Người Đến Từ Mariupol

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Lúc bác Lidia dứt nhà ra đi khi mẹ tôi vừa tám tuổi. Không biết cuộc chia tay với người chị cả có làm mẹ tôi buồn rầu lắm không? Tôi phải hình dung thế nào về cuộc sống mẹ tôi hồi đó? Liệu mẹ tôi cũng được bà ngoại dạy học riêng tại nhà, hay ngay từ đầu, mẹ đã được đến trường? Liệu mẹ có bị ngược đãi như bác Lidia, hay mẹ tôi, bất chấp nguồn gốc gia đình, vẫn gây được thiện cảm với mọi người xung quanh, bởi mẹ vốn mềm mỏng hơn, dễ gần hơn bà chị? Vì ở Mariupol không có trường đại học, thì về sau này, mẹ tôi học đại học ở đâu? Phải chăng mẹ tôi cũng đến Odessa trú ngụ tại nhà hai bà cô, hay bác Sergey đón bà về Kiev, là nơi mà bác lúc đó đã có chân trong nhạc viện và được một vị Mạnh Thường quân đầy quyền lực bảo trợ?

Dù thế nào thì tôi cũng nhẩm tính được rằng những năm tháng mẹ học đại học nằm vào giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Liên bang Xô viết, là thời Đại khủng bố, lúc mà các cuộc thanh trừng nội bộ đang gay gắt đến tột độ. Theo ước tính của các sử gia, con quỷ dữ Leviathan đó đã nuốt chửng từ ba đến hai chục triệu mạng người, hay còn hơn thế nữa. Đối với mẹ tôi, quyết định học đại học chắc chắn phải là một sự liều lĩnh. Thay vì phải che dòng giấu họ như nhiều người khác trong thời buổi đó, mẹ tôi lại phô hết tông tích mình ra. Tôi không rõ vì sao chính mẹ tôi, chứ không phải ai khác, lại cả gan như thế, song điều tôi cầm chắc mười mươi là mẹ thường xuyên bị đói. Cho đến những năm cuối cùng của cuộc đời mẹ trên đất Đức, mẹ luôn luôn bị cái đói dày vò. Rất có thể cái đói là một trong những thứ hồi chiến tranh đã đẩy mẹ vào tay quân Đức, với hy vọng ở Đức sẽ có đủ cái ăn hơn. Tôi vẫn còn nhớ ánh mắt thèm thuồng pha nỗi sợ hãi của mẹ mỗi khi ăn, như thể, mẹ luôn luôn lo sợ đến phút chót sẽ có kẻ cướp mất miếng ăn, như thể mẹ đang làm điều gì vụng trộm đầy tội lỗi vậy. Mẹ không thể ngừng ăn để chống lại cái đói luôn luôn dằn vặt mình, thế nhưng cơ thể mẹ dường như không còn khả năng hấp thụ thức ăn nữa, không còn khả năng làm nguôi cơn đói nữa. Mẹ có ăn nhiều thế nào thì ăn, lúc nào thân hình mẹ cũng vẫn gầy gò như thân hình một đứa trẻ ốm đói mà thôi.

Ở Odessa, bác Lidia được cô Jelena lo chỗ ngủ, chuyện ăn uống hai bà cô chia nhau cùng chịu. Ăn sáng, ăn tối ở nhà cô Jelena, ăn trưa ở nhà cô Natalia. Vì ở Liên Xô ai muốn vào đại học đều phải thi tuyển, cho nên việc trước tiên phải lo là làm sao bác Lidia được phép dự thi cái đã. Mọi hy vọng của bác đều đặt vào tay ông dượng, tức chồng cô Jelena; ông vốn là họa sĩ, lại giữ thêm chân giảng viên ở đại học. Mặc dù ông lấy vợ quý tộc và chính ông cũng bị liệt vào hạng “trí thức đồi bại”, cho nên chỗ đứng cũng chẳng vững vàng gì lắm trong hệ thống giáo dục mới, nhưng làm thế nào đó mà ông vẫn nộp được hồ sơ thi tuyển cho cô cháu ông mới giỏi.

Bởi vì con người Xô viết mới phải là con người toàn diện, cho nên lúc thi, thí sinh bị căn vặn đến nơi đến chốn về tất cả các môn. Tuy nhiên, trong việc này, các vị giáo sư bị rơi ngay vào tình huống éo le khó xử là con cái các gia đình công nông, vốn là những người được ưu tiên nhập học, lại là những người không đủ khả năng vượt qua các cuộc thi cử khó khăn. Nếu các vị giáo sư để lọt quá nhiều thí sinh thuộc tầng lớp trên, vốn được học hành đến nơi đến chốn vào đại học thì các vị chẳng những dễ bị mất quyền hành nghề mà mất cả đầu cũng nên. Phần lớn con cái gia đình công nông lại còn được các công đoàn hay chi bộ đảng cơ sở giới thiệu để được miễn thi tuyển.

Rào cản lớn nhất đối với bác Lidia là môn Toán, một môn học suốt đời bác cũng không hiểu nổi. Ngoài phép tính “hai cộng hai là bốn” chắc bác không biết hơn. Thế nhưng bác gặp may. Đang lúc bị gọi lên bảng và đứng ngơ ngác trước bài toán vị giáo sư vừa dùng phấn viết lên thì ông ta đột nhiên có việc phải chạy ra ngoài. Một thí sinh khác, một anh chàng giỏi toán nào đó, chạy thoắt lên, hí hoáy viết nhanh như chớp lời giải lên bảng giúp bác. Đến lúc vị giáo sư kia quay lại, ông ta gật gù hài lòng, cho bác qua môn Toán. Bác trả ơn cho vị cứu tinh của mình bằng cách giúp anh ta viết bài luận tiếng Ukraine, là thứ tiếng anh chẳng hiểu mô tê gì. Cố nhiên, làm như vậy, hai người đã rất liều lĩnh. Nếu chẳng may lộ chuyên, họ không những sẽ bị đuổi học ngay tức khắc, mà thậm chí còn có thể phải ra tòa vì tội phá hoại chứ không phải vừa.

Ngay cả lúc thi các môn Lý-Hóa, bác Lidia cũng được lợi do biết tiếng Ukraine hồi trước bác học qua cô bảo mẫu Tonia. Dạo đó, phần lớn các giáo sư đều chỉ biết tiếng Nga, là thứ tiếng đang bị tẩy chay, vì sau cách mạng, ở Ukraine, tiếng Nga bị liệt vào thứ tiếng của chính quyền sô vanh nước lớn. Ông chồng cô Jelena khuyên bác Lidia nên lợi dụng tình huống đó, và bác đã đóng màn hài kịch một cách tuyệt vời. Trong buổi thi vấn đáp môn Lý-Hóa, bác mạnh dạn nhìn thẳng vào vị giáo sư già hỏi thi và tuyên bố, bác chỉ nói tiếng Ukraine. Ông già tội nghiệp phải vất vả mới đọc nổi câu hỏi bằng tiếng Ukraine, còn bác Lidia, để đáp lại, tuôn ra cho ông ta nghe một tràng những câu trả lời vớ vẩn mà ông không hiểu. Mười phút sau, ông cho bác - lúc đó đang vã mồ hôi vì sợ hãi - ra khỏi phòng thi với điểm tối ưu.

Bác Lidia không gặp trở ngại nào tại các môn thi Văn, Sử, Địa. “Giá như chị xuất thân giai cấp công nhân,” mới đầu người ta bảo với bác như thế, “thì chúng tôi đã nhận ngay chị vào trường chúng tôi.” Thế nhưng, không rõ do đâu, bác Lidia vẫn tin chắc người ta sẽ phải nhận mình, bác không nghĩ đến bất cứ khả năng nào khác cả. Thế mà đúng thật: Ít ngày sau, bác nhìn thấy tên mình trên bản danh sách niêm yết trước cửa phòng thư ký. Đó là bản ghi tên các thí sinh trúng tuyển.

Trường đại học đối với bác Lidia là chốn linh thiêng. Nơi đây là kho kiến thức của thế giới, nơi bảo tồn các chứng tích về lịch sử nhân loại. Ngày ngày bước vào gian tiền sảnh của trường, ánh mắt bác đập vào bức tượng khổng lồ ở phía trên lan can trước tiên: tượng thần Atlas vác địa cầu trên vai, và trong quả địa cầu là cái đồng hồ to. Nhìn đồng hồ là bác lại nhớ đến bố mình ngày nào cũng từng theo học ở đây. Chính những chiếc kim đồng hồ bằng vàng kia cũng đã báo giờ cho ông, mỗi khi ông, lúc đó còn là chàng trai trẻ, bước vào gian tiền sảnh này.

Thời Liên Xô trước đây, chương trình học tại các trường đại học khá ngặt nghèo, với nhiều môn học bắt buộc. Môn Lý luận văn học bao gồm cả Lịch sử, Tâm lý học, Đức học, Ngôn ngữ học và Khoa học quân sự. Vị giáo sư Sử học, - một người đàn ông cao, gầy, sống mũi thẳng - bất kỳ buổi lên lớp nào cũng mở đầu bằng một câu trích từ Biên niên sử Nestor[1]: “Dân Polyane sinh sống ở lưu vực sông Pripyat, dân Drevliane - lưu vực sông Desna.” Vị giáo sư uyên bác và sinh động ấy giảng về những sự kiện xa xưa đó theo một cung cách đến là thân thiết, như thể chính ông đã chứng kiến chúng vậy. Nhưng rồi, ít lâu sau, không thấy ông lên lớp nữa. Người ta đồn ông bị bắt, nhưng không, ông lại xuất đầu lộ diện. Ông lại chúi mũi vào công việc giảng dạy, lại mở đầu các bài giảng với những câu trích về dân Polyane và Drevliane như xưa. Song, chẳng được bao lâu, ông lại biến mất, và lần này không bao giờ quay lại nữa. Thế chân ông là một gã còn trẻ, tự mãn, với gương mặt hồng hào phì nộn. Với gã, lịch sử chỉ bao gồm đấu tranh giai cấp, nhân dân là động lực, nhưng nằm trong tay một thủ lĩnh nào đó, và mọi kẻ cầm quyền, mọi tướng lĩnh đều chỉ là sản phẩm của thời đại họ mà thôi. Nắm được một thứ lịch sử như thế thật đơn giản, chẳng cần đến biên niên sử các thời đại, bởi có lẽ vị giảng viên nọ cũng không nắm được. Sinh viên chỉ cần chăm phát biểu, nếu không sẽ bị gã cho điểm kém vì thái độ thụ động. Thế nhưng, sau khi chăm chú nghe sinh viên phát biểu, y sẽ đánh giá ngay tức khắc, ai xét lại, ai menshevik, ai trotskist, ai bảo hoàng, vân vân.

Vị giáo sư Tâm lý học giảng cho các sinh viên rằng “tâm lý” thật ra có nghĩa là linh hồn, nhưng trong thực tế làm gì có linh hồn. Lúc sinh ra con người ta như một tờ giấy trắng, sau đó xã hội mới ra tay viết lên tờ giấy trắng đó. Mào đầu cho hợp thời hợp thế xong, ông mới chuyển sang giảng các bài giảng sắc sảo và độc đáo. Thỉnh thoảng ông cũng run rẩy dẫn ra và chỉ rõ sự độc hại của các lý thuyết do Sigmund Freud, Josef Breuer, vv… chủ xướng, ông cũng không bỏ sót cả Georgi Tschelpanov - tức là ông bác của bác Lidia - một tác giả mà ông lên án cho phải đạo là theo chủ nghĩa duy tâm và thần bí. Vị giáo sư thành thực liệt kê cho sinh viên biết các tác phẩm truyền bá những lý thuyết độc hại đó ra, và những sinh viên nào tinh khôn hiểu ý ông, sau giờ học, sẽ lập tức nhào đến thư viện để mượn cho bằng được các tác phẩm đó đem về đọc.

Vị giáo sư dạy Ngôn ngữ học là người thông thạo cả chục thứ tiếng khác nhau, thế nhưng thứ tiếng ông thích nhất không phải tiếng Ukraine, mà là tiếng Ba Tư. Riêng điều đó thôi đã khiến ông bị chi bộ đảng của sinh viên căm ghét. Một trong những quan điểm của ông là tiếng Ukraine thật ra không phải là một ngôn ngữ độc lập, mà chỉ là bộ phận của tiếng Nga mà thôi, đã thật sự gây ra làn sóng phẫn nộ trong đám sinh viên cực đoan. Số sinh viên mang tiếng là yêu nước này lồng lộn, hằm hè nhưng chẳng phản bác được ông bằng lý lẽ. Rốt cuộc, họ làm đơn khiếu nại, chỉ muốn làm sao bẩy vị giáo sư này khỏi trường đại học. Thế nhưng, ông này lại là thành viên của nhiều Viện hàn lâm quốc tế, là thành viên Hội đồng hoàng gia Anh, là người thư từ qua lại với hàng đống các nhà khoa học trên thế giới. Một nhân vật như ông to lớn quá sức đám chó con độc địa lau nhau nọ. Người ta gợi ý ông nên lánh ra nước ngoài, nhưng ông không chịu. Ông bình tĩnh bất chấp mọi đòn tấn công nhằm vào ông và không ngại ngần tuyên bố công khai: “Sách của Lenin tôi chưa bao giờ đọc; tôi không có thì giờ để làm việc đó.” Một lần, bác Lidia may mắn đứng xếp hàng nhận bánh mì cạnh ông. Bác đã kín đáo nhét phần bánh của mình vào túi áo vị giáo sư mà bác yêu quý.

