
Lúc gõ tên họ mẹ tôi vào công cụ tìm kiếm trên mạng Internet của Nga, tôi cũng như muốn thử một trò chơi cho vui vậy thôi. Suốt mấy chục năm nay, tôi đã cố cách này cách khác nhằm dò ra các vết tích mẹ tôi để lại ở đời, hết viết thư nhờ cậy Hội Chữ Thập Đỏ và các cơ quan làm dịch vụ tìm kiếm người thân ở chỗ này chỗ kia, tôi lại dò hỏi các phòng lưu giữ hồ sơ có tăm có tiếng cũng như vài ba cơ sở nghiên cứu có tầm cỡ tại nơi này nơi khác, tôi cũng gửi thư hỏi dò ở những người chẳng chút quen biết ở tận bên Ukraine và Moskva, tôi lục lọi cả trong những danh mục hay những hồ sơ lưu trữ đã bạc thếch vì năm tháng ghi danh tính các nạn nhân, nhưng tôi chưa bao giờ tìm thấy vết tích gì, dù chỉ là vết của vết thôi, hay một bằng chứng mỏng manh nào về cuộc đời mẹ tôi ở Ukraine, quãng đời mẹ trước khi tôi mở mắt chào đời.
Dạo Thế chiến hai, mẹ tôi mới hai mươi ba tuổi, cùng với bố tôi, bà bị bắt và bị lùa từ Mariupol sang Đức làm nhân công lao động cưỡng bức, còn tôi chỉ biết hai người từng phải vào làm tại một xưởng quân giới thuộc tập đoàn Flick ở Leipzig. Mười một năm sau chiến tranh, mẹ tôi tự tử, qua đời tại một thành phố nhỏ trên đất lầy Đức, một thành phố nằm không xa khu định cư của dân nước ngoài vô quốc tịch, một danh hiệu dạo ấy người ta vẫn dùng để gọi đám dân hôm xưa bị lùa sang Đức làm nhân công lao động cưỡng bức. Ngoài hai chị em tôi, có lẽ chẳng còn ai trên đời này biết đến mẹ tôi. Mà đến ngay cả em gái tôi với tôi, thật ra cũng chẳng biết gì về mẹ chúng tôi nốt. Hồi ấy, vào một ngày tháng Mười năm 1956, lúc mẹ tôi chẳng nói chẳng rằng bỏ nhà ra đi rồi không quay về nữa, thì chúng tôi vẫn còn là trẻ con, em gái tôi mới tròn bốn tuổi, còn tôi lên mười. Trong trí nhớ tôi, mẹ chỉ thấp thoáng như một cái bóng, như một cảm giác mơ hồ thì đúng hơn là một kỷ niệm.
Nói cho đúng ra thì từ lâu, tôi đã thôi không tìm mẹ nữa. Mẹ tôi sinh ra hơn chín mươi năm về trước và cũng chỉ sống có ba mươi sáu năm, trong những năm tháng không hề bình thường, mà là những năm tháng nội chiến, những năm tháng thanh trừng nội bộ và nạn đói lan tràn trên đất Liên Xô, rồi những năm tháng của Thế chiến hai và chế độ Quốc xã. Mẹ tôi rơi vào giữa nanh vuốt của hai nền độc tài, vào nền độc tài dưới trướng Stalin ở Ukraine trước, rồi tiếp đến nền độc tài dưới trướng Hitler ở nước Đức. Hàng chục năm sau, giữa cả một đại dương mênh mông tràn ngập nạn nhân đã bị lãng quên này mà tôi lại mong ước lần tìm dấu tích một phụ nữ trẻ tuổi, một người mà ngoài họ tên, tôi chẳng biết gì nữa cả, thì quả thực là rất viển vông.
Vậy mà vào cái đêm hè giữa năm 2013 ấy, khi tôi nhập tên họ mẹ tôi vào trang web của Nga, thì công cụ tìm kiếm sổ ra ngay cho tôi một kết quả. Nhưng rồi tôi cũng chỉ sững sờ mất vài giây. Một sự thực luôn gây trở ngại cho các cuộc tìm kiếm trên mạng là mẹ tôi mang một cái tên quá hay gặp ở Ukraine, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn các bà các cô Ukraine đều mang họ như mẹ. Mặc dù dòng chữ về nhân vật nào đó hiện ra trên màn hình cũng mang tên bố như mẹ tôi, cũng là Jevgenia Jakovlevna Ivashtschenko đấy, nhưng Jakov, tên bố đẻ của mẹ tôi, cũng là tên gọi phổ biến đến mức kết quả tôi tìm ra chưa có ý nghĩa gì hết cả.
Tôi mở đường link ra đọc: Ivashtschenko, Jevgenia Jakovlevna, năm sinh 1920, nơi sinh Mariupol. Tôi dán mắt nhìn vào trang kết quả, nó trân trân nhìn lại. Dù vốn hiểu biết của tôi về mẹ có ít ỏi thế nào đi nữa, thì tôi cũng biết mẹ sinh năm 1920 ở Mariupol. Liệu có thể có hai bé gái trùng tên, trùng họ, lại trùng cả tên bố là Jakov, mở mắt chào đời cùng năm trong cùng một thành phố nhỏ tí ti như Mariupol hồi đó không nhỉ?
Mặc dù tiếng Nga là tiếng mẹ đẻ của tôi thật, một thứ ngôn ngữ mà suốt cả dời tôi chưa bao giờ quên hẳn, và từ ngày chuyển về Berlin sau thời kỳ Bước ngoặt[1], gần như ngày nào tôi cũng lại dùng đến ấy, tôi vẫn không dám tin, liệu có đúng là tôi đang đọc tên họ mẹ tôi trên màn hình thật không, hay tên họ của mẹ chỉ hiện ra trước mắt tôi như một ảo ảnh ngoài sa mạc, bởi vì đối với tôi, hệ thống Internet của Nga cũng chỉ như một sa mạc mà thôi. Trong hệ thống này, người ta dùng một thứ tiếng Nga mà tôi phải xem gần như là ngoại ngữ, một thứ Newspeak, thứ tân ngữ biến đổi cực kỳ nhanh chóng, luôn luôn sản sinh ra những từ ngữ mới và pha trộn hàng ngày hàng giờ với đủ loại từ ngữ tiếng Anh kiểu Mĩ, những từ ngữ sau khi chuyển sang ký tự Kyrill thì thường khó lòng biết được gốc gác của chúng ở đâu ra. Ngay cả trang web lúc này đang phơi ra trước mắt tôi trên màn hình đây, cũng mang tên gọi tiếng Anh, là Azov’s Greeks. Thì tôi vẫn biết là Mariupol nằm bên bờ biển Azov đấy, nhưng do đâu mà bỗng dưng lại lòi ra cái tên “Dân Hy Lạp vùng biển Azov” mới được? Tôi chưa bao giờ nghe nói đến bất kỳ mối liên hệ nào giữa Ukraine với Hy Lạp cả. Tôi mà là người Anh, chắc lúc này tôi có thể thốt lên: It’s all Greek to me[2] rồi đây.
Dạo ấy tôi hầu như không biết tí gì về Mariupol. Suốt thời gian tìm tòi tư liệu về mẹ, tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện tìm hiểu về cái thành phố mẹ tôi xuất thân làm gì. Thành phố Mariupol, cái thành phố suốt bốn chục năm liền mang tên Zhdanov, mãi đến khi Liên Xô tan rã ít lâu mới mang trở lại tên cũ của nó ấy, chỉ là một địa danh nằm sâu thăm thẳm trong lòng tôi, một địa danh tôi không bao giờ lôi ra gắn với thực tại. Đã từ lâu, tôi náu mình trong thế giới các giả định, với các bức tranh cùng những tưởng tượng của riêng mình. Thế giới thật bên ngoài đe dọa thế giới bên trong ấy của tôi, thế nên tôi tìm mọi cách lẩn tránh nó cho bằng được.
Bức tranh nguyên sơ của tôi về Mariupol bị chi phối hoàn toàn bởi bức tranh tôi mang suốt một thời thơ ấu, cái thời không ai phân biệt nước này với nước kia trong Liên bang Xô viết cả, dân chúng mười lăm nước Cộng hòa tuốt tuồn tuột đều là dân Nga hết. Mặc dù thời Trung cổ xa xưa, nước Nga vốn bắt nguồn từ Ukraine, tức là từ Kiev Rus - cái nơi mà thiên hạ vẫn mệnh danh là cái nôi nước Nga thật - và chính Kiev cũng là thành phố mẹ đẻ ra mọi đô thành khác trên đất nước Nga đấy, nhưng đến cả bố mẹ tôi vẫn chỉ xem Ukraine như một phần của nước Nga mà thôi - một phần của đất nước rộng nhất thế gian, như bố tôi vẫn nói, của quốc gia vĩ đại, với lãnh thổ trải rộng suốt từ Alaska tới đất Ba Lan và chiếm hẳn một phần sáu diện tích các châu lục. So với nó, nước Đức chỉ là một vết con con tí tẹo trên bản đồ.
Với tôi, mọi thứ của Ukraine đều tan vào những gì thuộc về Nga, và nếu có hình dung mẹ tôi trong cuộc đời trước đây của bà tại Mariupol, bao giờ tôi cũng thấy mẹ cùng với tuyết nước Nga. Khoác trên người chiếc áo choàng màu xám cổ lỗ sĩ, cổ và tay áo bằng nhung - chiếc áo choàng duy nhất tôi từng thấy mẹ mặc - mẹ tôi đi xuyên qua các con phố tối tăm và đầy băng giá trong một bầu không gian vô cùng vô tận nào đó, một nơi mà bão tuyết hoành hành khôn nguôi từ ngàn xưa thiên cổ đến giờ. Tuyết Siberi phủ ngập cả Mariupol lẫn mọi nơi khác trên khắp nước Nga, một đất nước bí hiểm muôn đời lạnh giá, một đất nước dưới quyền những người Cộng sản.
Hình dung con trẻ đó về quê hương xứ sở sinh thành ra mẹ đã lưu lại hàng chục năm trời ở một góc tối nào đó trong lòng tôi. Ngay cả khi tôi đã biết từ lâu rằng Nga với Ukraine là hai quốc gia khác nhau và Ukraine chẳng chút dính dáng gì đến Siberi cả, thì tưởng tượng của tôi về Mariupol vẫn y nguyên như cũ, cho dù tôi chẳng dám chắc, liệu có thật là mẹ tôi sinh ra từ thành phố đó không, hay tôi tưởng tượng ra Mariupol của mẹ như thế, chỉ vì tôi thích cái địa danh đó. Đôi khi tôi còn chẳng dám chắc, liệu có thành phố nào trên đời mang tên như thế thật không, hay thành phố đó chỉ do tôi nghĩ ra, cũng giống như nhiều chi tiết khác về gốc gác của chính mình, tôi chỉ tưởng tượng ra trong đầu mà thôi.
Một lần, trong lúc đang lật lật báo và hờ hững đọc lướt qua các trang, tôi lật đến mục thể thao, đã toan lật tiếp, thì cái chữ Mariupol bỗng đập vào mắt. Rằng một đội bóng đá Đức nào đấy sang Ukraine để thi đấu với đội Iljitchevez Mariupol. Chi riêng cái việc thành phố này có hẳn một đội bóng đá thôi đã làm tôi bừng tỉnh, khiến cho cái thành phố Mariupol vốn vẫn ấp ủ đâu đó trong lòng tôi như một thứ nấm mốc nào đấy bỗng bị đập bay lên mù mịt. Trên đời này, có lẽ không có gì ít làm tôi quan tâm hơn là bóng đá, thế mà chính nó lại là thứ trước tiên đẩy tôi đến với Mariupol ngoài đời thực. Tôi được biết thêm, thì ra đấy là một thành phố mà khí hậu hết sức ôn hòa, một thành phố cảng nằm bên bờ biển Azov, biển nông nhất và ấm áp nhất trần đời. Thấy bảo ở đấy, bên bờ biển có những bãi cát vàng trải dài miên man và rộng rãi, những ngọn đồi trồng nho nhấp nhô cùng các cánh đồng hoa hướng dương mênh mông tít tắp chân trời. Còn các cầu thủ Đức thì rên rỉ vì họ phải thi đấu giữa nắng hè, dưới cái nóng ngấp nghé những bốn chục độ.
Tôi có cảm giác, dường như thực tại còn hoang đường hơn cả tưởng tượng của tôi. Lần đầu tiên kể từ sau khi mất, mẹ tôi bỗng hiện ra thành một nhân vật có thật, tồn tại bên ngoài trí tưởng tượng của tôi. Đột nhiên tôi thấy mẹ không mặc áo choàng đi trong tuyết nữa, mà trong bộ áo váy mùa hè mát mẻ và sáng màu, đang rảo bước trên đường phố Mariupol, cánh tay và ống chân để trần, bàn chân xỏ xăng đan. Vâng, một cô gái trẻ, không phải là người từng lớn lên tại một nơi tối tăm và lạnh lẽo nhất thế gian, mà tại một xứ nằm gần Crimea, bên bờ biển phương Nam ấm áp, dưới một bầu trời có lẽ cũng từa tựa như bầu trời trên thành phố Adria nước Ý vậy. Tôi vốn vẫn có cảm giác không có gì khập khiễng với nhau như mẹ tôi với phương Nam, mẹ tôi với ánh nắng mặt trời và biển cả. Nay tôi phải chuyển mọi tưởng tượng của tôi về cuộc đời mẹ sang một vùng khí hậu khác, với nhiệt độ khác. Cái lạ lẫm hôm xưa ấy, đã biến thành cái lạ lẫm mới.
Mãi nhiều năm sau, nhờ đọc một cuốn tiểu thuyết ngắn của Nga, tựa đề tôi đã quên mất rồi, tôi mới biết khung cảnh mùa đông ở Mariupol vào cái thời mẹ tôi còn sống ở đó như thế nào. Tuyết ướt nhão rơi phía ngoài cửa sổ khách sạn Palmyra. Từ đây đi chừng trăm bước là ra đến biển, ngoài đó vọng vào đây một thứ tiếng động tôi không đám bảo là tiếng lao xao. Ọc ạch, nhóc nhách, một miền biển nông choèn, vô nghĩa, nhàm chán. Nem nép bên mép nước là thành phố Mariupol con con giản dị, với ngôi nhà thờ Kościół kiểu Ba Lan và giáo đường Do Thái. Thêm bến cảng hôi hám, khu nhà kho, cùng túp lều rách bươm của gánh xiếc rong ngoài bãi biển, và quán trọ Hy Lạp với cây đèn đường mù mờ nhợt nhạt dựng đơn độc trước lối vào khách sạn nổi trên. Tôi đọc đoạn văn ấy như đọc một thông điệp thân tình và kín đáo về mẹ tôi vậy. Phải, mẹ tôi đã chứng kiến cảnh tượng đó bằng con mắt của chính mình. Chắc chắn mẹ tôi đã có lần nào đó đi ngang khách sạn Palmyra, rất có thể mẹ khoác trên người chiếc áo choàng màu xám ấy, có thể mẹ cũng bước dưới làn tuyết nhão ấy, và xốc vào mũi mẹ cũng chính là cái mùi hôi hám ấy của bến cảng.
