
Từ cái đêm ngủ vụng trộm trong nhà kho để ngỏ tại khuôn viên một nhà máy ở Nürnberg ấy, rốt cuộc, biến thành khoảng thời gian sống gần năm năm. Ông chủ nhà máy, và cũng là ông chủ nhà kho, hóa ra lại là một người Đức khác thường. Ông không đuổi mấy người Slave hạ đẳng đi, mà thương hại và cho họ trú lại trên khu đất của ông, mặc dù làm như thế, ông đã vi phạm luật lệ do quân Đồng minh đặt ra. Theo quy định, dân tha hương DPs không được phép tự tìm chỗ ở, họ phải vào ở trong các khu trại dành riêng, tuy bị kiểm soát, nhưng cũng được chu cấp ở mức tối thiểu. Song, bất chấp mọi bấp bênh, bố mẹ tôi và bạn bè họ vẫn chọn cuộc sống tự do ở bên ngoài hơn là lại chui đầu vào một khu trại nào đó.
Tôi không biết bố mẹ đã làm thế nào để sống sót trong giai đoạn đầu của cuộc chạy trốn này, khi hai ông bà không được ai chu cấp đồ ăn thức uống. Rất có thể ông chủ người Đức không những đã để ông bà sống trong nhà kho của ông ta, mà còn giúp họ tìm được nguồn lương thực thực phẩm nào đó, và lo cho họ ít “bàn ghế” để dùng mà tôi vẫn còn nhớ, như chiếc giường xếp, chăn đắp của Hội Chữ Thập Đỏ, chiếc đèn dầu và một cái bàn mà tôi cứ tưởng như bóng ma, kê dưới cửa sổ bé tí xíu của nhà kho. Chắc hẳn phải có một lò sưởi, nếu không cả nhà tôi đã chẳng qua nổi năm mùa đông trong căn nhà kho cũ kỹ và mục nát ấy.
Mẹ tôi dạo ấy luôn sống trong cảnh nơm nớp lo sợ. ông chủ nhà máy có thể đuổi chúng tôi bất cứ lúc nào, giới quan chức địa phương có thể để ý, ai đó có thể khai báo; nói cách khác, lúc nào chúng tôi cũng có nguy cơ bị đuổi, bị đẩy vào trại dành cho dân DPs. Thế nhưng suốt năm năm liền, nhà kho là nơi ở yên lành, ngày này qua ngày khác của cả nhà tôi, suốt năm năm liền ông chủ nhà máy đã che chở, che giấu chúng tôi và tự biến mình thành kẻ phạm pháp. Tại sao nhỉ? Phải chăng sắc đẹp bí hiểm của mẹ tôi đã làm ông động lòng, khiến ông không nỡ đuổi vợ chồng người đàn bà yếu ớt, tội nghiệp này ra khỏi nhà ông? Hay do trước đây ông ta từng lợi dụng nhiều công nhân bị cưỡng bức và giờ đây, ông muốn ít nhiều chuộc lỗi bằng cách cưu mang mấy người Slave vô gia cư này?
Vào một đêm tháng Mười hai năm 1945, mẹ tôi trở dạ. Do trong giấy khai sinh của tôi ghi Fürth là nơi sinh, cho nên tôi biết mẹ tôi đã không sinh tôi trong nhà kho, vì nó nằm trên đất Nürnberg. Có thể tôi đã mở mắt chào đời trong một nhà hộ sinh ở Fürth và bây giờ tôi chỉ biết đoán già đoán non xem mẹ tôi đến đó bằng cách nào. Từ chỗ mẹ tôi ở đến ranh giới với Fürth chỉ vài trăm thước, cho nên có thể mẹ tôi đã đi bộ, cùng với bố tôi, trong đêm tối và băng tuyết, trong lúc bụng đau quặn từng cơn. Cũng có thể ai đó đã gọi xe cứu thương, và nếu thế thì người đó chắc chắn là ông chủ xưởng máy ở trong căn nhà bên kia sân vì trong nhà ông mới có điện thoại.
Có lẽ mẹ tôi chưa bao giờ sợ hãi, chưa bao giờ hoang mang như lúc nằm trong phòng hộ sinh của bệnh viện Đức, nơi bà nằm một thân một mình và hoàn toàn trong tay những người không những chỉ nhìn bà như nhìn một con mụ Slave hạ đẳng, sẽ làm vướng bẩn phòng hộ sinh bằng thứ máu bẩn thỉu xấu xa, mà còn xem bà như hiện thân của chính quyền Xô viết, của những người Cộng sản và bolshevik thắng trận, những kẻ đã giết chết hàng triệu đàn ông Đức, những kẻ giết người, ăn cướp, hãm hiếp xông vào nước Đức và chiếm đóng một phần khá lớn lãnh thổ nước này. Lõa lồ, quằn quại vì đau đớn, mẹ tôi nằm phơi ra như một phạm nhân trước mặt các nạn nhân và đòi họ phải đón nhận đứa con bà. Phải chăng mẹ tôi đã nghĩ như thế, hay sinh đẻ là một sức mạnh thiên nhiên át hết mọi cảm giác khác? Đến 7 giờ sáng thì mẹ tôi, người đàn bà đói khổ, gần kiệt sức do lao động nặng nhọc và lẩn trốn liên miên ấy, đã sinh thành một đứa con gái khỏe mạnh, cứng cáp không ngờ, mỗi tội vừa ra đời đã mắc bệnh vàng da, căn bệnh hồi đó vốn lan tràn trong số trẻ sơ sinh vừa lọt lòng mẹ.
Ngay từ đầu bà đã thấy kinh hãi đứa con da vàng khè, chân cẳng mình mẩy trông như con ếch phơi bụng và vô cớ khóc thét lên ấy, lại thêm lớp lông tơ vàng sáng, lớp lông tơ không phải của bà mà cũng không phải của bố nó nốt, trên đỉnh đầu. Ngay từ đầu bà đã có cảm giác, dường như cơ thể mình đã ấp ủ, nuôi dưỡng cái gì đó ác độc và bây giờ sinh nở một con quái vật nho nhỏ cho đời vậy - một đứa trẻ hầu như không ngớt kêu khóc và không thể dỗ dành, một đứa trẻ sẽ biến thành nỗi cực hình của bà, thành trò chơi mới của thứ bạo lực đã khống chế bà từ lâu, và với tâm hồn và trí não đã tan nát, bà không có cách gì cưỡng lại. Một đứa trẻ sẽ cắn xé day dứt đôi đầu vú chẳng cho bao nhiêu sữa của bà. Tất cả những thứ gì bà đưa cho nó, nó đều gạt đi, một đứa trẻ mà bế trên tay, đung đưa bên này bên kia, ôm ấp, nói nựng, ru yêu hay hôn hít dường như đều khiến nó khóc to thêm. Phải chăng đứa trẻ bị đau đớn, bị đè nặng bởi nỗi khổ nhục tăm tối từng dồn ứ trong cơ thể bà và truyền sang nó? Hay nó bị ốm, lâm bệnh nặng, và chẳng mấy chốc sẽ chết? Bà không hiểu nổi đứa trẻ muốn gì, đòi gì, đôi lúc bà có cảm giác đứa trẻ căm ghét bà và khóc đòi một bà mẹ khác. Bà bế nó, nựng nó trên tay và cay đắng khóc, khóc vì tuyệt vọng và kiệt sức, vì bà đâm sợ cả chính mình, sợ mình sẽ không còn tự kiềm chế được và gây ra chuyện gì đó đáng kinh sợ, cốt sao đứa bé nín đi để bà cũng yên thân làm được một giấc ngủ con con ngắn ngủi.
Rồi một hôm, bố mẹ tôi bị quân cảnh Mĩ bắt. Không thể bảo rằng tôi vẫn còn nhớ rõ sự kiện này; các hình ảnh về vụ này chỉ có thể là do tôi tưởng tượng ra dựa trên lời người lớn kể lại về sau mà thôi, thế nhưng tôi vẫn có cảm giác, như thể nhờ nhìn qua một lỗ thủng nhỏ trên tấm rèm đen mà tôi bằng chính mắt mình được chứng kiến những gì xảy ra vậy. Tôi thấy hai người trần truồng đứng giơ cao tay bên bức vách bằng gỗ ván trong nhà kho tối om. Một luồng ánh sáng bí hiểm không rõ từ đâu chiếu thẳng vào họ. Cũng có thể đấy chỉ là hai hình nộm, nhưng tôi biết chắc đó là bố mẹ tôi, tôi nhìn từ sau lưng họ, lên hai thân mình nặn bằng sáp đang bị một sức mạnh vô hình nào đó áp chặt vào bức vách. Chỉ trong giây khắc thôi, rồi ánh sáng nọ tắt ngấm, mọi sự lại chìm đắm trong bóng đêm của thời xưa mông muội. Thế nhưng hình ảnh hai người trần truồng bất lực bên bức vách sẽ khắc sâu vào trí nhớ tôi. Không biết tôi đã thực sự nhìn thấy, hay chỉ tưởng tượng ra hình ảnh ấy, nhưng đối với tôi, đó chính là hình ảnh đầu tiên về thế giới bạo tàn.
Có lẽ bố mẹ tôi bị bắt vì quân Mĩ nghi họ, cũng như họ nghi ngờ nhiều công nhân Xô viết hôm xưa, sau chiến tranh vẫn lưu lại đất Đức, là những người đã hợp tác với chính quyền Quốc xã; có điều đáng ngạc nhiên là chỉ bố mẹ tôi bị bắt mang đi, chứ cặp vợ chồng người Ukraine sống chung trong nhà kho và cũng trốn tránh, không chịu bị bắt buộc hồi hương như thế, lại không bị. Ở trại giam, bố tôi, tuy cũng thèm ăn lắm, đã tuyệt thực đòi thả vợ ông ra, bởi nếu không, đứa con mà hai người để lại cho hàng xóm nuôi, sẽ khát sữa mà chết. Nếu không phải lo cho tôi thì có thể nhà giam đã là nơi thiên đàng của mẹ. Bởi vì sau một thời gian dài, bây giờ mẹ mới được ăn no, ngủ yên và ấm áp, do không bị tiếng con khóc quấy rầy. Thế nhưng bố tôi tuyệt thực vậy mà lại được, vì chỉ một tuần sau, mẹ tôi được thả, và ít lâu sau đó, cả bố tôi cũng được trả lại tự do.
Mối nghi ngờ đối với bố mẹ tôi, nếu chưa tiêu tan hẳn, thì rõ ràng cũng không căng thêm. Người ta không những không bắt ông bà phải vào trại dân DPs, mà ngược lại, bố còn được nhận việc làm cho người Mĩ. Giọng hát trầm mạnh mẽ, vốn được dạy dỗ tại các ban đồng ca nhà thờ trên đất Nga hôm xưa, nay trở thành vốn quý của ông tại Đức. Hợp đồng đầu tiên ông ký là hợp đồng với một nhà hát ở Nürnberg, tại đó, cùng với nhiều dân DPs gốc Liên Xô khác, ông hát các bài dân ca Nga nổi tiếng mà binh sĩ Mĩ thích nghe. Ông được trả công bằng hiện vật, thường là các thức ngon của lạ mà phần đông dân Đức trong thời kỳ sau chiến tranh cũng chỉ dám mơ ước. Bánh mì trắng, pho mát, bơ mặn, sữa bột, thuốc lá Lucky-Strike, sô cô la hiệu Hershey đóng thành phong hay thành hộp. Hóa ra sô cô la dạng cứng hay dạng lỏng đã biến thành thức ăn chính của tôi thời mới đẻ.
Căn nhà kho trong khuôn viên nhà máy gồm hai ngăn nhỏ. Bố mẹ ở với tôi trong ngăn ngoài, trông ra sân, còn ngăn sau, áp vào bức tường bao quanh sân nhà máy là của cặp vợ chồng tên là gì mãi tôi không thể nhớ ra, nhưng đến lúc tôi kể lại chuyện này thì vụt nảy ra trong đầu tôi một cách quen thuộc. Ông bà Zyganenkos - mặt mũi họ thế nào thì tôi chịu không nhớ nữa, nhưng việc tôi vụt nhớ ra tên họ hai ông bà mách cho tôi biết họ có thực ở đời, trước tôi khá lâu là đằng khác.
Trong nhà kho, mọi người chẳng những phải chia nhau chỗ, mà còn phải chia nhau đống phế liệu bụi bặm chẳng rõ vì sao lại chất đống và bốc mùi ở đây. Mọi thứ đều ám mùi sắt gỉ: quần áo chúng tôi mặc, tóc tai mọi người ở đây, chăn mền chúng tôi đắp, bánh mì Mĩ chúng tôi ăn. Chúng tôi làm gì có tủ hay giá nào, đồ đạc đều phơi ra trên đống sắt gỉ, chân tay ai nấy đều dính gỉ sắt đỏ khè. Khu nhà máy chế biến vật liệu kim khí nằm cách đây không xa, khiến căn nhà kho suốt ngày khẽ rung rung theo nhịp máy dập không ngừng; nhưng chúng tôi đã quen, chẳng ai để ý nữa. Cũng chẳng ai để ý đến tiếng xe lửa rầm rầm chạy chẳng mấy khi ngắt quãng qua đoạn đường ray đắp cao lên ở gần đây; phần lớn là xe chở hàng, kéo theo các toa hàng nặng nề bằng sắt, chở những món hàng bí mật về những phương trời nào cũng bí mật nốt, bánh xe đập đều đều và rõ to trên đoạn đường ray cũ kĩ thời hậu chiến.
Trong nhà kho, cả điện lẫn nước đều không có. Tối đến, phải thắp sáng bằng chiếc đèn dầu ngoắc vào tay cầm cửa sổ; nước phải hứng trong chòi của tay gác đường ray nằm phía bên kia sân nhà máy. Mẹ tôi bao giờ cũng xách hai xô theo, để đỡ phải đi nhiều lần. Gã gác đường tàu là một gã vẫn còn trung thành với chế độ Quốc xã và chẳng buồn giấu giếm nỗi hằn học đối với người Nga. Hắn không dám cấm mấy người hạ đẳng kia ở trong sân nhà máy đến hứng nước chỗ hắn chỉ vì sợ uy của ông chủ nhà máy, người cho chúng tôi trú ngụ trên đất do ông làm chủ, và điều đó khiến gã không thể ngăn cản họ. Tuy thế, đôi lúc mẹ tôi cũng chẳng biết hắn sẽ làm gì bà và không rõ liệu bà còn được hứng nước nữa hay không.
Bóng ma đe dọa chúng tôi là Valka, khu trại lớn nhất bang Bayern và khét tiếng đáng sợ bởi tình trạng tồi tệ ở trong trại, vâng, nó chính là nỗi khiếp đảm cho tất cả dân DPs. Khu trại này nằm thật ra không xa lắm, ở Nürnberg-Langwasser, là nơi chúng tôi sẽ phải đến ở, nếu chúng tôi không được lưu trú trong nhà kho nữa. Trong vai trò ông chủ vòi nước, tay gác đường tàu lẽ ra có thể quyết định xem chúng tôi có phải đến trại Valka hay không rồi đấy. Có vẻ hắn rất cay cú và đang tính toán xem hắn có dám chống lại ý muốn của ông chủ nhà máy, thậm chí có thể tố cáo ông hay không. Hắn thường vừa hằn học vừa thèm thuồng nhìn chằm chặp vào mẹ tôi trong bộ quần áo sờn rách, mỗi khi bà đứng trước mặt hắn và chờ cho dòng nước ri rỉ từ vòi ra chảy đầy hai thùng nước; trong bụng bà chỉ nơm nớp lo sẽ chuyện gì đó xảy ra, cắt đứt sợi dây mỏng manh còn giữ cho bà chưa rơi vào trại Valka khủng khiếp nọ. Đi xách nước về, hai tay hai xô nước nặng kéo đôi vai bà trĩu xuống, thường mẹ tôi vẫn ròng ròng nước mắt trên gương mặt đờ đẫn tỏ rõ tâm trạng “tôi chịu không nổi nữa rồi”. Bố tôi không bao giờ hiểu nổi tâm hồn nhạy cảm của mẹ tôi, ông luôn cằn nhằn bà vô tích sự, động một tí là hốt hoảng, sợ rúm sợ ró cả người. Cái gì cũng phải một tay ông làm, từ nấu ăn, vá quần vá áo, đến tìm cách này cách khác nuôi cả nhà. Ông chỉ yêu cầu vợ, thôi thì lo làm sao cho nhà kho được sạch sẽ và đủ nước dùng mà cũng không được nốt.
Ngoài gã gác đường tàu cũng còn nhiều người khác không ưa gì nhóm người Nga cư ngụ trong khuôn viên nhà máy. Về đêm thường vẫn nghe thấy tiếng chân người, tiếng thì thào hay ánh đèn pin bất chợt rọi qua cửa sổ, hoặc ai đó lay lay cửa kho. Đứa bé khóc ré lên, bà mẹ hốt hoảng bật dậy lấy tay bịt miệng nó. Chẳng ai biết ngoài kia bọn nào đang rình rập, soi mói. Bọn cầu bơ cầu bất, bọn trộm cắp ư? Nhưng chúng tôi còn gì đâu mà lấy mới được chứ? Phần chắc đấy là đám người căm ghét dân Nga, như gã gác đường tàu, bọn người tìm mọi cách dọa dẫm mấy người sống chui lủi bất hợp pháp trong nhà kho này, làm họ mất ngủ, cho họ một trận hết hồn hết vía, thậm chí thủ tiêu họ cho hả dạ.
Tuy thế, cuộc sống trong nhà kho vẫn có nhịp hàng ngày của nó. Bên cạnh nghề làm nghệ sĩ mua vui cho binh lính Mĩ, bố tôi còn làm thêm nghề khác nữa. Dùng số thuốc lá và sô cô la Mĩ được nhận thay lương, bố tôi đem đi đổi chác ngoài chợ đen, ngoài ra, ông còn thu nhặt sắt vụn đem bán như nhiều người khác thời đó. Làm việc này, có vẻ như ông chở củi về rừng, vì trong kho đã đầy sắt vụn, nhưng số sắt vụn trong kho không phải của chúng tôi. Tối tối, trong khi bố đi hát cho lính Mĩ nghe, mẹ với tôi phải phân loại số sắt vụn bố lượm nhặt ngoài phố đem về. Thắp đèn dầu lên, mẹ con tôi ngồi bệt ra nền nhà mà làm. Có một thứ thần kỳ, gọi là cục nam châm, giúp chúng tôi phân loại sắt còn tốt với sắt đã gỉ. Mẹ chỉ cho tôi xem, dùng nam châm không những tôi có thể làm cho các mẩu sắt nhảy cẫng lên, tôi còn bắt chúng xếp hàng dài chạy theo nhau mà không cần đụng tay vào. Đó là thứ sắt vụn đáng giá chúng tôi phải tách khỏi sắt gỉ, để hôm sau bố tôi sẽ đem bán cho cửa hàng thu mua sắt vụn. Ông dùng số tiền thu được này mua bánh mì, cải bắp, cải củ và muối đem về nhà.