Giáo sư Bachmann môn Đức học là một người hoạt bát, dí dỏm. Bác Lidia học tiếng Đức với ông và nhiều năm sau này, bác có thể đọc Goethe hay ETA. Hoffmann không cần dùng đến tự điển. Rất nhiều năm sau khi tốt nghiệp đại học, có lần trong trại cải tạo, bác đi nhận phần dầu hỏa thắp đèn. Người tù mặc áo bông, đội mũ lông sụp kín mặt xoay đi xoay lại mãi tờ lệnh phát dầu của bác trên tay rồi mới hỏi họ tên và cố tình kéo dài thời gian trút dầu vào can cho bác, trước khi cất tiếng hỏi: “Cô không nhận ra tôi ư?” Thoạt đầu bác không nhận ra ai thật. Ông ta cười buồn bã thì bác mới nhận ra trước mặt mình là giáo sư Bachmann. Ông vốn là vị giáo sư quá uyên thâm để được phép giảng dạy ở trường đại học.

Bộ dạng tay huấn luyện viên quân sự thì rất đúng với một người được trao đảm trách công việc này: con người vạm vỡ với khuôn mặt thô kệch. “Nghiêm!”, hắn hét to mỗi lần bước vào giảng đường. Một sinh viên trong nhóm bị cụt cả hai chân trong thời nội chiến và phải chống nạng vẫn ngồi yên. Lần đầu, tay huấn luyện viên quát: “Mày dám thế à! Như thế là vi phạm kỷ luật quân sự. Đứng lên ngay!” “Thưa đồng chí huấn luyện viên,” tay trưởng nhóm rụt rè, “anh ấy là phế binh ạ.” “Câm ngay! Anh có đứng dậy ngay không!” Anh sinh viên cụt chân cố chống nạng đứng dậy, song không được, lại buông mình ngồi xuống. Hai cây nạng đổ kềnh ra đất. Ai đó thốt lên, tỏ ý bất bình. Nhận biết được thái độ không đồng tình của mọi người, tay huấn luyện viên lặng im một lúc đầy lúng túng rồi mới chịu nhún. “Thôi, đồng chí cứ ngồi cũng được.”

Vào giờ thực hành quân sự, sinh viên phải tập đi đều bước, lăn lê bò toài dưới đất bùn và tập bắn súng. Bác Lidia nhỏ con, lọt thỏm trong bộ quân phục người ta phát cho. Áo choàng nhà binh dài đến tận gót chân, bước vài bước là đôi ủng bác xỏ cả giày vào lại tuột ra. Bác lại cận thị nặng, tay phải yếu xìu, nên không làm sao học được cách bắn súng. Tay huấn luyện viên cáu tiết: “Đồng chí Ivashtschenko! Đứng yên! Đưa súng cho tôi. Ra khỏi hàng!” Thế là bác không phải tập thực hành về quân sự nữa. Tuy nhiên, không rõ vì sao, tay huấn luyện viên vẫn cho bác điểm khá.

Tại trường đại học, các cuộc tranh luận nảy lửa vẫn thường xuyên bùng lên quanh vấn đề dùng tiếng nào tại giảng đường, tiếng Nga hay tiếng Ukraine. Phần đông sinh viên, giới lãnh đạo đảng và hội nhà văn Ukraine chuộng tiếng Ukraine hơn. Mọi thứ dính dáng đến tiếng Nga đều bị khước từ. Ngay gian tiền sảnh trường đại học đã có tấm biển to tướng với hàng chữ: “Nghiêm cấm sử dụng tiếng Nga trong khuôn viên trường Đại học”. Dùng tiếng nước nào cũng được cả, tiếng Đức, Do Thái, Anh, Pháp, Hy Lạp, Ý, riêng tiếng Nga - thứ tiếng ai cũng nói cũng hiểu được, thì bị cấm.

Về các đề tài được thảo luận trong các buổi hội thảo văn chương thì chẳng phải bàn gì thêm. Người ta tranh luận hàng tiếng đồng hồ liền, xem Pushkin và Gogol là địa chủ hạng vừa hay hạng nhỏ. Sinh viên phải đếm cho đủ số liên từ trong hài kịch Lý trí sinh đau khổ của Gribojedov, vì theo quan điểm hồi bấy giờ, từ số lượng các liên từ có thể suy ra thế giới quan của tác giả Gribojedov. Riêng bác Lidia từng được giao đề tài viết về Các khía cạnh liên quan đến nông nghiệp trong tác phẩm Anna Karenina của Tolstoi.

Với phương châm “công nhân tiên tiến đi vào văn học”, người ta đòi hỏi sinh viên đi đến các nhà máy để phát hiện các tài năng và thành lập các phân hội văn học. Một khi một công nhân nào đó tỏ ra vượt trội, thì có nghĩa là, như người ta rêu rao, trong lòng anh ta đang ẩn náu một nhân tài văn học cần phải phát hiện. Nhiều người trong số bạn học của bác Lidia kiếm được không ít tiền nhờ biết lợi dụng chuyện này. Họ tìm ra trong nhà máy một “nhà văn” nào đấy, viết giúp họ một văn bản nào đó rồi cho đăng với tên anh ta. Nhuận bút chia nhau, thế là cả hai đều được lợi.

Đưa công nhân tiên tiến vào văn chương, đưa sinh viên lý luận văn học về với sản xuất là vậy. Nhằm mục tiêu đào tạo “con người Xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện”, bác Lidia phải về tham gia lao động tại nhà máy dệt đay. Sớm sớm, “con người mới” này phải dậy từ lúc năm rưỡi, lên tàu điện chịu xóc thêm một tiếng nữa mới đến nơi làm. Đôi lúc, bác cũng như các bạn học khác còn ngủ đứng cả trên tàu. Đến nơi, ai nấy chìa giấy thông hành ở cổng ra vào, ra mắt thợ cả một lát rồi kéo nhau vào kho, buông người nằm xuống đống sợi đay làm thêm một giấc vài tiếng nữa. Cho đến lúc mấy gã tay chân của chi bộ đảng phát hiện, hăm dọa đủ điều, họ mới gọi nhau dậy đi làm.

Trong suốt thời gian về nhà máy, các sinh viên đều phải trải qua đủ hết các khâu sản xuất. Khâu đầu tiên là khâu đáng sợ nhất. Ở đây, bác Lidia phải mở bung các cuộn sợi đay khổng lồ và bụi bặm, kéo thẳng rồi ném lên băng chuyền. Đây là công việc dành cho một người đàn ông to lớn khỏe mạnh, chứ không phải cho một thiếu nữ nhỏ con, yếu ớt vì đói như bác. Do chậm, nên bác thường xuyên bị la mắng, quở trách. Bác chìm đắm trong đám mây bụi dày đặc, ngạt cả thở, chưa kịp tháo xong bó đay này thì bó khác đã lăn đến. Về sau, phải mất đến nửa năm bác mới ho khạc hết được số bụi đay hít vào người dạo đó.

Hai tuần sau, bác phải sang phân xưởng kéo sợi, nơi đặt một hàng dài các máy kéo sợi ồn ào đến điếc tai. Do bị cận thị, nên bác không nhận ra ngay cái mối sợi đứt. Thợ cả cằn nhằn, phân xưởng trưởng nhòm ngó. Toàn chuyện không hay. Một thiếu nữ có đôi tay vụng về, trau chuốt, không quen lao động - còn ai có thể tồi tệ hơn đối với nhà nước công nông nữa chứ?

Phân xưởng thứ ba - phân xưởng dệt - là nơi thoát thân cho bác Lidia; nơi đây có các khung dệt thủ công thô sơ dùng để sản xuất các loại bao tải. Sợi ở đây to, bác Lidia có thể nhìn thấy được và khéo léo gỡ rối. Bác học sử dụng khung dệt rất nhanh. Thợ cả hài lòng, luôn mồm khen ngợi. Đến cuối tuần thứ hai làm tại đây, bác đã là công nhân tiên tiến vượt năng suất. Phần thưởng là tăng khẩu phần tại nhà ăn. Rồi một hôm, chị phụ trách phân xưởng bảo: “Cô là cô bé lanh lợi! Cô học ngành gì ở trường đại học? Văn chương à? Học như thế chỉ khổ thôi. Văn chương làm sao mà đủ no. Cô ở lại đây với chúng tôi. Chúng tôi cấp nhà cho cô, lương tháng tuyệt vời và hàng tuần thêm khẩu phần lương thực thực phẩm dành cho công nhân tiên tiến. Cô sẽ gia nhập giai cấp công nhân chứ không nằm trong số trí thức ngực lép ốm yếu kia nữa.” Về sau này, bác Lidia sẽ còn phải nhớ lại những lời này của chị phụ trách phân xưởng dệt. Giá như hồi đó làm theo lời khuyên của chị ta, chắc bác đã tránh được nhiều hiểm họa về sau trong đời.

Dần dần bác cũng kết được bạn, nối được bè trong số bạn học. Trong nhật ký của bác, tôi gặp lại tên tuổi một số người trong hồ sơ vụ án của bác: Anna Bokl, Sarah Bortman, Anna Edelstein, Lev Poznanski và đặc biệt là Bella Glaser, người đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến bác Lidia; chị này là con gái một bà Do Thái người Nga từng di cư sang Mĩ, nay mới hồi hương. Bà mẹ ly dị chồng, đưa con gái từ bỏ thế giới “Tư bản chủ nghĩa đáng nguyền rủa” để quay về “thiên đường Cộng sản chủ nghĩa”. Nhưng trên người Bella, ánh hào quang nước Mĩ vẫn chưa phai nhạt. Chị mang tất lụa, đi giày có khóa sang trọng, mặc áo váy Charleston, áo lông màu tím. Chị là một phụ nữ trẻ hết sức duyên dáng, học thức cao rộng phi thường, đầu óc phê phán sắc sảo và chí hướng tự do mạnh mẽ. Dần dần chị để lộ cho bác Lidia biết, rằng chị không coi Liên Xô là thiên đường của giai cấp công nhân, dưới mắt chị, đây là nhà nước của một đảng độc quyền phản bội giai cấp công nhân. Chị nói lên những điều mà nhiều người khác đến nghĩ thầm cũng chẳng dám. Một cách thận trọng, chị từng bước kéo bác Lidia vào hàng ngũ “Nhóm giải phóng giai cấp vô sản” do chị thành lập và hoạt động bí mật. Dần dần bác Lidia trở thành người đồng chí hướng với chị, hai người cũng như các thành viên khác của nhóm thường xuyên gặp nhau. Đó là nơi duy nhất bác có thể cởi mở, tự do bày tỏ quan điểm của mình. Đối với bác, gặp gỡ, trao đổi với bạn bè trở thành nhu cầu cuộc sống, bởi bác thường lo sẽ không chịu nổi áp lực hàng ngày buộc mình phải thích nghi, phải đóng kịch và buột mồm phát ngôn hay hành động những điều có thể gây hại cho mình. Nhóm bí mật gần như biến thành nơi ẩn náu, nơi nghỉ ngơi lấy lại sức, nơi tạm lánh khỏi những con mắt luôn luôn rình mò của bộ máy giám sát khổng lồ do nhà nước điều hành.

Người ta thường xuyên tổ chức các chiến dịch cho sinh viên tham gia chống nạn mù chữ. Chẳng là đám sinh viên phải trả nợ cho việc họ được yên thân học hành mà lại. Bác Lidia được chọn đến dạy cho công nhân một nhà máy giày nọ biết đọc, biết viết. Nhà máy có tổng cộng hai trăm công nhân, nhưng sau một cuộc tuyển chọn - chẳng rõ theo tiêu chuẩn nào - chỉ có chín người được đi học. Trong khuôn viên nhà máy, một căn phòng được tách ra làm nơi học, trên tường có treo ảnh Lenin và treo cờ đỏ hẳn hoi.

