Người Đến Từ Mariupol

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Bên hồ, mùa thu đánh tiếng sắp về, bằng một chiếc lá vàng bất ngờ rơi bên cửa sổ, qua sự biến mất đột ngột của đàn kiến chạy thành vệt dài trong bếp mà mấy tuần liền tôi mất công diệt không được.

Tối tối, lúc các tia sáng mềm mại, ngái ngủ buông xuống mặt hồ phẳng lặng như mặt gương, khi không trung trở nên yên ắng, khiến không một tàu lá nào đung đưa nữa và ngay cả những giống thủy cầm lắm mồm nhất cũng im hơi lặng tiếng, thì một sự yên bình buông xuống, ngự trị hết thảy, sự bình yên hư ảo và xao xuyến lòng, đến mức tôi cảm thấy mình như không còn sống giữa nhân quần trên cõi trần gian này nữa.

Lúc khuân hành lý ra xe, trong lòng tôi chợt nổi lên nỗi lo âu khó tả. Tôi có cảm giác, như thể nếu bây giờ rời nơi này mà đi, thì tôi cũng để lại ở đây tất cả những gì mình tìm thấy ở chốn này. Tôi không tưởng tượng nổi rằng mình có thể mang về nhà tất cả những thứ chỉ nằm lọt trong cái hộp mỏng dẹt và giản dị được gọi là laptop kia, hay đúng hơn, những thứ chỉ nằm trong những chip vi mạch lẫn điện cực vớ vẩn nào đó. Tôi cũng lo sẽ lạc mất ông Konstantin, nếu tôi bỏ nơi vẫn thường ngồi liên lạc với ông mà đi, ông là người mà bây giờ tôi đã biết là không sống ở Mariupol như lúc đầu tôi tưởng. Mặc dù sinh ra ở Ukraine thật, ông đã sống từ lâu ở Tscherepovez thuộc miền bắc nước Nga, là nơi ông giữ chân kỹ sư tại một nhà máy cán thép nào đó, và vào lúc rảnh rỗi, bỏ công chăm nom Diễn đàn của những người Ukraine gốc Hy Lạp. Ông có vợ, bốn con, lại thêm một lô cháu. Trong số con trai của ông, một người là sử gia, sinh sống ở Hoa Kỳ.

Tôi không biết vì lẽ gì ông lại đích thân bắt tay tìm mẹ tôi. Tôi chỉ biết mình là người may mắn nhất đời vì được làm quen với ông. Không những ông thông thạo lịch sử nước Nga, không những ông là một trong số những người thiên hạ vẫn mệnh danh là dân nghiện máy tính, ông còn là một kẻ si mê món Gia phả học. Ngay từ thời còn nhỏ, ông đã say sưa tìm hiểu lập gia phả với càng lắm chi nhiều nhánh càng hay. Riêng với gia phả của chính gia đình mình, ông đã lần ngược về đến thế kỷ 16, nếu không phải là lùi sâu hơn nữa vào quá khứ, khiến tên tuổi, lai lịch những người thuộc dòng dõi tổ tiên gia đình ông phải ghi đặc những cuộn giấy dài hàng thước chứ không ít.