Có lần bố tôi vác một chiếc xe đạp nam nặng trình trịch từ chợ trời về nhà, lần khác là chiếc đồng hồ đeo tay xinh xắn cho mẹ tôi. Mẹ chưa bao giờ có vật gì quý giá như thế, nên chẳng mấy khi bà dám đeo lên tay. Phần mình, dần dần tôi cũng hiểu rằng người Đức nhìn chúng tôi chỉ bằng nửa con mắt, cho nên tôi rất muốn cho họ thấy rằng họ nhầm to. Một hôm, tôi đem chiếc đồng hồ đeo tay xinh xinh óng ánh mạ vàng đưa cho một ông công nhân lạ hoắc đang làm việc ngoài sân. Lúc đầu, ông ta chỉ cười cười và lắc đầu không nhận, nhưng khi tôi bập bẹ đôi tiếng Đức và ra hiệu cho ông ta hiểu, ông cứ cầm đi, thứ này nhà tôi có hàng đống, thì ông ta cẩn thận nhìn quanh, đút nhanh món quà trên trời rơi xuống này cho vào túi, rồi vội vã lên xe đạp phóng đi. Mẹ tôi tìm chiếc đồng hồ suốt mấy tuần liền, vì tiếc thì ít, vì sợ bố tôi thì nhiều, vì ông sẽ lại bảo bà không quý món quà ông tặng bà. Chuyện chiếc đồng hồ không cánh mà bay này còn trở thành đề tài rất lâu cho các cuộc cãi cọ của bố mẹ tôi; bố nhắc đi nhắc lại mãi chuyện này để làm chứng cho việc mẹ tôi là người vô tâm thế nào.
Có lẽ cuộc sống bao quanh bà, thoạt đầu là ở Ukraine, sau ở Đức, đã khiến mẹ tôi tin vào sự hèn mọn của chính mình từ lâu rồi; nhưng mỗi khi bà cố tìm lấy chút tự tin cho mình thì bố tôi lại chính là người làm tiêu tan hết sự tự tin đó. Tình yêu dạo nào ông dành cho bà hình như chẳng còn là bao, bà có vẻ chỉ còn là gánh nặng cho ông nữa mà thôi. Trên đất Đức, bà chỉ còn trông mong vào tình yêu thương của độc mình tôi. Mỗi khi bà bảo mình không phải mẹ tôi, có lẽ một phần do bà muốn an ủi tôi, phần khác có thể bà muốn khiêu khích buộc tôi phải cãi lại bà. Mẹ tôi bảo người mẹ thật của tôi tóc cũng vàng như tóc tôi, bà ấy là một người đàn bà Đức tuyệt đẹp, sống trong căn nhà có bàn ghế và vòi nước riêng, rồi sẽ đến ngày bà ấy đến đón tôi đi khỏi đây. Mẹ kể cho tôi nghe câu chuyện về đứa trẻ Moses bị mẹ đẻ cho vào giỏ rồi thả trôi theo dòng sông Nile nhưng sau đó được nàng công chúa đi tàu thủy cứu sống. Mẹ tôi hát tôi nghe bài hát Nga về con chim cu, chim kuckushka, mất con và suốt đời cất tiếng buồn bã gọi con. Tất cả những câu chuyện như thế làm tôi bán tín bán nghi về số phận con rơi của mình. Một đường thì quả thật, tôi không muốn gì hơn là được làm con một bà mẹ Đức và sống trong căn nhà sang trọng của Đức như nhà ông chủ nhà máy bên kia sân, nằm giữa khu vườn cây ăn quả và rực rỡ hoa hồng; đường khác lòng tôi buồn vô hạn vì mình không phải con mẹ. Tôi khóc, tôi hét to, tôi vung tay dậm chân, đòi mẹ phải nhận rằng đã nói dối tôi, rằng mẹ là mẹ thật của tôi; nhưng mẹ tôi chẳng bao giờ nói như thế cả.
Đôi khi mẹ kể tôi nghe những câu chuyện bí hiểm về một thành phố thủy tinh. Một thành phố, trong đó tất tần tật đều bằng thủy tinh, nhà cửa, bàn ghế, phố xá, ngay cả giày dép dân tình mang trên đường phố cũng vậy. Ai nấy đều cầm khăn lau trắng như tuyết, hễ có hạt bụi hay vết bẩn nào là lau ngay cho bằng sạch. Tôi không hiểu mẹ tôi ám chỉ gì qua câu chuyện đó, không biết thành phố thủy tinh sạch như lau như ly ấy hàm ý gì. Phải chăng, đối với bà, đó là bức tranh đối ngược với cảnh sống nghèo hèn bẩn thỉu bà đang phải sống, hay bà tự cảm thấy chính mình là vết nhơ ở đời này, cũng có thể đó là bức tranh mà ngay từ dạo đó đã phản ánh nỗi thèm khát và ước mong của bà được thoát ly khỏi cõi đời.
Đa phần dân tha hương, cũng như gia đình tôi, đều sống trong niềm hy vọng một ngày nào đó sẽ được sang Mĩ. Tại vùng do quân Mĩ chiếm đóng, người ta đặt cơ quan đại diện lâm thời của Tổng lãnh sự Mĩ trong một trại lính đáng ghê tởm nào đó, là nơi những người tha hương mong muốn xuất cảnh tạm thời trú ngụ trong khi chờ xét duyệt giấy tờ. Chuyến đi đến đó có lẽ là chuyến đi xa đầu tiên trong đời tôi, nhưng tôi không nhớ gì nữa. Tôi chỉ nhớ đến một trại lính xập xệ và một bà ngươi Mĩ, mà sau nhiều ngày đứng xếp hàng trong các dãy hành lang thông thống gió và đông người, tôi mới được trông thấy mặt. Trong lúc bà ta hỏi bố mẹ tôi hết câu hỏi này đến câu hỏi khác bằng một thứ tiếng Nga trọ trẹ, bà ta thoăn thoắt, thoăn thoắt gõ những ngón tay có móng sơn đỏ lấp lánh lên bàn phím chiếc máy chữ thân đổ bằng gang. Bà ta có mái tóc xoăn tự nhiên màu vàng bàng bạc, ở mép đôi môi dày bôi son đỏ chót của bà ta vắt vẻo điếu thuốc đang cháy dở và mùi thuốc lá trộn lẫn với mùi một thứ nước hoa khó tả - đó là ấn tượng đầu tiên của tôi về nước Mĩ.
Lúc ấy đang mùa đông, trong trại lính lạnh ghê người, ai cũng ho, còn tôi bị sưng phổi. Đêm đêm, cả nhà tôi ngủ trong một hội trường toàn người với người, và tôi thấy một con thỏ đen to tướng ngồi chồm hỗm, đè nặng lên ngực tôi và giương đôi mắt vàng giận dữ nhìn tôi trong bóng tối. Nó nặng đến mức tôi không sao thở được nữa, tôi bị ngạt, người tôi nóng ran, tôi hổn hển thở, nhưng rồi tôi cảm thấy những ngón tay mát dịu của mẹ tôi đang xoa xoa một thứ dầu xoa kỳ diệu màu xanh xanh lên ngực tôi, thứ dầu xoa ông bác sĩ người Mĩ kê đơn cho tôi. Tôi chưa bao giờ thấy có gì dễ chịu hơn thứ dầu xoa đó. Cái mùi hăng hắc của nó xộc vào mũi tôi, làm tôi lập tức thấy nhẹ nhàng và dễ thở hơn, còn con thỏ kinh khủng nọ thì biến mất đi đường nào.
Ngoài ra, trong trí nhớ sâu thẳm của tôi về nơi tập trung hàng ngàn dân tha hương chờ ngày được xuất cảnh sang Mĩ ấy, tôi chỉ còn nhớ thêm cặp bé gái sinh đôi người Nga nữa thôi. Tôi vừa ốm dậy và nắm tay mẹ tôi đi ra phố thì gặp hai đứa chúng nó đi ngược chiều, đứa nào cũng tóc đuôi sam màu mật ong tết dày cộp. Đấy là hai đứa thuộc nhà được tuyển chọn và cấp thị thực sang Mĩ. Và ngay từ lúc này, trên đường phố điêu tàn của nước Đức sau chiến tranh, giữa trại lính đổ nát bẩn thỉu này, xung quanh chúng nó đã rực rỡ ánh hào quang của một thế giới khác lạ và xa vời, ánh hào quang lấp lánh của một cuộc đời mới trước mắt, tại vương quốc đầy bí ẩn của tự do và hạnh phúc, một nơi có lẽ luôn luôn sẵn sàng mọi thứ dầu xoa thần kỳ chữa bách bệnh trên đời.
Thật ra, trong tiềm thức, mẹ rất sợ gia đình tôi cũng sẽ nhận được thị thực đi Mĩ. Bà cầm chắc rằng con tàu sẽ chìm dọc đường, rằng bà sẽ phải gánh chịu số phận mà hôm xưa bà đã thoát khi lên tàu thủy từ Odessa sang Rumani. Thế nhưng, bà chẳng có cớ gì để lo sợ như thế: vì gia đình chúng tôi cũng nằm trong số rất đông những người bị từ chối cấp thị thực. Chỉ có rất ít người may mắn được sang Miền Đất hứa, mọi người khác đều phải quay về các trại người tha hương của họ, còn chúng tôi - về nhà kho trong sân nhà máy. Nói cho đúng ra thì mẹ tôi chẳng bao giờ tin chúng tôi sẽ được cấp thị thực. Gặp may mắn là điều chưa bao giờ xảy ra trong đời bà, vả lại, ra đi đối với bà chẳng khác gì phản bội những người bà đã bỏ rơi, những người bị giam hãm, bị áp bức trên đất Ukraine. Cho nên đối với bà, quay trở về căn nhà kho cũng có nét gì giống như về cố hương vậy.
Hai ông bà Zyganenkos sống chung nhà kho với chúng tôi đã khôn ngoan hơn khi thấy mình không có cơ hội nào xin được thị thực vào Mĩ, nên họ đâm đơn di cư sang Brasil và chẳng bao lâu đã được cấp thị thực. Tôi vẫn còn nhớ nỗi buồn ghê gớm lạ lùng xâm chiếm lòng tôi, khi chiếc xe Goliath ọc ạch chở họ cùng ít đồ đạc tuềnh toàng rời khỏi sân nhà máy và tôi buộc phải sực tỉnh, để hiểu rằng những gì tôi vẫn tưởng là trò đùa nay bỗng thành sự thật. Rằng một ai đó, vốn thuộc về tôi, vốn là một phần của thế giới bất khả xâm phạm của tôi có thể ra đi, mãi mãi xa lìa, bất chấp tôi muốn hay không. Tôi chỉ muốn chết quách cho xong, lách người nép vào khe hở tối om om giữa nhà kho với nhà máy, một nơi chỉ có chuột, mọi thứ đều rung bần bật và chẳng có gì hơn ngoài tiếng máy dập đều đều. Mẹ tôi chạy hàng tiếng đồng hồ trong sân tìm tôi. Mãi đến tối, lúc mẹ tôi đã tưởng phải đi báo cảnh sát để nhờ họ giúp cách tìm tôi, bà mới vô tình chiếu đèn pin vào khe hở và phát hiện ra tôi ở đó. Mẹ tôi tuy gầy mảnh khảnh, nhưng cũng chưa gầy đến mức có thể lách vào khe hở với tôi được, bởi khe hở chỉ vừa cho một đứa trẻ như tôi mà thôi; bà van xin, nài nỉ tôi tự chui ra. Và tôi vừa chui ra ngoài, mình mẩy dính đầy bụi bặm, trên mặt ràn rụa nước mắt nước mũi và cứng đơ người vì lạnh, thì bố tôi đã giang tay đánh tôi tới tấp. Mẹ tôi níu tay áo bố, gào khóc xin ông dừng tay, nhưng ông vẫn đánh, cho đến lúc tôi ngã vật ra và mũi chảy cả máu mới ngừng tay. Mẹ tôi nhảy bổ vào ôm lấy tôi, gào khóc mãi không thôi, ngay cả khi bố tôi đã quay vào nhà kho và rót rượu ngồi uống một mình. Gần đây, ông rất hay ngồi uống như thế.
Ông bà Zyganenkos tuy hứa sẽ viết thư, nhưng chúng tôi chẳng bao giờ nhận được tin tức của họ nữa. Mọi linh tính chẳng lành của mẹ tôi dường như đều nghiệm cả - con tàu chở những người bạn gắn bó thân thiết với bà hình như đã bị đắm dọc đường. Về sau chúng tôi còn nghe đồn họ bị chết thê chết thảm, bị bọn ăn thịt người ở Brasil giết rồi xé xác nữa kia. Nhưng cũng có thể đó chỉ là con đẻ của nỗi ám ảnh đầy bạo lực và tràn ngập sợ hãi của người Nga, một nỗi ám ảnh mà về sau tôi sẽ còn phải nhiều lần đối mặt.
Thế là mẹ tôi còn lại một mình cùng với ông chồng và đứa con trong căn nhà kho. Bà đã phải chia tay những con người duy nhất mà ở nơi đất khách quê người bà có thể nương nhờ, những người vốn là hiện thân của quê hương Ukraine trên đất Đức. Có thể chia tay họ rồi, bà mới sực tỉnh và tự trong đáy lòng bà mới nhận ra rằng mình đã mãi mãi bị tách khỏi Ukraine, rằng trên đời này không còn chỗ nào khác cho bà, ngoài căn nhà kho mà bà đội ơn một ông chủ nhà máy người Đức mới có để dung thân, rằng bà mãi mãi phải chịu số phận một kẻ suốt đời sống trên đất nước xa lạ, một đất nước mà ở đó bà luôn luôn là kẻ ngoại bang lạ lẫm và suốt đời phụ thuộc một người chồng dường như chỉ còn căm ghét bà nữa mà thôi. Có lẽ từ hồi ấy, tôi đã cảm thấy mẹ tôi không còn chịu nổi cuộc sống này nữa và chỉ còn chực chia tay tôi để mãi mãi ra đi. Rất có thể vào cái thời xa xôi ấy chúng tôi đã hoán đổi vai trò mẹ con, rất có thể tôi khi mới lên bốn tuổi đã phải cõng bà trên vai và mang theo nỗi sợ khôn nguôi, rằng tôi sẽ đánh mất mẹ mình, nỗi sợ tôi mang theo tự lúc mới lọt lòng.
Cả ngày hầu như lúc nào tôi cũng tha thẩn chơi ngoài sân. Tôi chơi với đống sắt phế liệu, hoặc ngồi trước cửa nhà kho và nhìn theo các đoàn tàu chạy ngang rồi cố nghĩ xem chúng từ đâu đến và sẽ chạy đi đâu. Mẹ tôi luôn ngóng về quê, còn tôi lại mong ngóng những miền đất xa lạ. Dường như lúc nào tôi cũng tự hỏi, không biết trông bên ngoài khu sân nhà máy này nó thế nào, khu sân tôi không được rời xa, vì ngay bên ngoài đã là con phố Leyher đầy nguy hiểm. Nếu có ai đi ngang, tôi lại cố nói đôi câu tiếng Đức tôi học lỏm tự lúc nào chẳng biết. Tôi làm một hơi cả grüß Gott lẫn auf Wiedersehen, grüß Gott để chào khi gặp mặt, và auf Wiedersehen để tạm biệt, và tôi không hiểu tại sao khi nghe tôi nói, người Đức toàn ngoác miệng ra cười.
Có những lúc tôi chẳng nhịn được nữa, cứ thế chạy ra phố, theo một lối đi hẹp và không trải nhựa. Rồi tôi đứng đó nhìn ra xung quanh. Tôi ngắm nghía các ngôi nhà người Đức ở, nhà ra nhà, to cao, bằng gạch, mà tôi cứ nghĩ chẳng khác gì các lâu đài. Người Đức họ mắc rèm trắng tinh tại các khung cửa sổ, đằng sau cửa kính là những cây gì màu lục, lá trông như bằng da, trồng trong chậu. Tôi thèm thuồng nhìn những ổ bánh rắc đường trong tủ kính lò bánh, nơi mà những khi có tiền, mẹ tôi vẫn mua bánh mì đen của Đức, thứ bánh có vị khác hẳn bánh mì trắng của Mĩ. Tôi ngắm nghía các khuôn mặt người Đức, nhìn kính họ mang, kiểu tóc họ để, túi xắc, ô dù, mũ mãng họ đội trên đầu. Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là hóa ra cũng có cả bọn trẻ con Đức nữa. Chúng nó dùng phấn vẽ các ô nho nhỏ lên vỉa hè rồi thi nhau nhảy từ ô này sang ô khác. Tôi tò mò lắng nghe thứ tiếng lạ tai, thứ tiếng khác biệt tôi nghe không hiểu gì, nhưng tôi cũng đoán nó là chìa khóa dẫn vào thế giới của người Đức - một thế giới của vô số vòi nước chảy và đèn điện sáng trưng.
Thường thường, tôi phải trả giá đắt cho những cuộc phiêu lưu như thế. Mẹ tôi mà bắt được, mà thường là như thế, thì thể nào tôi cũng bị mười roi vào mông đít để trần. Đấy là thỏa thuận giữa hai mẹ con, tôi được chọn hoặc bị đòn đau, hoặc chừa ra phố. Mẹ tôi không mắng, bà cũng chẳng giận dữ gì, bà chỉ thi hành thỏa thuận của tôi với bà mà thôi. Tôi chọn bị đòn thì tôi phải chịu. Roi quất bằng thắt lưng đau rát như lửa bỏng, thế nhưng, nếu như dạo còn bé bỏng tôi đã gào khóc thế nào, thì bây giờ tôi đã học được cách nín thinh chịu đòn như thế. Không bao giờ tôi co người tránh roi, không bao giờ tôi kêu lên một tiếng để mẹ biết tôi đang rất đau, đang rất khổ sở vì ăn đòn của bà.
Một hôm, sau bụi rậm trước nhà ông chủ xưởng, tôi nhìn thấy một đứa con gái - một đứa con gái cùng cỡ tuổi mà lần đầu tiên tôi bắt gặp ở sân nhà máy. Mặc dù tôi bị nghiêm cấm lân la đến gần nhà ông chủ nhà máy, thế nhưng, đứa bé lạ mặt đứng sau cổng nhà vườn và vẫy tay gọi tôi kia đã thu hút đến mức tôi không thể cưỡng lại được. Hai đứa chúng tôi đứng đối diện nhau, đứa này tò mò ngắm nghía đứa kia. Con bé mặc áo liền váy sáng màu có tay áo bồng và mái tóc xoăn trên đầu. Nó vừa cười vừa mở cửa vườn cho tôi, và lần đầu tiên tôi bước vào miền đất lạ tôi chưa từng khám phá - terra incognita - phía sau hàng rào, là nơi thuộc về vương quốc của ông chủ và ân nhân nhà chúng tôi, con người nắm trong tay sự tồn tại hay không tồn tại của gia đình chúng tôi. Con bé cho tôi xem con búp bê của nó, con búp bê như sống thật, biết mở mắt, nhắm mắt và biết gọi cả mẹ ơi nữa chứ. Lúc ẵm con búp bê lên tay, tôi chóng cả mặt. Con bé còn có cả một chiếc xe lăn và nó chỉ cho tôi cách chạy xe và bảo tôi lên xe chạy thử. Thế nhưng tôi không kịp thử nữa. Mẹ tôi nắm cổ áo tôi lôi ra khỏi khu vườn. Tôi không kịp bước theo bà, tôi ngã ra và bị kéo xềnh xệch qua hết cái sân rộng của nhà máy vãi đầy cả sắt vụn lẫn mảnh chai, khiến mấy tuần sau đầu gối tôi vẫn sưng vù. Tôi không bao giờ gặp lại con bé lạ mặt ở sau hàng rào nữa, cho dù tôi rất hay ngóng nhìn về phía nó đứng hôm ấy, chỉ còn độc vết sẹo ở đầu gối bên phải, cho đến tận giờ, vẫn làm tôi nhớ đến nó nữa thôi.
Thế rồi, cái ngày mà ngay từ đầu mẹ tôi vẫn lo ngại và e sợ ấy, rốt cuộc cũng đến. Không biết do đâu mà nhà chức trách Đức ra lệnh buộc chúng tôi phải vào ở trong trại Valka. Ông chủ nhà máy không còn cách gì giúp chúng tôi nữa, ông ta bị bó chân bó tay mất rồi. Để chia tay, ông ấy tặng mẹ tôi chiếc trâm cổ và quý giá dùng để gài trước ngực áo: chiếc trâm hình con kỳ nhông bằng vàng có gắn viên ngọc lục bảo con con trên thân.