Từ trang web đang vô tình mở ra này, tôi đọc được khá nhiều chuyện đáng ngạc nhiên về Mariupol. Vào thời gian mẹ tôi sinh ra, thành phố này vẫn còn mang đậm nét văn hóa Hy Lạp. Vào thế kỷ 18, Nữ Sa hoàng Ekaterina Đại đế đã đem cả thành phố tặng cho dân Hy Lạp theo Cơ đốc giáo trong khanate[3] Crimea. Mãi đến giữa thế kỷ 19 các tộc người khác mới được định cư ở cái thành phố hồi đó mang tên là thành Mariypoli này. Cho đến tận ngày nay vẫn còn sót lại một nhóm thiểu số người Hy Lạp sinh sống ở đây, và tên họ mẹ tôi, vì một lý do nào đó, đã dẫn dắt tôi đến diễn đàn vốn dành cho người gốc Hy Lạp tại Ukraine này. Tôi chợt thấy ngờ ngợ. Những gì mẹ tôi từng kể về thời bà sống ở Ukraine, tôi chỉ còn nhớ mang máng, rất mơ hồ, nhưng trong trí nhớ tôi lại hằn sâu một điều là thân mẫu mẹ tôi vốn là người Ý. Tất nhiên, sau bấy nhiêu năm tháng, tôi không thể chắc được, liệu chi tiết đó có phải từ lời mẹ tôi kể mà ra không, hay đó chỉ là chuyện vu vơ vô tình nào đó đọng lại trong trí não tôi. Điều tôi cảm thấy có vẻ chắc chắn nhất là ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã tưởng tượng cho mình một bà ngoại người Ý và biến bà thành nhân vật cho các câu chuyện hoang đường hết sức liều lĩnh tôi tự bịa ra, hoặc cũng có thể hình ảnh bà ngoại người Ý đã bắt nguồn từ mong ước tha thiết hôm xưa của tôi, làm sao trút bỏ được cái lốt Nga pha chất Ukraine tôi mang trên người, mong ước phải làm sao cho mình khác xa cái tôi thật sự ở đời. Bây giờ tôi tự hỏi, không biết có phải mình chỉ nhớ nhầm, rằng thân mẫu mẹ tôi không phải người Ý, mà là người Hy Lạp không. Liệu có phải sự lẫn lộn đó bắt nguồn từ những gì bây giờ tôi mới biết về Mariupol hay không? Có phải bà ngoại Hy Lạp trong trí nhớ của tôi đã dần dần và lặng lẽ theo thời gian biến thành bà ngoại Ý; vì nước Ý, trong giai đoạn thanh xuân của cuộc đời, đã từng biến thành miền thương nhớ khôn nguôi trong lòng tôi tự lúc nào không rõ không?
Tôi có cảm giác vừa bước vào một mảng tối mới trong câu chuyện về nguồn gốc xuất xứ của mình, như thể tôi đang đột nhiên lún xuống một miền đất còn xa lạ hơn xưa, trông trước nhìn sau chẳng nhận ra đâu với đâu nữa cả. Tôi nhìn chăm chú vào dòng chữ ghi tên họ mẹ tôi trên màn hình và có cảm giác những chi tiết nghèo nàn bấy lâu nay tôi vẫn chắp vẫn vá vào danh tính của tôi bỗng nổ tung như bong bóng xà phòng. Mọi thứ xung quanh tôi dường như tan biến đi trong giây lát. Tôi chỉ bình tâm lại với ý nghĩ rằng gốc gác Hy Lạp của bà Jevgenia Jakovlevna Ivashtschenko mà tôi mới tìm ra trên mạng đây, đối với tôi, chỉ có nghĩa như một bằng chứng cho thấy người đàn bà này không phải là mẹ tôi mà thôi. Chưa bao giờ, điều này thì tôi chắc mười mươi, vâng, chưa bao giờ tôi nghe cái từ greki[4] từ miệng mẹ tôi cả, dạo ấy, trong thế giới lều trại nghèo nàn khốn khổ và khép kín của gia đình, một từ như thế chắc chắn sẽ găm chặt vào trí nhớ tôi như một thứ gì đó phi thường và kỳ lạ lắm. Vả lại, cũng khó mà tin được rằng mẹ tôi không bao giờ nhắc đến quá khứ Hy Lạp của thành phố quê hương mình; ít gì thì thông qua các thông tin về lịch sử địa phương tôi đọc được trên diễn đàn Internet đây, tôi cũng biết chất Hy Lạp ở Mariupol vào thời mẹ tôi còn sống từng rất rõ rệt.
Âu cũng là vì mọi công sức tìm kiếm tông tích của tôi lâu nay chỉ toàn đổ xuống sông rơi xuống biển cả, nên tôi chẳng hề nuôi hy vọng gì nhiều lắm; thế nhưng, vì cái trang “Dân Hy Lạp vùng biển Azov” này cũng là một diễn đàn hỗ trợ tìm kiếm người thân, nên tôi tặc lưỡi, thôi thì viết vài dòng nhắn tin vào đây đã xem sao. Thế nhưng, để viết được đôi dòng vào đó, tôi phải đăng ký tài khoản cái đã. Tôi chưa bao giờ làm một việc như thế trên bất cứ trang web nào của Nga, nên tôi không dám chắc, rằng bây giờ tôi có thể vượt qua nổi cái rào cản kỹ thuật này, ấy vậy mà tôi phải lấy làm ngạc nhiên, mọi sự lại diễn ra đơn giản như thế, còn đơn giản hơn nhiều so với các trang web ở Đức. Chỉ sau vài phút, tôi đã được tự do truy cập vào trang web.
Ngoài tên họ và quê quán mẹ, tôi không thể viết gì nhiều hơn vào mục tìm kiếm. Phụ danh theo tên bố Jakovlevna cho phép tôi suy ra tên thân phụ mẹ tôi là Jakov, nhưng tên thời con gái của thân mẫu bà thì tôi không nhớ nữa rồi. Tôi chỉ biết mẹ có một ông anh và một bà chị, nhưng tên họ hai bác ấy là gì thì tôi cũng không biết nốt. Tôi còn giữ tờ chứng nhận kết hôn, trong đó ghi bố mẹ tôi lấy nhau tháng Bảy năm 1943 tại Mariupol lúc đó đang bị quân đội Đức chiếm đóng. Trên phiếu lao động do Sở Lao động Leipzig cấp có ghi, mẹ tôi cùng với bố tôi bị bắt sang Đức vào năm 1944. Đó là tất cả những gì tôi biết về mẹ tôi.
Và rốt cuộc thì câu hỏi vẫn là, tôi tìm ai mới được. Tôi có thể gạt bỏ ngay khả năng ông anh bà chị của mẹ tôi vẫn còn sống, mà giả sử họ có còn sống ở đời đi nữa, thì ai nấy đều đã đến tuổi tiên ông tiên bà cả rồi. Đến như con cái họ, tức là anh chị họ của tôi, nếu có, thì ai nấy tuổi cũng phải cao ngất ngưởng như chính tôi bây giờ vậy. Cũng có thể họ chưa hề gặp mẹ tôi bao giờ, và khó mà biết được, liệu họ có biết đến mẹ tôi ở đời không, liệu đã có ai kể cho họ nghe về mẹ tôi không. Hồi ấy, cũng như cả hàng chục năm về sau, có họ có hàng với một người như mẹ tôi là rất nguy hiểm, với một người rất có thể đã tình nguyện để bị bắt lùa sang Đức, hoặc chí ít cũng đã không tìm cách trốn, thậm chí cùng đường còn phải tự sát - như Stalin vẫn đòi hỏi những người ái quốc chân chính phải tự hy sinh như thế - để dứt khoát không sang Đức làm nô dịch cho quân thù. Hồi ấy, người ta tránh không cho con cái mình biết đến những bà con thân thích bị liệt vào hạng phản quốc như mẹ tôi, bởi vì, ai mà muốn con cái mình mang vạ vào thân chứ.
Trước đây, mỗi khi đánh các văn bản tiếng Nga, ngón tay tôi lại phải làm quen lại với bàn phím Kyrill và lò dò tìm các chữ cái tiếng Nga; thế nhưng bây giờ, dựa vào một chương trình máy tính tuyệt vời, tôi có thể đánh văn bản Nga của tôi trên bàn phím chữ Latinh bình thường và chương trình nọ sẽ tự động chuyển các mẫu tự Latinh sang chữ Kyrill. Mặc dù tôi rất đắn đo, không biết rồi tôi có chuyển được mẩu tin nhắn mình viết qua chương trình Translit nọ vào trang web Nga hay không - dẫu gì thì đối với tôi, các bước thao tác cũng có vẻ lâu la và rắc rối quá - thế nhưng, chỉ cần vài nhấp chuột là mẩu tin nhắn đã vọt nhảy lên trang web “Dân Hy Lạp vùng biển Azov” rồi. Tôi ghi địa chỉ email của tôi xuống dưới mẩu tin rồi cứ thế gửi đi, chẳng hề nghĩ xem rồi nó sẽ băng đến tận những phương trời nào. Không chừng, nó sẽ hạ xuống một xó xỉnh hoang sơ chết chóc nào đó, vào một khoảng hư không hoàn toàn vắng lặng cũng nên, và sẽ không có ai bắt được mẩu tin ấy nữa, mẩu tin mà tôi như thể vừa nhét vào chai, rồi đem thả dập dềnh giữa biển khơi sóng vỗ ấy.
Đã mấy tuần nay, tôi ru rú một mình trong căn hộ tôi vẫn dành cho việc viết lách này tại Mecklenburg. Tôi chung căn hộ bé nhỏ bên hồ Schaalsee đây với chị bạn, hai đứa thay phiên nhau ở. Năm nay, gần như toàn bộ những ngày tháng mùa hè bên hồ đều thuộc về tôi. Chị bạn Gilla của tôi là diễn viên, ngập bù đầu với một chương trình sân khấu ở đâu đó xa xôi tận nước ngoài, phải mãi tháng Chín mới về. Còn tôi vừa viết xong cuốn sách và định bụng nằm ườn ra nghỉ ít lâu. Nói cho đúng thì tôi không nhớ đã bao giờ mình nằm ườn lấy nửa ngày hay không. Chất liệu để viết của tôi ngoan cố chen nhau xếp thành hàng dài chờ chực, chúng đã không cho tôi ngơi tay, lại nhắc nhở tôi ngày một gay gắt, chớ nên quên sự thực hiển nhiên, rằng đời tôi thật ngắn ngủi. Thông thường, hôm nay vừa xong một quyển thì ngay hôm sau tôi đã bắt đầu cuốn mới, dừng lại lâu không viết, không vật lộn với từ với chữ là tôi không chịu được. Phần lớn quãng đời cứ thế mà trôi biến đi lúc nào, tôi cũng chẳng biết nữa. Thế mà hiện giờ tự dưng tôi không muốn làm gì nữa cả, chỉ muốn ngồi không ngoài ban công, để mặc cho gió nhẹ mơn man trên da thịt mình và ngắm nhìn mặt nước hồ trong xanh dưới nắng hè. Xế chiều, khi hơi nóng dịu bớt đi, tôi mới lôi đôi gậy chống Nordic-Walking làm một vòng đi bộ bên hồ cho đến khi mệt lử, để rồi tại đôi chỗ ẩm ướt và khuất nẻo, đành chịu cho hàng bầy muỗi đói dày đặc như đám mây nhào xuống đốt. Trên đường về, tôi sẽ mua ở cửa hàng cá tươi ít cá hồi trắng lẫn cá hồi hồng đánh bắt thẳng từ hồ lên đem về nhà làm bữa tối.
Trước đây, đường biên giới Đông - Tây Đức chạy cắt ngang hồ Schaalsee này. Phần hồ này thuộc Mecklenburg bên Đông, phần kia thuộc Schleswig-Holstein bên Tây. Phóng xe thêm vài cây số nữa, người ta sẽ chạy qua một tấm biển, trên đó có ghi dòng chữ: Tính đến 16h ngày 18 tháng Mười một năm 1989, đây là nơi nước Đức và châu Âu bị chia cắt. Tại nơi xưa kia là vùng đất cấm dọc theo biên giới phía Đông này, suốt một quãng thời gian dài tới bốn chục năm, cỏ cây, muông thú được yên ổn sinh sôi nảy nở, hầu như không bị con người quấy rối, những con người thường chỉ xuất đầu lộ diện ở đây dưới dạng lính biên phòng mà thôi ấy. Sau thời Bước ngoặt, khu vực bỏ hoang này biến thành khu bảo tồn thiên nhiên nằm trong danh mục các khu dự trữ sinh quyển quốc tế của UNESCO; tức là một khu hoang dã được quản lý, gần đây mới có giới thượng lưu giàu có chuyên dùng hàng hóa, thực phẩm sạch đắt tiền từ Hamburg đến ở. Để chiều dân thành phố chuộng hữu cơ sinh thái kéo về đây sinh sống hay dựng nhà nghỉ, người ta khai trương các cửa hàng hữu cơ sinh thái, mở khách sạn hữu cơ sinh thái, các buổi chợ bán rặt những mặt hàng cũng hữu cơ sinh thái nhóm họp đều đặn; khách đến đây bỏ năm chục euro ra có thể mua cổ phần bảo vệ cò, và ở đây còn có thêm một nơi gọi là trung tâm “Con người và thiên nhiên” sang trọng. Dân Đông Đức bản xứ chỉ thấy lai vãng tại các cửa hàng bán hàng giảm giá Penny và Lidl là chính, bây giờ họ biến thành người lạ ở đây, thành dân sống quây bên trong thế giới của những ngôi nhà dựng lên từ thời CHDC Đức mới được tân trang và ghé mắt qua kẽ hàng rào nhìn ra thế giới xưa kia của họ.
