
Ông Jakov, ông thân sinh mẹ tôi, do mang các tư tưởng cách mạng nên bị lưu đày biệt xứ hai mươi năm, nhưng vào những năm cuối trước khi mãn hạn tù, ông được phép lưu trú tại Warsaw - một thành phố nằm ngoài rìa Đế chế Nga hồi đó - dưới sự quản thúc của nhà chức trách. Ở đó, bác Lidia, chị gái mẹ tôi, đã ra đời vào năm 1911.
Như tôi đã đoán từ trước, bà Matilda De Martino không phải là vợ đầu của ông Jakov. Những năm tháng đầu tiên của thời thơ ấu, bác Lidia lớn lên cùng người anh cùng cha khác mẹ là Andrei - người anh được sinh ra từ cuộc hôn nhân thời ông bố bị đi đày - và hết sức ngu ngơ khi lần đầu tiên ra thành phố.
Trong chân giáo viên môn sử tại một trường trung học ở Warsaw, ông Jakov chỉ được hưởng một khoản tiền lương ít ỏi, thế nhưng vợ ông lại giàu có, nhờ khoản tài sản kếch xù của bố mẹ người Ý để lại. Cả gia đình sống trong căn hộ rộng rãi nằm ở trung tâm thành phố, thuê riêng một bà nấu bếp người Ba Lan, một cô trông trẻ người Nga và cô gia sư người Anh, gọi là Miss Wigmore. Do chiếc mũ rộng vành cô đội phía trước phía sau y hệt nhau, ông Jakov gọi cô bằng biệt danh Miss Hello-and-Goodbye. Lúc còn nhỏ, bác Lidia đã thông thạo cả ba thứ tiếng, nhưng rất hay lẫn lộn thứ tiếng này với tiếng khác; ngoài ba thứ tiếng này, ông Jakov còn thạo thêm cả tiếng Pháp - thứ ngôn ngữ của giới quý tộc Nga một thời - lẫn tiếng Đức mà ông từng học của bà mẹ Anna von Ehrenstreit người Đức vùng Baltic. Trong nhà có cây đàn dương cầm quý giá, bà Matilda - vốn là một tài năng âm nhạc lớn - vẫn ngồi đánh các bản nhạc của Chopin và Mozart. Ở nhà thường đông khách khứa thuộc giới trí thức, nhạc sĩ, văn sĩ Ba Lan. Ông Jakov vẫn được phép sang Thụy Điển hay sang Anh, và ở đó ông vẫn thường bí mật liên lạc với nhóm hoạt động cách mạng thuộc phong trào công nhân địa phương. Tuy tham gia phong trào công nhân, nhưng ở Warsaw ông không từ bỏ cuộc sống phong lưu và thường cùng gia đình về nghỉ ở khu an dưỡng Łazienski sang trọng của Ba Lan. Đó quả là những năm tháng đi đày sung sướng, nhưng cũng sớm chấm dứt khi năm 1915, quân Đức kéo vào chiếm đóng Warsaw. Ông Jakov được phép quay về Mariupol, vâng, sau hai chục năm trường, giờ ông được tự do! Cả nhà quay lại Mariupol ít lâu, thì đến lượt anh Sergey của mẹ tôi chào đời.
Dạo ấy, Mariupol là thành phố nhiều sắc tộc, đa văn hóa. Người Ukraine, người Nga, người Hy Lạp, người Ý, người Pháp, người Đức, người Thổ, người Ba Lan, và khá đông người Do Thái chung sống ở đây. Thành phố nằm trên một ngọn đồi, nên đứng chỗ nào cũng thấy được biển Azov, vùng biển nổi danh nhờ hải sản phong phú. Mỗi khi có đàn cá tầm hay cá vược nào lượn qua, người ta dễ có cảm giác như nước biển đang sôi lên vậy.
Sát bờ biển là khu vực ngư dân sinh sống, cao hơn một chút theo sườn đồi là khu công nhân, đông nhất là công nhân cảng. Họ sống ở đấy, chen chúc, nghèo khổ cùng cực trong đủ các loại lều lán, vách gỗ, vách đất, mỏng manh, xiêu vẹo. Không cống, không rãnh thoát nước, không điện không đóm, chung nhau độc một giếng nước sạch. Lầy lội, hôi thối, ruồi muỗi. Lũ trẻ con đói giơ xương chạy chơi, đùa nghịch lầm lũi, cánh đàn ông đêm ngày đánh bạn cùng ma men. Các thứ bệnh tật, từ sốt rét, thương hàn, đến thổ tả, thả sức hoành hành. Đêm đêm leo lét đôi đống lửa trong các túp lều tồi tàn xiêu vẹo.
Tầng cao hơn trên sườn đồi là lều trại và quầy chợ của dân Do Thái nghèo khó. Ở chợ này, có thể mua đủ trăm thứ bà rằn, diêm, dây giày các loại, bàn chải, dao cạo râu, dầu hỏa, đinh gỉ, sách cũ, dưa hấu, hạt kê, muối mỏ, dây tefillin của người Do Thái. Khu này cũng nhung nhúc trẻ con, rách rưới, bẩn thỉu, đói ăn, những đứa trẻ Do Thái, tóc để dài hai bên thái dương.
Hơi lệch ra ngoài một chút, phía sau hải cảng, nơi tàu bè san sát và cần cẩu bốc dỡ hàng chen chúc, là hai nhà máy luyện kim cỡ lớn, do người Pháp xây tự khi nảo khi nào đến giờ. Đời sống cánh công nhân làm ở các nhà máy này và sống trong khu dân cư riêng dành cho họ có vẻ khá hơn công nhân cảng. Nhà cửa trong biệt khu có điện nước đàng hoàng, công nhân lương lậu đủ no. Các ống khói nhà máy đêm ngày nhả bụi bặm xuống nhà cửa, đường sá trong thành phố, tiếng còi tan ca vang lên thay đồng hồ báo giờ cho dân chúng thành Mariupol.
Ông Jakov cùng với gia đình ở khu “phố trên”, là khu vực cho đến ngày cách mạng nổ ra vẫn dành riêng cho giới trung và thượng lưu. Ở đây, san sát nhà hàng, quán bar sang trọng, câu lạc bộ Soleil, các khách sạn mang tên Continental và Imperial, các quán ăn của người Hy Lạp và người Ý, nhà hát, chợ và hàng quán đắt tiền, khá nhiều nhà thờ Cơ đốc Chính thống Nga, một Nhà thờ Đức Bà, nhà thờ Do Thái, nhà thờ Thiên Chúa giáo do cư dân người Ý đứng ra xây và một ngôi nhà thờ Ba Lan Kościół. Phố xá tấp nập xe cộ, chỗ này chỗ kia có bán bánh pierogi nhân cá và vé xổ số, các bà các cô Di-gan trổ tài bói tay cho khách qua đường, và dàn nhạc kèn đồng vẫn dạo nhạc vào các ngày Chủ nhật trong công viên thành phố.
Ông Giuseppe De Martino, ông thân sinh bà Matilda - thương gia giàu có người Ý - đã dành hẳn một chái nhà ở phố Nikolajevskaia Uliza, một trong những ngôi nhà nổi bật nhất của thành phố, cho con gái cùng gia đình đến ở. Trong thành phố, sang trọng hơn ngôi nhà này có lẽ chỉ còn dinh thự “Datscha trắng” nữa mà thôi, là nơi bà Angelina - chị của bà Matilda - sống cùng ông chồng người Hy Lạp và con cái. Các buổi khiêu vũ, tiệc nhà vườn hoành tráng nhất ở Mariupol, cũng như các buổi hòa nhạc hay xổ số từ thiện đều diễn ra tại dinh thự “Datscha trắng” này. Bà Matilda ở chung cùng bố mẹ. Bà mở lớp dạy đàn dương cầm; còn ông Jakov, tuy tốt nghiệp trường Luật, nhưng chỉ xin được chân trợ lý cho luật sư thôi. Vừa quay về quê, ông Jakov đã lại bắt tay vào hoạt động chính trị ngay, gia nhập hàng ngũ bolshevik, là phân ban bị cấm của đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga hồi ấy. Trong nhật ký, bác Lidia không viết dòng nào về lý do tại sao ông Jakov, đảng viên trung thành của đảng bolshevik, lại lấy con gái một nhà đại tư bản, và như bây giờ tôi mới biết, còn sống chung nhà với bố vợ thuộc hàng ngũ kẻ thù giai cấp của mình. Tôi biết, đối với mình, đây sẽ không phải là dấu hỏi duy nhất trong toàn bộ các ghi chép của bác ấy.
Bà Teresa Pacelli, thân mẫu giàu có của bà Matilda, xem ông con rể xuất thân từ dòng họ quý tộc Ukraine nghèo kém vì phá sản chỉ bằng nửa con mắt. Bà nhăn mũi tỏ vẻ khinh thường khi nghe nhà ông Jakov ngoài cô trông trẻ Tonia ra, không thuê thêm được người hầu nào nữa cả, và bữa ăn chỉ dọn ba, bốn lượt là hết. Hồi ở Warsaw, con gái bà còn rủng rỉnh tiền nong, giờ quay về quê, lại phải dạy đàn thuê mới có thêm tiền tiêu pha.
Mà nói chung, ngôi nhà các cụ người Ý của tôi, cụ bà Teresa và cụ ông Giuseppe, dường như biến thành nơi nương tựa cho bà con họ hàng bị sa cơ lỡ vận thì phải. Ngoài gia đình ông Jakov, còn có ông cậu của bác Lidia là ông Federico, ở một mình một căn phòng nhỏ và giúp cụ ông trong công việc. Ngoài ra còn có “bà ngoại lùn” của gia đình Pacelli và “bà ngoại cao” của nhà Amoretti. Bà mang biệt danh “bà ngoại cao” do bà cao lớn và mái tóc tết đuôi sam đã đẹp tuyệt vời, lại dài tận đầu gối. Hồi trước, bà vốn là vợ một nhà quý tộc Nga; nhưng ông này nướng hết của cải vào cờ bạc rồi chết sớm do lao phổi. Từ đấy, bà vợ góa trẻ tuổi và không tiền không của phải lưu tại nhà bà chị Teresa. Số phận “bà ngoại lùn” cũng chẳng may mắn hơn. Bà quả là nhỏ người và yếu ớt; tuy có gương mặt vô cùng quyến rũ, nhưng bà lại bị gù lưng. Ông thân sinh của bà - vốn là ông chủ nhiều cánh đồng trồng nho - đã tạo mọi cách cho bà ăn học đến nơi đến chốn; bà thành thạo nhiều ngoại ngữ, và nổi bật lên nhờ tài nói năng thông minh lưu loát, hành xử quý phái, bà được chọn làm phu nhân hầu chuyện trong cung Thái hậu Maria Fjodorovna. Một thời gian sau, Thái hậu gả bà cho một viên sĩ quan hết sức đẹp trai nhưng nghèo xơ nghèo xác; viên sĩ quan này không chịu chung sống với người vợ gù, cho nên, sau khi tiêu xài phung phí hết món hồi môn bố mẹ bà dành cho bà, gã biến mất tăm mất tích. Bà đành quay về Mariupol, và do không chịu nổi nỗi bất hạnh đời mình, bà trở nên khó tính trái nết. Ai hỏi han gì, bà đáp nhát gừng, hoặc cùng lắm, bà chỉ nhấm nhẳng: “Tôi không biết, không biết gì hết.” Còn thì bà chỉ lặng thinh.
