
Dạo ấy là tháng Giêng bên hồ Schaalsee. Chưa bao giờ bóng tối lạnh lẽo bao vây tôi dai dẳng đến thế, cả ban ngày cũng chẳng sáng lên được bao nhiêu. Tôi như bị chìm đắm trong một thứ đêm Bắc cực, bị rơi vào khoảng không tuyệt đối im ắng của vũ trụ, trong đó đêm đêm chỉ còn tiếng băng phủ mặt hồ vỡ răng rắc. Thỉnh thoảng nghe như tiếng rì rầm, tiếng ùng ục trầm đặc, như tiếng động dồn toa tàu vọng từ ga. Tôi hình dung ra cảnh tượng đâu đó dưới lòng hồ sâu thẳm, các tảng băng xô vào nhau, tảng này chồm lên tảng khác. Chỉ còn các cột đèn đường dựng trước mặt tiền nhà tôi, những cột đèn cuối cùng, nằm ngoài rìa ngôi làng, là nhắc nhở tôi đang sống ở cõi trần gian. Mặc dù ngay cả những cột đèn cũng thỉnh thoảng nhấp nháy, như thể chúng đang mệt mỏi, chỉ chực tắt ngấm đi mãi mãi. Trong ánh sáng lung lay đó, sương mù tụ lại như làn khói trắng dày đặc, khi tan ra, người ta sẽ nhìn thấy những bông tuyết nhỏ li ti bay lơ lửng, và phủ lên bãi cỏ nâu đã bị đông cứng thành lớp mạt cưa trắng phau. Đêm đêm người ta còn nghe thấy tiếng thủy cầm nhớn nhác. Chúng tìm cách giữ lại các lỗ hổng trên mặt băng, bằng cách túm tụm chen nhau thành những ốc đảo nhỏ trên mặt hồ đang dần dần đóng kín băng, thế nhưng hơi ấm từ những tấm thân chim nhỏ nhoi làm sao chống chọi nổi cái lạnh. Các lỗ hổng trên mặt hồ đều dần dần bị băng đóng kín, bịt nốt nguồn thức ăn của đám thủy cầm. Tiếng kêu của chúng về đêm làm tôi bồn chồn, như thể một mối hiểm họa không cưỡng nổi nào đó cũng đang sắp sập xuống đầu tôi vậy.
Một con chồn mactet nào đó đã chui vào làm tổ trong khoang máy xe hơi của tôi, nó chui vào đó tránh lạnh, ngủ qua đêm, và theo lời thợ tại xưởng sửa xe giảng giải, chúng gặm đứt khá nhiều đường dây điện quan trọng của máy nổ trong xe. Tụi chồn cáo thời nay xơi cả nhựa lẫn đồng mới ghê; ngoài tiếng lạch cạch của chìa khóa xe trong ổ điện, xe hơi của tôi không chịu phát thêm tiếng động nào khác nữa. Ngày này qua ngày khác, tôi cứ bụng bảo dạ phải gọi điện cho ADAC, nhưng rồi tôi lại gác hết ngày này sang ngày khác. Rất có thể khung cảnh tối tăm kéo dài đã làm tôi chây lười, cũng có thể tôi tự thấy mình bị tách khỏi cõi trần này ít lâu cũng chẳng sao. Tôi có cảm giác da dẻ mình khô khốc, hóa sừng, nổi vảy, tôi thấy mệt mỏi và cảm thấy mình có nhu cầu dường như không cưỡng nổi, phải vào hang với một chú gấu nào đó, cùng thả hồn với nó vào giấc ngủ đông muôn thủa.
Một lần, trời đã gần sáng, tôi rời ánh mắt khỏi màn hình máy tính, ngước nhìn lên và giật bắn mình. Thoạt tiên tôi thoáng nghĩ một tai họa nào đó đã ập đến và bờ hồ phía đối diện đang bốc cháy. Nhìn kỹ ra, thì cảnh tượng tôi chứng kiến bí hiểm không giải thích nổi. Dường như một dải băng dính dài, đỏ như máu, vắt ngang qua bóng đêm thành đường viền theo bờ hồ phía bên kia vậy. Nắng chiếu hay lửa cháy trông không thể như thế được, không thể tạo ra đường viền sắc cạnh như kẻ bằng thước như vậy được. Tôi tự hỏi, không biết có phải do mình nhìn quá lâu vào màn hình, do tôi bị hoa mắt hay các quy luật thiên nhiên vừa bị đảo lộn; thế nhưng, vài phút sau, trước mắt tôi chỉ còn lại một thứ bóng tối kỳ bí như lúc đầu mà thôi. Hẳn là một khe hở ngay ngắn, phi tự nhiên giữa tấm màn mây đen ngòm kia đã hé ra, cho tôi được nhìn thấy bầu trời đang bốc lửa sau màn đêm đen đặc ấy.
Gần đây, tôi bắt tay vào cuốn sách dự định viết về mẹ. Tôi viết với niềm say mê chưa từng thấy, với một cảm giác tràn trề sung sướng không hợp với nội dung câu chuyện chút nào, nhưng mặt khác, tôi cũng có cảm giác như thể mình đang đào một con đường hầm xuyên lòng núi và tôi sẽ chẳng bao giờ đào tới lối ra. Tôi như chui xuống lòng đất theo đúng nghĩa đen, tôi viết suốt đêm, chỉ ngủ qua loa vài giờ ngắn ngủi lúc ban ngày xám xịt, và vừa mở mắt, đã lại nhào đến bên bàn máy tính, chẳng kịp cả pha trà. Nói cho đúng, thì chính các thành viên gia đình tôi tìm ra đang viết nên cuốn sách này, họ kéo tôi đi về mọi phía, thậm chí những hướng trái ngược nhau, lôi kéo tôi dự vào những chuyện trái khoáy, ngược đời, rủ rê tôi sa vào các ma trận không biết đường ra. Tôi không nhìn thấy mối dây rõ rệt nào liên hệ họ với nhau, họ đứng trơ trụi một cách kỳ lạ giữa không trung, người nào ít nhiều chỉ lo việc người đó, ai nấy đều có một mối quan hệ giả định nào đó với mẹ mà tôi không rõ.
Đối với tôi, diễn đàn của Konstantin là một nguồn thông tin vô tận. Ngoài nhiều thứ khác ra, diễn đàn này chứa đựng cả một kho lưu trữ về thành Mariupol cũ, từ kho lưu trữ đó, các thông điệp của thế giới trước đây mẹ tôi trải qua được phát đến cho tôi, những thông điệp về các sự kiện từng xảy ra trong khoảng thời gian giữa lúc mẹ tôi bốn tuổi đến lúc bà mười sáu tuổi:
Trong ngày Vladimir Ilitsch Lenin từ trần, 2.500 công nhân thành phố Mariupol đã nhóm họp để làm lễ truy điệu. Ngày 28 tháng Tư đã diễn ra cuộc tuần hành rước đuốc của đoàn viên Komsomol.
Một vụ triều cường đã làm ngập vùng đất trũng của thành phố. 120 gia đình lâm cảnh màn trời chiếu đất.
Ủy ban phụ trách việc trưng dụng tài sản quyết định tước quyền sử dụng đất đai của các đại địa chủ Chreshtschatniskaia, Krasnianski, Shutenko và Pasterev và trục xuất chúng khỏi thành phố Mariupol.
25,6% trẻ em Mariupol ở độ tuổi từ tám đến mười một đều không đi học và thuộc diện mù chữ.
Ban Biên tập báo Người vô sản vùng Azov tổ chức xổ số quy mô lớn nhằm thu hút người đọc đặt báo tháng. Giải thưởng chính là chiếc áo măng tô may theo kiểu Raglan, vải vụn, giày, ủng và bộ Lenin toàn tập.
Bờ biển phía bên phải đang mong chờ tình nguyện viên. Công trường xây dựng nhà máy Thép Azov cần ít nhất một ngàn tình nguyện viên góp sức. Việc tham gia vào phong trào tình nguyện này là niềm vinh dự cho mỗi người chúng ta.
Tổ hợp luyện kim Ilitch sẽ được xây cung văn hóa, nhà máy Thép Azov và khu cảng cần xây dựng câu lạc bộ văn hóa. Ngoài ra, đã có kế hoạch xây dựng khu nhà nghỉ và mở rộng khu an dưỡng của địa phương.
Phiên tòa chính trị xử các giáo viên trường Đảng Mariupol khai mạc. Bọn này bị buộc tội thành lập nhóm theo khuynh hướng troskit và tư sản - dân tộc chủ nghĩa.
Tại cuộc gặp gỡ của các nữ chiến sĩ thi đua thành phố Mariupol, các giải thưởng trị giá 150, 200 và 250 rúp đã được trao cho chị em. Ngoài ra các nữ đại biểu còn được tặng mỗi người một lọ cá trích muối.
Rạp chiếu bóng của công nhân viên đã sắm máy phát thanh, và vào ngày 10 và 12 tháng Hai, lần đầu tiên một bộ phim lồng tiếng sẽ được chiếu ở thành phố chúng ta. Đó là bộ phim dựng theo tiểu thuyết Người mẹ của Maxim Gorky.
Không biết dạo xưa trông cái thành phố quê hương của mẹ tôi nó thế nào nhỉ? Chắc không giống lắm với hình ảnh về mảnh đất phương nam sáng sủa nằm sát biển, một hình ảnh mà sau khi tôi đọc được mẩu tin đăng trên báo về trận đấu bóng đá tại Mariupol, đã xua tan cảnh tượng mùa đông u ám vẫn từng bám chặt trong lòng tôi. Hóa ra, những gì tôi hình dung về thành phố ấy lại thay đổi một lần nữa. Trước cách mạng vốn Mariupol đã là một thành phố công nghiệp; thời Liên Xô, sự nghiệp công nghiệp hóa lại càng được ráo riết xúc tiến, các công nhân tiên tiến lập hết kỷ lục thế giới này đến kỷ lục thế giới khác về năng suất lao động. Nhan nhản ống khói dựng lên từ các nhà máy lớn, cuồn cuộn đêm ngày nhả những đụn khói độc lên trời xanh, rồi trút xuống phố xá, nhà cửa lẫn đầu tóc, thân thể con người ta. Kia là phố Torgovaia Uliza với bao nhiêu quầy hàng, quán xá; sau cách mạng ở đây chẳng còn gì mấy để mời chào bán chác, ngoài ít sữa chua, pho mát, thịt thà cùng dăm quả cà chua hay đôi củ khoai tây thu hoạch từ vườn nhà mà phần đông dân chúng nghèo khổ chẳng dám động vào. Đây phố Fontannaia Uliza với các đài phun nước mà cho đến dạo cuối thế kỷ cũ đầu thế kỷ mới, dân chúng vẫn đến hứng nước cho mình và cho gia súc, đây phố Gretscheskaia Uliza, là nơi có lẽ các anh chị em họ của mẹ tôi từng sống trước khi bị xua đuổi khỏi tòa lâu đài của họ, đây nữa là phố Italianskaia Uliza; ngôi nhà của các cụ người Ý của tôi hình như đã nằm đâu đó ở phố này. Các loại xe cộ do ngựa kéo từng rầm rầm chạy qua các đường phố lát đá viên ở đây, và cho mãi đến năm 1933, lúc mẹ tôi mười ba tuổi, mới có tàu điện chạy, tuyến duy nhất, chạy ngược chạy xuôi trên cùng một tuyến đường ray.
Ra khỏi trung tâm một đoạn đã là miền hoang dã. Không còn đường sá rải nhựa hay lát đá rải sỏi nào nữa, chỉ còn một mạng lưới nhằng nhịt các đường đi và lối mòn do người dẫm đạp mà thành. Các ngôi nhà lụp xụp với những mảnh vườn con con, gắn kết vào nhau, lồng trong nhau, nhà vách đá, các túp lều tường gỗ, vách đất, các dãy lán, lều xiêu vẹo, lợp bằng lá cây, không rào dậu, chẳng vách ngăn, nhưng đâu đâu cũng có người ở, tính trung bình ba thước vuông rưỡi một đầu thị dân. Không cống rãnh, chỗ nào cũng bẩn thỉu, rác rưởi, hôi hám, nghèo nàn khổ sở. Các loại bệnh dịch, thương hàn, sốt rét lan tràn. Trẻ vô gia cư, những đứa trẻ mồ côi cha mẹ từ thời nội chiến lang thang khắp chốn cùng nơi, nhặt nhạnh của bỏ đi, ăn trộm, ăn cắp, đêm đêm mùa đông rét mướt phải chui vào ngủ trong các nồi đun nhựa đường nằm rải rác dọc bên lề đường mà ban ngày công nhân cầu đường vẫn dùng để trộn nhựa nóng.
Và biển cả, biển Azov, biển nông nhất thế gian, thật hợp với mẹ tôi, là người không biết bơi… Bà có hay tắm ở biển này không, hay chỉ ngồi trên bãi cát? Mẹ ra đây cùng các bạn gái khác, hay bạn trai? Mẹ đã mặc áo tắm thế nào? Hồi ấy người ta đã dùng áo tắm chưa, hay cứ quần áo mặc trên người, hoặc quần áo lót mà xuống biển? Dù thế nào thì cuộc sống thường ngày của mẹ tôi cũng phải có những giờ phút đẹp đẽ vô tư chứ, những giờ phút sôi nổi của tuổi trẻ chứ nhỉ? Liệu mẹ tôi có say sưa với những bài thơ, những bài hát mới không, liệu mẹ tôi có say mê mơ tưởng tới các chàng trai không? Liệu mùa đông, mẹ tôi có đến bãi trượt băng công cộng, là nơi có chỗ thuê giày trượt băng và ban nhạc chơi cho đám thanh niên nam nữ trượt băng theo nhạc không? Mẹ có hay đến lâu đài văn hóa xem phim, nghe nhạc hay dự các buổi khiêu vũ không? Liệu mẹ có ưng ai trong số, chắc là nhiều, các chàng trai theo đuổi mẹ không? Hay mẹ thầm yêu trộm nhớ đúng một anh chàng nào đó không yêu mẹ? Có phải mẹ đã mơ tưởng về anh ta và viết hàng lô thư từ, nhưng không bao giờ gửi đi không? Hay bố tôi đúng là mối tình đầu của mẹ tôi? Chẳng biết mẹ tôi có từng thực sự yêu thương bố tôi không nhỉ?
Trong lúc tôi ngơ ngơ ngẩn ngẩn cùng các ý nghĩ và phỏng đoán, cũng như cố mò mẫm trong các bài viết về Mariupol hôm xưa để dò tìm, chắp vá các mảnh vụn hay các khúc đoạn trong bức tranh về cuộc đời mẹ tôi, một bức tranh lúc này đối với tôi chưa có gì rõ rệt vì còn quá nhiều lỗ hổng ấy, thì ông Konstantin lại tiếp tục tìm các dấu tích chị Lidia của mẹ tôi. Ông đã mất nhiều công sức lần theo vô số các dấu vết khác nhau, và rốt cuộc, đến lúc Phòng lưu niệm của trại khổ sai xưa kia tại Medvedja Gora báo tin không ai có tên như bác tôi trong danh sách tù nhân, thì tôi hoàn toàn mất hết hy vọng. Thế nhưng ông Konstantin đã chẳng phải là Konstantin nếu ông bỏ cuộc giữa chừng. Ông tiếp tục tìm tòi, sục sạo, rồi một hôm, ông vô tình vớ được trên mạng một danh sách tên họ “Những nạn nhân của chính quyền Xô viết từ năm 1923 đến năm 1953”. Riêng trong khoảng thời gian ba mươi năm đó, số nạn nhân lên tới bốn mươi triệu người. Trong danh sách này, số người mang họ Ivashtschenko là ba mươi chín người, trong đó có một người mang đúng cả họ cả tên: Lidia Jakovlevna Ivashtschenko.