Từ khung cửa sổ rộng toàn cảnh của căn hộ, tôi không thấy gì khác ngoài hồ nước. Suốt ngày tôi luôn có cảm giác ngây ngây ngất ngất thế nào đó do không rời mắt khỏi mặt nước hồ trong xanh, nước sâu dường như vô tận và mát rười rượi khiến người ta như chỉ muốn ngâm mình chìm xuống mãi. Từ xa vọng lại tiếng trẻ í ới nô đùa dưới nước. Đang kỳ nghỉ hè mà, đầy những âm thanh ấy, ngan ngát những hương vị ấy, cùng toàn bộ vẻ đẹp của một mùa hè con trẻ, một mùa hè ai cũng muốn nó kéo dài không dứt. Thật may là ở đây cấm thuyền máy, quyền thống lĩnh hồ này thuộc về các giống thủy điểu sinh sống ở đây, họa hoằn lắm mới có một con thuyền gỗ lẻ loi nào đó buông chèo hay căng buồm trắng ngang qua. Có đến hàng trăm con chim nhạn lượn qua lượn lại giữa không trung, đôi khi lượn thấp đến nỗi, tôi có cảm giác như đầu cánh nhọn hoắt của chúng sắp chạm cả vào người, nhất là vào những lúc tôi ngồi ngoài ban công mở sách đọc hay chỉ ngồi để ngắm trời ngắm nước, ngắm mặt hồ long lanh, như thể vô vàn những chiếc gương con con nào đó rải trên mặt hồ đang hắt nắng qua lại cho nhau. Những con ngỗng trời bay thành đàn với đội hình ngay ngắn trên trời cao, như thể chúng được nối với nhau bởi những sợi dây vô hình, bọn chim én thoăn thoắt đuổi nhau giữa thinh không vời vợi, như đang rủ nhau chơi một trò kỳ quái nào đấy. Cứ sẩm tối là dàn giao hưởng của vô số thủy cầm lại vang lên, tiếng vịt trời càng cạc bận rộn, tiếng thiên nga càu nhàu gắt gỏng, cùng tiếng kèn trumpet xốn xang nháo nhác của tụi cò lũ hạc, cái đám suốt ngày kiếm ăn đâu đó ngoài các cánh đồng xa tận đẩu tận đâu, tối mịt mới về tụ tập nhau bên hồ này. Thỉnh thoảng xuất hiện con đại bàng đuôi trắng, sải rộng đôi cánh dài mạnh mẽ chậm rãi lượn là là trên mặt hồ. Đúng là bậc đế vương uy nghi sông nước, là nỗi kinh hoàng của cá bơi dưới hồ lẫn muông thú bên bờ! Cứ nghe dân tình kháo nhau thì đã có lần, đứng bên bờ người ta còn chứng kiến cảnh tượng nó phanh thây một con cò ra sao. Chẳng là vào mùa đông lạnh giá, đám cò cậy mình được bảo vệ, chẳng ai dám sinh chuyện đụng vào chúng, nên chuyên tìm chỗ nước nông đứng chân co chân duỗi ngủ qua đêm; có con trong đám thế nào lại vô ý ngủ quên, khiến một chân bị nước đóng băng không rút lên được. Lúc con đại bàng từ trên cao lao bổ xuống, nó không kịp xoay xở thoát thân, đành chịu bị đại bàng xé xác.
Tôi mê mẩn như phải lòng mùa hè năm nay bên hồ vậy, nôn nao bồn chồn không sao ngủ được. Có những buổi, tôi ngồi suốt đêm ngoài ban công, tắm mình trong bầu không khí mát rượi về đêm, ngắm nhìn vệt ánh trăng lấp lánh trên mặt nước hồ tối sẫm và tận hưởng không biết chán bầu tĩnh lặng trùm xuống xung quanh, một bầu tĩnh lặng thi thoảng mới thoáng bị phá vỡ bởi tiếng kêu khe khẽ của một chú chim ngái ngủ nào đó phát ra từ giữa đám lau sậy vô hình mọc đen ngòm đâu đấy tận ngoài xa.
Trước đây, tôi chưa từng bao giờ thấy mặt trời ở đâu mọc như bên hồ này. Ngay sau 3 giờ sáng một lúc, nó đã đánh tiếng ở phía chân trời, ban đầu chỉ với một áng hồng phơn phớt rất khó nhận ra giữa bầu trời treo trên mặt nước thôi, rồi mới dần dần chuyển thành chùm ánh sáng đẹp đẽ phi thường. Tôi lấy làm ngạc nhiên, ngoài tôi ra, sao mọi người đều ngủ yên, dường như không còn ai cùng chứng kiến cảnh tượng tuyệt vời này của trời đất. Bầu trời bừng lên cùng mọi màu mọi sắc, từ màu lục nhạt đến lóng lánh ánh vàng, từ màu tím ngăn ngắt đến màu đỏ lửa rực rỡ, mỗi ngày một khác, mỗi ngày một mới, như những trò giỡn đùa bằng ánh sáng, những bức tranh siêu thực mà mặt trời phù phép phác lên nền trời, và tôi - ngồi trên ban công của tôi như ngồi trong một lô khán phòng nào đấy của nhà hát vũ trụ rộng lớn vô biên - được chứng kiến sự biến chuyển từng phút từng giây đó trước mắt mình, toàn thân như mê dại bởi tiếng kêu hốt hoảng kinh hoàng của muôn loài thủy cầm, những tiếng kêu vang lên như thể chúng đang đón chờ giờ tận thế, hay ngóng đợi một sự kiện vô tiền khoáng hậu nào đó mà giác quan loài người chúng ta không đủ sức cảm nhận. Các loại màu sắc ở chân trời từ từ cô đặc lại, trước khi nổ bùng lan tỏa, rồi dần dần nhòe nhạt, lặng lẽ lịm đi, chuyển mỗi lúc một nhanh thành những tia nắng chói chang rót xuống mặt hồ. Chim muông bỗng im bặt, mối nguy đã tạm trôi qua, bắt đầu một ngày hè nóng nực kéo dài. Tôi đứng dậy, rời khỏi chiếc ghế bành rộng rãi và cũ kỹ mà tôi đã lôi ra kê giữa ban công này, rồi quay vào phòng đánh răng rửa mặt và bước sang căn phòng ngủ trông sang hướng tây của tôi, một căn phòng có khung cửa sổ lắp mái hiên bằng vải bên ngoài để chắn nắng và ngăn hơi nóng hắt vào trong. Ngay cả khi ngủ, tai tôi vẫn như ù đi bởi bầu yên ắng tĩnh lặng ấy, để đắm mình vào những giấc mơ vừa trong lành vừa kỳ lạ. Thức giấc lúc gần trưa, tôi choàng ngay dậy khỏi giường và vẫn mặc nguyên áo ngủ, vội bước ngay đến cửa sổ phòng bên để thấy lại mặt hồ, trong xanh, long lanh sáng.
Từ bữa tôi gửi tin tìm kiếm vào trang “Dân Hy Lạp vùng biển Azov” đến giờ đã gần một tuần trôi qua. Tôi sắp quên khuấy chuyện này đi rồi thì đột nhiên, tôi nhận được bức email mang địa chỉ đọc không ra chữ gì với chữ gì. Thông thường, tôi vẫn nhận email của người Nga gửi đến, nhưng lần này chương trình thư điện tử của tôi không đọc nổi dòng chữ Kyrill rất lạ ấy. Một ông Konstantin mang họ người Hy Lạp nào đó đề nghị tôi gửi thêm thông tin về mẹ tôi cho ông ta. Ông viết rằng có thể giúp tôi, nhưng muốn vậy, ông cần biết nhiều hơn về nhân vật cần tìm.
Việc dò tìm của tôi chưa bao giờ tiến được xa như thế này. Tiến xa đến mức một người đàn ông nào đó ở tận Mariupol sẵn lòng giúp tôi, và hỉnh như cũng có thể giúp tôi thật, nếu tôi gửi thêm thông tin về mẹ tôi cho ông ấy. Có điều, tôi không thể báo thêm gì cho ông ta được cả, những gì mình biết, tôi đã báo hết rồi. Vì một lý do nào đó tôi thấy ngượng ngùng xấu hổ, như thể đây là bằng chứng cho sự kém cỏi và nhu nhược của tôi, con cái gì mà chỉ biết có vậy về mẹ mình ấy. Nhưng đồng thời, tôi cũng như thể vừa được biết điều gì đó mới mẻ về mẹ tôi vậy. Cứ như tôi có thể nhìn bằng đôi mắt của một người xa lạ nào đó hướng về Mariupol, người này có thể là hàng xóm xưa kia của mẹ tôi, một người hàng ngày vẫn đi ngang nhà bà và mang tôi theo, dẫn tôi qua những con phố bà từng đi qua, ngó nghiêng nhìn ngắm những ngôi nhà, hàng cây, góc đường, bờ biển Azov và những quán hàng của người Hy Lạp mẹ tôi hôm xưa từng thấy, và hiện giờ vẫn còn nguyên ở đó. Nhưng nói thế thôi, chứ hiện nay, những gì của Mariupol thời mẹ tôi còn sống chẳng còn sót lại là bao. Hồi chiến tranh, quân Đức đã biến phần lớn thành phố này thành đống tro tàn lẫn gạch vụn.
Tôi đành viết đôi dòng cảm ơn ông Konstantin tốt bụng mang họ người Hy Lạp nọ về sự sốt sắng muốn giúp tôi của ông ta và gửi lời chào đến Mariupol, nhưng trong đầu tôi, tôi lại nghĩ, một lần xôi hỏng bỏng không như thế này nữa thì không khéo mẹ tôi sẽ mãi mãi chìm hẳn vào bóng tối mất thôi.
Nhưng nói cho cùng thì không hẳn là vô cớ mà đúng vào lúc này tôi lại dò tìm tên tuổi mẹ tôi qua hệ thống Internet Nga đâu. Từ lâu tôi đã nuôi ý định viết về mẹ, nhất là về giai đoạn mẹ ở Ukraine, rồi sau đó, trong trại nhân công lao động cưỡng bức của Đức, trước khi mẹ sinh ra tôi. Có điều, tôi hầu như không biết tí gì về mẹ trong giai đoạn đó. Mẹ không bao giờ kể tôi nghe về thời kỳ mẹ bị bắt đi làm nhân công lao động cưỡng bức đó, cả bố tôi cũng không nốt, thành ra không có một tí gì lưu lại trong trí nhớ của tôi về thời kỳ ấy cả. Tất cả những gì tôi được nghe mẹ kể về giai đoạn bà ở Ukraine chỉ còn là những đốm sáng chập chờn vô định trong đầu tôi mà thôi. Tôi chỉ còn biết thử viết một tiểu sử hư cấu xem sao, dựa trên những gì đã được ghi vào sử sách, dựa vào các cứ liệu về địa phương, cũng như về thời kỳ mẹ tôi trải qua ở đó. Nhiều năm nay rồi, tôi bỏ công cố tìm một cuốn sách nào đó viết về những công nhân dạo xưa từng bị cưỡng bức lao động, tức là cố tìm cho ra một tiếng nói văn học về họ để bấu víu dựa dẫm, nhưng đều vô ích. Nạn nhân sống sót từ các trại tập trung trở về đã viết nên hàng loạt các tác phẩm văn chương mang tầm quốc tế, sách họ viết về nạn diệt chủng đối với người Do Thái xếp đầy các thư viện, thế nhưng, những công nhân không phải Do Thái hồi đó bị bắt đi cưỡng bức lao động, lại im lặng, chẳng ai viết lách gì. Họ bị lùa cả triệu người sang lãnh thổ Đế chế Đức hồi đó, các tập đoàn công nghiệp, các doanh nghiệp lớn nhỏ, các xưởng thủ công, các nông trang, cả các hộ gia đình trên toàn quốc đều có thể tùy thích sử dụng phần nhân công nô lệ bị lùa từ nước ngoài về này, phần nhân công họ được phép bóc lột tối đa mà chẳng tốn kém là bao ấy. Những người bị cưỡng bức lao động này, ai nầy đều phải lăn lưng làm lụng trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt, không khác ở trại tập trung là bao, để gánh vác phần việc của đám đàn ông Đức lúc đó đang phải ra tiền tuyến, đám đàn ông đang ra tay tàn phá hủy hoại làng mạc phố phường, quê hương xứ sở, đang tàn sát gia đình, giết hại người thân của chính những người bị lùa sang Đức làm khổ sai này. Đến tận giờ vẫn không rõ số đàn ông đàn bà bị lùa sang làm nô lệ cho nền kinh tế chiến tranh Đức Quốc xã, rồi bị hành hạ đến chết là bao nhiêu, thế nhưng hàng chục năm sau khi chiến tranh kết thúc, hiếm hoi lắm mới có bài viết ngắn ngủi - trên mặt một tờ báo vô danh nào đó của nhà thờ, hay trong chuyên san Chủ nhật của một tờ báo tỉnh lẻ - buông đôi dòng về các tội ác đối với những con người này, những con người mà số liệu về họ, có thể chênh nhau ghê gớm tùy nguồn hồ sơ, nhưng nhìn chung, cũng phải trong khoảng từ sáu triệu cho đến hai mươi bảy triệu người chứ không ít. Và, thông thường, số phận họ chỉ được nhắc đến “qua loa, ngoài lề” khi nói đến số phận người Do Thái - vâng, được nhắc đến như một phần nạn nhân nhỏ nhoi, không đáng kể của tội ác holocaust[5] mà thôi.
Suốt một thời gian rất dài trong đời, tôi không hề biết mình là con của cặp vợ chồng xưa kia bị bắt đưa sang Đức cưỡng bức lao động. Không ai nói cho tôi biết điều đó, cả bố mẹ tôi, cả môi trường Đức xung quanh tôi, một môi trường không gìn giữ các kỷ niệm về đám đông những người bị cưỡng bức lao động như thế. Hàng chục năm trời trôi qua mà tôi không hề hay biết tí gì về cuộc đời của chính mình. Tôi không hề hay biết những người mà gia đình chúng tôi sống chung sống đụng hết ghetto này sang ghetto khác là những ai, không biết họ đã đến đất nước Đức này bằng cách nào, tất tật những người Rumani, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bungari, Nam Tư, Hung, Lithuani, Latvia, Azerbaijan hay của nhiều đất nước khác nữa, những con người tuy bất đồng mọi đường về tiếng tăm chữ nghĩa, nhưng bằng cách nào đó, vẫn hiểu được nhau ấy. Tôi chỉ biết mang máng, có lẽ tôi nằm trong số cặn bã, rác rưởi nào đó còn sót lại từ dạo còn chiến tranh thì phải.
Hồi đó, ở trường học trên đất Đức này, người ta dạy chúng tôi rằng bọn Nga đã tràn sang đánh chiếm nước Đức, phá hủy tan hoang hết mọi thứ rồi cướp trọn một nửa nước Đức. Tôi ngồi hàng ghế cuối cùng, cạnh con bé Inge Krabbes, một đứa chẳng ai muốn dây dưa, vì tuy nó là người Đức chính tông thật, nhưng lại ăn mặc bẩn thỉu và người ngợm hôi hám, còn cô giáo đứng trên bục giảng cứ kể mãi không thôi chuyện bọn Nga lấy hòn than hồng đốt mù hai mắt chồng chưa cưới của cô và dùng chân mang ủng đạp bẹp dí bẹp dị mấy đứa trẻ con bé bỏng. Cả lớp quay đầu nhìn về phía tôi, đến như cái Inge Krabbes ngồi bên cạnh cũng xích ra xa một tí, và tôi đoán biết được ngay, chỉ cần chờ hết giờ học thôi, là thể nào chúng nó cũng giở trò đuổi đánh tôi ngay cho mà xem.