Một trong những kỳ công mang tính thám tử của ông là, sáu chục năm sau chiến tranh, ở đâu đó giữa đồng không mông quạnh, ông đã khám phá ra một mảnh cánh máy bay bị thủng lỗ chỗ đạn, trên đó còn in rõ số hiệu chiếc máy bay chiến đấu mà ông bác bị mất tích của ông hôm xưa từng lái. Số là ở Liên Xô hồi đó, những người bị mất tích trong chiến tranh đều bị khép vào tội này hay tội khác, nên ông bác ông bị nghi phạm tội đào ngũ. Bằng khám phá ngoạn mục đó của mình, ông Konstantin đã làm rõ sự thật. Nhờ vậy, ông bác ấy được phục hồi danh dự, và con trai ông - vì đã là con một kẻ bị tình nghi phạm tội đào ngũ thì không kiếm được nghề nào khá hơn nghề nông, đành an phận sống nghèo sống khổ trong một ngôi làng Ukraine vô danh hẻo lánh nào đó - mới được nhận khoản tiền bồi thường vừa đủ sắm cho mình bộ răng giả lúc về già. Ông Konstantin thậm chí còn dò ra viên phi công người Đức mang tên Hubertus von Bonin - viên sĩ quan từng được gắn huân chương Chữ thập Ritterkreuz của Quốc xã, và nằm trong số phi công chiến đấu xuất sắc nhất của quân đội Đức thời Thế chiến thứ hai - đúng là người đã bắn hạ chiếc Iliushin do ông bác ấy lái, và sau này chính hắn cũng bị bắn hạ và tử thương. Tôi đã không mấy khó nhọc để thông qua Internet tìm được người cháu của viên phi công Đức này, rồi tự nguyện làm phiên dịch một thời gian ngắn, dịch các thư trao đổi giữa ông Konstantin với người cháu kia. Người cháu viên phi công từng được tặng thưởng Huân chương Ritterkreuz nọ tỏ ra không hiểu gã người Nga ấy muốn gì ở mình, có thể anh ta còn nghi con người từ tận đâu đâu bỗng dưng xuất hiện này muốn đổ tội cho anh ta, vì bảy chục năm trước ông bác anh ta đã bắn hạ người bà con của mình, và thậm chí, anh ta có thể đã nơm nớp lo, không chừng ông Konstantin muốn đòi bồi thường cũng nên. Chẳng rõ thế nào, nhưng mọi đề nghị chuyện trò qua mạng của ông Konstantin đều bị anh ta khước từ, lịch sự theo một cách rất Đức. Tôi đâm thương hại ông Konstantin, ông chỉ mong được tán gẫu dăm ba câu, hay có lẽ ông chỉ tò mò muốn biết xem con người từng ấn cò bắn tan xác một lúc cả phi cơ lẫn phi công cầm lái ấy là người thế nào thôi, và chắc chắn ông cũng sẽ rất mừng, nếu phía bên kia sẽ hỏi xem ông bác ông đã là người ra sao. Thế nhưng chẳng ai hỏi ông như thế. Tuy vậy, con người thám tử trong lòng ông Konstantin vẫn lấy làm đắc thắng như thường. Chí ít thì sau hơn bảy chục năm, ông vẫn tìm thấy ở bên Đức cháu của người đã bắn thủng lỗ chỗ chiếc máy bay Iliushin của ông bác ông, thậm chí ông còn trao đổi email với người cháu của ông ta. Bây giờ, ông chỉ còn thiếu, và ông sẽ chẳng chịu ngồi yên cho đến khi tìm ra nó, một mảnh ghép cuối của trò ghép hình này, cái mà người ta vẫn gọi là biên bản khai hỏa của phi công. Trước đây nhiều năm, ông đã viết thư hỏi cơ quan lưu trữ quân sự Đức nhưng chưa được trả lời. Rồi đến lượt tôi viết thư yêu cầu kho lưu trữ về việc đó. Sau khi tôi được ông Konstantin giúp điền xong một mẫu đơn khá lằng nhằng và chuyển khoản ba chục euro xong, thì khoảng ba tháng sau, tôi nhận được gói bưu phẩm nhỏ chứa một cuộn phim được kẹp chì bên trong. Sau chiến tranh, cuốn phim cũ đã được mua lại của kho lưu trữ quân sự Hoa Kỳ và bây giờ quay trở lại nơi nó đã được quay hôm xưa. Tuy chất lượng phim không còn tốt nữa, nhưng ông Konstantin có thể thấy trên đó tất cả những gì ông muốn, tức là bằng chứng cuối cùng chứng minh cho sự thật ông khám phá.

Tôi nghĩ, không phải ông Konstantin chỉ giúp một mình tôi tìm kiếm người thân. Đi làm về đến nhà là ông ngồi xuống bên bàn điều khiển điện tử của mình, rồi tìm cách chắp nối các mối chỉ đã bị đứt đoạn lại với nhau - đó là niềm đam mê, nỗi ám ảnh, là nhu cầu nội tâm của ông. Ông lôi những gì đã biến mất quay lại với đời, dựng lại những bộ gia phả khổng lồ, phức tạp, như hồi còn con trẻ ông đã làm, có điều nay ông dùng máy tính để làm việc đó. Tôi cũng đoán chừng, rằng đối với ông, một người suốt đời không được phép đi đâu, và đến khi được phép, thì lại quá nghèo để đi, cho nên mạng Internet cũng thay thế cho thế giới vậy. Trong thế giới ảo ấy, ông có thể mò tới tất cả những nơi ông cần đến mà chẳng ai cản trở. Rồi rốt cuộc, ông cũng dựng cho tôi một cây phả hệ, một phả hệ không còn là cây nữa, mà cả một khu rừng, trong đó tôi toàn bị lạc lối. Tôi, một kẻ chưa từng biết họ hàng tông tích là ai, bỗng chốc lại có nhiều đến mức tôi lẫn lộn hết cả, và không còn biết các mối dây liên hệ họ hàng ngang dọc, trên dưới, trước sau ra làm sao. Tôi phóng to cây phả hệ đó ra, rồi treo nó lên tường trước bàn làm việc, thỉnh thoảng tôi lại ngồi ngẩn ra nhìn, khám phá nó như khám phá bản đồ thế giới.