Ngay ngày đầu tiên bác Lidia đã phát hiện, hóa ra trong đám thợ giày ai cũng viết thông đọc thạo cả. Bác đâm lúng túng, bất lực nhìn họ. Người thợ lớn tuổi nhất đành ôn tồn nói: “Cho đúng lẽ thì chúng ta cứ học theo đúng chương trình, đồng chí giáo viên ạ.” Thế là từ đấy, suốt ba tháng giời, mấy anh em thợ đóng giày cứ chiều tối lại đến lớp viết thật nhanh một bài chính tả, cố tình viết xấu và nhiều lỗi chính tả lẫn ngữ pháp để bác Lidia cẩn thận chữa lại bằng mực đỏ. Sau bài chính tả, bác đọc cho họ nghe một đoạn văn hay một bài chọn từ tập thơ nào đó ra, hoặc bác tự nghĩ ra đôi mẩu chuyện về mình rồi kể cho họ nghe. Đám công nhân thích thú khi được nghe các mẩu chuyện như thế lắm.

Đến cuối kỳ học, một bà ăn mặc kiểu nhà binh, choàng khăn đỏ quanh cổ, dáng bộ rất hách xuất hiện; bà đến kiểm tra trình độ các học viên. Họ đưa cho bà ta xem những quyển vở viết đầy chữ, với những nét chữ đỏ lòe do giáo viên nắn sửa chu đáo cho họ; lúc đọc đôi đoạn văn trích từ báo ra, họ cố tình ấp úng hoặc giả vờ ngắc ngứ. Bà cán bộ kiểm tra tỏ ra hài lòng với học viên và giáo viên lắm. Bà ta hy vọng anh em công nhân sẽ sớm đọc được báo và thảo luận về nội dung các bài đăng trên đó. Rồi bà ta chia tay họ.

Do diễn thành công trò hề đó mà bác Lidia được thưởng vé xem opera thường kỳ, lại được một suất đi nghỉ cùng nhóm thợ đóng giày. Họ được bốn ngày đến nghỉ ở Crimea, và đi tắm biển ở Yalta, Alupka, Alushta và Sevastopol. Bác Lidia được một phen ăn uống no nê, ngủ phòng riêng tại khách sạn và tắm biển thỏa thích. Đám học viên trẻ săn đón, bày tình tỏ ý. Bác không muốn họ buồn lòng, nhưng cũng tỏ cho họ biết rõ ngay từ đầu rằng, tuy đã có người yêu, bác vẫn quý mến họ. Các chàng trai trẻ đành lấy thế làm yên lòng.

Đi nghỉ về, người ta trả lương cho bác, cứ mỗi đầu học viên bác được lĩnh chín rúp, còn các học viên cảm tạ bác bằng hai đôi giày cao gót rất tốt dùng vào mùa hè. Với số tiền đó, cùng đôi giày mới, bác lên đường về Mariupol nghỉ kỳ nghỉ hè đầu tiên, nơi mà bác lại lập tức phải đối mặt với cảnh sống khốn khổ của gia đình. Bố mẹ và các em lâm vào cảnh túng thiếu, đói kém trầm trọng. Ông Jakov hầu như không làm được gì ra tiền nữa, mắt ông gần lòa hẳn. Bà Matilda phải đọc to cho ông nghe các bản án và thay ông viết các văn thư cần thiết. Cô Tonia tìm được việc làm ở nhà máy dệt, nhưng vẫn giúp mẹ bác trong công việc nhà, thậm chí biếu bà ít tiền nữa. Mẹ tôi, Jevgenia, lúc đó mười tuổi, đã đi học, còn bác Sergey, mười lăm tuổi, phải tham gia chiến dịch “Lấy vàng của nhà thờ cứu đói”. Bụng đói mèm, bác phải giúp một tay cướp bóc tại các nhà thờ Công giáo và Do Thái; mọi thứ quý giá - vàng, bạc, kim cương, đá quý - trong các nhà thờ đều bị bóc, bị lột ra đem đến nộp tại nơi tập trung. Công bác được nhận là một suất bánh mì nhỏ nhoi.

Bác Lidia thừa hiểu ở nhà không ai chào đón mình cả, bác về chỉ tổ thêm miệng ăn. Bác mong sao giúp được một tay, nhưng không biết giúp bằng cách nào. Tốt nhất là quay lại Odessa, nhưng chưa kịp thì đã có tin không hay của các bà cô cho biết tình hình có nhiều thay đổi. Con trai bà Jelena lấy vợ, kéo vợ về ở trong căn hộ chật chội của bà, chẳng còn chỗ cho bác Lidia nữa. Cô Natalia nhận cậu con trai mười sáu tuổi của bà bạn về nuôi, vì hai vợ chồng bà này vừa bị bắt, nên cô không còn cách gì lo ăn uống cho bác Lidia được.

Tin này làm bác Lidia choáng váng. Phải mất mấy ngày bác mới tĩnh trí lại được, và vẫn táo bạo quyết định quay lại Odessa. Bác tự nhủ, ta cứ đến cửa nhà cô Jelena mà gõ thì cô ấy sẽ không nỡ nào đuổi ta đi, bắt ta phải sống cảnh vô gia cư khổ sở. Bác tính như thế mà đúng thật. Bà Jelena để bác vào nhà, còn nấu xúp nóng cho ăn sau chuyến đường xa. Bác đành phải ngủ ghế xếp, nhưng dẫu sao cũng đã quay được về Odessa.

Sáng hôm sau, bác lao ngay đi tìm việc. Trời mưa như trút nước, tuy ướt như chuột lột từ đầu đến chân, nhưng bác lại gặp may. Người ta nhận bác làm chân phụ tá tại phòng cấp phát tem phiếu lương thực thực phẩm. Ở đấy, bác phải ngồi suốt ngày sau một quầy hàng tối tăm, kiểm tra giấy tờ tùy thân rồi phát phiếu cho những người đứng chờ trong hàng người xếp nối nhau dài dường như vô tận. Khoản lương bác được nhận thật khốn khổ, chẳng đủ để ăn cho no bụng, chưa nói đến chuyện bác còn phải dành chút ít tiền giúp cô Jelena, coi như tiền trọ.

Nhưng rồi bác được chị Bella Glaser giúp. Chị này vốn quen biết chị giám đốc Thư viện trường đại học và giới thiệu cho bác vào làm ở đó. Từ nay, sau giờ học ở trường, bác phải đến thư viện làm từ 5 giờ chiều đến 10 giờ đêm - khuân sách từ giá đến cho người mượn và từ chỗ người đọc trả sách trở lại giá trong kho. Công việc khá nặng nhọc, nhưng dù sao bác Lidia cũng được trả lương khá hơn trước đây, và tại thư viện bác cảm thấy thoải mái hơn nhiều. Ngày ngày, sau giấc ngủ ngắn ngủi trên chiếc giường xếp, sáng sáng bác lại hối hả đến trường. Bác không có đồng hồ, nhưng không được phép đến muộn. Nhiều khi bác ngồi ngủ gật ở bậc thang dẫn vào trường, do đến quá sớm, cổng trường chưa mở.

Cuộc sống thường ngày mỗi lúc một trở nên ảo não, mỗi lúc một thêm vô vọng, sống chung với nhau trong những căn phòng chật hẹp, nhưng người nào cũng chỉ lo được cho người ấy, người nào cũng phải lo sao cho mình được sống sót. Trong các cửa hàng, chẳng còn gì để bán ngoài món mứt mận không đường nấu từ mận khô. Tại cửa hàng ăn sinh viên, giỏi lắm chỉ còn món cháo lúa mạch loãng làm món phụ, cộng thêm món lúa mạch đặc hơn làm món chính. Tệ hơn thì nước luộc bắp cải và bắp cải hấp. Từ lâu bác không còn ăn sáng nữa, thi thoảng mua được món đậu nành viên, vốn có thể nhấm nhá một lúc lâu vì nó dai nhanh nhách như cao su ấy.

Sang xuân, nam nữ sinh viên được phái về các làng lân cận tham gia đẩy mạnh phong trào thành lập nông trang và chống nạn mù chữ. Tại các buổi mít tinh, bác Lidia phải lựa lời nói những câu trống rỗng hời hợt về tương lai tươi sáng của nông dân trong các nông trang kolchose, cũng như về con người Xô viết được đào tạo toàn diện. Đó là năm 1932, năm khởi đầu nạn đói kinh khủng mang tên Holodomor[2]. Mới đó thôi, xứ sở Ukraine với thứ đất đen màu mỡ còn là vựa thóc của châu Âu, bây giờ nó biến thành nhà chứa xác. Holod tiếng Ukraine là đói, mor bắt nguồn từ chữ moritj, có nghĩa là đày đọa, hành hạ. Đó chính là cuộc thí nghiệm khổng lồ của Stalin về hợp tác hóa, một thí nghiệm sau này lịch sử sẽ xếp vào hàng tội ác diệt chủng đối với nhân dân Ukraine.

Mặc dù đã đến kỳ gieo hạt nhưng chẳng có ai ra đồng, mọi sự đều ngừng trệ. Công cuộc quốc hữu hóa tài sản của nông dân đã làm nền nông nghiệp Ukraine tê liệt. Khá nhiều nông dân - phần đông là đàn bà có con nhỏ gầy yếu, kiệt sức - bị tịch thu ruộng đất và đuổi khỏi quê hương xứ sở nên đi lang thang không nơi nương tựa. Những người không chịu hiến của cải và nộp mình vào nông trang đều bị giết, hoặc đẩy đi đày. Nạn đói lan tràn khiến nhiều vùng vãn hẳn người. Đến mức chẳng còn ai để chôn cất người chết. Ai chết ở đâu, đành nằm đó mà thối rữa. Người điên, kẻ ăn thịt người nhan nhản khắp nơi.

Quay về sau những lần xuống xã như thế, đám sinh viên lại phải báo cáo thành tích họ đã thuyết phục được bao nhiên nông dân vào nông trang, đã ngăn được bao nhiêu vụ nổi loạn. Các báo cáo của bác Lidia cũng được thảo ra theo cung cách ngôn từ thời đó, như bác thuật trong nhật ký là lặp lại hàng loạt số liệu giả và những câu chép từ các diễn văn của Stalin. “Này cô bé ạ, rồi cô sẽ nên người đấy,” tay chủ tịch Ủy ban sinh viên thậm chí còn khen bác, “chỉ cần mài giũa, rèn luyện cô thêm chút ít là được.”

Một hôm, ông bác Valentino đột nhiên xuất hiện ở Odessa. Lần cuối cùng gặp ông là lúc bác Lidia còn rất nhỏ, trước cả cái ngày được người tài xế xưa kia của ông ngoại đón lên xe, đưa bác đi một chuyến du ngoạn lạ lùng đến nhà ông làm vườn người Đức, rồi sau đó, phóng xe đi biệt tăm. Bác không bao giờ quên ngôi nhà vườn bỏ hoang đến mức gần mục nát hồi đó, và giờ đây, bác không thể tin nổi vào mắt mình khi thấy ông Valentino, người bác mà bác Lidia tưởng đã chết từ lâu, lại lù lù đứng trước cửa nhà cô Jelena như thế. Ông không cho ai biết lâu nay mình ở đâu, thế nhưng, có lẽ ông đã giấu được chút ít của cải hôm xưa, nên bây giờ có tiền để thuê phòng ở khách sạn. Ông kể mọi người nghe về cậu Antonio ở Cherson, ông chủ vườn nho hồi nào bác Lidia đến an dưỡng sau lần bị bệnh lao. Người ta tịch thu của cải, bắt ông cùng vợ và con gái về Siberi, nơi mà đứa con gái ốm yếu vì bị lao xương của ông khó có cơ may nào sống sót. Ông Valentino tìm cách giúp gia đình ông em trốn về Odessa, rồi sẽ cùng nhau vượt biển Hắc Hải sang đất Rumani.

Trong thời gian lưu lại Odessa, thỉnh thoảng ông lại đưa bác Lidia đi ăn tiệm và mua cho bác đôi bộ quần áo cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Đối với bác, đó là thời kỳ như đang sống trong mơ hay trong truyện cổ tích vậy. Cái thời sung sướng hôm xưa, khi bác còn là đứa trẻ theo mẹ về nghỉ ở khu nhà vườn ấy, trở nên xa vời và luôn có cảm giác đó chỉ là câu chuyện về một nhân vật tiểu thuyết nào đó bác từng đọc mà thôi.

Vài tuần sau, quả nhiên ông Antonio cùng gia đình kéo về Odessa thật, đi theo một đường bí mật đầy hiểm nguy nào đó. Ông Valentino đã bỏ ra một khoản tiền chuộc khổng lồ để đón cả ba người về đây rồi giấu họ vào một túp lều của ngư dân trong cảng. Vào một đêm không trăng không sao, một chiếc thuyền buồm lặng lẽ đến đón họ sang Rumani. Bác Lidia từ biệt ông Valentino, ôm ông vào lòng với niềm cay đắng rằng bác sẽ không bao giờ gặp lại ông nữa - ông là bác hay là bố đẻ mình, thì chỉ một mình mẹ bác mới biết mà thôi. Về sau này, bác nghe tin ông cùng gia đình ông Antonio đã thoát được sang Rumani, rồi từ đó lánh sang Pháp, và cả nhà lại sinh sống bằng nghề trồng nho.