Đã từ lâu, những chuyện tôi bịa ra không còn giúp được tôi nữa, chẳng những tôi bị liệt vào đám dân Nga mọi rợ, mà còn bị lật mặt lừa đảo. Chẳng là, để tự nâng giá mình trước mặt tụi trẻ con Đức, tôi bảo chúng nó rằng bố mẹ tôi, những người làm tôi xấu hổ đến chết đi được ấy, thật ra không phải là bố mẹ đẻ ra tôi, mà chỉ là những người trên đường trốn chạy khỏi nước Nga đã nhặt được tôi lúc tôi bị quẳng nằm vạ vật dưới rãnh nước ven đường rồi mang theo, chứ đúng ra tôi là con nhà giàu có, cỡ vương hầu bên Nga, làm chủ lâu đài này lâu đài kia lẫn hàng đống của cải quý giá khác, nhưng tôi cố tình lờ không nói vì cớ gì con nhà bậc vương hầu quý phái lại bị quẳng ra rãnh nước bên đường, nhờ thế, dẫu gì thì suốt mấy tiếng đồng hồ hay suốt một ngày tôi cũng biến thành đứa con gái lạ lùng bí hiểm trước những con mắt đầy ngạc nhiên và thán phục của tụi trẻ con người Đức. Tất nhiên, chẳng mấy chốc chúng nó nhìn rõ chân tướng, và lúc ấy, bọn trẻ liền lồng lên đuổi đánh tôi, hòng rửa hận cho Đế chế thứ ba đã thảm bại hồi nào, bọn con cái mới lớn lên của các bà các cô vợ lính người Đức góa chồng, hay của các ông bố Quốc xã bại trận hôm xưa ấy, đuổi đánh vì tôi mang diện mạo quân Nga, vì tôi là hiện thân của bọn Cộng sản và bolshevik, của hạng người Slave hạ đẳng, và đồng thời, cũng là đại diện cho kẻ thù cửa nhân loại, những kẻ đã đánh thắng họ trong chiến tranh, còn tôi cứ thế mà chạy bán sống bán chết. Tôi không muốn chết như đứa con gái nhỏ Dschemila nhà người Nam Tư dạo nào, cũng bị tụi trẻ con người Đức đuổi đánh rồi đẩy ngã xuống sông Regnitz, khiến nó chết đuối ở đấy. Tôi chạy, kéo theo một đám đông hò hét hung hăng hiếu chiến, nhưng tôi chạy đã quen rồi, quen đến mức lúc chạy không thấy đau nhoi nhói bên mạng sườn nữa, cho nên tôi cũng thường bỏ xa chúng nó ở phía sau. Tôi chỉ cần chạy đến khu mỏ khai thác sỏi cát, là đường ranh ngăn cách thế giới dân Đức với thế giới chúng tôi, đằng sau mỏ khai thác sỏi cát ấy là lãnh địa của chúng tôi, là miền đất terra incognita[6], miền đất mà ngoài cảnh sát và nhân viên bưu tá ra, chưa một người Đức nào lai vãng, đến cả bọn trẻ con Đức cũng chẳng dám bén mảng nữa là. Trước khu mỏ, rẽ khỏi đường phố rải nhựa là một lối mòn dẫn đến “khu nhà”. Tôi không rõ vì sao dân Đức gọi lô nhà xây bằng gạch của chúng tôi là “khu nhà” như thế, có lẽ để phân biệt chúng tôi với dân Di-gan, những người sống còn xa thêm đoạn nữa, trong những ngôi lán bằng gỗ ở phía ngoài thành phố. Họ đứng còn thấp hơn chúng tôi một bậc và dạo ấy họ luôn gây ra trong lòng tôi một cảm giác ghê ghê tởm tởm, một cảm giác chắc cũng ghê ghê tởm tởm y như chúng tôi gây cho người Đức.
Qua khỏi đường biên thần kỳ ấy là thoát. Sau chỗ ngoặt, tụi trẻ đuổi theo không nhìn thấy tôi nữa, nên tôi thả mình nằm xuống bãi cỏ, chờ cho con tim tôi hết thình thịch liên hồi, chờ đến lúc lấy lại được hơi thở bình thường. Hôm nay thế là xong, ngày mai thế nào, tôi chưa cần tính vội. Tôi lang thang chỗ này chỗ nọ càng lâu càng tốt, lần mò ở các bến bãi dọc sông, liệng đá nhảy lướt lướt trên mặt nước sông Regnitz, nhấm nhá lá me chua đến chán chê, ngon lành cạp bắp ngô non bẻ trộm ngoài đồng. Tôi chẳng bao giờ muốn về nhà. Đã lâu rồi, từ khi biết nghĩ biết ngợi đến giờ, tôi chỉ độc một ước muốn làm sao chuồn khỏi đây, đi thật xa, suốt một thời thơ ấu, tôi chỉ mơ làm sao chóng thành người lớn, để biến đi nơi khác. Tôi muốn thoát khỏi nhà trường Đức, đi khỏi “khu nhà”, rời xa bố mẹ tôi, trốn biệt khỏi tất cả những gì làm nên tôi, những thứ tôi có cảm giác như những lỗi lầm giam hãm tôi. Giá có ai định kể cho tôi nghe xem bố mẹ và tất cả những người thân thuộc với tôi là ai, thì tôi cũng chẳng buồn nghe, tôi không muốn biết, tôi không quan tâm, không màng đến bất cứ thứ gì nữa, tôi chẳng muốn dính dáng dây dưa với ai hết. Tôi chỉ muốn ra đi, không muốn gì khác, chỉ làm sao bỏ đi xa là được, mãi mãi bỏ lại đằng sau mình tất tật mọi thứ, muốn dứt áo bước vào cuộc sống của riêng mình, cuộc sống thật sự đang chờ đón tôi ở đâu đó ngoài đời.
Tôi còn nhớ hình ảnh đầu tiên của mẹ đã ghi sâu vào nhận thức của tôi là hình ảnh nào: Lúc đó tôi khoảng bốn tuổi, cả nhà sống chui rúc trong căn nhà kho của nhà máy sản xuất đồ kim khí, là nơi bố mẹ tôi được tạm thời tỵ nạn tại Đức. Tôi bị nghiêm cấm ra khỏi sân nhà máy, đi là bị phạt nặng, nhưng ngay từ dạo ấy, tôi đã tìm mọi cách để chuồn. Phía sau sân nhà máy, ở phố Leyher rộng thênh thang là một thế giới khác, hết sức lạ lẫm. Ở đấy có nhiều cửa hàng, có cả xe điện, tôi không nhớ có đống gạch ngói đổ nát từ chiến tranh nào không, chỉ nhớ những ngôi nhà mà tôi trông cứ ngỡ như lâu đài, những ngôi nhà xây bằng gạch đá, cổng ra vào vừa to vừa nặng, cửa sổ đã rộng lại cao, và có treo rèm. Ngoài ấy còn có cả một bãi mọc đầy lê dại. Tôi chưa được ăn lê bao giờ, chỉ muốn được nếm xem nó chua ngọt thế nào. Có điều tôi thấp người quá, không với tới những cành cây trĩu quả. Tôi thử nhặt hòn đá ném lên cao. Hòn đá đập vào cành cây, bật lại về phía tôi như một chiếc bumerang, làm toác một miếng trên mặt tôi, chỉ tẹo nữa là đập vào con mắt bên trái. Tôi chẳng còn biết đã lần về nhà thế nào, chỉ nhớ mình cứ thế đứng đực ngoài sân nhà máy, không dám bước vào chỗ nhà kho tôi ở. Máu âm ấm ri rỉ chảy trên mặt, rỏ xuống áo, tôi còn nhớ đã trông thấy mẹ ở phía sau cánh cửa sổ nhà kho. Mẹ tôi đang cúi người bên chậu giặt, tóc xõa xuống mặt. Lát sau mẹ mới ngẩng lên và chợt trông thấy tôi. Và tôi cũng nhìn thấy hình ảnh mẹ lúc ấy, hình ảnh đầu tiên về mẹ sẽ ghi sâu mãi vào trí nhớ của tôi. Hình ảnh mở đầu bằng tiếng kêu thất thanh, phần còn lại chỉ là đôi mắt mẹ. Đôi mắt đầy kinh hoàng, nỗi kinh hoàng sau này sẽ gắn liền với hình ảnh mẹ trong lòng tôi. Nỗi kinh hoàng từ đâu đó xa xôi ập đến, từ phía trên cao ụp xuống, mơ hồ, thăm thẳm. Nỗi kinh hoàng ấy vẫn thường toát ra, mỗi khi mẹ cất tiếng lên nói: Nếu con mà nhìn thấy những gì mẹ đã thấy… Cái điệp khúc thời thơ ấu của tôi cứ lặp đi lặp lại mãi: “Nếu con mà nhìn thấy những gì mẹ đã thấy…”
Tôi còn giữ hai tấm ảnh mẹ mang theo từ Ukraine sang, ảnh chân dung, chụp trong một hiệu ảnh nào đó. Một bức chụp mẹ lúc mới là một thiếu nữ khoảng mười tám tuổi, đứng bên một người đàn bà tóc bạc tôi không biết là ai. Chắc vì thiếu ăn, mẹ tôi hông khẳng khiu, mặc trên người chiếc váy liền áo tuềnh toàng dùng vào mùa hè, mái tóc đen nhánh cắt ngắn như tóc con trai, chắc là kiểu tóc thịnh hành hồi đó. Có lẽ người thợ ảnh đã muốn trổ hết tài nghệ thuật để tạo cho mẹ tôi một vẻ bí hiểm nào đó, nên đã chụp sao cho nửa gương mặt bên trái của mẹ tôi khuất vào bóng tối. Mẹ tôi trông chỉ mới như một cô gái trẻ, nhưng vẻ trong trắng, ngây thơ trên gương mặt lại gắn liền với vẻ tinh khôn, già dặn, nhiều hiểu biết đến đáng gờm. Khó mà tin được, một thiếu nữ trẻ trung và mảnh mai thế kia lại có thể già dặn, trong đầu chứa nhiều hiểu biết đến thế, như thể một quả tạ nặng hàng tấn treo vào đầu sợi dây thừng mỏng manh vậy. Người đàn bà tóc bạc đứng cạnh mẹ tôi trông dịu dàng thế nhưng vẫn có vẻ gì cứng cỏi rất đàn ông, và cứ nhìn ảnh mà đoán tuổi thì bà ta chắc phải là bà của mẹ tôi. Bà ta mặc váy liền áo màu xám, cổ áo viền ren trắng, đứng thẳng, dáng nghiêm nghị, gương mặt hiện rô niềm kiêu hãnh của một người bị hạ nhục và xúc phạm nặng nề. Bức ảnh phải chụp vào khoảng 1938 gì đó, vào lúc những đợt khủng bố theo lệnh Stalin lên đến cao trào, cao trào của nạn đói và nỗi kinh hoàng.
Bức ảnh thứ hai chụp mẹ tôi vào thời điểm bà đã lớn hơn, có lẽ dạo còn chiến tranh, trước lúc bị bắt lùa sang Đức. Ánh mắt mẹ ở đây lặn hẳn vào trong, hướng đến một nơi sâu thẳm, bí hiểm nào đó, song, chen vào những nét buồn rười rượi, trên gương mặt mẹ vẫn phơn phớt một nụ cười. Một tấm khăn kiểu Ukraine lỏng léo ôm lấy khuôn mặt mẹ. Có lẽ mẹ đã chạy vội đến hiệu ảnh, thuê chụp một kiểu cuối cùng trên đất Ukraine, một tấm ảnh làm kỷ niệm.
Ai nhìn hai tấm ảnh đen trắng cũng trầm trồ, người đâu mà đẹp thế. Ngay từ thời thơ ấu của tôi, sắc đẹp của mẹ đã là một huyền thoại. Người đâu mà đẹp thế, bao giờ tôi cũng nghe thiên hạ trầm trồ. Và người đâu mà bất hạnh đến vậy. Sắc đẹp và bất hạnh dường như gắn liền nhau nơi mẹ tôi, ràng buộc nhau một cách bí hiểm.
Trong lưu trữ của tôi còn một tấm ảnh thứ ba nữa đem từ Ukraine sang. Tấm ảnh chụp một người đàn ông lớn tuổi, ăn mặc sang trọng, đôi mắt thông minh và đượm vẻ u sầu, vầng trán cao, râu quai nón tỉa ngắn và bạc quá nửa. Ông đứng sau hai người phụ nữ ngồi phía trước, một người mặc áo dài cao cổ, nghiêm trang, gương mặt trí thức, mang kính kẹp mũi. Người thứ hai trẻ hơn, áo sơ mi trắng, khuôn mặt trẻ trung, dáng vẻ rụt rè nhút nhát và ánh mắt lơ đãng bàng quan. Mặt sau tấm ảnh ghi dòng chữ bằng tiếng Đức của mẹ tôi: Ông ngoại với hai người quen. Tôi không rõ ông ngoại ai, ông ngoại tôi hay ông ngoại mẹ tôi. Tôi cũng không biết tại sao mẹ tôi lại viết tiếng Đức ra mặt sau tấm ảnh như thế, mặc dù mẹ thường vẫn không ưa tôi nói tiếng Đức, và bao giờ cũng bướng bỉnh, chỉ dùng tiếng Nga mà nói với tôi thôi.
Ngoài hai tấm ảnh này, tôi còn giữ hai tài liệu đã nhắc đến ở trên. Để đọc được tờ chứng nhận hôn thú của bố mẹ tôi, tôi phải để mảnh giấy to cỡ một tấm bưu ảnh ấy ra trước gương. Đây là một bản sao bí hiểm với dòng chữ viết tay màu trắng, in ngược trên nền đen. Đọc qua gương, tôi được biết mẹ tôi, bà Jevgenia Jakovlevna Ivashtschenko, kết hôn cùng bố tôi vào ngày 29 tháng Bảy năm 1943 tại Mariupol. Tờ chứng nhận hôn thú viết bằng chữ Ukraine, con dấu đã mờ, nhưng dòng chữ tiếng Đức Phòng hộ tịch và cấp giấy giá thú vẫn còn rất rõ. Lần nào cũng như lần nào, tôi cứ như bị hẫng bởi cái từ này. Quân Đức làm gì ở cái Phòng hộ tịch và giá thú Mariupol đó mới được chứ? Đây là một chi tiết tách ra từ cuộc sống thường nhật tại vùng bị chiếm đóng, một cuộc sống tôi không hình dung nổi. Có thế nào thì tôi vẫn thấy thật kỳ diệu, rằng tờ giấy chứng nhận bình thường này chẳng những đã sống sót sau cả những năm chiến tranh ác liệt, hết những ngày tháng lưu đày, lại đến trại nhân công lao động cưỡng bức và những chuyến hành trình đầy gian truân tiếp theo sau chiến tranh, lẫn cả những cuộc chuyển nhà diễn ra không phải là hiếm của tôi sau này. Vâng, mảnh giấy cũ kỹ bảy chục năm tuổi này, bằng chứng bất đắc dĩ của cuộc hôn nhân khốn khổ, và chẳng bền được bao nhiêu lâu ấy.