Phần ngôi nhà trong đó ông bà ngoại của bác Lidia và bác Sergey ở lại giống như Viện bảo tàng, với đủ các thứ được khuân từ khắp thế giới khuân về. Lụa Trung Quốc, thảm Ấn Độ, các kỷ vật bằng ngà voi châu Phi, các loại hộp, rương thùng có nắp khảm Ba Tư, các loại mặt nạ Ceylon trông phát khiếp, các vỏ ốc, vỏ sò khổng lồ dường như còn âm vang trời xanh biển cả, thảm treo tường Ả Rập, tượng nhỏ bằng sứ Nhật Bản, pha lê xứ Venice cùng nhiều thứ khác nữa mà bà Teresa và ông Giuseppe mang về từ các chuyến viễn du. Trên các mặt bàn trong nhà, bao giờ cũng sẵn lọ hoa tươi, hoa quả đầy giỏ, trong phòng tiếp tân, nơi dùng để tiếp khách, hoặc hòa nhạc và khiêu vũ, có treo bức tranh hoàng gia Sa hoàng cùng bộ tranh tổ tiên người Ý, và bức chân dung một vị Đức Hồng y, cũng như một viên đại sứ Ý ở Bồ Đào Nha. Ở đây cũng treo cả chân dung cụ thân sinh ông Giuseppe - ông thợ điêu khắc người Naples - một người đàn ông vai rộng, hói đầu, đeo kính một mắt. Nền lát gỗ bóng loáng kiểu Ý trong phòng tiếp tân là nơi bác Lidia vẫn lén chơi trò trượt trên nền nhà. Các tấm gương gắn đối diện nhau trên tường thường làm bác mê mẩn. Mỗi khi bác đứng giữa hai tấm gương treo đối diện nhau như thế, bóng bác trong gương phản chiếu đi phản chiếu lại gần như vô tận ra hai phía.
Ông bà ngoại của bác Lidia nuôi trong nhà hai cô hầu phòng, một bà nấu bếp, một bà thợ giặt, một ông quản gia, một viên xà ích và một lái xe. Chỉ các cô hầu phòng mới được phép thưa chuyện thẳng với ông bà chủ, những người khác muốn thưa gửi điều gì đều phải qua hai cô hầu phòng. Có lần bác Lidia ghé vào bếp, đúng lúc đám người hầu đang tụ tập ăn trưa và tán chuyện. Thấy bác vào, ai nấy đều im bặt. Một cô hầu phòng hỏi: “Dạ thưa, tiểu thư cần gì ạ?” Ai đó liền thì thào: “Tiểu thư nào đâu? Con bé ở đây ăn nhờ ngủ đậu ông bà nó, chứ tiểu thư, tiểu thiếc gì?” Bác Lidia lấy làm tủi thân lắm, nhưng cũng bướng bỉnh đối đáp: “Bố cháu đi làm, không ăn bám ai hết.” Bà nấu bếp an ủi bác bằng một vốc đầy hạt hướng dương, nhưng bác Lidia đã chạy đi.
Đứng ngoài sân, nơi sau này mẹ tôi cũng sẽ nô đùa chạy nhảy, có thể nghe thấy tiếng người nói cùng tiếng gõ đập chan chát vọng từ xưởng đóng thùng gỗ nằm bên kia hàng cây tùng bách mọc san sát thành bức tường ngăn. Đó là xưởng sản xuất thùng gỗ của gia đình người Do Thái Bronstein; thế nhưng, hồi đó chưa ai biết được gia đình này sẽ sinh thành một người sau này mang tên Leon Trotsky, và người cháu ông này sẽ đóng một vai trò không ít quan trọng trong cuộc đời bác Lidia. Mùi tử đinh hương và hoa hồng ngào ngạt ngoài sân, nho leo dày mặt tiền nhà. Phía sân sau là chuồng ngựa; ba con ngựa ở đây ngày ngày được viên xà ích cho ăn cho uống, chải lông; trong nhà để xe là ba xe ngựa, - một xe dùng vào các dịp lễ hội, một xe khác dùng thường ngày - và một xe ngựa gắn thanh trượt tuyết dùng vào mùa đông. Sát nhà để xe ngựa là gara xe hơi xây nới ra. Cả thành Mariupol hồi ấy có hai chiếc xe hơi, thì một chiếc là của ông Giuseppe, ông ngoại bác Lidia.
Bác Lidia sợ và ít nhiều kiêng dè bà Matilda, mẹ mình, mặc dù mẹ bác chẳng bao giờ mắng mỏ đe nẹt gì. Bà chỉ nhìn con gái bằng con mắt vừa có vẻ nghiêm nghị, vừa có vẻ giễu cợt, khiến bác Lidia không bao giờ biết chắc mẹ đang chê trách hay chế nhạo mình. Không bao giờ bác nghĩ đến chuyện xin mẹ che chở, an ủi hay âu yếm. Tất cả những tình cảm đó, bác nhận được từ cô trông trẻ Tonia người Ukraine, người thương yêu bác và hay làm bác cười. Cũng qua cô mà bác học nói được tiếng Ukraine, một ngôn ngữ bị bố mẹ bác coi là thứ phương ngữ Nga thô thiển, nhưng sau này, chính nhờ nó mà bác thoát nạn.
Bác Lidia thường chỉ lủi thủi một mình. Mẹ của bác có khá nhiều trò học dương cầm, suốt ngày lúc nào cũng nghe tiếng họ tập đàn. Bố bác thường đi vắng, chẳng mấy khi rảnh rỗi, hoặc ở văn phòng luật sư, hoặc tham gia cuộc họp bí mật nào đó của các đảng viên bolshevik. Bác Sergey còn quá nhỏ, chưa làm bạn chơi với bác Lidia được, ông anh cùng cha khác mẹ Andrei lại lớn quá lứa. Về sau này, anh theo chân bố làm chính trị, rồi bỏ mình ngay trong những ngày đầu tiên của cuộc nội chiến.
Bác Lidia bao giờ cũng ngầm ghen tị với bọn trẻ tối tối vẫn được mẹ đọc truyện cổ tích cho nghe. Mẹ chẳng bao giờ đọc cho bác nghe như thế. Có lẽ vì thế mà bác tự mày mò học, mới năm tuổi, đã biết đọc mà chẳng cần ai dạy. Làm sao mà tự học được như thế, sau này bác cũng chẳng biết nữa. Bác cứ dùng ngón tay dò theo các mặt chữ, lần hết dòng này sang dòng khác như một trò chơi. Trò chơi cuốn hút, làm bác mê mải. Đọc hết truyện cổ tích, bác lôi sách trong thư viện của bố mẹ ra đọc. Mới sáu, bảy tuổi đã đọc Netochka Nezvanova của Dostoievski, các truyện ngụ ngôn của Ivan Krylov, Câu chuyện anh chàng thuận tay trái ở thành Tula và con bọ chét bằng thép của Leskov. Bác đắm mình vào thế giới của người lớn và cứ tưởng mình đã hiểu hết từ ngữ trong các cuốn sách như thế.
Ngay từ dạo ở Warsaw, lúc bác Lidia mới ba tuổi, mẹ bác đã bắt đầu mở lớp dạy đàn dương cầm. Bác Lidia rất ghét các bài tập bát âm luyện ngón có sẵn, bác thích tự bịa ra các bài tập như thế. Thật ra, bác cũng không phải mất nhiều công lắm, dường như bác chỉ việc để mặc hợp âm này kéo theo hợp âm khác, và bác lần theo các âm thanh vang vọng trong lòng mà chắp thành bản nhạc. Cũng giống như khi đọc vậy - chỉ có điều, bên đàn dương cầm bác không đọc bằng mắt mà bằng đôi tai. Với bác, các âm thanh từ phím đàn phát ra giống như con chữ tạo thành lời, thành câu vậy. Có lần mẹ bác hiện ra ở cửa, hỏi “Sao con đánh bản gì khó thế? Khó như thế, con chưa nên chơi đâu.” Bà không hề hay biết gì về năng khiếu âm nhạc đặc biệt của con gái bà.
Tối tối, xong xuôi mọi việc trong ngày, ông ngoại Giuseppe thường gọi cả nhà quây quần bên ông. Những người con trai con gái được sinh ra trong các chuyến ông bà lênh đênh biển cả, giờ đã ở riêng, thường ghé qua. Đôi lúc cả dì Eleonora, nghệ sĩ dương cầm ở Petrograd cũng về chơi. Ăn uống, cười nói, các câu chuyện bao giờ cũng quay quanh tình hình chính trị, về cuộc cách mạng sắp bùng lên. Thỉnh thoảng có người ngồi xuống bên chiếc đàn Jakob-Becker đánh bản nhạc nào đó. Rồi ông ngoại cất tiếng nài: “Nào bà nó, bà hát chúng nghe một bài đi.” Bà ngoại có giọng hát tuyệt vời, trầm đục mà ấm áp, bà hát các bài dân ca Naples, các trích đoạn ca kịch, các bản tình ca của Tchaikovsky và Rubinstein. Người đệm cho bà bao giờ cũng là ông Valentino, anh trai bà.
Đọc những dòng viết về giọng hát của thân mẫu mẹ tôi, tôi cứ phải lục đi lục lại trong trí nhớ. Không lẽ mẹ tôi không bao giờ kể tôi nghe về chuyện này hay sao, mặc dù giọng hát của chính bà, cũng như của bác Sergey, xem ra đều thừa hưởng của mẹ bà. Mẹ tôi rất hay hát, hát vào những lúc mẹ tôi không khóc hay không thả mình trong im lặng bí hiểm. Mẹ tôi hát lúc rửa bát, lúc quét nhà, lúc đứng trước gương chải đầu. Đúng ra thì cả nhà đều hát, hầu như ngày nào cũng có lúc cùng nhau hát, còn tôi đệm đàn phong cầm, thậm chí có khi về đêm tôi còn mò dậy, nhắm mắt đứng trước giá nhạc mà chơi. Bố tôi ngay từ lúc còn nhỏ đã ở trong dàn đồng ca thiếu niên của nhà thờ ở quê hương ông, về sau ông thành người lĩnh xướng, sang thời kỳ cuộc đời bị cưỡng bức lao động ở Đức kết thúc, giọng hát của ông còn nuôi cả nhà. Bởi vì lúc đầu, ông hát cho quân chiếm đóng Mĩ nghe các bài dân ca Nga và họ trả công cho ông bằng lương thực thực phẩm; về sau, ông ăn lương của ban đồng ca Kosak. Có lẽ bố mẹ tôi đã hát với nhau từ thời ông bà ở Mariupol, và bà phải lòng ông do giọng hát hai người hợp nhau cũng nên. Gì thì gì chứ hai ông bà đều có giọng hát thật hay, và cả hai đều thích hát, niềm đam mê truyền sang cả tôi lẫn em gái tôi, khiến em gái tôi về sau học nhạc và trở thành nữ ca sĩ opera. Em tôi đã bước theo vết chân bác Sergey mà không hề biết đến sự có mặt của bác ở đời. Dạo đi học ở trường, giọng hát của tôi cũng hay nổi bật, trở thành lợi thế của tôi, lợi thế duy nhất mang tính chất Nga mà tôi là hiện thân. Và ở nhà, mỗi khi chúng tôi đồng ca với nhau, khi bố mẹ tôi, em tôi và tôi hòa giọng vào nhau thì ai nấy bỗng thuộc về nhau, thành một gia đình, một khối chung mà thông thường chẳng bao giờ tồn tại.
Bác Lidia viết trong nhật ký, tuy tính cách bà mẹ bác lạnh lùng thế, nhưng giọng hát lại ấm áp, đầy sức quyến rũ và dịu dàng. Các bài hát của bà chính là niềm hạnh phúc trẻ thơ của bác. Tuy tối tối, bà không đọc truyện cổ tích cho bác nghe trước khi ngủ, nhưng chờ cô Tonia đưa bọn trẻ lên giường nằm xong đâu đấy, bao giờ bà cũng ghé vào phòng chúc các con ngủ ngon. Rồi trước khi ra khỏi phòng, bà thường ngồi xuống ghế bành kê cạnh cửa sổ và cất tiếng khẽ hát ru con ngủ bằng tiếng Nga và tiếng Ý, “Spi mladienez, moi prekrasnui, baiuski baiu…”, “Ninna nanna, ninna oh, questo bimbo a cho lo do…” Đối với bác Lidia, giọng hát trầm đục, bí hiểm đó của mẹ, giọng hát tối tối vẫn dìu dắt bác thả mình vào giấc ngủ ngon lành ấy, chính là sự che chở, là lòng bao dung của mẹ, của quê hương dành cho bác.