Cũng trang web đó còn cho biết cả địa chỉ email của ông Alfred Kramer ở Odessa và ông này sẵn lòng hỗ trợ trong việc tìm kiếm tung tích các nạn nhân một cách chuyên nghiệp. Ông Konstantin tìm được bài viết về ông này trên mạng - ông ta là người Đức gốc Nga, thành viên của nhiều hội đồng khác nhau tại Odessa và can dự một cách không thật sự trong sáng lắm vào công việc hành chính của thành phố này. Chúng tôi viết mail gửi ông ta, và ngay ngày hôm sau, ông ta đã báo tin cho ông Konstantin biết, trong kho lưu trữ hồ sơ các nạn nhân tại Odessa, ông ta đã tìm ra hồ sơ của người chúng tôi cần tìm. Bà thân chủ người Đức thuê dịch vụ tìm kiếm người thân này cần chuyển hai trăm euro qua Western Union vào ngân khoản của ông ta, sau đó vài ngày, bà ta khắc nhận được hồ sơ ở dạng số hóa.
Ông Konstantin khuyên tôi chưa chuyển tiền vội, chúng tôi cần kiểm tra xem liệu đây có đúng là hồ sơ của bác tôi không đã. Lúc ông hỏi người đàn ông Odessa kia về bằng chứng, ông này liền báo cho ông Konstantin biết nơi sinh của nạn nhân là Warsaw. Ông Konstantin cảm tạ ông ta đã mất công và chúng tôi đã toan xoay ra nghĩ cách tìm kiếm theo đường khác. Song, vài giờ sau, chúng tôi được thông báo thêm một chi tiết nữa trích từ hồ sơ ra là: Mẹ của nạn nhân là bà Matilda Iosifovna Ivashtschenko, họ bà này thời chưa lấy chồng là De Martino.
Lần đầu tiên trong đời, tôi chuyển tiền sang Ukraine và thấp thỏm chờ. Do sốt ruột, cả ngày tôi phải ngó đi nhìn lại hộp mail đến hai chục lần chứ không ít. Hóa ra, chúng tôi đã tìm thấy bác thật, bác Lidia bí hiểm và biệt tăm biệt tích lâu nay; cái họ De Martino của bà thời con gái đã xóa hết mọi hoài nghi. Mặc dù nơi sinh của bà ở nước ngoài - Ba Lan khiến tôi nghi hoặc, nhưng ông Konstantin đã cho tôi hiểu sự tình, số là vào năm 1911, là năm sinh của bác tôi, chẳng những Ukraine, mà cả một phần khá lớn của Ba Lan đều thuộc về Đế chế Nga. Như thế có nghĩa là bác được sinh ra trong nước, chứ không phải ở nước ngoài, chỉ có điều sao lại xa Mariupol đến thế thì chưa rõ. Ý nghĩ lập tức nảy ra trong đầu tôi là, nơi sinh của bác xa xôi như thế là bằng chứng cho gốc gác cận huyết thống của bà. Tôi chẳng rõ vậy là như thế nào, có điều, tôi hình dung ngay bà Matilda đã trốn đến Warsaw, nơi xa hẳn mọi bạn bè thân quen lẫn họ hàng lối xóm để cho đứa con của mối tình bị cấm ra đời. Song, tôi cũng tự nghĩ mình điên rồ, bởi như thế có nghĩa là chính tôi cũng đang thêu dệt tiếp cho câu chuyện hoang đường mà bà chị họ lắm lời và điên khùng của tôi tung ra vậy.
Tôi chuyển tiền đã được hai tuần. Ông Alfred Kramer báo tin đã nhận được tiền, sau đó tôi chẳng nhận được tin gì thêm của ông ta nữa. Tôi đã bắt đầu nghĩ mình bị lừa. Làm sao lại có người được tự do lấy hồ sơ từ kho lưu trữ quốc gia làm dịch vụ riêng kiếm tiền bỏ túi, bằng cách sao hồ sơ rồi gửi cho một thân chủ ngoại quốc, vị thân chủ mà ngoài địa chỉ email ra không có gì rõ ràng về danh tính nữa cả. Song, tôi đã lại suy tính nghĩ ngợi bằng cái đầu đặc sệt Đức của tôi mất rồi. Ông Konstantin đoán chừng ông Alfred Kramer kia sẽ đưa một phần tiền ông ta nhận được của các thân chủ cho nhân viên kho lưu trữ để được xem và sao chép các hồ sơ ông ta cần - vâng, tuy đó là cách làm ăn quen thuộc ở khu vực Đông Âu của thế giới này, nhưng lần nào cũng như lần nào, tôi lại bị bất ngờ do tầm nhìn hạn chế của một công dân phương Tây. Tuy nhiên, thời gian cứ trôi đi mà tôi vẫn chẳng nhận được tin tức gì từ Odessa cả. Đáp lại câu hỏi sốt ruột của tôi, ông Alfred Kramer cho tôi biết, hồ sơ đã lâm vào tình trạng tồi tệ không ngờ, và ông ta bảo đã phải bỏ rất nhiều công để xem xét, phân loại và sắp xếp đúng thứ tự của hơn năm trăm trang hồ sơ với những con chữ đã mờ phai, rồi ông ta xin tôi kiên nhẫn thêm ít lâu nữa. Tôi đã ngờ trong những lời ông ta viết báo tin còn ẩn chứa những lời khôn khéo vòi thêm tiền công, nhưng chỉ hai, ba ngày sau, hộp thư của tôi đã nhận liên tiếp một lúc mười sáu email, một lượng thông tin đáng sợ chứa trong các file nén riêng lẻ dạng ZIP. Đó quả thật là lượng công việc vô cùng lớn, khi phải phân loại từng trang giấy sắp nát vụn, rồi xếp chúng vào máy sao chụp. Tôi ngượng chín người về các ý nghĩ hoài nghi của mình, số tiền hai trăm euro tôi chuyển khoản cho người đàn ông Nga gốc Đức nọ, số tiền mà có lẽ ông còn phải chia bớt cho người khác ấy, quả thật là món tiền công ít ỏi đến độ nực cười so với công sức ông bỏ ra, ấy là chưa kể những thông tin tôi nhận được đều là vô giá.
Trang đầu tiên của tập hồ sơ là một mẩu giấy gói hàng nhàu nhĩ, cắt xiên xẹo, trên đó dán ảnh do cảnh sát chụp cho năm phụ nữ, hai đàn ông. Người ta đã cố tình chụp sao cho họ trông giống như những tên tội phạm hình sự nguy hiểm. Trong tám người bị kết án, chỉ thiếu bức ảnh của bác Lidia. Rõ ràng bức ảnh đã bị cố tình bóc ra, để lại một chỗ trống giữa các tấm ảnh khác, và phía dưới chỉ còn đọc được tên Lidia mà thôi. Suýt nữa thì tôi bật khóc vì thất vọng.
Tiếp theo là cuồn cuộn một lô những biên bản hỏi cung, các quyết định, mệnh lệnh, chỉ thị, lệnh bắt giữ, lệnh khám nhà, lời tuyên án, rồi lại biên bản hỏi cung, lặp đi lặp lại. Thứ giấy tờ từ tám chục năm về trước mà ngồi trước màn hình máy tính tôi vẫn có cảm giác đang bốc mùi mốc mủn, thứ mùi bốc lên từ một gian hầm chứa hồ sơ lưu trữ ở Odessa, nơi vô vàn hồ sơ của các nạn nhân đang chờ đến ngày khai quật.
Theo hồ sơ của bác Lidia, thì quả thật bác đã sinh ra ở Warsaw và sống ở đó cùng bố mẹ đến lúc lên năm. Sau khi gia đình quay về Mariupol, bác ở trong ngôi nhà các cụ người Ý của tôi. Và bác sống ở đó cho đến khi vào đại học ở Odessa.
Trước đây, tôi chỉ toàn uổng công mỗi khi cố hình dung xem mẹ tôi đã lớn lên ở Mariupol trong hoàn cảnh như thế nào, nhưng bây giờ, tôi dường như đã chắc rằng mẹ cũng ăn ở trong căn nhà của ông bà ngoại người Ý của bà. Cứ suy từ khoản tài sản kếch xù mà ông Giuseppe De Martino đã gom góp được nhờ nghề buôn than, thì đó chắc phải là một căn nhà khang trang hoành tráng lắm, nhưng đến lúc mẹ tôi ra đời thì ngôi nhà chắc chắn đã bị quốc hữu hóa. Có lẽ trong nhà lúc đó có nhiều người lạ ở, bởi vì có phần chắc chắn là người ta chỉ chừa cho bè lũ “kẻ thù nhân dân” như gia đình bà một góc nhỏ của ngôi nhà xưa kia do họ làm chủ để ở mà thôi. Rất có thể, mẹ tôi đã lớn lên giữa đám người căm ghét bà, giữa những người nắm trọn số phận bà và gia đình bà trong tay, giữa những người chiếm hữu chẳng riêng gì ngôi nhà, mà cả bàn ghế, bát đĩa, chăn màn, áo xống của bố mẹ bà, vâng, bà phải lớn lên giữa đám những người được quyền nhổ toẹt vào thức ăn thức uống của giới quý tộc và nhà giàu hôm xưa, và biết đâu, họ còn có thể được quyền giết bà và gia đình bất cứ lúc nào mà không phải chịu tội tình gì cũng nên.
Tôi được biết qua hồ sơ của bác rằng sau khi tốt nghiệp đại học ngành Lý luận văn học tại Odessa, bác quay lại Mariupol và làm việc một thời gian ngắn tại nhật báo Người vô sản vùng Azov, tờ báo mà tôi từng thấy nhắc đến trong lưu trữ của hội “Dân Hy Lạp vùng biển Azov”. Ngày mùng 5 tháng Mười một năm 1933, lúc bác mới hai mươi hai tuổi thì bị bắt. Bác bị buộc tội tham gia hội đoàn chống nhà nước Xô viết mang tên “Nhóm đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản” và bị kết án vì các hoạt động chống nhân dân và phản cách mạng. Theo luận điệu nhà cầm quyền thì rõ ràng mục tiêu của cái Hội đoàn được thành lập năm 1931 tại Odessa và có nhiều cơ sở tại các địa phương khác nhau của Ukraine đó, là mục tiêu lật đổ chính quyền Xô viết, bởi vì theo quan điểm của các hội viên, chính quyền Xô viết đã phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa để xây dựng chế độ tư bản, nhà nước chống lại giai cấp công nhân. Các hội viên - tất cả đều là sinh viên ngành Lý luận văn học - có nhiệm vụ thành lập các nhóm yêu văn chương tại càng nhiều càng tốt các nhà máy, xí nghiệp ở Ukraine, và thông qua các nhóm này, tuyên truyền giác ngộ công nhân nhằm gây bạo loạn phản cách mạng. Theo như hồ sơ, các cuộc họp bí mật của hội này diễn ra tại nhà riêng của các hội viên, nhiều lần diễn ra tại nhà bác Lidia ở Odessa, tức là tại nhà một bà cô của bác - bà Jelena - người đàn bà sang trọng mặc áo thổ cẩm có cổ kiểu Stuart mà tôi từng thấy trong bức ảnh gia đình chụp cạnh cây cọ mọc trong phòng và bây giờ lại đọc thấy tên trong hồ sơ vụ án của người cháu bà.
Không biết mọi sự đã như thế nào vào cái ngày mùng 5 tháng Mười một năm 1933 nọ, lúc người ta đến bắt, người thanh nữ hai mươi hai tuổi mà dưới con mắt tôi bây giờ, chỉ mới như một đứa trẻ mà thôi ấy? Họ đến vào lúc nào? Vào những lúc họ ưa chuộng nhất, tức là về đêm, hay sáng sớm tinh mơ, khi mọi người còn say giấc, lúc nạn nhân còn mơ mơ màng màng, ngây ngây, bất lực? Liệu đêm hôm đó, mẹ tôi lúc ấy mười ba tuổi, có bị đánh thức bởi tiếng đập cửa hống hách mà hồi ấy hàng triệu con người vẫn hằng đêm vẫn nơm nớp chờ đợi trong nỗi khiếp đảm khôn cùng không? Liệu mọi người có biết trước, hay ít ra cũng đoán trước bác Lidia sẽ bị bắt không, hay mọi sự đã bất ngờ ập đến? Liệu mẹ tôi có phải chứng kiến cảnh khám nhà, cảnh chị mình bị người ta còng tay giải đi không? Nghĩ đến đây, tôi buộc lòng phải nhớ đến bài thơ Requiem của Anna Achmatowa:
Sáng sớm tinh mơ chúng đến bắt anh đi
Lũ trẻ khóc vì kinh hoàng hoảng loạn.
Em bước theo anh như bước theo xác chết.
Những ngọn nến cháy chảy mềm oèo nơi góc bếp…
Trước khi bị kết án, bác Lidia bị giam giữ nửa năm ở các nhà tù Mariupol, Odessa và Donetsk, quá nửa thời gian đó là trong các hầm giam cấm cố. Theo lời ông Konstantin, các biên bản hỏi cung, tổng cộng phải gần ba trăm trang giấy, là một trò hề không hơn không kém. Hồi ấy, lời khai của phạm nhân bao giờ cũng bị xuyên tạc, bịa đặt, phạm nhân bị ép cung bằng đủ cách, dọa dẫm, đe dọa hay tra tấn nặng nề. Và khi mà con người ta có thể bị xử bắn chỉ vì một câu nói đùa vô thưởng vô phạt thôi, thì ai mà chẳng khai trong lúc nơm nớp sợ chết. Việc các nữ phạm nhân bị kẻ hỏi cung hãm hiếp là chuyện không hiếm, phạm nhân bị tra tấn là chuyện thường xuyên hoặc họ bị ném vào cái gọi là dây chuyền hỏi cung không ngừng không nghỉ, cho đến lúc họ căng thẳng đến mức không còn biết mình đã khai những gì nữa. Mà nói cho cùng thì họ khai thế nào đâu có quan trọng, bởi vì lời khai của phạm nhân trong biên bản hỏi cung thường được đọc cho phạm nhân viết hoặc do chính tay những kẻ hỏi cung viết ra, những kẻ do bị ép từ trên xuống mà phải cung cấp các kết quả hợp ý cấp trên. Chẳng ai quan tâm đến sự thật thế nào. Ai nấy chỉ lo làm sao đạt đủ chỉ tiêu do bộ máy khủng bố đã đặt ra mỗi ngày, chỉ cốt làm sao thỏa mãn nỗi khát khao khôn nguôi muốn hành hạ con người của Stalin mà thôi.
Các lời khai của bác Lidia quả nhiên chẳng có gì giống với những lời khai phát ra từ miệng một người đang sợ hãi vì đối mặt cái chết cả. Xét về nội dung thì các biên bản đều giống hệt nhau, đều lập theo khuôn mẫu và cách hành văn như nhau. Cứ theo các biên bản này thì dường như bác Lidia đã khai hết đồng chí của mình, khai tên tuổi, địa chỉ của họ, các chi tiết về đời tư, về tính cách cũng như về các hoạt động của mọi người trong nhóm. Hết biên bản này đến biên bản khác, biên bản nào cũng chỉ một giọng đến là buồn ngủ và sáo rỗng như nhau về các cuộc thảo luận chính trị và lý tưởng diễn ra trong nhóm, về các tài liệu họ đã đọc, về các buổi huấn luyện hoạt động bí mật và tuyên truyền vận động, và lặp đi lặp lại về mười điểm trong cương lĩnh chính trị mà nhóm đã thảo ra. Một cách vô cớ, chẳng đâu vào đâu, biên bản cho biết bác Lidia đã tự nguyện từ bỏ gốc gác quý tộc từ lâu, bác lên án ông ngoại Giuseppe De Martino - nhà xuất khẩu than Donbass - là kẻ bóc lột nhân dân Ukraine, bác cam đoan bố mẹ mình không sở hữu của cải gì đáng kể và thực ra chỉ ở trọ trong nhà bố mẹ thôi. Đây có lẽ là chỗ duy nhất trong các biên bản tôi cho là thật; có lẽ trong lúc tuyệt vọng, bác Lidia đã cố rút đầu khỏi thòng lọng mà họ đã quàng lên cổ mình bằng cách tuyên bố từ bỏ gốc gác mình như thế. Biên bản nào cũng kết thúc bằng lời thú tội như nhau, có lẽ do một kẻ hỏi cung mềm lòng nào đó mớm cho bác:
Từ lâu tôi đã nhận ra rằng các hoạt động phản cách mạng của tôi và đồng bọn đã gây nhiều thiệt hại cho nhân dân Xô viết. Tôi đã hành động xuất phát từ sự ngây thơ chính trị và thiếu hiểu biết của mình, đồng thời chịu ảnh hưởng của người lãnh đạo nhóm chúng tôi là Bella Glaser, một kẻ nhờ học vấn cao và khả năng mê hoặc đã gieo rắc các ý nghĩ sai lầm vào đầu óc tôi và lôi kéo tôi tiến hành các hành động sai trái. Với lương tâm trong sáng trước nền chuyên chính vô sản của chính quyền Xô viết, tôi đã khai hết vào biên bản những gì tôi biết về “Nhóm đấu tranh giải phóng vô sản”. Tôi nhận thức rất rõ rằng tội lỗi của tôi trước chính quyền Xô viết không những chỉ ở các suy nghĩ và hoạt động sai lầm tôi tiến hành trong nhóm, mà còn là ở chỗ tôi đã giữ kín mọi điều đó. Tôi đã phạm tội nặng, song tôi mong rằng với lời khai trung thực và thẳng thắn của mình, tôi sẽ được chuộc một phần tội lỗi và từ nay về sau tôi sẽ được phép lao động trung thực nhằm phụng sự tổ quốc Xô viết của mình.