Thẻ lao động do nhà chức trách Đức cấp cho mẹ tôi đã thất lạc từ rất lâu rồi, có lẽ bị mục nát rồi mủn thành từng mẩu vụn tự bao giờ không biết, trong một xó xỉnh tối tăm ngột ngạt nào đó của bàn giấy hay giá sách của tôi, thế nhưng tôi biết rất rõ, tấm thẻ đó trừ tên tuổi ra, giống hệt tấm thẻ lao động được cấp ngày mồng 8 tháng Tám năm 1944 tại Leipzig cho bố tôi, tấm thẻ mà tôi còn giữ đến tận giờ. Đó là một mảnh giấy gập đôi, to chỉ cỡ miếng bánh xà phòng giặt, vàng khè, cũ kỹ. Tên họ, ngày sinh, nơi sinh bố tôi đúng ra phải là Kamyshin, thế nhưng, trên đường phát từ miệng bố tôi đến tai một viên thư ký người Đức nào đó đã biến thành Chanuchin. Tiếp theo là các dòng như sau:
Quốc tịch: Không rõ, thợ miền Đông
Gốc gác: Miền bị chiếm đóng phía Đông
Khu vực: Marienpol
Nơi ở: -
Nghề nghiệp: Thợ phụ cơ khí
Noi làm việc: Công ty Cơ khí ATG
Leipzig W32, Schönauer Str. 101
Nhập cảnh vào Đức từ 14. 5. 44
Thẻ mang hai con dấu hình đại bàng Đế chế Đức, một con của Sở Cảnh sát, con kia của Sở Lao động Leipzig, ngoài ra còn tấm ảnh bố tôi có gắn số ở ve áo vét. Mặt sau là dấu vân tay lấy từ hai ngón tay cái bên trái và bên phải. Phía dưới hai vân tay là dòng chữ: Thẻ lao động này chỉ có giá trị sử dụng lúc làm việc tại nhà máy đã được ấn định trước và sẽ hết giá trị khi rời khỏi nơi làm. Thẻ phải luôn mang theo người như thẻ căn cước. Thẻ có giá trị cho đến khi thu hồi. Thẻ có thể bị thu hồi khi cần thiết.
Như thế, toàn bộ di sản bố mẹ để lại cho tôi chỉ gồm độc hai mảnh giấy cũ kỹ đó - tờ chứng nhận hôn thú và thẻ lao động - cùng hai tấm ảnh đen trắng và một bức tranh thánh cổ xưa. Bức tranh họa bằng tay, nền mạ vàng, vẽ một bầy đoàn các vị Thánh quan trọng nhất thuộc đạo Chính thống Nga. Mọi đường nét đều tài tình khéo léo, đến mức có thể nhìn thấy rõ cả móng tay các Thánh thế nào.
Những chuyện làm tôi nhớ kỹ nhất là những chuyện mẹ kể về cảnh sống nghèo khó của gia đình dạo ở Ukraine, về cái đói thường xuyên hành hạ. Trong trí nhớ tôi, nỗi sợ Stalin và cảnh nghèo đói là hai thứ chi phối cuộc đời mẹ ở Ukraine. Thế nhưng, làm sao nghèo khó mà lại có được bức tranh Thánh quý giá thế này để mang theo từ bên ấy sang tận đây? Đã thế, bức tranh còn nguyên vẹn một cách thần kỳ, sau bấy nhiêu gian truân dọc đường bị lùa sang đây, sau bao nhiêu năm tháng sống bầm sống dập trong các trại khổ sai, bức tranh không bị thất lạc, không hư hỏng, không bị ai tước đoạt hay lấy trộm. Đến ở lán lều nào cũng vậy, mẹ tôi đều treo bức tranh vào một góc, nó lặng lẽ, lung linh huyền bí, và tôi thường vẫn gửi gắm cho nó những lời cầu khẩn con trẻ thiết tha nóng bỏng nhất, những lời thỉnh cầu tuyệt vọng xin cho mẹ sống, mỗi lần mẹ vĩnh biệt hai chị em tôi rồi nằm xuống chờ chết. Giờ đây bức tranh ấy treo trên tường trong căn hộ ở Berlin của tôi, phía trên chiếc ghế ngồi nhà thờ đã thành đồ cổ mà có lần tôi vô tình tìm thấy trên gác xép áp mái. Có lẽ bức tranh này là báu vật quý giá nhất tôi từng có ở đời vậy.
Thêm vào số di vật nghèo nàn ấy, tôi chỉ còn đôi kỷ niệm mờ nhạt, không chắc chắn, những kỷ niệm của một đứa trẻ, những kỷ niệm không ra kỷ niệm mà chỉ như đám bèo bọt rơi rớt lại trong trí nhớ sau nhiều năm tháng ấp ủ.
Trong lòng tôi còn lưu lại cái từ tiếng Nga advokat[7], vâng, hình như thân phụ mẹ tôi vốn là luật sư. Mẹ tôi lúc nào cũng thấp thỏm lo lắng về bệnh đau tim của ông ngoại tôi, cho đến một bận nào đó, lúc đang giữa giờ học ở trường mà người ta đến đón mẹ về gấp, thì mẹ tôi biết ngay ông vừa mất.
Tôi cũng còn nhớ cái họ “De Martino”, nghe đâu là họ bà ngoại tôi thì phải, vốn xuất thân từ một gia đình người Ý giàu có, không rõ vì lý do gì lại lưu lạc sang Ukraine vào giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Thế nhưng, ngược với hình ảnh một gia đình giàu có lại là cái từ “buôn than” lắng đọng lại trong trí nhớ tôi ngay cạnh tên dòng họ “De Martino” nọ.
Lục lọi trong trí nhớ, tôi còn tìm được cả địa danh “Medvedja Gora” - nghĩa là Núi Gấu - nơi chị của mẹ tôi bị đi đày. Ngoài ra tôi không biết thêm gì về bác. Trong trí nhớ tôi chỉ còn lưu thêm một chi tiết là, vào một bữa nào đấy, bà ngoại tôi lên đường đến Medvedja Gora thăm con gái lúc ấy đang bị giam trong trại. Đúng thời kỳ đó, Thế chiến hai nổ ra, và bà ngoại tôi không quay về nữa. Có lẽ đó là tai họa kinh khủng nhất trong đời mẹ tôi, bởi bà đã mất đi mẹ mình, bởi mẹ không biết chuyện gì đã xảy ra với bà ngoại tôi, không biết bà còn sống, hay chết ở đâu dưới làn mưa bom của quân Đức mất rồi. Trong tưởng tượng con trẻ của tôi hồi ấy, tôi đinh ninh bà ngoại mình bị gấu ở Núi Gấu ăn thịt.
Tôi nhớ tôi từng nghe mẹ kể rằng, mẹ còn có một người anh trai, người anh từng là ca sĩ opera nổi tiếng và mẹ hết sức yêu thương bác ấy. Mẹ khóc ròng khóc rã nhớ thương anh trai, như mẹ từng cạn nước mắt khóc thương bà ngoại vậy.
Thật ra, tôi hầu như không tin đó là những kỷ niệm thật sự. Câu chuyện về gia đình người Ý giàu có, về ông ngoại vốn làm nghề luật sư, về người bác từng là ca sĩ lừng danh, thậm chí về cả nghề buôn than nghe thật đáng ngờ, giống như niềm mong ước trẻ con được khoe khoang dòng họ mình đáng nể, một dòng họ mà dưới con mắt tôi hồi đó có hành nghề buôn than cũng vẫn là cao quý. Câu chuyện về người bác hát opera có lẽ nảy ra sau này, lúc mà tôi, dạo vẫn còn là đứa con gái ranh con, đột nhiên đem lòng say mê opera, nên tưởng tượng ra trong đầu một ông bác chuyên hát các bản aria của Bellini và Händel mình yêu thích. Còn chuyện bà bác bị đi đày có lẽ bắt nguồn từ khát vọng con trẻ phải bịa ra những tình huống bi thảm trong cuộc sống gia đình nhằm nâng giá mình trước mắt bạn bè, hoặc có thể xuất phát từ cái địa danh Núi Gấu đáng sợ mà tôi từng nghe chính miệng mẹ tôi thốt ra trong những hoàn cảnh hoàn toàn khác, hay là tôi đã nghe đến địa danh ấy trong vô số những truyện cổ tích trước đây mẹ vẫn thường kể tôi nghe.
Câu chuyện tôi còn nhớ rõ là câu chuyện mẹ kể về người bạn gái của mẹ. Mẹ kể đi kể lại nhiều lần câu chuyện này, và lần nào cũng với ánh mắt kinh hãi khiến tôi cũng sợ lây. Ở Mariupol hồi ấy, quân Đức cũng lùng bắt người Do Thái như ở các nơi khác, chỉ trong hai ngày của tháng Mười năm 1941 thôi, chúng đã bắn chết đến tám ngàn người. Những vụ thảm sát như vụ Babyn Yar[8] xảy ra khắp nơi ở Ukraine, là xứ sở vốn có đông người Do Thái sinh sống. Bác bạn gái mẹ tôi là người Do Thái, mãi rồi cũng đến lượt bị bắt. Cùng với nhiều người Do Thái khác, bác ấy phải đào một cái hố dài rồi ai nấy phải đứng bên miệng hố, quay lưng về phía họng súng liên thanh của lính Đức. Bác ấy may mắn, trước giây khắc viên đạn dành cho mình bay xuyên vào người, bác đã kịp thả mình ngã xuống lòng hố trước. Chờ đến tối, bác mới chui từ dưới đống xác người chết nằm đè lên mình và lần đến chỗ mẹ tôi. Bác đứng lù lù trước cửa, toàn thân bê bết máu.
Từ lâu rồi, tôi cứ căng đầu căng óc với câu hỏi không biết hồi chiến tranh, mối quan hệ giữa mẹ tôi với quân chiếm đóng Đức là như thế nào. Trong vùng bị chiếm hồi ấy, dân chúng ai nấy đều phải làm cho quân Đức, chứ không còn cách nào khác. Ai đi làm thì mới có phiếu lương thực thực phẩm, và không có phiếu lương thực thực phẩm thì không ai sống được cả. Thế nhưng mẹ tôi - lúc chiến tranh nổ ra mới hai mươi mốt tuổi - lại được có một chỗ làm đặc biệt. Vâng, mẹ tôi, sau này rồi sẽ bị bắt đi làm nhân công lao động cưỡng bức, lúc đầu lại được tuyển vào làm đúng tại sở lao động phụ trách việc tuyển chọn và chuyên chở nhân công lao động cưỡng bức đưa sang Đức. Cứ như thể mẹ tôi phải tự sửa soạn cho việc mình bị bắt đưa sang Đức làm nhân công lao động cưỡng bức không bằng. Vả lại, các Sở lao động là cơ quan quyền lực và kiểm sát quan trọng của quân chiếm đóng, ai cũng phải đăng ký ở đó, không một ai trốn tránh nổi. Không biết hồi ấy công việc của mẹ tôi ở đó là gì? Liệu mẹ tôi có ngả về phía quân đội Đức, coi quân Đức là quân đội đã giải phóng mẹ khỏi chế độ Stalin hay không? Mẹ tôi tự nguyện làm tại Sở lao động, hay do vô tình mà trở thành một bánh xe con con trong bộ máy chiến tranh Đức đó? Cuối cùng mẹ tôi cũng bị cưỡng bức ra đi như mọi người khác, hay mẹ đã đâm đơn tình nguyện lên đường? Liệu mẹ tôi có phải là một trong vô số nạn nhân của bộ máy tuyên truyền Đức, bộ máy luôn mồm hứa hẹn thiên đường trên đất Đức cho đám dân chúng Liên Xô nghèo đói và cả tin không? Chẳng nhẽ đến tận năm 1944, là năm mẹ tôi bị lùa đi, mà mẹ vẫn còn tin vào những lời tuyên truyền đó hay sao, khi mà thật ra ai ai cũng đã thừa biết những gì đang chờ đợi hàng ngàn người ngày ngày vẫn bị bắt và lùa lên các toa xe vận chuyển gia súc để chở sang Đế chế Đức ấy? Vào thời gian đó, không ít người đã phải quay lại, đau ốm, tàn tạ cả về thể lực lẫn tinh thần do các điều kiện lao động vô cùng tàn nhẫn ở Đức, trở về như những nô lệ đã kiệt quệ sức lực mà bọn Quốc xã không còn dùng được nữa ấy. Nếu quả là mẹ tôi tình nguyện ra đi, rất có thể mẹ đã biết rõ điều đó, nhưng không còn sự lựa chọn nào khác chăng? Lúc đã biết nay mai Hồng quân Liên Xô thể nào cũng đánh chiếm lại Mariupol, thì mẹ tôi chỉ còn đường ra đi, bởi có thể cầm chắc mười mươi rằng một nữ nhân viên của Sở lao động Đức như mẹ tôi, sẽ bị người ta đem ra bắn chết ngay tại chỗ vì tội theo địch phản lại tổ quốc. Cũng có thể mẹ tôi chẳng còn đường nào khác là bám gót theo chồng, theo người đàn ông duy nhất hồi ấy có thể cưu mang, che chở mẹ. Chứ chính mẹ tôi lúc đó có lẽ còn quá trẻ, còn quá non nớt và vô cùng bối rối hoảng loạn để đủ sức quyết định gồng mình cưỡng lại trận cuồng phong dữ dội của thời đại đang tràn qua quê hương mình.
Bây giờ đây, giữa mùa hè kỳ diệu bên hồ này, tôi mới mỗi lúc một hốt hoảng hiểu ra mình đang định bắt tay làm một việc ghê gớm đến thế nào. Cuốn sách đầu tiên tôi cho ra đời khoảng mười năm trước, cũng giống như một thử nghiệm cho một cuốn tự truyện, nhưng dạo ấy tôi hoàn toàn không biết gì về tiểu sử của chính mình, tôi không nắm được các mối liên hệ gắn bó với cuộc đời tôi. Mẹ tôi chỉ là một nhân vật sâu kín trong lòng tôi, là một phần của một tiểu sử riêng tư mơ hồ, không chắc chắn, do tôi tự bịa ra, không chút liên hệ nào với bối cảnh chính trị hay lịch sử, trong một xứ sở vô chủ chỉ độc mình tôi là kẻ không quê hương, không nguồn cội. Mãi về sau này tôi mới hiểu bố mẹ mình là ai và ông bà đã để lại cho tôi những “chất liệu” gì. Bây giờ tôi như đứng trước nhiệm vụ phải sửa lại các thiếu sót trước đây của tôi, phải viết thêm một cuốn sách, có lẽ là cuốn cuối cùng, để viết nốt những gì lẽ ra tôi đã phải viết trong cuốn đầu mới đúng. Có điều, tôi vẫn hầu như không biết gì về cuộc đời mẹ ở giai đoạn trước khi tôi ra đời, lại càng không biết gì về giai đoạn mẹ tôi sống trong trại nhân công lao động cưỡng bức của Đức Quốc xã. Tôi đứng đây với hai bàn tay trắng, với chút tài liệu lịch sử và trí tưởng tượng những thứ chẳng có nghĩa lý gì so với tầm cỡ lớn lao của toàn bộ câu chuyện.