Sáng ra, mẹ bác vẫn thường tìm cách chải mớ tóc đen bờm xờm rối tung trên đầu bác. Bà phải dùng đủ thứ lược, đủ loại bàn chải mới chải được mái tóc trẻ con bướng bỉnh. “Mày là con phù thủy”, bà vẫn đùa như thế mà không hề ngờ, con gái bà lại ngỡ là thật. Đọc trong các truyện cổ tích, bác vẫn biết, đã là phù thủy thì phải biết bay, cho nên bác đinh ninh mình cũng biết bay. Ngoài phố, nhà cửa xây san sát nhau, và bác là đứa con gái duy nhất vẫn theo chân tụi con trai nhà hàng xóm nhảy từ mái nhà này sang mái nhà khác. Đôi khi, ngói trơn tuột dưới chân, tụi con trai hốt hoảng kêu oai oái, nhưng bác Lidia chẳng hề sợ. Bác vẫn nhảy, với niềm tin chắc chắn, rằng mình nhẹ tênh, không có chuyện gì đáng sợ.
Đến một hôm, một mình bác trèo lên mái nhà rồi cứ thế bước ra khoảng không trước mặt. Thật may. Bác không rơi xuống mặt đường lát đá hộc, mà xuống đống cát không rõ ai đổ ngay ở đó. Rốt cuộc, niềm tin vào tài biết bay như phù thủy của bác bị tan vỡ cùng các vết chấn thương nặng cả ở chân lẫn ở đầu.
Sang hè, ông Valentino, anh bà Matilda, thường đánh xe ngựa đến đón bà Matilda cùng lũ trẻ về ngôi nhà vườn của ông ở ngoại ô Mariupol. Ngôi nhà vườn dựng trên một ngọn đồi nằm lọt giữa khu vườn rộng mênh mông; đứng trên sân thượng nhà vườn có thể nhìn xuống mặt biển trong xanh lóng lánh, bãi biển cát trắng phau và đám tàu thuyền chen chúc đậu trong cảng. Trong sân nhà vườn có đài phun nước và bậc thang với hai con sư tử bằng đá nằm gác hai bên. Khu vườn nằm trải dài đến tận bờ biển và được một ông thợ vườn tên là Erich Klarfeld cai quản. Ông này được ông Valentino đón từ tận bên Đức sang và ở trong ngôi nhà nhỏ dựng giữa vườn. Trong vườn có rất nhiều lối đi dạo, với cây cối mọc hai bên đường. Một lối đi được gọi là Đại lộ Bóng cây, ở đây bao giờ cũng mát mẻ, bởi vì nắng trời không bao giờ xuyên nổi tán cây xanh dày đặc; một lối đi khác lại là Đại lộ Nắng, nơi mà chen giữa các bụi hoa hồng là ghế nằm tắm nắng, để chữa các loại bệnh tật tồn lại từ mùa đông. Những lối đi khác chạy giữa các hàng cây ăn quả hay bụi dâu, hoặc ngang các bồn hoa tùy mùa trong năm mà muôn màu muôn sắc. Lần theo bậc thang hẹp bằng đá xuống dưới là khu nhà thay quần áo bên bãi biển. Tối tối, mỗi khi có khách đến thăm, khu vườn sẽ lại được thắp sáng lung linh bằng các chuỗi đèn dây nhiều màu sắc, rồi rượu vang Ý, rượu sâm banh Crimea cùng các loại kem tự làm sẽ được dọn ra.
Tại đây, bác Lidia đã trải qua những ngày tháng đẹp đẽ nhất của thời thơ ấu. Ông bác Valentino chơi domino với bác, công kênh bác lên vai; trước mắt bác Valentino, mẹ bác như thay đổi hẳn, dễ gần, dễ mến. Mặc dù ông anh bà có đủ người làm, bà vẫn tự tay ra vườn hái dâu, tự mình vào bếp nấu mứt hoa quà cho cả nhà. Đến tối, bác Valentino sẽ bật máy quay đĩa và nhảy với bà Matilda trên sân thượng. Viết đến đây, bác Lidia bỗng chêm vào, ông bố bác chưa bao giờ đặt chân đến khu nhà vườn ông anh vợ mình. Câu bác viết treo lơ lửng, không giải thích gì thêm, nhưng nếu có, thì đây chính là chỗ duy nhất trong cuốn nhật ký của bác Lidia có ý bóng gió đến mối tình cảm đặc biệt giữa mẹ bác với ông anh Valentino của bà.
Mùa đông, bác Lidia thích nhất đi xe ngựa trượt tuyết, còn thích hơn cả đi ô tô. Những lúc tuyết phủ khắp nơi, bác chỉ muốn ngày nào cũng được lên xe ngựa, quấn mình trong áo lông thú, và như thể bay qua mặt tuyết trắng phau cùng chú ngựa quý thắng dây cương gắn chuông, phì phì thở phi nước đại ở phía trước. Một lần, bác xin bà ngoại cho đi thêm lâu hơn mọi ngày; bà ngoại nhìn cô cháu gái bằng ánh mắt đầy khinh mạn. “Các người có ngựa không, các người có xà ích không? Các người có gì đâu, các người chỉ ăn bám.”
Bác Lidia ức lắm. Bác biết chỉ có rận rệp, bọ chét mới ăn bám thôi. Bác chạy ngay vào phòng làm việc của bố, mặc dù bác không được phép vào đó lúc bố đang làm việc, thậm chí quên cả gõ cửa. “Ba ơi, bà ngoại bảo nhà mình ăn bám. Có đúng không?” Bác làm một hơi. Bố bỏ kính xuống, nhìn bác một lúc, rồi nói rất nghiêm nghị. “Đúng đấy con ạ. Ta đang sống trong một xã hội bất công. Thế nhưng mọi sự sẽ sớm thay đổi. Sau cách mạng sẽ không còn người giàu, kẻ nghèo nữa, và nhà mình cũng không phải ăn bám ai nữa cả.”
Từ hôm ấy, bác nóng lòng chờ cách mạng sẽ đến. Và quả nhiên, bác không phải chờ lâu. Chỉ vài tuần sau, mọi sự đã bắt đầu. Thoạt tiên, mọi sự diễn ra khá vui vẻ, không có gì đáng kể. Ngoài đường, dân tình cười nói, hát những bài hát mới, nghe rất lạ, tay ai nấy đều phất lá cờ đỏ con con. Bố mẹ bác Lidia cũng hân hoan ăn mừng, cùng ông bà ngoại và những người bà con khác. Cả nhà đồng thanh hát bài La Marseillaise, nâng ly nâng cốc chúc mừng nhau. Mừng tự do! Bức ảnh gia đình Sa hoàng trong phòng khách đã hạ xuống từ lúc nào. Ai nấy đều sung sướng, hân hoan đón chào thời đại mới, một thời đại dân chủ rốt cuộc đã đến.
Đọc đến đây, tôi tự hỏi, làm sao lại như thế được? Ông bà ngoại tôi ngây thơ đến mức không biết những gì đang chờ đợi họ hay sao? Chẳng nhẽ ông bà không biết con rể ông bà đấu tranh cho chế độ chính trị sẽ tiêu diệt chính những người như ông bà hay sao?
Ít hôm sau, súng bắt đầu nổ. Rồi dân tình kéo nhau nhặt đá, nhặt gạch ném tới tấp vào cửa sổ nhà ông bà. Đám người nghèo khổ lam lũ toan xông cả vào nhà ông De Martino giàu có. Mới đầu ông quản gia còn đứng về phía ông chủ và xoa dịu được đám đông giận dữ; nhưng về sau, không ai ngăn được nạn cướp bóc vô chính phủ thường xuyên xảy ra nữa. Nỗi sợ hãi bao trùm cuộc sống mọi người. Thành phố Mariupol biến thành nơi tranh chấp của đủ loại phe nhóm và băng đảng chính trị khác nhau, lúc nhóm này, khi băng khác theo nhau nắm quyền cai quản. Dân chúng chui rúc, lẩn trốn trong các hầm ngầm, hang hốc bí mật nhằm tránh xa chiến sự diễn ra ngay trên đường phố. Bên thắng thế thường kéo cờ lên nóc nhà băng. Cờ của Sa hoàng trước kia, giờ là cờ quân Bạch vệ, cờ đỏ là cờ của quân bolshevik, cờ vàng-xanh lam của quân đội Dân tộc chủ nghĩa dưới quyền Simon Petliura, cờ đen của quân vô chính phủ do Nestor Makhno đứng đầu đảng. Trong năm năm nội chiến, chính quyền Mariupol thay đổi cả thảy mười bảy lần. Đáng sợ nhất là bọn không cờ chẳng quạt gì hết. Bọn này chỉ chuyên giết người, cướp của theo những cách tàn bạo nhất.
Trong ngôi nhà mẹ tôi chưa kịp ra đời ấy, mọi sự đều đổi thay. Bà Matilda ở lại một mình với hai đứa con, ông Jakov chồng bà cùng với anh con người vợ trước lên đường gia nhập hàng ngũ bolshevik tham gia nội chiến. Hết người hầu này đến người hầu khác lần lượt thôi việc, và khi ra đi, họ tìm mọi cách lấy đi những gì họ có thể mang được khỏi nhà. Có lần, bác Lidia mở cửa vào phòng tắm bà ngoại thì bắt gặp bà đầu bếp Daria đang cuộn áo dài bằng lụa của bà ngoại bác nhét vào sọt, tính mang đi theo. “Nhưng đấy là áo bà ngoại kia mà!” Bác Lidia hốt hoảng kêu lên; bà đầu bếp đáp thẳng thừng: “Bây giờ là thời đại mới, cái gì của mày thì cũng là của tao.” Ngẫm nghĩ một lát, bà ta nói thêm: “Nhưng cái gì của tao thì không phải của mày, nghe chưa.”
Một lần khác, đã về đêm, bác Lidia nhìn qua khe cửa phòng khách thì thấy ông ngoại và cậu Federico của mình đang ngồi dưới ngọn đèn, trên bàn, trước mặt hai người là đống đồng xu bằng vàng. Hai người chồng các đồng xu vào nhau thành từng thỏi ngắn rồi cuộn vào giấy báo. Một cô hầu phòng còn lưu lại trong nhà, lúc đi ngang đã rít lên sau lưng bác Lidia: “Bây giờ bọn họ chuồn đấy, cái bọn họ hàng của nhà mày, bọn tư bản nhà mày đấy!” Ngày hôm sau, ông bà cùng cậu Federico biến mất thật, có lẽ là biến đi mãi mãi. Bởi vì trong nhật ký, từ đây bác không bao giờ nhắc đến ông bà nữa, khiến tôi từ đây cũng mù tịt về họ. Song, nhờ thế mà tôi cũng biết mẹ tôi không còn được gặp ông bà, vì lúc mẹ tôi sinh ra thì ông bà đã đi khỏi nhà từ lâu rồi. Chẳng biết được, có thể ông bà bị giết hại hoặc bị nhốt vào trại cải tạo, hoặc ông bà đã mang được vàng thoát đi xa cũng nên.
Bây giờ ngày nào cũng có những người khách không mời tự ý xông vào ngôi nhà ở phố Nikolajevskaia Uliza, ngó nghiêng, lùng sục tìm một thứ gì đó. Có lần, trời đã tối, hai người đàn ông súng ống đầy người xông vào nhà, dùng lưỡi lê cắt hết đường dây điện thoại ngoài hành lang. “Sao các ông làm như thế?” Bà Matilda kêu lên và đòi họ đưa giấy tờ cho bà xem. Một người giơ nắm đấm ra trước mặt bà: “Đây, giấy tờ đây.” Rồi hắn hất hàm chỉ vào khẩu súng ngắn, nói tiếp: “Còn đây là lý do.”
Trong thành phố, người ta thi nhau thành lập hết tổ chức này đến đoàn thể khác. Có lần bác Lidia chứng kiến cảnh một đoàn biểu tình nho nhỏ kéo qua đường phố chính. Khoảng hơn chục nam nữ thanh niên nhông nhông chạy giữa phố, ai nấy trần truồng, không mảnh vải che thân, chỉ mang băng khẩu hiệu màu đỏ trên vai: “Không phải ngượng ngùng gì nữa!” Dân chúng đứng hai bên đường hò reo, cười lăn cười lóc. Còn bác Lidia và bác Sergey trong khi đó lại đi nhặt nhạnh cả vỏ đạn lẫn những viên đạn xịt rơi vãi trên đường phố đem về sân nhà, chơi Hồng quân đánh Bạch vệ. Cô bạn Mascha của bác Lidia có hôm tự dưng bảo: “Tao không được chơi với mày nữa đâu. Mẹ mày là Bạch vệ, còn mẹ tao là Hồng quân.”