Từ ngày vị Sa hoàng cuối cùng bị lật đổ đến giờ, mọi sự đã đổi thay tận gốc rễ, nhưng các ngón đòn trừng phạt kẻ phản nghịch đều vẫn y nguyên như thế. Tất cả các thành viên của nhóm đều bị tuyên phạt ba năm khổ sai tại các trại nằm “bên ngoài lãnh thổ Ukraine”. Căn cứ vào tội âm mưu chống và lật đổ bộ máy nhà nước thì hình phạt quả là nhẹ không ngờ. Riêng có bà Bella Glaser là không thoát được tử hình. Do tiếp tục hoạt động chính trị trong thời gian bị đày ở Siberi, bà này đã bị bắt lần nữa và đưa ra pháp trường. Tôi ngắm nhìn bà qua tấm ảnh do cảnh sát chụp: bà quả là một phụ nữ trẻ trung và trông rõ ràng là hết sức thông minh, đầu đội mũ bê rê, mắt đeo kính trắng tròn kiểu kính Trotsky, và theo như trong hồ sơ, bà là người Do Thái. Nếu mật vụ Xô viết chưa kịp hành hình bà, thì mười năm sau đó, chắc có lẽ bà cũng sẽ bị bọn Quốc xã Đức giết hại thôi.
Liệu bác Lidia thật sự có phải là người hoạt động chống Liên Xô hay không, liệu cái “Nhóm đấu tranh giải phóng vô sản” có thật sự hoạt động không, hay đó chỉ là trò bịa đặt của mật vụ nhằm lấy cớ trừng trị những người có nguồn gốc gia đình như Lidia, bất chấp bác là em gái một đảng viên được ủy viên Bộ Chính trị Stanislaw Kossior ưu ái, bất chấp cả việc bác là con gái một cựu đảng viên bolshevik từng phải chịu hai mươi năm lưu đày biệt xứ - tất cả các câu hỏi đó đều không có lời đáp. Song, nếu bác Lidia quả là người dám đứng ra chống lại bộ máy chuyên chính của Stalin, thì chắc bác phải là người hoàn toàn khác với mẹ tôi. Có vẻ như hai chị em là hai cực đối ngược nhau vậy. Bác Lidia là người chị khỏe khoắn dũng cảm, dám liều mạng, còn mẹ, tôi có phần tin chắc rằng từ khi còn bé đã là đứa em nhạy cảm, nhút nhát, bất lực ở đời. Chí ít thì lúc nhỏ, bác Lidia cũng được ăn no mặc ấm, được ôm ấp chiều chuộng, còn mẹ tôi, là người chưa từng được hưởng cái gì khác, ngoài cuộc sống đói kém và chứa chất đầy nỗi kinh hoàng. Có lẽ chính đó là gốc gác của sự khác nhau giữa hai chị em vậy.
Theo như hồ sơ thì bác Lidia đã thoát chết, sống sót sau quãng thời gian bị đày ải, ngược hẳn với phỏng đoán của bà chị họ tôi ở Kiev. Trong đống giấy tờ, hồ sơ, tôi tìm thấy cả tờ đơn xin phục hồi bác viết năm mươi năm sau khi mãn hạn tù, tức là năm 1992, ngay sau khi Liên Xô sụp đổ. Lúc đó bác đã tám mươi mốt tuổi. Sau một thời gian xem xét ngắn, đơn của bác được chấp thuận. Để đền bù cho ba năm bị giam trong trại khổ sai, bác Lidia được nhận khoản tiền là 115.425 rúp. Hồi đó, theo ước tính của ông Konstantin, số tiền đó có thể mua được hai trăm ổ bánh mì con, tức là, dùng để mua một nửa ổ bánh mì cho mỗi ngày bị đày ải cũng không đủ. Hơn nữa, do nạn lạm phát ở thời kỳ hậu Xô viết diễn ra lúc đó, tiền bạc mất giá nhanh đến mức chỉ vài ngày sau, số tiền bồi thường còm cõi khốn khổ của bác Lidia chắc cũng chẳng còn mấy giá trị.
Lá đơn xin phục hồi bác viết bằng tay - chữ nhỏ, hơi nghiêng, nét gọn và đều đặn đến mức đáng ngạc nhiên ở một bà cụ đã tám mươi mốt tuổi. Phía trên lá đơn là dòng chữ ghi địa chỉ: Vào thời điểm thảo đơn năm 1992, bác sống ở Klimovsk, một thành phố nhỏ nằm cách Moskva khoảng năm chục cây số. Tôi gõ địa chỉ vào Google Maps, không những nó cho thấy con phố, mà tôi còn phải dụi mắt vì kinh ngạc, thậm chí cả bức ảnh vệ tinh chụp ngôi nhà bác Lidia ở. Tôi lần được tới cả các cửa sổ ngôi nhà bà chị gái mẹ tôi ở, tới cánh cổng ngôi nhà mà ngày nào bác tôi vẫn ra ra vào vào. Một ngôi nhà xây theo kiến trúc Liên Xô thời những năm 1950, trông rất đẹp mắt, quét vôi màu hồng nhạt, phòng kính mùa đông, ban công rộng rãi, không có vẻ gì hoang phế như ở các nước Đông Âu khác. Phía lề đường bên kia là khu rừng bạch dương nhỏ, trông rõ ràng là nơi yên tĩnh ngay giữa thành phố, ngay bên cạnh nhà là khu siêu thị mà chắc bác Lidia vẫn đến mua sắm. Tôi không rõ cửa sổ nào là của phòng bác, song tôi cầm chắc là mình đã nhìn thấy chúng. Một thứ kỹ thuật tuyệt vời, thứ kỹ thuật mà nhờ nó, chỉ cần ngồi bên bàn giấy người ta vẫn có thể ngó vào những ngóc ngách xa xôi của thế giới này, đã cho tôi thấy ngôi nhà, nơi chị gái của mẹ tôi từng sống, ít nhất là cũng đến lúc bà tám mươi mốt tuổi. Tôi cảm thấy tiếc nuối khôn cùng. Trong chân phiên dịch viên, tôi đã đến Moskva không biết bao nhiêu lần, lần đầu tiên là năm 1972, lúc bác Lidia mới sáu mươi mốt tuổi. Lúc đó đã chẳng có vực thẳm nào, chẳng có khoảng thời gian vô cùng vô tận nào ngăn cách tôi với quá khứ của mẹ ở Ukraine cả, đó chỉ là một quãng ngắn mèo nhảy cũng qua mà thôi. Nếu hồi đó bác Lidia đã sống ở Klimovsk, thì tôi chỉ cần một tiếng tàu điện nhanh chứ bao nhiêu, là đã đến được chỗ bác ở rồi.
Bây giờ tôi cũng biết bác Lidia mãn hạn tù đày đã được năm năm rồi thì bà Matilda, ngay trước khi chiến tranh nổ ra không lâu, mới lên đường đến Medvedja Gora thăm con. Không biết cái gì đã giữ bác Lidia lại chốn cùng trời cuối đất này sau khi mãn hạn tù? Phải chăng bác đã lấy người đàn ông nào ở đó làm chồng? Những gì đã diễn ra trong thời gian nằm giữa lán tù ở Medvedja Gora và căn hộ có lò sưởi trung tâm với nước nóng chảy thường xuyên của ngôi nhà được xây vào những năm 50 tại một thành phố nằm gần Moskva ấy? Không biết bác Lidia sau khi bị bắt còn bao giờ quay lại Mariupol nữa không, hay sau đó bác không bao giờ thấy lại thành phố này nữa? Liệu bác có lập gia đình không, liệu bác có con cái gì không, để tôi tìm họ? Trong đơn xin phục hồi, bác vẫn ký tên họ thời con gái, và cũng chỉ nhờ đó mà tôi mới tìm ra bác, có nghĩa là bác không lập gia đình. Tôi hình dung ra trước mắt mình một bà già Nga, một trong số những người từng sinh ra từ thời Sa hoàng, những người từng nếm trải và sống sót sau thời kỳ cách mạng, từng nếm mùi trại Gulag, từng nai lưng gánh chịu gánh nặng chiến tranh cùng bao nhiêu tai họa tiếp theo khác trên đất nước mình, những bà già nhỏ bé, mà do cái đói hồi nào, vẫn biết bao giờ cũng phải dự phòng một miếng bánh mì khô trong góc tủ, những người dáng dấp trông như các vị thần vị thánh, như những tờ giấy mỏng manh, nhẹ bổng giữa tinh không. Thân thể họ đã từng vượt qua biết bao nhiêu là cái chết, khiến họ dường như đã trở thành những con người bất tử. Bác Lidia bây giờ đã phải một trăm lẻ hai tuổi rồi, và tôi nghĩ, có lẽ không thể loại trừ được việc bác vẫn đang còn sống.
Giờ đây tôi có thể nhẩm tính lại dễ dàng, rằng lúc bác Lidia lên đường đến Odessa học đại học thì mẹ tôi vừa tám, chín tuổi gì đó. Và thật ra, đó là lần chia tay mãi mãi. Sau khi tốt nghiệp đại học, bác Lidia tuy còn quay lại Mariupol lần nữa, nhưng chẳng được bao lâu. Năm 1933, lúc bác bị bắt, mẹ tôi mới tròn mười ba tuổi. Rất có thể, đến thời sống trên đất Đức, mẹ tôi đã không còn giữ nhiều kỷ niệm về bác nữa, vả lại, sau khi bác bị bắt mang đi, có lẽ người trong nhà cũng chỉ còn dám giấu giấu giếm giếm nhắc đến bác nữa mà thôi. Một khi đã mang tiếng là tên phản cách mạng, thì bác trở thành mối nguy đe dọa cho tất cả những ai chỉ quen biết bác thôi, huống hồ người thân trong gia đình. Có lẽ ngay từ thời ở Ukraine mẹ tôi đã ghi lòng tạc dạ việc không được hé răng nói gì về chị mình, và sang đến Đức, bà vẫn tiếp tục câm lặng như thế, sự câm lặng vốn bắt nguồn từ nỗi sợ hãi đã ngấm tận xương, xuyên tận tủy và mạnh hơn cả lý trí ấy.
Đến nay, hóa ra tôi biết về anh chị mẹ tôi còn nhiều hơn về bà. Chẳng hạn tôi biết bác Sergey đã học thanh nhạc, còn bác Lidia học lý luận văn học. Điều đó khiến tôi có linh cảm về mối liên hệ gắn bó gần như bí hiểm giữa tôi với hai bác. Chắc chắn là tôi phải từ nhà đó mà ra, bởi vì bất chấp các hố sâu ngăn cách về thời gian và không gian, tôi lại chia sẻ với hai bác đúng hai thế giới tôi thân thuộc - thế giới văn chương với bác Lidia, thế giới âm nhạc với bác Sergey. Song, tôi chia sẻ cái gì với mẹ? Tôi cứ bóp đầu bóp trán mãi, cố nhớ xem mẹ tôi đã theo học ngành gì ở đại học mà không được. Tôi chỉ biết mẹ từng được thưởng bằng khen khi tốt nghiệp đại học; ít ra thì bố tôi thường vẫn kiêu hãnh kể đi kể lại chuyện này, mặc dù thứ bệnh tâm thần mẹ tôi mắc, như ông khăng khăng gán cho bà, không thể cho phép bà thông minh minh mẫn như ông khoe khoang được.
Nếu mẹ tôi quả thật đã giữ chân giáo viên ở trường trung học do bà Valentina đứng đầu, thì mẹ tôi phải học qua các môn của khoa Sư phạm. Liệu có phải môn Đức học không, bởi bà đã học tiếng Đức qua ông thân sinh của bà, tức là qua con trai bà Anna von Ehrenstreit mang huyết thống Đức ở vùng Baltic? Không biết thứ tiếng Đức bà giỏi một cách bất ngờ là do bà học rất nhanh ở Đức hay do bà đã thông thạo nó từ dạo ở Ukraine rồi? Ở Đức, bà không bao giờ bị cảnh ú ớ tiếng tăm như bố tôi, hay như đa phần những người khác trong trại dân ngoại quốc. Mặc dù ở nhà, mẹ bị lép vế so với bố tôi, nhưng cứ ra ngoài là bà hơn hẳn ông, bởi bà nghe được, nói được, bà hiểu thế giới xung quanh nhiều hơn ông, một người vốn suốt đời không hiểu gì về nước Đức cả. Vâng, ở ngoài đời trên đất Đức, bố mẹ tôi phải thay vai đổi vế. Tại các Ban này Phòng nọ của nhà chức trách Đức, bố tôi thành người câm điếc, hoàn toàn phụ thuộc vào mẹ tôi. Và, rất có thể chính vì những chuyện như thế mà một người đàn ông như bố đã không thể tha thứ cho mẹ tôi, vâng, rất có thể vì thế mà ông căm ghét bà suốt đời vậy.
Việc mẹ tôi lúc trước chiến tranh còn rất trẻ không mâu thuẫn gì với việc hồi đó bà đã thi đỗ chứng chỉ ngành Sư phạm cả. Thời đó ở Liên Xô, khó ai được sống cuộc đời sinh viên vui tươi, thanh thản. Vào đại học là một thứ đặc quyền mà ai chăm chỉ và đạt thành tích nổi bật lắm mới được hưởng, rồi khi đã được học thì phải học sao để tốt nghiệp, ra trường, bắt tay tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội càng sớm càng tốt. Bởi thế, ở tuổi hai mươi, hai mốt, rất có thể mẹ tôi đã đứng bục giảng bài cho tụi nhỏ rồi.