Lúc chia tay, ông Valentino dúi vào tay bác Lidia sáu chiếc thìa bằng bạc rất nặng, có in phù hiệu dòng họ De Martino trên cán. Với sáu chiếc thìa này, bác có đủ tiền ăn tiêu suốt nửa năm. Mỗi tháng bác lại đem cầm một cái tại cửa hiệu cầm đồ Torgsin, cửa hiệu chuyên “buôn bán với người ngoại quốc”, mặc dù ở đây chẳng ai buôn bán với người ngoại quốc cả. Bức màn thép đã sập xuống từ lâu, che chắn mọi thứ ở đây với thế giới còn lại. “Người ngoại quốc” biến thành tiếng rủa. Dân chúng Odessa đem những của cải, những đồ trang sức, các bộ chén đĩa cuối cùng của mình đến cầm tại hiệu cầm đồ Torgsin này. Ngay trong thời Holodomor mà ở đây vẫn có tất tật những gì từ thời Sa hoàng Nikolai II từng có: cam quýt, sô cô la, thịt hong khói, cà phê, trứng cá. Bằng số tiền thu được từ những chiếc thìa bạc, bác Lidia mua trữ ngũ cốc, dầu rán, rau quả khô, để dành cho cả tháng.

Loại giấy vẽ pauspapier bán tại các cửa hàng văn phòng phẩm hóa ra lại trở thành nguồn thu nhập bất ngờ. Cùng với cô Natalia, bác vô tình phát hiện ra rằng trong thành phần giấy vẽ pauspapier có một lớp vải Batist. Chỉ cần ngâm giấy vào nước rồi đun lên thì lớp vải Batist sẽ tách rời ra. Phơi khô thứ vải này rồi đem là cho phẳng ra, hai cô cháu có thể may đồ lót đem bán ở chợ hoặc đổi lấy lương thực thực phẩm. Cô Natalia không có máy khâu, nên hai cô cháu thường ngồi đến tận nửa đêm dưới ngọn đèn trong bếp để may may vá vá. Khó là ở chỗ, họ không thể thường xuyên mua những lượng lớn pauspapier được, bởi sẽ gây sự chú ý của thiên hạ. Nhưng rồi Anetschka, con gái của cô Natalia tìm được nguồn giấy mới. Anetschka làm việc tại thư viện thành phố và phát hiện ra trong kho lưu trữ của thư viện chứa khá nhiều bản vẽ kỹ thuật cũ vẽ trên giấy pauspapier. Do mực dùng để vẽ kỹ thuật không bị phai khi ngâm và nấu giấy pauspapier, nên các loại áo lót, quần đùi, nịt ngực bác Lidia cùng cô Natalia may, rồi đem đi bán, đều còn những đường nét bí hiểm bắt nguồn từ các bản vẽ kỹ thuật ngày nào. Thế nhưng, ngoài chợ đen “hàng” của hai cô cháu vẫn bán rất chạy. Có điều, khi bán họ phải rất đề phòng, vì đâu đâu cũng có cảnh sát rình mò; cũng may, họ không bị bắt bao giờ.

Một nguồn thu nhập khác của bác Lidia bắt nguồn từ chủ trương Ukraine hóa dân Odessa của chính quyền. Bác được nhận các khoản thù lao hậu hĩ để dịch vô số nội quy nhà máy và tài liệu hướng dẫn công việc từ tiếng Nga sang tiếng Ukraine; có lần bác được giao nhiệm vụ kiểm tra trình độ tiếng Ukraine của các nhân viên bưu điện. Bác đọc cho họ viết bài chính tả; số nhân viên này chỉ biết tiếng Nga, chỉ hiểu bập bõm được những gì bác đọc cho họ, cho nên các bài chính tả của họ đầy lỗi. Bác Lidia không còn cách nào khác là chấm điểm “không đủ trình độ tiếng Ukraine” cho họ, khiến số nhân viên bưu điện này đều bị bắt buộc phải học tiếng Ukraine. Nhờ trước đây từng học với cô bảo mẫu, bác Lidia thành thạo tiếng Ukraine như tiếng mẹ đẻ. Lợi thế này chẳng những giúp bác có thêm thu nhập, mà còn khoác cho bác vỏ bọc người vô sản, một vỏ bọc có ý nghĩa sống còn đối với bác hồi bấy giờ.

Tuy vậy, trong năm học cuối cùng, nhà trường vẫn tìm cách loại bác khỏi trường đại học. Không nêu lý do và cũng không báo trước, người ta bỗng dưng tăng học phí của bác lên rất cao, cao đến mức ai cũng biết bác không trả nổi. Bác đã tưởng phải chịu bó tay thì nhớ ra lá bài cuối cùng có thể lôi ra chơi. Thật ra thì đây là trò dối trá, vì ông thân sinh bác đã từ lâu không còn thừa nhận chính quyền Xô viết nữa, nhưng bác Lidia vẫn tìm mọi cách để lấy được chứng nhận của tòa án, rằng bố mình do tham gia phong trào công nhân cách mạng chống Sa hoàng nên bị kết án hai mươi năm đày biệt xứ. Bác nộp giấy chứng nhận này cùng một bức thư khiếu nại lên Ban Giám đốc, và ngày hôm sau, lúc đi ngang tấm bảng “danh sách các sinh viên xuất sắc nhất của nhà trường” treo ở tiền sảnh, bác nhìn thấy rành rành tên mình ghi trên đó. Như thế có nghĩa là bác được miễn học phí.

Luận văn tốt nghiệp bác viết trong vòng có ba ngày, với phương châm, đã bịa thì bịa cho khéo. Bác so sánh nhà văn Ukraine Mykhailo Kotsiubynsky với Maxim Gorki và đưa ra một luận điểm trời ơi đất hỡi, rằng các tác phẩm của Gorki chịu ảnh hưởng mạnh của Kotsiubynsky. Giáo sư hướng dẫn ngạc nhiên lắm, bởi ông chưa thấy ai dám quả quyết như thế bao giờ. Ông ta cũng lấy làm lạ thấy bác viết luận văn tốt nghiệp bằng tiếng Nga. Bác Lidia giải thích với ông ta, nhờ học ở trường đây nên bác mới biết tiếng Nga. Bài luận văn tốt nghiệp nhảm nhí như thế mà bác lại được điểm ưu. Và trong bằng tốt nghiệp, một dòng chữ ghi rõ, nay bác là giảng viên Văn học - nhưng tránh không ghi rõ văn học gì, Nga hay Ukraine.

Chỗ làm của bác ở thư viện trường đại học - vào giai đoạn cuối bác là trưởng phòng đọc ở đây - bị người ta hủy bỏ một cách tùy tiện. Do ban lãnh đạo không duyệt đơn xin nghỉ phép ba tuần của bác, nên bác cứ thế nằm lỳ ở nhà, không đi làm nữa. Ba tuần sau quay lại nơi làm, đập ngay vào mắt bác là tấm bảng gắn ngay cửa ra vào thư viện với dòng chữ: “Cấm ngặt kẻ trốn việc mang tên Ivashtschenko L. J. bước chân vào thư viện.” Nhưng chuyện này cũng chẳng làm bác bận tâm nữa, bởi đằng nào thì bác cũng muốn kết thúc quãng thời gian sống tại Odessa càng nhanh càng tốt.

Để tham dự buổi liên hoan tốt nghiệp, cô Natalia tốt bụng phá áo cũ lấy vải may cho bác cái áo liền váy màu đỏ hợp thời trang, và chiếc áo khoác ngắn kiểu Bolero, màu trắng. Bác mang đôi giày sang trọng cánh thợ giày đóng tặng mình dạo nào. Đảng và đồng chí Stalin tặng các sinh viên tốt nghiệp món khoai tây nghiền làm món chính, bánh mì ngọt và trà đen làm món tráng miệng. Bác Lidia nhanh chóng nhận ra không phải bác là người duy nhất ngụy trang làm dân Ukraine chính gốc. Khi buổi liên hoan chuyển sang phần nhảy vui vẻ và ai nấy đã ngấm đủ rượu thì phần đông đều xổ tiếng Nga ra với nhau, quên khuấy mất rằng họ phải chuyện trò với nhau bằng tiếng Ukraine mới phải đạo.

Bác Lidia quay về Mariupol; bác tự nhận thấy phận sự mình lúc này là đỡ đần bố mẹ và lo cho em trai, em gái học hành đến nơi đến chốn. Với chính mình, mai sau thế nào bác chưa nghĩ đến. Bác không tính chuyện nghề ngỗng hay gia đình riêng, mọi sự vẫn chỉ xoay quanh mối lo làm sao sống sót.

Thế nhưng bác cũng tìm được chân biên tập viên và phiên dịch ở báo Người vô sản Azov. Lương bổng ở đây rất khá, lại được ăn trưa không mất tiền. Tối tối, sau ngày làm việc, bác dạy học cho công nhân nhà máy luyện kim. Hai khoản lương ghép lại giúp cả nhà ăn tạm đủ no, cuộc sống bố mẹ bác có vẻ nhẹ nhõm hơn đôi phần.

Một hôm - lúc đó bác mới vào làm ở tòa soạn chưa được bao lâu - đúng lúc tòa soạn sắp đóng cửa thì có tin báo phải đăng trang đầu. Đó là chỉ thị triệu tập cuộc họp các đảng viên và cảm tình đảng vào 6 giờ sáng hôm sau tại thư viện trong công viên Văn hóa thành phố. Ai nấy đều bắt buộc phải có mặt. Bác Lidia dịch thông báo ngắn gọn đó sang tiếng Ukraine và chuyển nó tới nhà in. Sáng hôm sau, trời không may mưa gió đùng đùng. Các đảng viên và cảm tình đảng đều suýt ngủ quên và hớt hải kéo đến nơi họp (bởi ai không đến, tính mạng người đó sẽ bị đe dọa chứ không vừa), nhưng ai nấy đều ngơ ngác vì không thấy mặt mũi viên Bí thư đâu. Hóa ra, cuộc họp được triệu tập vào 6 giờ chiều chứ không phải 6 giờ sáng. Không ai làm rõ được xem sự nhầm lẫn này do người thảo chỉ thị hay do bác Lidia dịch sai, thế nhưng tai họa kéo theo thì không ai ngăn được nữa. Từ hôm đó, người ta công khai công kích, khiêu khích, cũng như tò mò dò xét bác trong mọi chuyện. Một chị đồng nghiệp chợt tỏ ra thân thiện, tối tối theo bác về đến tận nhà, hỏi han về cuộc sống cũng như gia đình. Bác Lidia chẳng nghi ngờ gì, chân tình thổ lộ nhiều chuyện riêng tư của mình với chị ta.

Rồi bác nhận được bức điện từ Odessa, nguyên văn như sau: “Nina lâm bệnh, chị nên đi tiêm chủng ngay.” Bác hiểu ngay mình sắp gặp chuyện chẳng lành. Bởi Nina là bí danh của chị Bella, “lâm bệnh” rõ ràng có nghĩa là bị bắt. Về sau này, bác Lidia sẽ còn nhớ lại rất rõ, lần cuối cùng bác đi từ tòa soạn về nhà là mùng 9 tháng Mười một năm 1933, người đi theo là chị bạn thân tình nọ. Một buổi chiều tà, bầu không khí trong lành yên ắng, hương hoa còn thơm ngát các khu vườn - suốt một thời gian dài đằng đẵng, đó sẽ là buổi chiều tà êm ả cuối cùng trong cuộc đời bác.

Ngày hôm sau, sau giờ làm việc, bác dạy học như thường lệ ở khu nhà máy luyện kim. Anh em công nhân đều đã mệt mỏi sau ngày làm việc mệt nhọc, thế nhưng họ vẫn chăm chú nghe bác giảng bài. Được độ nửa tiếng thì cửa phòng học chợt nhẹ nhàng mở ra và bà phụ trách lớp bổ túc văn hóa ngoắc tay gọi bác ra ngoài. Bác Lidia xin lỗi các học viên rồi bước ra. Đứng chờ ngoài cửa là hai người đàn ông mặc thường phục; họ yêu cầu bác đi theo họ. Bác toan quay vào lớp lấy cặp sách rồi tiện thể chia tay các học viên, nhưng hai gã đàn ông kia ngăn lại, nói bác không cần làm gì nữa hết. Ra đến ngoài phố, dưới ánh đèn đường yếu ớt, họ chìa cho bác xem một mảnh giấy có đóng dấu. Rồi bác nghe bên tai mình tiếng nói gằn, sắc như dao: “Cô bị bắt!”