Người hầu duy nhất còn ở lại nhà là ông tài xế. Một hôm, ông ta rủ bác Lidia làm một vòng trên chiếc xe của ông ngoại. Đã lâu rồi, bác Lidia không được đi xe, nên thích lắm. Trên người mỗi bộ quần áo mùa hè mỏng manh, chân đất, bác cứ thế trèo lên ghế sau chiếc xe mui trần mà ngồi. Ông lái xe phóng hết tốc lực qua các đường phố, chẳng mấy chốc đã ra đến nhà vườn bác Valentino. Ông tài xế dừng xe cạnh nhà ông làm vườn người Đức, lẳng lặng xuống xe, để bác Lidia ngồi lại một mình trong xe. Ông ta định làm gì thế? Định bắt cháu gái ông chủ cũ làm con tin rồi đòi tiền ông thợ làm vườn nhà bác Valentino ư? Nhà vườn trông có vẻ hiu quạnh, các cửa sổ đều đóng kín, cỏ dại mọc đầy lối đi và chẳng thấy bóng dáng bác Valentino đâu. Bác Lidia xuống xe, đi loanh quanh; trời tối dần, bác bắt đầu thấy lạnh. Cuối cùng bác chui lên một đống hạt hướng dương còn ấm hơi nắng ban ngày rồi ngủ thiếp đi. Đến lúc có ánh đèn pin của ông tài xế chiếu thẳng vào mặt bác mới choàng dậy. “Ta về thôi, tiểu thư ạ,” ông ta nói với giọng giễu cợt, rồi đá thêm: “Ấy là tôi nói tiểu thư ngày xưa!” Ông ta chở bác Lidia quay về nhà, chờ bác Lidia xuống xe xong xuôi rồi rồ máy chạy tuột đi, không bao giờ quay về nữa. Lúc bác Lidia thất thểu, chân tay lấm bẩn và rét run cầm cập bước vào nhà thì cô Tonia kêu toáng lên với vẻ nhẹ nhõm. Cô ấy cùng với mẹ bác đã cuống quýt đi tìm bác mãi và đã tưởng bị lạc đâu đó giữa đêm tối bất yên đang bao trùm thành phố.
Một hôm, vào buổi sáng sớm, đang ngủ mơ màng bỗng bác Lidia bị những tiếng ồn ào đánh thức. Bác vùng dậy khỏi giường và mặc nguyên áo ngủ chạy ngay sang phòng bên cạnh, nơi có tiếng ai đang quát tháo. Bác nhìn thấy một người đàn ông lạ mặt, đầu đội mũ da cao, trên người mặc áo nhà binh và quần kỵ binh, chân đi ủng. Thắt lưng lủng lẳng bao dao găm và quả lựu đạn. Ông ta cầm thanh kiếm trên tay, vung tứ tung trong không trung, nghe vù vù phát khiếp. Có lúc ông ta chém cả vào ghế bành, khiến bác nghe tiếng vỏ bọc ghế rách toạc. Mãi một lúc bác Lidia mới thấy mẹ và cô Tonia đang khép nép ở một góc nhà. Gã đàn ông quát: “Ta lệnh cho các ngươi phải đem ngay cho ta một cái quần để mặc. Mà phải là quần màu đen. Nếu không, các ngươi sẽ mất mạng.” Bà Matilda tìm cách khẽ khàng nói với gã ở nhà không còn chiếc quần đen nào, người ta lấy đem đi hết rồi; nhưng gã đàn ông không tin bà và mỗi lúc một hung hăng. Chợt cánh cửa dẫn vào căn phòng xép của người hầu mở ra và “bà ngoại lùn” bước ra giữa phòng khách. Như mọi khi, bà ăn mặc chỉnh tề, tóc tai chải chuốt ngay ngắn. “Thưa Ngài, Ngài cần gì ạ?” Bà cất tiếng hỏi rất lịch sự. “Chúng tôi có thể giúp được gì cho Ngài không ạ?” Gã lạ mặt đớ người, mất một lúc không nói được lời nào, rồi mới nhắc lại, với giọng đã ôn tồn hơn chút ít, rằng gã đòi đem cho gã chiếc quần màu đen. “Ồ, thưa Ngài,” bà ngoại lùn đáp từ tốn. “Vậy xin Ngài đến cửa hàng may đo ạ.” Đoạn, bà vui vẻ gật đầu chào kẻ lạ mặt, rồi lặng lẽ, nhẹ nhàng rời đi, y hệt như lúc bà bước vào. Bà Matilda tái cả mặt, cố đấu dịu với kẻ lạ mặt lăm lăm dao kiếm kia: “Xin ông thứ lỗi cho cụ già nhà tôi, cụ đến tuổi, lẫn hết rồi…” “Nhưng cụ thật sang trọng,” gã đàn ông ngơ ngác, miệng nhắc đi nhắc lại. “Lịch sự quá… Sang trọng quá!” Hắn do dự nhìn quanh, nhanh tay vớ chiếc chân đèn bằng đồng thau còn sót lại trong phòng khách đã bị cướp bóc gần như sạch sành sanh, rồi chuồn thẳng.
Một lần khác, bác chứng kiến cảnh hai gã say rượu xông vào nhà đòi rượu. Trong bếp, họ lục thấy chai rượu mạnh, liền lôi ra uống cạn rồi rủ nhau rán trứng. Chúng đặt một chiếc liễn bằng pha lê lên bếp lửa rồi đập trứng vào. Dĩ nhiên là cái liễn nứt vỡ, nghe đánh rắc. Hai gã say rượu ôm bụng cười lăn cười bò, rồi thay nhau lè nhè: “Tiêu diệt tư sản! Tiêu diệt tư sản!”
Đã từ lâu, ai muốn ra vào ngôi nhà này cũng được, chủ nhà cũ chẳng còn quyền hành gì. Viên thư ký của tướng Semion Budyonny - vị tổng chỉ huy kỵ binh Hồng quân - tạm thời đặt văn phòng tại phòng làm việc trước đây của ông ngoại Giuseppe; âu đó cũng là sự may mắn cho mọi người trong nhà vậy, bởi sự có mặt của ông ta khiến các vụ cướp bóc nhằm vào nhà họ cũng lắng đi ít lâu. Ông ta dọn đi thì đến lượt ông tướng nào đấy khác dọn vào ở với ả tình nhân, tiếp theo sau cặp này lại là mụ vợ một tay mật vụ; lúc chuyển đi, mụ này lại cuỗm nốt số đồng hồ và gương soi còn sót lại.
Vào các ngày Chủ nhật, mỗi khi đi lễ Nhà thờ, thỉnh thoảng cô Tonia lại bắt gặp đôi ba người mặc trên người những bộ quần áo vốn của bố mẹ hay ông bà ngoại bác Lidia. Có lần cô ấy còn gặp cả một đứa bé gái khoác chiếc áo lông cáo Bắc cực mà bác Lidia vẫn mặc vào những lúc đi xe ngựa trượt tuyết. Mà dù sao thì bây giờ cũng chẳng còn xe ngựa trượt tuyết nữa, nhà để xe trống huếch trống hoác. Cả xe lẫn ngựa đều bị quân Cờ đen của Nestor Makhno cướp đi tự bao giờ rồi.
Một hôm, nhóm người thuộc cái hội đồng quái quỷ nào đấy xông vào nhà đòi tịch thu nốt “số của cải còn sót lại của giai cấp tư sản”. Cô Tonia tốt bụng đem nhét khá nhiều đồ đạc tối cần thiết của gia đình chủ vào cái rương to, rồi nói với đám người kia, trong đây là tài sản riêng của cô. Và tài sản của một nữ vô sản như cô, họ không được quyền tịch thu. Trong khi đám người kia đi một lượt qua các phòng, và cho nhét tuốt tuột những gì vừa mắt họ vào các bao tải to đùng họ mang theo, cô Tonia chốc chốc lại hét lên: “Không được, cái này của tôi; các ông bà sung công cái gì thì sung, nhưng cái này là của tôi!” Họ chất hết cả bàn ghế lẫn các loại thảm quý lên xe ngựa chở đi. Cả các tấm gương gắn trên tường mà bác Lidia vẫn thích soi, cùng các bộ đèn trần lộng lẫy đều bị gỡ xuống, tất tật rèm cửa đều bị giật ra. Và sau cùng là cây đàn dương cầm. Đoạn này, nguyên văn lời bác Lidia viết trong nhật ký là, từ đấy, tiếng nhạc mãi mãi câm lặng trong ngôi nhà này.
Có lần bác Lidia theo cô Tonia vào phố tìm mua thức ăn thức uống đang ngày một khan hiếm; hai cô cháu đi ngang câu lạc bộ Doanh nhân trước kia, bây giờ, theo như tấm biển gắn ngay lối ra vào, đổi tên thành Cung Lao Động. Cô Tonia nắm tay bác Lidia mạnh dạn bước vào, theo cầu thang ốp đá cẩm thạch, lối đi lót thảm đỏ, dẫn lên tầng trên. Đâu đâu cũng thấy mấy vị đàn ông mang ủng, áo họ mặc, mũ họ đội đều bằng da; qua các cánh cửa mở toang, hai cô cháu có thể nhìn thấy các căn phòng trang hoàng tráng lệ. Trong một căn phòng như thế, bác Lidia nhận ra cái bàn làm việc kiểu Rococo của ông ngoại cùng cái bàn trang sức của bà ngoại mình. “Lạy Chúa,” cô Tonia thì thầm, “rặt đồ gỗ ông bà ngoại nhà cô đấy.” Trong gian hội trường lớn, nơi trên nền nhà còn đầy các mảnh kính vỡ, hai cô cháu nhìn thấy cây đàn dương cầm đen bóng mà ngày nào bác Lidia vẫn chơi đàn và tự soạn các bản nhạc nho nhỏ. Ở đây, người ta dùng nó như một thứ quầy rượu, trên đó đặt đầy các loại chai rỗng, ly cốc bẩn thỉu, gạt tàn, trong đó các đầu mẩu thuốc lá còn bốc khói. Khách vào Cung Lao Động, ai cũng được phát không một chiếc bánh nhân thịt pierogi. Bác Lidia chén sạch phần bánh của mình ngay tại chỗ, riêng cô Tonia biết lo trước tính sau, còn xoay được thêm hai cái cho vào túi xách tay để dành, về sau, nghe nói một viên sĩ quan Tcheka ưng ý cây đàn Jacob- Becker vô giá nọ, cho người khênh về nhà riêng làm quà tặng vợ ông ta, để bà này tập đàn cho vui.
Mặc dù của nả chẳng còn gì, nhưng các trận càn quét, cướp bóc vẫn không dứt. Bà Matilda bèn quyết định, cùng các con và bà em gái Eleonora từ Petrograd chạy loạn về Mariupol đây, tìm cách lánh sang phía bên kia biển Azov, tức là sang bên bờ biển thuộc đất Nga, cho yên thân ít bữa. Bà vẫn đinh ninh những gì đang xảy ra ở đây chỉ là cơn ác mộng, rồi chẳng mấy chốc sẽ qua đi. Chen chúc mãi ở bến cảng, rốt cuộc bà cũng xoay được bốn cái vé lên con tàu tồi tàn và già nua, đầy ắp những hành khách cũng đang muốn đánh bài chuồn như họ. Giữa đêm trời nổi cơn giông. Con tàu cũ kỹ biến thành món đồ chơi cho sóng biển, nghiêng bên này, đổ bên kia, toàn thân con tàu nghe răng rắc răng rắc, như thể sắp vỡ bục ra đến nơi. Bà Matilda tay bám chặt mép bồn nước, miệng rên rỉ, còn Lidia thì có cảm giác như chân treo ngược lên cành cây, đầu chúc xuống đất. Tiếng ai đó kêu lên: “Cứu tôi với, ném quách tôi xuống biển cho rồi!” Về sau mọi người mới biết bà Giannina Sanguinetti, người họ hàng với ông De Martino, do say sóng và quá sợ hãi mà kêu lên như thế.