Lẽ ra nhiều câu hỏi mà hiện nay tôi đang phải đoán già đoán non rồi tìm cách trả lời giữa một ma trận nhằng nhịt không thấy đường ra ấy, có thể đã được giải đáp từ lâu, qua số giấy tờ vốn được lưu giữ dưới hầm ngầm nhà chúng tôi tại biệt khu dành cho dân bị cưỡng bức lao động hôm xưa ở bên rìa một thành phố tỉnh lẻ của nước Đức; âu đây cũng là chặng dừng chân cuối cùng của mẹ tôi. Trong số giấy tờ mẹ tôi mang từ Ukraine sang có cả các bằng cấp, chứng chỉ mà có lẽ ở Đức chẳng ma nào thèm ngó đến nữa, vốn đựng trong một chiếc hộp thiếc, trên nắp hộp có in dập bức tranh một ngôi lâu đài Đức. Dưới hầm nhà, tôi vẫn thường lôi những tờ giấy đã bốc mùi mốc và dày đặc chữ Kyrill đó ra xem - đôi chữ tôi đọc được, bởi mẹ tôi đã dạy bảng chữ cái Nga cho tôi từ trước khi tôi vào học trường Đức - thế nhưng, lúc tôi khoảng tám tuổi gì đó, một hôm tự nhiên tôi nghĩ nhà mình, hay ít ra là tôi, chẳng cần số giấy tờ này làm quái gì nữa. Cho nên, vào một lúc bị sai xuống hầm lấy than đốt, tôi đã nhúng tay vào một trong những tội lỗi tệ hại nhất của thời thơ ấu. Tôi đem cái hộp thiếc đựng giấy tờ nọ nhét hết vào thùng rác đặt cạnh chân cầu thang. Như thế, coi như không còn chứng cớ nào về nguồn gốc gia đình tôi nữa, cái nguồn gốc mà tôi ghét cay ghét đắng ấy, phải xóa sạch sành sanh các chứng cớ đó đi. Về sau, khi mẹ tôi đã mất, bố tôi hì hục tìm số giấy tờ ấy mãi, và đương nhiên ông không thể biết chúng đang nằm mục nằm nát đâu đó ngoài bãi rác thành phố. Ông đinh ninh số giấy tờ ấy bị một kẻ nào đó trong số gián điệp Xô viết đánh cắp, những điệp viên mà ông cầm chắc lúc nào cũng rình mò bao vây ông.
Tôi với ông Konstantin bắt tay tìm dấu vết con cái bác Lidia. Do ở Liên Xô hồi đó, phần lớn các căn hộ đều thuộc về sở hữu cá nhân, nên dân tình không hay thay đổi nơi ăn chốn ở nhiều như ở phương Tây, bởi vậy ông Konstantin chắc mẩm trong căn nhà ở Klimovsk thể nào vẫn còn có người từng quen biết bác Lidia, thậm chí có người bà con với bác, là những người đã thừa kế căn hộ và dọn vào đó ở sau khi bác mất. Ông Konstantin bàn tôi nên viết thư đến địa chí mà bác Lidia đã gửi đơn xin phục hồi. Trên phong bì, tôi nên ghi bác Lidia là người gửi, và ghi thêm tên tôi là “người nhà” hay “hàng xóm”. Ngoài ra chúng tôi gửi thêm cả email đến Ủy ban hành chính thành phố Klimovsk, xin họ cho tôi được biết thông tin về bác tôi, và nếu có, cả về con cái bác. Tôi thấy ý định này không hứa hẹn nhiều lắm. Ở bên Nga, chắc cũng phải có những quy định tối thiểu nào đó về bảo mật dữ liệu, không cho phép cung cấp thông tin về công dân mình cho một người hoàn toàn xa lạ, nhất là khi người lạ này lại là một nữ công dân ngoại quốc vô danh tiểu tốt và chẳng có bằng cớ nào chứng minh quan hệ họ hàng giữa bà với người mà bà ta muốn tìm hiểu. Vả lại, xưa nay chúng tôi cũng từng viết khá nhiều thư từ gửi nhà chức trách, nhưng chẳng bao giờ được trả lời; tất cả những thông tin có được đến nay, chúng tôi đều thu thập bằng những con đường khác. Thế nhưng tôi vẫn làm theo lời ông Konstantin, bởi nói cho cùng, có mất gì đâu; vậy mà một chuyện thần kỳ đã đến, một trong những chuyện thần kỳ mà tôi đã gặp khá nhiều trong cuộc tìm kiếm bấy lâu nay. Chỉ ít ngày sau, tôi nhận được email của Phòng Hộ tịch thành phố Klimovsk với những dòng như sau:
Kính gửi bà Natalia,
Để trả lời cho câu hỏi bà gửi thông qua mạng Internet cho Ủy ban hành chính Klimovsk, chúng tôi xin thông báo như sau: Theo hồ sơ lưu trữ của Phòng Hộ tịch Klimovsk, bà Lidia Jakovlevna Ivashtschenko đã qua đời ngày 22.08.2001. Con gái bà là Jelena Jujevna Zimova qua đời ngày 10.10.2001. Người hiện nay ngụ tại căn hộ ở số 5 phố Rochtschinskja Uliza là ông Kiril Grigorjevich Zimov, cháu trai bà Lidia Ivashtschenko.
Chúng tôi lấy làm tiếc vì ngoài ra, chúng tôi không có thêm thông tin gì nữa.
Kính thư,
Svetlana Lichatschova,
Trưởng phòng Hộ tịch.
Dòng cuối cùng làm tôi ngạc nhiên. Ngoài những thông tin tôi nhận được từ email thì có thể còn thêm những thông tin nào nữa chứ? Còn “thêm” gì nữa ngoài địa chỉ của cháu bác Lidia nhỉ? Nếu lúc này có ai hỏi tôi câu người ta vẫn hay hỏi về bản chất tâm hồn Nga, thì tôi sẽ chẳng ngần ngừ lấy ngay chị Svetlana Lichatschova, Trưởng phòng Hộ tịch Klimovsk này làm thí dụ. Chị ấy đã không hành động giống như một quan chức bình thường mà như một con người có lòng tốt, và như thế, đã trao vào tay tôi - một người lạ ở nước Đức xa xôi - chiếc chìa khóa mở các bí mật về cuộc đời bác Lidia, và biết đâu được, cả về cuộc đời mẹ tôi nữa.
Ngày tháng bác Lidia mất ghi trong email từ Klimovsk cho thấy sau khi xin phục hồi, bác còn sống thêm mười năm nữa và thọ chín mươi mốt tuổi. Trước đây mười năm, lẽ ra tôi đã có thể đến thăm bác trong căn nhà kiến trúc theo kiểu những năm 50 và quét vôi màu hồng nhạt dựng trước khu rừng bạch dương con con ở Klimovsk rồi đấy. Bác đã sống lâu hơn em gái bác, tức mẹ tôi, năm mươi lăm năm. Có lẽ lần cuối cùng hai chị em còn nhìn thấy nhau là ngày bác bị bắt mang đi. Liệu bác có còn nhớ đến mẹ tôi không, khi bác nhắm mắt xuôi tay bảy chục năm sau? Hình như bác đã lấy chồng, sinh con gái là Jelena - người chị họ cũng đã qua đời của tôi.
Sau khi tôi chuyển tiếp email của Phòng hộ tịch Klimovsk đến ông Konstantin thì mọi việc diễn ra rất nhanh. Thông qua trang web “Odnoklassniki (bạn cùng lớp)”, là một trong những mạng xã hội khá phổ biến ở Nga, ông tìm thấy một người tên là Kiril Grigorjevich Zimov thật. Ông này bốn mươi mốt tuổi và sống ở Klimovsk. Điều đó chứng tỏ ông này chắc phải là cháu ngoại bác Lidia rồi. Ông Konstantin nhắn tin lại cho ông ta, kèm theo cả địa chỉ email của tôi, rồi sao lại bức ảnh ông này đăng trên mạng, gửi cho tôi. Tôi giật mình. Trong suốt quá trình tìm kiếm, tôi đã quen bắt gặp các gương mặt ít nhiều thông minh sáng sủa của những người có học hành, nhưng bây giờ, có lẽ tôi đã lần đến ngõ cụt. Bởi vì, trước mắt là gương mặt đần độn, đờ đẫn của một gã đàn ông mà bộ dạng trông như một đứa trẻ con béo núc béo ních. Rõ ràng gã là đại diện của giới vô sản Nga mà bác Lidia, bà ngoại gã, hồi nào toan tìm đường giải phóng. Gã ngồi trên chiếc ghế bành bẩn thỉu, treo sau lưng là tấm thảm nhầy nhụa dệt theo mẫu Baroque Nga - vâng, một căn hộ điển hình ở thời hậu Xô viết, trong đó rượu mạnh là kẻ chung sống gần gũi nhất với chủ nhà.
Nếu đây là bức ảnh đầu tiên của gia đình bên ngoại mà tôi được thấy, thì có lẽ tôi đã chẳng lấy làm ngạc nhiên, bởi có lẽ, nó sẽ chỉ củng cố thêm những điều tôi mong đợi từ trước mà thôi. So với thế giới bao quanh mẹ tôi ở Đức, bức ảnh này còn toát ra một vẻ ấm cúng, an bình mà hồi nhỏ tôi từng mong ước. Song, làm sao mà khớp bức ảnh người đàn ông này với ảnh những người khác trong gia đình tôi từng thấy đến giờ? Phải chăng đây là cái kết đáng buồn của dòng họ?
Mãi đến lúc này, sau khi tôi đọc đi đọc lại bốn, năm lần từng chữ trong email của Phòng Hộ tịch Klimovsk, tôi mới để ý một chi tiết lạ lùng. Bác Lidia mất vào ngày 22 tháng Tám năm 2001, con gái bác mất vào ngày mùng 10 tháng Mười cùng năm, tức chỉ bảy tuần sau đó. Như thế nghĩa là thế nào? Kể ra, nếu một bà mẹ già qua đời ngay sau khi con gái bà ra đi thì còn hiểu được, nhưng tại sao ở đây, người con gái lại theo bà mẹ già chín mươi mốt tuổi sớm như thế? Phải chăng bà con gái, chắc cũng lớn tuổi rồi, do bệnh tình nặng mà không chịu nổi sự mất mát khi mẹ mình ra đi? Dù thế nào đi nữa thì cũng khó mà tin hai cái chết này không liên quan đến nhau.
Giờ đây, tôi như con thú bị thương, giật mình đánh thót, lo ngay ngáy không biết đằng sau đây còn ẩn náu bí mật nào nữa của dòng họ gia đình tôi hay không, nhất là khi một chi tiết nữa trong email của Phòng Hộ tịch Klimovsk làm tôi bối rối. Tôi với anh chàng Kiril Zimov nọ, người mà nếu tôi không nhầm sẽ là cháu họ của tôi, có chung một chuyện lạ lùng. Các bà mẹ của dì cháu chúng tôi, tuy lệch nhau bốn mươi nhăm năm trời, nhưng đều cùng mất vào ngày mùng 10 tháng Mười. Tôi không thể gạt bỏ được ý nghĩ rằng đây không phải là sự trùng lặp ngẫu nhiên, rằng hai sự kiện đó liên quan với nhau một cách ma quái thế nào đấy, rằng vẫn còn tấn bi kịch bí hiểm khác nữa của gia đình đang ẩn náu rình rập.
Tôi vẫn thầm mong bức ảnh lấy từ mạng xã hội xuống không phải là ảnh người cháu bác Lidia, mà chỉ là sự trùng tên ngẫu nhiên mà thôi, song cái may mắn đã không rời bỏ tôi trong cuộc tìm kiếm này. Nói gì thì nói, như thế là tôi lại tìm ra một người bà con còn gì. Máy tính Notebook của tôi báo tin tôi có mail của Kiril Zimov.
Thưa dì Natalia,
Cháu nhận được tin báo mẹ của dì là em gái của bà ngoại cháu và dì đang chờ email của cháu. Cháu được biết bà ngoại cháu có một người em trai và một người em gái, cháu cũng biết hai người tên là Sergey và Jevgenia. Về ông Sergey, cháu không biết gì hơn rằng ông ấy là ca sĩ nhạc kịch; bà cháu vẫn thường mở đĩa nhạc ghi giọng hát của ông để hai bà cháu cùng nghe, về bà Jevgenia, mẹ của dì, cháu chỉ nghe nói đã lấy chồng là sĩ quan Mĩ và di cư sang USA lâu rồi. Bà ngoại cháu từng đi tìm bà Jevgenia rất lâu mà không được. Hồi ấy chưa có Internet, dì ạ.
Bà cháu có hai người con, mẹ cháu là Jelena và bác Igor. Mẹ cháu mất rồi, bác Igor sống ở Miass, nhưng địa chỉ thế nào cháu không rõ. Vợ chồng cháu ở cùng hai cơn trong căn hộ trước đây của bà ngoại cháu. Kèm theo đây, cháu gửi dì đôi tấm ảnh.
Kính thư,
Cháu Kiril Zimov
Tôi mở file đính kèm. Vâng… đây đúng là bác Lidia, con người phiêu bạt mất tăm mất tích, người ai cũng tưởng đã bỏ mình thiệt mạng nơi nào đó, và cách đây ít lâu, tôi còn nghĩ tên tuổi bác được viết trên tấm bảng gắn vào một thân cây nào đó ở rừng Karelia. Trông bác không giống mẹ tôi lắm, nhưng tôi có cảm giác bác trong ảnh thân thuộc với tôi hơn hình ảnh tôi tự tưởng tượng ra về bác. Trong ảnh là một phụ nữ nghiêm trang, mảnh mai, kiêu hãnh, với ánh mắt nhìn thẳng, dò hỏi, và khó mà nói được đó là ánh mắt sẵn sàng đón nhận hiểm nguy hay ánh mắt ấy chính là mối nguy vậy. Ánh mắt ấy như thể đang đọ sức với một đối thủ vô hình trước mặt, và chắc chắn sẽ không đời nào lảng nhìn sang chỗ khác trước. Mái tóc xoăn, đen, cắt ngắn, áo liền váy mặc mùa hè, giản dị, với cổ áo màu trắng. Khó mà nói được trên ảnh bác Lidia khoảng bao nhiêu tuổi, cũng khó mà đoán được xem ảnh chụp từ trước khi bác bị đi đày hay sau đó; song, nếu ảnh chụp sau khi bác mãn hạn tù ở Medvedja Gora, thì rõ ràng, không hề hấn gì, bác đã vượt qua mọi mưu toan dùng cực hình đè bẹp ý chí bác.
Bức thứ hai chụp một phụ nữ khác hẳn. Tôi đoán bà chừng năm mươi tuổi, mặt vẻ cau có, khô khan, kín như bưng, dữ dằn, như con Nhân sư. Tôi có cảm giác mình đang thấy trước mặt một người tiêu biểu cho những ai từng trải qua hệ thống hủy diệt trước đây, thời gian sau đó lại bị dày xéo, nhào nặn, tức là những ngày tháng cực nhọc mòn mỏi dưới thời Liên Xô. Trên ảnh này, bác mang nét gì đó của giống homo sovieticus mà cháu ngoại bác là hiện thân cụ thể. Thằng cháu cũng có mặt trong ảnh, khoảng ba, bốn tuổi, nó ở bên cạnh bà, béo phục phịch, vẻ nghiêm trang, trông như nặn từ đường trắng trộn gelatin. Hồi bé, trông nó đã có dáng dấp kẻ hộ pháp hiện nay rồi.
Bức ảnh thứ ba chụp bác Lidia lúc về già. Bác đã trút bỏ tất cả những nét nghiêm nghị, cay đắng trước đây; trước mắt tôi là một bà cụ nhỏ bé, mảnh mai, mái tóc bạc trắng như tuyết, nhưng vẫn còn dày, và dưới làn da nhăn nheo còn thấp thoáng ẩn hiện hình ảnh bác Lidia trẻ trung ngày nào. Bác ngồi ngay ngắn trên ghế bành, quần áo, tóc tai gọn ghẽ không chê vào đâu được, cổ đeo chuỗi ngọc trai, đôi chân gầy guộc mang tất nylon rất hợp tuổi và hợp thời trang hơi chìa ra phía trước.
Về sau, Kiril viết thêm cho tôi biết bác Lidia sau khi ly dị còn sống độc thân hơn ba mươi năm nữa, và cho đến lúc mất, vẫn tự lo liệu mọi việc cho mình. Cho đến khi qua đời, bác vẫn luôn luôn là người năng động, hàng ngày chăm chỉ tập thể dục, ăn uống ngủ nghê đúng giờ, đúng giấc. Cho đến tận bảy mươi tuổi, bác vẫn dạy ngôn ngữ và văn học Nga, đầu óc hoàn toàn minh mẫn. Tháng Bảy năm 2001, bác bị ngã ngay trong nhà mình và gãy xương đùi. Ít lâu sau, bác qua đời trong bệnh viện do liệt tim. Về thời gian bị giam cầm trong trại tập trung, Kiril chỉ biết bác được giao việc dạy học trong trại cải huấn dành cho tội phạm vị thành niên, và có lẽ nhờ thế mà sống sót. Bác lấy chồng lúc còn bị giam, con trai đầu lòng của bác là Igor chào đời ngay trong trại và bây giờ chắc phải khoảng bảy mươi lăm tuổi gì đó. Từ lâu, Kiril không có liên lạc gì với ông, chỉ biết ông này ở đâu đó bên kia dãy núi Ural, ở thành phố Miass vùng Siberi.
