Người Đến Từ Mariupol

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần 3

❊ ❊ ❊

Ngày mồng 8 tháng Mười năm 1941 - lúc mẹ tôi vừa hai mươi mốt tuổi - Mariupol bị quân Đức chiếm trong khuôn khổ chiến dịch Barbarossa cửa Hitler nhằm tiêu diệt dân Slave và mở mang đất đai cho giống người Arier thượng đẳng sinh sống. Vào thời điểm thành phố bị chiếm, tại Mariupol có 240.000 người sinh sống, hai năm sau, chỉ còn 85.000 người.

Tôi không rõ lý do gì khiến bố tôi bỏ đất Nga đến Ukraine, tôi cũng không biết bố mẹ làm quen nhau lúc nào và ra sao. Thế nhưng, tôi tin chắc là hai người đã gặp nhau trong thời chiến, vâng, như thế thì chính cuộc chiến tranh đã xe duyên cho hai người. Rất có thể lòng căm ghét Stalin đưa ông bà đến gần nhau, mối căm ghét mà ông anh họ Igor của tôi cho là đã gắn bó bố mẹ anh, bác Lidia và bác Juri, với nhau. Song, có lẽ điều mấu chốt là ở chỗ, giữa thời chiến tranh đầy khói lửa chết chóc ấy, mẹ tôi chỉ còn lại một thân một mình, không còn ai ngoài cô Tonia làm nơi nương tựa. Có thể trong hoàn cảnh bơ vơ đầy hoang mang sợ hãi đó, mẹ tôi đã bám theo bất kỳ ai hứa hẹn che chở mình. Người đàn ông Nga ấy từ miền sông Volga phiêu dạt đến nơi đây hơn mẹ tôi những hai chục tuổi, nhưng mang đúng những tính cách để mẹ trông cậy. Ông có thể chống chọi với thời cuộc, xoay xở để sống sót. Một người đẹp mã, lại rất đàn ông như ông, hẳn đã không khước từ cưu mang bà. Cũng có thể bà đã là vận may rơi vào tay ông, bởi vì dù sao bà cũng là người phụ nữ trẻ trung, vẫn còn mang theo mình ánh hào quang của giới thượng lưu thời tiền cách mạng, cái giới mà ông - vốn sinh ra trong một gia đình tiểu thương buôn hàng tạp hóa - chẳng bao giờ với tới. Bà vừa trẻ, lại vừa đẹp, trong trắng ngây thơ, bơ vơ lạc lối giữa dòng đời, tự dưng rơi vào tay ông như một món quà thời chiến. Bị sức mạnh của ông lôi cuốn, cũng lại bị mê mẩn bởi lòng ham muốn thô thiển và ngạo mạn của ông đối với mình, bà đã dành cho ông mối tình đầu đầy say đắm, một mối tình mà trong thời chiến, khi cái chết luôn luôn ở kề bên, chắc hẳn cũng mang cả ý nghĩa sống còn nữa.

Liệu lúc lấy ông, mẹ tôi có biết gì về người vợ trước - một người Do Thái - từng có hai con với ông không? Cuộc hôn nhân mà mãi về sau, do tình cờ tôi mới biết được này, đối với tôi, là góc tối nhất trong tiểu sử vốn đã tối tăm của bố tôi. Không bao giờ ông nhắc đến quá khứ của mình dưới thời Liên Xô, quá khứ ấy đóng kín trong lòng ông như đóng trong két sắt mà đến ông cũng chẳng có chìa để mở. Đến cả mẹ tôi, sau khi bà mất, ông cũng không nhắc đến lấy một lần, cứ như thể bà chưa từng tồn tại ở đời này vậy. Em gái tôi với tôi bị bỏ lại ở cuộc đời này với ông, người đàn ông đắm mình trong một cuộc di tản vào nội tâm sâu kín. Ngoài những cơn điên loạn dữ dội khôn lường, hai chị em tôi chỉ thấy ông ngồi lặng thinh, uống rượu, hút thuốc, đọc những quyển sách tiếng Nga dày cộp mà mỗi tháng một lần ông vẫn đặt thư viện Tolstoi ở München gửi đến nhà. Họa hoằn lắm, vào những lúc hứng chí, ông mới kể chúng tôi nghe về cuộc đời thời trước cách mạng của ông ở Kamyshin, về các lễ hội tôn giáo có từ lâu đời, về các đám cưới, đám ma, về việc ông hát trong dàn đồng ca nhà thờ, và lần nào cũng như lần nào, về giống dưa đỏ khổng lồ mọng nước nhất thế giới mọc bên bờ sông Volga chảy dài gần như vô tận, con sông mà so với nó, sông Elbe của Đức (chẳng biết ông đã thấy nó bao giờ chưa nữa?) chỉ ngang cái rãnh nước là cùng. Chi tiết duy nhất ông từng lộ ra về bản thân là về chuyện lúc ông mười ba tuổi, cả bố lẫn mẹ ông đều chết vì bị thương hàn, còn ông và hai đứa em trai thoát chết đói nhờ ông đổi căn nhà con con của bố mẹ mình được bao bột mì. Hàng chục năm sau, nhờ đọc nhật ký của bác Lidia, tôi mới biết kiểu đổi chác như thế chắc thuộc về cái gọi là dịch vụ “bắt chẹt” mà ông ngoại tôi hôm xưa trong tư cách công tố viên vẫn phải truy lùng.

Tôi không bao giờ biết gì thêm về số phận của gia đình trước đây của bố tôi, thế nhưng, sự tồn tại của gia đình ấy cho thấy nét tương đồng giữa cuộc đời mẹ tôi với cuộc đời tôi. Cả hai mẹ con tôi đều sinh ra trong hai gia đình kế tiếp của các ông bố, cùng là con cái lớp sau của hai người đàn ông đã luống tuổi bỏ vợ để lấy hai người vợ trẻ hơn mình rất nhiều. Ông ngoại Jakov của tôi, hình như đã bỏ người vợ đầu ở lại Siberi và đưa người con trai chung về Warsaw, nhưng bố tôi thì sao? Lúc làm quen với mẹ tôi, ông đã chia tay người vợ đầu chưa, hay ông đã bỏ mặc bà cùng hai đứa con giữa lúc người Do Thái đang bị săn đuổi truy nã ráo riết, để cùng người vợ kế mới ba mươi tuổi lánh sang Đức? Bị bỏ rơi như thế, liệu bà vợ đầu của bố tôi và những anh em cùng cha khác mẹ của tôi có bị bọn Quốc xã sát hại không, hay họ đều đã chết khi bố mẹ tôi gặp nhau? Tôi sẽ không bao giờ biết được điều đó nữa. Bí mật đó, và chắc không phải chỉ một bí mật đó mà thôi, bố tôi đã mang theo mình xuống mồ, khi vào năm 1989, tức là ba mươi ba năm sau khi mẹ tôi mất, ông đã qua đời - tại một trại dưỡng lão trên đất nước Đức trong cảnh mù lòa, già nua và câm lặng.

Hồi đó, việc dồn dân Ukraine sang Đức được mở đầu bằng đợt tuyên truyền liên tục của kẻ chiếm đóng. Bước chân đến đâu, bất kỳ lúc nào, dân Liên Xô hôm xưa cũng được kêu gọi tình nguyện sang Đức làm việc, họ được hứa hẹn một cuộc sống trên thiên đường. Đâu đâu cũng diễn ra chiến dịch nhồi sọ đó: trong rạp chiếu phim, đài phát thanh, công sở, nhà ga, nhà hát, khắp đường khắp phố. Trên các tấm quảng cáo khổng lồ nhiều màu sắc, người ta vẽ đàn ông Ukraine hớn hở trong các xưởng máy hiện đại của Đức, các cô gái Ukraine ăn mặc đẹp đẽ đang nướng bánh kiểu Đức trong các căn bếp của người Đức. Các cô gái Ukraine được ưa chuộng trong chân người phục vụ tại gia đến mức, năm 1942 đích thân Hitler ban hành lệnh đưa nửa triệu các cô gái này sang Đức phục vụ tại gia nhằm đỡ việc cho đàn bà Đức. Ngày ngày, trên các loại báo chí đều đăng những lời kêu gọi, kiểu như sau:

Hỡi các bạn nam nữ Ukraine

Bọn Chính ủy bolshevik đã phá hủy công xưởng, nhà máy của các bạn và lấy mất miếng ăn cùng việc làm của các bạn. Nước Đức dành cho các bạn những công việc hữu ích và lương cao. Tại Đức, các bạn sẽ được hưởng điều kiện làm việc tuyệt vời, được trả lương theo các bậc lương tương ứng với năng suất lao động. Chúng tôi quan tâm đặc biệt đến công nhân Ukraine. Nhằm tạo điều kiện thích hợp để các bạn sinh sống và duy trì văn hóa của chính mình, chúng tôi sẽ xây đựng khu dân cư dành riêng cho các bạn, trong đó có đầy đủ mọi thứ tiện nghi: rạp chiếu bóng, nhà hát, bệnh viện, đài phát thanh, hồ bơi vv… Dân chúng Ukraine sẽ ở trong các căn hộ sáng sủa, rộng rãi, đầy đủ tiện nghi, bạn sẽ ăn uống, sinh hoạt giống như công nhân Đức. Ngoài ra, các nhà bếp tại Đức đều tôn trọng các thói quen và khẩu vị riêng của các dân tộc, cho nên, trong thực đơn dành cho công nhân Ukraine bao giờ cũng có varenki, galushki, kvas vv…

Nước Đức đang chờ đón bạn! Hàng trăm ngàn người Ukraine đang lao động trên đất nước Đức tự do và hạnh phúc. Bạn nghĩ thế nào? Trong khi bạn lưu lại ở nước Đức, chúng tôi sẽ lo liệu cho gia đình bạn tại quê hương.

Lúc đầu, giọng điệu tuyên truyền kiểu này tỏ ra hiệu nghiệm lắm. Không phải tất cả số nhân công gọi là nhân công miền Đông này đều bị cưỡng bức bằng vũ lực bắt sang Đức đâu; mới đầu đã có rất nhiều người tự nguyện. Phải về sau, sự thực về các điều kiện sống và lao động không thiên đường chút nào trên đất Đế chế Đức mới dần dần rò rỉ ra. Mới đầu chỉ xuất hiện những ám hiệu trong thư từ, chẳng hạn, một bông hoa của đứa con trai mười sáu tuổi vẽ trong thư gửi mẹ - đó là quy ước giữa hai mẹ con báo tin con không được ổn. Về sau, càng ngày càng có nhiều người quay về từ Đức, những người sức lực đã kiệt quệ, bị đẩy về quê, vì chẳng ai cần đến họ nữa. Những gì họ kể khiến dòng người tình nguyện nhanh chóng thu nhỏ lại: điều đó trở thành vấn đề nghiêm trọng cho nền công nghiệp chiến tranh của Đức, bởi hầu hết đàn ông Đức đều phải ra mặt trận, ở hậu phương không còn nhân công lao động nữa.

Trong khi đó cuộc chiến tiếp tục không ngừng ngốn đủ loại của cải sản xuất ra, kết quả cuộc chiến thành ra phụ thuộc vào lực lượng nhân công nô lệ nhập từ tất cả các nước, nhất là từ Liên Xô, hay đúng ra là từ Ukraine. Hitler bổ nhiệm một trong những Tổng trưởng gương mẫu của mình là Fritz Sauckel làm Cao ủy phụ trách nhân công lao động. Cái gã có bố là viên nhân viên bưu điện và mẹ là thợ may này - một kẻ về sau, trong phiên tòa quốc tế Nürnberg, được mệnh danh là “tên quản nô lớn nhất và dã man nhất kể từ thời Pharaon đến giờ” - đã ra lệnh “vất bỏ các tàn dư của chủ nghĩa nhân đạo giả tạo” để ra tay săn lùng người làm nhân công lao động. Ukraine là xứ sở ưu tiên của bọn săn người. Dân Ukraine, những người chiếm đa số trong số nhân công miền Đông hồi đó, được xem là giống người Slave hạ đẳng, thấp hơn họ trên bậc thang chủng tộc chỉ còn người Di-gan và người Do Thái mà thôi. Họ có thể bị bắt bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu, ngoài đường phố, trong rạp chiếu phim, quán nước, bến tàu, bưu điện, họ có thể bị ruồng bố, lôi từ những nơi họ lẩn trốn, phòng ngủ, hầm ngầm, nhà kho. Họ bị lùa ra ga, đẩy lên các toa tàu chở gia súc để đưa sang Đức. Vô vàn người bị đưa đi mất tích, không có gì trên người ngoài bộ áo quần đang mặc. Đáng chuộng nhất là đám thanh niên giàu sức khỏe - ngày ngày, các đoàn tàu hàng nhồi nhét đầy ắp thanh thiếu niên Ukraine nối nhau chạy sang Đức. Nhưng về sau, cả những người đã đến độ tuổi bốn mươi, năm mươi cũng bị bắt đi, về sau nữa, cả người già lẫn người ốm yếu cũng không thoát. Có những khu làng dân cư bị lùa đi hết, kể cả bà già, con trẻ, làng xóm trống không để lại đều bị thiêu đốt hết. Mới đầu, tuổi tối thiểu của một nhân công nô lệ là mười hai, sau tụt xuống mười. Mà không phải chỉ có vậy: mùa hè năm 1942 chính quyền Đức ra luật bắt tất cả thanh niên Ukraine từ mười tám đến hai mươi tuổi phải thi hành nghĩa vụ lao động hai năm tại Đế chế Đức. Hàng ngày, có tới hàng chục ngàn thanh niên bị chở sang Đức, và nơi ăn chốn ở của tất cả những con người này được bố trí ở mức tối thiểu, nhưng họ phải làm cật lực ở mức tối đa theo lệnh của Cao ủy Fritz Sauckel.