Vào những năm 1990, nghĩa là đã rất muộn rồi, lúc những người mà thiên hạ vẫn quen gọi bằng danh hiệu “thợ miền Đông” theo kiểu từ ngữ Hermann Göring[9] từng đặt ra, đích thân xướng ra các yêu sách đòi bồi thường, thì vấn đề “thợ miền Đông” mới được lôi ra ánh sáng, hay chí ít cũng ánh sáng mờ mờ, trước mắt công chúng Đức. Gần đây đã xuất hiện sách vở, tài liệu, phim ảnh về vấn đề nhân công lao động cưỡng bức dưới thời Đế chế thứ Ba mà tôi có đọc và tìm hiểu. Thậm chí tôi còn tìm được cả một tác phẩm văn học viết về đề tài này, một cuốn sách mà tôi phải mất công lùng kiếm khá lâu mới thấy, tức là cuốn của Vitalij Sjomin, được dịch sang tiếng Đức và xuất bản vào những năm 70 dưới tựa đề Dấu hiệu để phân biệt. Nhà văn người Nga này kể lại câu chuyện một anh thanh niên bị bắt từ Rostow na Donu lôi sang Đức, và anh chỉ có thể sống sót qua thời kỳ bị cưỡng bức lao động tại Đức nhờ một lời thề sắt đá, rằng những gì anh đã nếm trải và chứng kiến không được phép theo anh xuống mồ, rằng anh có nghĩa vụ phải sống để làm nhân chứng cho đời sau. Anh kể, bị giam trong trại nhân công lao động cưỡng bức tuy có vẻ đỡ hơn bị giam trong trại tập trung trước khi vào lò thiêu thật, nhưng cũng chỉ đỡ ở chỗ là trong trại lao động cưỡng bức, nạn nhân không bị giết ngay, mà dần dần, từng bước, bằng khối lượng công việc nặng nhọc quá sức người, bằng cách bị bỏ đói, bị đánh đập, bị hạ nhục và lúc ốm đau tuyệt nhiên không được thuốc thang chạy chữa.
Tôi rất ngạc nhiên khi phát hiện ra người dịch cuốn sách này là anh Alexander Kaempfe mà tôi từng kết bạn kết bè dạo những năm 70. Anh ấy vẫn thường đọc tôi nghe các bản dịch của mình, thậm chí cả những đoạn trích từ cuốn của Vitalij Sjomin cũng nên, nhưng sở dĩ tôi không nhớ đến vì dạo đó tôi không biết rằng cuốn sách viết chính về những người như bố mẹ tôi, rằng bố mẹ tôi cũng phải gắn lên áo miếng vải có ghi ba chữ trắng “OST”[10] trên nền xanh, một thứ phù hiệu nhằm phân biệt họ với những ai thuộc chúng tộc cao cấp hơn, nhưng cũng bị bắt từ các nước phương Tây sang Đức làm nhân công lao động cưỡng bức.
Tra cứu, truy lùng tài liệu càng lâu, tôi càng va vấp nhiều đến những sự thật kinh hoàng, những sự thật mà đến tận giờ có vẻ như vẫn không mấy ai biết đến. Chẳng riêng gì tôi không hay biết nhiều chuyện, mà hóa ra cả bạn bè Đức, những người tôi vẫn tưởng là hiểu rộng biết nhiều, am tường lịch sử, cũng không một ai biết hôm xưa từng có bao nhiêu trại tập trung các loại của bọn Quốc xã trên lãnh thổ Đế chế Đức. Một số báo hai mươi, số khác đoán chừng hai trăm, một số ít nữa ước lượng khoảng hai ngàn. Vậy mà, theo khảo cứu của Viện bảo tàng Holocaust Memorial ở Washington, con số đó lên đến 42.500, chưa kể các trại nhỏ và trại phụ rải rác, và trong tổng số các trại như thế, 30.000 trại dành cho nhân công cưỡng bức lao động. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ Zeit đăng ngày mùng 4 tháng Ba năm 2013, nhà sử học Geoffrey Megargee - người từng tham gia cuộc khảo cứu nói trên - tuyên bố: Con số lớn kinh hoàng ấy về các trại tập trung khẳng định một sự thật, rằng gần như toàn thể dân chúng Đức hồi đó đều phải biết đến sự tồn tại của các trại như thế, dù họ có thể không hình dung nổi bộ máy nằm đằng sau con số đó đồ sộ đến cỡ nào, hoặc họ không phải bao giờ cũng nắm được hết tình trạng thật sự của các trại đó ra sao. Thế mà cứ nghe mãi lời thề thốt đã nhàm: Nào có ai hay biết gì. Mặc dù một đất nước với hơn 42.500 trại tập trung trải rộng khắp nơi như thế, phải là một trại Gulag khổng lồ mới phải.
Tôi lạc mỗi lúc một xa vào khu rừng lịch sử thế giới, lún sâu vào các tai họa khủng khiếp của thế kỷ 20. Các bản tường trình, các báo cáo về vấn đề nhân công lao động cưỡng bách thời Đế chế thứ ba đầy rẫy các lỗ hổng, chứa không biết bao nhiêu điều phi lý và mâu thuẫn. Đề tài tôi muốn chọn sắp vuột khỏi tay, đang lớn vọt lên, vượt quá tầm vóc tôi. Và, nói gì thì nói, tôi tự hỏi, không phải đã quá muộn rồi ư, liệu ta còn đủ hơi đủ sức xử lý đống chất liệu khổng lồ này nữa hay không? Và trên đời này, liệu có đủ lời đủ chữ dành cho tất tật những thứ đó không - những lời dành để kể lại cuộc đời mẹ tôi, người mẹ đã mất tung tuyệt tích, đã tan biến nơi nào giữa chốn hư không khuyết danh khuyết tuổi, một người mang thân phận tiêu biểu cho thân phận hàng triệu con người khác ấy?
Tôi đã quên bẵng trang web “Dán Hy Lạp vùng biển Azov” từ lúc nào rồi, thì lại nhận được email với dòng chữ tượng hình lạ mắt ở dòng ghi họ tên người gửi, cốt ngụy trang cho ông Konstantin mang họ người Hy Lạp nọ.
Kính thưa bà Natalia Nikolajevna!
Tôi đã xem xét lại lần nữa và đi đến kết luận rằng bà Jevgenia Jakovlevna Ivashtschenko trong hồ sơ lưu trữ của chúng tôi rất có khả năng đúng là thân mẫu của bà thật. Xin bà cho phép tôi tóm tắt đầu đuôi như sau:
Vào thế kỷ 19, có một địa chủ giàu có người Ukraine xuất thân từ Tschernigovschtschina, là nhà quý tộc Epifan Jakovlevitsch Ivashtschenko, sinh sống tại Mariupol. Đây chắc chắn là cố ngoại bà. Có lẽ cụ là người đầu tiên không phải dân Hy Lạp đến sinh sống tại Mariupol, hồi đó mới chỉ là một thị trấn thương nghiệp nhỏ gồm khoảng năm ngàn dân bên bờ biển Azov. Ông tậu một ngôi nhà ở phố Mitroplitskaja và sống cùng gia đình ở đó; ông trở thành hội viên Hội đồng thành phố, sở hữu tàu thủy và làm Giám đốc Phòng Hải quan ở cảng Azov. Dần dần ông sở hữu thêm nhiều bất động sản trong thành phố, mở một số cửa hàng buôn bán và được dân chúng trong vùng rất kính nể. Ông kết hôn với bà Anna von Ehrenstreit, là người mà chúng tôi chỉ được biết bà thuộc đòng dõi quý tộc Đức ở miền Baltic, chiểu theo sổ sách của Nhà thờ thì bà sinh năm 1845 và mất năm 1908.
Cụ cố ngoại của bà có sáu người con, hai trai, bốn gái. Người con cả Jakov của cụ chính là ông ngoại bà. Em trai ông Jakov tên là Leonid, và theo sổ sách của Nhà thờ, ông đã mất sớm vì bệnh động kinh từ lúc mới hai mươi sáu tuổi. Chúng tôi không biết gì về hai bà em gái Jelena và Natalia, nhưng chúng tôi được biết người em gái thứ ba là bà Olga đã kết duyên với nhà tâm lý học và triết gia nổi tiếng Georgi Tschelpanov, người gốc Hy Lạp. Chính đó là lý do vì sao chẳng những riêng tên tuổi thân mẫu bà, mà cả các thông tin về những người thuộc gia đình Tschelpanov đều được lưu trữ cẩn thận trong bộ hồ sơ của chúng tôi.
Bà Valentina, người em gái thứ tư của ông ngoại bà, vốn là người được xếp vào hàng Crème de la Crème, tức là hàng tinh túy, của giới trí thức Mariupol, và cho đến tận giờ tên tuổi bà vẫn còn được nhiều người biết đến. Trong bài báo gửi kèm theo đây, bà có thể đọc để biết thêm các thông tin về bà Valentina.
Chúng tôi rất lấy làm tiếc vì không được biết thêm nhiều chi tiết về bà ngoại của bà, chỉ biết tên bà là Matilda Iosifovna. Theo sổ sách Nhà thờ, chị gái mẹ bà tên là Lidia và sinh năm 1911. Anh trai của mẹ bà tên là Sergey và sinh năm 1915. Ông vốn là ca sĩ nhà hát opera, trong chiến tranh từng biểu diễn phục vụ ngoài mặt trận và được tặng thưởng huân chương. Trong hồ sơ đính kèm theo thư này, bà có thể đọc bằng chứng nhận đã số hóa về sự kiện đó.
Gần đây, có một cuốn sách về ông Georgi Tschelpanov mới được xuất bản, trong đó chứa nhiều chi tiết về gia đình vợ ông. Bà Olga hình như cũng mắc bệnh tâm thần, nên năm bốn mươi ba tuổi, bà đã đâm đầu lao qua cửa sổ chết tại Moskva. Chúng tôi sẽ xin tác giá cuốn sách này một bản để gửi cho bà sau.
Các anh chị của mẹ bà có lẽ đều không còn sống. Mà chắc cũng không dễ để tìm được con cái họ, bởi lẽ họ Ivashtschenko khá phổ biến và chúng tôi cũng không biết gì thêm ngoài tên họ bà Lidia cả. Việc tìm kiếm tung tích các bà, các cô thường rất khó, nếu không biết họ chồng các bà, các cô là gì. Bởi vậy, tôi nghĩ, trước hết ta nên dồn công sức vào việc tìm các thông tin về bác Sergey của bà cũng như con cái ông ấy đã. Để bắt đầu công việc này, có thể chúng tôi sẽ liên lạc với ban biên tập chương trình truyền hình mang tên “Đợi anh về”. Đây là chương trình tìm kiếm người thân khá nổi tiếng được phát cả ở Nga lẫn ở Ukraine.
Tôi không hiểu mình đang đọc cái gì đây. Ông Konstantin này là ai mới được? Một bóng ma trên mạng Internet ư, một gã điên điên khùng khùng, một kẻ đầu cơ nào đấy hay sao? Có phải vào thời buổi mà ở bên Nga, việc ai nấy cố đào cho ra bằng chứng cho thấy trong huyết quản mình có lưu truyền một giọt máu quý tộc nào đấy đang trở thành thời thượng, ông ta định dùng câu chuyện về dòng dõi cao sang làm mồi nhử tôi chăng, những mong tôi sẽ chi tiền trước cho ông ta, để ông ta tuồn thêm các “hiểu biết” đang nắm trong tay hay sao? Tôi nghĩ không thể có chuyện mẹ tôi xuất thân từ một gia đình thượng lưu như ông ta mô tả được. Người như mẹ tôi, người đàn bà tôi từng biết ấy, xếp vào tầng lớp hạ đẳng nhất còn chẳng được, nói gì đến lớp trên. Mẹ tôi nằm ngoài tất cả các tầng lớp người, bà chỉ là một mụ đàn bà dòng giống Slave thấp hèn, khốn khổ, thảm thương, một kẻ mà ngoài đường bị người ta ném đá xua đuổi mà thôi. Dạo xưa, giá mẹ tôi chỉ cần bóng gió chút ít về gốc gác quý tộc của mình thôi, thì trong cơn thèm khát tuyệt vọng đầy con trẻ hòng nâng danh tâng giá mình trước thiên hạ, thể nào tôi cũng đã ghi tâm tạc dạ ngay rồi. Tôi có cảm giác như thể tác giả bức thư email kia đã đọc được những điều tôi tưởng tượng ra trong đầu khi còn nhỏ, như thể ông ta đang kể lại cho tôi nghe câu chuyện hồi đó tôi bịa ra vậy. Có phần chắc là tôi đang đụng đầu với một kẻ giả mạo bí ẩn giữa khu rừng rậm rì rậm rịt thuộc thế giới số thì đúng hơn.
Tôi mở hồ sơ đính kèm đầu tiên ra và đưa mắt đọc tựa đề in đậm của bài báo: Valentina Epifanovna Ostoslavskaja - người con gái không bao giờ rơi vào quên lãng của thành phố chúng ta. Phía dưới là tấm ảnh chân dung lồng trong khung hình bầu dục, trông như tấm mề đay, chụp một người đàn bà. Tôi ngạt cả thở. Tôi biết người đàn bà này, tôi biết bà ngay từ những ngày tôi bắt đầu biết nghĩ biết ngợi. Bà có mặt trên tấm ảnh nằm trong ngăn kéo bàn giấy phòng tôi, tấm ảnh mà mẹ tôi viết đòng chữ “Ông ngoại với hai người quen” ở mặt sau. Người đàn bà lúc này đang giương mắt nhìn tôi trên màn hình đây, tuy trông có vẻ trẻ hơn, gầy hơn, nhưng khuôn mặt thì chắc chắn mười mươi vẫn là khuôn mặt ấy, khuôn mặt người trí thức, gò má cao, cùng các đường nét nghiêm nghị, với cái mồm ít nhiều kiêu ngạo. Trên tấm ảnh này, bà cũng mặc váy liền áo sẫm màu, cổ cài cao và đeo kính kẹp mũi.
Nhìn ra ngoài cửa sổ, tôi có cảm giác dường như mặt nước hồ đang chao đảo. Mọi thứ quanh tôi bỗng trở nên mới mẻ và xa lạ. Tôi nhìn trân trân vào gương mặt người đàn bà trên màn hình, và từ từ, như trong một đoạn phim quay chậm, ý nghĩa của tấm ảnh này rạng dần lên trong lòng tôi. Tấm ảnh này chính là bằng chứng đầy ma thuật và bất ngờ cho thấy rằng bà Jevgenia Jakovlevna Ivashtschenko tôi tìm thấy trên diễn đàn Internet “Dân Hy Lạp vùng biển Azov” quả đúng là mẹ tôi thật. Và người đàn bà với khuôn mặt quen thuộc từ lâu trên tấm ảnh đây, người mà mẹ tôi gọi là người quen ấy, thật ra là bà cô của mẹ tôi - em gái của thân phụ bà.
Tôi nín thở đọc lướt nhanh bài báo. Qua đó, tôi được biết, bà Valentina Epifanovna sinh năm 1870; bà đã lập trường Nữ sinh trung học dành riêng cho con nhà nghèo. Suốt cuộc đời, bà đã là chiến sĩ đấu tranh cho công bằng xã hội, và chính nhờ bà nên vô số thiếu nữ thành Mariupol được học hành lên cao mà tránh được cuộc đời dốt nát và nghèo khổ về sau. Về chính trị, bà gắn bó, gần gũi, đồng tình với ông anh Jakov, tức thân phụ mẹ tôi, một người từng theo học cả luật lẫn sử, và ngay từ thời sinh viên, đã bí mật hợp tác với những người bolshevik. Lúc mới hai mươi ba tuổi, ông đã bị mật vụ của Sa hoàng bắt giam rồi đưa đi đày hai mươi năm ở Siberi.