Kiril không còn được gặp cụ bà Matilda nữa, bởi cụ đã mất năm năm trước khi cậu ta ra đời. Thế nhưng, Kiril vẫn nhớ lúc còn nhỏ đã theo bà ngoại Lidia đi tàu hỏa từ Klimovsk đến Voskresensk để dựng cây thánh giá bằng gỗ tại ngôi mộ cụ ở đó. Lập tức tôi hình dung ra trước mắt mình hình ảnh một cụ già dẫn đứa trẻ đi tàu mang cây thánh giá bằng gỗ tự tay mình đóng, rồi hai bà cháu vác nó ra nghĩa địa Voskresensk. Thân cây làm thánh giá chắc hai bà cháu đã đốn trong khu rừng bạch dương trước căn nhà mà tôi từng thấy qua tấm ảnh chụp từ vệ tinh xuống. Vâng, cây thánh giá kiểu đạo Cơ đốc dòng Chính thống Nga đóng vụng về bằng gỗ ấy được dựng trong nghĩa địa thành phố Voskresensk mà theo tiếng Nga có nghĩa là “ngày Chúa nhật” hay “Phục sinh”. Chắc chắn trên cây thánh giá có gắn tấm biển nhỏ, ghi tên bà Matilda De Martino hoặc Matilda Ivashtschenko, cùng tấm ảnh chân dung nhỏ hình bầu dục được tráng men theo thông lệ bên Nga.
Ý nghĩ về ngôi mộ bà Matilda làm tôi yên lòng. Khác với mẹ tôi, giờ đây dù sao tôi cũng biết nơi bà yên nghỉ. Và giờ đây, tôi đã biết bà không bị tan thây mất xác thời chiến tranh vì trúng bom của Đức, mà đã sống và thọ tám mươi sáu tuổi, và từ khi mất đến giờ đã yên nghỉ ở nghĩa địa Voskresensk, dưới cây thánh giá bằng gỗ có gắn tên bà, do chính tay con gái bà đóng và dựng lên.
Chẳng bao lâu thì thư tôi gửi qua đường bưu điện cũng đến tay Kiril. Người đưa thư quả là còn nhớ đến bác Lidia và biết Kiril là cháu ngoại của bác. Chính ông cũng là con người kỳ diệu của đất nước Nga, cho dù nhờ có chị Svetlana Lichatschova ở Phòng Hộ tịch Klimovsk mà ông Konstantin và tôi không phải nhờ đến nữa.
Tôi hỏi Kiril về đĩa hát ghi giọng hát bác Sergey, mà như Kiril nói, hồi còn bé bác Lidia vẫn mở cho cậu ta nghe. Kể ra thì cũng khó tin, bởi vì bà chị họ Jevgenia của tôi, người vẫn coi mỗi tiếng hát của bố mình là một âm thanh vàng ngọc ấy, lâu nay thường than thở rằng không có đĩa hát nào ghi lại giọng của ông cả đấy sao. Cả ông Konstantin cũng chui vào mọi ngóc ngách trên thiên đường lẫn dưới địa ngục, toan tìm cho bằng được một đoạn băng hay đĩa nhạc nào đó ghi giọng ca của bác Sergey; và mặc dù bác từng biểu diễn ở nhiều nhà hát lớn nhất của Liên Xô trước đây, tên tuổi bác dường như bị xóa sạch khỏi biên niên sử của nền nhạc kịch opera Liên Xô. Thế nhưng Kiril vẫn khăng khăng rằng cậu ta vẫn còn nhớ vang vang giọng ca ấy trong tai và vẫn nhớ đĩa nhạc đó mang nhãn màu xanh sẫm với các dòng chữ màu vàng. Chắc là sau khi bà Lidia qua đời, đĩa hát bị thất lạc, hoặc bị ai sơ ý cho vào thùng rác đấy thôi.
Nói của đáng tội thì chắc Kiril cũng là người không đến nỗi nào. Tôi không làm sao ghép những lời lẽ viết trong email với gã đàn ông chụp trong bức ảnh tôi thấy trên màn hình được; bức ảnh có lẽ nháy không phải lúc lắm. Anh ta là kỹ thuật viên phần mềm máy tính, viết tiếng Nga rất chuẩn và dùng lời lẽ lịch sự, chứng tỏ anh ta không bị sa vào rượu chè là thứ ma túy dân gian phổ biến ở Nga. Anh ta gửi ảnh con cái mình cho tôi, một trai, một gái, ở tuổi vỡ lòng mà anh ta tỏ ra rất yêu thương và lo lắng chuyện học hành cho chúng về sau. Tôi rất thích mấy bức ảnh hai đứa trẻ ngồi trong bếp, lấy ngón tay bôi màu vẽ tranh, cũng như ảnh chụp các cháu phồng mang trợn mắt thổi mấy ngọn nến cắm trên bánh mừng sinh nhật.
Ít nhiều đáng để ý có lẽ là thái độ và cung cách thẳng thừng, bốp chát của anh chàng này. Câu hỏi nào của tôi, anh ta cũng trả lời chu đáo, song không để lộ chút xúc cảm riêng nào. Duy có một lần, khi gỡ bức ảnh mẹ từ album ra để scan và gửi cho tôi, do sơ ý, anh ta làm rách mất một góc ảnh. Sự sơ ý này đã làm anh ta nổi cáu, đến mức tôi cũng phải lúng túng và đâm ra hối hận vì đã yêu cầu anh ta làm việc đó.
Về mẹ mình, cho đến giờ anh ta mới chỉ cho tôi biết cuộc hôn nhân của bà không được bền lâu: bố mẹ chia tay nhau lúc anh ta mới lên hai. Bố anh ta vẫn còn sống, và hai bố con vẫn thường gặp nhau. Đáp lại câu hỏi rụt rè của tôi, anh có biết và sao mẹ mất sớm không, Kiril viết:
Cháu được dạy dỗ không giống như tụi trẻ khác ở Nga hồi đó. Cả mẹ lẫn bà ngoại đều không muốn cháu dính dáng gì đến xã hội Xô viết, cho nên dạy cháu những điều rất sai lầm về dân Nga và về những người cùng lứa. Cả hai người đều bảo tụi trẻ xung quanh ngu muội và hư đốn; cháu không được chơi với chúng nó, và lớn lên trong thế giới ảo của toán học, là môn ngay từ hồi còn nhỏ cháu đã có năng khiêu. Ai được dạy dỗ giáo dục theo kiểu như thế sẽ chẳng bao giờ lập được gia đình, có vợ sinh con được. Sở dĩ cháu vẫn lập được gia đình chỉ vì cháu đâm đơn vào hải quân và trưởng thành qua trường đời Nga. Dì đã hỏi vì sao mẹ cháu mất, thì cháu cũng nói luôn: mẹ cháu mất vì chính cháu đã giết mẹ. Cháu được tòa tuyên án không đủ tư cách chịu trách nhiệm hình sự nên bị đưa vào trại tâm thần bốn năm.
Đêm đã về khuya. Mặt nước hồ đóng băng không còn phát ra những tiếng răng rắc nữa. Trên mặt hồ dạo này lơ lửng các tảng băng lừng lững, song, đêm đêm, vẫn một thứ bóng tối dường như vô tận đó bao trùm lên hết thảy. Tôi nhìn trân trân lên bức email và tự hỏi, không biết anh chàng Kiril Zimov kia có giễu cợt tôi không? Thì tôi vẫn biết ở đời không thiếu những kẻ sát nhân, kể cả những kẻ giết chết mẹ đẻ ra mình, nhưng làm sao mà chính tôi lại có họ có hàng với một kẻ như thế? Vâng, tại sao lại chính tôi, một người cho đến nay, suốt đời dường như chẳng có ai làm bà con thân thích cả ấy? Tôi tự nguyền rủa mình đã bắt đầu cuộc tìm kiếm này. Tôi đã tìm thấy ai cho đời mình mới được chứ? Sao tôi lại tự gây tai mang họa cho mình thế này? Ý nghĩ của tôi dồn ngay về ông Konstantin, nhưng giờ này, chắc ông đã ngủ yên, chưa kể ở Tscherepovez chậm hơn ở đây hai tiếng. Bạn bè tôi cũng chẳng còn ai thức để gọi điện cả. Dần dần tôi cũng vỡ nhẽ rằng ở đâu ra ánh mắt thờ ơ lãnh đạm ấy trên tấm chân dung của Kiril, ở đâu ra cái vẻ lịch sự lạnh lùng rất khuôn sáo cùng những từ ngữ “đúng mực” về chuyện dạy dỗ con cái, ở đâu ra thái độ cáu kỉnh quá độ về bức ảnh bà mẹ bị rách góc. Do biết ngày bà mẹ của Kiril mất là ngày nào, nên tôi có thể nhẩm ra lúc giết bà, tay Kiril Zimov vừa tròn ba mươi. Gã giết mẹ mình sau khi đã trải qua cái mà gã gọi là trường đời, tức là thời gian trong hải quân, đội quân được xem là tàn bạo nhất của quân đội Nga hay sao? Chắc chắn là trước khi bị đưa vào trại tâm thần, gã đã mắc chứng ấy rồi; và trong trại tâm thần kiểu Nga, chắc chắn mười mươi là hắn đã không được chữa chạy gì ngoài bị tống đủ loại thuốc an thần vào người, để khi xuất viện sẽ chỉ còn là một cái xác không hồn nữa mà thôi. Không biết chừng hiện nay hắn vẫn phải uống thuốc an thần liều cao cũng nên. Tôi có cảm tưởng hắn như một thứ bom nổ chậm vậy, và hoảng hốt nghĩ đến người vợ và hai đứa con của hắn. Không rõ người phụ nữ ấy là ai mà lại dám lấy một người như thế? Chẳng lẽ chị ta không sợ cho con, không lo cho tính mạng của chính mình hay sao?
Tôi nghĩ ngay động cơ vụ án mạng là do nhà cửa chật chội. Nạn thiếu nhà ở kinh niên tại Nga khiến người ta thường phải sống chung đụng suốt đời trong những căn phòng chật hẹp, chen chúc cùng cả đống họ hàng hang hốc, một hiểm họa đẩy nhiều người đến chỗ phát điên phát cuồng. Ngay Mikhail Bulgakov cũng từng mượn lời quỷ satan trong tiểu thuyết Nghệ nhãn và Margarita để thốt lên rằng, dân Moskva cũng như dân nơi khác, không tốt đẹp hơn, cũng chẳng tệ hại hơn chút nào, chỉ có điều nạn thiếu chỗ ở đã làm họ suy đồi hư đốn hơn mà thôi. Liệu có phải do nơi ăn chốn ở quá chật chội đã khiến thằng cháu bác Lidia hư đốn? Phải chăng hắn đã giết mẹ trong cuộc cãi vã giành giật căn hộ trống lúc bác Lidia qua đời? Phải chăng đó là nguyên do khiến hai mẹ con bác qua đời gần như cùng một lúc? Dẫu sao cũng có thể đoán được rằng khi còn sống bác Lidia có lẽ vẫn cầm cương chế ngự được thằng cháu. Bác mất đi, chắc hẳn hắn được rảnh tay hoành hành.
Chẳng rõ vì sao, nhưng tôi cầm chắc gã Kiril đã bóp cổ mẹ. Hình ảnh chị Jelena, chị họ tôi, hiện ra trước mắt với đôi bàn tay sần sùi mũm mĩm của đứa con hộ pháp bóp chặt vào cổ. Trên bức ảnh Kiril gửi cho tôi, trông dáng chị to lớn, mạnh mẽ nhưng cũng đầy sức quyến rũ, khác hẳn bà mẹ dịu dàng duyên dáng của mình. Có lẽ chị đã chống cự dữ dội, và dai dẳng. Và sự kiện đó xảy ra đúng ngày mẹ tôi mất, cả cháu lẫn dì đều chết hai cái chết đau đớn dữ dội vào ngày mùng 10 tháng Mười, một người bị giết, người kia tự kết liễu cuộc đời mình.
Tôi nhớ đến chị Svetlana Lichatschova ở Phòng Hộ tịch Klimovsk. Giờ thì tôi hiểu ý nghĩa cái câu chị viết báo cho tôi chị không có thông tin gì nhiều hơn nữa là thế nào. Chính vì chị còn biết nhiều hơn, nên chị mới viết ra một câu như thế. Dẫu gì thì ở Phòng Hộ tịch, người ta không những chỉ cấp giấy kết hôn, mà cả giấy khai sinh lẫn khai tử nữa, vả lại, chị Svetlana Lichatschova chắc chắn biết rõ mọi chuyện không phải chỉ vì chị là Trưởng phòng Hộ tịch, mà vì chị còn là dân sống ở Klimovsk. Ở Nga, người mẹ được tôn thờ ngang thần ngang thánh; cho nên, tin về một vụ con giết mẹ trong thành phố con con như Klimovsk sẽ lan ra rất nhanh. Có lẽ tôi phải mang ơn sự thông cảm của chị Svetlana Lichatschova dành cho sự ngơ ngơ ngác ngác của tôi, có lẽ chị đã biết trước rồi tôi sẽ tìm ra những sự thật nào ẩn náu đằng sau địa chỉ hôm xưa của bà bác mình.
Tôi phải tự hỏi, không rõ tại sao gã Kiril nọ lại dễ dàng thú tội với tôi như thế, một lời thú nhận mà lẽ ra gã chẳng cần phải xưng ra với một người bà con từ đẩu từ đâu bỗng dưng xuất hiện như thế. Đó là lời sám hối của lương tâm hay chỉ là sự trâng tráo, bởi gã không hề ân hận? Phải chăng người ta đã dạy hắn phải thành thật thú nhận mọi hành vi của mình, phải chăng đó là quy tắc xử sự mà trường đời của hắn ở Nga, trước là hàng ngũ hải quân, sau là trại tâm thần, đã dạy hắn? Và bác Lidia, bà chị từng mất tăm mất tích bấy lâu của mẹ tôi, là con người thế nào mới được, khi bác chung tay góp sức cùng con gái mình cấm đoán một đứa trẻ, không cho nó trở thành con người Xô viết? Phải chăng bác đã được rèn luyện thành một con người mang ý chí đẳng cấp sắt đá, thành người coi khinh các kiểu công dân Xô viết, biết đâu đằng sau thái độ yêu chuộng tự do và chan hòa cộng đồng của gia đình, bác vẫn dung dưỡng thái độ và lối nghĩ của giới quý tộc coi khinh đám bình dân? Liệu bác Lidia, sau hơn tám chục năm sống dưới chế độ Xô viết, có còn giữ vững ý thức giai tầng đẳng cấp đó hay không, hay ngược lại, bác đã thành kẻ bị quy phục, đã trở thành một bộ phận của bộ máy nhà nước toàn trị mà tự mình không hay biết, khi bác cùng với con gái mình khống chế thằng cháu, cô lập và bẻ gãy ý chí của nó, y như ngày nào nhà nước toàn trị nọ từng khống chế, cô lập và bẻ gãy ý chí của chính bác vậy? Và gã Kiril, sau khi đã trải qua trường đời Nga trong hàng ngũ hải quân, vẫn trở thành công dân Xô viết và ra tay giết mẹ hắn, cũng là để tiêu diệt nốt giai cấp quý tộc, giai cấp lỗi thời mà chính hắn là mẩu thừa thẹo khốn khổ còn lại ấy? Nếu không, thì tại sao gã lại hành động như thế? Để được lấy vợ đẻ con ư? Và nói cho cùng, cái gì đã diễn ra trong cuộc sống giữa hắn với mẹ hắn?