Một người bạn gái Đông Đức từng mách tôi đọc tập sách của nhà xuất bản Reclam xuất bản năm 1962 tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Trong tập này có đoạn văn ngắn do Franz Fühmann - hồi đó là lính thông tin tại mặt trận Ukraine - viết như sau:

Trước mặt chúng tôi là một chuỗi người, bị dồn sát vào vách lán, câm lặng, khẽ đung đưa. Đó là những người đàn bà, các cô gái người Ukraine đứng xếp hàng ba trước dãy lán và khẽ đung đưa người; họ đứng sát bên nhau, người này ngoắc tay người kia và khẽ đung đưa như thân cỏ dại trước gió. Ai nấy trong số họ đều để một gói nhỏ nằm dưới đất ngay trước chân mình; túi nhỏ thôi, gói ít quần áo, một cái nồi, một cái thìa; họ đứng như thế mãi, gió thổi vù vù trên nóc lán và lúc này chúng tôi mới vỡ nhẽ, hóa ra họ không câm lặng chút nào, mà đang hát, rất khẽ trong cổ họng, một bài hát thật dịu dàng. Đứng trước hàng các bà các cô là lính gác, súng khoác vai, mặc áo lông thú. Một viên trung sĩ đi đi lại lại, miệng hút thuốc; tiếng đầu tàu hỏa hét chói tai rồi mệt đoàn tàu chở hàng đen ngòm lăn trên đường ray. Chúng tôi đứng yên một chỗ, mắt tôi nhìn trân trân vào các bà các cô, và một chị đứng gần chỗ chúng tôi quay đầu nhìn thẳng vào tôi và Nikolai lẫn Vladimir - hai cậu thanh niên thuộc hàng ngũ quân tình nguyện, tay đeo băng vải gắn mấy chữ “HIWI”[1] - rồi thúc vào chị đứng bên cạnh. Hàng người các bà các cô liền chuyển động, người nào người nấy lần lượt quay đầu nhìn thẳng mặt hai viên tình nguyện quân lẫn hàng chữ HIWI trên tay áo họ. Sau đó, họ lại lặng lẽ quay đầu lại như cũ. Mặt hai viên tình nguyện quân trắng bệch, môi run run, mấp máy. Đoàn tàu hàng dừng lại, làn khói xám lan ra, như một tấm màn ấm áp; tôi đã nghĩ hai gã tình nguyện quân sẽ nhân làn khói chuồn đi, song họ vẫn đứng nguyên như trời trồng tại chỗ. Cánh cửa các toa tàu mở sang hai bên, khoang bên trong há ra toang hoác và các bà các chị lặng lẽ nhấc túi hành lý của mình lên. Viên trung sĩ quát: “Nào, nào, nhanh lên!” Đám lính dằn họ tên phía trước; đang lúc như thế thì Vladimir chợt kêu lên, buông cuộn dây điện khỏi tay rồi nhảy phắt lên toa tàu; một chị đã quay người đi bỗng ngoảnh lại về phía anh ta, Vladimir gọi tên ai đó, một tiếng gọi gầm gừ trong họng. Một lính gác tiến nhanh lên phía trước, ẩy mạnh vào ngực Vladimir và quát chúng tôi hãy tránh ra hai bên. Vladimir nắm hai tay thành hai nắm đấm, tên lính gác giương súng; tôi nắm vai Vladimir kéo ra sau, anh ta bỗng nhũn cả người, quay lưng bước đi, loạng choạng đầu cúi gằm, về phía ngôi lán, còn Nikolai vẫn đứng yên, hàm đưa qua đưa lại. Đám phụ nữ đã biến vào bên trong toa tàu chở hàng tối om, và lần đầu tiên bỗng dưng tôi nhìn thấy cái mà ở ga hàng hóa này tôi đã chứng kiến cả chục lần và đánh điện tín đi: đoàn tàu chở nhăn công sang Đức, đến Berlin, tới Vienna hay Essen và Hamburg. Song bây giờ tôi mới thấy: Lạy Chúa, họ không ai mang giày ở chân, chỉ một gói giẻ rách, quấn ngực và lưng bằng giấy xé ra từ bao xi măng, không ai có chăn, các toa tàu không có lò sưởi, lòng toa tàu chỉ phù một lớp trấu mỏng, nước bám trên lưới sắt bịt các cửa sổ đã đóng băng. Viên trung sĩ bước đến gần. “Anh trố mắt ra nhìn cái gì đấy?” hắn khẽ khàng hỏi tôi. Tôi vội đánh bản tin đi, rồi cùng với Nikolai nhấc cuộn dây điện thoại rời đi nơi khác. Vladimir đang đứng trước cửa ga, lưng tựa vào một thân cây; mắt anh ta nhắm nghiền, toàn thân run lên. Tôi đặt tay lên vai anh ta, toan lựa đôi lời nói với anh ta; tôi định bảo các bà các cô rời Kiev có lẽ là hay và ở bên Đức họ sẽ được ăn ở đàng hoàng, nhưng miệng tôi đâu có thốt được lời nào. Tôi lôi túi thuốc ra mời mỗi người một điếu; chúng tôi hút, lặng thinh nghe tiếng tàu chạy mỗi lúc một nhanh và mỗi lúc một rời xa; đầu tàu tút còi thêm lần nữa rồi tiếng tàu chạy tắt dần trong ánh sáng ban ngày xám xịt. Liệu đó là người yêu hay em gái anh ta? Tôi đã định hỏi, nhưng rồi thôi, không hỏi nữa.

Đọc đoạn văn này, có lẽ tôi cũng tưởng tượng được cảnh mẹ tôi đứng dựa lưng vào ngôi lán nào đó ở nhà ga và cùng với những người đàn bà khác rì rầm hát một bài dân ca Ukraine rồi đấy, thế nhưng, tôi biết, mọi sự không phải như vậy. Mẹ tôi rời Ukraine không phải bằng đường bộ, mà đường thủy, băng qua Hắc Hải như ông bác Valentino của bà trước đó. Các kỷ niệm của tôi trùng với số tài liệu của bộ chỉ huy quân quản Mĩ do một cơ quan quốc tế hỗ trợ việc tìm kiếm người thân gửi cho tôi. Tôi trân trân nhìn vào mớ giấy tờ như nhìn các bằng chứng ma quỷ về một sự thực mà tôi chưa bao giờ nhận thức rõ. Số giấy tờ ố vàng ấy không ghi rõ ngày tháng, song đó là các thông tin liên quan do bố mẹ tôi khai trong đơn xin nhập cảnh vào nước Mĩ. Các chặng đường họ trải qua chứng minh một điều chắc chắc là hai người đã tìm đường trốn tránh Hồng quân Liên Xô.

Tôi không biết bố tôi đã làm gì dưới thời quân Đức chiếm đóng Mariupol. Rất có thể ông còn có nhiều lý do hơn mẹ tôi để chạy trốn nhà cầm quyền Xô viết lúc đó đang sắp quay trở lại, nhưng nếu tội lỗi mẹ tôi xưa kia mới chỉ là ở chỗ bà xuất thân từ gia đình Nga gian, tư bản và phản cách mạng, thì nay bà còn thêm tội làm nhân viên sở lao động, một mắt xích trong bộ máy tuyển dụng, bắt người của Đức và do đó, trở thành kẻ chống nhà nước Xô viết, kẻ phản quốc, làm tay sai cho địch. Nếu may, bà sẽ chỉ bị đi đày. Nếu không may, thì trong tay chính quyền Xô viết sắp được tái thiết lập tại thành phố, bà có thể bị xử bắn ngay tại chỗ.

Trước khi lên đường, hai người lấy nhau. Ngày tháng ghi trên bản sao giấy chứng nhận hôn thú cho thấy, hai người đăng ký kết hôn sáu tuần trước khi quân Đức quyết định rút lui, khi chúng cầm chắc Hồng quân sắp chiếm lại thành phố. Họ lên đường nhập cuộc phiêu lưu trong tư cách vợ chồng, như thế, họ những mong nguy cơ hai người bị xé lẻ ra dọc đường, mỗi người một ngả, sẽ giảm đi ít nhiều.

Vào một ngày tháng Tám năm 1943 mẹ tôi bước chân lần cuối cùng qua vòm cổng đã phong hóa của ngôi nhà mình ở. Không biết hồi đó trông thành phố quê hương bà thế nào nhỉ? Toàn bộ thành phố Mariupol cháy rụi, đổ nát vì bom đạn, cũng vào năm ấy, ông Friedrich Wolf - đại diện Hội đồng quốc gia nước Đức tự do - đã viết như thế trong thư gửi vợ. Vâng, bức tranh cuối cùng thành phố trải ra trước mắt mẹ tôi là bức tranh điêu tàn và đổ nát. Ai cũng thừa biết quân Đức đã thua trong cuộc chiến này, thế nhưng ở giây phút cuối, quân Đức đã thẳng tay tàn phá nốt những gì còn sót lại ở Mariupol. Chúng điên cuồng gài bom mìn lần lượt làm nổ hết ngôi nhà này đến ngôi nhà khác, dùng súng phun lửa vào những ngôi nhà còn nguyên vẹn, chúng phá hủy hết trường học, nhà trẻ, nhà thương, thư viện, kho tàng, bể nước, cốt làm sao để lại một thành phố tan hoang đổ nát cho Hồng quân Nga đang tiến đến gần.

Không biết mẹ tôi đã mang theo những gì cho cuộc hành trình sang đất khách quê người ấy. Món thừa kế duy nhất đáng giá tôi giữ được và hiện giờ đang treo trên tường nhà tôi ở là bức tranh thánh mạ vàng vẽ một loạt các Thánh có danh có tiếng của đạo Cơ đốc Chính thống Nga. Tôi có ba bức ảnh, trong đó có tấm chụp một mình mẹ tôi đội khăn trùm đầu bà tự tay đem theo làm kỷ niệm. Tôi biết mẹ đã mang theo giấy đăng ký kết hôn và một số giấy tờ mà dạo còn nhỏ, tôi đã hủy đi, cùng hai tập thơ và truyện ngắn tiếng Nga mẹ tôi vẫn thường đọc cho tôi nghe. Tập sách đã bị thất lạc, thế nhưng cho đến tận hôm nay, những tờ giấy đã rách, ngả màu nâu xỉn nặng mùi mốc hăng hắc ấy đã trở thành một phần trong con người tôi. Tôi vẫn còn thuộc lòng những dòng chữ trong đó, những vần thơ nổi tiếng của Pushkin về con mèo biết đọc, đêm ngày lượn vòng quanh cây sồi xanh trên sợi dây xích bằng vàng, bài thơ của Lermontov về cánh buồm trắng cô độc lấp loáng trong sương mù trên mặt biển xanh và ngơ ngác không biết tìm gì ngoài biển khơi xa. Tất cả những thứ đó nằm lẫn cùng nhiều đồ đạc lặt vặt khác trong bọc đồ mẹ tôi mang theo lần cuối cùng khi chui qua vòm cổng ngôi nhà từ lâu đã vào tay người khác. Rất có thể cô Tonia là người đã giúp mẹ tôi gói ghém đồ đạc, cũng có thể cô đã đi cùng mẹ tôi thêm một đoạn đường. Cô Tonia, con người mang tấm lòng nhân hậu ấy, người mẹ thứ hai của mẹ tôi, người từng thay tã thay lót cho bà, từng ẵm nựng bà trên tay, từng dạy bà các bài hát Ukraine, cũng là người tiễn biệt bà mãi mãi ra đi.

Theo hồ sơ quân quản Mĩ, chặng dừng đầu tiên trên đường tháo chạy của bố mẹ tôi là Odessa. Có lẽ, lúc rời Mariupol ra đi, hai người chưa hề có ý định sang tận Đức. Có lẽ hai người chỉ định đến Odessa thôi, một thành phố cảng lúc đó vẫn còn nằm gọn trong tay quân chiếm đóng Đức. Bởi vì, theo như hồ sơ của quân đội Mĩ thì dẫu gì bố mẹ tôi cũng đã lưu lại thành phố bên bờ Hắc Hải này những tám tháng liền. Trong hồ sơ không ghi nghề nghiệp mẹ tôi là gì, còn nghề bố tôi là thủ thư. Từ xưa tôi vẫn tưởng bố tôi do chiến tranh loạn lạc nên phiêu bạt đến Ukraine, nhưng hóa ra ông đã ở Mariupol từ năm 1936 và làm nghề kế toán ở đó. Số hồ sơ lập ra từ năm 1947 và sắp đưa đi thanh lý của quân quản Mĩ cho tôi biết thêm nhiều thông tin về ông, những thông tin ông chẳng bao giờ cho tôi biết và làm nảy sinh bao nhiêu là nghi vấn mới.

Tên gọi Natascha của tôi cho thấy, có thể bố mẹ tôi đã được bà Natalia cưu mang ở Odessa. Natascha là tên cúng cơm của Natalia, và tôi đoán chừng mẹ đặt tên tôi như thế để tỏ lòng biết ơn bà, người đàn bà rụt rè, dáng dấp còn con gái và ánh mắt mang vẻ bất cần nọ. Mẹ tôi đã chọn tên con người cuối cùng bà chung sống trên đất Ukraine để đặt cho tôi.