Tàu cập bến ở Jeisk như trong mơ. Mặt trời chìm trong sương sớm, treo lơ lửng trên mặt biển phẳng lì, yên tĩnh, bãi cát trắng trải dài im ắng. Không còn dấu hiệu gì của cơn giông tố đêm qua. Cuộc nội chiến chưa lan đến dải đất này khiến họ được hưởng gần hai tháng liền yên ắng. Cả nhà thuê căn nhà trọ ấm cúng, có bếp riêng để nấu mỗi ngày một bữa ăn đạm bạc; gần đó có cửa hàng bánh của người Do Thái bán bánh mì và bánh vòng mới, ngon lành thơm tho. Ngoài chợ có bán cả nho lẫn đào với mận - những thứ quả ngon lành mà bác Lidia tưởng không còn trên đời này nữa. Suốt ngày bác chạy chơi ngoài bãi biển, hết bơi lại tắm nắng. Ai nấy dần dần lên cân, hoàn hồn, lại sức. Sau đó thì bà Eleonora trở dạ, vào bệnh viện địa phương sinh được đứa con gái. Hai bàn tay tí hon của nó, bên nào cũng chỉ có ngón cái và ngón út, cả ba ngón tay giữa đều không đủ - đến khổ, con gái nghệ sĩ đàn dương cầm mà sinh ra tay không đủ ngón (!) Chắc chắn đấy là hậu quả của những nỗi sợ hãi triền miên mà trong thời gian mang thai ngày nào bà Eleonora cũng phải hứng chịu.
Chuyến tàu quay về trên mặt biển phẳng lì, yên ắng dưới bầu trời xanh lồng lộng sẽ là niềm vui cuối cùng cả nhà còn được hưởng. Tất cả những gì đáng kinh sợ ở Mariupol bây giờ mới thật sự bắt đầu. Ngay trên đường từ bến cảng về nhà họ đã chứng kiến cảnh tượng kinh khủng: Trên đường phố chính, người ta cho khênh những cỗ quan tài theo nhau diễu qua, từ trong quan tài vọng ra tiếng kêu la, tiếng tay đập thình thình vào thành áo quan của người đang sống, số là quân Bạch vệ nhét các binh sĩ Hồng quân bị bắt vào quan tài, rồi đem đi chôn sống, nhằm khủng bố dân tình, phô trương hình phạt chúng dành cho những ai dám hợp tác với Hồng quân.
Các cuộc đọ súng diễn ra mỗi ngày, ngày một gay gắt thêm trong thành phố. Mariupol nhiều lần lọt vào tay quân của Nestor Makhno. Quân Cờ đen của vị tướng này phóng các cỗ xe tachanka tam mã hay tứ mã tua tủa súng ống qua đường phố, đi đến đâu, cướp bóc, phá phách đến đó. Dân tình trong phố ai nấy chỉ còn biết vội vã đóng cửa, cài then, tìm chỗ nấp cho toàn mạng mà thôi.
Một buổi tối nọ, bà Matilda cùng cô Tonia đứng bên cửa sổ, thì thầm nói chuyện vừa lo lắng nhìn ra ngoài. Hôm ấy lại mất điện, trong phòng chỉ leo lắt ánh đèn dầu. Xa xa nghe có tiếng súng nổ. Bà Matilda nói: “Cầu nguyện đi các con, cầu cho không kẻ xấu nào xông vào nhà ta.” Từ lâu nay, ở đầu giường hai đứa trẻ, đã có gắn những tượng Thánh con con - đầu giường bác Lidia là tượng Đức bà Lidia tử vì đạo, đầu giường bác Sergey là Đức Thánh Sergius xứ Radonesch. Tối tối, trước khi ngủ, hai anh em vẫn quỳ trước các tượng Thánh của mình và chắp tay cầu nguyện. Lâu dần thành lệ và bác Lidia vẫn nghĩ Chúa là bạn bè thân hữu với gia đình mình. Thỉnh thoảng bác còn thì thào chuyện trò với Chúa. Và tối hôm nay, bác cũng quỳ xuống, rơm rớm nước mắt, xin Chúa che chở cho mẹ con bác tránh khỏi bàn tay bọn người độc ác. Rồi bác làm dấu thánh, vững tâm lên giường ngủ.
Một lát sau, có ai đó từ phía ngoài tông rầm rầm vào cánh cửa ra vào đã đóng chặt. Cánh cửa gỗ sồi tuy chắc chắn thật, nhưng khó mà chịu nổi kiểu tông cửa dữ dội như thế. Bà Matilda bèn chạy ra mở. Hai người đàn ông mặc thường phục, nhưng khoác súng có cắm lưỡi lê, hông đeo súng ngắn, xộc vào. Họ lớn tiếng chửi rủa tục tằn, rồi túm lấy bà Matilda đòi tiền, đòi vàng, kim cương. Bà Matilda thề, bà không còn gì nữa cả, người ta đã lấy hết mọi thứ của bà, nhưng mấy người kia nào có chịu nghe bà. Họ lục tung hết mọi thứ trong nhà, họ chui xuống cả hầm nhà, dùng lưỡi lê chọc thủng hết các hộp đồ hộp ra xem trong đó có giấu báu vật gì không. Do không tìm thấy gì, họ càng điên tiết. Một gã bỗng hướng về hai đứa trẻ nói lớn: “Chúng mày ngủ đi!” Rồi bắt bà Matilda đứng dựa lưng vào tường. Đoạn hắn chĩa súng lục vào bà. Bà Matilda không nói một lời, không kêu than một tiếng, không chống cự, bà lặng lẽ trùm tấm khăn len lên người, đứng dựa lưng vào tường, mắt không hướng vào hai gã đàn ông mà nhìn ra cõi xa xăm nào đó.
Bỗng có tiếng bước chân sầm sập. “Giơ tay lên”, tiếng ai đó hét to. Đôi người lạ mặt, nhưng mặc quân phục hẳn hoi, xông vào nhà. Họ tịch thu vũ khí của hai tên cướp rồi đẩy chúng ra ngoài sân. Lát sau, ở bên ngoài vang lên tiếng kêu cùng tiếng súng nổ chát chúa. Hóa ra, ngay từ đầu, cô Tonia đã lẻn được vào bếp, trèo qua cửa sổ ra ngoài tìm lính “Hồng quân” đến cứu.
Chỉ qua một đêm hôm ấy mà tóc mẹ bạc trắng, bác Lidia viết như vậy trong nhật ký, và do đó, cũng giải đáp cho tôi một thắc mắc lâu nay. Chính vì thế mà có tấm ảnh người đàn bà tóc bạc chụp cùng với mẹ tôi. Bà sinh mẹ tôi, lúc bà đã bốn mươi ba tuổi và tóc bạc trắng. Vâng, một người mẹ sinh con, cho con bú lúc tóc đã bạc trắng. Trước đó, chắc tóc bà cũng đen như tóc mẹ tôi, như mọi người Ý trong dòng họ vậy, nhưng mẹ tôi chỉ biết mẹ mình như thế thôi, với bộ tóc mà chỉ qua có một đêm đã già đi thêm hai mươi hay ba mươi tuổi ấy. Thậm chí trên đỉnh đầu thằng em bốn tuổi của mình, bác Lidia cũng phát hiện ra đôi sợi tóc bạc, chưa nói chính tóc bác cũng bạc đi từng mớ. Đó là dấu ấn của nỗi khiếp đảm mà mọi người trong nhà sẽ suốt đời mang theo kể từ cái đêm hôm ấy, cái đêm đã làm bác Lidia mất hết lòng tin vào Đấng Chúa Trời cao cả.
Một hôm vào mùa hè năm 1919, ông Jakov - ông thân sinh của bác Lidia và bác Sergey - bất ngờ quay về. Ông bí mật rời mặt trận về thăm nhà, và chỉ lưu lại có một đêm; song, đó sẽ là một đêm với nhiều hậu quả lâu dài: sau đêm ấy, bà Matilda có mang. Thì ra đây là khởi đầu của cuộc đời mẹ tôi, vào một đêm có lẽ là nóng nực của tháng Bảy, giữa lúc cuộc nội chiến đang diễn ra, trong ngôi nhà bị phá phách, cướp bóc tan hoang, nằm ở khu “phố trên” của thành Mariupol. Ông chồng năm mươi lăm tuổi, bà vợ đã bốn mươi hai với mái tóc qua đêm bạc trắng vì khiếp đảm, trong một giây khắc lãng quên mọi sự trên đời đã gây mầm cho một đứa trẻ ra đời, một đứa trẻ mà vào thời buổi đó cả hai đều không ao ước có. Rất có thể hai người đã thèm khát nhau đến mức không còn biết trời đất gì nữa, cũng rất có thể họ đã linh cảm thấy đây là lần cuối cùng được âu yếm ôm lấy nhau trong vòng tay ghì chặt. Anh Andrei, con riêng ông Jakov, đã bỏ mình từ lâu nơi trận mạc, còn ông Jakov, ngày mai sẽ lại lên đường chiến đấu trong hàng ngũ quân bolshevik cho đến ngày chiến thắng lập lại hòa bình, để lại người vợ cùng hai đứa con mình bơ vơ không nơi nương tựa. Điều đó đối với bà Matilda, từ lúc này đã thành người một nách ba con, là một tai họa, chưa kể lúc ấy bà đã tự cảm thấy mình quá già để mang thai và chưa biết rồi mình sẽ xoay xở thế nào.
Hồ sơ nhà thờ ghi nhận mẹ tôi được làm lễ rửa tội và đặt tên vào ngày 30 tháng Tư năm 1920 tại Nhà thờ Thánh Charlampi, ngôi nhà thờ lớn và hoành tráng nhất ở Mariupol. Cũng như hầu hết các nhà thờ khác, chẳng bao lâu nữa Nhà thờ này, sau khi bị cướp phá, vơ vét hết mọi thứ, sẽ bị nổ mìn phá sập rồi mãi mãi biến khỏi thế gian. Mẹ đỡ đầu cho mẹ tôi trong buổi lễ rửa tội là bà dì Eleonora, người đã sinh đứa con với hai bàn tay tàn tật thiếu ngón ở Jeisk hồi nào, ông bố đỡ đầu là chồng bà ấy, tức ông Paul Haag, công dân danh dự của thành Mariupol. Ông này người Đức, giống như ông Erich Klarfeld, người làm vườn của bác Valentino. Phải chăng mọi người trong nhà đều ưa người Đức, do thân phụ mẹ tôi là con bà Anna von Ehrenstreit gốc Đức vùng Balkan? Nhưng cái gì đã khiến ông Paul Haag phiêu bạt đến thành phố bên bờ biển Azov xứ Ukraine này? Vả lại, công trạng ông đối với thành phố này thế nào mà thành phố lại tặng ông danh hiệu Công dân danh dự? Và ông ấy đã thân thiết thế nào với ông bà thân sinh mẹ tôi, khiến ông bà mời ông - một người Đức - làm bố đỡ đầu cho con gái mình?
Tôi tìm thấy tên ông trong danh sách lưu truyền trên mạng Internet Nga về các nạn nhân thời đó. Năm 1937 ông bị bắt và bị khép tội làm gián điệp rồi bị tuyên án trong một phiên tòa bộ ba. Cuối bản án có ghi ba chữ cái “VMN”. Ông Konstantin giải thích cho tôi rằng đó là mấy chữ viết tắt của “vuschaia mera nakazania”, có nghĩa là hình phạt cao nhất. Phiên tòa bộ ba thường kéo dài không quá năm phút, và bản án được thi hành ngay tại chỗ. Có lẽ ông người Đức mang tên Paul Haag nọ cũng chẳng kịp hiểu đầu đuôi ra sao. Ông bị bắt, rồi ngay sau đó, một viên đạn đã xuyên thủng sọ ông.
Tôi lần ra năm ông bị giết cũng là năm thân phụ mẹ tôi qua đời. Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy mối liên quan giữa hai sự kiện? Có phải người ta đòi ông Paul Haag phải khai báo về ông Jakov? Phải chăng ông chỉ còn hai đường lựa chọn, hoặc trở thành kẻ phản bội, hai là im lặng để chọn cái chết, bởi ông thừa biết mật thám có đủ cách bắt ông phải khai? Phải chăng ông Paul Haag với ông thân sinh mẹ tôi từng là đồng chí, là bạn chiến đấu của nhau, khiến hai người cùng bị khép tội không? Hay người ta lôi ông bố đỡ đầu của mẹ tôi - lúc ấy vừa tròn mười bảy tuổi - ra xử bắn, chỉ vì ông là người Đức? Chẳng phải hồi đó, cứ người nước ngoài là bị nghi làm gián điệp, cứ dân ngoại quốc là địch cái đã là gì?