Trong đầu tôi bắt đầu quẩn quanh các ý nghĩ sẽ trao đổi với ông Konstantin. Tôi vẫn biết, bao giờ sáng sáng trở dậy ông cũng ngó qua hộp thư điện tử cái đã. Đôi khi ông còn kịp viết mail trả lời tôi trước khi đi làm, trước khi bước ra khoảng trời mà mùa này có thể lạnh đến mức chết người. Tôi nhấn chuột vào email của Kiril để “chuyển tiếp” nó đi cho ông Konstantin, với lời bình: bây giờ quả nhiên tôi với ông đã vớ phải một vụ án hình sự. Chúng tôi chẳng vẫn đùa, tự ví mình với với hai thám tử điều tra hình sự là gì.
Tôi nhìn trừng trừng vào bóng đêm đen ngòm ngoài cửa sổ, bóng đêm chỉ phản chiếu độc mỗi ngọn đèn bàn của tôi mà thôi, và tự hỏi không biết gia đình mẹ tôi xuất thân là thế nào. Và tôi dính dáng gì đến tất cả những thứ ấy, đến sự phá sản của chế độ Xô viết lẫn hậu Xô viết, tôi có liên quan gì đến tất cả những số phận đau thương không bao giờ dứt của con người xứ Nga, những con người chìm đắm trong hôn mê, không sao gượng dậy, không cách nào thoát khỏi cơn mê sảng đè nặng toàn dân ấy, tôi gắn bó thế nào với những kiếp người suốt đời bị cầm tù, bị giáng làm nô lệ giữa xã hội hỗn trên loạn dưới, với những phận người cam lòng nín nhịn nằm bẹp dí dưới ách cường quyền áp bức, với thế giới tối tăm chưa được khai sáng, cũng như với dòng họ từng bị đắm chìm mê man trong ham muốn làm giàu, chứa chất bạo ngược và chết chóc, tôi quan hệ thế nào với xứ sở Nga khốn khổ, với Đức mẹ sầu bi trường sinh bao giờ cũng ôm ấp che chở con cái mình đến cùng ấy. Lúc còn con gái, tôi đã hành động đúng đắn theo bản năng, tôi bỏ đi, tôi tự tìm cách thoát khỏi cái nguồn gốc bí hiểm của mình mà không hề biết rõ nguồn gốc thực sự ấy là gì. Chưa bao giờ tôi lại có cảm giác rõ rệt như lúc này, rằng hóa ra cuộc nổi loạn của tôi đã chẳng ích lợi gì, hóa ra tôi chẳng hề có đường thoát, hóa ra tôi bắt rễ từ một mảnh đất độc địa, đồi bại - độc địa, đồi bại đến mức sinh thành cả một tên tội phạm đang tâm giết mẹ.
Máy tính xách tay của tôi khẽ đánh tiếng, báo có mail mới, tuy giờ này hơi khác với lệ thường. Đó là là tin của “Dân Hy Lạp vùng Azov”. Ông Konstantin đã có lần nói với tôi, do trao đổi thư từ thường xuyên nên ông đâm quen, đoán được cả các ý nghĩ của tôi. Lúc này chắc ông đoán tôi đang nghĩ gì nên trở dậy viết mail, và thế là suốt đêm, không ngả lưng ngủ lại được nữa mà mail đi mail lại với tôi đến tận sáng. Theo ông, gã Kiril là một nạn nhân thì đúng hơn, một người đáng thương hại, một kẻ đã gục ngã mà giờ đây tôi đưa tay đỡ dậy. Song, ông Konstantin đã đánh giá tôi quá cao. Tôi không có được tấm lòng nhân đạo, không có nổi tâm hồn Ukraine - Hy Lạp đầy bao dung như ông; gã Kiril làm tôi kinh tởm, tôi kinh tởm hắn ngay cả khi khoảng cách giữa tôi với hắn xa xôi là vậy. “Tôi vẫn không dứt bỏ niềm hy vọng, rằng rốt cuộc chúng ta vẫn tìm ra được ai đó để bà dang tay ôm gọn vào lòng”, đó là dòng mail cuối cùng ông Konstantin viết cho tôi sáng hôm ấy. Từ lâu, ông vẫn mơ đến một ngày, khi ta tìm ra được họ, ta sẽ cùng nhau gặp mặt ở Mariupol và mở tiệc mừng. Giờ đây, tôi chẳng biết mình có còn muốn tìm ra ai nữa không, nhưng tôi thầm nghĩ, giá một ngày nào đó gặp ông Konstantin ở Mariupol và được dang tay ôm ông vào vòng tay mình, thì chao ôi, ý nghĩ đó mới tuyệt vời làm sao!
Tôi bắt đầu e sợ các kết quả của cuộc tìm kiếm, tôi e ngại sự may mắn luôn đeo đuổi tôi trong suốt công cuộc lần dấu tìm vết này. Song, tất nhiên, bây giờ tôi không thể gạt bỏ một sự thực là tôi còn có người anh họ ở đâu đó tại Siberi, một người mà nếu còn sống, có lẽ là nhân chứng quan trọng nhất của lịch sử gia đình tôi. Run rủi thế nào mà chính kẻ giết hại em gái ông ấy, lại là người dẫn tôi đến với ông. Người anh họ mang tên Igor này, theo lời của Kiril Zimov, ra đời trong trại tập trung Medvedja Gora, tức là vào khoảng thời gian giữa năm 1931 và 1933, thì rất có thể, anh ấy từng biết mẹ tôi, dù cho hồi ấy, anh chỉ mới là một cậu bé nhỏ tuổi mà thôi.
Trước khi chúng tôi bắt tay tìm anh Igor, ông Konstantin lại gặp may, may mắn trong một việc dường như không thể tưởng tượng nổi. Hóa ra tay Kiril kia nói đúng; quả là có đĩa hát ghi giọng bác Sergey tôi thật. Ông Konstantin tìm thấy nó trên mạng, đĩa ghi âm vở opera Tschernomorzy của Mykola Lyssenko biểu diễn vào năm 1956. Dàn nhạc đệm là Dàn nhạc giao hưởng Quốc gia Ukraine, đơn ca giọng trầm là nghệ sĩ Sergey Jakovlevisch Ivashtschenko. Ông Konstantin gửi ngay bản nhạc đó cho tôi.
Tôi mở nghe giọng bác tôi hát, nghe từ bản ghi số hóa với âm thanh tuyệt hảo, khiến tôi quên khuấy mất rằng giọng ca ấy đến với tôi từ một thời quá khứ sâu thăm thẳm, một thế giới xa xôi vời vợi biết ngần nào. Ngay từ âm thanh đầu tiên tôi đã bị thôi miên. Từ hàng chục năm nay rồi, từ lần đi nghe opera đầu tiên ở München, tôi đã khao khát tìm được những giọng ca như thế này, và giờ đây, tôi được nghe chính giọng ca đó từ một người trong gia đình tôi, một giọng ca cửa những ca sĩ mà khi nghe họ, tôi cứ nghĩ, họ đâu có hát, đó là hơi thở của họ. Hay tiếng họ khóc than.
Tôi ngắm tấm ảnh chụp cậu thiếu niên vui vẻ trước mặt mình, chân đất, đầu đội mũ thủy thủ, đang ngồi vắt vẻo trên cành cây bên bờ sông Dnieper. Không có dấu hiệu nào cho biết trong cổ họng cậu đang hình thành cái gì: Nơi đó đang hình thành một giọng ca trầm, tràn đầy âm vang, một thứ âm vang, như vẫn thường thấy ở các danh ca lớn, dường như không phát ra từ trong cổ họng, mà từ một chốn nào đó khác, không phải trên cõi trần này. Năm 1956, lúc ghi đĩa hát này bác Sergey bốn mươi mốt tuổi, và đó chính là năm mẹ tôi qua đời. Tôi cố hòa âm giọng nữ soprano cao và trong sáng của mẹ tôi với giọng trầm của bác tôi, tôi cố hình dung xem âm thanh sẽ thế nào nếu hai người cùng cất tiếng ca. Tôi có cảm giác dường như giọng ông anh mẹ tôi đang vang lên ở đây, trong căn phòng này, rằng tôi vừa nghe giọng hát ấy, vừa nhìn quanh, lên bốn bức tường, lên bàn ghế, lên cây phong ngoài cửa sổ, và nhận thức rõ một điều, rằng trước đây mẹ tôi đã từng nghe giọng hát này, rằng giọng hát này vốn là một phần của cuộc đời mẹ tôi ở Mariupol.
Bây giờ thì tôi nhìn bà chị họ Jevgenia bằng con mắt khác. Ai đã có một ông bố với giọng ca như thế, thì có lẽ, sẽ là sự đương nhiên, nếu người đó hầu như bị thôi miên. Tôi không thấy lạ trước việc chị đã hiến dâng cả đời mình cho bố chị, trước việc cho đến giờ, ông vẫn là tâm điểm của cuộc đời chị. Con người ta vẫn thường giữ mình tránh bị cái đẹp mê hoặc, để không bị lập dị ở đời, để không loại khỏi thói thường thiên hạ. Chị Jevgenia đã không thoát được sự mê hoặc đó, chị đã không đủ sức chống lại, và có lẽ vì thế mà chị phải trả cái giá cao nhường ấy.
Tôi mở đi mở lại mãi tập tin chứa giọng bác Sergey, và tôi không biết cảm giác nào trong lòng tôi mạnh mẽ hơn, cảm giác sung sướng về những gì tôi đã tìm thấy, đã phát hiện ra, hay nỗi đau về sự lỡ làng. Cả ông bác Sergey nữa, giá biết được sớm hơn, có lẽ tôi đã đến thăm bác từ lâu rồi trên đất Ukraine ấy. Hai năm trước lúc bác qua đời, tôi đã cùng với một anh bạn lên đường làm một chuyến du lịch - một chuyến đi mà hồi đó thuộc loại hết sức bất thường - bằng xe riêng đến Moskva thăm bạn bè người Nga, và trên đường về, chúng tôi đã chạy xe qua Ukraine. Tại quảng trường Maidan ở Kiev, tôi còn ăn kem ở đó, và lúc hai chúng tôi dạo lang thang qua các con ngõ hẹp của thành phố, biết đâu tôi đã đi qua mặt nhà bác Sergey cũng nên. Ba chục năm trước, tôi đã nhớ, không gặp ông, khi ông trên đường từ khu vườn, nơi ông giữ chân bảo vệ, về nhà, rồi ngã nhào đột quỵ. Thế nhưng, giọng hát của ông vẫn còn nguyên vẹn, sinh động ở cõi đời, và tôi thật sự đã tìm thấy nó, giọng hát ấy, ở đây, trong máy tính của tôi, và từ nay, tôi có thể nghe bất cứ lúc nào tôi muốn. Trong tất cả những chuyện thần kỳ bất ngờ xảy trong suốt thời gian tìm kiếm người thân của tôi, có lẽ đây là chuyện bất ngờ kỳ diệu nhất vậy.
Trên trang Odnoklassniki, là nơi hôm nào ông đã phát hiện ra Kiril Zimov, nay ông Konstantin lại tìm thấy một cậu thiếu niên mười ba tuổi ở Miass mang họ giống như ông con bà Lidia; đây là cậu thiếu niên xứ Siberi, trong bức ảnh trên mạng, cậu ta đội mũ lưỡi trai màu đỏ trông vui nhộn, trên tay cậu đeo chiếc đồng hồ có vẻ đắt tiền. Chẳng mấy lâu thì chúng tôi biết cậu là cháu ông Igor thật. Thậm chí cậu còn biết bà cụ nội mình tên là Lidia Ivashtschenko. Rốt cuộc, bây giờ mọi sự đều phụ thuộc vào chuyện liệu cậu bé mười ba tuổi ấy có chịu làm cầu liên lạc cho tôi với ông nó không, hay hai ông già bà cả như chúng tôi chỉ làm cậu ta khó chịu. Thế nhưng, cậu lại tỏ ra nhanh nhảu và tận tình sốt sắng. Chỉ ít hôm sau, cậu ta đã gửi mail cho tôi, trong đó có ghi kèm một số điện thoại. Cậu ta viết trong mail rằng ông của cậu đã ngã ngửa người vì kinh ngạc và hiện giờ đang nóng ruột nóng gan chỉ chờ tôi gọi điện nữa thôi.
Gần đây, tôi đã cho sửa xong chiếc xe hơi mà dây điện bị chồn con gặm đứt be bét; vả lại một cú điện thoại bằng máy di động gọi từ đây sang tận Siberi chắc chắc sẽ ngốn cả đống tiền chứ không ít, đã thế, chưa hẳn đã nghe được gì cho ra đầu ra đuôi. Tôi liền gói ghém đồ đạc và chạy xe thẳng về Berlin ngay ngày hôm đó. Ở Berlin, lần đầu tiên trong đời, tôi quay số điện thoại gọi sang Siberi. Số điện thoại cậu bé mười ba tuổi nọ gửi cho tôi hóa ra là đúng, tôi lặng người nghe những tín hiệu kéo dài báo đường dây thông suốt, rồi ngay sau đó, có người nhấc ống nghe. Giọng người đàn ông ở đầu dây bên kia run run hỏi tôi, bây giờ chúng tôi nên xưng hô thế nào cho đúng. “Mẹ con tôi đã tìm mẹ cô rất lâu,” ông anh họ tôi nói, “bao nhiêu năm tháng cả nhà chỉ mong sao nhận được tin dì.” Vâng, cả giọng nói của tôi cũng run run chực khóc lúc tôi lựa lời nói vào điện thoại.
Hóa ra, Kiril Zimov không những chỉ giết mẹ mà còn phá hỏng đời người bác, ông anh của mẹ hắn. Mười ba năm trước, sau khi mẹ già qua đời, rồi gần như ngay sau đó, em gái lại bị chính thằng cháu mình sát hại, ông bị tai biến mạch máu não rồi không bao giờ hồi phục được nữa. Hiện nay ông bảy mươi tám tuổi và hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào vợ ông, mặc dù bà cũng rất yếu, do mới tạm bình phục sau khi bị ung thư.
Ông vốn nghề trắc địa, và cho đến lúc nghỉ hưu, từng đứng đầu một công ty xây dựng lớn ở Miass, là thành phố ông ở suốt sáu chục năm qua. Ông có hai con, hai cháu và một đứa chắt. Cả con trai lẫn con gái ông đều trở thành những doanh nhân thành đạt ở nước Nga mới; cả nhà có vẻ sung túc, không thiếu thứ gì. Nhờ ống kính vệ tinh mà tôi được ngắm ngôi nhà cao tầng, nơi vợ chồng ông ở, ngôi nhà chắc thuộc loại sang trọng xa xỉ lắm ở Siberi. Từ ban công nhà mình, hẳn ông có thể phóng tầm mắt nhìn về phía những cánh rừng rậm bao phủ sườn núi Ural, và dựa vào nhiệt kế ghi nhiệt độ ngoài trời, ông có thể thấy rõ cột thủy ngân ở vùng này, trong vòng dăm ba phút đồng hồ, dễ dàng nâng lên tụt xuống những mươi, mười lăm độ như không.
Thật đáng tiếc là anh Igor cũng chưa gặp mẹ tôi lần nào, anh chưa đến Mariupol bao giờ, còn mẹ tôi, cũng chưa từng một lần đặt chân lên đất Medvedja Gora. Nhưng chẳng mấy chốc, tôi cũng vỡ nhẽ rằng anh ấy làm gì thì làm chứ không thể làm nhân chứng được. Vốn sinh ra trong trại tập trung, ông đã sớm thấm thía được bài học cần thiết, - bài học đa phần đồng bào ông đều đã học - ông lên đường bước vào cuộc “di cư nội tâm”. Ông sống theo phương châm của ba con khỉ lừng danh, con bưng tai, con che mắt, con bịt mồm. Tôi thật tình không rõ ông không biết gì về quá khứ gia đình mình thật, hay sự nín lặng, không nói năng gì về chuyện đó đã trở thành bản năng tự nhiên của ông. Hitler và Stalin là hai người ông không bao giờ nhắc đến tên, chỉ gọi là “hai ông có râu”; cả tên thằng cháu Kiril của ông, ông cũng xóa khỏi vốn từ vựng của mình từ lâu. Tôi có muốn hỏi gì về nó, ông cũng gạt đi, không đáp lấy một lời.