Món đồ trang sức mà bố mẹ tôi, vì một lẽ nào đó, dù có túng bấn đến thế nào đi nữa cũng không bao giờ bán lấy tiền. Sau khi mẹ qua đời, tôi còn mang nó trên áo rất lâu cho đến khi để nó thất lạc đi đâu đó. Song, cho đến tận giờ tôi vẫn tự hỏi, ông chủ xưởng người Đức can đảm ấy là ai, một người đã năm năm liền che chở cưu mang gia đình chúng tôi một cách bất hợp pháp trong khu sân nhà máy do ông làm chủ và đã tặng mẹ tôi món quà quý giá, như thể ông đã trao cho mẹ tôi khoản bồi thường mà lão chủ Friedrich Flick đã quỵt của công nhân bị cưỡng bức vậy. Tôi quên mất, hay đúng hơn là tôi không hề biết tên tuổi vị ân nhân khó hiểu đó của gia đình chúng tôi là gì. Sau này, lúc trên đường tìm lại các dấu vết cũ, tôi lần trở lại dải đất xưa nằm giữa đường ranh ngăn Nürnberg với Fürth ấy, nơi từng có căn nhà kho của chúng tôi, thì không còn gì nữa, đến cả khu nhà máy cũng biến mất. Nhìn ra xung quanh, tôi chỉ còn thấy các siêu thị cùng các đường xe hơi chạy băng băng, và đoạn đường sắt được đắp cao lên hôm xưa, trên đó các đoàn tàu vẫn nối đuôi nhau băng qua.
Cho đến năm 1938, các dãy lán trong trại Valka tại Nürnberg- Langwasser vốn vẫn được dùng làm chỗ trú chân cho đại biểu các đại hội đảng (Quốc xã) với các cuộc diễu hành khổng lồ và Lễ Tế cờ tuyên thệ của chúng. Về sau có dạo chúng cũng được dùng làm nơi giam giữ tù binh Liên Xô. Nhưng lúc nhà tôi chuyển đến ở, khu trại đã biến thành một thành phố nho nhỏ, với bốn ngàn dân tha hương thuộc ba chục quốc tịch khác nhau sống chen sống chúc, phần lớn ngay từ dạo chiến tranh vừa kết thúc - bốn ngàn con người không biết làm gì với chính sinh mạng vừa được cứu vớt của mình. Có hơn chục ngôn ngữ được dùng loạn xạ ở đây, duy có tiếng Đức thì chẳng ai thông thạo. Tất cả đều chung một số phận, họ vốn đều là công nhân bị cưỡng bức sang làm công tại Đế chế do Hitler dựng nên. Vốn là những nô lệ mà đâu đâu trên đất Đức cũng từng cần đến, giờ đây họ đâm ra thất nghiệp, trở thành tàn dư chẳng ai màng đến của cuộc chiến bại vừa qua. Khu trại này mang tên Valka, là tên của một thành phố nhỏ nằm ở biên giới hai nước Latvia và Estonia, song dân Nga gắn thêm chữ s ra trước thành Svalka, nghĩa là “đống rác”. Cũng giống như thành phố Valka vùng Baltic, trại này gần đây vẫn bị chia làm hai, phần phía đông cho đến năm 1949 là nơi giam giữ các quan chức Đảng Quốc xã NSDAP, phần phía tây dành cho dân tha hương DPs. Thế là thủ phạm và nạn nhân sinh sống sát sườn nhau, bên khu đất bỏ hoang vốn dùng để tổ chức các đại hội Đảng toàn đế chế, và bây giờ cũng chịu chung số phận với chúng tôi: chẳng ai cần đến nữa. Bãi đất mênh mông, nơi mà trước đây Hitler vẫn đăng đàn diễn thuyết ấy, bây giờ biến thành nơi chơi bóng bầu dục cho binh lính Mĩ.
Quân Đồng minh những mong đám công nhân nô lệ được giải phóng này sẽ mang ơn họ mà chịu an phận qua ngày, ai dè họ nhầm to. Các trại lao động trước đây đã làm đám người này mất hết lòng tin vào luật lệ và kỷ cương trên đất Đức, họ chán nản, trở nên cứng đầu cứng cổ và hay gây gổ. Trại Valka là một địa danh nổi tiếng khắp nơi do các tệ nạn lan tràn, là nơi chung đụng của cả các dân tộc thân thiện lẫn thù hằn nhau, là mảnh đất ô nhục mang những điều tiếng xấu xa nhất trần đời. Ai cũng tìm việc làm, tìm cách kiếm tiền, cách sống qua ngày. Tất tật các dịch vụ làm ăn, trao đổi, mua bán đều diễn ra ở đây. Người đi bới các bãi rác tìm phế liệu hay moi lại những thứ của người khác vất đi, người buôn lậu thuốc lá, mua bán tranh ảnh khiêu dâm, thuốc insulin hay trăm thứ thuốc men hỗn độn khác, người đêm đêm đột nhập các quầy bán hàng ăn cắp hàng hóa, người chuyên nghề bịp bợm, trộm cướp hay lừa đảo mà sống. Thường xuyên xảy ra các vụ cãi vã, ẩu đả, đâm chém, giết người hay tự tử. Ở đây, mọi định kiến của người Đức coi người Slave là giống người dã man, dường như đều đúng cả. Bộ máy tuyên truyền Quốc xã chẳng vẫn mô tả họ như thú dữ, có sừng, có đuôi là gì. Dân Đức vẫn ngay ngáy lo sợ họ sẽ bị trả thù, nhưng nào có vụ nào xảy ra đâu. Dân trong trại quanh quẩn sống với nhau trong một thế giới cách biệt với dân Đức, một thế giới chỉ cảnh sát Đức mới dám vào truy nã, khám xét thôi. Cả bố tôi cũng nhúng tay buôn gian bán lậu gì đó mà không ai dám đả động đến. Và mẹ tôi luôn sống trong nỗi lo sợ nơm nớp rằng sẽ có ngày cảnh sát sờ gáy chúng tôi.
Dân tha hương sống trong trại được phát mỗi ngày ba bữa ăn và họ phải tự đem bát đĩa đến nơi phân phát mang về lán. Ngoài ra, mỗi tháng họ được nhận 12,5 mark tiền tiêu vặt. Cứ hai ngày một lần thì có điện, luân phiên giữa các lán dựng bằng gỗ và lán xây bằng gạch. Mỗi lán, chứa khoảng ba chục người, có một cầu tiêu và một vòi nước.
Gia đình chúng tôi phải sống trong một lán gỗ, đầy chuột và chấy rận hành hạ chúng tôi suốt đêm. Trời mà đổ mưa là trong lán chỗ nào cũng dột và ai nấy đều đem tất tật thau chậu ra hứng. Cửa sổ đóng không kín, khói lò sưởi không thông ra ngoài trời mà lan mù mịt bên trong lán, khiến vào mùa đông ai nấy đều lạnh run và ho. Đây là thời kỳ tôi nếm mùi tất cả các căn bệnh trẻ con thường mắc, từ sởi đến quai bị, từ thủy đậu đến ho gà.
Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của thời kỳ này là kỷ niệm về chuyện mẹ tôi có mang. Mẹ tôi lúc đó chỉ mới hơn ba mươi, thế nhưng trong ký ức tôi, trông bà đã rất già, héo hon, bệnh tật, với mái tóc rẽ ngôi ngay giữa đỉnh đầu và ngay ngắn búi ra sau gáy. Mẹ tôi mặc chiếc áo liền váy màu lục có sọc trắng, vạt áo đằng trước nhàu nhò, xốc lên cao do cái bụng gồ lên và trông như một quả cầu quá cỡ gắn trên thân thể gầy gò của bà. Lúc tôi hỏi, sao bụng mẹ to thế, thì tôi bắt gặp mẹ tôi thoáng mỉm cười thông đồng với bố tôi - một giây khắc gần gũi thân thiết của bố mẹ, giây khắc duy nhất còn lưu lại trong ký ức tôi. Tôi không nhớ đã bao giờ thấy hai người ôm nhau, chứ đừng nói gì đến hôn nhau hay trao cho nhau một cử chỉ âu yếm. Bởi vì gần như suốt thời niên thiếu bao giờ tôi cũng ngủ chung một phòng với bố mẹ, nên chắc chắn tôi cũng phải chứng kiến bố mẹ tôi yêu nhau chứ, mặc dù những gì họ làm khó mà gọi là tình yêu thật sự. Thế nhưng, hoặc chuyện đó đã xảy ra theo một cách lặng lẽ đến mức tôi chẳng biết gì, hoặc tôi cảm thấy hình ảnh diễn ra trên cái giường tối om om của bố mẹ tôi kỳ quái bí hiểm đến mức đầu óc con trẻ của tôi lập tức gạt nó ra khỏi trí nhớ.
Trong trại Valka, đòn tra tấn ngày ngày đối với mẹ tôi là tiếng ồn mà mẹ không bao giờ chịu đựng nổi. Trong trại công nhân năm xưa, tiếng ồn có lẽ đỡ hơn là vì sau một ngày làm việc kiệt sức, ai nấy đều lăn ra ngủ. Trong các túp lều ở trại Valka diễn ra cuộc sống của những con người suốt ngày không biết làm gì và phần đông đều bị hành hạ khổ sở vì những thứ mà ngày nay được gọi là rối loạn stress sau sang chấn hay hậu chấn tâm lý: mất ngủ, ác mộng, lo âu sợ hãi, dễ cáu bẳn, trầm cảm, bị ảo giác, hung hãn không kiềm chế được mình vv… chưa kể các tổn thương về thể chất làm khá nhiều dân tha phương DPs thiệt mạng, ngay cả sau khi họ được giải thoát. Bầu không khí trong các túp lều chật chội bao giờ cũng căng thẳng. Không ai chịu nói nhỏ, ai cũng phải hò hét quát tháo ầm ầm mới hiểu được nhau. Bao giờ cũng có tiếng cãi vã, rên la hay tiếng cười vang lên, người ta nghe của nhau từng lời, từng cái hắt hơi, từng tiếng thở dài, mọi tiếng động hòa vào nhau thành một thớ tạp âm chối tai không bao giờ dứt. Nhất là vào mùa đông hay lúc xấu trời, khi các hành lang nhỏ hẹp biến thành chỗ cho tụi trẻ con chơi bời chạy nhảy thì hầu như bao giờ chúng cũng bị quát tháo vì ai đó đang vội vã chạy ra cầu tiêu hay ì ạch xách xô lấy nước ở chiếc vòi ở tận cuối hành lang.
Tiếng ồn càng làm mẹ tôi, vốn đã cô đơn, càng cô đơn hơn. Bà thường phải bịt tai chạy ra ngoài, trốn khỏi túp lều mà ngoài tiếng ồn làm cho khổ sở, bà còn bị một bà già điên rồ người Estonia luôn mồm chửi mắng bằng tiếng Nga một cách vô cớ. Không rõ vì lẽ gì mà người đàn bà điên điên khùng khùng ấy lại nhằm đúng mẹ tôi mà trút hết mọi nỗi căm hờn tức giận, bà ta chửi mẹ tôi là con mẹ cộng sản, là con điếm Do Thái, là gián điệp Mĩ, là đồ tay sai đĩ thõa của bọn Quốc xã. Mẹ tôi chẳng biết chống đỡ bằng cách nào, chỉ biết khóc, có khi khóc suốt ngày, mặc dù thật ra mẹ tôi có bao giờ ngưng khóc đâu. Bởi nỗi đau lớn nhất của bà vẫn là nỗi đau nhớ nhà, nỗi nhớ không ngớt hành hạ, giống như cơn khát đã không bao giờ dịu, lại còn dằn vặt ta mỗi lúc một dữ dội, cho đến khi ta vì thế mà lăn ra chết mới thôi.
Đối với tôi, trại Valka trước hết là nơi tôi bắt đầu vào học ở nhà trường Đức. Bức ảnh chụp ngày tựu trường đầu tiên cho thấy ba mươi chín đứa trẻ xếp thành ba hàng, với một ngôi lán xập xệ làm nền ở phía sau. Hai hàng con gái, phía trước là hàng con trai ngồi xếp bằng dưới chân tụi con gái. Bốn đứa không có túi đựng quà ngày tựu trường đầu tiên. Một đứa trong số đó là tôi. Tóc vàng chóe nhất bọn, mặt mày rạng rỡ, dù trong tay không có túi quà.
Đây là ngôi trường dành cho trẻ con sống trong trại và trước hết phải học tiếng Đức đã. Do từ dạo ở trong nhà kho tại sân nhà máy tôi đã được mẹ dạy, cho nên khi đến trường của Đức, tôi đã biết viết và đọc tiếng Nga, tôi thuộc nhiều chuyện ngụ ngôn của Ivan Krulov, các câu chuyện thần tiên dành cho trẻ con của Samuil Marshak, tôi còn thuộc lòng đến chục bài thơ của Alexander Pushkin và Aleksey Tolstoi chứ không ít, nhưng tiếng Đức vẫn còn là thứ âm thanh phụ đối với tôi. Đến khi bước vào trường học Đức, mọi thứ thay đổi ngay tức khắc. Đối với tôi, từ ngữ Đức bắt đầu lóe sáng, như thể chúng đã nằm ngủ và chờ sẵn rất lâu ở trong tôi, chỉ chực đến giờ được đánh thức mà thôi. Tiếng Đức bỗng trở thành sợi dây thừng vững chắc mà tôi nắm ngay lấy để đu người sang bên kia, sang thế giới của dân Đức. Mặc dù chưa với được tới, song tôi biết thế giới ấy đang chờ tôi, và đến một ngày nào đó, tôi sẽ thuộc về nó.
Từ đấy cũng bắt đầu cuộc chiến về ngôn ngữ giữa tôi với bố mẹ tôi. Ông bà dứt khoát không chịu hiểu tiếng Đức mà tôi nói. Bố tôi quả thật không hiểu, cho đến cuối đời ông cũng vẫn không hiểu, nhưng mẹ tôi, người thông thạo tiếng Đức hơn mọi người xung quanh tôi, thì không chịu hiểu. Còn tôi thì không muốn hiểu tiếng Nga của bà nữa, tôi không muốn dính líu chút nào đến thứ tiếng ấy nữa cả. Các cuộc cãi cọ xảy ra thường xuyên giữa hai mẹ con, bà định đánh tôi, nhưng tôi toàn thoát được, vả lại, tay bà yếu ớt, chẳng làm tôi đau tí nào. Bà cảm thấy bất lực với tôi, bởi tôi không sợ bà, tôi chỉ sợ bàn tay bố tôi, tuy ông rất ít đánh, chỉ đánh bao giờ mẹ trao tôi vào tay ông thôi. Đó là biện pháp cuối cùng bà làm tôi sợ, là những lời sau rốt bà đem ra dọa tôi: “Tao mách bố mày cho mà xem.” Đôi khi bà cũng tha cho tôi, khi tôi nước mắt giàn giụa dùng tiếng Nga xin bà tha thứ cho tôi về tội vô lễ hoặc nói dối bà, thế nhưng, cứ tối đến, chờ bố tôi về - thường là đã ngà ngà say - sau một chuyến làm ăn bí mật nào đó, tôi vẫn bị đòn. Rượu bao giờ cũng làm bố tôi hung hăng, nên những lời than phiền của mẹ tôi bao giờ cũng đúng lúc. Ông chửi tôi là cholera (đồ thổ tả), parasitka (đồ ăn bám), kretinka (đồ ngu), rồi một tay nắm chặt tôi, tay kia giáng xuống như bổ rìu. Vâng, mẹ tôi lúc đó là quan tòa, bố tôi là đao phủ, ra tay hành quyết.
Sau giờ học, tôi thường lang thang quanh quẩn ngoài sân trại. Tôi không còn nhớ đến bọn trẻ con khác, chỉ mang máng nhớ đến một khu đất vắng tanh, xám xịt, cháy xém và không ngọn cây nào mọc. Xa hơn nữa thì tôi chưa thoát đi được - sân trại rộng hơn sân nhà máy trước đây rất nhiều, nhưng đây là trại giam, có hàng rào dây thép gai bao quanh. Ai muốn ra khỏi hay bước vào đây đều phải do lính gác ở cổng mở rào chắn cho phép mới được.
Chẳng riêng bố tôi mới làm ăn bí mật, cả tôi cũng làm. Một gã đàn ông đáng tởm, dáng người húp ha húp híp, nói tiếng Nga lắp bắp và lúc nào cũng quấn băng trên đầu vẫy vẫy tay qua cửa sổ gọi tôi vào một căn phòng trong lán, nơi chỉ có một mình ông ta ở. Tôi phải cởi quần lót ra, kéo váy lên rồi múa may trước mặt ông ta. Tôi rất sợ và thấy kinh tởm ông ta, nhưng tôi không khỏi khoan khoái khi được phô trương và khi tôi đoán chừng mình đang toát ra sức mạnh huyền bí nào đó chế ngự ông ta, còn ông ta, trong khi chòng chọc nhìn như muốn nuốt chửng tôi, lại vừa dùng tay lắc lắc một cái vòi voi bí hiểm thò ra ở cửa quần, vừa rên ư ử. Tôi không biết tại sao ông ta làm như thế, nhưng tôi biết, chẳng mấy chốc sẽ có một thứ chất lỏng trắng nhờn nhợt phun ra từ bộ phận cơ thể bí hiểm kia và ông ta sẽ lấy khăn tay ra hứng nó. Đến đây thì màn trình diễn của tôi cũng kết thúc. Ông ta nhét cái vòi voi ỉu xìu vào quần, dặn đi dặn lại tôi không được kể cho ai nghe việc tôi vào phòng ông ta làm gì, rồi đưa cho tôi mười xu pfennig. Với số tiền công này, tôi chạy ngay ra quán tạp hóa mua kẹo mút và kẹo cao su cho mình. Chuyện này lặp đi lặp lại mãi cho đến ngày ông ta giữ chặt lấy tôi và toan nhét cái vòi voi của ông ta vào mồm tôi. Ông ta hứa cho tôi năm chục xu, một tài sản kếch xù đối với tôi, nếu tôi chịu làm, thế nhưng tôi tởm quá, không chịu nghe lời ông ta. Khó nhọc lắm tôi mới thoát được thân và chấm dứt dịch vụ làm công ăn lương bí mật ấy từ đó, để rồi từ đấy phải nén lòng kiềm chế nỗi thèm của ngọt lúc nào cũng cháy bỏng lòng tôi.
Đôi khi mẹ tôi lại nhắc lại câu chuyện, rằng xưa kia, dạo còn ở Ukraine, bà từng vào nhà tu kín vì muốn thành monaschka, tức là thành nữ tu sĩ. Mẹ tôi ngậm ngùi nói, cuộc sống hiện giờ của bà là hình phạt Chúa giáng xuống đầu bà, vì hồi xưa đã không tuân theo tiếng gọi của Chúa. Tôi biết nữ tu sĩ thì không thể có con, nên tôi hỏi ngay: “Thế con thì sao? Mẹ mà thành monaschka thì làm sao có con được?” Bà nhìn tôi bằng ánh mắt tối sầm, rồi nói: “Không chừng không có con ở đời này lại tốt hơn, con ạ. Con mà thấy những gì mẹ đã thấy, thì…” Rồi đôi mắt bà lại hướng nhìn đi đâu đó, xa xăm, vào một thế giới vô hình, trong đó không có mặt tôi.