Bác Lidia viết, lễ rửa tội cho mẹ tôi đáng lẽ phải diễn ra từ hôm trước. Thế nhưng, cả ngày hôm ấy mọi người đều phải rúc xuống hầm vì bên ngoài súng đạn nổ suốt ngày. Đến ra ngoài sân cũng chẳng được, bởi đạn vãi như mưa. Đâm ra, bác Lidia viết tưng tửng, trước khi được rửa tội, đứa em gái bé bỏng của bác được thử lửa cái đã.
Như tôi đã đoán từ trước, cái thế giới mà mẹ tôi sinh ra là một thế giới chật chội. Đó là thời kỳ gọi là thời kỳ dồn nén. Bác Lidia vẫn tưởng chỉ có khí trời hay rơm rạ ngoài đồng mới dồn nén được thôi - nhưng không, hóa ra, con người ta cũng chịu bị dồn nén. Thoạt đầu, giới chủ bị tước đoạt các loại động sản, sau đó đến lượt bất động sản. Ngôi nhà của ông bà hôm xưa mỗi ngày một đông người đến ở. Chẳng ai trong nhà này còn góc nào riêng, người nào người nấy dường như suốt ngày chỉ tranh giành nhau một khoảng trống nào đó cho riêng mình. Bác Lidia vẫn còn nhớ đôi người hồi đó sống ở đấy.
Trước hết là ông sĩ quan người Georgie với bà vợ và một lô một lốc con cái; ông này mặc quân phục Tscherkessi, thắt lưng đeo kiếm và súng lục. Ông ta bị thương từ thời nội chiến và mang tật rất buồn cười: chốc chốc ông ta lại vươn cổ lên cao, miệng hô to như sủa.
Kế đến là gã mật vụ Tscheka cùng gia đình gã. Chẳng mấy khi thấy mặt mũi gã đâu, bởi gã đêm “làm”, ngày nghỉ. Con gái gã cùng lứa với bác Lidia, và cứ hở ra lúc nào là lại chửi thẳng vào mặt bác Lidia rằng bác thuộc loại “lạc hậu”, loại người mà dạo nội chiến, bố nó từng bắn chết cả đống. Thông thường thì bà mẹ con bé chẳng mấy chốc đã ló mặt ra quát: “Mày đừng có mà chơi bời với con ấy. Nó con nhà tư sản, chẳng may còn sống sót đấy thôi.”
Rồi gia đình ông Aronov người Do Thái nữa. Nhà ông mới đầu chỉ có ba đứa con gái, ăn mặc như búp bê suốt cả một lượt. Nhưng mong mãi, rồi ông ta cũng có được đứa con trai nối dõi. Và theo thời cuộc, ông ta đặt tên con là Kin - mấy chữ viết tắt của Kommunistische Internationale (Quốc tế Cộng sản). Nhiều người khác thậm chí còn đặt tên cho con cái là Traktor (máy kéo), Energie (năng lượng), Lokomotive (đầu máy) hoặc Trolen - tên ghép từ Trotsky và Lenin mà ra.
Tiếp đến là nhà Vajner, với sáu người con. Liova và Klara, hai người con đầu, đều dân phản gián, lúc nào cũng đóng bộ áo da trên người, súng lục đeo lủng lẳng bên hông. Hai người con thứ - tên là Chaim và Etka - chết sớm vì mắc bệnh lao. Hai đứa con út, Rachel và Maim, suốt ngày lông nhông chơi trong sân, luôn mồm chửi bác Lidia và bác Sergey là “giống đồi bại, đồ trí thức kênh kiệu”. Bác Lidia chỉ còn biết đốp chát lại “còn chúng mày là hạng vô sản ngu si, hạ đẳng”.
Bọn người này, cùng những kẻ mới đến đây ở, đều rất trâng tráo. Những lúc vòi nước máy trong bếp có nước, về đêm họ cũng đấm cửa, đòi mở bằng được cho họ hứng nước. Bà Matilda phải đếm số xô hứng, bởi bà phải trả hóa đơn cho số xô nước đó. Thế nhưng, chẳng bao lâu rồi vòi nước trong nhà cũng tịt nốt, nhà nào nhà nấy phải đem xô ra trạm máy bơm mà hứng. Nếu chẳng may mất điện, thì ai nấy liền đổ riệt cho bọn chủ nhà tư sản cũ cố tình cắt điện nhằm hại giai cấp công nhân. Hồi đầu, bà Matilda còn cố giữ sao cho nhà tiêu được sạch sẽ, nhưng rồi cũng vô ích. Chẳng được bao lâu thì khu nhà tiêu bẩn thỉu, hôi thối đến mức chỉ còn cách lấy ván đóng bịt lại nữa thôi.
Bác Lidia không viết gì về chuyến trở về của ông bố trong thời nội chiến, chỉ nhắc qua loa về chuyện này. Có lẽ bác đã rất vội vàng khi viết vì lo mình chẳng còn sống bao lâu để kịp kể hết câu chuyện đời mình, hoặc có thể ở tuổi tám mươi, bác chỉ còn nhớ mang máng những chuyện đã quá xa xưa. Sau khi bị bắt, tức là năm mươi tám năm trước khi bắt tay viết nhật ký, bác không còn gặp lại bố nữa; ông qua đời lúc bác vẫn còn chịu cảnh tù đày. “Chúng ta đã phạm sai lầm,” ông đã nói thế sau khi bác Lidia bị bắt, “chúng ta đâu có muốn vậy. Ta đây không ra trận để con gái ta bị tù đày hành hạ như thế.”
Jevgenia, mẹ tôi, gặp bố mình lần ấy là lần đầu tiên. Rất có thể ông đã ôm đứa con gái nhỏ bé, ra đời lúc ông đi xa vào lòng, còn con ông lại khóc ré lên vì sợ người đàn ông mặt mũi lạ hoắc ấy. Cảnh tượng lần hội ngộ đầu tiên giữa mẹ tôi với ông cụ thân sinh rất có thể đã diễn ra như thế lắm.
Nhờ các công lao của ông trong cuộc nội chiến, ông Jakov được phe bolshevik, tức là phe thắng trận, khen thưởng bằng cách xếp cho ông giữ chân công tố viên. Lẽ ra khoản lương hàng tháng của ông cũng đủ để nuôi sống cả gia đình rồi đấy, thế nhưng, sang thời nạn lạm phát nhanh như ngựa phi thì lương ông chẳng còn mấy giá trị. “Đồng tiền trượt dốc” - hồi ấy người ta nói bóng bẩy như thế. Chẳng ai biết tiền trượt từ đâu đến và trượt đi đâu, và cũng chưa bao giờ người ta có thể nắm trong tay hàng đống tiền vô giá trị như thế. Mỗi lần lĩnh lương, ông Jakov liền đi ngay ra chợ, dùng toàn bộ số tiền đó mua những gì ăn được, bởi vì rất có thể sang ngày hôm sau, số tiền đó đã chẳng còn mua được gì nữa rồi. Đôi lúc, thay vì trả tiền, người ta trả lương ông bằng lương thực thực phẩm. Ai có gì cũng đều đem đổi lấy cái ăn cả. Trong vai công tố viên, ông Jakov luôn đụng chạm với cái gọi là dịch vụ “bắt chẹt”. Ông đã từng gặp một vụ, trong đó có người sau khi đổi hết của cải để lấy cái ăn, rốt cuộc, đã đổi nốt cả cái lều đang ở lấy mươi chiếc bánh rán có nhân.
May mà còn có biển Azov. Nguồn cá phong phú ở biển này đã cứu sống khối người khỏi chết đói. Người ta chỉ cần lội xuống nước, sâu đến đầu gối rồi căng áo gối ra là bắt được cá. Thế nhưng, đến nguồn hải sản biển Azov cũng không vô tận, và dần dần, cả nguồn sống thiên nhiên này cũng cạn kiệt nốt. Bác Lidia viết, vào những ngày Chủ nhật, bố vác cần câu ra câu ngoài cảng đến tối mịt, và cũng phải may mắn lắm, ông mới câu được đôi con cá bống gầy guộc mang về.
Có lần cô Tonia không biết kiếm đâu ra một mớ bã hoa quả ép. Cùng với bà Matilda, cô xay chỗ bã hoa quả đó bằng máy xay thịt rồi đem rán lên bằng dầu thầu dầu. Rốt cuộc, lợi bất cập hại, bởi cả nhà đều bị khổ sở vì đầy bụng, ăn vào bao nhiêu đều tống tháo ra bấy nhiêu.
Bác Sergey góp phần kiếm ăn cho cả nhà bằng cách dùng súng cao su bắn quạ đậu trên nóc nhà; bắn được con nào, cô Tonia liền vặt lông đem nấu cháo con nấy. Thịt quạ dai nhanh nhách, phải nhai khổ nhai sở mãi rồi mới nuốt trôi được.
Bác Lidia viết tiếp, có lần bố - thay vì nhận lương tháng - được phát một bị bánh mật ong. Mang về đến nhà, mở ra mới biết nửa số bánh đã bị mốc. Thế nhưng đó chỉ là chuyện vặt. Bánh tốt xấu thế nào, cô Tonia cũng tìm cách rán lại hoặc nấu thành cháo được cả.
Dân tình làm thịt cả chó lẫn mèo để ăn. Đến lúc cả chó lẫn mèo đều hết sạch, người ta quay ra ăn thịt lẫn nhau. Người ta đồn có những bà dùng vài thứ ăn được nhử trẻ con vào nhà rồi giết, băm thịt rán lên. Có lần bà Matilda cắt chỗ thịt đông mua ở chợ về thì chạm phải cả vành tai trẻ con còn nguyên. Bà đem nộp cho cảnh sát, nhưng cảnh sát cũng chẳng biết làm thế nào mà lùng ra thủ phạm được cả. Người ta còn kháo nhau cả chuyện một bà nọ bóp chết đứa trẻ sơ sinh của mình, lấy thịt nó nấu cháo cho ba đứa con nhỏ khác của bà ăn, còn chính bà, bà lần vào nhà kho treo cổ tự tử.
Một buổi tối nọ, có tiếng gõ cửa khe khẽ. Bác Lidia chạy ra mở. Đứng trước mặt bà là một bóng người hình thù lạ lùng dị dạng. Thân mình phình trướng, đôi chân trần trụi, gầy khẳng khiu như hai cây sậy, da màu vàng cam, cái bụng phình to đến mức, ai thấy đều phải có cảm giác chỉ cần búng nhẹ là bục ngay ra, và nước sẽ đổ tràn ra nền đất. Bằng một giọng khàn khàn không rõ tiếng, bóng người ấy hỏi cô Tonia có nhà không. Cô Tonia chạy ra, kêu to rồi bật khóc. Đứng trước mặt cô Tonia là Marfa, em gái cô. Vào đến bếp, cô vội vàng cởi hết quần áo em gái ra, tắm gội cho em rồi đốt sạch số quần áo rách rưới đầy chấy rận trong lò sưởi. Đây là lần đầu tiên bác Lidia nghe nói đến chiến dịch “hợp tác hóa cưỡng bức”. Các đội trưng thu kéo về làng, tiếp tay nhau tịch thu hết sạch sành sanh của cải của nông dân trong làng cô Marfa, chẳng chừa lấy một quả trứng gà, một hạt thóc nào. Họ chỉ bỏ sót một bao hạt bí ngô. Dân tình đem số hạt đó đem gieo xuống đất và vài tháng sau, họ có thể thu hoạch mùa bí ngô mới; da dẻ dân làng ngả hết sang màu da cam, cũng là màu da của cô Marfa bây giờ; đó là màu bí đỏ, thứ thức ăn duy nhất và cuối cùng của những con người đang sống ngắc ngoải. Cả nhà Marfa đều chết đói, chỉ mình cô Marfa làm thế nào đó mà lần được đến Mariupol tìm gặp chị Tonia mà thôi.
Mọi người xúm vào chăm cho cô bé phần nào lại sức, rồi cô Tonia đưa nó đến ở tại nhà một người đàn ông bà con ở phố dưới, trong một căn lều vách đất. Ông này bị cụt một chân từ thời nội chiến, nhưng lại coi đó là may mắn. “Bây giờ chúng nó chẳng cần đến tao nữa,” ông ta vẫn nói, “mất cái chân, đâm được yên cái đầu.”