Đúng ngày 10 tháng Tư năm 1944 Hồng quân Nga tái chiếm Odessa - và vào phút chót, bố mẹ tôi đã rời khỏi Ukraine. Đối với tôi, câu hỏi vẫn còn để ngỏ là ông bà tự nguyện hay đã bị truy bức rời khỏi Odessa. Nhưng một điều chắc chắn có thể loại trừ ngay là, đến lúc đó, hai người vẫn chưa biết những gì đang chờ họ trên đất Đức. Có lẽ bố mẹ tôi đã rơi vào tình thế hai chọn một, vỏ dưa hay vỏ dừa, lao động cưỡng bức trên đất Đức hay chết tại xứ Ukraine. Biết đâu hai người đã nuôi hy vọng qua Đức trước, rồi sang Mĩ sau. Tôi vẫn biết bố mẹ tôi mong ước như thế từ lâu. Nước Mĩ hình như ngay từ đầu đã là đích cuối cùng của ông bà. Đức phải chăng là nơi dừng chân bắt buộc, lao động cưỡng bức là cái giá phải trả cho ước mơ sang Mĩ. Hay tất cả những phỏng đoán đó của tôi đều trệch? Biết đâu ông bà chỉ muốn lánh đến Odessa, nhưng ở đó, đã bị lùa bắt đưa đi như bao nhiêu người khác?

Cứ như thể càng tiến gần đến Đức, mẹ tôi lại càng xa tôi ra vậy. Một cách thật bất ngờ, tôi đã vén được tấm rèm che cuộc sống mẹ tôi ở xứ Ukraine, thế nhưng về giai đoạn bà bị cưỡng bức lao động trên đất Đức thì tôi lại không tìm thêm được gì nữa hết, sau khi tôi đọc được những dòng viết trên thẻ lao động của bố tôi, và cũng chỉ biết được đến thế. Để vẽ lại tuyến hành trình của mẹ tôi đến nước Đức, lúc đầu hồ sơ của quân cảnh Mĩ còn giúp tôi định hướng, chứ về sau tôi chỉ biết dựa vào các sách vở ghi chép về lịch sử hay hồi ký thôi. Hồ sơ của quân Mĩ không cho biết bố mẹ tôi đã đến Rumani theo đường nào, nhưng trong trí nhớ tôi thì bố mẹ hay nhắc đến một chuyến đi bằng tàu thủy, một chuyến đi mà suốt dọc đường, họ bị máy bay ném bom của Hồng quân luôn luôn quần thảo.

Tôi hình dung ra trước mắt mình cảnh tượng hết đám người này đến đám người khác bị bắt, rồi lùa từ trong thành ra cảng Odessa, dồn lên khoang trên của các con tàu đang neo sẵn ở đó. Chỉ một lúc sau mẹ tôi sẽ nhìn thấy bờ biển Hắc Hải mỗi lúc một rời xa, bầu trời trong xanh của xứ sở Ukraine sẽ mãi mãi biến khỏi tầm mắt bà, sẽ bị nhấn chìm dưới những đợt sóng biển tháng Tư dữ dội. Bà sẽ chẳng còn lúc nào để buồn than khóc lóc. Bà biết mình có thể mất mạng chỉ trong vài giờ tới, bởi vì hạm đội quân Đức trong lúc rút lui tháo chạy sẽ bị Hồng quân oanh tạc không thương tiếc.

Thông thường, hàng vận chuyển trên các con tàu của Đức rời Odessa sang Rumani đúng ra là các nguyên liệu quan trọng cho nền công nghiệp quân sự Đức. Đám nhân công lao động bị bắt theo chỉ là lá chắn chống lại Hồng quân Xô viết luôn tìm cách tấn công tàu bè địch cả từ trên không lẫn trên mặt biển. Hàng trăm, hàng ngàn con người chen chúc nằm ngồi la liệt trên các khoang tàu chỉ che sơ sài đôi tấm bạt gọi là chống mưa rơi gió lạnh; ai nấy nơm nớp chờ cái chết ập đến lúc nào không biết. Đôi khi phi công Xô viết không nhận ra có đông dân thường trên khoang tàu, nhưng đôi khi họ cũng cố ý phớt lờ đồng bào họ đang phơi mình trên đó, chỉ cốt làm sao đánh đắm được tàu địch. Chà, đối với họ, đó chỉ là quân phản bội, bọn đầu hàng, theo chân địch, mạng sống chẳng còn giá trị gì nữa hết. Đã có lần, trong một trận oanh kích từ trên không như thế, tám ngàn người phải bỏ mạng ngoài khơi biển Hắc Hải.

Con tàu chở bố mẹ tôi đã đến được Rumani, nhưng cập ở bến nào thì tôi không biết. Theo hồ sơ của quân đội Mĩ, trạm tiếp theo trên đường sang Đức là “trại trung chuyển Brailov”. Brailov là tên gọi tiếng Anh của thành phố Brăila nằm trong đất liền ở vùng hạ lưu sông Danube. Có thể con tàu đã chạy thẳng đến đó, nhưng cũng có thể nó đã cập bến vào hải cảng lớn nhất của Rumani bên bờ Hắc Hải là Constanţa, sau đó mọi người được đưa lên tàu hỏa chở đến Brăila cách đó hai trăm cây. Có thế nào đi nữa, đến được Rumani là bố mẹ tôi đã sang được thế giới khác rồi. Vì Rumani là đồng minh của Đức, cho nên, trên lãnh thổ Rumani, nhà nước Xô viết không thể vươn tới họ được nữa. Mẹ tôi chưa dám tin vào mắt mình, song, cái giờ phút bà không bao giờ tin sẽ có ngày được chứng kiến ấy đã đến; giờ phút bà thoát nạn, thật sự thoát nạn. Bà đã thoát chết, đến được với tự do. Lúc đó, hẳn bà đã có cảm tưởng như thế.

Như tôi dự đoán, các tìm kiếm qua mạng Internet về trại trung chuyển Brăila đều không thành. Ai đâu đủ sức mà ghi nhận rà soát cho hết được bấy nhiêu trại trung chuyển, trại tạm trú, trại sàng lọc trên đất châu Âu hồi ấy! Dựa theo bản đồ địa lý mà xét thì Brăila thuộc vùng Wallachia; tôi nhớ ngón tay mình từng di qua chốn này trên bản đồ. Tôi đã tìm thấy trong Danh mục các dòng họ quý tộc Áo thế kỷ 18 rằng một người rất có thể là tổ tiên của cố ngoại Anna von Ehrenstreit tôi, tên là Jacob Zwillach, Edler von Ehrenstreit - chỉ huy Trung đoàn bộ binh Wallachia thứ nhất - xuất thân chính từ xứ Wallachia đất Rumani này. Không rõ mẹ tôi có biết Brăila - trạm dừng chân đầu tiên trên thế giới mới đối với bà - nằm tại vùng Wallachia, là nơi xuất xứ của tổ tiên bên nội của bà không? Liệu mẹ tôi có biết gì về lịch sử dòng họ mình không? Hay dần dần tôi lại là người biết về dòng họ tổ tiên mình còn nhiều hơn cả bà hồi đó? Hiểu biết của bà về nguồn gốc tổ tiên cũng ít ỏi như của tôi ư? Phải chăng, bà không những chỉ là một con người không có tương lai, bà cũng còn là con người phi quá khứ?

Hàng giờ liền, tôi cứ ngắm mãi các bức ánh chụp ở trạm trung chuyển, với niềm hy vọng mỏng manh, biết đâu có thể nhận ra khuôn mặt người mẹ hai mươi bốn tuổi của tôi lúc ấy giữa dòng người vô tận đó. Những thanh thiếu nữ choàng khăn trùm đầu, lủng củng hộp các tông, túi xách; một số trong đó trông còn như con nít, quần áo rách rưới. Ai nấy đều hoang mang, không biết người ta lôi họ từ phố xá làng mạc quê hương mình đến tận đâu. Một dòng vô tận những con người vô danh, chỉ được đánh số. Ai trong số họ cũng đều có thể là mẹ tôi cả.

Đặt chân đến trạm trung chuyển gọi tắt là dula này, những ai mới đến đều được ghi danh, đếm đầu người, kiểm tra sức lao động, phân loại, thanh lọc. Họ sẽ được đưa đi tẩy trùng, bằng cách phun qua quần áo lên các chỗ kín trên người họ một thứ như dầu hỏa, hoặc họ phải cởi hết áo xống, để đưa quần áo, hành lý vào cái gọi là khoang tẩy trùng, khử sâu, diệt bọ. Nếu có vòi tắm hoa sen thì họ được tắm. Nhưng có lẽ cái dula ở Brăila - cũng giống như nhiều trại khác - chỉ là bãi đất trống giữa trời cho người ngồi chờ xe chở đi tiếp. Nhiều người đổ bệnh, do trên đường đi đã kiệt sức, chẳng có gì ăn, lại nằm ngủ ngay trên nền đất lạnh, giữa bùn lầy, giá rét, gió mưa. Chẳng thế mà tỉ lệ người bỏ mạng tại các trại trung chuyển này rất cao, vô số người đã chẳng bao giờ đến được đích nữa.

Trên thẻ lao động của bố tôi ghi rõ ông đến Đức ngày 14 tháng Năm năm 1944, nhưng mãi đến mồng 8 tháng Tám thẻ mới được cấp - như vậy là có một khoảng thời gian trống, tôi lại phải đoán già đoán non tìm cách lấp đi. Phải chăng bố mẹ tôi, cũng như bao nhiêu người khác, trong cảnh hỗn loạn hồi đó đã bị đưa từ dula này sang dula khác? Mỗi lần đến nơi mới, ông bà lại phải ghi danh từ đầu, lại phải chịu thẩm vấn, sàng lọc, điểm danh, kiểm tra sức lao động, tẩy trùng ư? Các Sở Lao động hồi đó ở Đức đều quá tải trước số lượng người ùn ùn kéo đến, không sao kịp xử lý các đợt nhân công liên tiếp dồn đến, bên cạnh đó, nhân viên các sở này còn phải làm cho số nhân công mới nhanh chóng chấp nhận số phận trong tương lai của họ, rằng từ nay họ không còn là những con người cụ thể, mà chỉ là các đối tượng người ta có thể đối xử tùy tiện theo ý muốn. Song, cũng có thể bố mẹ tôi đã không phải trải qua cuộc hành trình la lết từ dula này đến dula khác như thế, mà từ Brăila, hai người bị đưa thẳng đến Leipzig. Nếu vậy thì Sở Lao động ở đó đã chậm chạp, phải mất những ba tháng mới cấp xong thẻ lao động cho ông bà.

Bố mẹ tôi đi đường nào từ Brăila đến Leipzig, hồ sơ của quân quản Mĩ cũng không lộ ra cho tôi biết. Hoặc hai người đã đi tiếp bằng tàu thủy, theo dòng Danube xuyên qua đất Serbia và Hungari rồi cập bến đâu đó gần Passau để đặt chân lên đất Đế chế Đức, hoặc hai ông bà bị lùa lên một toa tàu chở gia súc nào đó thuộc những chuyến tàu chở nguồn nhân công không bao giờ cạn kiệt từ mọi phương trời sang đất Đức. Đó là những người Ukraine, vâng, đông nhất là người Ukraine, nhưng ngoài ra còn có cả người Nga, Ba Lan, Latvia, Lithuania, Estonia, Bạch Nga, Azerbaijan, Tajikistan, Uzbekistan, Hy Lạp, Bungari, Nam Tư, Hungari, Tiệp, Pháp, Ý và nhiều nước khác nữa, thậm chí có cả người Hoa. Như thế, trên chuyến đi xuất ngoại đầu tiên, mẹ tôi đã đi cùng với một đoàn người rất quốc tế.

Vượt qua một ngàn tám trăm cây số từ Brăila đến Leipzig, thành phố của Gottfried Wilhelm Leibniz, Friedrich Nietzsche, Karl Liebknecht, Johann Sebastian Bach. Bây giờ, thành phố nằm trong tay bọn Quốc xã man di mọi rợ. Nhà ga đầu mối nổi tiếng đã bị phá hủy gần như hoàn toàn trong một ngày, dưới bốn mươi sáu tấn bom Mĩ. Mẹ tôi đã chứng kiến những gì trong thành phố này? Có lẽ chỉ là những đống gạch ngói đổ nát cắm cờ chữ thập ngoặc. Các đống đổ nát và trại giam ở khắp nơi. Mẹ tôi đã ngã ngửa nhận ra rằng bà đã không lên được thiên đường, mà rơi xuống địa ngục, xuống giữa một kiểu trại Gulag bà những tưởng đã trốn thoát.

Nói cho công bằng, thì cũng có những người trong số nhân công cưỡng bức sang Đức gặp may. Tại một số xí nghiệp nhỏ, trong một số nhà dân, hay đôi ba nông trại riêng lẻ, họ được đối xử không tệ, đôi khi cũng có trường hợp họ được chấp nhận thành thành viên gia đình. Nhưng mẹ tôi không may mắn gặp được chủ nhà nào như thế, và nếu có gặp, thì cũng chưa chắc mẹ tôi đã sung sướng gì. Do mẹ tôi vụng về trong các công việc nội trợ, nhất là việc nội trợ trong gia đình hay nông trại người Đức, nên thể nào mẹ tôi cũng bị chủ nhân chê bai, ghét bỏ. Ngoài ra, các chị em người Slave bị đưa về làm lao công tại các gia đình riêng, còn dễ dàng bị lạm dụng cả về mặt tình dục theo cách này hay cách khác.