Ban ngày, lúc bố tôi vắng nhà, thường xuất hiện một ông thầy tu người Nga, mặt mũi trông giống Lev Tolstoi trên tấm lịch tường của Nga, tuy cũ, nhưng vẫn treo trên tường của căn phòng dành cho chúng tôi tại khu lán thuộc trại Valka. Vâng, ông Andrey Sacharovich là một người đàn ông nhỏ con, gầy gò, có nước da của người ăn chay trường và bộ râu bạc lưa thưa. Ông ta vốn là công nhân bị cưỡng bức từng làm việc tại một khu mỏ, và bao giờ cũng mang theo mình quyển Kinh Thánh bọc trong giấy báo. Bố tôi bảo ông này bỏ bùa mẹ tôi, làm bệnh tâm thần của bà nặng thêm; vả lại, bố còn nghi hai người lén lút ăn nằm với nhau, cho nên cấm mẹ tôi gặp ông ấy. Từ đấy, do bắt được thóp, nếu mẹ dọa mách tội tôi với bố để ông đánh đòn tôi, thì tôi liền bốp chát lại: “Đã thế con mách bố, hôm nay ông Andrey Sacharovich lại đến chơi.”
Thế nhưng dưới mắt tôi, mối quan hệ giữa ông ấy với mẹ tôi chỉ hoàn toàn là mối quan hệ tôn giáo huyền bí, giữa ông cha truyền đạo với một monaschka mất lòng tin vào Chúa. Mẹ tôi mong ông cải tâm cho bà, giúp bà lấy lại lòng tin vào Đức Chúa từ bi và lòng lành bà từng đánh mất. Bà chăm chú nghe như muốn nuốt từng lời ông ta diễn giảng hay trích đọc từ Kinh Thánh ra, thế nhưng, các cuộc gặp gỡ giữa hai người dường như bao giờ cũng kết thúc trong cuộc cãi vã gay gắt mà nội dung cãi cọ là gì thì tôi không hiểu. Tôi chỉ mang máng là ông Andrey Sacharovich hết lòng bênh vực, còn mẹ tôi lại trách móc Chúa, có lẽ về tất cả những gì bà từng chứng kiến và chịu đựng, những gì tôi cũng thật lòng muốn được một lần chứng kiến và trải qua, đặng hiểu được lòng mẹ tôi, khám phá được bí mật gây ra nỗi đau khôn nguôi và vô biên bà ấp ủ trong lòng. Nỗi đau đó tuy làm tôi kinh hãi thật, song tôi cũng khao khát được biết xem nó thế nào. Chính vì thế, lời cầu nguyện tha thiết của tôi mỗi tối hầu như bao giờ cũng là: “Lạy Chúa, xin Người cho con được một lần cảm nhận những gì mẹ con cảm nhận, để con hiểu được mẹ con.”
Mỗi khi ghé thăm mẹ tôi, ông Andrey Sacharovich không những chỉ đem theo Kinh Thánh mà thôi, thường thường ông còn mang theo một thứ bánh tự tay ông rán trên bếp dầu nhà ông, cũng gói trong báo, thứ bánh hoàn toàn khác xa các món ăn phát trong trại, là thứ xúp sền sệt và khoai nghiền mà tôi không ăn nổi đến hai thìa, khiến tôi gầy đét đi một cách đáng sợ, đến mức bị liệt vào số trẻ suy dinh dưỡng nặng và Hội Chữ Thập Đỏ phải chi tiền cho đi an dưỡng. Tôi phải đi điều trị những hai lần, tại những khu điều trị dành cho trẻ con nằm đâu đó ở miền núi xứ Bayern, những lần điều trị mà khi trở về, tôi gầy xọp hơn cả trước khi đi, bởi vì tôi đã không thể nuốt trôi, mà còn ói hết ra các món ăn kiểu Đức xa lạ mà tôi bị nhồi nhét vào họng, như bánh bao khoai tây, xúc xích dồi, ragu phổi, hay mì ống hấp.
Nhưng bánh rán Nga ngọt ngào của ông Andrey Sacharovich là thứ bánh ngon tuyệt vời nhất mà tôi từng được ăn. Tôi nghĩ, thứ bánh Chúa ban từ trên trời xuống sa mạc cho con chiên mình, tức là dân Israel như mẹ tôi vẫn kể, chắc chắn cũng chỉ ngon đến thế là cùng. Có điều ông Andrey Sacharovich không những chỉ mang bánh ngọt đến, mà cả một thứ bột xanh xanh vàng vàng rất đắng, gọi là bột ký ninh. Ông ấy bảo thứ bột này có thể chữa bách bệnh, kể cả bệnh thấp khớp, bệnh nhức đầu, đau tim, loét dạ dày của mẹ tôi, cũng như làm dịu những nỗi đau luôn luôn hành hạ cả linh hồn lẫn thể xác bà. Cả tôi cũng phải uống một ít thứ bột đó, nhưng hai mẹ con tôi phải uống kèm với một cốc to đầy nước, bởi thứ bột ấy đắng không tả được. Ấy thế mà ông Andrey Sacharovich thì không cần nước, cứ thế nuốt đánh ực mà không thèm nhăn cả mặt. “Nào nó có đắng đâu,” ông ấy bảo, “ấy là ta cứ nghĩ nó đắng thôi.”
Phần mình, tôi cũng thật sự cảm thấy ký ninh có tác dụng thật, tôi có thể chạy nhanh hơn, lâu hơn, như thể một sức mạnh mới, lạ lẫm đang trỗi dậy trong người làm tôi gần như bất khả xâm phạm vậy. Có lẽ điều đó cũng góp phần làm cho các vụ đụng độ giữa mẹ với tôi ngày càng gay gắt hơn. Tôi không chịu nghe mẹ dạy, cái gì tôi được làm, cái gì không được phép làm nữa, tôi hầu như không ló mặt về nhà, và nhất là tôi tuyền nói dối. Nói dối có phải là điều đáng xấu hổ nhất của tôi vào thời niên thiếu, một lời nguyền mà tôi không sao thoát được không? Tôi cứ luôn nói dối, hoàn toàn vô cớ, chẳng để làm gì, tôi nói dối chỉ vì chẳng rõ tại sao, tôi không mở mồm nói thật được. Không biết phải đối phó thế nào với tôi nữa, mẹ tôi tuyệt vọng đến mức phải vận đến một hình thức trừng phạt cổ xưa từng ghi trong Kinh Cựu ước. Bà gắn một tấm các tông to lên tường rồi dùng mực đen viết một dòng chữ to tướng lên đó. Natascha nói dối mẹ, bằng cả tiếng Nga lẫn tiếng Đức. Bây giờ có ai đến chơi, tôi sẽ không được phép bỏ đi, mà phải chịu đựng sự bêu riếu công khai đó, tôi sẽ phải ngượng chín người chờ khách khứa vào phòng, đọc dòng chữ ấy trước rồi sẽ đưa mắt nhìn tôi. Song, điều tôi sợ nhất bây giờ là nếu ông Andrey Sacharovich đến thì tôi có cảm giác như dưới ánh mắt ông ấy, chắc chắn người tôi sẽ bị bốc lửa ngay lập tức. Mà ông ấy đến thật. Ông dừng lại trước tấm các tông, đeo kính lên đọc rất kỹ và rất lâu dòng chữ mẹ tôi viết. Sau đó, chuyện bất ngờ đã xảy ra. Ông bỏ kính, rồi giật phắt tấm các tông trên tường xuống. “Chị Jevgenia Jakovlevna, chị làm gì con chị thế này?” Ông hỏi với giọng tức giận. “Chị là người thông minh, thế mà… Đây là biện pháp báng bổ con người, của Stalin, hay của Hitler thế?” Rồi, ông buồn rầu nói tiếp: “Sao chúng ta lại đổ đốn thế này chứ?” Tôi thấy mẹ đỏ cả mặt. Mũi giáo trở đầu, bây giờ đến lượt mẹ tôi phải xấu hổ. Mắt nhìn xuống, mẹ tôi quay về phía tôi nói khẽ: “Con ra ngoài sân kia mà chơi.”
Em gái tôi chào đời đúng vào thời gian chúng tôi phải chuyển đến nơi định cư mới. Mặc dù trại Valka đến giữa những năm 1960 mới bị giải thể, nhưng năm 1952 chúng tôi đã được chuyển đi, đó là năm quân M1 trao số dân tha hương DPs cho cơ quan phụ trách dân tị nạn của Đức vừa mới thành lập. Từ đó chúng tôi không còn gọi là Displaced Persons nữa, mà là “người nước ngoài vô quốc tịch”. Tuy vô quốc tịch, nhưng được quyền cư trú tại Đức. Tại ngoại vi một thành phố tỉnh lé vùng Franken nằm phía bắc Nürnberg, người ta lập một khu dân cư cho số đông những người như thế, kiểu như trại Valka thu nhỏ. Song, bây giờ không còn là nơi ở tạm thời, chưa chính thức nữa, mà là khu dân cư hẳn hoi, nơi ở thật sự đầu tiên và cũng là cuối cùng đối với đa phần dân DPs, vâng, như chỗ dừng chân cuối cùng trong đời họ vậy. Tuy dân địa phương chỉ gọi khu dân cư mới xây cho chúng tôi bên bờ sông Regnitz này là “khu nhà” thôi, nhưng đây là nơi trú ngụ nhiều tiện nghi hơn những gì chúng tôi từng mong ước. Không còn là khu nhà lán nữa, mà nhà gạch hẳn hoi, bốn nhà quây vào nhau thành hình vuông, có sân cỏ chung trồng vài ba cây bạch dương non, nhằm làm ấm lòng dân Đông Âu ở chốn này. Mỗi người được chia một căn hộ, có vòi nước chảy, điện, bếp lò to bằng gang, lò nướng và chậu nước nóng, và - thật xa hoa sang trọng làm sao! - cả buồng tắm có lò nước nóng. Xóm ghetto chúng tôi nằm ngay sau dãy nhà ngoài cùng nằm rìa thành phố - một thành phố con con và gồ ghề - và sát sạt một con phố rải nhựa. Vào những ngày nóng nực, lặng gió, bầu không khí ở đây sặc sụa mùi hôi bay ra từ khu nhà máy gọi là nhà máy chế biến xương gia súc thành keo, thứ mùi mà dân trong phố chỉ gọi là “hơi khí”. Mùi hôi này trộn lẫn với với hương thơm ngòn ngọt, dinh dính, thoát ra từ nhà máy sô cô la ở gần đó. Thật là một hổ lốn các thứ mùi, ngây ngất chóng mặt, không lẫn vào đâu được.
Thành phố này hầu như không bị tàn phá trong chiến tranh, đối với tôi, khu phố cổ trong lòng thành phố giống như thành phố trong truyện cổ tích Đức. Thành phố này có Tòa Thị chính xây từ thời Trung cổ, về mùa hè, khung bằng gỗ của tòa thị chính chìm sau những lùm hoa phong lữ sặc sỡ; có những lối đi lặng lẽ luồn lách như trong mê cung giữa những ngôi nhà Fachwerk nho nhỏ, nối tiếp nhau, với những cánh cửa sổ không bao giờ hé mở, có con sông con cuồn cuộn nước chảy, giữa lòng sông là bánh xe cối xay không ngừng quay, bức tường thành phong rêu, với các chòi canh và khe lỗ châu mai, một cung điện cũ kĩ, mục nát, có hào nước bao quanh. Thành phố này được ví như cánh cổng dẫn vào Frankische Schweiz, vâng, tỉnh lẻ của tỉnh lẻ, một nơi chỉ có nhiều thương phế binh sống và hoài nhớ thảm họa chiến tranh vừa qua, khác với tôi, những người đàn ông từng đặt chân lên đất Nga, và bây giờ chỉ còn một tay áo lủng lẳng, một mắt đeo băng đen hoặc một chân chống nạng gỗ tự làm. Hàng ngày ở đây còn diễn ra cảnh tượng xe tăng Mĩ, từng chiếc riêng lẻ hay nhiều chiếc nối đuôi nhau, chạy qua các phố, khiến cả thành phố nhỏ tí này phải rung lên bần bật. Lính Mĩ ngồi trên các xe jeep mui trần, vừa chạy qua vừa ném kẹo ngọt hay kẹo cao su cho lũ trẻ chực sẵn hai bên đường. Nông dân ở nhiều vùng lân cận thường đến đây mua mua bán bán, ai nấy đều thường đóng bộ quần áo truyền thống của địa phương trên người. Ít năm sau, sẽ có bộ phim Mĩ quay ở vùng này, mang tên Thành phổ thiếu lòng trắc ẩn, về đề tài đạo đức hai mặt và tính cách tôi tớ của dân tỉnh lẻ. Nhân vật chính trong phim, do nữ diễn viên Christine Kaufmann thủ vai, có nét giống mẹ tôi ở chỗ về cuối phim, bà cũng trầm mình xuống sông Regnitz.
Mẹ tôi không cùng chuyển nhà một lúc với hai bố con tôi, bà đến sau, đi thẳng từ nhà hộ sinh tới. Nhìn qua cửa sổ nhà bếp tôi thấy mẹ ở ngoài sân, đang bước từ xe hơi xuống. Mẹ tôi tỏ ra không hào hứng gì lắm với căn hộ mới, trên mặt bà có nét gì hoang mang, pha lẫn niềm vô vọng thầm kín. Bà ôm trên tay bọc vải trắng bao gọn em gái tôi trong đó - một đứa trẻ đến là lặng lẽ, dịu dàng, lởm chởm tóc đen và ngay từ đầu, đã giống mẹ tôi như đúc. Đối với tôi, nó là đứa trẻ kỳ lạ, dường như không bao giờ khóc mà thông thường chỉ nằm im ắng ngủ trong nôi, có vẻ hoàn toàn thỏa mãn, chẳng muốn gì thêm nữa ở đời.
Tại nơi ở mới, chúng tôi không phải nhận thức ăn nấu sẵn nữa mà mỗi tháng một lần, tự mình đến Tòa Thị chính nhận tiền trợ cấp rồi tự lo liệu mọi chuyện. Tổ chức từ thiện Caritas tặng gia đình chúng tôi ít đồ gỗ, trong đó có một chạn bếp, một chiếc vali to đùng hôi mùi mốc pha lẫn mùi hương và một tủ rương cũ, chạm trổ cầu kỳ, phải ngày nay sẽ là thứ đồ cổ quý giá, nhưng hồi đó chỉ đáng đồ vứt đi. Đó là thời kỳ mà trên đất Đức mọi thứ, nhà cửa, bàn ghế, người ngợm, phải mới mẻ, thời kỳ hồi sinh, thời kỳ người ta cố quên cuộc chiến tranh vừa qua đi. Chỉ riêng lý do đó thôi đã khiến chẳng ai ưa “khu nhà” nằm ngoài rìa thành phố này, bởi nó nhắc nhở mọi người nhớ đến một cái gì đó không ai muốn nhắc đến nữa. Tiếng xấu của trại Valka bám theo chúng tôi đến tận đây, ở đây chúng tôi vẫn bị liệt vào hạng người man rợ, một đám tội phạm đầy tội lỗi.
Ở đây chắc mẹ tôi càng cảm thấy mình lạc lõng hơn. Trong trại Valka, tuy đã rất đông người bị đuổi về quê rồi, vẫn còn người Nga, người Ukraine, hay dân Liên Xô nói chung, những người nói tiếng Nga, chứ ở đây chẳng còn ai như thế. Chúng tôi rốt cuộc đã lọt thỏm vào một thành Babylon xứ Đông Âu, đã rơi vào một nơi hỗn độn các ngôn ngữ khác nhau, trong đó người người chỉ lõm bõm hiểu nhau qua đôi từ ngữ nghe từa tựa nhau mà thôi. Mặc dù ngoài chúng tôi ra, lúc đầu ở đây cũng còn thêm duy nhất một thương binh người Nga bị cụt chân nữa, nhưng ông không lưu lại lâu ở chốn này. Ông nhớ quê hương, nỗi nhớ khiến ông không sợ chết, và bất chấp mọi lời can ngăn của mẹ tôi, ông đành dụm đủ tiền mua vé tàu, rồi chống nạng lên đường về quê hương nước Nga của ông. Ông hứa sẽ thư từ, nhưng chúng tôi chẳng bao giờ nhận được tin tức gì của ông nữa - ông mãi mãi biến mất tăm, giống như ông bà Zyganenkos ngày nào vậy.
Mang lốt người Nga, chúng tôi chẳng những biến thành kẻ thù chính trị của dân chúng Đức, mà ngay trong ghetto này chúng tôi cũng bị tẩy chay. Sự thù địch đối với chúng tôi dồn ép lại, để một buổi tối nọ bùng ra một vụ, kiểu như pogrom, chống lại gia đình tôi. Một đám đàn ông say rượu kéo đến tụ tập trước cửa sổ nhà tôi hò hét “đồ cộng sản”, “lũ bolshevik”, “đồ tay sai Stalin”, những từ ngữ mà tiếng nước nào cũng như nhau. Rồi tiếp theo là gạch đá ném vỡ toang cửa kính.
Trong dòng ký ức mờ ảo của tôi về “khu nhà”, tôi vẫn còn nhớ đôi gương mặt. Đó là cô Marianka người Ba Lan, một người có tấm thân to lớn nhưng vì rượu mạnh mà mềm nhũn, chỉ cần ai đụng vào là sa ngay vào lòng. Hình như cô không có nơi ở cố định ở “khu nhà”, lúc ở chỗ này, khi ở chỗ khác, kéo theo cả một đàn con cái đến chung sống với hết gã đàn ông này đến gã đàn ông khác. Gã nào cũng làm cô có chửa, rồi đánh đập và đuổi cô đi. Người cuối cùng là một ông Rumani một bên mắt giả, hàng xóm với cô. Đến lúc cô chết vì chứng tắc ruột thì ông còn trơ lại một mình với cả đàn con đông đảo của cô. Ông ta không biết làm gì với lũ trẻ, đành để chúng nó ở lại với mình. Gần như suốt ngày ông ấy chỉ luẩn quẩn ngoài sân, uống bia, gây gổ bảo vệ danh dự đàn ông của mình và truy lùng tung tích các ông bố của tụi trẻ không tên không tuổi ông ta đang phải nuôi hộ.