Cũng theo bài báo, chồng bà Valentina Epifanovna, bà cô ruột của mẹ tôi, là ông Vassili Ostoslavski, một người xuất thân từ một gia đình quý tộc Nga hết sức giàu có và nổi tiếng về học thức cũng như về các quan điểm cởi mở và theo đuổi chủ nghĩa tự do của họ. Tôi đọc tiếp, sau cách mạng, ông chết đói, chết giống như hàng triệu người khác đã bỏ mạng trong thời kỳ nạn đói hoành hành ở Ukraine. Trường trung học tư thục của bà Valentina bị hỏa hoạn trong thời kỳ nội chiến, và chẳng bao lâu sau bà cũng qua đời ở tuổi bốn mươi tám vì dịch cúm Tây Ban Nha lan tràn hồi đó. Con trai hai ông bà, ông Ivan Ostoslavski, về sau trở thành một chuyên gia khí động lực học nổi tiếng, các giáo trình của ông soạn trở thành cơ sở cho sinh viên ngành kỹ thuật hàng không và du hành vũ trụ trên toàn Liên bang Xô viết. Tấm ảnh trong bài báo cho thấy một người đàn ông luống tuổi, trông giống như một con chó Bernard, nét mặt thô thiển nhưng đôi mắt sáng, thông minh. Con gái bà Valentina là Irina Ostoslavskaja từng làm cao đến chức Thứ trưởng Bộ Giáo dục, nhưng dưới thời Stalin, bà bị ghép tội kẻ thù của nhân dân và bị đày đi Siberi.
Tôi còn biết thêm đôi điều nữa. Ông cụ ngoại Epifan tôi, vốn là một điền chủ giàu có xuất thân từ Tschernigovschtschina, nhưng ở Mariupol, do nghiện rượu ngày một nặng mà tiêu tán hết sạch của cải. Thấy thiên hạ kháo nhau rằng cụ bỏ đi biệt tăm lúc nào không ai biết, để lại bà vợ Anna von Ehrenstreit bơ vơ không chút tài sản nào cùng sáu đứa con nhỏ. Người ta đồ cụ bỏ trốn sang Ấn Độ bằng chính chiếc tàu thủy chở hàng duy nhất do cụ làm chủ.
Tôi nghĩ mình phải có thêm một cái đầu mới chứa hết, mới hiểu hết tất cả những điều đó. Từ xưa đến giờ, tôi chỉ mới chứng kiến những cái mới đầu tưởng là thật về sau bị lật tẩy là giả tạo, thế mà bây giờ, thật buồn cười, phần cốt lõi trong những câu chuyện bịa đặt thời con trẻ của tôi, hóa ra lại là thật.
Sự tụt dốc không thể tưởng tượng nổi của mẹ là điều làm tôi sửng sốt nhất. Tại sao mẹ tôi không bao giờ nhắc đến xuất xứ của bà, đến một lời cũng không? Vì lẽ gì mẹ lại che giấu quan hệ họ hàng với bà cô Valentina và chỉ gọi là người quen? Trong mắt tôi, mẹ vốn bao giờ cũng chỉ là người bình dân, xuất thân từ một gia đình nghèo khó, bây giờ dòng dõi thật sự của bà, một phát hiện mà đến tận lúc này tôi vẫn chưa thể hiểu hết ấy, khiến cho số phận bà hiện ra trước mắt tôi ở góc độ hoàn toàn mới mẻ, với mức độ tàn nhẫn không thể hình dung nổi.
Bằng những ngón tay đã tê dại, tôi kích mở tập tin dữ liệu thứ hai đính kèm theo email của diễn đàn “Dân Hy Lạp vùng biển Azov” gửi cho tôi. Trước mắt tôi hiện lên bản sao của một tài liệu đã gần mủn mục, ố vàng, với những dòng chữ tiếng Nga đánh máy, mờ nhạt đến mức tôi phải phóng to nhiều lần mới khó nhọc giải mã được là gì.
Lệnh trao tặng Huân chương Sao Đỏ cấp nhà nước cho đồng chí Sergey Jakovlevitsch Ivashtschenko, sinh năm 1915 tại Mariupol, đảng viên, gia nhập Hồng quân năm 1939 tại Kiev, cấp bậc Trung sĩ, ra tiền tuyến ngay từ đầu chiến tranh, không bị thương.
Trong vai trò ca sĩ đơn ca của ban đồng ca Cờ Đỏ, đồng chí Ivashtschenko đã có nhiều đóng góp cho nền nhạc cổ điển Nga thông qua việc biểu diễn các bản aria trích từ ca kịch Nga cho chiến sĩ và sĩ quan tiền tuyến. Bài ca Ấn Độ trích từ ca kịch Sadko của Rimskij-Korsakov và bản aria Galizkij từ ca kịch Bá tước Igor của Alexander Borodin đã trở thành các giai điệu được ưa chuộng tại những đơn vị mà đồng chí Ivashtschenko từng biểu diễn. Đồng chí không quản hiểm nguy, không nề hà khó nhọc, cố gắng biểu diễn trong mọi hoàn cành, thậm chí cả trong những tình huống nguy hiểm đến tính mạng. Các buổi biểu diễn của đồng chí bao giờ cũng có chất lượng nghệ thuật cao, đó là điều khiến đồng chí được các chiến sĩ tiền tuyến ngưỡng mộ và kính trọng. Đồng chí Ivashtschenko là người luôn luôn gương mẫu về đạo đức nghề nghiệp và nêu cao tinh thần kỷ luật, đồng chí luôn luôn thể hiện lòng trung thành với Đảng do Lenin và Stalin lãnh đạo, và phục vụ quên mình cho tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng chí Ivashtschenko đã từng được tặng thưởng huy chương Có công bảo vệ Stalingrad. Nay Chính phủ Liên Xô quyết định trao tặng Huân chương Sao Đỏ cấp nhà nước cho đồng chí Ivashtschenko.
Trưởng phòng Báo chí, Tuyên truyền và cổ động,
Đại tá B. F. Prokofiev
Nhiều ngày liền, tôi bị chìm đắm trong trạng thái đờ đẫn do bị sốc mạnh về tinh thần. Tôi làm những việc xưa nay vẫn làm, ngồi ngoài ban công, đi dạo bên hồ, nấu nướng qua loa đôi thứ cho vào bụng, nhưng đó không phải là tôi, mà một kẻ lạ mặt nào đó đang làm các việc đó trước mặt tôi. Tôi đưa mắt quan sát kẻ lạ mặt đang trầm ngâm ngồi nhìn trừng trừng lên một mảng tường nào đó hàng giờ liền rồi đột nhiên vô cớ phá lên cười. Cứ thế mãi, đến mức trong lòng tôi, giữa cuộc chuyện trò với nhân vật vô hình ấy - một câu chuyện mà tự tôi, tôi cũng chẳng hiểu gì - tôi bỗng hoặc vung tay vung chân phản bác, hoặc gật gật đầu tán thưởng. Trông thấy cảnh này, người ngoài cuộc chắc phải nghĩ tôi hóa điên.
Tôi đọc đi đọc lại mãi email của Konstantin cùng các hồ sơ đính kèm, và cứ tự nhủ trong lòng, rằng tôi không nằm mơ. Đôi mắt tôi chốc chốc lại kinh ngạc dừng lại ở dòng chữ ghi tên bà ngoại tôi. Hóa ra tên thân mẫu của mẹ tôi là như thế: Matilda Iosifovna. Nghĩa là bà Matilda, có ông bố mang tên Iosif. Đó là một tên gọi dành cho phái nữ mà tôi chưa bao giờ nghe thấy trong tiếng Nga. Ông Konstantin có thể truy nhập vào danh mục đã số hóa của Nhà thờ ở Mariupol và báo cho tôi biết trong sổ ghi bà Matilda Iosifovna theo đạo Thiên Chúa Giáo La Mã. Điều đó, gắn với cái tên Matilda, đã là chứng cớ rõ ràng về nguồn gốc Ý của bà ngoại tôi, hơn nữa, có nhiều dấu hiệu cho thấy phụ danh Iosif của bà bắt nguồn từ Giuseppe, vốn là tên gọi của người Ý đã Nga hóa vậy. Có điều, tất cả những thứ đó chưa tìm được chỗ đứng chắc chắn trong nhận thức của tôi, bởi cùng một lúc, chúng đã xông vào đầu óc tôi quá ư ào ạt.
Tôi có cảm giác dường như khi phát hiện ra tên gọi thân mẫu mẹ tôi là gì, thì tôi cũng tìm ra chính mẹ tôi vậy. Bà Matilda Iosifovna, người đàn bà mà mẹ tôi đã nhỏ không biết bao nhiêu nước mắt khóc thương, người đã không quay trở về sau khi chẳng quản ngàn trùng xa xôi, trắc trở lên đường tìm đến người con gái bị đày của mình ấy. Như thể phát hiện của tôi đã hủy đi một phần của nỗi bất hạnh ập lên mẹ tôi, phần bất hạnh gắn liền với nỗi đau buồn về người mẹ mất tăm biệt tích, và cũng là phần bất hạnh khiến mẹ tôi không còn sống được nữa. Trong đầu tôi cứ diễn đi diễn lại mãi cảnh tôi hớt hải chạy đến báo tin: mẹ ơi, con tìm thấy bà Matilda Iosifovna rồi, con tìm thấy bà ngoại Matilda rồi, mẹ có nhận ra bà không? Con tìm thấy bà thật mà, bà đây này, mẹ nhìn mà xem…
Ôi, phép mầu của những tên gọi! Cả các anh chị của mẹ tôi cũng đột nhiên trở nên sinh động. Bác gái Lidia. Bác trai Sergey. Tôi chợt nhận thấy, hóa ra tên các bác tôi phải là như vậy, chứ không thể khác đi, tôi lấy làm ngạc nhiên, tại sao trước đây tự tôi lại không nghĩ được ra như vậy. Lidia. Sergey. Hai tên gọi hòa âm một cách tự nhiên với tên gọi mẹ tôi. Bác Lidia của tôi. Bác Sergey của tôi. Tôi đọc đi đọc lại bằng chứng nhận của bác Sergey, cái bằng xác nhận bác được tặng Huân chương Cờ Đỏ cấp nhà nước ấy, như muốn tìm thấy trong đó các dấu mốc trong cuộc đời bác những dấu mốc rất có thể cũng là của mẹ tôi.
Trước đây, cứ mỗi lần tôi tưởng tượng ra bác, ông ca sĩ nhạc kịch ấy, là tôi lại nghe thấy một giọng nam cao cất tiếng ca các bản aria ngời sáng như Lunge da lei hay Care selve, thế nhưng, các vai bác tôi diễn ghi trong tờ chứng nhận nọ, lại cho thấy ông phải có giọng nam trầm mới đúng. Trước đôi mắt nằm sâu thẳm, trong lòng tôi lập tức hiện lên hình ảnh một người đàn ông khác hẳn, người đàn ông thân hình to lớn, bệ vệ, giọng trầm và dài hơi. Một ca sĩ ngoài tiền tuyến, một đảng viên Cộng sản, ca sĩ đơn ca của nhà hát ca kịch “Cờ Đỏ”. Bằng chứng nhận nọ đã làm mờ mất ánh hào quang mà một ca sĩ nhạc kịch thường vẫn tỏa trước mắt tôi. Có lẽ người ta đã trao tặng Huân chương nhà nước vì ông có tài ca hát thì ít, mà vì ông trung thành với chế độ, vì ông là công dân Xô viết gương mẫu thì nhiều. Theo ông Konstantin thì thời đó, việc một người xuất thân quý tộc được kết nạp vào đảng Cộng sản Liên Xô, lại được tặng thưởng huân chương cấp nhà nước là một việc bất thường; ông ta cho rằng có lẽ ở đây đã có sự lọt lưới thế nào đó. Vậy ông anh của mẹ tôi là ai mới được chứ? Ông đã phải làm những gì mới lọt được lưới? Bởi vì bà chị Lidia của ông phải đi đày và chắc chắn bị khép tội Nga gian, thì mắt lưới bác Sergey phải lọt qua còn nhỏ gấp bội so với mắt lưới thường. Và làm sao mà mẹ tôi lại có thể yêu thương ông anh bà nhường ấy, mặc dù Đảng Cộng sản Liên Xô - tôi biết chắc như thế - đối với bà, là hiện thân của sự độc ác? Nếu như tôi còn nhớ rõ kỷ niệm nào từ thời con trẻ, thì chính là kỷ niệm về lòng căm hờn của bố mẹ tôi đối với chính quyền Xô viết, đối với Stalin, mối căm hờn đó, có lẽ là tình cảm mạnh mẽ nhất gắn bó hai người với nhau. Mẹ tôi không bao giờ hết run sợ trước bàn tay vươn dài của chế độ Xô viết, một bàn tay mà theo bà, bất kỳ chỗ nào trên thế giới này, nó cũng vươn tới được. Đối với bà, chính quyền Xô viết chính là thủ phạm làm tan nát đời bà, là kẻ đã giết hại không biết bao nhiêu mạng người mà kể, đã hủy hoại quê hương bà, và xua đuổi bà đi tha phương cầu thực.
Bây giờ mọi sự đã rõ, rằng ông cụ thân sinh ra bà cũng là người theo chủ nghĩa xã hội kỳ cựu, một đảng viên bolshevik ngay từ thủa ban đầu, một người từng vì chính kiến của mình mà bị chính quyền Sa hoàng bắt đi đày biệt xứ suốt hai chục năm trời. Mỗi ngày tôi một thêm bối rối. Gia đình thế nào mà lại như vậy nhỉ? Thân sinh mẹ tôi là chiến sĩ cách mạng bolshevik, từng bị đày biệt xứ suốt một thời gian dài, ông anh bà là một đảng viên được tặng thưởng huân chương nhà nước, còn bà chị bà và chính bà lại bị liệt vào hạng phản bội, người chị bị đi đày trong trại khổ sai của chính quyền Xô viết, người em làm lao động cưỡng bức cho địch quân, tức là cũng chẳng khác gì làm tay sai cho chúng. Chẳng phải giữa gia đình này đã có một vực sâu chạy dài ngăn cách hai phe hay sao? Làm sao mẹ tôi có thể một đường thì căm thù nhà nước Xô viết, còn đường khác, lại hết lòng yêu thương bố và anh mình, là hai người phục vụ trung thành cho nhà nước đó?
Hình dung lâu nay của tôi về ông bà, các bác trong gia đình vốn đã hết sức mơ hồ rồi, nay hóa ra còn sai be sai bét hết cả. Và bởi thế, tôi đâm ra mù tịt. Tôi chỉ còn biết mẹ là người hoàn toàn khác với người mẹ xưa nay tôi vẫn tưởng mình biết rõ, và chính tôi cũng không phải là kẻ mà lâu nay tôi vẫn chắc mẩm mình tường tận.