Tôi còn nhớ lão nông dân xứ Franken, chủ căn nhà nhỏ nằm ngoài rìa một ngôi làng nhỏ, mà trước đây đã lâu rồi, tôi từng thuê qua suốt mùa hè để yên tĩnh viết lách. Vào dịp cuối tuần, anh bạn tôi hồi đó vẫn đến thăm, nhưng trong tuần thì thường tôi chỉ ở đó một mình. Lão chủ nhà - cũng là chủ một nông trại còn sót lại ở làng bên và do tật nghiện rượu mà phải về hưu non - thỉnh thoảng cũng ghé thăm tôi. Lão lấy cớ đem vài ba quả trứng gà mới đẻ hay miếng thịt lợn muối để ghé qua biếu tôi. Thế nhưng ánh mắt kẻ say rượu bao giờ cũng để lộ ý đồ khác của lão. Loạng chòa loạng choạng, hổn hà hổn hển, lão thèm thuồng nhìn trân trân vào tôi bằng cặp mắt trắng dã. Mặc dù, nếu có lâm nguy tôi vẫn thừa sức đối chọi với lão, bởi lão bao giờ cũng say đến mức đứng còn chẳng nổi, thế nhưng lần nào lão ló mặt đến, thường vào buổi tối, tôi cũng đâm hoảng, bởi ngôi nhà đã lẻ loi ở rìa làng lại lọt vào giữa mảnh rừng tối om. Lần nào lão cũng gọi tôi là “Russla” theo giọng địa phương, khiến tôi mãi rồi cũng vỡ nhẽ. Lão gọi như thế không phải tôi tưởng tượng ra, mà do trước đây, hầu như nông dân Đức nào cũng có một cô “Russla” ở nông trại mình. Ở vùng Franken người ta gọi những phụ nữ trẻ trung như mẹ tôi như thế, chẳng có ý độc địa gì, cũng chỉ như họ gọi tên con bò sữa nhà họ thôi. Tôi mà ở vào tình thế như mẹ tôi hồi đó, thì lão nông dân này đã chắc chắn không phải mất công ve vãn tôi bằng trứng gà tươi và thịt lợn muối như thế. Hơi đâu mà mất công nhiều.

Không bị đưa về làm ở nông trại, tuy nhiên mẹ tôi vẫn không may, ba lần không may. Bố mẹ tôi không những bị đưa đến một nơi thường xuyên bị quân Đồng minh dội bom, không những bị giao về một xưởng sản xuất vũ khí thông thường, mà là xưởng của tập đoàn Flick, cái tập đoàn sản xuất khét tiếng độc ác, đối xử vô nhân đạo với công nhân ấy. Đó là nhà máy ATG, Allgemeine Transportgesellschaft mbH, ở Leipzig, Schönauer Straße 101 - nhà máy lắp ráp máy bay cho không quân Đức, thứ máy bay mà phi công quân sự Đức vẫn thường điên cuồng hát ca ngợi:

Hãy để động cơ cất tiếng ca

Cho giờ phút tự do mau điểm.

Và con chim hiên ngang kiêu hãnh,

Bay đến đâu cũng mang chiến thắng về ta…

Những “con chim kiêu hãnh” ấy được lắp ráp tại hãng Flick bởi những đôi tay của chín ngàn năm trăm công nhân, trong số đó là hai ngàn rưỡi bị cưỡng bức từ các nơi về, và bắt buộc tham gia chế tạo các cỗ máy bay tàn phá chính quê hương mình. Bố mẹ tôi bị tách riêng khỏi nhau, bố tôi vào trại dành cho đàn ông, mẹ tôi sang trại dành cho đàn bà. Từ đó họ không còn tên tuổi gì nữa, mà chỉ là những con số ghi trên thẻ lao động của mỗi người. Trên vạt áo ngực phía bên phải, họ phải gắn mảnh vải xanh in chữ “OST” màu trắng, là chữ gọi tắt nhân công miền Đông, loại nhân công hạng bét, chỉ xếp trên những ai mang ngôi sao Do Thái nữa mà thôi. Công nhân từ các nước khác bị nghiêm cấm trò chuyện với họ.

Vừa đặt chân đến hãng, ai cũng bị nhét vào tay một mảnh giấy in bằng các thứ tiếng Ukraine, Nga và Đức, ghi rõ những quy định như sau:

Nội quy dành cho lao động đến từ các vùng lãnh thổ Xô viết trước đây:

1. Phải tuyệt đối tuân thủ mọi nơi mọi lúc các mệnh lệnh của nhân viên phụ trách.

2. Chỉ được phép rời trại với sự giám sát của nhân viên phụ trách.

3. Quan hệ tình dục với người Đức và với nhân công dân sự nước khác hay với tù binh đều bị nghiêm cấm. Đàn ông phạm tội sẽ bị tử hình, đàn bà sẽ bị đưa vào trại tập trung.

4. Kẻ nào tự ý, hay lôi kéo công nhân khác bỏ việc, hoặc hỗ trợ các hoạt động chống đối chính quyền, sẽ bị phạt bằng hình thức lao động khổ sai trong trại tập trung. Các trường hợp vi phạm nội quy nặng sẽ bị tử hình.

5. Mọi người đều phải gắn bảng hiệu “miền Đông” lên ngực, phía bên phải áo mình mặc.

Những ai tuân thủ nội quy và làm việc nghiêm túc sẽ được đối xử xứng đáng.

Trong bài diễn văn mật đọc ở Poznan, Heinrich Himmler đã chẳng giấu giếm quan điểm vị lợi của mình đối với công nhân Slave: Dân Nga, dân Tiệp sống thế nào, tôi hoàn toàn không quan tâm. (…) Liệu chúng chết đói hay không, tôi cũng mặc, miễn là ta có thể sử dụng chúng làm nô lệ cho nền văn minh của chúng ta. Nếu phải đào hào chống tăng, thì cho dù mười ngàn mụ đàn bà Nga bỏ mạng vì kiệt sức khi đào, tôi cũng mặc, miễn là chúng đào xong con hào chống tăng bảo vệ nước Đức chúng ta.

Tất nhiên, nhân công bị cưỡng bức không có quyền xin thôi việc, họ cũng không được phép đổi việc hay đổi nơi hành nghề. Và đương nhiên, không ai được phép về quê.

Công nhân hãng ATG được chia ra ở trong hai chục trại - hai chục trong số sáu trăm trại dựng tại vùng quanh Leipzig. ATG là một doanh nghiệp khổng lồ, một thành phố nhỏ gồm nhiều xưởng máy, nhiều khu sản xuất bí mật nằm dưới hầm ngầm, lều lán dùng làm chỗ ở, làm nơi mua bán, làm khu nấu ăn, nơi giặt giũ, cầu tiêu, căng tin. Nữ công nhân bị cấm bước chân vào trại đàn ông và ngược lại. Không rõ mẹ tôi có biết bố tôi ở đâu, làm lụng ở trại nào giữa khu sản xuất mênh mông đó không? Liệu hai người có cơ hội nào để gặp nhau, đưa mắt hay nói với nhau đôi lời không? Hay hai người gặp nhau lúc ăn uống trong lán căng tin hay tại một chỗ nào đó mà đàn ông đàn bà được phép gặp nhau? Liệu trên khu đất của trại có góc nào kín đáo mà những người công nhân bắt buộc phải sống trong cảnh bị chia cắt cả về giới tính lẫn quốc tịch như thế gần gũi nhau được không?

Các trại này đều mang những tên hiệu nên thơ, đại loại Hoa hướng dương, Rặng bạch dương, Đồng cỏ xanh, Bãi cói, Chim trắng, Bãi cỏ thần tiên, Da thô, May mắn, Vui tươi, Bông hồng đen, Công chúa Brunhilde, Sơn trà, Ba lá hay Đồng bằng… Không biết mẹ tôi đã ở trại nào? Không còn hồ sơ nào cho tôi biết điều đó nữa. Hồ sơ lưu trữ của ATG không còn, hoặc bị đốt, hoặc quân Mĩ, quân Nga lấy mang theo, nhưng phần chắc hơn là ở giai đoạn cuối cuộc chiến, chính giới chủ hãng đã tự tay thủ tiêu để phi tang. Từ một khu lưu niệm, người ta gửi cho tôi đôi thông tin mơ hồ, trong đó có sơ đồ khuôn viên nhà máy và các lán nhân công của ATG. Như thế, tôi lại bắt gặp hiện tượng mình vẫn hay đối mặt suốt quá trình tìm kiếm: Trong số hai chục trại của hãng ATG, chỉ còn lại hồ sơ của khu trại ngoại vi của trại tập trung Buchenwald, là nơi trú ngụ dành cho khoảng năm trăm nữ công nhân Do Thái từng bị lùa từ Hungari sang làm việc tại ATG. Có khá nhiều hồ sơ về trại này, thậm chí cả một bia tưởng niệm cắm tại khuôn viên trại. Nhưng về số phận hơn hai ngàn công nhân khác của hãng ATG, phần lớn là người Slave, thì đến một lời cũng không thấy nhắc đến, nói gì đến bia tưởng niệm.

Tôi ngắm đi ngắm lại mãi sơ đồ vẽ khuôn viên ATG, dùng ngón tay lần theo những nét vẽ lại các đường phố. Khu lán dành cho các nữ công nhân Do Thái Hungari, tôi có thể loại ngay vì chắc chắn mẹ tôi đã không ở đó, nhưng còn những mười chín khu lán khác. Mẹ tôi đã từng bước qua đâu đây, sáng sáng, khi trời mùa đông còn tối om, đến xưởng lắp ráp và chiều chiều, cũng đã lại tối om giữa trời mùa đông, về lán của mình. Vào mùa trời đất sáng sủa hơn, chắc bà cũng đọc thấy các tên phố kiểu như: phố Hoa Cúc, phố Hoa Hồng, phố Hoa Thược dược… Phải chăng trên đường đi làm, mẹ tôi đã phải đi qua khu vườn hoa của dân địa phương, hay đúng ra là một nơi đã hoang tàn đổ nát do chiến tranh và các phố xá mang tên hoa tên lá đó chỉ là dấu vết của một quá khứ đã rời xa?

Có những đoàn nhân công được phép tự đi đến nơi làm, nhưng cũng có những đoàn phải do lính gác đi kèm, thúc ép bằng roi vọt, chửi bới. Và bao giờ cũng nghe tiếng guốc gỗ chị em mang trên chân lóc cóc vang lên trên đường phố. Ôi, những đôi guốc gỗ đáng sợ, nhưng buộc phải mang, khi những đôi giày các bà các cô mang theo từ nhà, đi mãi đã hư hỏng và rách nát. Như thế thì họ chỉ còn nước mua những đôi guốc gỗ đắt tiền do ban Giám đốc phân xưởng bán ra, những đôi guốc trông như những chiếc thuyền, quai cứng ngắc ôm chặt bàn chân, mỗi bước đi là một bước đau đớn. Ai không may, chân sẽ phồng nước, viêm sưng, mưng mủ, và ai đã không đi làm được, đã ốm đau, thì chắc chắn sẽ có nguy cơ bị thanh lọc, bỏ cho sống chết mặc bay. Nhiều người đành ôm guốc lên tay, đi chân đất, bởi nếu không, họ sẽ không thể bước kịp nhịp với mọi người. Đôi khi, họ vừa đi vừa khe khẽ hát, như hồi họ còn ở quê, họ quen hát mọi nơi mọi chỗ, ngoài đồng, trong nhà, hay ra phố. Mẹ tôi cũng hát, với giọng nữ thanh cao hay tuyệt vời mà về sau này tôi còn được nghe mãi, nhưng những lúc này có lẽ chỉ lầm rầm như tay lính Franz Fühmann từng nghe trên một nhà ga nào đó trên đất Ukraine dạo nào, trước khi các bà các cô bị lùa lên các toa xe chở gia súc. Mẹ tôi cũng trùm khăn kín đầu như mọi người khác, và chắc vẫn còn mặc bộ váy mẹ mang theo từ Mariupol. Nhưng cũng có thể quần áo mẹ tôi mang theo đều đã sờn mòn, tơi tả, nên bây giờ, trên thân mình gầy guộc, lả đi vì đói của mình, bà phải mang bộ quần áo lao động bằng vải gai thô kệch sẫm màu, chân lê đôi guốc gỗ cứng ngắc. Liệu có phải sáng sáng, dân chúng Đức sống hai bên đường, nơi đoàn nhân công bị cưỡng bức vẫn kéo qua, sớm hơn lúc chính họ phải trở dậy rất nhiều, đã bị đánh thức bởi những tiếng lách cách của bao nhiêu là đôi guốc gỗ gõ xuống mặt đường, trên đường phố lát đá hòn chạy qua trước cửa nhà họ hay không?