Bác bị đưa lên một chiếc xe công vụ của NKWD[3] chở về nhà. Mãi đến lúc này, trên quãng đường ngắn xe đưa về nhà, bác mới sực nhớ ra các tài liệu có thể dùng để buộc tội mình đều đang nằm trong ngăn kéo: bản Hiến chương do chị Bella soạn thảo trên giấy cuốn thuốc lá nhằm lên án đảng là bè lũ phạm tội chống giai cấp công nhân, đồng thời kêu gọi công nhân nổi dậy làm cuộc cách mạng mới chống chế độ tư bản nhà nước. Thêm vào đó là nhiều thư từ của chị Bella công khai thúc giục bác Lidia thông qua việc thành lập các nhóm yêu văn chương tại nhiều xí nghiệp ở Mariupol để tiếp xúc với cóng nhân và tuyên truyền giác ngộ họ. Đến như bức điện báo nguy từ Odessa cũng không đủ nhắc nhở bác phải hủy các tài liệu đó đi. Bác ân hận, làm sao mình có thể hớ hênh đến mức đó được.

Trong lúc nhà bị khám, bác Lidia cũng chỉ kịp thì thầm báo cho mẹ mình biết họ sẽ bắt bác đưa đi. Toàn bộ căn hộ bị bới tung lên, mọi ngóc ngách đều bị xoi mói, và tất nhiên, cả thư từ của chị Bella lẫn bản Hiến chương mà bác Lidia kẹp giấu trong một quyển sách xếp trên giá, đều bị lộ. Đến nửa đêm thì bác bị đưa về trụ sở chỉ huy của NKWD. Liệu đến phút chót bác có còn kịp đưa mắt hay nói lời từ biệt với mẹ tôi không? Từ đó hai chị em sẽ không bao gặp lại nhau nữa. Lúc bác Lidia tám mươi tuổi đặt bút viết lại câu chuyện đời mình, thì mẹ tôi, trong sáu mươi năm cuối đời bác, chỉ còn là một kỷ niệm - một kỷ niệm có lẽ đã mờ nhạt lắm rồi cũng nên.

Buổi hỏi cung tại sở chỉ huy NKWD kéo dài đến tận sáng, rồi bác Lidia mới được nằm ngủ đôi ba tiếng trên chiếc ghế bành kê trong phòng hỏi cung. Đánh thức bác là một phụ nữ mặc quân phục; bà này yêu cầu bác đi theo. Bác khoác áo lên người và túi xách trước đó bác Sergey đem đến cho. Lúc đứng trước mặt bác, cậu em trai mắng bà chị mình sa sả, gọi bác là tên phản quốc, phản đảng, là kẻ ích kỷ, gây tai mang họa cho gia đình. Có lẽ đó là lần gặp nhau cuối cùng của hai chị em. Về sau này, theo lời bác viết trong nhật ký, lúc bác Sergey đã qua đời, suốt một thời gian dài bác không thể tha thứ cho em trai vì những lời xỉ vả đó, nhưng càng về sau, bác càng hiểu cậu em đã buộc lòng phải đoạn tuyệt với bác. Chỉ bằng cách hành động như thế, cậu ta mới giữ được an toàn cho gia đình cũng như cho chính mình mà thôi.

Ra đến ngoài, bác phải bước lên xe tù chở về Donetsk, nhốt vào nhà tù trung tâm; ở đây bác bị cạo trọc đầu và tống vào phòng biệt giam dưới hầm ngầm. Trong phòng giam chỉ có phản nằm, hố xí và ngọn đèn rọi suốt ngày suốt đêm. Trong những tuần đầu tiên, hàng ngày bác bị đưa đi hỏi cung, ngày nào cũng như ngày nào vẫn từng ấy câu hỏi giống nhau. Rồi các cuộc hỏi cung đột nhiên kết thúc, như thể người ta đã quên hẳn bác vậy. Tuy bị gián, chuột hành hạ, nhưng bác lại được yên thân một mình. Với bác, một người từ lâu đã luôn luôn phải “sống chen sống chúc” thì nay được ở một mình lại là điều thật may mắn. Vốn vẫn thích trầm ngâm ngẫm nghĩ, nay bác mới có cơ hội để một mình suy tư mọi sự. Bác nằm nhắm mắt, lần tìm các câu trả lời cho bao nhiêu câu hỏi về thời gian qua: duy chỉ có các câu hỏi về tương lai là bác lảng tránh.

Ba tuần sau, người ta lôi bác từ dưới hầm ngầm lên, gần lả đi vì đói, gần bị lòa do ngọn đèn không ngớt chói chang bấy lâu nay trong phòng giam. Họ đưa bác về nhà tù câu lưu tại Odessa - thành phố khởi nguồn mọi tai ương của đời bác. Từ phòng biệt giam một thân một mình, họ nhét bác vào gian phòng giam chật chội nhốt mười một nữ tù nhân nhưng chỉ có tám chõng để nằm. Bác Lidia thường phải ngủ giữa nền nhà, nhưng thỉnh thoảng, một nữ Đảng viên Cộng sản Đức còn trẻ - một người từng ở đây đã hai lần - cũng cho bác nằm ghé cùng và rỉ tai mách cho bác các mánh lúc bị hỏi cung. Nhìn qua khung cửa sổ bịt lưới sắt, có lần bác nhìn thấy cả chị Bella Glaser bị hai người mặc quân phục giải đi qua sân nhà giam. Đó cũng lần cuối cùng bác nhìn thấy chị bạn mình.

Trong nhật ký, bác Lidia không viết gì về các buổi hỏi cung. Bác chỉ thuật lại một câu chuyện đặc biệt. Một trong số các nhân viên chuyên hỏi cung ở Odessa là Slava Bronstein, hàng xóm và cũng là bạn học trước đây của bác. Ở trường, dạo đầu gã né tránh bác, về sau lại tìm cách tán tỉnh nhưng không thành. Bây giờ hắn trả thù, bằng cách hãm hiếp bác ngay trong phòng hỏi cung, một trong những biện pháp thông thường được áp dụng với các nữ phạm nhân. Sau vụ đó, bác yêu cầu gã Slava Bronstein đưa giấy bút cho bác viết lời thú tội. Hắn đáp ứng ngay nguyện vọng của bác, trong lòng mừng thầm vì không ngờ biện pháp hỏi cung của hắn hiệu nghiệm đến vậy. Song bác Lidia không viết lời thú tội mà viết lá thư tố cáo. Bác tố cáo hắn che giấu quan hệ họ hàng với Trotsky, về mối căm thù ngấm ngầm của hắn đối với nhà nước Xô viết, về nhà máy đóng thùng của ông bố trước cách mạng từng ăn bớt tiền công của hai chục công nhân ra sao. Sáng ngày hôm sau, trên đường bị giải đến phòng hỏi cung, bác gặp gã Slava ngoài hành lang. Mặt hắn tái nhợt. Hắn rít lên qua kẽ răng “Đồ khốn kiếp!” Mới đó thôi, hắn từng đến mượn sách ở thư viện của bác, mượn những sách kiểu như Thiên thần tình yêu. Bác còn nhớ, cho nên đáp lại hắn đầy vẻ châm biếm: “Không, không, ta đây là thiên thần tình yêu mà.” Ít ngày sau, chính mắt bác được chứng kiến cảnh tượng hắn, toàn thân bê bết máu, bị lôi xềnh xệch ngoài hành lang nhà tù ra sao.

Sau tổng cộng năm tháng câu lưu, người ta dẫn bác đến một phòng hỏi cung chật hẹp, bắt bác ký tên vào bản án. Qua cánh cửa hé mở, bác nghe hai viên giám ngục chuyện trò với nhau. Một tên nói: “Chỉ tiêu đặt ra cho đám bác sĩ, kĩ sư như vậy là ta đã vượt rồi còn gì.” Tên kia đáp: “Nhưng chỉ tiêu dành cho cánh giáo viên thì chưa đạt, nên ta còn phải gắng.”

Thật khó mà tưởng tượng được rằng bác Lidia - người thiếu nữ hai mươi ba tuổi, cao một mét năm mươi tư, thân hình gầy như xác mắm sau thời gian dài bị câu lưu ấy - mà vẫn bị xếp vào hạng tù nhân nguy hiểm, phải bị nhốt riêng trong một khoang tàu hỏa và do hai tay lính lực lưỡng áp tải đến Medvedja Gora. Không biết ai nấy trong số hàng triệu tù nhân khác có được đối xử đặc biệt như thế không khi bị giải đến nơi lưu đày? Suốt dọc đường, đến tận Moskva, hai tên lính không nói với bác lấy một lời. Mỗi ngày hai lần bác được phát suất ăn gồm cốc nước trà, mẩu mánh mì và chút ít mỡ muối. Mỗi lần bác đi tiêu, phải có lính đi kèm và cửa nhà tiêu phải hé mở. Đến Moskva, bác phải xuống ga, đổi sang xe chở tù đến một nhà ga khác. Từ đây, tàu chạy về hướng Murmansk, bác vẫn phải ngồi khoang dành riêng, với hai lính áp giải mới, nhưng chuyến đi được cải thiện hơn chút ít: cửa sổ toa không bị bịt kín nữa, bác được phép nhìn ra phong cảnh phủ tuyết, mỗi lúc một vắng vẻ và cô quạnh hai bên.

Ngày mùng một tháng Tư năm 1934, bác đặt chân đến Medvedja Gora. Trong lán tiếp nhận tù nhân, bác được một nam tù nhân niềm nở đón tiếp và ghi nhận danh tính. Đó chính là người chồng Juri của bác về sau, bác chua thêm trong nhật kí.

Ghi tên ghi tuổi xong, bác được “tự do”, đi đâu thì đi. Chân mang đôi giày mỏng, trên người một áo khoác phong phanh giữa tuyết rơi, bác đứng bơ vơ dưới bầu trời đêm lác đác đôi ba ngôi sao thấp lè tè. Người ta thả tù nhân bị đày biệt xứ, mặc xác họ giữa chốn rừng hoang, họ phải tự lo liệu mà sống sót. Họ chẳng trốn đi đâu được, mênh mông xung quanh họ chỉ là rừng rú, đầm lầy, gấu cùng sói dữ. Xa xa chập chờn đôi ngọn đèn yếu ớt, nhưng bác Lidia sau vài phút đã lạnh cóng, cứng đơ ra như cột băng và không còn nhận ra lối đi nào dẫn tới ánh đèn kia nữa. Hoàn toàn bất lực, bác đành quay lại căn lều lúc ban đầu.

Không phải chỉ trong đêm đầu tiên đó ông Juri mới cứu sống bác. Nói cho cùng, có lẽ phải nhờ ông ấy, thì bác Lidia mới sống sót nổi ở trại. Qua Igor, con trai bác Lidia, tôi biết ông Juri xuất thân từ một dòng họ linh mục nổi tiếng của Nhà thờ Chính thống Nga, nhưng ông không muốn kế tục nghề này, mà chọn đường thành kĩ sư. Ông bị đi đày vì dám buông lời khinh miệt Nguyên soái Voroshilov - người thân tín của Stalin - gọi vị nguyên soái này là kẻ nịnh bợ, liếm đít cấp trên. Vì tội này, ông bị năm năm phát vãng. Hiện giờ, trong trại ông cũng chỉ là một phạm nhân, nhưng là một phạm nhân được ưu tiên, một kĩ sư trẻ đầy tài năng, quen biết nhiều và được chỉ huy trại nể nang. Đêm hôm đó, ông đưa bác Lidia đến căn lều được sưởi ấm của các nữ tù nhân để trú qua đêm. Ở đó, tuy không có chõng cho bác nằm, nhưng bác được ngủ dưới sàn sát bên lò sưởi. Các bà các cô tù nhân hậu hĩ chia sẻ với bác nhiều thứ ăn được, nhưng lại moi gần hết các thứ bác mang theo trong túi.

Việc đầu tiên người ta trao cho bác là việc trông coi đám con cái các sĩ quan chỉ huy trong trại. Các bà mẹ của tụi nhỏ chỉ coi bác như con ở, thế nhưng nhờ công việc này mà bác có chõng nằm riêng trong một ngôi lán dành cho nữ tù nhân khác, được phát phiếu ăn vào nhà ăn của nhân viên NKWD, và ngoài ra, còn được hưởng những gì tụi trẻ ăn còn thừa. Thế nhưng, sự may mắn đó của bác không được bao lâu. Do không thạo địa hình khu vực xung quanh, trong một lần vào rừng hái hoa quả dại, bác cùng tụi trẻ đi lạc vào giữa một bãi lầy. Ở phút chót, lúc đôi đứa trẻ đã bắt đầu bị lún sâu xuống bùn thì may được một anh lính gác từ xa phát hiện và cứu cả bọn thoát khỏi nơi nguy hiểm. Bác bị đuổi việc ngay lập tức, nhưng cũng may là không vì thế mà bác bị kéo dài hạn đi đày. Ấy là chưa biết chuyện gì sẽ còn xảy ra, nếu lần đó chẳng may có đứa con nhà sĩ quan nào bị lún chết trong bùn lầy.