Bảo rằng ông thân sinh của mẹ tôi từng theo học môn sử và môn luật thì quả là khớp với cái từ luật sư trong trí nhớ, thế nhưng trong tâm trí tôi, từ ngữ đó bao giờ cũng gắn liền với hình ảnh một “quý ông” trang nghiêm sang trọng, một vị luật sư tối ngày ngồi lì trong phòng giấy, vừa uống trà rót từ ấm samova ra, vừa tiếp chuyện các thân chủ, hoặc đưa kính cầm tay lên chăm chú đọc các hồ sơ vụ án. Song, sự thực về việc ông ngoại tôi bị đi đày hai chục năm ròng rã đã làm thay đổi hoàn toàn bức tranh về vị luật sư “quý phái” đó. Ông không còn là chàng sinh viên đứng đắn miệt mài học thuộc các điều khoản này bộ luật nọ, mà là một chàng thanh niên phản nghịch, hoạt động bí mật trong hàng ngũ bolshevik, đồng thời, là anh trai của một người phụ nữ từng đứng ra lập trường trung học dạy nữ sinh nhà nghèo - hai anh em cùng đấu tranh đòi công bằng xã hội, đòi liên minh mọi tầng lớp nhân dân bị chế độ Sa hoàng đô hộ nhằm xóa bỏ tầng lớp quý tộc, xóa bỏ chính cái tầng lớp đã sản sinh ra họ. Ông ngoại tôi đã phải trả giá cao, bằng hai mươi năm lưu đày, tức là một phần khá lớn cuộc đời mình ở nơi Siberi rừng thiêng nước độc. Vâng, một con người mang số phận đớn đau khủng khiếp, một số phận không có nét nào chung với vị luật sư trong trí tưởng tượng thời thơ ấu của tôi.
Theo sổ sách của Nhà thờ, ông ngoại tôi sinh năm 1864. Nếu bị đi đày lúc hai mươi ba tuổi, thì mãi 1907 ông mới được tự do, vào lúc ông bốn mươi ba tuổi. Và cũng mãi mười ba năm sau mẹ tôi mới ra đời, lúc ông tôi đã năm mươi sáu tuổi. Giữa tôi với mẹ có một sự tương đồng khá rõ. Tôi cũng có ông bố lớn tuổi, một ông bố hơn mẹ tôi những hai mươi năm chẵn. Và ông cụ thân sinh ra mẹ tôi, cũng giống như bố tôi, đã phải lấy một người trẻ hơn mình rất nhiều, nếu không thì đã chẳng có mẹ tôi ở đời. Có lẽ sau khi từ Siberi trở về, ông mới cưới bà Matilda Iosifovna lúc đó còn rất trẻ và bốn năm sau, chị gái của mẹ tôi, tức bác Lidia ra đời, rồi thêm bốn năm nữa, đến lượt bác Sergey, anh của mẹ tôi. Mẹ tôi là đứa em út ít, và có lẽ, cũng là đứa em được cưng chiều nhất trong tổ ấm gia đình này. Mặc dù hồi ấy, vào năm 1920, không thể còn tổ ấm nào nữa cả, vì gia đình hẳn đã bị tịch thu hết tài sản từ lâu, và có thể đã bị khủng bố rồi. Anh chị của mẹ tôi, ít gì cũng còn được trải qua những năm cuối cùng trước cách mạng và còn được hưởng đôi chút đặc quyền của dòng dõi gia đình. Mẹ tôi chỉ biết đến sự tan hoang đổ nát của tất tật những gì bà không còn được hưởng nữa. Bà sinh ra ngay giữa thời nội chiến, thời của khủng bố, của nạn đói, thời truy lùng, săn đuổi. Đó là tất cả những gì bà chứng kiến lúc ra đời cho đến lúc rời khỏi Ukraine, một xứ sở mà ở đó, bà chưa hề được biết cái gì khác hơn nữa cả.
Dần dần thì tôi cũng vỡ nhẽ tại sao mẹ tôi không bao giờ nhắc đến xuất xứ của mình. Thời bà còn ở trên đất Liên Xô, không có gì tồi tệ bằng phải mang dòng dõi quý tộc. Mang dòng dõi quý tộc là ngang với một tội ác, là tội lỗi bẩm sinh, là niềm hổ thẹn vô bờ bến, là nguyên do giết chết bà. Và rất có thể, nỗi sợ hãi trong con người bà đã pha lẫn nỗi hổ thẹn và sự ghê tởm chính bản thân mình, bởi dần dần, tự bà cũng tin rằng những con người như mình đều là ung bướu thối tha của xã hội, là những kẻ không có quyền sống ở đời, đều là rác rưởi do lịch sử thải ra mà thôi. Không cần phải sang đến đất Đức bà mới bị liệt vào hạng người hạ đẳng, mà ngay từ lúc còn ở Ukraine, bà đã là giống hạ đẳng đó - người mẹ bé nhỏ tội nghiệp của tôi, một con người rốt cuộc đã phát điên hóa rồ, con người đã từ màn đêm đen kịt của thế kỷ 20 khát máu bước ra với tôi ấy.
Song, tôi nghĩ có thể còn một cách lý giải khác nữa. Đơn giản là không ai nói cho bà biết bà con cái nhà ai, không ai nói cho bà biết, để bảo toàn tính mạng cho bà. Rất có thể mẹ cũng như tôi vậy, suốt cả đời đã không biết gốc gác mình ở đâu ra. Rất có thể, đến như nghe kể về tổ tiên ông bà mình, bà cũng chưa từng nghe, bởi trên đất nước Ukraine Xô viết hồi ấy người ta chỉ còn biết câm miệng, bịt tai, hoặc bởi vì ngay từ thời thơ ấu, giai tầng xã hội xưa kia của bà đã bị nhổ tận gốc trốc tận rễ, bị tuyệt diệt đến mức không còn ai hay biết gì về nó nữa cả.
Cũng có thể, sở dĩ mẹ tôi ghi dòng chữ “ông ngoại và hai người quen” ra mặt sau tấm ảnh mang từ Ukraine sang Đức là vì mẹ tôi quả không biết hai người đàn bà trên ảnh là ai thật, không biết rằng người đàn bà thứ hai, người trẻ hơn, với nụ cười rụt rè trên mặt rất có thể là một trong các bà cô của mình, một trong các cô em của bố bà. Có lẽ, sức hủy hoại khủng khiếp của thời đại bà đã làm đảo lộn cuộc sống con người ta, đã làm bật hết mọi gốc rễ, đã xé đứt tan hoang mọi mối liên hệ máu mủ, đến mức người ta không còn biết ai với ai nữa hết. Hoặc lúc ghi chú như thế vào bức ảnh, bà chỉ nghĩ hai bà kia đối với chúng tôi, với tôi và em gái tôi, không quan trọng lắm, vì đằng nào thì hai chị em sẽ chẳng biết họ là ai, và cũng không bao giờ gặp họ nữa, vì không có bất cứ thứ gì, bất cứ ai từ thế giới bà từng sống, có thể tồn tại an lành trên đất Đức, nơi đất khách quê người này được cả.
Nhưng với tất cả những gì bây giờ đã thu lượm được, tôi biết chắc một điều: Người đàn ông trong ảnh không phải ông ngoại của mẹ tôi. Ông là ông thân sinh của mẹ tôi, tức là ông ngoại tôi. Mẹ tôi đã đặt mình vào vị trí hai chị em tôi để ghi chú lên bức ảnh đó. Có điều, trông ông ngoại trên ảnh giống với hình ảnh trước đây tôi từng tưởng tượng về ông hơn là hình ảnh mới hình thành gần đây. Nhìn ảnh, tôi không nhận ra bất cứ nét nào của một nhà cách mạng, một phạm nhân từng bị đày ải ở Siberi hôm xưa, trông ông quả thật giống vị luật sư lịch thiệp đáng kính trong bức tranh về ông mà tôi vẫn có trong đầu từ thời thơ ấu. Ở ông toát ra vẻ điềm đạm hiền hậu, gương mặt thông minh, tao nhã, đôi mắt đượm buồn như đôi mắt mẹ tôi. Rất có thể không phải chỉ có tuổi tác và căn bệnh tim mạch khiến mẹ tôi phải lo lắng cho ông mà thôi. Ngoài ra, còn một mối nguy thứ ba nữa, mối nguy còn khó lường hơn tất cả các nguy cơ sinh lý khác là: một con người mang ý thức chính trị như ông có thể bị cuốn vào guồng máy giết người của Stalin bất kỳ lúc nào không biết. Đứng trước guồng máy đó, không một ai có thể yên thân toàn mạng, một người như ông tôi càng không thể yên thân, một người không những mang trong mình dòng máu quý tộc, mà ngay từ thời Sa hoàng, còn nổi bật lên trong tư cách một người mang tư tưởng chống đối và đầu óc bất tuân thượng lệnh. Mọi sự phản kháng, chống đối cường quyền, bất kể đó là loại cường quyền nào, đối với Stalin đều đáng ngờ. Lúc nhìn lại lần nữa vào sổ tra cứu Nhà thờ mà ông Konstantin đã chuyển cho tôi, tôi nhận ra một chi tiết mang nhiều ý nghĩa là: Bên cạnh ngày mất của các thành viên khác trong gia đình, bao giờ cũng có ghi thêm nguyên nhân khiến họ qua đời. Riêng có thân phụ mẹ tôi là không. Chỉ ghi độc năm ông mất, là năm 1937. Đó có lẽ là năm khủng khiếp nhất trong lịch sử Liên Xô vậy, năm tột đỉnh của chiến dịch thanh trừng, một chiến dịch thảm sát được liệt vào số những vụ thảm sát chính trị lớn nhất từng xảy ra lịch sử nhân loại. Dạo ấy, mẹ tôi mới mười bảy tuổi.
Sau này, lúc tôi tìm cách gỡ dần mớ bòng bong các mối quan hệ giữa mình với những người họ hàng suốt đời tôi hoàn toàn xa lạ ấy, rồi so sánh các con số ghi năm sinh, năm mất của họ với nhau, tôi mới vỡ nhẽ ra rằng mẹ tôi, người con muộn màng của ông bà tôi, không những đã được sinh ra đúng vào thời kỳ tràn ngập bạo lực và chết chóc, bà còn ra đời giữa cảnh trống trải cô đơn ghê gớm xung quanh bà. Đó là thời kỳ không những thế giới xưa của tổ tiên bà đã tan biến, mà chính phần lớn ông bà, chú bác cô dì của bà cũng đã qua đời. Từ một đại gia đình Ukraine-Ý nhiều chi lắm nhánh như thế mà hầu như không còn một ai sống sót. Bà Valentina, cô của mẹ tôi, người từng sáng lập ngôi trường trung học nữ sinh ngày nào, đã mất vì bệnh cúm Tây Ban Nha hai năm trước khi mẹ tôi ra đời, còn cô Olga của mẹ tôi đã gieo mình qua cửa sổ tầng cao mà chết mười bốn năm trước đó. Mộ bà nội gốc Đức miền Baltic của mẹ tôi, bà Anna von Ehrenstreit, đã xanh cỏ được mười hai năm, ông nội Epifan của bà - vị chủ đồn điền giàu có xuất thân từ Tschernigovschtschina dạo nào, lúc đó chắc đã phải rời bỏ xứ sở ra đi từ lâu, ông chú Leonid của bà đã qua đời vì bệnh động kinh gần hai mươi năm trước khi bà cất tiếng chào đời. Riêng có hai bà cô Natalia và Jelena của bà mất năm nào thì sổ ghi chép của Nhà thờ không ghi rõ, tôi chỉ tìm thấy năm sinh của hai bà. Và cứ theo năm sinh mà suy thì hai bà đã ra đời rất lâu trước khi có mẹ tôi trên đời, cho nên, nếu mẹ tôi có biết đến hai bà đi nữa, thì cũng chỉ biết vào lúc họ đã rất lớn tuổi rồi.
Như thế, một chuyện đến là thần kỳ đã xảy ra với tôi. Cái hộp đen bí hiểm của đời tôi đã được mở ra vào lúc tuổi đã xế tà, và dẫu cho đến tận hôm nay tôi vẫn chưa thấy trong hộp chứa những gì, ngoài một hộp đen khác, mà trong ấy có lẽ còn giấu thêm một hộp đen mới nữa - giống như các con búp bê Matrioshka của Nga lồng vào nhau ấy mà - hay nói cách khác, dẫu đến tận giờ tôi vẫn chưa tìm ra lời giải đáp nào cả, mà chỉ mới đang bắt đầu đặt thêm các câu hỏi cho mình mà thôi ấy, thì âu cũng là lần đầu tiên trong đời tôi, tôi tự nhủ, có lẽ tôi không đứng bên ngoài lịch sử nhân loại như mình vẫn tưởng, mà cũng thuộc về nó như mọi con người khác trên đời này. Song le, tất cả những gì cho đến nay tôi lần tìm ra được, chỉ là các đầu mối về gia đình bên nội của mẹ tôi. Các đầu mối dẫn đến mẹ bà thì cho đến tận giờ, tôi với ông Konstantin vẫn chưa tìm ra. Trong sổ sách Nhà thờ không ghi tên gọi thời con gái là gì, cũng không ghi cả năm sinh, chỉ ghi mỗi tên gọi Matilda của bà, thêm phụ danh và tôn giáo nữa là hết. Vâng, bà Matilda Iosifovna, có lẽ người gốc Ý và theo Thiên Chúa Giáo Roma, cho đến giờ vẫn còn là một ẩn số lớn đối với tôi.
❀ ❀ ❀
[1] Khái niệm Bước ngoặt (Wende) hay còn được gọi là Cuộc cách mạng Hòa Bình dùng để chỉ quá trình biến đổi về chính trị và xã hội diễn ra tại Cộng hòa Dân chủ Đức vào các năm 1989-1990, dẫn tới thống nhất nước Đức vào tháng Mười năm 1990 (các chú thích trong sách đều của người dịch thêm vào nhằm giúp bạn đọc dễ hiểu hơn).
[2] Tôi không hiểu mô tê gì cả (nguyên văn tiếng Anh).
[3] Hãn quốc.
[4] Dân Hy Lạp.
[5] Tội diệt chủng Do Thái.
[6] Miền đất chưa khai phá.
[7] Advokat: Luật sư.
[8] Babyn Yar: Vụ thảm sát xảy tại Babyn Jar thuộc thành phố Kiev. Trong vòng 36 tiếng đồng hồ của hai ngày 29, 30 tháng Chín năm 1941, quân đội chính quy Đức Quốc xã đã tàn sát 33.771 thường dân Do Thái.
[9] Hermann Göring: Một trong những lãnh tụ hàng đầu của nhà nước Quốc xã Đức (1933-1945). Tháng Mười năm 1946, y bị Tòa án quân sự quốc tế Nürnberg kết án tử hình vì phạm tội ác chiến tranh nghiêm trọng.
[10] OST là viết tắt của chữ Ostarbeiter, nghĩa là Công nhân miền Đông.