Tại các phân xưởng máy, bà phải lăn ra làm suốt mười hai tiếng đồng hồ. Tôi còn nhớ rất rõ những lần cãi nhau giữa bà với bố tôi, là người vẫn bắt bà phải đi làm, để có thêm tiền lương như đa phần các bà vợ khác trong “khu nhà”. Bao giờ bà cũng khóc lóc, bỏi bà biết mình không đủ sức. Rất có thể thời gian làm việc trong trại đã làm bà mãi mãi cạn kiệt cả sức lực lẫn tinh thần, khiến bây giờ riêng một chữ “phân xưởng” thôi đã đủ làm bà hoảng hốt. Đã có lần, bà thử xin làm tại nhà máy sản xuất rèm cửa, nhưng mới được một tuần bà đã gục vì kiệt sức.

Không biết dạo ấy, mẹ tôi đã làm thế nào để khỏi gục ngã? Ngày này sang ngày khác, mười hai tiếng đứng bên dây chuyền, sáu ngày một tuần, khi cần, phải làm cả Chủ nhật. Bà yếu hẳn đi vì đói, vì mất ngủ trong những ngôi lán lạnh lẽo, chật chội người ngợm, nhung nhúc chấy rận. Công việc bà phải làm đâu có nhẹ nhàng, bà phải tham gia lắp ráp máy bay chiến đấu để chống lại và giết hại đồng hương của chính bà. Bọn giám thị được quyền hành hạ công nhân bằng mọi cách, cho nên, do chậm chạp, chắc bà thường xuyên bị chúng đánh đập.

Đôi khi cũng có những người liều chết tìm cách phá hoại ngầm, bằng cách cố tình gây sai sót khi lắp ráp máy móc để gây tổn hại cho quân Đức. Chắc chắn mẹ tôi, một người rụt rè, yếu bóng vía, không nằm trong số người này. Có lẽ mẹ tôi sẽ thận trọng, cố kín đáo, sao cho không ai để ý đến mình. Hình như đó là lối cư xử bà đã nhập tâm từ thời ở Mariupol, thu mình cho kín đáo là để tự vệ và sống sót.

Bị hành hạ, roi vọt là chuyện thường ngày, và trước hết nạn nhân bao giờ cũng là người Ukraine, những người đứng thấp nhất trên thang bậc chủng tộc, những người bị xem là lười nhác, ngại việc chân tay, lại xảo trá hơn những công nhân miền Đông khác. Bị trừng phạt nặng là các tội không mang biển hiệu miền Đông, không chào cấp chỉ huy, mua bán, đổi chác hàng hóa, ăn cắp vặt, trốn làm, làm hư hỏng đồ đạc vv… Nhẹ nhất là bạt tai, hơn nữa là quất roi, tiếp theo là khổ sai, cắt phần ăn, bắt thức trắng đêm. Thậm chí có lúc công nhân bị dội nước lạnh giữa mùa đông rồi nhốt vào ngục tối cho họ bị chết cóng. Chỉ cần phạm lỗi nhẹ là họ có thể bị đẩy sang trại cải huấn lao động khổ sai. Bằng cách này, bọn giám thị bắn một mũi tên trúng hai đích, bởi như thế, không riêng người công nhân Slave mà cả người Đức bị giam trong các trại cải huấn này cũng bị phạt - chẳng là việc xếp người Đức thuần chủng ngang hàng với giống người Slave hạ đẳng được coi như một hình thức sỉ nhục và hạ thấp nhân cách của họ. Cơ hội để sống sót trong các trại như thế chẳng là bao, nơi còn tệ hơn cả các trại tập trung. Fritz Sauckel, viên tổng chỉ huy việc điều hành nhân công, khuyến khích đám giám thị bằng những lời lẽ như: Một khi đã phát hiện hành vi phạm tội của chúng trong nhà máy, các vị phải báo ngay cho cảnh sát, treo cổ chúng lên, bắn bỏ chúng đi đều được! Tôi chẳng bận tâm.

Công nhân Slave phải sống trong những ngôi lán tồi tệ nhất, được trả lương thấp nhất và ăn uống khốn khổ nhất. Món ăn chính của họ là bánh mì Nga, thứ bánh nướng từ bột mì thô, củ cải đường, bột xay từ rơm rạ cùng lá cây, ai ăn vào chỉ hại dạ dày và đường ruột. Thay cho các loại bánh vareniki và galuschki thường vẫn được hứa hẹn, buổi trưa, buổi chiều mỗi người được nhận một thứ xúp lều bều bắp cải, đậu, củ cải. Thỉnh thoảng đổi món bằng canh rau chân vịt có cả sâu nổi lềnh bềnh. Mỗi tuần, thêm vào khẩu phần là khoảng một trăm gram mỡ thực vật, tám chục gram xúc xích hay thịt, thường là thịt ngựa chưa chế biến. Đã thế, công nhân muốn nhận khẩu phần ăn, phải kịp xếp hàng, ai đến muộn khắc mất ăn.

Khẩu phần ăn chết đói như thế, nhưng để chiết bóp nhiều hơn nữa sức lao động của công nhân, giới chủ đặt ra cái gọi là khẩu phần ăn theo năng suất. Nghĩa là ai làm nhiều khắc được ăn nhiều hơn. Song điều đó không gây thêm tốn kém cho hãng Flick, họ chỉ cần phân phối lại theo phương thức, đã tăng khẩu phần cho người khỏe, thì sẽ giảm khẩu phần ở người khác yếu hơn. Kết quả là ai đã yếu lại càng yếu thêm, sức làm việc càng giảm và rơi vào vòng xoáy xuống dốc không phanh. Hãng Flick không ngại điều đó. Nguồn nhân lực mới luôn dồi dào, có thể nhận bổ sung bất cứ lúc nào từ các vùng chiếm đóng. Người Slave vẫn được xem là giống người dẻo dai. Nói như Joseph Goebels[2], có những sinh vật sống dai, bởi chúng hạ đẳng. Thì chẳng phải chó hoang sống ngoài đường phố dẻo dai hơn chó nuôi trong nhà là gì?

Tôi vẫn còn nhớ như in một viên bác sĩ, vào những năm 1980, từng khám mắt cho tôi. Ông ta vốn biết xuất xứ của tôi, bởi vậy ông ta đâm hoảng hốt lúng túng khi dùng máy soi sâu vào mắt tôi. Thay vì các nét thô thiển, cục súc về di truyền mà ông ta những tưởng sẽ phát hiện ra trong mắt một thiếu nữ Slave, ông ta lại nhận ra nhiều khiếm khuyết trong con ngươi tôi, khiến ông ta không tin vào nguồn gốc của tôi nữa. Bốn mươi năm sau chiến tranh, bức tranh thế giới dường như sụp đổ dưới chân ông này. Ông ta nhìn tôi đầy sửng sốt và nghi ngờ, như thể tôi là đứa lừa đảo vậy.

Kế hoạch thông qua khổ sai để tiêu hao càng nhiều người Slave càng tốt đó rất khớp với kế hoạch của Hitler, một kế hoạch được vạch ra để làm giảm dân số người Slave, tạo không gian sống cho giống người Arier thượng đẳng và bắt số người Slave còn lại làm nô lệ cho người Arier. Số này sẽ là những người không được học hành, không gia đình quê hương, không nền văn hóa và bản sắc dân tộc riêng. Họ được phép sống đàng hoàng, no đủ, vui chơi ca hát, đặng tăng sức lao động làm lợi cho nền Đế chế ngàn năm của Đức. Các trường đại học cũng như các cơ sở giáo dục cao cấp trên đất Liên Xô trước đây tại các vùng bị chiếm đóng đều nhanh chóng bị đóng cửa - theo phương châm, đã là ngựa trâu thì học hành làm gì, chúng chỉ cần biết tuân lệnh là được. Với bọn hầu kẻ ở trong nhà, thì theo lời Hitler trong các bài thuộc khuôn khổ chuyện bàn tròn khét tiếng, bốn năm học sơ cấp là thừa đủ.

Tiền lương trả cho nhân công bị cưỡng bức, về thực chất, là một trò hề, đã thế lương đàn bà thấp hơn lương đàn ông. Sau khi trừ hết thuế, bảo hiểm xã hội, thuế công nhân miền Đông, tiền ăn ở, nếu tôi tính đúng, thì mỗi tuần mẹ tôi chỉ còn được chưa đến sáu đồng reichsmark (RM). Với số tiền đó hầu như bà chẳng mua được gì. Dạo đó, giá một ổ bánh mì đã là 10 RM, và ngoài chợ đen, tiền chẳng có mấy giá trị, bởi không có phiếu hàng thì đằng nào cũng chẳng mua được thứ gì tại các cửa hàng cả.

Có những lúc công nhân liều xông ra sân trại, tranh nhau bới đống thức ăn đổ đi, giành giật như thú vật vài củ khoai hay cọng rau thối; một số khác liều chết, đêm đêm trốn khỏi các ngôi lán được canh gác cẩn mật để mò ra các cánh đồng xung quanh, mót được thì gì thì mót. Nhiều người ít nhiều còn khỏe, nhân những ngày Chủ nhật được nghỉ việc hiếm hoi vào năm cuối cuộc chiến để lân la vào nhà nông dân ở vùng lân cận làm thuê, đặng kiếm thêm ít tiền hay chỉ cốt được một bữa ăn no. Cũng có những công nhân lén lút lấy vật liệu cũ họ nhặt nhạnh trong nhà máy, mày mò làm đồ trang sức hay đồ chơi trẻ con, rồi đem đổi ngoài chợ đen lấy thức ăn. Ai bị bắt quả tang thì rất dễ bị đày sang trại khổ sai, những trại đáng sợ, chỉ có đường vào chẳng có đường ra.

Mẹ tôi tuy quen nhịn đói mãi rồi, nhưng sống trong trại, mỗi ngày mười hai tiếng làm việc cật lực, cơ thể bà bắt đầu suy sụp. Rất có thể, mọi sự bắt đầu bằng những ý nghĩ thường xuyên và hèn hạ về cái ăn. Đôi chân bà sưng vù đau nhói khi đứng bên dây chuyền, lưng đau, mắt nhức, tiếng máy nổ ù ù bên tai ám ảnh bà đến tận đêm khuya. Cũng có thể mẹ tôi bị đau mắt, chóng mặt, quặn ruột, thế nhưng, tất cả những đau đớn thể xác ấy chỉ càng làm cho các ý nghĩ của bà quay lại với ổ “bánh mì Nga” cứng như đá bà giấu trong túi quần để không ai lấy mất. Nếu bà đầu hàng cám dỗ, ăn ngay ổ bánh vốn để dành cho bữa tối, về đêm bà sẽ chẳng ngủ được vì cái đói cồn cào, và buổi sáng không gượng nổi khỏi chõng nằm nữa. Đến nông nỗi đó, thì coi như hết. Bởi thế, bà phải làm để sống, bà biết rõ rằng sức làm việc là vốn liếng duy nhất của mình, rằng bà sẽ hết đường sống nếu buông mình gục xuống.

Những căn hộ sáng sủa, có bồn tắm, lắp máy phát thanh cùng đủ loại tiện nghi mà bộ máy tuyên truyền Đức hứa hẹn với dân chúng Slave - những con người cả tin, suốt đời vốn chỉ biết sống trong nghèo đói - thật ra, chỉ là những ngôi lán tồi tàn bằng gỗ, lại chen chúc toàn người với người, bởi mỗi ngày một nhiều lán bị bom đạn phá hủy, khiến công nhân bị nhồi nhét như nêm vào các ngôi lán còn lại. Mẹ tôi vốn được sinh ra trong cảnh đói kém triền miên, lại người người chen chúc, chen vai sát cánh của xã hội Xô viết, cho nên đã quen thuộc với cảnh thường xuyên chung đụng cùng người lạ và chắc chắn bà chẳng biết thế nào là nơi riêng chốn tư; song le, trong trại nhân công lao động, nơi chốn riêng tư ấy cùng lắm chỉ là cái chõng bà nằm ngủ mà thôi. Lấy lý do bảo đảm vệ sinh, các bị rơm lót chõng phải thay bằng các tấm nệm giấy độn vỏ bào, nhưng chấy rận không vì thế mà ít đi, chúng vẫn tiếp tục suốt đêm hành hạ các bà các cô không thương tiếc.

Mùa đông cuối cùng của cuộc chiến hết sức khắc nghiệt. Tuy trong các khu lều đều có lò sưởi, nhưng lại không có củi đốt. Các bà các cô phải tìm mọi thứ để đốt lò, mới đầu là gỗ vụn, củi cành, lá rụng, về sau họ phải lôi cả ghế đẩu, ván nằm ra đốt, cốt sao được chút hơi ấm. Chắc mẹ tôi chỉ có một tấm chăn mỏng manh, rách nát để đắp. Cũng có thể, về đêm bà phải khoác tất tật những gì mình có lên người, rồi trùm áo khoác ra ngoài, cuối cùng là chăn. Suốt mùa đông bà bị cảm lạnh, da khô cháy, nóng bỏng, sần sùi, đôi tay sưng vù, đôi môi nứt nẻ. Đôi bàn chân phồng rộp, mỗi lần nhét chân vào giày là một lần đau đớn, rồi chuyển sang ngứa ngáy khi chân ấm dần lên. Bệnh thấp khớp bà mắc vào thân trong thời gian khổ sai này, cũng như bệnh gan do ăn uống khổ sở sẽ còn bám riết lấy bà đến cuối đời.