Tiếp đến là mùa hè, một mùa hè nóng nực kinh người, làm mùa màng khô kiệt hết. Cây cối ở Mariupol chết khô chết héo suốt một lượt, nhựa rải đường chảy nhũn dưới chân người đi bộ. Tuyệt nhiên không còn giọt nước nào, hệ thống kênh đào sập đổ tan hoang, người chết vì thổ tả, thương hàn ngày một nhiều, xác chết nằm vạ vật ngoài phố không kịp chôn. Cứ phải vài ngày mới có xe ngựa chạy qua, bốc xác lên xe chở đi. Trời đã nóng hừng hực, lại thêm mùi xác chết nồng nặc không trung.
Dân tình phải xuống nguồn dưới chân đồi mà hứng nước dùng. Mỗi lần đi hứng, bao giờ cô Tonia cũng đi trước, đòn gánh trên vai với hai thùng nước hai đầu, hai tay lại xách thêm hai xô nữa; thật khó lòng mà biết được cô ấy lấy đâu ra sức để làm như thế. Bà Matilda mới sinh con, người đang yếu, nên chỉ xách được hai xô nhỏ bám theo sau. Đi sau rốt là bác Lidia và bác Sergey - bác Lidia bê bình nước lớn, bác Sergey - bình nhỏ hơn. Bố không tham gia công việc này, ông phải đi làm, âu cũng là để được chia khẩu phần bánh mì. Phần trông nom bé Jevgenia, tức là mẹ tôi, phải nhờ đến bà hàng xóm. Trong thành phố, người người ai nấy đều xách bình đựng nước đi đâu đó, ai cũng kiệt sức, lê lết bước đi dưới nắng nóng như thiêu như đốt.
Đến được bên nguồn nước, còn phải đợi cũng khá lâu mới đến lượt, vì nguồn nước chỉ ri rỉ chảy từ lòng núi ra ngoài. Chẳng ai đứng để chờ đến lượt cả. Vừa đến nơi, người nào người nấy đều nằm lăn ra đất. Xếp hàng nằm, khó nhọc nhích dần đến nguồn nước. Có lần, bác Lidia trông thấy một người đàn ông nằm sõng soài trong cỏ. Ông ta nằm bất động, trên mặt bâu đầy nhặng xanh. Hoặc ông đã chết, hoặc đang hấp hối. Cô Tonia vội làm dấu thánh rồi nhìn ngay ra chỗ khác, còn bác Lidia, do đã quen nhìn xác chết, dường như không thấy động lòng chút nào.
Hứng được nước rồi, đoạn đường hơn một tiếng đồng hồ quẩy thùng, xách xô đầy nước ngược dốc về nhà cũng không kém phần cực nhọc. May mà mặt trời đã lặn lúc xế chiều, khiến trời mát dịu hơn được chút ít. Về đến nhà, mẹ cắt khẩu phần bánh mỳ hai trăm gram mà bố được nhận mỗi ngày thành sáu phần. Thêm vào đó là một cốc nước sôi để nguội và nửa quả cà chua xanh.
Tính đến lúc này, cuộc nội chiến đã tàn phá tanh bành thành phố Mariupol. Trong năm 1922, không còn nhà máy nào ở đây hoạt động, các cửa hàng cửa hiệu trống huếch trống hoác. Các băng đảng cướp bóc hoành hành khắp nơi trong thành phố, ngày nào cũng có tin về một vụ ăn thịt người ở đâu đó. Cả nhà không ai còn sức để nhổm dậy, người nào người nấy chỉ còn nằm gần như bất động trên giường. Cả ông Jakov cũng yếu lả đến mức không còn sức để đi làm nữa, khiến khẩu phần bánh mì nhỏ nhoi mọi khi cũng mất nốt. Từ lâu, cái thư viện trong nhà đã trở thành nguồn an ủi duy nhất. Bác Lidia lôi các quyển sách còn sót lại ra đọc đi đọc lại cho đến lúc cũng chẳng còn sức để giữ quyển sách trên tay. Lúc ấy, có lẽ trong nhà chẳng ai còn đủ sức để ẵm mẹ tôi lên mà thay lót đổi tã. Không biết trông mẹ tôi lúc ấy thế nào, lúc bà mới hai, ba tuổi? Trông như những đứa trẻ thời nay tại các nước bị nạn đói hoành hành - những đứa trẻ thân hình teo tóp, chỉ còn da bọc xương, bụng trương phình cùng những cặp mắt mở to, đờ đẫn và trống trải khôn cùng ư?
Vị cứu tinh ở những giây phút cuối cùng rốt cuộc lại là người Mĩ. Một tổ chức cứu trợ, mang tên ARA, đã cho tàu thủy chở lương thực thực phẩm đến Mariupol cứu đói. Sau khi xem trên xét dưới kỹ càng, rồi gia đình mẹ tôi cũng được liệt vào diện đáng được cứu trợ. Từ nay, những ai cũng được may mắn như nhà tôi và còn đủ sức lết đến nơi phân phát thức ăn, thì họ sẽ được phát mỗi ngày một bát xúp ngô, một suất ngô non nghiền và một cốc ca cao. Thêm vào đó là một mẩu bánh mỳ trắng, đã xốp, lại chẳng ra mùi ra vị gì.
Lúc chính sách kinh tế mới, NEP, một chính sách tạm thời tự do hóa nông nghiệp và thương nghiệp, do Trotsky thúc đẩy được thi hành, thì dường như chỉ qua một đêm là tình hình cung cấp lương thực thực phẩm tốt hơn hẳn. Chỉ trong một thời gian ngắn, các cửa hàng đã lại đầy ắp hàng hóa, buôn bán tư nhân nở rộ, vô số nhà hàng mở cửa trở lại sau một thời dài đóng im ỉm, ngoài bãi biển thậm chí lại có ca nhạc dành cho khách bốn phương tới nghỉ dưỡng như ngày xưa.
Bác Lidia dần dần hồi sức; thế nhưng, sức khỏe vốn không ổn định từ lâu của bác, sau nạn đói, đã bị tổn hại đến mức từ đó trở đi, bác hết mắc căn bệnh nặng này đến bị căn bệnh hiểm nghèo khác. Hồi trước, cả gia đình có hẳn một thầy thuốc riêng - một người đàn ông lớn tuổi kín tiếng - chuyên nghe tim gõ ngực, ngó họng, soi mắt người bệnh trong nhà. Sau mỗi lần ông đến khám, bà Matilda lại pha ly Mokka mời ông uống cùng bánh quy rồi lặng lẽ trao vào tay ông một phong bì đựng tiền công. Giờ chẳng nhà nào có thầy thuốc riêng tại gia nữa cả, ai ốm đau bệnh tật gì đều phải nhờ đến phòng khám khu phố. Một hôm bác Lidia bị sốt cao và nhức đầu dữ dội; đến khám là một bà bác sĩ vui tính, mập mạp, tóc vàng. Vừa thoáng nhìn, bà ta đã phán ngay: “Rõ là viêm màng não rồi! Vô phương cứu chữa!” Mẹ của bác không nói gì, chỉ kín đáo cho người tìm ông bác sĩ riêng hôm xưa đến khám cho. Bệnh tình bác Lidia trở nên trầm trọng, đến mức bác không sao mở mắt ra nhìn, hay cất tiếng nói gì nữa cả. Bác có cảm giác mình nhẹ như lông chim, bay lơ lửng bên trên giường nằm. Thế nhưng bác vẫn nghe được tiếng ông bác sĩ nói: “Thưa bà Matilda Iosifovna, có lẽ bà phải chuẩn bị chia tay con gái bà thôi, hầu như chẳng còn cơ may nào nữa đâu.” Bác Lidia không còn sức để nói gì nữa cả, nhưng đúng vào giây phút đó, bác khăng khăng không chịu chết nữa, chỉ vì bướng thôi. Thế rồi bác đã có ngay cảm giác thân thể mình hạ xuống nằm trên mặt giường.
Rồi một buổi sáng nọ, bác tỉnh giấc và cảm thấy thèm ăn sô cô la không nhịn được. Thường ngày bác chẳng xin xỏ cái gì, bởi biết bố mẹ mình khổ sở nghèo đói thế nào, nhưng lúc này, bác không sao kìm lòng được. Bác khóc, bác cầu xin thảm thiết. Bà Matilda bóp bụng mua cho con một trăm gram kẹo viên sô cô la Kornblume và mỗi ngày, bác Lidia được ăn một nửa viên kẹo. Thế mà bác dần dần bình phục thật, có điều, chẳng bao lâu sau bác lại dính sốt rét. Bác lại lâm vào tình trạng thập tử nhất sinh, mãi đến khi ông bố xoay đâu ra được một ít thuốc ký ninh. Thuốc hiệu nghiệm ngay, nhưng gây di chứng, khiến bác suốt đời bị tật về thính giác. Sau trận sốt rét, bác lại mắc bệnh cúm Tây Ban Nha, căn bệnh từng cướp mạng sống bà cô Valentina, và sau khi qua khỏi trận cúm này, bác lại dính bệnh lao phổi.
Trong nhật ký, bác thường hay nhắc đến Cherson, một địa danh mà tôi từng biết đến trong quá trình tìm kiếm tung tích người thân. Đó chính là nơi chụp bức ảnh, trong đó bác Sergey hồi còn nhỏ ngồi vắt vẻo trên nhánh cây bên bờ sông Dnieper. Bây giờ thì tôi cũng biết người cậu mà vườn nho do cậu làm chủ ở vùng này không bị công hữu hóa, là cậu Antonio. Có lẽ mọi người trong gia đình thường lánh đến đây; hẳn mẹ tôi lúc còn bé đã chạy nhảy trên bãi cỏ nơi này, đã tắm dưới dòng Dnieper - nhưng có tập thế nào thì tập, mẹ chẳng bao giờ biết bơi. Bác Lidia cũng thường lưu lại vườn nho này suốt mùa hè. Không khí trong lành, ăn uống khá đầy đủ cũng như sự yên bình ở nơi đây quả nhiên đã tạo nên chuyện thần kỳ. Sang thu, bác bình phục quay về Mariupol.
Bác Lidia tuy lúc bấy giờ đã mười hai tuổi, nhưng chưa hề biết trường học là gì. Bà Matilda vẫn còn đinh ninh rằng cái nhà nước mới này chỉ là cơn ác mộng, rồi sẽ đến ngày tan đi thôi, và do lúc đó chưa có luật bắt buộc trẻ con phải đến trường, nên bà cách ly bác Lidia, không cho bác đi học ở trường học của chính quyền Xô viết, để tự tay bà dạy cho bác. Các môn học của bác là toán, tiếng Pháp, lịch sử nước Nga và văn học Nga, địa lý, thêu thùa và tôn giáo. Ngoài ra, bà còn dạy cho con gái cách dọn một bàn tiệc sáu lượt dọn món, cách quỳ chân chào trong cung đình, cách nhảy các điệu Pas de Gras và Pas de Partineur như thế nào - tức là những thứ mà trong quãng đời về sau chắc chắn bác Lidia sẽ chẳng bao giờ cần đến. Bác cũng không phải làm việc nhà, bởi trong mắt bà Matilda, bà vẫn không thể chấp nhận việc một người thuộc dòng dõi quyền quý như con gái bà nay mai lại phải cầm cây chổi quét nhà vào tay; chắc chắc bà cũng dạy dỗ mẹ tôi như thế, dạy cách sống có người hầu kẻ hạ. Bà dạy các con bà những gì xưa kia chính bà đã học, bà nhất định không chịu thừa nhận cái thế giới từng sản sinh ra bà đã mãi mãi tiêu tan. Mọi công việc thấp hèn trong nhà đều do cô Tonia đảm nhiệm, cho nên, có phần chắc là cho đến khi lấy chồng, mẹ tôi chưa bao giờ phải cầm chổi quét nhà cả. Tôi không biết làm sao với đôi tay đó, mẹ tôi có thể kham nổi các công việc bị cưỡng bức phải làm trên đất Đức, thế nhưng, tôi đoán có lẽ đó vốn chỉ là những động tác đơn giản, lặp đi lặp lại, trong dây chuyền sản xuất chạy từ sáng đến tối mà thôi. Bà chỉ thật sự lúng túng khổ sở lúc ở nhà, khi phải tự tay nấu nướng, may vá cho chồng cho con.