Rồi phải kể đến Farida, đứa bạn gái bí mật người Serbi của tôi, nó bị cấm không được chơi với tôi, do tôi hay rủ rê nó vào các cuộc đi chơi mạo hiểm vào thành phố, chạy nhảy trên các bãi đất bồi ven sông hoặc trong các hố đào khai thác sỏi, cho đến tối mịt mới mò về. Và không ai biết về một hành động báng bổ Đức Chúa của hai chúng tôi. Chẳng là chúng tôi liều mở cánh của - không rõ vì sao lại không khóa - dẫn vào ngôi nhà thờ nhỏ dựng trên bãi đất bồi. Bên ngoài trời nắng như đổ lửa, thế mà bầu không khí trong này lại yên ắng, mát dịu, tuy ngột ngạt và đậm mùi meo mốc. Chúng tôi xem xét chiếc ghế quay cũ kỹ của cha cố, bức tranh màu xanh khéo léo minh họa Thánh Mẫu của dân Đức đội mũ miện lấp lánh sao cũng như các chân nến bằng đồng nặng nề, chúng tôi sờ mó tấm khăn màu trắng mịn màng phủ trên ban thờ, thọc ngón tay vào mấy chậu đựng thứ nước để lâu ngày đã bốc mùi khăm khẳm, lôi tượng Chúa ra ngắm nghía, cái tượng một người đàn ông khô đét, nhô hết cả xương sườn ra, thân mình chỉ còn quấn độc chiếc khăn bằng vải thô; phía trên ban thờ có treo cây thánh giá bằng gỗ mà đối với một đứa vốn con nhà theo đạo Hồi như Farida thì còn lạ lẫm hơn cả với tôi. Thật ra, chúng tôi chẳng biết phải làm gì với phát hiện này, trong lúc bốc đồng, Farida thọc cả ngón tay vào vết thương rỉ máu ở bàn chân người bị đóng đinh lên thánh giá, nhưng thật lạ lùng là chẳng có gì xảy ra cả, đến nhíu lông mày vị Chúa Jesus của dân Đức này cũng chẳng thèm nhíu. Người cũng không buồn động đậy khi chúng tôi lắc mạnh cây Thánh giá, mọi lời chúng tôi trêu chọc Người đều bỏ ngoài tai. Tôi đập tay lên ống chân khiến Người rung lên chút ít, thế nhưng, chờ mãi không thấy sét đánh lên đầu mình, chúng tôi xoay ra trò nhổ nước bọt lên nơi tôn nghiêm này của người Đức ở địa phương, chúng tôi lôi mấy bông hoa héo cắm trong lọ trên bàn thờ xuống rồi lấy các cuống hoa đã thối ủng ném trở lại lên bàn thờ. Chúng tôi hung hăng phá phách cho đến lúc cái mão gai trên đầu Đấng Cứu thế nặn bằng đất sét rơi vỡ tan dưới nền nhà mới thôi. Đến lúc này chúng tôi mới bừng tỉnh khỏi cơn say sưa phá phách, giật mình hốt hoảng thấy mình đã gây ra chuyện tày trời thế nào và cứ thế cắm đầu chạy xuyên cánh đồng ngô chín, cánh đồng che chúng tôi khỏi những người đuổi theo, bọn người mà chúng tôi tin chắc sẽ tống cổ chúng tôi mãi mãi vào tù về tội báng bổ Chúa.
Tôi nhớ đến người đàn ông bí hiểm, ít nói và chẳng rõ xuất xứ thế nào, vâng, một chàng Hercules, người luôn đi kèm một người đàn bà thân hình nhỏ bé đi qua sân từ khu lều dành cho dân Di-gan. Chị ta lọt thỏm trong chiếc áo vét tông của ông này, áo dài gần đến mắt cá chân, để thò mỗi mép váy màu đen. Tôi chẳng thấy họ nói chuyện với nhau bao giờ, có lẽ họ không hiểu tiếng của nhau, song, cũng có thể họ không cần nói gì nữa. Chị ta lúc nào cũng đeo lủng lẳng đồ trang sức màu vàng, trên mái tóc đen nhánh vì dầu bôi bao giờ cũng cài bông hoa hồng bằng nhựa. Vâng, lọt thỏm trong chiếc áo vét tông đàn ông thùng thình, chị ta luôn sánh bước bên chàng Hercules của mình, người đàn ông ít lời và ánh mắt lườm lườm đầy vẻ hăm dọa, một người không biết may mắn thế nào mà thoát phòng hơi ngạt hôm xưa.
Còn có người đàn ông Tiệp nữa, một người bị ho lao như nhiều người khác trong “khu nhà”, thứ bệnh vào thời kỳ sau chiến tranh dễ gây chết người tại các gia đình nghèo khó nhất. Ông này mới cưới vợ người Đức, nhưng hầu như lúc nào cũng thấy ông ấy ngoài sân kéo đàn accordion các bài Rosamunde, Bên bờ Danube xanh cùng nhiều bản nhạc Tiệp khác mà chúng tôi không biết. Tôi ít nhiều mê ông ấy, bởi ông ấy chơi nhạc quá hay, với niềm thích thú không mệt mỏi, thậm chí đê mê, ngược hẳn nỗi buồn sâu thẳm trong mắt ông. Rồi một hôm, chị vợ đi làm về thấy ông nằm diết dưới nền nhà, mặt úp vào vũng máu phun ra từ lồng phổi bị hủy hoại của chính mình.
Còn phải kể đến bà mẹ của Dschemila; tiếng bà than khóc đứa con gái nhỏ bị tụi trẻ con Đức đẩy xuống sông Regnitz chết đuối vọng từ cánh cửa phòng bà hàng mấy ngày liền ra ngoài sân. Tôi nhớ, trong sân lặng như tờ, không ai bước ra ngoài, trừ mỗi mình tôi ngồi ở ngưỡng cửa và lắng nghe tiếng khóc não nùng, đau đớn vọng từ khung cửa sổ vuông vắn và đen ngòm của căn phòng Dschemila từng ngủ ra ngoài, thành từng đợt, từng đợt, lúc nghẹn ngào không ra tiếng, lúc ê a văng vẳng những lời kể lể khó hiểu. Tại bảng tin ở chân cột đèn dựng trong sân, nơi vẫn thường gắn thông báo về những tin tức sốt dẻo, hôm nay có đính mảnh giấy báo cho mọi người biết lúc nào lễ mai táng Dschemila sẽ diễn ra. Một vụ giết người mà thủ phạm không bị trừng phạt, bởi cảnh sát Đức đã mặc nhiên bỏ qua vụ này, không điều tra, không truy nã.
Dần dần cả một vài người Đức cũng chuyển đến ở tại “khu nhà”. Chúng tôi không ưa họ vì họ chen vào nơi vốn đã chật chội, tưởng chỉ dành riêng cho chúng tôi này. Chính họ, chắc chắn cũng coi việc phải chuyển đến ở tại “khu nhà” là sự nhục mạ. Đương nhiên, đám người này chỉ thuộc hạng cùng đinh trong xã hội, thế nhưng, phải sống chung đụng cùng đám công nhân bị cưỡng bức xưa kia, hẳn họ phải có cảm giác như bị đem quẳng lên đống rác vậy.
Tôi còn nhớ cặp anh em sinh đôi, hai thanh niên trẻ tóc vàng dựng đứng như chổi xể và bao giờ cũng mặc áo vét lửng hợp thời trang; cả hai đều là thợ sơn, đều đi làm và quay về cùng một lúc, với hai gương mặt lúc nào cũng lầm lầm lì lì. Bà mẹ hai anh này là một người tròn trĩnh, ít nói và búi tóc chỉnh tề; thỉnh thoảng bà đẩy xe lăn đưa ông chồng bị liệt qua lại trong sân. Cả bốn người trong gia đình họ sống thu mình, kín đáo, không chào hỏi hay chuyện trò với bất kỳ ai bao giờ.
Đúng cái lão hay thượng cẳng chân hạ cẳng tay thô bạo nhất “khu nhà”, lão Kreller, lại cùng với gia đình ở ngay tầng trên phòng chúng tôi. Lão vốn nghiện rượu nặng và thường đánh đập cả bà vợ lẫn người con gái lớn Anneliese dữ dội đến mức trần nhà trên đầu chúng tôi chỉ chực sập xuống. Mẹ với tôi sợ hết vía, rụt vai so cổ mỗi khi nghe thấy tiếng ầm ầm như sấm trên đầu - có lẽ do bàn ghế bị đập phá - rồi tiếng kêu chói tai của bà Kreller và chị con gái vang ra khắp sân. Chẳng là chị Anneliese làm nghề uốn tóc và chị giấu biệt tiền công của mình đi. Bao giờ cũng là chuyện xô xát dính dáng đến số tiền này; lão Kreller muốn lùng sục cho ra chỗ con gái giấu tiền, vốn nằm kín đáo trong lòng chiếc máy khâu, theo như lời bà Kreller nói lộ ra cho mẹ tôi biết. Chẳng bao lâu, chị Anneliese đổi đời. Chị lấy ông chủ cửa hàng da to đùng và uy tín ở phố Hauptstraße, và như thế, từ tầng lớp thấp nhất, bỗng nhảy vọt lên giai cấp tư sản sung túc đáng kính của thành phố, một cú nhảy mà dưới con mắt tôi hồi đó, là cú nhảy may mắn nhất đời. Trong bộ áo cưới trắng tinh, chị vịn vào tay chú rể, bước xuống từ chiếc Opel Rekord màu xanh da trời có cửa sổ trên nóc xe đến đỗ ngay trước cửa nhà chúng tôi - một sự kiện huy hoàng, đầu tiên mà cũng là cuối cùng, diễn ra tại “khu nhà” này. Chẳng bao lâu sau đám cưới con gái, lão Kreller bị tai biến mạch máu não và từ đó trên đầu chúng tôi trở nên yên ắng hẳn. Chỉ thỉnh thoảng lắm mới nghe tiếng lão thều thào nguyền rủa cái gì đó hoặc tiếng lão rên ư ử đầy hậm hực.
Trong khu đối diện với khu nhà chúng tôi, có một bà người Đức to lớn mập mạp như con voi mamut, chỉ còn thiếu ngà phía trước mà thôi. Người ta nói sau lưng bà ta rằng bà ta ăn cắp cà phê hạt và rượu trắng chỉ cốt để nuôi tình nhân. Ông chồng bà ta gầy chỉ còn da bọc xương, mắc chứng lao phổi nặng và phần lớn thời gian chỉ quanh quẩn ngoài sân, ngửa cổ uống bia thẳng từ chai, ho sù sụ rồi nhổ máu ra, và phơi thân mình gầy guộc của mình dưới nắng ấm. Đứa con gái khoảng mười tuổi, cổ ngẳng và tóc đuôi sam màu hung hung đúng là đứa hầu gái của mẹ nó. Mọi người thường thấy nó loay hoay lau cầu thang và quét sân, đi chợ, lau cửa kính. Mùa đông nó phải ra cửa hàng mua than, mua ít một vì không đủ tiền mua nhiều một lúc. Cho nên suốt mùa đông mọi người lại thấy nó - gầy gò, xanh xao, không chừng do lây bệnh lao của bố - cứ hàng tuần lại kéo chiếc xe con con chở đầy than đá và đôi miếng bánh than bùn chạy qua sân về nhà.
Lão quản lý khu nhà của chúng tôi cũng người Đức, một lão đàn ông già, chẳng có gì đặc sắc, chuyên dựa vào bậu cửa sổ trông ra sân, đặng suốt ngày từ sáng đến tối, canh chừng bãi cỏ Đức, như canh một mảnh đất linh thiêng màu xanh lục nằm chính giữa sân. Ai trong chúng tôi dám đặt chân lên đó, đứa nào dám để bóng lăn lên cỏ hay kẻ nào dám đi tắt qua bãi, thì cứ liệu hồn. Vào mùa hè, khi cửa sổ mọi nhà đều mở toang, thì ai nấy suốt ngày đều có thể nghe thấy tiếng lão quản lý tên Hensch ấy quát tháo như sủa qua cửa sổ, bởi lão dường như đã hết cách nhẹ nhàng dạy lũ vô học chúng tôi biết giữ gìn kỷ cương trật tự mất rồi.
Với mẹ tôi, bắt đầu cuộc sống tại “khu nhà” là bắt đầu thời kỳ bị hành hạ mới. Đứa con đầu tiên vốn đã là một thảm họa cho bà, nay bà lại phải lo cho đứa thứ hai, và căn hộ riêng đòi hỏi bà phải đóng vai trò nội trợ thật. Bố tôi hết kiên nhẫn với bà, ông không động chân động tay làm bất kỳ việc nhà nào nữa, từ nay mẹ tôi phải tự mình làm hết, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, may vá, là quần, xếp áo, nghĩa là tất tật những gì thời đại và thế giới của bà coi là thiên chức của đàn bà vậy.
Trong trại Valka hồi trước, tuy thế cũng còn có đôi người bà chuyện trò, chia sẻ nỗi nhớ quê hương đất mẹ, và còn có ông Andrey Sacharovich, người không nản lòng dùng niềm tin vào Chúa cứu vớt bà, và đồng thời, có thể cũng là người giữ vai trò người bố đối với bà. Nay bà không còn ai nữa. Bà hoàn toàn cô đơn, một người bị xua đuổi ở mọi noi mọi chốn, không những chỉ trong thế giới người Đức, không những chỉ trong “khu nhà” là nơi một “con mẹ Nga” như bà không có chỗ đứng, mà ngay cả trong quan hệ vợ chồng, mối quan hệ sau này sẽ sớm thành địa ngục đối với bà.
Tôi vào học lớp hai tại trường phổ thông do Nhà thờ Tin Lành quản lý, sau khi trường Thiên Chúa giáo dứt khoát không nhận tôi vào học. Nói đúng ra thì mới đầu trường Tin Lành cũng không muốn nhận tôi, bởi tôi là con chiên thuộc dòng Chính thống Nga, nhưng rốt cuộc ông Hiệu trưởng cũng rủ lòng thương hại và cho phép tôi được đến đây học. Ở trường trong trại Valka, tôi là đứa trẻ như mọi đứa trẻ khác, còn ở đây, ngay ngày đầu tiên tôi đã là một kẻ ngoại lệ, vâng, một cá biệt thuộc diện xấu rồi.
Ngôi trường chúng tôi nằm ngay sau khu vườn của thành phố với bức tường thành cổ vững chãi, phía trên cổng trường là phù hiệu của thành phố với hình hai con cá hồi nâu. Đối với tôi, sáng sáng đây là cổng dẫn xuống địa ngục với đám cư dân là hai mươi ba đứa trẻ cũng sinh ra sau chiến tranh như tôi, những đứa trẻ ngay từ hớp sữa mẹ đầu tiên đã hớp luôn cả lòng căm thù dành cho người Nga, những đứa mới bảy, tám tuổi đã biết người Nga là giống người hạ đẳng, là hiện thân của cái ác ở trần gian. Cô Schorrn, cô giáo chúng tôi - một nữ German tóc vàng và đôi mắt xanh ánh thép, một người không bao giờ buông roi khỏi tay và cũng không nương nhẹ khi giang tay tát - chẳng bênh tôi, mà ngược lại. Bằng các câu chuyện về tội ác của người Nga, về khoái cảm giết người và sự man rợ của họ, không khác nào cô xui tụi trẻ xông vào đánh đấm tôi. Tôi như thể là chỗ thật vừa ý cho bọn trẻ xả nỗi hung hăng dồn ứ lâu ngày, bọn trẻ mà ở nhà chúng, tinh thần chủ nghĩa Quốc xã vẫn ngự trị, bọn trẻ gần như bị chết ngột chết ngạt vì sự im lặng vốn bao trùm tất tật trong xã hội thời hậu chiến. Trút được cơn giận dữ lên đầu tôi, dường như tụi trẻ mới hít thở được khí trời một lúc vậy.
Song, đối với tôi, đáng sợ hơn cả các vụ ẩu đả trong sân trường vào giờ nghỉ hay các trận rượt đuổi sau giờ học là những lời nhạo báng, mà tụi học sinh Đức cùng lớp nắm trong tay làm vũ khí đơn giản và lợi hại chống lại tôi. Cô giáo Schorrn không bao giờ gọi tôi bằng tên riêng, chỉ gọi theo họ mà cô không bao giờ phát âm được đúng. Thay vì Wdowin, cô ấy nói Dowin; thế là tụi học sinh cùng lớp liền gọi trệch thành Doofin (con ngu). Nó biến thành biệt hiệu của tôi tại trường. Chúng cười chế nhạo mọi thứ trên người tôi, bàn chân tôi, tóc tôi, mũi tôi, quần áo tôi. Do một lần lên bảng vì sợ quá mà tôi đái cả ra quần, chúng gọi luôn tôi là “con đái dầm”, hò reo gọi tôi là “con thối”. “Con ngu không mặc quần lót, con ngu không chịu tắm rửa, con ngu hôi hám, bọn Nga rửa khoai tây trong bồn cầu tiêu.” Nếu trong lớp chẳng may mất cái gì đó, một cục tẩy, hay cái gọt bút chì thôi, chúng nó liền nghi ngay cho tôi. Đứa nào nói dối, đứa đó cũng ăn cắp, người Đức hay nói vậy, và do tôi chuyên nói dối, nên chắc chắn tôi cũng là đứa ăn cắp. Cứ nghe ai nói chữ “ăn cắp” là máu tôi đã dồn lên mặt và tôi ngồi trơ ra đó với hai má đỏ bừng, khiến đứa nào cũng nghĩ chúng nghi cho tôi là đúng, mặc dù tôi chưa bao giờ đụng đến tí của cải riêng nào của chúng nó.
Nếu có lấy cắp, thì tôi chỉ lấy tiền trong ví mẹ tôi, để trên đường đến trường mua miếng bánh ngọt, hay ít nhất một ổ bánh mì con ở hiệu bánh để thay cho bánh ăn vào giờ nghỉ mà bọn trẻ khác mang theo đến trường, thứ bánh đó mẹ không đủ sức làm cho tôi - vì bà không cắt được bánh, vì nhà ta không có giấy gói bánh, hoặc vì bà mệt quá, ốm quá, nên sáng sáng, lúc tôi phải đến trường, mẹ tôi không gượng nổi khỏi giường. Song, căn bệnh đó dường như là căn bệnh nhớ nhà bí hiểm, căn bệnh không bao giờ dứt và làm mẹ tôi mỗi ngày một thêm kiệt sức. Hầu như ngày nào mẹ tôi cũng nhắc đến ông bố qua đời quá sớm của bà, đến ông anh bà yêu thương đến thế, và nhất là về mẹ bà, người mà bà không hề hay biết liệu còn sống hay không. Vừa kể, mẹ tôi vừa khóc, hay đúng ra, như đã nói, mẹ tôi lúc nào cũng khóc, bà dường như đang héo hon cùng nước mắt và tôi không hiểu sự mất mát nào có thể gây ra nỗi đau đớn kéo dài và không bao giờ dứt như thế ở mẹ tôi. Đôi lúc, mẹ tôi ngồi bên chiếc bàn trong nhà bếp rồi dùng bút chì phác họa các gương mặt, hay đúng ra, bao giờ cũng chỉ một gương mặt duy nhất mà thôi. Tôi hình dung, có lẽ mọi người sống trong thành phố thủy tinh, thành phố mẹ từng kể cho tôi nghe ấy, đều có gương mặt giống như thế, những con người thủy tinh có đôi mắt lạnh lùng nhìn sâu thẳm vào hư không. Các bức tranh mỗi ngày một nhiều thêm, dồn lại trong ngăn kéo.
Niềm vui duy nhất kéo bà ra khỏi nỗi u sầu ấy, dù chỉ một lúc ngắn ngủi thôi, là những khi chúng tôi cùng nhau hát. Hát là phép mầu tạm thời xua đuổi hết ma quỷ xung quanh chúng tôi. Nằm trong chương trình hát của chúng tôi không những chỉ là các bài hát Nga, Ukraine, mà cả các bài hát Đức tôi học ở được ở trường và chính bố mẹ tôi cũng thích: Chiều tối êm ắng muôn nơi, Giá tôi là con chim trời, Trên núi cao dày tuyết phủ… Thường thường, mẹ tôi bắt giọng bằng giọng nữ cao, tiếp là tôi và bố sau rốt; giọng bố tôi đúng ra là nam trầm, nhưng ông chỉ đệm cho mẹ con tôi bằng các âm không lời, bởi khác với mẹ tôi, ông không hát được lời tiếng Đức. Bằng cách phát ra những tiếng bim-bam-bong trong họng giống như tiếng chuông trầm trầm, ông làm cho các bài hát Đức mang màu sắc Nga. Vào mùa hè, các nhà hàng xóm thường tụ tập trước cửa sổ mở rộng của nhà chúng tôi, nghe chúng tôi hát và vỗ tay tán thưởng. Như thế, bằng buổi hòa nhạc nhỏ của gia đình, chúng tôi giúp họ tạm hòa giải một lúc với người Nga, cũng như chính chúng tôi, trong lúc hát cùng nhau, chúng tôi hòa giải với nhau và cảm thấy mình gần gũi thuộc về nhau.
