiếp tục tiến về phía Nam và phía Tây. Cuối cùng họ tìm thấy một thung lũng, bên trong có dòng suối trong vắt, có con sông sinh trưởng vô số loài cá bạc, còn có loài hươu chưa từng thấy con người, chúng rất thuần phục, đến mức người ta trước khi săn giết chúng phải nhổ nước bọt xua đuổi tà ma, sám hối trước linh hồn của chính mình.
Tarani sinh được ba người con trai. Có người nói Kalanu đã hoàn thành kỳ tích cuối cùng, có thể làm chuyện mà chỉ đàn ông mới làm được với cô dâu mới của mình. Mà những người khác lại nói, ông già Gugwei còn chưa già đến mức không thể thỏa mãn một cô dâu trẻ tuổi mà chồng không có nhà. Chỉ có một điều là chắc chắn không nghi ngờ, từ sau khi Gugwei chết, Tarani không thể sinh thêm con được nữa.
Thời đại băng hà đến, rồi lại kết thúc. Những người này lan tràn, sinh sôi nảy nở trên vùng đất này, hình thành nên nhiều bộ lạc mới, lựa chọn nhiều vật tổ mới: Quạ, Cáo, Lười đất, Mèo rừng lớn, còn có Trâu nước. Mỗi con dã thú đều đánh dấu một bộ lạc, mỗi con dã thú đều là một vị thần.
Voi ma mút trên vùng đất mới có thể hình to lớn hơn, hành động chậm chạp hơn. So với voi ma mút ở vùng đồng bằng Siberia, chúng là loài động vật ngu ngốc hơn. Còn nữa, trên vùng đất mới, không thể tìm thấy nấm độc có bảy đốm sao nữa. Nu-nu-ni-ni từ đó về sau không còn nói chuyện với người của bộ lạc nữa.
Vào thế hệ chắt của chắt Tarani và Kalanu, một toán chiến binh đến từ bộ lạc hùng mạnh, phồn vinh hơn, kết thúc chuyến viễn chinh săn bắt nô lệ ở phía Bắc, quay trở về quê hương phía Nam. Trên đường đi, họ phát hiện ra thung lũng nơi những người nhập cư ban đầu sinh sống. Họ giết hầu hết đàn ông, bắt giữ phụ nữ và trẻ em.
Để nhận được sự đối xử nhân từ của họ, một trong những đứa trẻ đã dẫn họ đến một hang động trên núi. Họ tìm thấy một chiếc sọ voi ma mút bên trong, còn có tàn dư của chiếc áo choàng lông voi ma mút rách nát và một chiếc cốc gỗ, cùng với hộp sọ của nhà tiên tri Atsula được bảo tồn đến ngày nay.
Một số chiến binh của bộ lạc mới muốn mang những thánh vật này đi, như vậy thì tương đương với việc đánh cắp vị thần của những người nhập cư đầu tiên, và sở hữu sức mạnh của thần. Nhưng những người khác bày tỏ phản đối, họ nói làm như vậy chỉ mang vận đen về nhà, thần của chính họ cũng sẽ oán hận họ (những người này thuộc bộ lạc Quạ, mà Quạ là vị thần rất hay đố kỵ).
Thế là, họ ném những thứ này xuống một hẻm núi sâu cạnh vách đá, mang theo những người sống sót của những người nhập cư đầu tiên, bước lên con đường dài đằng đẵng quay trở về phương Nam. Bộ lạc Quạ, cùng với bộ lạc Cáo, ngày càng hùng mạnh trên vùng đất này. Rất nhanh, Nu-nu-ni-ni đã bị mọi người hoàn toàn lãng quên.