Nhân một lần ông ra ngoài đi dạo, tôi mới có dịp nói chuyện riêng qua điện thoại với chị Ljubov, vợ ông; nhân thể, chị kể tôi nghe, một hôm, thằng Kiril nửa đêm thức dậy, vào phòng mẹ, dùng gối chặn lên mặt cho bà chết ngạt. Sau đó, hắn vào bếp múc mayonnaise ăn, rồi thản nhiên về phòng ngủ như không. Theo lời chị Ljubov, bà mẹ của Kiril vốn hết mực yêu thương chồng, nhưng sau khi bị chồng bỏ, bà dồn hết tình thương cho thằng con. Bà chiều chuộng, nâng niu nó hết mực. Do năng khiếu vượt bậc của nó về toán, bà coi con mình như thần đồng và thật sự sùng bái nó. Nhưng năm tháng trôi qua, thằng con càng ngày càng bạo ngược, và mỗi ngày nó một phổng phao cao lớn, rồi rốt cuộc trở thành một tên hộ pháp dữ tợn; nó quay ra uy hiếp mẹ nó, thường xuyên đe dọa, khống chế bà, khiến bà nhiều lần phải trốn biệt về chỗ ông anh bà ở Miass mãi tận Siberi. Có lần, nó còn đập phá tan hoang căn phòng bà Lidia ở, nó bảo bà sống như thế đủ rồi, bây giờ phải chết đi, nhường chỗ cho tụi trẻ. Có lẽ đó chưa phải là hết những chuyện về chị họ Jelena tôi và thằng con Kiril của chị, song, thật tình mà nói, tôi chẳng muốn nghe cho hết những chuyện ấy làm gì nữa.
Qua dăm ba câu ít ỏi anh Igor kể về mẹ mình, tôi được biết bác Lidia vốn nghiêm nghị, khó gần, và chắc cũng kiệm lời như anh ấy thôi. Anh bảo mình không nhớ đã bao giờ được bà ôm ấp, vuốt ve hay không. Nhung anh cam đoan, những lời đồn đại, bảo bà ra đời do quan hệ loạn luân đồng huyết thống giữa bà Matilda với ông anh Valentino là những lời đồn ác độc, điên rồ, chỉ do miệng lưỡi con mụ Jevgenia, - con mụ anh đã cắt liên lạc từ hàng chục năm nay rồi - phát ra mà thôi.
Anh kể mình từng sống nhiều năm cùng một nhà với bà ngoại Matilda, ngay từ dạo bà đến Medvedja Gora. Hồi chiến tranh, cả nhà bị đưa về Kazakhstan và sống khổ sống cực ở đó mất năm năm, mãi đến khi bố anh được cử làm kỹ sư trưởng ở Voskresensk mới đỡ. Bà Matilda không quay lại Mariupol nữa mà ở lại với gia đình cho đến lúc mất. Anh bảo về cuối đời bà bị điếc gần như hoàn toàn, chỉ dùng tay chân hay ánh mắt làm hiệu nữa thôi, và suốt ngày chỉ thấy bà ngồi bên bàn ăn trong bếp chơi xếp bài. Cũng theo lời anh Igor, bà Matilda cũng lạnh lùng, khô khan, khó gần, giống như lời bà chị họ Jevgenia, con gái bác Sergey, từng mô tả cho tôi nghe.
Vậy thì vì cớ gì mà mẹ tôi luôn vẽ ra trước mắt tôi hình ảnh bà ngoại như hình ảnh một thánh mẫu với tấm lòng nhân từ, hiền hậu vô biên nhỉ? Phải chăng bà Matilda dành tình thương đặc biệt cho mẹ tôi, đứa con gái út, sinh sau đẻ muộn của bà? Phải chăng mẹ tôi, người con gái dịu dàng, bé bỏng ấy đã thu hết tình thương của bà Matilda vào mình, một tình thương mà ngoài mẹ tôi ra, bà không biểu lộ với ai nữa hết? Phải chăng mẹ tôi là người duy nhất biết bà Matilda nhân hậu, dịu dàng nhất bậc như hồi nào mẹ tôi vẫn kể cho tôi nghe?
Vì ngay từ bé, anh Igor đã có cảm giác mình không được mẹ yêu bà quý, cho nên, lúc mới ở tuổi mười sáu, anh đã lên đường đến Moskva học đại học mà lòng dạ chẳng vương vấn gì, rồi sau khi tốt nghiệp, anh được phân công về Siberi làm nhân viên trắc địa. Ở đấy, anh sinh ra rượu chè, nghiện ngập vô độ. Anh bảo nếu không có chị Ljubov, chắc anh đã ngã xỉu đâu đó xuống hố rãnh bên đường và chẳng bao giờ dậy nổi.
Về bác Sergey, anh không biết nhiều, hay không muốn nói gì thêm, ngoài chuyện đã có lần nghe cậu biểu diễn vở Ruslan và Ljudmila ở Alma-Ata. Hồi đó anh còn nhỏ, nên phát hoảng khi nghe giọng ca vang như sấm của ông cậu mình. Rồi nhân tiện, anh bảo tôi, hồi chiến tranh vừa kết thúc, bác Sergey từng sang Đức trong tư cách ca sĩ mặt trận. Trong đầu tôi lập tức hiện ra cảnh tượng mẹ tôi vô tình gặp ông anh mình trên lãnh thổ Đức; ông anh bây giờ là cán bộ Hồng quân nhận nhiệm vụ hát các bản nhạc opera Nga cho binh lính Nga trên đất nước Đức vừa bại trận, cô em vốn là nhân công lao động bị cưỡng bức làm cho địch. Hai anh em sẽ ôm chầm lấy nhau, hay hai người sẽ đối mặt nhau như kẻ thù không khoan nhượng? Giá như mẹ tôi biết ông anh bà cũng đang ở Đức, thậm chí ở đâu đó rất gần, thì mẹ tôi sẽ nghĩ thế nào? Phải chăng cuộc đời mẹ tôi sẽ xoay sang hướng khác, nếu mẹ biết được những gì hiện giờ tôi biết? Biết đâu mẹ tôi sẽ nhân cơ hội cùng với ông anh mình quay về Ukraine, nhất là khi bà đã rõ rằng ở Đức tương lai bà chẳng sáng sủa chút nào?
Qua máy tính của con trai, anh Igor gửi thêm vô số các tấm ảnh gia đình anh, tấm này chụp các con các cháu đi nghỉ ở Phần Lan, Ý, Mĩ, tấm khác chụp ngôi nhà to lớn hoành tráng của con trai anh ở Miass, ngôi nhà có cả phòng tắm hơi nước kiểu Siberi, và được xây trên một khoảnh đất rộng thênh thang trồng khá nhiều thông, vài tấm ảnh nữa chụp các buổi tiệc tùng của gia đình, với hàng chục khách khứa, thức ăn thức uống đầy ắp các bàn ăn, theo một phong cách phô trương rất chi là Nga.
Trong số ảnh anh Igor gửi, tôi mừng được nhìn thấy lại cả bức ảnh chụp mẹ tôi đội khăn trùm đầu, lẫn tấm ở mặt sau có ghi dòng chữ “ông với hai người quen” mà tôi đã biết. Có điều, ở đây không phải hai mà ba “người quen”. Bao nhiêu năm qua, tôi không hề để ý tấm ảnh tôi giữ, thật ra, là một phần cắt ra từ bức ảnh gốc. Trên tấm ảnh gốc của anh Igor, bên cạnh các bà Natalia và Valentina còn có bà Jelena, bà cô thứ ba của mẹ mà tôi đã thấy trên bức ảnh chụp các bà đứng bên cây cọ trồng trong phòng. Bên rìa bức ảnh gốc còn có dòng chữ “Lumière Odessa” với các chữ cái in cầu kỳ, xếp thẳng đứng từ trên xuống dưới. Bây giờ thì tôi đã đoán được bức ảnh chụp trong hoàn cảnh nào. Đọc trong hồ sơ vụ án của bác Lidia, tôi biết bà dì của bác là bà Jelena hồi đó sống ở Odessa. Ông ngoại Jakov của tôi đã đi cùng các bà em gái đến thăm bà chị Jelena mình ở đó. Vào dịp này, mấy anh chị em kéo nhau đến hiệu ảnh Lumière chụp ảnh. Như vậy, trên ảnh là ông ngoại tôi cùng ba bà em gái ông. Chỉ thiếu bà chị Olga lúc đó hoặc đang sống với chồng ở Moskva hoặc đã quyên sinh. Vậy thì tại sao trên tấm ảnh mẹ tôi giữ, phần ảnh bà Jelena lại bị xén đi? Ông Konstantin giảng giải cho tôi rõ, tại sao thời sau cách mạng, nhiều người đã biến khỏi các bức ảnh. Hoặc họ tự loại ảnh mình đi, hoặc người khác cắt bỏ, bởi có thể họ trở thành mối nguy liên lụy cho những người cùng có mặt trên ảnh. Thế ra hồi đó không những bác Lidia tôi mà cả bà Jelena đều có thể gây liên lụy về chính trị cho người khác ư? Hay đằng sau việc bà Jelena bị loại khỏi bức ảnh như thế, còn ẩn náu mối thù hằn nào khác trong gia đình?
Bấm vào một vài bức ảnh tiếp theo, lần đầu tiên tôi được thấy bác Sergey khi đã trưởng thành. Một tấm chụp bác mặc quân phục Hồng quân có gắn Huân chương Sao Đỏ trên ngực; trông bác còn khá trẻ, chải chuốt, chỉnh tề kiểu nhà binh, gương mặt trẻ trung, thậm chí còn non nớt. Tấm ảnh khác chụp bác lúc khoảng hai mươi tuổi thì trông lại rất đàn ông, nghiêm trang, với mái tóc xoăn xoăn, với cái cằm hất cao mang vẻ cương nghị, nhưng cặp mắt thì u sầu giống mắt mẹ tôi. Một vài tấm ảnh nghệ sĩ chụp cậu đóng vai công tước Gremin trong vở Eugen Onegin, vai bá tước Tomski trong Pique Dame, đóng vai chính vở Boris Godunov, vai Đại công tước thành Kiev trong vở Ruslan và Ludmila, vai con quỷ Mephistopheles trong vở opera Faust của Gounod. Hóa ra bác Sergey không những chỉ là một danh ca mà thôi, bác còn là diễn viên sân khấu lừng lẫy tiếng tăm. Mỗi bức ảnh lại chụp một vai diễn của bác, cho thấy các vai thật đa dạng. Ở bác dường như toát ra một sức mạnh đáng sợ, một cái gì đó ma quái dữ dội, rung động lung linh không sao nắm bắt được.
Một trong những tập ảnh gửi kèm theo mail, bây giờ tôi mới để ý, mang tên “Con cái ông bà Matilda Iosifovna De Martino và Jakov Epifanovisch Ivashtschenko: Lidia, Sergey và Jevgenia”. Tim tôi ngừng cả đập. Tôi mở tập ảnh, và thoạt tiên không hiểu trời đất gì nữa cả. Tôi nhận ra bác Lidia ngay; trong ảnh, bác khoảng mười tám, mười chín tuổi, còn cậu thiếu niên mười hai, mười ba tuổi chắc chắc là bác Sergey, song, Jevgenia, mẹ tôi đâu? Đứng giữa hai anh em là một cô bé lạ mặt, tóc kẹp nơ kiểu Nga to tướng, trông giống như cánh chong chóng trên đầu. Mãi một lúc lâu, từng bước, từng bước, tôi mới dần dần vỡ nhẽ rằng chính đứa bé gái lạ mặt này là mẹ tôi hồi trước. Thoạt đầu, bước lùi vào ký ức, lần từ các kỷ niệm của tôi về mẹ, thời mẹ tôi đã là một thiếu phụ trở lại với tấm ảnh chụp đứa bé gái này, với tôi quả là một bước rất dài, mặc dù trên gương mặt bé nhỏ này cũng dần dần hiện lên những đường nét rõ rệt của mẹ tôi, từ đôi mắt, vầng trán, đến miệng, xuống cằm. Trên ảnh, mẹ tôi lúc ấy chừng bảy, tám tuổi, mặc trên người bộ áo váy đăng ten có vẻ đắt tiền, mái tóc đen Pagenkopf bờm ngựa.
Chưa bao giờ tôi hình dung mẹ như thế. Một đứa trẻ sáng sủa, tinh tươm, rõ con nhà khá giả thế này. Không một dấu vết nào về gia cảnh nghèo đói. Có lẽ, cả nhà đã dồn hết cho mẹ những gì quý giá nhất rồi đưa mẹ đi sửa sang đầu tóc trước khi đến hiệu chụp ảnh. Trong khi hai anh chị, ai nấy đều nhìn thẳng vào ống kính, ánh mắt mẹ tôi nhìn như xuyên qua ống kính, ra xa xôi đâu đó vô định. Lơ đãng, rười rượi buồn. Vâng, ngay từ nhỏ dường như bà đã là hiện thân của nỗi buồn u uất. Rõ ràng đứa bé này là mẹ tôi hôm xưa, nhưng lạ lẫm, xa vời vợi. Trông bà dịu dàng, mảnh mai, yếu đuối, đến mức tôi sẽ chẳng dám chạm tay vào bà. Mẹ tôi, nàng công chúa được bọc đăng ten, rơi từ trời cao vô biên buồn bã xuống cõi đời trần tục. Không biết có phải do tôi đã biết từ trước, hay chỉ nhìn hình bóng bà hồi đó thôi đã có thể đoán, dường như bà biết trước đời bà sẽ bị hủy hoại lụi tàn thì phải, bà biết mình sẽ không qua nổi thời đại kinh khủng đang sập đến trước mắt. Thật khó mà tin được rằng con người thanh tao, đài các, trong sáng này sẽ sống những ba mươi sáu năm trời, những năm tháng mà mọi thứ đều chống lại bà, đều lăm le ngay từ đầu nhằm hãm hại bà. Tấm ảnh này có lẽ từng nằm trong số di sản sót lại của bác Lidia, chỉ do vô tình mà lọt đến tay con trai bác ở Siberi để rồi giờ đây hiện lên trên màn hình máy tính của tôi ở Berlin. Phải rồi, đây là người mẹ bé bỏng đã qua đời của tôi, người mà xác được vớt lên từ dòng sông Regnitz chảy trên đất Đức hơn ba chục năm sau. Cuộc tìm kiếm đã đưa tôi gần tới cội nguồn, và ngoài tấm ảnh cô bé này, có lẽ tôi sẽ chẳng tìm được gì hơn nữa về mẹ tôi.
Tấm ảnh cuối cùng gửi từ Miass chụp ngôi nhà mẹ tôi sống hồi nhỏ, tức nhà cụ tôi, cụ bà Teresa và cụ ông Giuseppe De Martino. Mấy năm trước, vợ chồng con trai anh Igor quay về Mariupol, lang thang lần theo dấu vết tổ tiên và đã chụp ngôi nhà đổ nát tiêu điều này. Thời Liên Xô, lúc mẹ tôi còn ở Mariupol, đây là phố Lenin Uliza, bây giờ trở lại mang tên con phố cũ. Dòng chữ trắng trên tấm biển nền xanh sẫm được gắn trên cổng ra vào ghi tên đường phố hiện giờ là phố Nikolajevskaia Uliza, đường phố mang tên Thánh Nikolai - vị thánh cưu mang, an ủi, dung nạp kẻ lữ hành lang thang, kẻ tội đồ bị đọa đày năm tháng, kẻ côi cút bị hắt hủi ở đời.