Nếu sau giờ học không bị rượt đuổi đến tận “khu nhà”, nếu tụi bạn cùng lớp không có hứng nữa và để tôi yên thân, thì tôi đi vòng qua nghĩa địa và công viên thành phố, đi ngang cây liễu to phủ lá xuống sát mặt nước một cái ao đen ngòm và bẩn thỉu, xuyên qua khu vườn mà phía trước lố nhố người Đức ngồi ăn kem dưới những cái ô che nắng nhiều màu. Mục tiêu tôi nhằm tới là khu nhà xác, nơi có thể xem mặt người chết, vốn hồi đó còn được quàn trong các áo quan mở nắp và thu hút tôi như có ma lực. Tôi ngắm nghía kỹ gương mặt những người Đức đã chết và nằm trong bầu không khí yên ắng long trọng bên trong cửa kính nhà xác, với hai cây tùng bách và nến trắng ở hai bên quan tài. Tôi chăm chú xem xét cặp mắt nhắm nghiền, đôi môi mím chặt, bộ tóc, đôi tay chắp lại trên tấm chăn trắng. Có lần tôi còn nhìn thấy cả con ruồi bò trên gương mặt nhỏ tí ti, co rúm của một bà già rồi biến mất vào lỗ mũi bà ta và, một lúc sau, lại chui ra từ cửa miệng hơi hé mở của bà. Đầu tôi luôn luẩn quẩn cùng ý nghĩ, người chết thật ra không phải chết, họ nghe thấy và cảm thấy hết mọi sự xung quanh, nhưng khi bị đem chôn thì không làm sao cựa quậy hay làm dấu cho người khác biết mình còn sống được. Lúc nào tôi cũng chờ xem một ai đó sẽ nháy mắt hay khóe miệng họ sẽ giần giật, nhay nháy, như mẹ tôi những lúc bà ngã lăn quay ra nằm thẳng đơ như người chết. Nghe bố nói, tôi biết bà không những mắc bệnh tâm thần di truyền từ một người bà con, mà còn nhận của người ấy cả trái tim quá nhỏ và yếu ớt. Bà bất chợt đưa tay ôm lấy trái tim đó rồi ngã gục ra. Tôi quen cái trò này lắm rồi, nhưng lần nào cũng như lần nào, tôi không bao giờ biết chắc được, liệu lần này có phải là lần nghiêm trọng thật không. Tôi tìm mọi cách đánh thức mẹ tôi, tôi cào cấu bà, tôi ném đủ thứ vào người bà, giật tóc bà, và, mỗi lúc một hoảng hốt bởi bà nằm yên không động đậy, tôi gào khóc, van xin bà, cho đến lúc một nụ cười thoáng hiện trên khóe miệng và bà chợt nhẹ nhàng ngồi thẳng dậy rồi mắng mỏ tôi về tội lúc nãy đánh bà. Tôi chẳng biết trong lòng mình cái gì mạnh hơn, mong ước bà thật sự chết quách đi cho xong hay nỗi sợ hãi, rằng bà sẽ chết thật. Rằng một ngày nào đó bà sẽ không thức dậy nữa hoặc, rằng bà sẽ thực hiện lời vẫn dọa chúng tôi là đi xuống nước. Đêm đêm tôi không dám ngủ, vì sợ thức dậy sẽ không thấy mẹ đâu nữa. Tôi bèn buộc một đầu sợi dây vào chân mẹ tôi, rồi nắm chặt đầu dây kia vào tay leo lên giường ngủ; vâng, như thế đấy, trong bụng lúc nào tôi cũng sợ mẹ sẽ bị làm sao, đồng thời, chính bà cũng làm tôi sợ.
Có lần, bà hỏi tôi thích ở lại với bố hay thích đi với bà xuống nước, đem cả em gái bé bỏng theo. “Không đau đâu,” mẹ tôi bảo thế, còn tôi, do không bao giờ muốn một mình ở lại với bố, và do xuống nước không đau như mẹ nói, nên tôi đồng ý đi với mẹ và em gái xuống nước ngay. Thậm chí tôi còn thấy vui mừng như được thưởng, vì được mẹ rủ đi theo.
Chắc do chờ mãi chẳng thấy ba chúng tôi đến, nên nước sông đành dâng lên tìm. Sau những ngày mưa như trút nước, sông Regnitz vốn nhỏ bé, hiền lành vô hại là thế, bỗng dâng lên thành con sông dữ dội, dòng nước nâu nâu đục ngầu cuồn cuộn chảy, không những chỉ phăng phăng cuốn cây cối lẫn sỏi đá hai bên bờ, mà còn phình mỗi lúc một rộng. Chẳng mấy chốc nước tràn vào sân nhà chúng tôi, mới đầu chỉ đọng lại thành các vũng nước cho tụi trẻ con đi chân đất xuống nghịch, nhưng rồi các vũng nước nhỏ đó nhanh chóng nhập với nhau thành lớp nước tràn ngập sân và ngấp nghé trước cửa nhà - lớp nước im im phẳng lỳ, lâu lâu mới bồng bềnh khi gió nổi. Đêm đêm, tôi lại nằm chong mắt, không dám ngủ. Biết đâu nhà mình đã chìm xuống nước rồi, biết đâu nước đã ngấp nghé cửa sổ và ập vào phòng bất cứ lúc nào, để nhận chìm cả nhà tôi. Thế nhưng, nước chỉ hằm hè đe dọa thế thôi. Nó óc ách thêm ít ngày nữa ở trong sân, rồi chậm rãi rút đi, và bí hiểm y như lúc nó dâng lên, sông Regnitz lại biến thành con sông nhỏ hiền hòa, thơ mộng, trong xanh, lấp lánh hơn bao giờ hết, nhẹ nhàng lượn xuyên qua cảnh vật thiên nhiên phía sau khu nhà chúng tôi. Chỉ có cánh đồng lúa và các bãi cỏ là tan hoang, cả mảnh vườn bé nhỏ bên bờ sông của nhà tôi cũng vậy, mảnh vườn mùa hè nào cũng đầy dưa chuột, cà chua, hay bí đỏ nuôi chúng tôi.
Rồi cũng đến cái ngày bố mẹ tôi ngồi trước máy phát thanh, cùng lắng nghe giọng tiếng Nga lạo xạo tiếng nhiễu; giữa các bản tin là tiếng nhạc của Bach. Stalin đang hấp hối. Mẹ tôi chưa bao giờ sợ và căm ghét ai như sợ và căm ghét ông ấy, người đàn ông Georgie thấp lùn với cánh tay cứng đơ, con trai một ông thợ đóng giày và một bà nông nô, một người tên thật là Dschugaschwili những tự nhận làm Stalin, nghĩa là “sắt thép” ấy; mẹ tôi chưa bao giờ gọi ông ta bằng tên gọi nào khác bằng tên “con quái vật”. Song lúc này, khi ông ta nằm hấp hối trên giường bệnh, bỗng dưng bà lại thấy thương hại ông ta. Bà lắng nghe tiếng nhạc của Bach và đưa tay lau nước mắt. Tôi ngạc nhiên: “Sao mẹ bảo ông ấy ác lắm kia mà?” “Phải, ông ấy ác,” mẹ tôi đáp, “nhưng mình không biết, bây giờ ông ấy đang phải chịu những gì. Ông ấy đang bị Chúa phán xử, con ạ.” Trong trí nhớ tôi, có lẽ đó là lần cuối cùng tôi được nghe thấy mẹ buột ra những lời chỉ có thể bắt nguồn từ niềm tin sắt đá vào Đức Chúa công minh ấy.
Cùng với cái chết của Stalin, nhiều chuyện lạ thường cũng xảy ra, những chuyện có thể làm thay đổi tất thảy. Liệu chúng tôi có quay về Ukraine được không? Phải chăng thế giới sẽ bắt đầu lại từ đầu? Liệu Ukraine có trở lại thành đất nước tự do không? Tôi không rõ bố mẹ tôi có tự hỏi như thế thật không, nhưng nếu có thế thật, thì họ phải sớm nhận ra rằng cái chết của Stalin đã chẳng làm thay đổi số phận họ chút nào. Ngay cả trong thời kỳ được mệnh danh là thời kỳ tan băng bớt lạnh, Liên Xô vẫn là một nhà nước toàn trị, hoàn toàn đóng kín đối với bên ngoài, và ở đó những người như bố mẹ tôi vẫn bị xếp vào hạng kẻ thù nhân dân, phản bội tổ quốc, làm tay sai cho địch. Tuy thế, mỗi lần mời đến gặp, nhà chức trách Đức vẫn gây áp lực bắt họ hồi hương, những chuyện gì có thể xảy ra với bố mẹ tôi khi quay về Liên Xô, các vị chẳng quan tâm. Mỗi lần đi gặp nhà chức trách như thế trở về nhà, bao giờ mẹ tôi cũng khóc tức tưởi và bộ dạng trông như vừa bị ai đấm đá nhừ tử vậy.
Chẳng bao lâu sau, cả hy vọng được sang Mĩ định cư của chúng tôi cũng tắt ngấm nốt. Chúng tôi đã nhiều lần làm đơn xin cấp thị thực, nhưng bây giờ, sau khi gọi bố tôi đi khám sức khỏe, họ bảo bố tôi bị lao phổi. Ai cũng biết chỉ những người hoàn toàn khỏe mạnh mới được nhận sang Mĩ, cho nên lời chẩn đoán bố tôi bị lao là lý do chính, không thể đảo ngược, giải thích tại sao họ từ chối cấp thị thực cho nhà tôi. Chẩn đoán ấy cũng gần giống như giấy báo tử cho bố tôi, thậm chí cho cả nhà, vì có thể chúng tôi đều bị lây mà không biết. Thế là bố tôi, một người chưa bao giờ ốm đau gì ngoài vài cơn sốt rét bất thường, bỗng dưng lại là người yếu nhất nhà, còn nằm kề sát cái chết hơn cả mẹ tôi, là người chuyên ốm lên ốm xuống.
Cả bốn người trong nhà đều phải đến Sở Y tế Đức chiếu tia X, lấy máu xét nghiệm, bởi người ta phải khám xem chúng tôi có lây bệnh hay không. Ít hôm sau có người bấm chuông trước nhà tôi, và cả nhà ngạc nhiên hết sức khi thấy ông bác sĩ của Sở đang đứng đó, không mặc áo choàng trắng, mà bộ com lê màu xám và đeo cravat. Ông ấy đích thân đến gặp chúng tôi ở “khu nhà” để thông báo cho mẹ tôi biết rằng mẹ tôi không phải lo lắng gì, cả nhà đều khỏe mạnh, lời chẩn đoán của ông bác sĩ Mĩ nào đó là một lời chẩn đoán sai, chồng bà chỉ bị một vết nhỏ và vô hại ở phổi, có lẽ do hồi xưa lâu lắm rồi, ông ấy từng bị viêm phổi. Mẹ tôi mời ông ta vào nhà, mời ông ly nước trà uống với mứt ngọt bà nấu từ mâm xôi hái trong mảnh vườn con con của nhà tôi bên bờ sông, ông bác sĩ trẻ trung và đẹp trai của Sở thậm chí còn uống thêm một ly trà và trò chuyện thật là thân thiện với mẹ tôi, vâng, tôi chưa bao giờ nghe một người Đức nào nói năng thân thiện như thế, rồi sau đó mẹ tôi bảo Chúa đã phái ông bác sĩ này đến gặp bà. Bà khăng khăng lời chẩn đoán về bệnh lao không phải do nhầm lẫn, đó chắc chắn là lời bịa đặt đáng ghét của tụi Mĩ, bọn nó không ngại lấy cả bệnh lao ra làm lý do mãi mãi cấm cửa, không cho nhà mình vào Mí.
Bố mẹ tôi thất vọng nhưng cũng tỉnh ngộ. Hai người thôi không tìm cách xin xuất cảnh nữa, và ông bố thất nghiệp của tôi nảy ra ý định làm ăn. Ông tính chuyện mở trại nuôi gà. Ông muốn mua ít nhất một trăm con gà mái đẻ và đôi ba con gà trống, nuôi lấy trứng bán cho các cửa hàng của dân Đức trong thành phố, và mổ gà bán cho khách sạn ở nhà ga. Ông cùng mẹ tôi, người xưa nay vốn vẫn làm phiên dịch cho ông khi giao thiệp với người Đức, làm đơn vay vốn của ngân hàng Sparkasse đóng tại Hauptstraße. Mẹ tôi chẳng tin người Đức sẽ cho chúng tôi vay, nhưng sau vài tuần bố mẹ tôi chạy đi chạy lại giữa ngân hàng và ban này sở nọ của thành phố, ngân hàng đồng ý cho vay thật. Khoản tín dụng một ngàn mark hóa ra lớn không ngờ, chóng cả mặt.
Hội đồng thành phố cho bố tôi thuê với giá rất rẻ một bãi đất bỏ hoang bên bờ sông Regnitz nằm khá xa nhà chúng tôi ở làm trại nuôi gà. Giúp việc cho ông là một ông già người Azerbaijan mắc bệnh đau dạ dày. Ông này được phép dựng trên bãi đất của trại gà một túp lều, dùng luôn làm kho và chỗ ngủ; trong “khu nhà” ông ở với vợ chồng cô con gái cùng bốn đứa cháu trong căn hộ hai phòng, chật chội giống hệt như căn hộ nhà tôi.
Bố tôi từ đó suốt ngày không ở nhà nữa, nhưng chúng tôi lại chưa bao giờ sợ ông như thế, sợ cái giây khắc mỗi tối nhìn qua cửa sổ thấy ông, hầu như bao giờ cũng say, cưỡi xe đạp từ trại về nhà. Từ bây giờ trở đi, khi ông đã có công ăn việc làm rồi, thì chúng tôi thực sự phải thi hành nghĩa vụ đàn bà của mình.
Ngày nào cũng như ngày nào, hai mẹ con chúng tôi lại xắn tay áo xông vào cuộc đấu tranh vô vọng chống lại cái bẩn và sự lộn xộn trong căn hộ của chúng tôi. Bố tôi gọi căn hộ này là chuồng lợn. Tuy chưa một ai trong chúng tôi từng đặt chân, dù chỉ một lần, vào căn hộ của người Đức, nhưng bố cứ suốt ngày lấy đàn bà Đức ra làm gương cho mẹ, rằng theo như ông nghe người ta nói, nhà cửa họ sạch đến nỗi có để thức ăn ra nền nhà rồi ăn vẫn được. Ở nhà tôi không thể ăn như thế, nhà tôi bao giờ cũng lạo xạo cát dưới chân, mặc cho chúng tôi có dùng chổi lông ngỗng để quét nhà bao nhiêu lần, mặc cho chúng tôi có lau nhà thường xuyên đến mấy cũng vậy thôi. Chúng tôi không sao dời thứ cát của nợ đó về nơi nó phải chịu nằm yên một chỗ được, vì nó cưỡng lại mọi cố gắng của chúng tôi, và từ quần áo, từ chậu nước lau nhà, nó quay trở lại ngay chỗ nó không được phép có mặt. Có lẽ thứ của nợ ấy tự rơi ra từ bàn ghế cũ kỹ, sắp tàn tạ của chúng tôi và tản ra trong nhà với tốc độ nhanh khiến chúng tôi không theo kịp, vâng, cũng có thể bàn ghế, giường tủ chính là nguồn gốc đẻ ra bụi bặm mà chúng tôi luôn tay lau chùi. Thêm vào đó là sự lộn xộn mà chúng tôi thật sự bất lực, không có cách gì dẹp nổi. Suốt ngày suốt buổi chúng tôi cứ phải tìm một cái gì đó trong nhà, mặc dù chúng tôi rất hay dọn dẹp, chúng tôi không sao tìm được chỗ này chỗ nọ thích hợp cho đồ vật này đồ đạc khác, chúng tôi thật sự không biết sắp xếp mọi thứ trong nhà thế nào cho gọn gàng ngăn nắp.
Các món mẹ nấu, bố ăn cũng không ngon miệng. Một lần, ông khều từ trong bát xúp borschtsch nấu kiểu Nga ông đang ăn một tờ mười mark nhàu nát ra, một tờ bạc trời xui đất khiến thế nào mà rơi vào nồi xúp, rồi nhằm đúng bát bố tôi ăn mà lọt vào. Mẹ tôi tái cả mặt, khiến tôi cũng tái theo. Bố tôi nhìn mẹ tôi bằng ánh mắt như thể ông muốn đập chết bà ngay tại chỗ. Đoạn ông gạt bát xúp khỏi bàn. Đồ thổ tả, ông gầm lên, đồ ngu, đồ sâu bọ, đồ đần độn, trong khi mẹ tôi dùng tay run rẩy thu dọn mảnh bát vỡ nằm la liệt dưới sàn nhà. Bố tôi đạp bà một cái mạnh, khiến bà dập mặt xuống đống xúp và bị mảnh bát vỡ rạch một vệt lên gò má. Máu đỏ bà ứa ra, nhỏ giọt lên bát xúp củ cải đỏ đổ vung vãi dưới nền nhà.
Tôi còn mơ hồ nhớ đến một vụ đụng độ căng thẳng nữa giữa mẹ với bố. Ba chúng tôi, mẹ cùng hai chị em tôi đang co ro nằm trên giường trong phòng ngủ, tôi không nhớ để trốn tránh cái gì. Cửa phòng bỗng bật mở, ánh đèn hắt vào căn phòng tối om om. Bố tôi - chắc là say lắm rồi - lảo đảo đứng ở khung cửa sáng đèn, miệng làu bàu gì đó về “đôi tay bạch vệ” của mẹ tôi, về dòng “máu xanh quý tộc” cũng như bệnh “tâm thần bẩm sinh” của bà. Bà quàng hai tay ôm lấy hai chị em tôi kéo vào lòng, miệng hét: “Ông tha cho bọn trẻ, xin ông tha cho bọn trẻ! Ông đánh tôi đây này, nhưng để cho bọn trẻ yên thân!” Nói cho cùng, giá ở Ukraine thì bà có thể bỏ ông, trốn đi đâu đó, có thể làm đơn ly dị ông chẳng hạn, nhưng ở đất Đức đây, bà không còn đường nào thoát cả; bà nằm trọn trong tay ông.
Em gái tôi, sinh ra nó thế nào, giờ nó vẫn thế, dịu dàng, lặng lẽ, trầm mặc. Tóc nó đen, da trắng nhàn nhạt và đôi mắt xanh, hơi mơ màng của mẹ tôi. Tôi không ưa nó, bởi tôi cứ phải trông nó nhưng chẳng biết chơi với nó thế nào. Có lần tôi buộc nó vào chân bàn để được yên thân. Nhưng vẫn như mọi khi, nó chẳng vì thế mà than vãn kêu ca. Nếu ở nhà có thứ cao lương mĩ vị gì, như vài ba quả anh đào chẳng hạn, thì tôi bao giờ cũng được hưởng lợi gấp đôi. Tôi chén ngay phần của tôi, trong khi đó em tôi còn “ăn bằng mắt” chán chê. Nó lấy từng quả lên tay, mơ mơ màng màng ngắm nghía trước sau, trên dưới rất lâu, rồi xếp lên mặt bàn thành những hình thù khó hiểu, đoạn nó cung kính, cẩn thận đổi chỗ quả này với quả khác, cứ như đổi chỗ các quân bài trong trò chơi kiên nhẫn Patience, vâng, nó tìm kéo dài khoảnh khắc sung sướng đó ra, không chịu cho mấy quả anh đào vào miệng mà thưởng thức ngay, mặc dù nó thừa biết mọi sự sẽ kết thúc thế nào, một kết thúc lần cũng như lần nào đều giống nhau. Tôi chẳng cần cướp anh đào của nó, tôi chỉ cần xin, thậm chí chẳng cần xin nữa cơ. Nó khắc tự chìa cho tôi từng quả một, quả thứ nhất, quả thứ hai, quả thứ ba, bao giờ cũng với nụ cười rất bao dung trên môi, mỗi quả cuối cùng là nó sẽ lưỡng lự. Thì nó cũng muốn được ăn mà lại, ít nhất một quả, một quả thôi là đủ, nhưng lần nào cũng như lần nào, rốt cuộc rồi nó vẫn chịu thua. Chỉ cần thấy tôi thèm thuồng thế nào là nó sẵn lòng cho nốt cả quả anh đào cuối cùng ấy, với vẻ mặt tự bằng lòng về hành động cao thượng đó của mình.