Giờ khắc khủng khiếp nhất trong ngày là khi bị đánh thức bởi tiếng còi chói tai lúc 5 giờ sáng. Có lẽ mẹ tôi cũng được lôi ra khỏi một cơn ác mộng nào đó, nhưng còn cơn ác mộng nào khủng khiếp hơn thực tế trong trại đâu, một thực tế đập ngay vào mắt mỗi khi thức giấc. Ngày nào cũng kéo dài vô tận, là một phần của quãng thời gian mà bà không biết nó sẽ còn kéo dài bao lâu nữa, và liệu nó có bao giờ kết thúc hay không. Tù nhân còn biết bao giờ mình hết hạn tù, người trong trại lao động cưỡng bức của Đức không biết bao giờ mới mãn hạn. Mẹ tôi sống chẳng những không có ngày mai, mà cả ngày hôm qua đối với bà cũng có vẻ xa xôi, như thể bà đã để rơi cả tương lai lẫn quá khứ ở đâu đó bên ngoài thế giới này, trên một hành tinh xa xôi vô cùng vô tận mà bà sẽ chẳng bao giờ quay lại được. Bà phải gồng mình cưỡng lại nỗi nhớ thương quê hương xứ sở luôn dằn vặt lòng bà, bởi nếu không, sức đề kháng nội tâm của bà khắc tiêu tan. Trong cuộc đời trước đây, bà đã không biết những điều đơn giản và hết sức tự nhiên của cuộc sống thường nhật có thể quý giá biết ngần nào - thật hạnh phúc biết bao khi được cứ thế thản nhiên đi dạo phố, khi đi cầu được đóng cánh cửa cầu tiêu lại cho kín đáo, khi tối tối được bật hay tắt đèn theo sở thích, khi được tự do mặc lên người bộ váy áo sạch sẽ, là lượt. Trong lúc đứng bên dây chuyền lặp đi lặp lại một động tác duy nhất, một động tác dường như đã trở thành máy móc của cơ thể, bà vẫn thường nhớ đến niềm hạnh phúc vô giá, nhưng mãi mãi mất đi ấy. Hình ảnh các gương mặt thân thương của bố mẹ, anh em, bạn bè, bà con dường như thường xuyên hiện ra trước mắt bà. Bà thầm chuyện trò với họ, những câu chuyện giúp bà tìm lại chính mình, tìm lại con người trước đây của chính bà.

Cuộc sống hàng ngày trong trại đầy những chuyện khôn lường, tùy tiện. Các mệnh lệnh ban từ trên xuống thay đổi xoành xoạch, tính khí tụi giám thị sáng nắng chiều mưa, nội quy trại bị thay như thay áo. Lúc thì hàng rào dây thép gai được tháo đi, sau đó ít lâu, chẳng rõ vì sao, lại được dựng lên như cũ. Hôm nay khẩu phần ăn vừa tăng, hôm sau lại giảm. Lúc này công nhân được xuất trại, lúc khác lại bị nghiêm cấm rất lâu. Thường xuyên xảy ra chuyện một công nhân vô cớ bị bắn chết hay bị đánh thập tử nhất sinh. Cái đói, nỗi sợ hãi triền miên cũng như sự chen chúc chật chội không thể chịu nổi trong các lều trại tất nhiên dẫn đến chuyện vu khống nhau, ăn cắp vặt hay làm điếm. Nhiều bà nhiều cô phải bán tấm thân còm cõi của mình cho lính Đức hay cho những người đàn ông thuộc giống nòi cao quý hơn, chỉ cốt để đổi được mẩu bánh hay miếng xà phòng con con, mặc dù làm như thế, họ phải liều mạng lắm. Bởi các hình phạt theo lệnh của Fritz Sauckel là: mẩu bánh mì bằng một năm tù giam, một cái hôn bằng hai năm tù giam, tội ăn nằm với đàn ông sẽ bị xử bắn ngay tại chỗ.

Đám “công nhân miền Đông” là đám gây cho chính quyền Quốc xã một vấn đề nan giải. Một mặt, họ đóng vai trò không ai thay thế nổi để duy trì hoạt động của nền công nghiệp chiến tranh Đức, nhưng mặt khác, việc sử dụng họ không nhất quán với tư tưởng về chủng tộc của chế độ Quốc xã, bởi đám này gây nguy cơ làm bẩn huyết thống Đức. Mặc dù đàn ông Đức bị nghiêm cấm ăn nằm với phụ nữ người Slave, nhưng các vụ hãm hiếp lại là chuyện thường ngày trong trại. Vì lẽ gì mẹ tôi lại thoát nạn, trong khi trông bà xinh xắn hơn các cô gái quê mùa cục mịch khác, vốn bị lùa bắt đi từ các ngôi làng trên đất Nga và Ukraine nghèo khổ? Nhưng cũng có thể diện mạo bên ngoài của các bà các cô công nhân chẳng có ý nghĩa gì, họ tất tật chỉ là những con cái mà đám đực có quyền hãm hiếp bất cứ lúc nào. Một gã đàn ông Đức bị bắt quả tang sẽ bị khiển trách qua loa, thậm chí chẳng hề hấn gì, nhưng nạn nhân bị hãm hiếp hoặc sẽ bị xử tử hoặc tống vào trại tập trung. Những người đàn bà Đức có quan hệ yêu đương với đàn ông Slave sẽ bị xua đuổi khỏi cộng đồng Đức, bị cạo trọc đầu rong phố như những cô gái điếm mạt hạng; đàn ông Slave nào dám dan díu với đàn bà Đức chắc chắn bị treo cổ nơi công cộng. Xác người này sẽ treo lủng lẳng nhiều ngày làm gương cho kẻ khác.

Bệnh thương hàn và kiết lỵ lan tràn trong các trại. Các công nhân mắc bệnh liền bị tống vào các lều chứa bệnh nhân đầy ắp người và hầu như chỉ được chữa chạy qua loa. Dạo đầu, bọn Quốc xã còn đưa họ về quê hương, nhưng về sau, chúng chẳng mất công đến thế nữa. Bệnh nhân không mau khỏi sẽ bị xếp vào hạng mất sức, xếp như thế thì cũng ngang như phát lệnh tử hình, bởi bệnh nhân sẽ không được chữa chạy nữa, để đỡ tốn thuốc thang mà chính người Đức cũng đang cần. Họ chỉ còn được phát chút thức ăn cầm hơi để chẳng bao lâu sau thì chết thương chết thảm.

Lao phổi cũng là thứ bệnh dịch phổ biến. Do hệ thống miễn dịch bị suy giảm, phần lớn anh chị em công nhân đều bị nhiễm lao, nhưng bệnh không bộc phát ngay. Chỉ những ai đã cạn sức kiệt lực mới không thể kháng cự nổi “cái chết trắng” đó nữa. Khi ấy, những người không còn sức liền bị tống sang cái gọi là trại điều trị, nơi nếu chưa chết ngay sau một thời gian ngắn thì vì không đủ ăn đủ thuốc, họ sẽ bị đào thải bằng các thứ thuốc quá liều. Tháng Chín năm 1944, Heinrich Himmler còn ra lệnh giết hết người Slave trong các trại tâm thần, do bởi các bệnh viện Đức đã chật ních bệnh nhân, việc chữa chạy cho số dân Slave không còn sức lao động phục vụ Đế chế Đức tại các bệnh viện này là việc làm vô trách nhiệm. Khá nhiều nguồn tư liệu cho thấy rằng không chỉ các tù nhân Do Thái, mà cả giới công nhân Slave bị cưỡng bức sang Đức cũng bị sử dụng làm sinh vật thí nghiệm cho các nghiên cứu y học. Bọn Quốc xã dùng họ để thử sức chịu đựng nước lạnh, chịu đựng áp suất, dùng họ để thử thuốc, thử tia Rõntgens hoặc các đòn tra tấn dã man gây chết người khác.

Nỗi thống khổ của công nhân bị cưỡng bức lao động mỗi ngày một nặng nề. Một quan chức ngoại giao thời đó đã ghi chép như sau:

Công nhân miền Đông thường bị chìm đắm trong cảnh u uất, lãnh đạm và vô vọng. Chẳng hạn, có kẻ dùng tấm gỉ có đóng đinh đánh vào mặt đàn bà mà chẳng ai buồn can ngăn. Ai phạm lỗi, dù rất nhỏ, thì bất kể đàn ông hay đàn bà, đều bị lột hết quần áo ấm, bỏ đói trong các căn hầm bê tông lạnh lẽo. Với mục đích “giữ vệ sinh”, công nhân miền Đông còn bị lùa ra sân trại ngay giữa mùa đông để xịt nước lạnh lên người. Nhiều người trong số công nhân miền Đông, chỉ vì đói mà nhỡ ăn trộm củ khoai tây, còn bị xử phạt ngay trước mặt những người khác bằng các hình thức vô nhân đạo nhất.

“Công nhân miền Đông” bị tước bỏ mọi quyền về pháp chế, đến mức dân chúng Đức ai ai cũng có quyền đánh đập họ. Vào giai đoạn cuối của chiến tranh, nếu có đánh chết người, dân Đức cũng không còn sợ bị truy tố nữa.

Các trận ném bom của quân Đồng minh cũng ngày một ác liệt. Nếu lán ở nằm cách xa nơi làm, thì hàng ngày mẹ tôi phải vượt qua những quãng đường xa và nặng nhọc; nhưng, nếu lán ở nằm gần nơi làm, như trại Wola 1 ngay trong khuôn viên nhà máy, thì hàng ngày bà phải chịu đựng các trận oanh tạc của quân Đồng minh nhằm trực tiếp vào các nhà máy quân sự Đức. Thường thường, hầm tránh bom chỉ dành riêng cho người Đức, bởi thế vô số “công nhân miền Đông” đã bị thiệt mạng trong các cuộc oanh tạc đó, nhất là về đêm, khi họ bị khóa chặt trong các lều trại. Một công nhân Nga, hồi đó cũng phải làm trong một nhà máy thuộc vùng Leipzig, kể lại:

Máy bay quân Anh thường oanh tạc về đêm, quân Mĩ - ném bom ban ngày… đều đặn đến mức có thể dựa vào đó mà canh giờ. Vừa sập tối là còi báo động đã rú lên. Rồi cứ thế là bom rơi. Máy bay ném bom, gọi là các “pháo đài bay”, nhiều vô kể. Có ngẩng đầu lên nhìn, cũng chỉ toàn thấy máy bay với máy bay, không thấy bầu trời đâu nữa cả. Lán chúng tôi trúng bơm cháy, thứ bom trút xuống như mưa đá. Bom này nổ ngay trên mặt đất, làm tung tóe lửa phốt pho ra xung quanh. Có lần, nửa đêm rồi mà chúng tôi vẫn chưa ngủ được, vì ai nấy đều chờ trận ném bom mới. Song, chờ mãi vẫn không thấy gì. Ngạc nhiên thì có ngạc nhiên thật, nhưng chúng tôi ai nấy đều lăn ra ngủ. Đột nhiên, khoảng 4 giờ sáng, bom bất ngờ trút xuống. Và bà biết không, có đến nửa thành phố, hay hơn cũng nên… đấy là những máy bay ném bom cỡ lớn, nặng hàng tấn chứ không vừa. Toàn bộ phố xá, nhà cửa chìm trong lửa. Ban ngày đen kịt khói, nhưng đêm lại sáng. Đúng là biển lửa. Rồi nhà máy chúng tôi cũng trúng bom, riêng chúng tôi may mắn nằm xa ở vòng ngoài. Sản xuất phải ngưng lại, còn chúng tôi bị giải vào thành phố dọn dẹp các đống gạch vụn. Thế mà lại may, bởi trong các đống nhà đổ nát, bao giờ cũng tìm được cái gì bỏ bụng, thêm vào khẩu phần hàng ngày của chúng tôi. Có lần chúng tôi bị một đám lính SS khoác súng liên thanh giải đi làm. Chẳng là chúng tôi phải san lấp các hố bom trong phố mà. Trong đám lính, có một tên phát xít mà gia đình trúng bom chết hết cả. Hắn ngửa cổ làm một hớp rượu mạnh, một hớp thôi, dân Đức ít uống mà lại, rồi tháo băng có gắn dấu thập ngoặc quấn trên tay ra và xỉ mũi vào đấy…

Như thế, một người xa lạ đã kể lại cho tôi nghe về những gì mẹ tôi hẳn cũng từng chứng kiến: các “pháo đài bay”, ánh lửa của thành phố đang bốc cháy. Sau khi phải chịu các trận bom quân Đức ném xuống Mariupol, sau khi thoát chết sau các trận bom của quân Xô viết trên đường vượt biển sang Rumani hôm nào, nay bà lại rơi vào giữa các trận mưa bom của quân Mĩ, quân Anh. Ở Mariupol, dẫu sao bà còn có thể trốn xuống hầm nhà tránh bom, trong trại của quân Đức, bà phơi mình trơ trọi giữa bom rơi lửa đổ. Đến chạy ra ngoài sân còn chẳng được, bà bị giam hãm trong các khu lán có thể bắt lửa cháy bất cứ lúc nào.