Bà Matilda không phải dễ mà duy trì được việc dạy học cho con. Dạy bác Lidia biết đọc thì bà không phải dạy nữa, vì bác Lidia đã biết đọc từ lâu, nhưng việc học viết đã biến thành cuộc đọ sức thật sự giữa hai mẹ con. Bác Lidia chẳng những vụng về tay chân trong mọi việc ở đời, bác lại còn thuận tay trái nữa chứ. Bà Matilda không chịu chấp nhận việc đó. Bà cho việc con gái mình thuận tay trái là một cái tật, do bướng bỉnh, cứng đầu, cứng cổ mà ra thôi. Hễ dùng tay trái cầm bút là bác Lidia lại bị thước kẻ quật vào các ngón tay. Bác liền khóc tướng lên, vùng vằng, quẳng thứ bút viết quý giá mẹ mình phải nhịn ăn để mua vào lò lửa. Giờ học thêu thùa lại càng khổ sở, bởi tay phải của bác quả không thích hợp cho công việc tỉ mỉ này thật.
Rốt cuộc, bác Lidia không chịu học nữa; trước sự bướng bỉnh của con gái, bà Matilda đành chịu bó tay và cho bác Lidia đến học ở nhà một bà giáo dạy tại gia. Thế là ngày ngày bác Lidia đến căn hộ bà Sofia Vassilievna, nơi bà nhận dạy học cho một nhóm gồm nhiều đứa trẻ. Dạo này mọi người đã có thể yên ổn ra đường, không sợ chẳng may bị tên rơi đạn lạc nữa. Cái thời các phe nhóm tranh giành nhau về chính trị và hỗn độn vô chính phủ ấy đã trôi qua, bước sang một thời kỳ ổn định mà Thống chế Stalin, vị cha đẻ của mọi dân tộc trên đời, sẽ thiết lập suốt ba chục năm cầm quyền về sau.
Suốt từ đầu đến giờ, vợ chồng bà Sofia Vassilievna may mắn không bị cướp bóc hay trưng thu quấy nhiễu gì; họ vẫn sống yên ổn trong căn hộ kiểu cũ, rộng thênh thang, thiết trí dễ chịu theo phong cách từ thời trước cách mạng. Nhưng nó lạnh lẽo, và tụi trẻ đến học phải mặc nguyên áo ấm mà ngồi bên cái bàn lớn trong phòng khách, còn bà Sofia Vassilievna thì khoác áo bồi bằng giấy báo. Đến đây học, đôi lúc bụng bác Lidia đói cồn đói cào, nhưng bác vẫn thích thú. Được đi học cùng các bạn, bác không bị lẻ loi, lần đầu tiên trong đời bác cảm thấy mình là một thành viên nằm trong nhóm nhỏ những người nằm ngoài rìa xã hội. Vả lại, bà Sofia Vassilievna để yên cho bác viết bằng tay trái, bà biết bác Lidia không thể viết được bằng tay phải, và không thể bắt bác tuân theo một chuẩn mực nào hết cả. Tiếc rằng những ngày vui tươi sung sướng đó chẳng kéo dài được bao lâu; lớp học mới mở được mấy tuần, vợ chồng bà Sofia Vassilievna đã bị bắt, khép tội phản bội nhân dân và bị đưa đi đày biệt xứ.
Từ đó bác Lidia khăng khăng đòi đến trường đi học như mọi đứa trẻ khác cho bằng được. Mẹ bác mới đầu không cho, nhưng đến lúc bác Lidia nhịn ăn hơn một tuần để phản kháng, thì bà Matilda - vốn thừa biết con gái mình bướng bỉnh đến mức nào - phát hoảng và đành chịu nhún. Cô Tonia liền may cho bác Lidia chiếc túi đi học bằng vải thuyền buồm và thay vì dùng lọ mực, là thứ hồi đó không có mà mua, bác phải dùng chai thuốc tím làm mực viết; thêm vào đó là hai quyển vở cô Tonia đóng từ số giấy cũ còn sót lại của ông ngoại.
Tại các trường học Xô viết hồi đó, không chia thành lớp, mà thành nhóm, vì chữ lớp[1] chỉ dùng vào việc phân chia các thành phần xã hội mà thôi. Môn Pháp văn bị loại khỏi chương trình học, nó bị xem là môn học tư sản. Môn Ngữ pháp cũng thôi không học nữa, nó bị xếp vào hạng môn học dư thừa, vô tích sự. Môn Lịch sử bây giờ gọi là môn “Lịch sử phong trào cách mạng”.
Bác Lidia lập tức thấm thía các hậu quả của việc lâu nay không đến trường học. Chẳng là ở trường, học trò phải tự lau chùi, quét dọn lớp học, phải lau cả cửa kính và sang mùa đông phải dùng giấy báo dán bịt các khe hở để chống gió lùa. Học trò còn phải nhặt củi ngoài đường để đốt lò sưởi. Bác Lidia bị hành hạ khổ sở cả đôi đường, một là do bác không quen làm lụng chân tay, hai là do bác thuận tay trái, là việc trái khoáy trong môi trường mà thuận tay phải mới là chuẩn mực. Cũng như ở nhà, ở trường người ta chẳng những mắng mỏ quở trách bác là đồ tư sản, đồ hư hỏng, mà còn chửi thẳng vào mặt, nào là kẻ tàn tật, nào là đứa lạc hậu. Các thầy cô giáo cấm bác viết bằng tay trái, bắt tập viết bằng tay phải cho bằng được, thế nhưng, tập mấy thì tập, bao giờ tập làm văn bác cũng chỉ được điểm bét, do bác “bôi” chứ không phải viết lên giấy và do không ai khiến bác mơ mộng quá đáng như thế khi tập làm văn cả.
Bác lấy làm xấu hổ bởi không có sách để học, thứ bố mẹ không có tiền sắm cho. Bác Lidia phải làm hộ bài tập về nhà cho hai đứa chị em sinh đôi cùng nhóm học, vốn sức học yếu, để được đọc nhờ sách của chúng nó. Đôi lúc, chúng nó còn chia bánh chúng nó mang theo cho bác. Bác không cưỡng lại được, vì lúc nào cũng bị cơn đói dằn vặt, nhưng cứ ăn xong là lại thấy nhục nhã trong lòng.
Trong nhóm học của bác còn có cả thằng Slava Bronstein, con trai ông chủ xưởng đóng thùng ở nhà hàng xóm. Hồi trước, nó với bác, hai đứa vẫn chạy chơi với nhau trong sân, bây giờ nó ra mặt không muốn dính dáng dây dưa vì bác là con nhà “kẻ thù nhân dân”. Nó luôn mồm huênh hoang: “Bác tao là người quan trọng nhất trong đảng và khắp nước Liên Xô nhé. Bác tao tên là Lev Davidovich Bronstein.” Thì ai chẳng biết đấy là tên thật của ông Trotsky, một người - cùng với Lenin - có lẽ là người có quyền lực tối cao ở Liên Xô hồi ấy. Học sinh đứa nào cũng ganh tị và nể sợ thằng Slava. Nhưng rồi chẳng bao lâu sau, ông Bronstein mang bí danh Trotsky này, bị lên án là “tên Do Thái phản phúc”, là “kẻ nô lệ của chủ nghĩa phát xít” và bị tước hết chức quyền. Lúc này, tụi trẻ hễ được dịp là lại gào to lên “Này, Slava, bác mày bị khai trừ đảng rồi. Coi chừng nhá, kẻo nhà mày cũng bị tóm cổ đấy.” Thằng Slava nhổ nước bọt, đáp: “Nhà tao chẳng dính gì đến hạng người ấy. Nhà tao họ Bronstein, lão ấy họ Trotsky cơ mà.”
Ở trường, bác Lidia phải nếm chịu nhiều chuyện đau đớn. Tại đây, bác phải hứng chịu số phận một kẻ ngoài cuộc, cho đến hết đời, bác luôn luôn là kẻ bên lề, bị ghét bỏ, bị xua đuổi. Đối với bác, việc xuất thân từ một gia đình mang thành phần xấu, là mối nhục muôn đời, mối nhục không sao gột rửa được nữa, và dần dà tôi bắt đầu vỡ nhẽ, hóa ra tất cả những điều đó đều liên quan đến mẹ tôi. Lâu nay tôi cứ tưởng mẹ bắt rễ chặt, tình sâu nghĩa nặng với xứ sở Ukraine, thế nhưng, do mẹ tôi cũng xuất thân từ cùng một gia đình như chị mình là bác Lidia, thì chắc chắn mẹ tôi cũng phải chịu số phận một kẻ bị gạt ra rìa, bị xua đuổi ghét bỏ y như thế. Cuộc đời của một kẻ lạ trên đất Đức có lẽ không có gì là mới mẻ đối với mẹ tôi, mà đúng ra, chỉ là sự kéo dài thêm kiếp đời bà từng nếm trải mà thôi. Hóa ra, tự bao giở bao giờ đến nay tôi đã hiểu sai về mẹ tôi. Mẹ vốn không phải là người bị bẩy rễ khỏi quê hương, mà ngay từ đầu bà đã là kẻ vô quê hương, không gốc nguồn, không cội rễ, một kẻ tha hương ngay từ lúc mở mắt chào đời.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông, bác Lidia phải xếp hàng xin việc hàng tuần liền ở Sở Lao động, nhưng do thành phần lý lịch, bác chẳng hề được ai đoái hoài. Trong xã hội lúc đó, không nơi nào cần đến hạng người như bác, đâu đâu người ta cũng đối xử với bác như với kẻ tội phạm không được quyền sống sót. Suốt nửa năm trời, bác chật vật làm nghề gia sư dạy thêm và được trả công bằng buổi ăn trưa, trước khi bác dứt khoát một quyết định sẽ kéo theo nhiều hậu quả khôn lường: Bác quyết định đến Odessa xin học đại học ngành Lý luận văn học. Mặc dù biết chắc rằng tại các trường đại học không ai ưa những người có gốc gác gia đình như bác - bởi vì chỗ học bây giờ dành cho con em gia đình công nông là chính - bác vẫn muốn thử may rủi xem sao. Cố nhiên bác chẳng hy vọng được nhận học bổng hay được chia một chỗ ở trong khu nhà sinh viên, nhưng bác có hai bà cô Jelena và Natalia ở Odessa, hai người của nả tuy cũng chẳng có gì, nhưng sẵn lòng cưu mang cho cô cháu học hành.
Bố mẹ bác, ai nấy đều sửng sốt. Ông bà trước sau vẫn phải sống trong cảnh đói kém bần cùng, và đặt hết hy vọng vào đồng lương cô con gái sẽ đem về sau khi tốt nghiệp phổ thông. Vả lại, ông bà lo cho con gái mình phải xa nhà trong thời buổi nhiễu nhương như thế này. Bác Lidia băn khoăn lắm, khi phải bỏ bố mẹ và các em trong cảnh đói kém bần cùng để ra đi, thế nhưng đối với bác, riêng ý nghĩ ở lại Mariupol thôi cũng ngang như tự sát. “Lấy chồng may mắn” như mẹ bác ao ước là điều bác Lidia không thể chấp nhận. Bác đem hết của cải ít ỏi của mình ra chợ trời bán sạch, cắt phăng đuôi tóc đuôi sam, mua vé tàu, rồi cứ thế lên đường đi Odessa.
Đó là một chuyến đi không kém thú vị. Bác Lidia phải đổi tàu nhiều lần, và suốt một quãng đường dài, phải leo lên nóc toa mới có chỗ ngồi. Phải, bác còn trẻ, và dẫu sao, cuộc đời mới cũng đang trải ra trước mặt. Bây giờ thì bác đã vỡ nhẽ mình phải che tông giấu tích đi, bởi rõ ràng là sự thật về gia đình sẽ chẳng giúp bác ngóc đầu lên được. Cho nên, ngồi trên nóc toa tàu hỏa, bác dần dần nghĩ ra cho mình trong đầu một lý lịch gia đình vô sản mẫu mực.
❀ ❀ ❀
[1] Trong tiếng Nga, chữ класс (class) vừa có nghĩa là lớp học, vừa có nghĩa là giai cấp.