Ngôi nhà gồm hai chái trải dài ra phía sau vào cái sân mà từ bên ngoài nhìn vào không thấy được. Nhìn trên ảnh, tôi chỉ thấy hai đầu chái nhà trông ra phố và nối với nhau bằng vòm cổng cầu vồng. Toàn cảnh ngôi nhà là bức tranh điển hình cho sự buồn tẻ và hoang tàn thời hậu Xô viết. Chỉ nhìn ảnh thôi đã đủ thấy mùi mốc, mùi nước tiểu, mùi rác rưởi, nát mục bốc lên. Song, dù tường nhà bị rêu phong, bị khí thải độc địa cùng năm tháng gặm nhấm và tàn phá, chỉ nhìn qua cũng có thể hình dung vẻ ngoài ngôi nhà này - nơi mẹ tôi ra đời - trước đây gần trăm năm trông như thế nào. Với nhiều trí tưởng tượng, có thể nhận ra những nét trang trí cầu kỳ trên mặt nhà, trên các cánh cửa sổ, vẻ duyên dáng của các ô cửa sổ trổ như cánh hoa trên mái nhà, bây giờ vương cành cây, vướng lá rụng trông như tổ chim, tổ cò. Vòm cổng trơ trọi nối hai đầu chái nhà được xây bằng thứ gạch màu xám, trông như thể được xếp lỏng lẻo với nhau và có thể đổ sập bất cứ lúc nào. Máng nước rỉ, cột ăng ten cũ kỹ lủng lẳng dây cáp trên mái nhà lợp ngói rỗng ruột. Hai vệt sơn, một vệt màu lam, vệt kia màu hồng nhạt.
Cuộc sống của mẹ ở Mariupol hình thành dần cùng những hình ảnh tôi tưởng tượng ra khi ngắm nhìn ngôi nhà này trên ảnh. Tôi nhìn thấy mẹ tôi lúc bà còn nhỏ chạy chơi trong sân phía sau vòm cổng với lũ trẻ khác, hay cùng anh Sergey của bà. Tôi nghe tiếng cô trông trẻ Tonia gọi bà, tôi thấy mẹ tôi khoác cặp sau lưng bước qua cổng hồi đó còn nguyên vẹn để đến trường. Đi đâu, mẹ tôi cũng phải qua vòm cổng này, từ góc phố này. Đoạn phố lát đá, bị bỏ hoang, cỏ phủ gần kín chụp trên ảnh chắc đã có từ thời đó. Cứ cho là phố Nikolajevskaia Uliza hồi đó nằm trong khu người Ý đi, thì mẹ tôi chắc thỉnh thoảng cũng đến chơi nhà các anh chị họ mình ở khu phố người Hy Lạp ở gần đó, rất có thể hàng ngày, ngoài tiếng Ukraine, tiếng Nga, tiếng Ý, mẹ tôi còn nói cả tiếng Hy Lạp cũng nên. Hiện nay, người Ý cũng khá đông trong thành phố; cứ xem ảnh vệ tinh tôi cũng đã thấy vô số tiệm ăn Ý ở khu vực quanh phố Nikolajevskaia Uliza rồi, song chắc sự đông đúc này gần đây mới nổi lên, chứ chưa hẳn hồi xưa đã có. Tôi có cảm giác, không mảnh đất nào trên đời này lại xa vời và hoang đường như thế đối với tôi như mảnh đất đang hiện ra trên màn ảnh máy tính trước mắt tôi đây.
Các cuộc điện thoại với ông anh họ Igor có một nét khá đặc biệt, bởi cơ hội chuyện trò của chúng tôi chẳng có là bao. Anh Igor chẳng những ít nói, anh cũng như đa phần dân Nga, những người thường gạt nỗi đau chung sang một bên còn nỗi đau riêng thì chôn sâu, giấu kín trong lòng. Vả lại, phép xử sự của người Nga không cho phép người ta đặt các câu hỏi khiến người được hỏi phải lúng túng, đồng thời, cũng không cho mình được để lộ các chuyện riêng tư với người khác. Bởi vậy, nói cho cùng, tôi gọi điện thoại cho anh Igor nhưng chẳng biết nói chuyện gì. Chúng tôi chẳng có gì chung để nói với nhau cả, chúng tôi sinh ra và lớn lên ở hai thế giới khác nhau, thế nhưng, tôi vẫn cảm thấy rõ rệt rằng trong đáy lòng người đàn ông lớn tuổi và cô đơn, con người không muốn, hay không thể nói năng gì ấy, là một tâm hồn sâu sắc, nhạy cảm vô cùng, và bởi thế, dần dà giữa hai chúng tôi đã nảy nở một thứ tình cảm anh em, đằm thắm đến lạ lùng.
Anh Igor bao giờ cũng nóng ruột chờ điện thoại của tôi, và nếu tôi hai, ba ngày liên tiếp không nhắn tin là anh lại sinh lo lắng; phần tôi cũng vậy, chỉ sợ ông anh đã già yếu nhỡ bị làm sao đúng lúc tôi vừa tìm thấy anh. Vào những lúc không gọi điện cho nhau, thường tôi hay nghĩ đến anh, và tôi cảm thấy rất rõ, rằng lúc đó anh cũng đang nghĩ đến tôi.
Trong tiếng Nga, anh họ là dwoyurodnui brat, vâng, có nghĩa “anh ruột bậc hai”, song, thông thường, chẳng ai nói “anh ruột bậc hai” cả, chỉ “anh” là đủ. “Anh em đâu rồi?” Tôi vẫn hỏi vợ anh như thế, nếu chị là người nhấc máy. Tôi sung sướng mỗi khi được cất tiếng nói cái từ mới mẻ ấy đối với tôi, phải, “anh tôi”, thật không thể tưởng tượng nổi, giờ đây tôi có một ông anh, và tôi là em gái anh ấy. Anh ơi, anh đang làm gì, suốt ngày tôi cứ hỏi đi hỏi lại như thế trong đầu. Thế nhưng, anh Igor còn là hiện thân một cái gì đó còn hơn cả người anh ruột. Bởi vì, tuy anh hầu như không bao giờ nói về gia đình bà con, chính anh lại là con người bằng xương bằng thịt kết nối tôi với dòng họ tổ tiên, dòng họ Ukraine-Ý mà ngày nào tôi còn thầm nguyền rủa ấy; anh chính là dòng họ đó, và có những giây phút tôi có cảm giác, dường như anh còn trả lại phần nào đó của mẹ cho tôi. Về phần anh, dường như anh lại tìm thấy ở tôi nét nào đó của người em gái Jelena đã khuất của mình, một người mà cái chết thương tâm, cái chết do chính thằng con gây ra ấy, đã dập gần tắt ngọn lửa cuộc đời anh, khiến nó chỉ còn cháy leo cháy lét nữa mà thôi. Điều an ủi kỳ quái nằm ở chỗ một khi ngọn lửa ấy lung lay leo lét đã hơn mười năm nay, thì may ra nó sẽ còn leo lét lâu hơn nữa. Đương nhiên, tôi không thể thay thế Jelena cho anh Igor được, song đôi khi tôi cảm nhận thấy rằng không phải chỉ có anh đối với tôi, mà cả tôi đối với anh cũng như món quà tặng, như mối liên hệ bất ngờ và mới mẻ giữa anh với một thế giới, mà nói cho cùng, anh đã từ giã từ lâu.
Thì ra, ước nguyện ông Konstantin dành cho tôi khi nào, giờ đây đã vẹn toàn. Rốt cuộc, tôi chẳng những đã tìm được mà còn đang dang rộng tay ôm vào lòng mình con người ấy đấy thôi, người đàn ông ngót nghét tám chục tuổi, ốm đau quặt quẹo, con người lặng lẽ kiệm lời ở Siberi, nắm giữ mọi đầu mối cuộc đời tôi. Công cuộc tìm kiếm của tôi đã đến hồi kết thúc, chẳng còn gì thêm mà tìm kiếm, lục lọi nữa. Khó lòng mà tin được, nhưng quả thật tôi đã tìm ra toàn bộ những người bên ngoại, của gia đình mẹ tôi, không những chỉ những ai đã mất, mà cả người còn sống. Tôi không hy vọng sẽ biết thêm nhiều hơn nữa về mẹ tôi thông qua họ hàng, bà con xa. Anh Igor là chặng cuối cùng của cuộc lần mò tìm kiếm mà tôi bắt đầu như một trò chơi nghịch ngợm trên mạng vào cái đêm mùa hè bên bờ hồ ấy. Ấy thế mà vẫn còn một điều gì đó bất ngờ đang chờ đợi tôi.
Sau khi bị tai biến mạch máu não, anh Igor cùng với vợ chuyển đến ở trong khu nhà cao tầng đầy đủ tiện nghi, kể cả thang máy, thế nhưng cho chắc ăn, anh vẫn giữ căn hộ anh làm chủ từ hồi nào trên tầng bốn ngôi nhà cũ. Thế rồi, thằng cháu đầu - trong số hai đứa cháu sống ở Miass - tính chuyện lấy vợ. Mặc dù nó không bị nguy cơ phải chịu chung số phận của đa phần các cặp vợ chồng mới cưới ở Nga là chui rúc cùng bố mẹ chồng trong căn hộ hai phòng chật hẹp nào đó - vì căn nhà bố mẹ nó rộng thênh thang - nó nhất định đòi ở riêng. Và trong lúc dọn dẹp căn hộ trước đây của ông nội để lấy chỗ ở cho hai vợ chồng, họ tìm thấy trên nóc tủ hai quyển vở phủ dày bụi bên trên. Hóa ra đấy là nhật ký của bác Lidia. Anh Igor không hề biết làm sao hai tập nhật ký lại nằm ở đây, may mà nó không bị vứt bỏ cùng đống đồ gỗ cũ kỹ.
Anh Igor không đọc được tập nhật ký nữa, mắt anh quá yếu rồi, hoặc có thể anh cũng chẳng thiết đọc. Và do lớn lên trong thời Liên Xô, anh đã quen với lệnh cấm sao chép tài liệu, anh cũng chẳng nghĩ rằng ở Nga bây giờ, chỉ cần vào cửa hàng photocopy là anh có thể sao từ nguyên bản bao nhiêu bản tùy ý, không, anh khăng khăng nhờ anh con trai gửi hai tập vở vô giá ấy cho tôi qua bưu điện. Tôi không khỏi run rẩy mỗi khi nghĩ đến quãng đường xa xôi, đầy trắc trở mà hai quyển vở của nhân chứng trực tiếp về mẹ tôi sẽ trải qua. Tôi có cảm giác, dường như bao nhiêu năm qua, hai quyển vở nằm im dưới lớp bụi dày trên nóc tủ, cốt chỉ để chờ tôi xuất hiện, như thể bác Lidia đã để sẵn hai quyển nhật ký đó cho tôi trên nóc tủ con trai mình.
Thời gian trôi qua và nỗi lo của tôi có vẻ thành sự thật: gói bưu phẩm không đến. Ngày nào tôi cũng chờ đón gói bưu phẩm, nhưng hộp thư tôi dưới tầng một chỉ thấy nhét đầy báo chí, tờ rơi quảng cáo chứ không thấy bưu phẩm gửi từ Siberi đâu. Phải chăng hai quyển vở bị kiểm duyệt và tịch thu mất rồi? Hay nó bị mất, thất lạc đâu đó dọc đường? Tôi sực nhớ đến cuốn tiểu thuyết mình từng dịch. Trong truyện, có cô sinh viên xin làm nhân viên chuyển phát thư từ vào các kỳ nghỉ học kỳ nhằm kiếm thêm tiền tiêu. Sáng sáng, cô ta đến bưu điện nhận đống thư từ báo chí cần chuyển phát, và sau khi đi khỏi cổng bưu điện một đoạn đủ xa, cô ta dốc hết những thứ đó vào thùng rác, rồi thản nhiên chơi nhởi suốt ngày hôm đố. Không lẽ tài liệu quý giá nhường ấy của tôi trong cuộc tìm kiến này cũng chịu chung một số phận như thế?
Nhưng, hóa ra bưu phẩm không đến tay tôi, không phải do cách làm việc cẩu thả của dân Nga mà vì một lý do hoàn toàn khác. Bưu điện Đức đã chuyển hai quyển vở đến địa chỉ phụ của tôi ở Schaalsee, mặc dù tôi chẳng hề đăng ký chuyển tiếp như thế. Một ngày tháng Tư dầm dề mưa gió, lúc tôi đến nơi ở phụ, mở thùng thư ra thì thấy ngay gói bưu phẩm to và ẩm xì, với mảnh giấy dán đè lên địa chỉ Berlin của tôi. Có lẽ nó đã nằm đây mấy tuần rồi, trong thùng thư bằng thiếc trơ trọi, chịu mưa chịu gió, được gắn trên mặt ngoài ngôi nhà tôi ở này.
Tôi mang ngay gói bưu phẩm vào căn hộ lạnh ngắt, xé vỏ bọc bằng bìa ra, vội vã, hấp tấp, như sợ các dòng chữ cùng tiếng nói bà chị gái mẹ tôi ở phút cuối cùng vẫn có thể tuột mất vậy. Giấy hai quyển vở đã hơi cứng vì trời lạnh, nhưng vẫn nguyên vẹn, một quyển bìa xanh lục, quyển kia bìa màu nâu, cả hai cùng khổ gần như khổ A5, gáy khâu bằng chỉ, và mép xộc xệch như thể đóng bằng tay, không phải bằng máy. Đây không phải nhật ký, mà hồi ký thì đúng hơn, hồi ký bác Lidia viết ở tuổi tám mươi, tức là mười năm trước khi qua đời. Những trang giấy kẻ ca rô đầy chữ, thứ chữ tôi đã biết khi đọc đơn xin phục hồi của bác, những con chữ nhỏ con, hơi nghiêng, rất đều đặn, ngay ngắn đến mức khó tin đây vốn là chữ của cụ già tám mươi viết liền một mạch, hầu như không sửa, không tẩy xóa chỗ nào.
Ở trang đầu quyển vở bìa xanh lục là mấy dòng thơ của Georgi Ivanov:
Nước Nga là niềm hạnh phúc.
Nước Nga là ánh sáng chói lòa.
Song, có lẽ, chẳng có nước Nga đâu.
Mặt trời chưa từng rựng đỏ sông Neva,
Pushkin chưa từng bị giết hại, nằm trong lớp tuyết trắng phau,
Chưa từng tồn tại thành Petersburg,
mà chỉ những cánh đồng, những cánh đồng tuyết trắng.
Chỉ tuyết trắng, tuyết trắng và… đêm dài vô tận
Xua từng cơn từng cơn giá lạnh mới tràn về.
Nước Nga im lìm, mang dấu tàn tro,
Có lẽ nó chỉ biết run rẩy co ro.
Bóng đêm băng giá, đạn reo, dây buộc,
Và muôn đời tiếng nhạc loạn điên rồ.
Buổi sáng mai rạng dần trên mảnh đất,
Mà thế gian này không biết đến danh.
Tôi quấn mình vào tấm chăn len, buông người ngồi xuống chiếc ghế bành kê bên khung cửa sổ trông ra mặt hồ xám xịt chìm trong cơn mưa gió, và lật quyển vở đầu tiên ra đọc. Mở đầu là một câu trích từ quyển Năm trong Ngũ thư Mose: “Sự báo thù sẽ thuộc về ta, phần đối trả sẽ quy về ta.” Tôi nuốt nước bọt đánh ực. Gần như nín thở, tôi chờ sự xuất hiện của mẹ tôi. Nhưng, tuy bác Lidia có nhắc đến chuyện mẹ tôi ra đời, bà vẫn hầu như không xuất hiện trong câu chuyện bác ghi lại. Tôi đành phải tìm bóng dáng mẹ tôi lấp ló nơi này nơi kia giữa các dòng chữ, ẩn mình đâu đó trong thế giới hôm xưa ấy, thế giới mà bà chị mẹ tôi từng tận mắt chứng kiến và giờ đây, dường như đang ngồi kề bên tôi và lật lật từng trang từng trang, chỉ cho tôi cùng xem vậy.