Phải chăng chính trong những trận bom dữ dội đó của cuộc chiến mẹ tôi bắt đầu mất trí? Hay bà đã mất trí ở đâu đó dọc đường, trên quãng đường khủng khiếp của cuộc đời bà, một quãng đường đối với bà chẳng khác nào cơn ác mộng? Mẹ tôi tiếp nhận niềm tin vào một vị Đức Chúa lòng lành sẽ cứu rỗi nhân quần từ mẹ bà, một người tuy theo đạo Thiên Chúa, nhưng cũng chịu ảnh hưởng mạnh của đạo Cơ đốc Nga. Liệu giữa các trận oanh tạc, bà có cầu xin vị thánh của mình - Nữ thánh Jevgenia tử vì đạo - vị Nữ thánh mà bức tượng thánh từng gắn ở đầu giường bà, che chở cho mình không? Bà đã cầu nguyện, hay bà bắt đầu cuộc vật lộn giằng co vô vọng với Chúa, với Đấng Tối cao mà sự bàng quan tàn nhẫn và câm lặng của Người đã khiến bà gục ngã? Nếu vào lúc này bà còn chút hy vọng nào nữa, thì niềm hy vọng đó chỉ có thể là niềm hy vọng gửi gắm vào quân Đồng minh Anh-Mĩ, đội quân mà đối với bà vừa là kẻ cứu rỗi, vừa là kẻ sát nhân ấy.

Phải hàng chục năm sau khi bà mất, tôi mới nảy ra ý định tính lại thời gian xem sao. Kết quả rõ rành rành: Cuộc đời tôi bắt đầu trong một khu lán của công nhân thuộc tập đoàn Flick, vào giai đoạn cuối của chiến tranh. Làm sao có thể như thế được nhỉ? Chẳng nhẽ các đôi vợ chồng thuộc hàng ngũ công nhân được ăn nằm với nhau? Phải chăng họ cũng có những dịp kín đáo gặp gỡ riêng với nhau, không bị người ngoài nhòm ngó và giám sát? Thật khó hình dung nổi điều đó, bởi nhà cầm quyền không muốn công nhân bị cưỡng bức lao động - nhất là công nhân người Slave hạ đẳng - sinh con đẻ cái.

Tôi hình dung ra một ngày Chủ nhật, ngày nghỉ duy nhất trong tuần mà đa số công nhân vẫn dùng để ngủ bù, để tắm rửa, giặt giũ. Song, đối với bố mẹ tôi, ngày hôm đó, một ngày đầu tháng Ba, khi mùa xuân đã thoang thoảng giữa không trung, cũng chẳng khác gì ngày hội. Hai người được phép xuất trại và cùng nhau rời khỏi trại; cầm giấy phép xuất trại trong tay, hai người được tự do vào thành phố, không lính áp giải đi kèm. Dù chỉ vài tiếng đồng hồ thôi, nhưng rốt cuộc họ cũng được gần nhau, không bị rình mò giám sát như mọi khi. Mẹ tôi chóng mặt, vì đói mà cũng vì bị choáng ngợp trước khoảng trời tự do bà bỗng dưng được hưởng; bà bám chặt khuỷu tay bố tôi. Thân mình tiều tụy của bà lọt thỏm trong chiếc áo choàng màu xám, cũng có thể bà còn giữ được đôi giày mang theo từ Mariupol để khỏi kéo lê đôi guốc gỗ. Trời vẫn còn lạnh, nên mẹ tôi hẳn vẫn trùm khăn trên đầu, chiếc khăn che mái tóc đen, dày, búi chặt mà hễ tháo ra là mượt mà rủ xuống vai - nhưng lúc này chắc bị cắt ngắn để ngừa chấy. Bố tôi mặc trên người chiếc áo vét rộng thùng thình đã sờn rách, và nhân dịp đặc biệt này, trên cái cổ đã trở nên gầy guộc của mình, ông thắt chiếc cravat duy nhất mang theo từ dạo nào. Theo đúng quy định, bố mẹ tôi đều gắn trên ngực, phía bên phải, tấm bảng hiệu ghi “OST”. Rất có thể, vào ngày Chủ nhật đó, hai người có trong tay đôi ba đồng mark đặng mua thức gì ăn được. Nhiều cửa hàng trong thành phố tan hoang và vắng tanh vắng ngắt này không chịu bán hàng cho đám công nhân bị cưỡng bức lao động như ông bà, đôi nơi còn gắn biển cấm họ bước vào trong; song cũng có nhiều chủ hiệu chẳng nề hà, tiền ai trả chẳng là tiền. Vì thế, có lẽ hai người cũng mua được mẩu bánh nướng từ bột mỳ thật sự cùng ly nước chanh giải khát. Cũng có thể bố tôi đổi chác gì đó ở chợ đen, và mẹ tôi nhờ vào các dịch vụ bí mật đó của chồng mà còn đứng vững được.

Đi dạo trên các đường phố đổ nát tan hoang rất nguy hiểm. Còi báo động máy bay có thể nổi lên bất cứ lúc nào, báo hiệu một cuộc oanh tạc sắp diễn ra; bất cứ lúc nào bố mẹ tôi cũng có thể bị lính tuần tra cơ động, bị bọn dân quân hay lính SS - tùy hứng kiểm tra giấy tờ; ở giai đoạn cuối của cuộc chiến, bọn này càng hung hăng tùy tiện hành hạ công nhân bị cưỡng bức lao động. Mẹ tôi thỉnh thoảng lại sợ sệt nắn nắn túi áo ngoài, xem giấy phép xuất trại còn ở đó không, không có giấy phép này là nguy to, lính tuần tra có thể bắt giam, thậm chí bắn chết bà ngay tại chỗ. Có thể đây đó cây cối đã đâm mầm xanh mướt, một chút thiên nhiên mà do chui rúc trong túp lều qua suốt mùa đông, dường như mẹ tôi đã quên khuấy.

Chẳng biết được, có thể chuyện đã xảy ra trong ngày hôm đó, do bố mẹ tôi tìm được nơi ẩn náu kín đáo nào đấy giữa đống đổ nát hay sau các bụi cây. Cũng có thể tôi đã sinh thành qua một lần hai người vội vàng, nín thở ôm ấp nhau đâu đó trong trại, là nơi mà hai người có thể bị bọn chó săn - do lính gác xua đi săn người trốn trại - phát hiện bất cứ lúc nào. Cũng có thể tôi được sinh thành trong một giây phút nhẹ dạ, bởi ông bà, giống như bao người khác, cảm thấy chiến tranh sắp đến ngày kết thúc do các tin đồn họ sắp được giải thoát lan tràn trong trại, trong khi các cuộc oanh tạc của quân Đồng minh mỗi ngày một ác liệt thêm.

Rồi đến lúc mẹ tôi cũng nhận ra mình có mang. Cơ thể bà đã đánh tín hiệu từ lâu, nhưng bà chưa hiểu được chúng. Do kiệt sức, nên chuyện tắt kinh nguyệt là chuyện các bà các cô trong trại thường bị, các cơn buồn nôn mỗi sáng có thể là hậu quả của tình trạng đói ăn liên miên. Cơ thể mòn mỏi của bà đã từ lâu không còn là của bà nữa, nó đã thuộc về hãng Flick mất rồi. Thế nhưng, đến một lúc nào đó, bà chợt hiểu rằng trong cơ thể bà đang phôi thai một đứa trẻ, một cơ thể sống thứ hai mà từ nay bà phải chia sẻ khẩu phần ăn hàng ngày cho nó - một đứa trẻ đang đòi được sống, đang đòi bà truyền sức sống, đòi bà che chở, đòi một chỗ đứng ở đời. Là những thứ mà chính bà, bà cũng chẳng có cho riêng mình.

Liệu mẹ tôi có biết cái gì sẽ xảy ra với những đứa trẻ sinh ra trong trại hay không nhỉ? Nếu mẹ tôi có mang tôi sớm hơn, chắc đã chẳng có tôi ở đời. Mới đầu, các bà các cô công nhân có mang còn được đưa về quê hương, nhưng về sau, do càng ngày càng nhiều người cố tình có mang để thoát khỏi trại, Fritz Sauckel liền thay đổi chiến thuật. Thông thường, do phụ nữ Đức phải sinh càng nhiều con càng tốt, nhằm duy trì nòi giống German, cho nên họ bị nghiêm cấm phá thai. Song, với các nữ công nhân Slave, họ không những được phép, mà còn được khuyến khích phá thai, bởi xã hội chẳng cần có thêm lũ trẻ thuộc giống người hạ đẳng làm gì. Vì thế, hàng ngàn phụ nữ “Slave thô lậu, ụt à ụt ịt”, như Hitler vẫn nói, bị bắt buộc phải phá thai.

Những ai bất chấp mọi khó khăn trở ngại vẫn sinh con đều không được bảo vệ. Bọn Quốc xã cho rằng phụ nữ Slave sinh con chẳng cần được chăm sóc đặc biệt gì, bởi họ có mang rồi sinh con chẳng khác loài thú. Trẻ sơ sinh liền bị tách khỏi mẹ, trao cho các trại, lúc gọi là “trại trẻ ngoại quốc”, lúc gọi là “trại trẻ ngoại tộc” hay “trại nuôi trẻ hoang dã”. Đằng sau những cái tên này, phần lớn, là các trại giết trẻ sơ sinh. Đôi đứa trẻ sơ sinh cũng được đối xử nhân từ, nghĩa là được tiêm thuốc độc để chết ngay, phần đông phải chết dần chết mòn, và thê thảm. Thân thể chúng đầy ghẻ lở, viêm loét, chúng bị bỏ đói, rét mướt, chẳng ai chăm sóc đùm bọc. Xác trẻ sơ sinh xếp đống trong những căn lều bẩn thỉu, nhung nhúc ròi bọ, trước khi bị nhét vào các thùng đựng bơ thực vật để đem chôn. Nhiều nguồn tài liệu cho biết số trẻ con công nhân “miền Đông” bỏ mạng trong các trại như thế lên đến một, hai trăm ngàn, các con số thực chắc chắn còn cao hơn nhiều.

Tháng Chín năm 1943, viên sĩ quan SS Erich Hilgenfled đệ trình lên Heinrich Himmler bức thư với nội dung như sau:

Vấn đề ở đây chỉ là chọn một trong hai mục tiêu. Nếu không muốn bọn trẻ sống sót, thì ta không nên bỏ đói để chúng chết dần dần như thế, bởi vì, biện pháp này vẫn khiến ta tốn quá nhiều sữa rút từ quỹ dinh dưỡng chung; trong trường hợp này, ta nên áp dụng các biện pháp nhanh gọn hơn mà không cần hành hạ tụi trẻ lâu như hiện nay. Nếu mục tiêu ngược lại là nuôi dưỡng tụi trẻ để sau này biến chúng thành nhân công lao động, ta cần cho chúng ăn uống đủ thì sau này chúng mới có sức để làm việc cho ta được.

Có vẻ Himmler đã nghe theo đề nghị thứ hai của viên sĩ quan SS nọ, bởi vì, từ đó bắt đầu xuất hiện một số trạm nuôi trẻ, tại đó trẻ sơ sinh được ăn uống và chăm sóc đầy đủ hơn. Ở giai đoạn cuối của cuộc chiến, giới quan chức Quốc xã phụ trách nhân công có vẻ vẫn chưa nhận ra rằng chúng đang uổng công vô ích và chẳng bao lâu nữa sẽ chẳng còn ai làm nhân công nô lệ cho chúng nữa.

Ở Leipzig lúc đó đã bắt đầu hỗn loạn, số nhà máy, lán trại bị phá hủy vì trúng bom ngày càng nhiều. Công nhân mất nhà máy lang thang khắp thành phố tìm cái ăn và nơi trú ẩn. Họ bị mang tiếng là quân cướp bóc và biến thành nạn nhân của bọn SS và lính Đức. Hàng ngàn người đã bị bọn này bắn chết vì tội rời bỏ nơi làm việc, mặc dù nơi đó không còn tồn tại nữa, hoặc vì chúng sợ công nhân bị cưỡng bức sau này sẽ trả thù chúng.

Thế rồi, rốt cuộc quân Mĩ cũng xuất hiện khắp nơi trong thành phố. Họ xông vào các khu lều trại của công nhân, hô to: You are free - Các bạn được tự do. Họ cười ha hả vừa nói luôn mồm: The war is over - Chiến tranh đã kết thúc, vừa phân phát thuốc lá và sô cô la cho mọi người.

Giới chủ và nhân viên điều hành của hãng ATG đã chuồn đi tự bao giờ. Công nhân xông vào phá phách tan hoang văn phòng chủ hãng, vào các kho chứa lương thực, thực phẩm, mứt, bánh mì, pho mát. Trong thành phố, họ vơ vét các cửa hàng, nhét vào bụng mình tất cả những gì họ tìm được, đốt lửa nướng thịt ngay giữa đường phố. Họ rời bỏ các khu lán khốn khổ, xông ra mặt đường, ôm hôn nhau dưới bầu trời tự do, người Nga, người Ý, người Pháp, người Ba Lan, người Ukraine, người Serbi, miễn là còn sức để hò reo. Dân Đức đâm ra sợ, đóng cửa im ỉm trong nhà. Mũi giáo đã đổi chiều, kẻ làm chủ hôm xưa nay thành kẻ thua trận, kẻ nô lệ thành người chiến thắng. Trong thành phố đầy những công nhân bị cưỡng bức xưa kia, nay bị thất nghiệp bởi không còn việc làm cho họ. Một số cuốc bộ về quê, số khác tụ thành từng đàn, từng nhóm lang thang đây đó - những con người đã suy sụp, tàn tạ, khốn khổ. Trong chớp mắt, một loại người mới được phân loại, gọi là Displaced Persons (dân tha hương), viết tắt là DPs. Trong số này là hàng triệu dân Slave không biết mình thuộc về ai, thuộc về đâu, những người chẳng mấy chốc cũng bị quân Mĩ - quân đội đã giải phóng họ - nghi ngờ. Giống như Stalin, người Mĩ nghi họ đã hợp tác với chính quyền Đức; tờ Stars and Stripes của quân đội Mĩ còn chẳng ngại ngần gọi họ là đám du đãng, tay sai của cả phát xít Đức lẫn bolshevik Nga.