Để tránh không bị đẩy đi đốn gỗ, bác Lidia tự đi tìm việc. Bác theo đoàn tàu hỏa con con vẫn từ trại này sang trại khác trong khu vực cầm tù mênh mông. Đoàn tàu chỉ gồm một đầu tàu nhả hơi nước phì phò hổn hển và một toa kéo chất đầy các khúc gỗ. Các khúc gỗ này dùng để đốt lò hơi nước của đầu tàu, cũng dùng làm chỗ ngồi cho hành khách. Có lần, lúc đoàn tàu phải dừng lại giữa rừng taiga để đốn thêm gỗ làm chất đốt, một hành khách còn trẻ rủ bác Lidia đi bộ nốt đoạn mười lăm cây số còn lại để về trại. Bác Lidia gật đầu ngay. Đó là một đêm trắng sáng như ban ngày, nhưng chỉ được một đoạn hai người đã lọt vào bãi lầy; họ đành phải theo đường ray, bước chân lên các thanh tà vẹt bằng gỗ mà đi nốt quãng đường. Anh bạn đồng hành là người cao lớn, sải chân dài, cho nên việc bước theo các thanh tà vẹt để đi không có gì khó khăn; nhưng bác Lidia thì phải nhảy từ tà vẹt này sang tà vẹt khác. Nhảy chồm chồm như thế gần mười lăm cây số! Một lần bác nhảy trượt, thụt chân lún xuống lớp bùn đen ngòm lạnh giá, lớp bùn như muốn hút chặt lấy bác, khiến anh bạn đồng hành phải ì ạch kéo bác lên. Giữa chừng còn cả một con gấu nâu khổng lồ - bọn gấu chuyên lởn vởn vùng này kiếm ăn - lân la đến gần hai người. May có bãi đầm lầy bao quanh họ, khiến con gấu đói mèm kia không áp sát được con mồi.

Sau nhiều tuần loanh quanh tìm việc mà không được, vì không ai muốn nhận “tù chính trị”, thì lại phải đến lượt ông Juri ra tay - giữa bác và ông Juri đã kịp nảy nở một mối tình thầm kín - ông giúp tìm cho bác một chân giáo viên ở trại Cải tạo vị thành niên phạm pháp. Phải, ngày đầu tiên đặt chân đến trại, bản năng sống đã khiến bác bám lấy cọng rơm ông Juri chìa ra cho mình, song, hóa ra ông không chỉ là cọng rơm mà là cây cọc kéo bác khỏi bãi lầy chết chóc của khu trại này. Nếu phải nhận một công việc chân tay nặng nhọc, chắc chắn bác sẽ chẳng trụ được bao lâu, cho nên chân giáo viên sẽ cứu bác thoát chết. Tuy nhiên, nhận việc này bác sẽ phải ở xa ông Juri. Trại Cải tạo thanh thiếu niên mang tên Bắc cực nằm sát kênh đào Bạch Hải - Baltic, ở cách xa Medvedja Gora - nơi ông làm nhân viên phụ trách kĩ thuật - hai chục cây. Trước khi đi nhận việc mới, hai người làm lễ cưới. Bởi vì, phải là vợ chồng họ mới được phép thỉnh thoảng đến thăm nhau.

Ở trại Bắc cực có tới hai ngàn thanh thiếu niên trong độ tuổi từ tám đến mười tám. Trẻ lang thang, trẻ mồ côi cha mẹ, con cái tù nhân, tức là những đứa trẻ ở tuổi thiếu niên đã trở thành phạm nhân, thậm chí phạm tội giết người. Bác Lidia được chia một cái chõng trong lán dành riêng cho nữ giáo viên. Nệm nằm là túi vải to đựng vỏ bào; người ta phát cho bác một cái bát bằng tôn gò, một cái cốc và một chiếc thìa. Đêm đêm có lò sưởi; củi đốt lò các cô giáo phải tự lo, nhưng trong rừng củi không hiếm. Về đêm cửa lều phải chắn bằng thân cây, chống trộm, ngừa gấu rừng. Buổi trưa bác Lidia được ăn ở nhà ăn giáo viên, đến tối bác được phát khẩu phần bánh mì đem về lán. Thỉnh thoảng các giáo viên cũng tự cải thiện bữa ăn bằng nấm hay hoa quả họ hái trong các khu rừng xung quanh, tất nhiên trong khi hái lượm, họ phải đề phòng các bãi lầy chết người có ở khắp nơi.

Nhằm cải tạo các phạm nhân vị thành niên, nhà nước trả lương nuôi cả thảy tám chục giáo viên. Trong các giờ học, thông thường phải có lính đeo súng canh chừng cho giáo viên giảng bài. Do không thông tỏ tình hình, bác Lidia khước từ lính kèm, và đòi một mình vào lớp với học sinh. Bất chấp mọi lời can ngăn, bác khăng khăng giữ nguyên ý định, và lúc bác lần đầu tiên theo ông hiệu trưởng vào lớp, mọi học sinh có mặt đều ngoan ngoãn đứng dậy. Hai mươi lăm cậu thiếu niên cùng mặc áo trắng phau cả một lượt, đứa nào đứa nấy sạch sẽ tinh tươm, tề chỉnh. Ông hiệu trưởng giới thiệu bác Lidia với cả lớp, song, ông ta chưa kịp ra khỏi lớp, thì lập tức những tràng chửi bới tục tĩu, hỗn hào tới tấp phun ra, đến cả những tiếng kêu đểu cáng, kiểu như “đè con búp bê kia ra làm một cú cho nó sướng” cũng chẳng thiếu. Bác Lidia toan trốn chạy, nhưng cửa lớp đã bị khóa mất rồi. Nhưng giá bác có chạy thoát, thì có lẽ cũng chẳng hay ho gì cho bác. Rất có thể người ta sẽ lấy cớ bác bỏ công việc giữa chừng để tống bác vào hầm ngục vài bữa, rồi sau đó, sẽ bắt bác đi đốn gỗ cũng nên.

Bác tìm cách khác thoát thân. Gắng hết sức bình tâm, bác bảo bọn trẻ: điều chứng nó định làm chẳng lợi lộc gì, bởi sau đó người ta sẽ lôi cả lũ chúng nó ra pháp trường xử bắn. Nếu không xử bắn thì hình phạt cũng sẽ rất nặng, cho nên, có lẽ nên ngồi yên mà học thì hơn. Bọn trẻ gào lên: “Ỉa vào chuyện học hành của cô.” Bác Lidia bắt đầu cuống quýt kể chuyện, những chuyện bác từng tưởng tượng ra theo kiểu Nghìn lẻ một đêm của Scheherazade. Mới đầu tụi trẻ còn la ó, nhạo báng, nhưng về sau lại dịu dần; tụi trẻ tỏ ra nghiêm trang chăm chú. Đến giờ giải lao, tụi trẻ lại kêu ầm lên: “Chúng em không cần giải lao. Cô kể tiếp đi.” Bác Lidia nói mình mệt rồi, mai bác sẽ kể tiếp câu chuyện. Tuy nhiên, bác giải thích cho tụi trẻ biết, bác phải dạy phần giáo án đã định sẵn, nếu không sẽ bị người ta đuổi việc. Bởi thế, bác bàn với đám trẻ học thật nhanh phần chương trình đã định, sau đó bác sẽ kể chuyện. Tụi trẻ khoái lắm.

Sang ngày hôm sau, lúc bác ôm hai mươi lăm quyển vở bước vào lớp, tụi trẻ đồng thanh hô: “Mụ đàn bà, mụ đàn bà, mụ đàn bà, mụ đem hay ho, tốt đẹp cho ta, hura!” Bác Lidia tảng lờ, đặt tập vở lên bàn, cởi áo khoác, quay người móc nó lên cái móc bằng đinh đóng trên tường. Lúc bác quay người lại thì số vở đã biến đâu mất. Bác tỏ vẻ ngạc nhiên thì tụi học trò liền đồng thanh, không có vở viếc gì đâu ạ, chắc cô giáo nhầm thôi ạ.

Bác Lidia lưỡng lự cân nhắc xem mình nên phản ứng thế nào. Viên giám đốc từng khuyên bác từ lúc đầu, là phải chỉ định ngay lớp trưởng. Ngay ngày đầu tiên bác đã để ý đến một cậu có ánh mắt tỉnh táo, thông minh; nên bây giờ bác gọi cậu ta đứng lên. Cậu bé tự giới thiệu là Ivanov 26. Sau này bác mới biết tụi trẻ trong trại đứa nào cũng mang tên Ivanov hết, chỉ khác nhau ở con số. Không ai được để lộ tên họ thật, nếu không sẽ bị cả nhóm chung tay trừng phạt. Có lần, quản trại thuyết phục được một tội phạm vị thành niên khai tên thật, bằng cách hứa hẹn cho cậu đồ ăn thức uống, quần áo lành lặn, thậm chí nhận cậu ta vào đội Thiếu niên tiền phong. Người ta quàng khăn đỏ lên cổ cậu, ăn uống no say rồi cho cậu ta về trại. Sáng hôm sau, người ta tìm thấy cậu nằm chết cứng dưới chõng, cổ bị thắt bằng chính chiếc khăn quàng đỏ được tặng lúc chiều tối hôm qua.

Sau buổi học bác Lidia mở xem hồ sơ cậu Ivanov 26 - cậu thiếu niên được chọn làm lớp trưởng ấy. Cậu thiếu niên mười sáu tuổi, có đôi mắt sáng xanh đó, đã gây án mạng giết chết cả thảy ba người. Nó từng chặn gối lên mặt làm bà nội nó chết ngạt để lấy số tiền bà dành dụm cho người khác chứ không phải cho nó; kế theo, trong một lần phá nhà người ta để cướp của, nó đã dùng rìu đập vỡ sọ một người đàn ông, và sau cùng, nó dùng súng bắn chết một viên cảnh sát. Lúc đó, nó mới tròn mười hai tuổi.

Bác Lidia lưỡng lự mãi mới có dịp hỏi bọn học sinh xem chúng lấy cắp số vở để làm gì. Hóa ra, tụi trẻ xé giấy ra, không những để làm quân bài, mà còn để làm tiền giả. Bọn trẻ làm tiền giả tài tình đến mức chẳng ai phát hiện ra. Do đám trẻ không được phép mua hàng ở quán đặt trong trại, và theo quy định chúng nó cũng không được phép giữ tiền, cho nên chúng đổi số tiền giả này với các tù nhân lớn tuổi khác lấy thuốc lá và nước hoa Eau de Cologne dùng uống thay rượu. Lúc chơi bài, cược đặt bao giờ cũng rất cao. Chẳng hạn, người chơi bài có thể thua cược cả giọng nói, sau đó người này chỉ được phép sủa hay kêu quàng quạc thôi. Dân chơi bài có thể cá cược suất bánh mì, bữa ăn, đôi giày đang mang ở chân, và đôi khi, thậm chí cả mạng sống của mình.

Có lần, một cậu chơi bài, thua cược cả tính mạng, đành ngoan ngoãn theo chân kẻ được. Cả hai đều mới mười một tuổi. Chúng kéo nhau xuống một khu đất trũng; đứa thắng trói hai tay thằng thua lại rồi lấy lưỡi dao cạo ra cứa vào cổ nó. Thằng bé bị cứa cổ - do quen với nếp kỷ luật thép trong trại giam - gắng chịu được một lúc rồi vùng chạy lên bờ vực về phía lính gác, cổ máu chảy ròng ròng, miệng la lối thất thanh. Thằng nhỏ được đưa ngay đi trạm xá, nhưng số phận thằng kia được định đoạt ngay tại chỗ. Lính gác dí súng vào đầu nó rồi hỏi nó còn muốn nói gì không. Thằng bé lí nhí đáp “Lạy chú, cháu xin chừa, không bao giờ làm như thế nữa.” Một tiếng súng nổ đùng đục vang lên, thằng nhỏ chết gục ngay tại chỗ.

Những lúc kể chuyện cho tụi trẻ sau giờ học, bác Lidia có thể quan sát thấy những đứa trẻ từ lâu không còn được nghe một lời nói thân tình ấm áp nào này đột ngột thay đổi ra sao. Gương mặt chúng dịu hẳn đi, trở nên cởi mở khác thường. Đôi lúc, chúng hỏi bác những câu hỏi đến là ngây thơ hoặc nói chen những câu nói thật vô tư. Dần dần giữa bác với tụi trẻ cũng hình thành một thứ gì đó như là tình bạn, nhưng bác Lidia không bao giờ quên chúng là ai và luôn luôn thận trọng.