Còn tôi lúc nào cũng bị nỗi thèm thuồng khao khát mà em tôi dường như không hay biết gì ấy dằn vặt. Trong lòng tôi còn hừng hực nỗi ghen tị đối với bọn trẻ khác, không những bọn trẻ người Đức, mà cả với tụi trẻ trong “khu nhà”. Tôi cũng thèm được có một bà mẹ biết rán khoai tây hay nướng bánh ngọt, biết may rèm cửa sổ nhà chúng tôi và không để tiền lẻ nằm lại trong nhà hàng vì ngượng. Ở trường, tôi bị chúng nó chế nhạo vì tất tôi mang thủng lỗ chỗ và bị điểm bét về thủ công. “Chẳng đứa con gái thật sự nào lại như em cả,” cô Schorrn bảo tôi, “nếu như thế thì điểm nhất ở các môn khác cũng chẳng giúp em nên người đâu.” Thế là lại thêm một vết nhơ nữa trên người: Tôi không phải người Đức, tôi hay nói dối, tôi ăn cắp, và bây giờ tôi lại mang thêm tiếng, tôi không phải đứa con gái ra hồn. Bọn trẻ Đức có những bà mẹ biết dùng máy khâu vá áo, biết đan áo len cho chúng, chứ mẹ tôi đến đính cúc áo còn chẳng biết, nói gì đến những công việc nội trợ khác. Bà không dạy nổi cho tôi mũi đan chéo, mũi đan bên trái thế nào, cũng không chỉ tôi biết ống đan sợi len hoạt động ra sao. Có lẽ tôi cũng thừa hưởng “đôi tay bạch vệ” của bà, bởi mũi đan trái bao giờ cũng tuột khỏi que đan. Trong khi chúng nó đã chuyển sang đan tất, tôi vẫn phải loay hoay đan tấm lót nồi mới chán.
Sang hè thì bố tôi xây xong trại gà. Trên mảnh đất bên sông Regnitz, nằm khá xa chỗ chúng tôi ở, khoảng trăm con gà mái giống Leghorn tung tăng dạo chơi cùng đôi chú gà trống lông màu trắng, mào đỏ nhờn nhờn bóng bẩy và dáng vẻ lúc nào cũng trịnh trọng. Chuồng gà bằng gỗ, trông rất giống kiểu lều ở trại Valka, có hai cánh cửa mở ra đóng vào dễ dàng để đám gà mái lần theo cái thang hẹp mà ra ngoài được. Lán của ông già người Azerbaijan, trong đó kê cái giường do ông tự đóng, thật ra, chỉ là một phần của chuồng gà, với cánh cửa sổ nhỏ. Bố tôi còn cuốc đất trồng rau và ông chỉ tôi cách viết tên mình lên quả bí đỏ còn non, rồi theo dõi suốt mùa hè xem các chữ cái cứ lớn lên theo quả bí đỏ như thế nào. Con chó săn giống Đức, bố tôi đặt tên là Ada, bị xích nằm trước căn lều của ông và rất thích liếm lên bàn chân để trần của tôi.
Mẹ cùng chị em tôi hay phải đến trại gà giúp bố. Quãng đường xa, và do em tôi còn quá nhỏ để đi bộ, mẹ tôi kéo nó ngồi trên tấm ván có gắn bốn bánh xe và tay vịn. Ba mẹ con cứ men theo sông Regnitz mà đi, đi mãi, đi mãi, trời nóng, mệt bã người và khát khô họng, mà vẫn chưa đến nơi. Một lần, sau khi rốt cuộc mấy mẹ con cũng đến nơi, mẹ tôi dừng lại ở cổng, nhìn chằm chằm vào cái đu bằng gỗ bố làm cho hai chị em chúng tôi chơi. “Trên đu có bộ xương kìa,” bà nói không ra tiếng. Tôi chẳng thấy gì, nhưng mẹ tôi cứ đứng bất động như trời trồng tại chỗ, mặt mày trắng bệch, như bị thôi miên bởi bộ khung gỗ và mảnh ván lủng lẳng giữa không trung cùng hai sợi dây.
Đây là giai đoạn mẹ tôi không nói gì mấy nữa. Mỗi ngày bà một thêm dị thường, một thêm lơ đãng, và luôn mồm bảo, bà sẽ đi xuống nước. Nói vậy, mẹ tôi tỏ ra vô ưu, hớn hở, tôi chưa thấy bà như thế bao giờ. Bà bỗng đổi tính, quay ra hay chải bộ tóc đen dài mượt của bà, thử hết kiểu búi này sang kiểu búi tóc khác, nhiều khi chỉ đứng ngây ra rất lâu trước gương, tự ngắm nghía mình, như thể bà quên mất mình trông bên ngoài thế nào, như thể bà mới nhìn thấy mình lần đầu vậy. Phải lúc bà chờ ông bác sĩ Đức ở Sở Y tế đến thăm - ông này từ lần thăm đầu tiên đến giờ, rất hay ghé qua, bao giờ cũng lúc ban ngày ban mặt, là lúc bố tôi bận việc ở trại gà - bà lại mặc vội bộ áo đầm màu đen có hoa và cài chiếc trâm áo mang hình con kỳ nhông ông chủ nhà máy ở Nürnberg tặng ngày nào. Bà bỗng thích vui đùa với hai chị em chúng tôi, lại cất tiếng hát “Gió ơi, hãy hát trên đất Ukraine” cũng như bài hát về tấm khăn màu xanh mà ngọn gió biết hát vẫn vờn chơi. Có lúc bà lại bắt nhịp bài Trên đỉnh Mandschuri - một bản van cổ của Nga mà chắc chắn mẹ bà đã từng hát - và quay người theo nhịp, rồi đột nhiên dừng lại, nhìn xuống chân mình, và lại tỏ ra kinh ngạc, như thể không hiểu bà vừa làm cái gì, như thể bà phải thử xem đôi bàn chân kia có thật của bà hay không vậy.
Ông bác sĩ trẻ của Sở Y tế, tên là Wilfried, rất cao lớn, đến mức muốn nhìn vào ông, tôi phải ngẩng đầu lên như nhìn tháp nhà thờ. Trên người ông ấy trông cái gì cũng sáng sủa, tóc tai, bộ comple, đôi mắt sau cặp kính. Bao giờ đến chơi ông cũng mang một thứ gì theo, cam, sô cô la, chai nước hoa Pháp màu xanh sẫm tặng mẹ tôi, có lần thậm chí cả chiếc đồng hồ treo tường, và từ đó, nó cứ lơ lửng trên chiếc máy phát thanh và kêu tích ta tích tắc trong bếp nhà tôi. Ông ta ngồi xuống chiếc ghế được tổ chức từ thiện Caritas tặng và lắng nghe mẹ tôi kể về cuộc đời bà. Có lẽ ông ấy là người Đức đầu tiên hỏi han bà, cũng có thể ông là con người duy nhất từ xa xưa muôn thủa đến giờ để tâm đến bà. Đối với hai chị em tôi cũng vậy, chưa từng có ông người Đức nào mà lại tử tế thân thiện đến vậy với chúng tôi. Ông ấy gọi chúng tôi là Schneeweißchen - Bạch Tuyết tí hon, và Rosenrot - Hồng Hoa, vui đùa với chúng tôi, bế đứa em gái bé bỏng của tôi lên đùi, rồi chơi trò cưỡi ngựa với nó, khiến nó thích thú vô cùng. Đến một lúc nào đó thì mẹ tôi đuổi chúng ra sân, hoặc nếu ngoài đó mưa ướt gió lạnh, thì sang phòng khác chơi. Ở phòng ngoài, tôi nghe vọng qua cửa những tiếng nói rì rầm cố nén, lúc to lúc nhỏ bằng tiếng Đức nhưng tôi chẳng hiểu gì, ngoài tiếng kêu hốt hoảng, chống chế “đừng, đừng!” của mẹ tôi, rồi tiếp theo lại là những tiếng thì thào và thở dài buồn bã.
Rồi đến lúc ông Wilfried không đến chơi nữa. Mẹ tôi không hé răng nói một lời nào về chuyện đó, bà lại rơi vào trạng thái lụi tàn. Tôi có cảm giác như bà bị lạnh, thân thể bà dường như co rúm lại. Bà không soi gương, không hát hò nữa, và hầu như cũng chẳng nói năng gì nữa hết.
Dần dà cũng đã rõ rằng chuyện làm ăn của bố tôi chẳng hề suôn sẻ như ông tính lúc ban đầu chút nào. Chẳng cửa hàng thực phẩm nào trong thành phố muốn mua trứng ở trại gà của ông, chẳng ai chờ ông, bởi ai cũng có nguồn hàng chắc chắn rồi. Hình như bố tôi đã không tính đến tình huống này, ấy là chưa kể giá trứng ông mời chào cánh chủ người Đức quá cao. Ông toan dựa vào lợi thế trứng ở trại ông tươi để hét giá thật cao, nhưng trứng nào có tươi, vì chúng đã chất đống nằm hàng tuần dưới hầm nhà mà không ai mua. Phần lớn trứng đều do chúng tôi tự tiêu thụ, đem chia cả cho ông già Azerbaijan và gia đình đông người của ông ta, thỉnh thoảng cũng có người bấm chuông mua trứng nhà tôi - họ nằm trong số những khách hàng có thể đếm bằng đầu ngón tay của nhà chúng tôi trong “khu nhà”. Phần đông dân ở đây cũng ưa mua trứng ở các cửa hàng người Đức hơn là mua của chúng tôi.
May mà còn khách sạn lớn cạnh nhà ga thỉnh thoảng đặt bố tôi vài ba con gà thịt, đúng như ông vẫn mong đợi lúc đầu. Mỗi lần có đơn đặt hàng là trong sân trại gà lại diễn ra một cảnh tượng rùng rợn. Bố tôi chạy đuổi theo đàn gà, bọn này dường như biết ông định làm gì rồi, nên nháo nhác chạy tung chạy tóe. Tóm được con nào, ông liền dùng rìu chặt phăng đầu con đó. Mặc dù đầu gà đã rơi xuống dưới đất rồi, ông vẫn còn phải giữ chặt con gà một lúc, bởi nó vẫn còn vùng vẫy, đập cánh loạn xạ một lúc nữa. Một lần, đã có con vùng thoát khỏi tay ông, vỗ cánh bay tiếp được một đoạn trong khi tiết gà vẫn bắn tứ tung; trước khi rơi xuống nằm yên trong bãi cỏ thì thân gà cách cái đầu đã lìa ra những trăm thước.
Ngày thứ Bảy nào cũng vậy, cứ đi học về là tôi phải đem trứng đi bán. Tôi phải bấm chuông các nhà người Đức ở, rồi mời chào: “Trứng gà tươi từ trại gà đây ạ.” Ở chân cầu thang vào nhà người ta bao giờ cũng lạnh lẽo, yên lặng như tờ, và quả thật, sạch đến mức nếu đồ ăn đồ uống rơi xuống nền nhà vẫn nhặt lên ăn được ngay. Qua các cánh cửa mở rộng, tôi cũng kịp nhìn vào trong căn hộ người Đức, thảm trải nền nhà, chụp đèn, cây cảnh cùng nhiều thứ mà nhà tôi không có. Đàn bà Đức ai cũng tóc uốn xoăn, đeo tạp dề, đi dép mang trong nhà, những thứ chúng tôi không biết dùng và chắc chắn chúng phải nằm trong các bí mật tạo nên sự sạch sẽ của người Đức. Chỉ có điều, phần đông họ không muốn mua trứng nhà chúng tôi. Bao giờ họ cũng hỏi “Trại gà nào?” Rồi tiếp “Trại ở chỗ nào? À, cháu ở trong khu nhà chứ gì… Nhưng trứng cháu bán đắt quá, nhà Wiemann họ bán rẻ hơn những ba xu.” Tôi ngượng vì trứng từ “khu nhà” của tôi đắt quá, tôi chỉ muốn đem tặng cho các bà nội trợ Đức và cảm tạ họ đã nhận trứng giúp tôi.
Thế nhưng, chính tôi cũng làm tôi phải ngượng, bởi vì tôi tự nâng giá do bố tôi định trước lên một, hai xu. Nếu một buổi chiều thứ Bảy nào đó, tôi mệt lử và bán được ba chục quả trứng trong các giỏ nặng tôi tha từ nhà này sang nhà khác ấy, thì tôi được lợi ba chục, thậm chí sáu chục xu. Với số tiền này tôi mua được chiếc bánh bọc sô cô la ở hiệu bánh, còn lại bao nhiêu tôi để dành mua cái túi đựng bút, loại túi của Đức hẳn hoi mà đứa nào trong lớp cũng có, trừ tôi. Có lần, tôi thu được nhiều tiền đến mức tôi lén lút lẻn vào xem suất chiếu buổi chiều bộ phim Màn đêm buông xuống Lambaréné về bệnh viện trong rừng nguyên thủy của Albert Schweitzer. Đó là bộ phim tôi xem lần đầu tiên trong đời, suốt mấy ngày liền sau đó tôi cứ như sống trong mơ.
Mới chín tuổi đầu tôi cũng hiểu rằng, không cần trò gian lận như thế của tôi, trại nuôi gà của bố tôi cũng thua lỗ to. Cả nhà chẳng còn gì ăn, tối tối thường phải nhịn đói lên giường. Một công việc mẹ tôi nhận về nhà làm có vẻ tạm thời cứu vãn được tình thế. Đó là công việc có vẻ hợp với bà. Hàng tuần người ta mang đến cho chúng tôi một kiện vật liệu to tướng, và hai mẹ con tôi liền ngồi xuống bên bàn ăn trong bếp để dán hoa, những bông hoa hồng cánh màu hồng nhạt gắn với một nhánh lá màu lục mà chúng tôi phải làm khô trước trên một tấm bảng, rồi buộc mười hai bông thành một bó. Hầu như chúng tôi không làm gì khác nữa ngoài dán hoa, đến trường học cũng trở thành công việc phụ của tôi, và tôi gần như không còn ló mặt ra ngoài để chạy chơi với tụi trẻ khác tại các mỏ khai thác sỏi hay tại các bãi bồi bên sông đầy hấp dẫn nữa, tôi ngồi bên bàn cắm cúi dán hoa, mặc dù hồ dán làm tôi xót ở ngón tay và cay xè bên khóe mắt. Hai mẹ con đua nhau xem ai dán nhanh và nhiều hơn, nhưng dù chúng tôi có dán được nhiều hoa bao nhiêu đi nữa, thì tiền công chúng tôi thu về nào có đáng là bao.
Không thể sống tiếp như thế này được. Bố tôi quyết định lần nữa thử dùng giọng hát của mình để kiếm ăn; ông gia nhập dàn đồng ca Kosak, là dàn đồng ca suốt năm rong ruổi hết nhà hát này đến nhà thờ khác ở khắp châu Âu. Ông giao trại gà - với số gà chẳng sót lại được bao nhiêu - cho ông già Azerbaijan trông nom, gói ghém đồ đạc vào chiếc vali khổng lồ bằng giấy bồi mà ông nhờ mẹ xin giúp ở tổ chức từ thiện Caritas, rồi lên đường đến Düsseldorf, là nơi ban quản trị dàn đồng ca đóng trụ sở và xe buýt của dàn đồng ca đang đợi. Tôi không rõ trong số ca sĩ của dàn đồng ca có ai là người Kosak thật không, hay họ chỉ lấy tên như thế đặt cho dàn đồng ca, để nghe có vẻ lãng mạn trong tai người Đức. Dù sao, trong dàn đồng ca cũng có mặt ông Ivan Rebroff - một người nổi tiếng nổi tăm nhờ giọng hát âm vang tuyệt vời hiện thân cho tâm hồn Nga, nhưng thật ra, ông ta chẳng có chút dính dáng nào với nước Nga cả. Ông ta người Đức, tên chẳng Ivan mà cũng không Rebroff nốt, mà là Hans Rippert.
Từ nay bố tôi sống thế nào, chúng tôi khó lòng hình dung được. Hầu như mỗi ngày ông lại ở một thành phố khác, ngủ khách sạn, ăn nhà hàng. Ông gửi tiền và các loại bưu ảnh về: ảnh chụp các ngọn núi Alps phủ tuyết trắng phau và những ngôi nhà tí hon dưới thung lũng, ảnh những cánh đồng hoa tu lip mênh mông ở đất Hà Lan, ảnh tháp Eiffel, ảnh một vũ nữ Flamenco Tây Ban Nha với castanet gõ nhịp trên tay. Em gái tôi lấy các tấm bưu ảnh này chơi trò xếp quân bài patience bí hiểm của nó trên sàn nhà mà từ lâu chúng tôi chẳng quét dọn, lau chùi gì nữa. Mẹ tôi không ngó ngàng đến các tấm bưu ảnh đó, tiền bố gửi về mẹ tôi để nằm tênh hênh trên mặt bàn, hai chị em tôi muốn lấy làm gì cứ việc lấy. Có lần, chúng tôi mua cả đống xúc xích vùng Franken, kẹo mút, bánh kem, tọng đầy vào bụng đến mức phải nôn thốc nôn tháo hết ra. Dạo trước, cứ tối đến, khi đèn đường sáng lên, là tôi phải về nhà, bây giờ mẹ chẳng buồn bắt tôi phải về. Tôi hầu như chẳng đến trường nữa, chỉ lượn lờ đâu đó ở bên ngoài cho đến tối. Thỉnh thoảng mẹ tôi cũng còn đến trại gà lấy trứng, nhưng bà làm thế chỉ cốt lấy lệ mà thôi, số trứng mà tôi không buồn mang đi bán nữa ấy, chất đống rồi ung thối dưới hầm nhà. Thi thoảng có khách hàng trong “khu nhà” bấm chuông hỏi mua trứng, mẹ tôi chẳng buồn mở cửa, hay nói đúng hơn, bà chẳng mở cửa cho bất kỳ ai nữa sất, đến tiếng chuông hình như bà cũng chẳng còn nghe. Một bà hàng xóm có lẽ đoán nhà tôi có chuyện không ổn, nướng bánh đem đến biếu mẹ con chúng tôi, mẹ tôi lại cấm chúng tôi ăn. Bà bảo trong bánh nhất định có thuốc độc, rồi vất nó ngay vào thùng rác.
Chúng tôi bỏ luôn, không dọn dẹp gì trong nhà nữa, thỉnh thoảng lắm tôi mới tráng qua mấy cái đĩa bẩn dưới vòi nước hoặc đem rác bỏ xuống thùng rác dưới kho, còn mặc mọi thứ khác ngập trong rác rưởi, hai chị em tôi không còn quần áo lót sạch nữa. Trời đã sang thu, đến tối là trong phòng cũng trở lạnh, nhưng chúng tôi không đốt lò sưởi nữa, cả củi lẫn than đều hết nhẵn mất rồi.