Bởi thế, quyết định bắt buộc hồi hương toàn bộ các công dân Xô viết theo Hiệp định Yalta không những chỉ được người Đức ngầm ủng hộ, bởi họ không phải nuôi đám công nhân đã kiệt sức lao động và cũng còn không phải lo bị họ trả thù nữa. Quân Mĩ cũng tán thành quyết định này, bởi họ muốn lập lại trật tự càng nhanh càng tốt tại vùng họ chiếm đóng. Như thế, hàng triệu người tha hương bắt đầu được hồi hương, nhưng hồi hương có nghĩa là lại sa vào vòng khủng bố của Stalin, để sống khổ sống sở cho đến ngày cuộc đời họ lụi tàn. Đối với Stalin, số công nhân bị bắt lùa đi ngày nào là bọn phản bội tổ quốc, bọn cộng tác với địch, những người đã không cưỡng lại, mà còn đầu hàng địch, trong khi hàng triệu người khác phải bỏ mạng để bảo vệ tổ quốc. Một số người đã bị xử bắn ngay khi trở lại quê hương, nhiều người khác bị đưa ngay vào các trại lao động của chính quyền Xô viết. Phần lớn họ đều bị kết án khổ sai chung thân, một số ít phải chịu cuộc đời ngoài rìa xã hội, phải chịu thất nghiệp suốt đời, chứ chưa nói đến chuyện được học hành, nhiều người phải nương nhờ bố mẹ hoặc người thân mà sống qua ngày. Không những họ phải sống trong cảnh nghèo đói, túng thiếu, mà còn phải chịu cảnh bị thiên hạ xa lìa, lảng tránh, bởi ai cũng sợ giao thiệp với những người mang tiếng phản bội đó, chưa kể các bà các cô còn bị đối xử như đĩ điếm của quân Đức hôm xưa.

Phải hàng chục năm sau, việc bồi thường cho số công nhân nam nữ bị cưỡng bức xưa kia mới được bàn đến tại Cộng hòa Liên bang Đức. Những ai làm đơn đòi bồi thường phải có giấy tờ chứng minh họ từng là công nhân bị cưỡng bức. Rất ít người còn giữ được những giấy tờ như thế, do bị thất lạc trong tao loạn chiến tranh, hoặc bị chính chủ nhân hủy đi vì sợ chính quyền Xô viết buộc tội. Nếu có ai nhận được bồi thường, thì khoản tiền họ được nhận thật chẳng đáng là bao, chỉ như muối bỏ biển.

Trong quá trình thực hiện hồi hương, nhiều cảnh tượng kinh khủng đã diễn ra. Dân tha hương Xô viết quỳ lạy trước các sĩ quan Mĩ, cầu xin thà bắn họ ngay tại chỗ còn hơn bắt họ quay về quê hương. Khá nhiều người đã tự tử, thà treo cổ chết còn hơn bị chính quyền Stalin trừng phạt. Họ đã bị lùa đi khỏi quê hương, bị bóc lột đến hơi tàn sức kiệt, bây giờ họ lại bị lùa về, bị đẩy vào nanh vuốt kẻ độc tài điên rồ, không biết thương hại ai bao giờ ấy.

Dân vùng Baltic, dân Bạch Nga và Ukraine trước chiến tranh từng sống trên lãnh thổ Ba Lan rồi từ đó bị lùa sang Đức, được hưởng một quy định ngoại lệ. Họ được quyền tự chọn, hoặc hồi hương, hoặc ở lại đất Đức hay đi sang một nước thứ ba. Chính bố mẹ tôi đã thoát thân qua con đường này. Một viên sĩ quan Mĩ nào đó đã ghi chữ “Cracow” vào mục quê hương trong giấy tờ của ông bà, mặc dù vài dòng ngược lên ghi rành rành mẹ tôi từng sinh sống ở Mariupol, bố tôi - từng ở cả Mariupol lẫn Kamyshin - và cả hai bị lùa đi từ Odessa. Không dòng nào nhắc đến Ba Lan cả. Thế mà ai đó đã ghi Krakow là quê hương gốc gác của hai người, là nơi ông bà bị bắt lùa sang Đức. Đó phải chăng là bí ẩn lớn của hồ sơ do quân Mĩ lưu trữ, không rõ đã bắt nguồn từ lời khai man của bố mẹ tôi, từ một hành động thương người của viên sĩ quan Mĩ nào đó, hay chỉ vì anh ta không thông tỏ về địa lý; dù sao thì con chữ “Cracow” đã cứu bố mẹ tôi khỏi bị hồi hương và khiến tôi không phải sinh ra trên đất Liên Xô mà trên đất Đức.

Tháng Sáu năm 1945, quân Mĩ rút khỏi bang Sachsen, trao vùng lãnh thổ này cho Hồng quân Liên Xô chiếm đóng. Như vậy, chính quyền Xô viết đã đuổi kịp bố mẹ tôi, lùng họ đến tận nước Đức này. Một lần nữa, bố mẹ tôi lại chạy trốn, lần này nhắm hướng Nürnberg, thành phố lớn gần nhất nằm trong vùng quân Mĩ chiếm đóng. Chẳng bao lâu sau, ở đây đã diễn ra phiên tòa xử tội ác chiến tranh, tại đó, tội cưỡng bức lao động cũng được xếp vào hàng các tội ác chống nhân loại. Hãng Flick cũng bị xử tại phiên tòa này. Một nhân viên của hãng ATG khai trước tòa rằng hãng đã không hề phân biệt giữa công nhân Đức và công nhân nước ngoài, rằng công nhân nước ngoài được sinh sống tử tế và giới lãnh đạo người Đức ở trại được công nhân hết sức yêu quý. Anh ta khai tiếp:

Cuộc sống của công nhân nước ngoài tất nhiên không phải là cuộc sống trên thiên đàng, bởi họ phải xa gia đình và quê hương. Song, vì lẽ công bằng mà tôi phải nói rằng, lãnh đạo nhà máy đã làm tất cả những gì có thể làm để đỡ đần công nhân. (…) Thức ăn đồ uống được chu cấp đầy đủ. (…) Để bảo đảm bữa ăn cho công nhân nước ngoài, ngoài phần được cấp, lãnh đạo nhà máy còn tự xoay xở mua một số lượng lớn lương thực thực phẩm, nhất là khoai tây và rau tươi, từ tay nông dân tại các vùng quanh Leipzig. Các nhu cầu nhiều mặt khác của công nhân cũng được quan tâm đáp ứng. (…) Lãnh đạo nhà máy cũng rất quan tâm tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa của công nhân nước ngoài. Các trại của hãng ATG suốt một thời gian dài được đánh giá là các trại gương mẫu, cho đến khi một số trại bị bom phá hủy buộc nhà máy phải dồn nhiều lán lại với nhau thì các trại mới mất vẻ đẹp hôm xưa.

Thế nhưng, các công tố viên lại đưa ra các kết luận hoàn toàn khác:

Trong các nhà máy của hãng Flick, điều kiện sống và làm việc của công nhân hết sức tồi tệ; nhiều khu lán trại cùng cực, thời gian làm việc kéo dài quá mức. Tình trạng công nhân sống và làm việc trong sợ hãi, bị hành hạ bằng nhiều cách, kể cả bằng roi vọt, về thể xác lan tràn khắp nơi.

Trong số bị cáo của phiên tòa này có cả đích danh Fritz Sauckel, viên chỉ huy tối cao của bố mẹ tôi. Tôi lớn lên ở Nürnberg, nói đúng thứ phương ngữ Franken mà tay viên Cao ủy toàn quyền phụ trách việc phân phối nhân công Sauckel này cũng nói; nghĩ thật trớ trêu, thứ tiếng Đức hắn nói cũng là thứ tiếng tôi học trước tiên. Giọng nói vùng Franken của hắn, tôi nghe bảo, khó nghe đến mức trong phiên tòa người ta phải nhiều lần yêu cầu hắn nói lại sao cho dễ hiểu. Lúc bị tuyên án treo cổ, hắn ta òa ra khóc. Hắn một mực khăng khăng rằng mức án dành cho hắn quá nặng là do phiên dịch sai mà thôi.

Friedrich Flick phủ nhận mọi tội lỗi của mình trước tòa, lão còn mô tả mình là nạn nhân của chế độ Quốc xã bạo tàn. Mức án dành cho lão quả là nhẹ. Lão bị kết án bảy năm tù giam, nhưng sau ba năm đã được ân xá và nhanh chóng trở thành một trong những kẻ giàu có nhất của nước Cộng hòa Liên bang Đức vừa mới được thành lập. Công ty của lão này là công ty duy nhất không phải trả đồng cắc bồi thường nào cho công nhân hôm xưa từng làm nô lệ cho lão. Các nhà máy của Hãng ATG ở vùng Leipzig được Hồng quân Liên Xô tiếp quản: Toàn bộ máy móc bị tháo dỡ đưa hết về Liên Xô, nhà máy công xưởng bị nổ bom phá bỏ.

Tôi cứ tự hỏi, để trốn chạy Hồng quân Liên Xô, bố mẹ tôi đã bằng cách nào để đi từ chỗ này đến chỗ khác; lần này là quãng đường ba trăm kilomet trên một vùng đất nước đổ nát tan hoang từ Leipzig đến Nürnberg. Bố mẹ tôi đã mua vé rồi cứ thế leo lên tàu mà đi ư? Bố mẹ tôi có tiền để mua vé ư? Mà liệu có tàu chạy không, hay đường ray đã bị phá hủy hết rồi? Phải chăng bố mẹ tôi đoạn lên tàu, đoạn cuốc bộ mà đi? Triệu triệu người cũng rong ruổi trên đường như họ - nào người tha hương DPs, nào công nhân bị cưỡng bức xuất thân từ tất cả các nước, nào tù nhân hay tù binh chiến tranh vừa được giải thoát khỏi trại tập trung, nào dân Đức tản cư nay tìm đường hồi hương, nào dân chúng bị xua đuổi khỏi các vùng Schlesien, Đông Phổ hay Böhmen. Tất cả mọi người, đi riêng lẻ hay kéo thành đoàn, ai nấy đều hướng về phía tây, mang theo mình những của cải nhỏ nhoi cuối cùng còn giữ được - tạo nên một trong những cuộc di dân lớn nhất mọi thời đại, buổi xế chiều của các thiên thần tại “đế chế ngàn năm”.

Bố mẹ tôi kết bè kết bạn với đôi vợ chồng người Ukraine mà ông bà hoặc đã quen từ dạo ở Leipzig hay về sau này, trên đường chạy trốn. Mãi đến khi cả bốn người lần được đến Nürnberg, họ mới thấy là thành phố không còn vẻ gì là thành phố nữa. Trong trận oanh tạc cuối cùng, Không quân hoàng gia Anh RAF, trong vòng nửa giờ đã ném xuống thủ phủ xứ Franken này sáu ngàn quả bom hạng nặng và hơn một triệu bom cháy. Cả thành phố chỉ còn là một đống gạch vụn đầy chết chóc. Tuy thế, một lần nữa bố mẹ tôi đã chạy thoát khỏi tay chính quyền Xô viết.

Hai người lang thang hàng tiếng đồng hồ trong thành phố đổ nát, trời đổ mưa, rồi sập tối. Tại một khu nhà máy bỏ hoang ngoài rìa, nằm giữa thành phố đôi Nürnberg-Fürth họ tìm thấy một nhà kho để ngỏ, hẳn là nhà kho của nhà máy xe lửa ở kề bên. Họ chui vào đây, những mong sẽ không bị ai phát hiện để có thể ngả lưng nghỉ vài ba tiếng giữa đống phế liệu chất trong kho. Mẹ tôi không hề biết rằng anh Sergey của bà cũng đang ở Đức, rằng tại khu vực do Hồng quân chiếm đóng bà vừa trốn thoát, ông ấy đang hát vang các bản nhạc kịch Nga cho binh lính Hồng quân nghe. Bà không hề biết mẹ bà vẫn còn sống, nhưng cùng với con gái Lidia bị chiến tranh xô đẩy đến đầu bên kia thế giới, tận vùng Alma-Ata xứ Kazakhstan gần giáp với Trung Quốc. Ẩm ướt, đói khát và gần xỉu đi vì kiệt sức, bà ngủ thiếp đi trên nền nhà bằng gỗ lát cứng đơ đơ. Đứa con trong lòng bà cựa quậy. Nỗi lo sợ đứa con gây cho bà vẫn bám lấy bà, chui sâu vào tận giấc ngủ không mộng mị của bà.

❀ ❀ ❀

[1] Viết tắt từ chữ “Hilfwilliger” - quân tình nguyện phục vụ trong hàng ngũ quân đội Đức hay lực lượng cảnh sát tại nơi quân Đức chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới II. Phần lớn họ là binh lính Hồng quân bị bắt hoặc đầu hàng quân chiếm đóng.

[2] Bộ trưởng phụ trách tuyên truyền thời Đức Quốc xã.

Hoàng Đăng Lãnh (dịch) Nguyên tác: Sie kam aus Mariupol (2017)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.