Các đêm trắng cũng như thời kỳ trời đất nhá nhem luôn tác động mạnh lên bác Lidia, khiến bác rảnh rỗi lúc nào là lăn ra ngủ lúc ấy. Thường thường, ban ngày chỉ sáng chút đỉnh độ một hay hai tiếng đồng hồ là cùng. Đôi lúc có thể thấy tuyết sáng lên trong đêm tối, thỉnh thoảng lại thấy những ngôi sao to, sáng như gương treo trên vòm trời; song thường xuyên là cảnh Bắc cực quang thần tiên. Nhưng bác Lidia càng ngày càng mệt mỏi và kiệt sức. Có những lần bác ngủ li bì hơn hai chục tiếng đồng hồ suốt hai ngày nghỉ. Bác sĩ chẩn đoán bác đang chớm bị scorbut, thiếu vitamin, phải ăn nhiều dâu rừng, nhiều tỏi, uống nước lá thông luộc và trước khi ngủ cần đi dạo. Nói thì dễ, chứ làm đâu có dễ; trong trại chẳng ma nào đi dạo. Bác Lidia sợ những kẻ lạ mặt xuất hiện ở đây còn hơn sợ gấu, sợ chó sói hay chó hoang ở quanh vùng này.

Cho đến một hôm, bác cảm thấy mình không thể nhổm dậy khỏi chõng mình đang nằm nữa. Bác thừa biết mình sẽ bị tống vào ngục tối nếu tự ý không đi làm, thế nhưng bác không sao gượng dậy nổi, thân thể nặng như khối bê tông. Bác nằm bất động, mắt trân trân nhìn lên nóc lán. Bác đinh ninh mình sẽ không bao giờ trở dậy nữa. Thế nhưng các chị em cùng lán đều biết trạng thái ấy. Mọi người góp phần ăn của họ lại, chia cho bác, chung nhau nấu món nước lá thông và pha thêm chút mứt dâu rừng cho bác uống.

Họ chăm bác như thế suốt hai ngày, sang ngày thứ ba họ mang về một tin loan truyền tại trường khiến bác tỉnh hẳn: Lúc bác ốm nằm ở nhà, một vị giáo sư nghiêm trang nào đó từ Leningrad đã đến trại. Ông ta đã nghe nói nhiều về trại cải tạo vị thành niên nổi tiếng ở Karelia và muốn tranh thủ dịp bác vắng mặt thử đến lớp giảng bài xem sao. Ông ta nghe đồn cô giáo viên trẻ nọ từ chối, không cho lính gác vào lớp, nên ông ta cũng muốn thử noi gương cô. Viên Giám đốc trại giới thiệu ông ta với học sinh và vừa mới rời khỏi lớp, lớp trưởng Ivanov 26 đã đứng dậy hỏi, cô giáo trẻ xinh đẹp của lớp đâu, và lão già xương xẩu bẩn thỉu này muốn gì ở đây. Kèm theo câu hỏi là những tràng quát tháo và chửi bới tục tĩu. Vị giáo sư tìm cách thanh minh và muốn bắt đầu giảng bài nhưng tiếng chửi bới quát tháo vẫn không dứt. Ông ta đập mạnh tay xuống bàn, yêu cầu yên lặng; tụi học trò lập tức đáp trả, dùng lọ mực ném tới tấp vào người ông ta. Ông này hết hồn, chạy bán sống bán chết ra khỏi lớp, toàn thân bê bết mực. Sau vụ này, cả lớp, không trừ một ai, bị tống giam hai mươi bốn giờ xuống hầm ngục, song, ngay cả trên đường đến nơi chịu phạt, tụi trẻ vẫn không ngớt đòi chỉ huy trại không được điều cô giáo của chúng nó đi nơi khác mà phải đón cô quay lại trại ngay.

Ngày hôm sau lên lớp, bác Lidia khuyên các học trò nên tuân thủ kỷ luật. Chúng nó chẳng những đã đối xử tệ với ông giáo sư già, mà còn tự gây cho mình những chuyện có thể không hay ho gì về sau. Thế nhưng tụi trẻ vẫn khăng khăng, hạng sâu bọ thối tha như lão già đó đáng được đối xử như thế, và tuyên bố, từ nay chúng sẽ bảo vệ cô giáo, tức bác Lidia, để cô được an toàn về mọi mặt.

Thế rồi một hôm, bác chợt nhận thấy tụi trẻ học hành chăm chỉ một cách bất thường và chúng đối xử với bác một cách dịu dàng, thay nhau không rời mắt khỏi bác. Cậu Ivanov 26 thì thầm báo cho bác biết một cậu học trò lớp bên lấy mọi tài sản của cô giáo Lidia ra đặt cược, và không may bị thua, cho nên từ giờ cô không được đi đâu một mình. Quả nhiên, sáng sáng, mỗi khi bác lên đường đến trường thì đã có hai cậu học trò đứng chờ ngoài cửa, hết buổi học, chúng nó lại tháp tùng bác trở lại lán.

Nhân dịp Năm mới, bác được phép nghỉ vài ngày về với chồng ở trại Medvedja Gora. Thay vì nói cho đám học trò mình biết chuyện, sau giờ học bác kín đáo lỉnh đến văn phòng trại lấy giấy phép rồi đi ngay đến trạm gác. Lính gác kiểm tra qua loa giấy tờ rồi để bác ra khỏi trại. Quãng đường bác phải vượt qua dài khoảng hai chục cây, giữa đêm Bắc cực. Mười lăm độ âm, con đường rừng trải rộng và kéo dài trước mặt bác. Trăng sáng, vắng lặng. Bác cất bước đi nhanh, khấp khởi mừng sắp được gặp ông Juri. Do biết rõ luật lệ bất thành văn ở vùng này, bác xách cặp sách với ít quần áo trong đó trên tay, còn giấy tờ tiền bạc thì giấu kín trong người. Có tiếng cành cây gãy răng rắc ở gần, song bác không để ý lắm, chỉ nghĩ bụng, có lẽ có con sóc nào đó đang thoăn thoắt trên cây, chứ mùa này gấu đều chui vào hang ngủ đông cả, còn chó sói thì thường ít dám bén mảng đến gần nơi có người. Thế nhưng, hoàn toàn bất ngờ, có kẻ nào đó xông từ trong bóng tối ra, vật bác ngã xuống đất. Bác nhận ra hình bóng hai người đàn ông; một tên ngồi chặn lên ngực bác rồi lục soát trong người, tên kia xem xét cái cặp. “Muốn sống, chìa tiền với giấy tờ ra đây!” một tên khẽ gằn tiếng. Bác Lidia cố thu người trong tuyết rồi lấy hết sức bình sinh hét thật to kêu cứu. Tên thứ hai nắm chân bác, vặn thô bạo, đến mức nghe đánh rắc. Đột nhiên có tiếng súng nổ, rồi tiếng vó ngựa phi - của lính kỵ binh đi tuần. Hai bóng đen biến ngay vào rừng, bác Lidia được bế lên ngựa rồi đưa đến nhà ga gần đó. Ở đây, người ta gọi xe cứu thương đưa bác về trạm xá Medvedja Gora, nắn lại chân cho bác. Ngày hôm sau, lính gác giải hai người đàn ông đến đối chất. Nhìn hai gương mặt hằn học, bê bết bùn đất, nhưng bốn con mắt lại van lơn, bác lắc đầu. Bác thừa biết rằng không cần mình nhận mặt họ, hình phạt dành cho hai người này cũng đã đủ nặng rồi.

Sau mấy ngày nghỉ, chân vẫn còn đau, bác khập khiễng trở về trại thì không ai hỏi lấy một lời. Thay vào đó, đám học trò báo cho bác biết mối hiểm nguy đã qua và bác không cần có ai bảo vệ nữa. Tuy bác Lidia không rõ đầu đuôi ra sao, nhưng bác cảm thấy rõ rệt, từ nay mình thuộc cùng “một gia đình” với tụi trẻ.

Trong lớp học thường thường lạnh như băng, đến nỗi tụi học trò phải ủ lọ mực dưới áo một lúc cho tan ra mới viết được. Thỉnh thoảng bão tuyết lại lồng lộn suốt tuần liền, cả bầu trời lẫn mặt đất đều chìm vào bóng tối và suốt ngày trong lớp phải thắp đèn lên. Một lần, trong lớp đang im phăng phắc, chỉ nghe tiếng sột soạt của ngòi bút viết trên mặt giấy, thì bỗng dưng, không biết từ đâu một tia nắng chói chang chiếu vào phòng. Mọi người đều như bị điện giật, ai nấy đều buông bút nhào đến bên cửa sổ. Trên nền trời xám xịt gần như muôn năm ấy, viền sáng mảnh mai của quả cầu lửa hiện lên, như thể đưa tay là với được. Song cảnh tượng đó không kéo dài được bao lâu, chỉ vài phút sau, viền mặt trời lưỡi liềm đã lại lặn xuống sau chân trời - để lại niềm hy vọng ngắn ngủi hướng tới ánh sáng của những kẻ sống dưới địa ngục này.

Một hôm, bác Lidia được gọi lên ban chỉ huy trại tập trung. Họ hỏi thăm bác sống trong trại cải tạo ra sao, liệu bác có điều gì phàn nàn không. Rồi hỏi tiếp, bác có yêu Tổ quốc không. Bác hiểu ngay ý nghĩa câu hỏi này, một câu hỏi họ đặt ra cho những ai họ định tuyển làm mật thám. Quả nhiên, họ nói họ cần bác giúp loại trừ “một phần tử có hại”. Người đó là Gennadi Petrov đồng nghiệp của bác, giáo viên môn Sinh vật. Bác Lidia không khước từ “nhiệm vụ”, bởi bác biết, từ chối cộng tác thì thời hạn đi đày sẽ bị kéo dài đáng kể, thế nhưng bác làm bộ ngây ngô. Một tuần sau bác nạp báo cáo cho chỉ huy trại, trong đó có những dòng chữ kiểu như: Phạm nhân P. thường dậy vào 6 giờ sáng, đánh răng rửa mặt, cạo râu, tưới giống cây trồng làm thí nghiệm rồi đi ăn cháo lúa mạch ở căng tin. Trong giờ học ông ấy giảng về khả năng nảy mầm của các loại đậu tại vùng khí hậu phía Bắc, rồi chê trách một cậu học sinh để móng tay dài, cáu bẩn, ông ta hay kêu ca về bệnh đau lưng vân vân và vân vân. Ban chỉ huy trại giảng giải rằng bác đã hiểu sai nhiệm vụ; họ cần các chứng cứ buộc tội ông Petrov kia. Bác Lidia gật đầu lia lịa, nhưng đến kỳ báo cáo sau, bác lại nộp một bản na ná như thế. Đã đến mức này thì công việc của bác ở trại cải tạo xã hội chủ nghĩa khét tiếng ở vùng Bắc cực cũng kết thúc. Bác bị cho thôi việc vì “thiếu hiểu biết”.

Vào ngày làm việc cuối cùng ở trại, bác mua hai mươi lăm chiếc lưỡi câu ở quán hàng tạp hóa trong trại, rồi tặng mỗi cậu học sinh một chiếc để chia tay. Đám học sinh buồn lắm, nhưng chẳng phản ứng gì. Đứa nào cũng biết lệnh đã ban ra ở trại này là bất di bất dịch và cô giáo Lidia cũng chỉ là một phạm nhân bị tù đày như chúng nó mà thôi, không thể tự quyết định về số phận mình được.

Bác còn phải làm việc thêm hai tháng nữa tại một xưởng gỗ ở Medvedja Gora, sau đó thì hết hạn đi đày. Ông Juri cũng đã được trả lại tự do trước đó ít lâu. Hai người sinh được một đứa con, anh Igor, người mà ngót nghét tám chục năm sau tôi sẽ tìm thấy ở Miass xứ Siberi. Bác Lidia nhận chân giáo viên tại một trường phổ thông, chồng bác làm kĩ sư tại nhà máy luyện kim. Hai người sống với con trong một căn lều vách đất không điện, không nước máy, nhưng cả hai đều thừa hiểu, đối với họ, tạm thời sinh sống ở nơi xa xôi hẻo lánh sẽ an toàn hơn là về ở gần trung ương. Bác Lidia viết những dòng thật rầu rĩ: ta trở nên thô thiển, đầu óc không còn tỉnh táo, sắc sảo nữa. Bộ máy công quyền đã đánh bại ta.