Nếu tối tối, trước khi đi ngủ hai chị em tôi quỳ gối cầu nguyện như lâu nay chúng tôi vẫn quen làm, thì mẹ tôi lại gắt: “Chẳng có Chúa nào đâu mà cầu với nguyện”, rồi không cho chúng tôi cầu nguyện nữa. Thế nhưng, sáng ngày hôm sau, bà lại làm dấu thánh, ngậm ngùi khóc bảo chúng tôi phải tiếp tục cầu nguyện, nếu không sẽ phải tội. Mẹ tôi thường nhìn thấy những thứ mà tôi không thể thấy, như bà thấy các nữ tu sĩ mặc áo trắng tuyền đi ngang cửa sổ nhà tôi chẳng hạn, hay bà thấy cây bạch dương trong sân bốc cháy, có lần bà còn thấy con rắn đang trườn vào bếp, khiến mẹ tôi lùi lại, áp lưng vào tường mà hét tướng lên. Nhưng phần lớn thời gian, mẹ tôi chỉ ngồi trên chiếc ghế trong bếp và trân trân nhìn đi đâu đấy. Có lay vai, huơ tay trước mặt, hay giật tóc bà cũng chẳng ăn thua, ai làm gì bà cũng mặc kệ, không cựa quậy. Có lần tôi hỏi: “Mẹ ơi, bao giờ mình xuống nước?” Thế là mẹ tôi liền đáp ngay: “Sắp rồi, con ạ.”
Một hôm ánh mắt mẹ tôi bỗng trở lại hoạt bát, bà đứng bật dậy khỏi ghế, nắm lấy sợi dây chơi nhảy dây của tôi, quấn vào quanh cổ tôi rồi siết chặt lại. Bà khăng khăng tôi là con của quỷ Sa tăng, là đứa hiện thân cho cái ác bà đẻ ra. Bà phải giết tôi đi, Chúa ra lệnh cho bà như thế. Lần khác, bà lôi tôi ra khỏi gậm giường, nơi tôi vì sợ nên chui xuống để khuất mắt bà, rồi kề con dao sắc vào cổ tôi. Tôi vùng vẫy, la hét thất thanh mất một lúc rồi bà mới buông tôi ra.
Sau đấy, tôi cũng tìm cách làm bà đau. Tôi lén lấy kim nhét vào giường bà nằm, những tưởng lúc ngủ, kim sẽ xuyên vào người rồi theo máu chảy vào tim bà. Chính mẹ đã bảo tôi nếu đứa nào nghịch kim sẽ bị như thế mà lại. Cả đêm tôi nín thở chờ xem thế nào, nhưng sáng hôm sau mẹ vẫn trở dậy bình thường như mọi khi. Mẹ có vẻ không hay biết gì về kim châm tôi nhét vào giường mẹ.
Tôi vốn vẫn cầm chắc sẽ có chuyện kinh khủng sắp xảy ra ở nhà tôi, thế nhưng, tôi chỉ biết một mình thế thôi, không biết nói với ai, không biết kêu cứu ở đâu, không biết phải làm gì hết. Suốt đêm tôi chỉ mong sẽ có ai đó nhận ra điều gì bất thường ở nhà tôi, song nào có ai như thế. Bố tôi ở đâu, tôi không biết, song, dù có biết đi nữa, thì trong đầu tôi không hề có ý nghĩ gọi điện cho ông để kêu cứu.
Mẹ tôi có người bạn gái Nga là cô Maria Nikolajevna, cô ấy không ở trong “khu nhà” này, mà ở với ông chồng người Đức tại căn nhà riêng ngoài dốc Weingartsteig. Tại đó, trong một căn phòng trải thảm và treo tranh vẽ trên tường, có lần tôi đã nghe mẹ tôi chơi đàn dương cầm, một bản nhạc tuyệt vời và buồn bã mà trước đó tôi chưa từng được nghe bao giờ. Trên đường về, mẹ tôi nắm chặt tay tôi và nói khẽ khàng, đó là khúc dạo đầu “Mưa rơi” của Frédéric Chopin, nhà soạn nhạc người Ba Lan, qua đời khi còn rất trẻ trong cảnh nghèo nàn, túng thiếu. Tôi muốn đến cầu cứu cô Maria Nikolajevna, song tôi cũng biết mình không được phép. Suốt một dạo khá lâu, mẹ tôi và cô ấy vẫn thường xuyên qua lại thăm nhau, nhưng rồi ông chồng cô Maria Nikolajevna không cho cô ấy đi nữa. Ông ấy phải bảo vệ danh tiếng của văn phòng luật sư do ông ấy làm chủ, cho nên không muốn vợ mình giao du với đám dân trong “khu nhà”.
Lúc mẹ tôi một lần nữa lại tóm lấy tôi, vừa chửi tôi là “con gái quỷ Sa tăng” vừa lay lay người tôi mạnh đến nỗi tôi không biết trời đất gì nữa, thì may tôi giằng ra được, chạy biến vào phòng ngủ rồi khóa chặt cửa từ bên trong lại. Sau đó, trong cơn tức tối khôn cùng, tôi lấy kéo cắt vụn toàn bộ áo váy của mẹ tôi, hết áo này đến áo khác, tất tần tật những bộ áo nào tôi lục thấy trong tủ. Tôi điên cuồng phá phách cho đến lúc ngoài bộ mẹ tôi mặc trên người lúc đó, không còn bộ quần áo nào của mẹ tôi còn nguyên vẹn cả. Đến lúc sực tỉnh và nhìn thấy hết những gì mình vừa gây ra, tôi chỉ muốn trèo qua cửa sổ mà trốn biệt đi thôi, nhưng bên ngoài trời đã sập tối, lại mưa to. Đến một lúc nào đó, tôi chẳng còn đường nào khác là mở cửa ra. Tôi đứng đực ra đó, với cái kéo trên tay và run run chờ mẹ tôi bước vào. Lúc mẹ tôi rốt cuộc cũng bước vào và nhìn thấy đống quần áo của mình bị cắt nham cắt nhở nằm dưới nền nhà, mẹ thoáng ngạc nhiên, nhưng liền sau đó, một nụ cười tư lự nở dần trên gương mặt mẹ. “Ôi, con gái tôi, con làm thế mà lại hay, con ạ,” mẹ vừa nói, vừa dịu dàng xoa đầu tôi, “con làm thế mà hay, con ạ.”
Từ giây phút đó trở đi, bà ngừng, hoàn toàn không nói gì nữa. Tôi van xin lạy lục bà, tôi lay người bà, nhưng bà tuyệt nhiên không nói gì nữa. Bà lại ngồi đó, với ánh mắt đờ đẫn, xa vời, một ánh mắt không để lộ bà đang nhìn thấy những gì, ở đâu đó, trong thế giới khác kia.
Thế rồi cái ngày mồng 10 tháng Mười ấy cũng đến. Hôm ấy tôi đến trường, nhưng không ai đả động đến chuyện tôi thường xuyên trốn học hết, kể cả cô giáo mới cũng không, có lẽ do cô không còn liệt tôi vào số học trò của cô nữa cũng nên. Rồi tôi về nhà sau giờ học, và, theo thói quen, tôi ngoác mồm nói tía lia, như nước chảy, không buồn nghỉ lấy hơi, nói cho bằng được, để mẹ tôi nghe, rằng hôm sau lớp tôi sẽ đi chơi dã ngoại ở Walberla. Thế là mẹ tôi đột nhiên cất tiếng nói. “Ngày mai con sẽ không đi.” Chỉ mấy tiếng thế thôi, rồi mẹ tôi lại nín lặng. Tôi giãi bày, rằng tôi phải đi, rằng đó là nghĩa vụ ở trường, tôi khóc, tôi kêu la, tôi dậm chân, “con phải đi”, tôi hét to lên, “đứa nào cũng đi mà”, nhưng mẹ không còn nghe tôi nữa.
Lòng đầy ấm ức, tôi vùng chạy ra khỏi nhà, sập cửa đánh rầm sau lưng. Bao giờ cũng thế. Bao giờ tôi cũng bị cấm đoán mọi thứ, những thứ mà đối với bọn trẻ con Đức là hoàn toàn tự nhiên, những thứ không những chúng được phép, mà phải làm. Bao giờ tôi cũng phải nghe luận điệu: Mình không phải người Đức. Tôi không thể biết được rằng những lời mẹ tôi nói lần này không phải là những lời cấm đoán, mà là những lời tiên liệu. Ngày mai con sẽ không đi - đó là những lời cuối cùng tôi nghe thấy từ miệng mẹ tôi.
Mãi rất muộn tôi mới quay về nhà, muộn hơn mọi khi rất nhiều, lúc tôi nhét chìa khóa vào ổ khóa căn hộ chúng tôi, rồi xoay, thì lúc ấy đã 9 giờ tối. Nhưng cửa không mở ra. Tôi ấn mạnh một cái thì nó mới hé ra một ít, và, đúng lúc đó tôi nghe thấy tiếng em gái tôi bật tiếng khóc. Nó cố thủ trong phòng, lôi hết ghế trong nhà xếp bên nhau, chồng cả lên nhau sau cánh cửa ra vào, thành pháo đài của nó. Tôi đẩy mạnh cửa lần nữa thì nghe tiếng ghế đổ lổng chổng xuống nền nhà. Tôi lách người vào trong và lập tức thấy ngay rằng em tôi ốm. Đôi mắt nó sáng long lanh trong cơn sốt, trên mặt, trên tay đầy những nốt đo đỏ. Dạo tôi bị sởi, trông tôi cũng y như thế.
Mẹ tôi không có nhà. Đây là lần đầu tiên có chuyện như thế. Nếu mẹ tôi có đi đâu, thì cũng chỉ đến trại gà lấy trứng là cùng song, nếu có đi đến đó, thì lúc này bà cũng về đến nhà từ lâu rồi. Giờ này lối đi bên sông Regnitz tối đến mức có đưa tay ra trước mắt còn chẳng thấy nữa là. Em tôi không biết mẹ đi từ lúc nào, nó đang sốt cao, trông có vẻ chẳng biết trời đất gì nữa cả. Hai chị em tôi ngồi trong bếp chờ mẹ. Trong nhà lặng như tờ, chỉ còn nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường phía trên máy phát thanh, chiếc đồng hồ ông bác sĩ Sở Y tế tặng mẹ tôi dạo nào. Mắt tôi dán chặt vào cái kim lớn, cái kim mỗi phút lại nhảy một cái ấy. Trên tấm lịch tường treo ngay dưới đồng hồ, con số ghi ngày hôm nay bị gạch chéo hai lần.
Một lát sau, tôi vào buồng ngủ lấy chăn đắp cho em tôi đang bị sốt run cả người, tôi liền thấy ngay cái gì đã thay đổi trong phòng này. Từ bao giở bao giờ đến nay, trên tường căn phòng ngủ vẫn treo bức chân dung phóng to, chụp mẹ tôi trùm khăn kiểu Ukraine trên đầu và bức chân dung này cũng luôn luôn là bức ảnh đặc biệt ghi lại sắc đẹp khác người của bà. Nay bức ảnh bị tháo xuống, nằm trên giường, và bị xé toạc làm đôi.
Tôi chạy ngay sang nhà bố mẹ Farida báo tin mẹ tôi biến đi đâu mất. Ông bố Farida liền bấm chuông dựng ông quản lý khu nhà người Đức khỏi giường ngủ, ông này nhấc điện thoại báo cho cảnh sát. Mẹ của Farida ẵm em gái tôi đang sốt cao ra khỏi căn hộ chúng tôi, đem về ủ nó vào giường bác ấy. Còn tôi phải chỉ đường đến trại gà cho hai viên cảnh sát vừa đánh xe hơi đến. Lần đầu tiên trong đời tôi được ngồi xe hơi, chỉ thế thôi âu cũng đã là một sự kiện lịch sử đối với tôi rồi. Lúc này đêm đã khuya, trời lạnh, trăng vừa lên, và trên mặt sông Regnitz, mà giờ đây xe chúng tôi men theo bờ mà chạy đây, ánh trăng lấp la lấp lánh.
Ông già Azerbaijan ngái ngủ chui từ túp lều ra, thấy bóng cảnh sát thì hoảng hốt, luống cuống. Không, ông không thấy mẹ tôi ghé qua đây, mà cả ngày hôm nay có thấy cô ấy đến đây đâu, vả lại dạo này cũng thấy cô ấy rất ít khi ghé qua. Con Ada bị xích kêu ư ử, đôi mắt màu nâu của nó ánh lên trong đêm. Con gà trống ngu xuẩn nào đấy chợt cất tiếng gáy giữa lúc nửa đêm.
“Mẹ cháu xuống dưới sông Regnitz rồi,” tôi nói với hai viên cảnh sát. Hai người đưa mắt nhìn nhau rồi đáp: “Ôi dào, cháu chỉ nói vớ vẩn.” Thế nhưng trên đường về, họ cũng dùng đèn pha họ mang theo chiếu ra sông và chạy xe chầm chậm dọc theo bờ. Tôi cảm thấy kinh hoàng, chỉ sợ nhỡ đâu mẹ tôi, nằm chết bên bờ sông, sẽ đột nhiên hiện ra trước ánh đèn. Thế nhưng, trước mặt chúng tôi chỉ là dòng nước đen ngòm.
Đêm hôm đó, cả tôi cũng được ngủ lại nhà Farida, nhưng sáng hôm sau, cô Maria Nikolajevna đón tôi về nhà cô ở Weingartsteig, về căn nhà trong đó có tranh treo trên tường và chiếc đàn dương cầm mẹ tôi từng ngồi chơi. Tôi rất sợ ông chồng người Đức của cô ấy, chắc chắc ông ấy sẽ bực lắm nếu thấy mặt tôi ở đây, nhưng không, ông ấy chỉ nhìn tôi rất lâu bằng ánh mắt đến là buồn rầu qua cặp kính.
Suốt trong hai ngày sau đó, cô Maria cứ định nói với tôi điều gì, nhưng rồi cô lại lắc đầu và ngậm ngùi ứa nước mắt. “Không, không,” cô nói sụt sịt, “mẹ cháu chỉ đi vắng ít lâu, đi thăm người quen thôi, ít bữa nữa khắc về.” Tôi rất ngạc nhiên. Mẹ tôi đi thăm ai mới được chứ? Bà có quen ai đâu. Vả lại, nếu đi, chắc mẹ tôi sẽ mang đôi giày đẹp của mẹ mà đi; đằng này nó vẫn còn dựng ngoài cửa nhà tôi chứ đâu.
Đường từ dốc Weingartsteig đến nghĩa trang khá xa, nhưng tôi quen chạy rồi. Tôi chạy một mạch, không dừng lại thở lần nào, từ đầu này đến đầu kia thành phố, cho đến lúc tôi hổn hển đứng trước nhà xác mới dừng. Và mẹ tôi nằm ở đấy. Thật ra, không phải là tôi không mong sẽ không nhìn thấy bà sau tấm kính này đâu. Từ lâu rồi, tôi đã cầm chắc rằng một ngày nào đó, tôi sẽ đứng ở đây nhìn bà, vâng, tôi đã biết cái trò chơi độc địa hôm xưa bà vẫn thường chơi với tôi, sẽ có ngày thành sự thật. Bây giờ tôi có lay, có cấu véo bà thì cũng chẳng có ý nghĩ gì nữa, bây giờ tôi sẽ chẳng moi được ở bà một nụ cười nào nữa, tôi sẽ chẳng làm gì được nữa để chống lại cái chết của bà. Lâu nay, một ý nghĩ vẫn đeo đuổi tôi, rằng người chết nằm sau tấm kính này thật ra chỉ giả vờ chết, có điều họ không làm sao ra dấu cho mọi người biết điều đó, mặc dù họ nghe, họ cảm thấy hết mọi chuyện bên ngoài, chỉ riêng mẹ tôi, tôi biết thế, bà chẳng cảm thấy gì nữa. Bây giờ mẹ tôi chết thật rồi.
Chắc mẹ tôi phải vui lắm, tôi tự nhủ, rằng mọi sự đã như thế, rằng từ nay mẹ tôi sẽ không còn cảm thấy gì nữa của cuộc đời này, cuộc đời vẫn từng hành hạ bà khủng khiếp như thế. Hay là, giá mẹ tôi biết bơi, liệu đến giây phút cuối cùng bà còn muốn bơi trở lại bờ không? Phải chăng vào giây phút cuối cùng ấy, bà đã không muốn chết? Không rõ vì lý do gì, ý nghĩ về dòng nước lạnh tháng Mười là ý nghĩ làm tôi run sợ nhất. Rất có thể, tôi nghĩ vậy, mẹ tôi đã chẳng hề chết đuối, rất có thể trái tim nhỏ và yếu đuối của bà đã ngừng đập, đã vỡ tung ra, đúng vào lúc bà lội xuống dòng nước lạnh.
Với mái tóc đen xõa ra trên gối trắng trong quan tài, trông mẹ tôi lạ lẫm, giống như nàng Bạch Tuyết trong truyện cổ tích Đức vậy. Bên má phải, ngay dưới hốc mắt, tôi nhìn thấy một vết bầm xanh. Ở dưới nước, mẹ đã vấp vào đâu thế? Người ta đặt hai tay mẹ tôi bắt chéo nhau trên tấm khăn liệm trong quan tài, giống như tay của hai người khác hôm đó cũng được quàn trong nhà xác, nhưng trong tay mẹ tôi không có cây thánh giá. Trước quan tài bà cũng không thấy vòng hoa đâu. Mẹ tôi nằm đó, tuyệt không chút trang hoàng nào, một mình, riêng rẽ, tại một nơi hoàn toàn khác với hai người chết nằm bên cạnh.
Mãi về sau này tôi mới được biết người ta tìm thấy chiếc áo choàng màu xám gắn hình hoa tu lip đã sờn của mẹ tôi - chiếc áo choàng cuối cùng còn lại từ Ukraine - bên bờ sông, chỉ cách thân xác bất động của bà bị nước sông đẩy lên bờ khoảng trăm thước. Bà đã cởi áo choàng, gấp lại ngay ngắn rồi cẩn thật đặt lên mặt cỏ. Chỗ này hẳn bà đã chọn từ lâu, có lẽ cũng đúng vào cái ngày bà đã gạch chéo một chữ thập lên tờ lịch ghi ngày mồng 10 tháng Mười trên tấm lịch tường. Đó là các dấu hiệu bà để lại, dấu chữ thập trên lịch, bức ảnh bị xé và chiếc áo choàng bên bờ sông. Sao mẹ tôi lại cởi nó ra? Chẳng nhẽ bà không biết chiếc áo choàng ấy khi thấm nước sẽ đủ nặng để kéo bà xuống sâu?
Đúng vào lúc mẹ tôi qua đời, tại khu nghĩa địa cũ, trông giống như công viên của thành phố, không còn chỗ để chôn nữa, còn khu nghĩa địa mới lại đang bắt đầu xây. Hiện giờ trông khu nghĩa địa ấy giống như khu nhà riêng có các mảnh vườn đằng trước, chứ hồi đó, nó chỉ mới là một công trường dở dang. Ngôi mộ mẹ tôi với dòng chữ Nga còn phải đứng trơ trọi rất lâu nữa giữa một bãi đất trống bị máy xúc, máy ủi cày xới tung tóe. Đến bây giờ ngôi mộ cũng không còn nữa nốt. Không còn chút dấu vết nào nữa của mẹ, ngoài đôi ba tấm ảnh đen trắng, một bản sao giấy hôn thú và bức tranh thánh hồi xưa mẹ đem theo từ Ukraine. Có lẽ đó là một mẩu con con trong số tài sản gia đình, hồi ấy do vô tình không bị tịch thu.
Vâng, tôi nhìn mẹ tôi nằm sau tấm kính rất lâu, cho đến khi trời tối và cổng vào nghĩa địa đóng khiến tôi phải ra về. Gương mặt mẹ tôi xa vời và kín đáo, không cho biết mẹ đã qua đời ra sao, không hé lộ lý do vì sao mẹ đã không mang hai chị em chúng tôi theo cùng, vì sao, rốt cuộc, mẹ lại một mình ra đi như thế.
HẾT