Trong lúc bác Lidia thầm lặng sống ở vùng Taiga xa xôi như thế, thì có lẽ ở Mariupol chỉ còn mẹ với bà ngoại tôi, tức là với bà Matilda nữa thôi. Ông bố Jakov đã qua đời, ông anh Sergey đang theo học Nhạc viện Kiev, bà chị Lidia biệt tăm biệt tích. Chắc mẹ tôi lúc này trông giống như cô gái trên bức ảnh cũ chụp cùng bà mẹ tóc bạc - cô gái trẻ gầy gò, mái tóc ngắn và cặp mắt với ánh nhìn trẻ trung pha lẫn vẻ già dặn ấy. Có lẽ thời gian đó, mẹ tôi đã hình thành mối tình cảm gần gũi, luôn luôn đầy lo âu với bà tôi, lúc ấy đã hơn sáu chục tuổi và trước sau vẫn bị nghi ngờ về chính trị vì bà là con gái nhà tư bản hôm xưa. Tuy vậy, phải chăng về sau mẹ tôi vẫn để bà ở lại một mình để đến Odessa học đại học? Phải chăng ở đó mẹ tôi cũng ở nhà hai người bà con, rồi ăn trưa một nơi, ăn tối một nơi khác không? Liệu mẹ tôi cũng phải đếm số liên từ trong tác phẩm Lý trí sinh đau khổ của Gribojedov, phải học bắn súng trong giờ tập quân sự, gỡ sợi đay và dạy tiếng Ukraine - mà mẹ tôi cũng thông thạo nhờ cô bảo mẫu trong nhà - cho đám nhân viên bưu điện không? Bảo rằng mẹ tôi đã tốt nghiệp với bằng khen xuất sắc nghĩa là thế nào? Không phải hồi đó loại bằng khen như thế chỉ dành cho con em nhà công nông hay sao?

Năm 1941, một chuyện diệu kỳ nho nhỏ đã xảy ra trong đời bác Lidia: bác được ban lãnh đạo công đoàn trường cấp phiếu nghỉ hè ba tuần ở Crimea. Với một người có lý lịch như bác, đó là sự kiện hết sức khó hiểu, song, có lẽ đó cũng là sự kiện đã quyết định mọi sự của cuộc đời tôi. Ông chồng bận công bận việc và không thể một mình trông nom Igor, thằng con còn bé bỏng của hai người; đó đúng ra là lý do khiến bác không đi nghỉ được, thế nhưng, sau bấy nhiêu năm tù đày ở vùng Bắc cực, cơ hội đi nghỉ ở Crimea thật hấp dẫn. Bác bèn gửi điện hỏi mẹ ở Mariupol, liệu bà có đến đây ba tuần trông giúp thằng cháu mà bà chưa từng thấy mặt được không. Và quả nhiên bà Matilda, bà mẹ sáu mươi ba tuổi của bác, lên đường đến Karelia thật, trong lòng không thể ngờ rằng chiến tranh nổ ra sẽ cắt đường trở về, và bà sẽ không còn bao giờ trở về Mariupol gặp lại con gái Jevgenia của mình nữa.

Nếu bác Lidia không được cấp phiếu nghỉ phép thì bà ngoại tôi đã chẳng lên đường đến Medvedja Gora, và cuộc đời mẹ tôi hẳn đã thuận theo đường khác. Hẳn mẹ tôi đã chẳng lấy bố tôi, thậm chí chưa chắc đã quen ông, huống hồ lấy làm chồng, và như thế, có thể đã chẳng bị lùa sang Đức. Hẳn bà sẽ không để mẹ mình ở lại một thân một mình nơi chiến trận, bom rơi đạn nổ, hẳn bà đã đưa mẹ trốn đi đâu đó. Hẳn bà sẽ ở lại Mariupol, và có lẽ đến lúc nào đó, sẽ sinh một đứa trẻ khác, chứ không phải tôi. Như thế, tôi là kết quả của mảnh giấy phép nghỉ hè vậy, một mảnh giấy do một tay cán bộ Xô viết ấm ớ nào đó, xuất phát từ một động cơ khó lòng hiểu nổi, đã cấp cho bác tôi - tên phản cách mạng ngày nào ấy.

Song, niềm vui được đến nghỉ mát ở Crimea của bác Lidia kéo dài không nổi lấy một tuần. Sáng sớm ngày thứ năm hay thứ sáu gì đó, đang ngủ trong khách sạn thì bác bị đánh thức bởi tiếng sấm rền xa xa. Đó không phải sấm trước cơn dông như thoạt đầu bác tưởng, mà chiến tranh đã nổ ra, mở đầu bằng cuộc tấn công Liên Xô của quân Đức. Mọi người đều phải rời khỏi khách sạn ngay và được đưa lên xe buýt chở đến Simferopol. Từ đó lên tiếp các toa tàu hỏa đầy ắp hành khách. Hai bên đường lúa chín bén cháy mù mịt, đoàn tàu tiến lên rồi lùi lại, tiến lên lùi lại, để tránh bom ném xuống như mưa. Mọi người la hét hoảng loạn. Chiếc áo liền váy của một chị phụ nữ trẻ tuổi, đi chân đất, ngồi cùng khoang tàu với bác Lidia, chợt loang lổ đỏ. Hóa ra, một mảnh bom đã găm đúng người đứa con chị ẵm trên tay.

Đến Charkov, tàu phải dừng lại, vì đường ray đã bị bom phá. Nhà cửa xung quanh cháy đùng đùng, người nằm la liệt trên đường phố. Nhìn kỹ, bác mới biết đó là người chết. Bác bị lạc trong đám đông hoảng loạn chạy lung tung trên các đường phố, và khi rốt cuộc bác lần đến được nhà ga có tàu đi Leningrad, thì cổng vào đã bị khóa lại. Vốn nhỏ con lanh lợi, bác trèo qua hàng rào chắn chạy theo đoàn tàu đang từ từ chuyển bánh, ném hành lý qua cửa sổ một toa tàu và những cánh tay chìa ra kéo bác lên tàu qua một khung cửa khác. Suốt ba ngày liền, con tàu tiến lên rồi lùi lại. Rừng cây hai bên đường tàu bốc cháy, mảnh vỡ máy bay lả tả rơi từ trời cao xuống đất bằng. Không có thức gì ăn, chẳng giọt nước nào mà uống, các khoang vệ sinh bốc mùi hôi hám khắm lặm.

Đến lúc con tàu rốt cuộc cũng đến được Leningrad thì từ xa mọi người đều đã nhìn thấy các kho lương thực đang bốc cháy, ngọn lửa bốc lên tận trời cao khiến cả thành phố dường như sáng trưng, dù trời đang đổ mưa. Các quả bóng phòng không lơ lửng trên trời, người ta thả chúng lên nhằm chặn máy bay Messerschmitts, dân Nga vẫn gọi máy bay quân sự Đức như thế. Trên đường phố, chỗ nào cũng thấy các đội dân quân tự vệ lăm lăm súng ống. Bác Lidia vừa kịp ra khỏi thành phố thì ít lâu sau dân chúng trong đó đã bị bao vây - một cuộc vây hãm vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại, một cuộc bao vây kéo dài hai năm trời, trong đó khoảng một triệu người đã bị chết dần chết mòn vì đói rét. Nghe đâu, trong thành phố hồi ấy không còn lấy một con chó hay con chuột nào sống sót. Người ta đã ăn thịt hết thảy, cả đế giày, cả hồ dán thảm lẫn xác chết.

Từ nhà ga Medvedja Gora, bác Lidia lao vội về nhà. Mọi người trong nhà đều bình yên cả, thằng con Igor, ông chồng, bà mẹ. Ông Juri không phải ra trận, bởi đi khám tuyển lính, người ta phát hiện ông bị ho lao. Căn bệnh không những đã cứu một mình ông, mà cứu cả nhà. Bác Lidia viết trong nhật ký, không có ông thì bác cùng con nhỏ và mẹ già chắc chắn không sống sót nổi qua cuộc chiến tranh lúc này đã lan đến Medvedja Gora. Ngày ngày đều diễn ra các cuộc oanh tạc; máy bay hai bên đâm vào nhau bốc cháy như những bó đuốc rơi từ trời cao xuống. Từ dưới đất lính Hồng quân dùng súng thô sơ nhắm bắn lên trời, bọn phi công Đức bắn trả bằng súng máy liên thanh. Không biết bao lần bà Matilda, trong lúc phơi quần áo đã phải phát bẳn quát to: “Có thôi ngay cái trò bắn đi bắn lại ấy không nào! Ở đây có trẻ con, chúng mày không có mắt hay sao?”

Có lần quân Đức rải truyền đơn. Một mặt tờ truyền đơn in hình người nông dân khốn khổ, chân mang giày rơm, quần áo rách rưới, gồng mình đi sau lưỡi cày. Ở dưới có chua dòng chữ: Nông dân Nga sống như thế này đây dưới ách chính quyền Xô viết. Mặt kia tờ truyền đơn in đúng ông nông dân đó, nhưng hồng hào khỏe mạnh, đội mũ nỉ, đi ủng da, chễm chệ ngồi trên chiếc máy kéo mới toanh. Dòng chữ ở dưới: Nông dân Nga sẽ sống như thế này dưới quyền Quốc trưởng Đức. Thỉnh thoảng máy bay tiêm kích Đức mang chữ thập ngoặc sà xuống thấp đến nỗi ai nấy đều có thể nhìn thấy mặt viên phi công Đức ngồi trong khoang máy bay.

Một học sinh của bác Lidia bị thương. Nó nằm gục dưới đất, ruột gan lòi hết ra trên bụng. Bác Lidia phủ phục xuống bên cạnh, dùng cả hai tay đỡ cả bộ ruột âm ấm và đẫm máu để nó không bị rơi xuống đất bùn. Thằng bé la hét thảm thiết. Hai lính cứu thương chạy đến, nhấc thằng bé lên cáng - trên đường đến trạm cứu thương, bác Lidia phải vừa chạy theo vừa cố đỡ bộ lòng của thằng bé nằm trọn trên tay mình. Được nửa đường, bác cảm thấy mình sắp ngã ra bất tỉnh, nhưng một anh lính cứu thương đã quát tháo mắng mỏ dữ dội, khiến bác bừng tỉnh. Tại cửa trạm cứu thương, một nữ y tá chạy vội ra hứng ruột thằng bé, lúc này đã bất tỉnh, vào chậu tráng men. Về sau, bác được biết, thằng bé thế mà đã sống sót qua cơn nguy kịch.

Dân tình xung quanh dần dần bỏ chạy hết. Nhà cửa, hàng quán bỏ hoang, cửa mở toang hoang chẳng ai trông nom. Gà qué, chó má chạy rông ngoài đường. Người người dìu nhau đi đến nơi vô định. Các tin đồn, làng này làng nọ sạch bóng người mỗi lúc một nhiều.

Sang tháng Mười, bác Lidia cùng toàn thể gia đình được tản cư về Kazakhstan. Trên một toa tàu chở hàng, chuyến đi của cả nhà xuyên năm ngàn cây số suốt nước Nga - cuộc hành trình Odyssee lúc tiến lúc lùi kéo dài hơn một tháng xuyên qua đất nước đầy khói lửa đến tận miền đất giáp ranh Trung Quốc. Một phần đoàn người di cư đã bỏ mạng dọc đường, một số đông khác chết cóng ngay trong đêm bão tuyết đầu tiên, khi người ta thả họ xuống và bỏ mặc ở một nơi không ai biết đâu với đâu giữa chốn hoang vu đồng không mông quạnh thuộc xứ Kazakhstan. Ông Juri làm cách nào đó cuốc bộ được đến Alma-Ata và xoay được cỗ xe ngựa quay lại đón cả nhà.

Nói cho cùng, bác Lidia viết như thế trong nhật ký, vợ chồng bác đã nhờ có chiến tranh mà được cứu thoát. Hai người đốt sạch các giấy tờ tùy thân, vốn ghi rõ họ là hạng Nga gian, kẻ thù của nhân dân, và cùng khai tại phòng hộ tịch Alma-Ata rằng giấy tờ của họ do chiến tranh loạn lạc mà thất lạc lâu rồi. Người ta tin lời khai của hai người và cấp giấy tờ mới cho họ. Lý lịch bác Lidia từ đó lại sạch bong như tờ giấy trắng, khiến bác trở thành con người khác. Bác đã có thể bắt đầu lại từ đầu.

❀ ❀ ❀

[1] Một trong những văn bản quan trọng nhất về lịch sử các nước Nga, Ukraine, Bạch Nga cổ (Kievskaya Russ).

[2] Nạn đói ở Ukraine vào các năm 1932-1933.

[3] Bộ Nội vụ.

Hoàng Đăng Lãnh (dịch) Nguyên tác: Sie kam aus Mariupol (2017)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.