Giờ thì tôi biết, tôi tuyệt nhiên không phải là người duy nhất tìm người thân. Sau Cách mạng, người ta giết chết hàng lô hàng lốc người thuộc giới quý tộc và nhà giàu, hoặc đuổi họ ra nước ngoài, người ta tước đoạt của cải của nông dân, đẩy họ vào trại lao động, vô số dân trí thức biến mất trong các trại Gulag hay nơi lưu vong xứ người, trong chiến tranh chết thêm hai chục triệu người nữa, theo một số tài liệu khác, con số đó còn cao hơn nhiều. Tất cả những cái đó của thế kỷ 20 đã cắt phăng hết mọi sợi dây liên lạc tự nhiên giữa các thế hệ với nhau. Giờ đây, sau gần một trăm năm khiếp sợ và nằm im thin thít, toàn dân trên đất Liên Xô xưa kia lên đường tìm người thân, những người từng bị mất tích, bị bắt mang đi và không bao giờ quay về nữa; vâng, họ lên đường tìm lại nguồn gốc, bản sắc, cội rễ của chính mình. Trong lưu trữ gia đình Ivashtschenko, người mẹ sinh năm 1920 của tôi là người cuối cùng được ghi nhận. Từ mẹ tôi trở đi, lịch sử gia đình bị đứt mạch. Bà là ngọn đèn hậu còn leo lắt sáng của gia đình, trước khi cuộc chia ly tiêu tán vĩ đại bắt đầu diễn ra; con cái của anh chị bà còn chẳng biết ai với ai, nói gì đến con cái họ.

Hiện giờ không còn ai được nhờ cậy nhiều hơn như ông Konstantin nữa, con người say sưa mê mẩn tra cứu, truy tìm dấu vết người mất tích ấy. Ông mở lối đi xuyên rừng rậm, và tôi nối gót theo ông. Nhưng rồi chính ông cũng lại bám gót tôi, đó là điều tôi không sao hiểu nổi. Ông theo tôi lên mọi đỉnh cao, xuống mọi hố sâu của cuộc truy tìm, ông chia sẻ cùng tôi mọi nỗi bồn chồn, mọi niềm thất vọng ập đến mỗi khi dấu vết nào đó vừa được lộ ra đã lại biến ngay vào hư không. Đôi khi, tôi cứ nghĩ ông mới chính là khám phá lớn nhất của tôi. Không có ông, tôi đã nhanh chóng lạc lối trong khu rừng Internet nguyên thủy của Nga tự lúc nào, không nhờ có ông kiên trì, nhẫn nại dẫn dắt, hẳn tôi đã bỏ cuộc tại một ngõ cụt nào đó giữa khu rừng rậm rì ấy rồi. Nhưng ông Konstantin không bao giờ nản, không buông tay, và sự thôi thúc tìm tòi ở ông đã cuốn hút tôi theo. Ông là nhà ảo thuật, còn tôi là nữ trợ lý, là người tiếp tay cho nhà thám tử tài ba ấy. Với tôi, ông chính là câu đố, câu đố duy nhất mà trong cuộc tìm kiếm của mình, ông không giúp tôi tìm lời giải.

Cuốn sách ông hứa gửi cho tôi đang chờ ở nhà: cuốn sách về Georgi Tschelpanov, nhà triết học và tâm lý học Ukraine, người đã lấy bà Olga, một trong số các bà cô của mẹ tôi làm vợ, và cũng là người tôi mang ơn vì bài viết về mẹ tôi trên mạng. Đọc bài viết trên trang Wikipedia của Đức về ông, tôi biết ông đã sống trong khoảng thời gian từ năm 1863 đến năm 1936 - một người theo chủ nghĩa Neo-Kant, và cũng là người đã thành lập cơ sở nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm đầu tiên của nước Nga. Ngòi bút của ông đã cho ra đời hàng loạt sách: Bộ não và linh hồn, Giáo trình Logic học, Nhập môn tâm lý học thực nghiệm, cùng nhiều cuốn khác. Rất có thể lúc đương thời mẹ tôi đã biết ông, bởi vì sau khi bà Olga vợ ông tự tử, ông thường về thành phố quê hương Mariupol, và có lẽ, vào những dịp như thế ông đã ghé thăm ông em rể, tức thân phụ mẹ tôi.

Cuốn sách nằm trong gói bưu phẩm được buộc sơ sài bằng một sợi dây, một mặt dán tem chi chít từ trên xuống dưới, những con tem giá thấp, có lẽ do vừa lúc tại bưu điện Tscherepovez không còn loại tem nào khác. Trên tấm nhãn hình vuông màu trắng, tôi nhận ra mẫu chữ tôi dùng lúc viết email. Để khỏi bị nhầm, chắc ông Konstantin đã không chép địa chỉ bằng tay mà in email của tôi ra, dùng kéo cắt phần địa chỉ rồi dán lên lớp giấy bọc màu xám đó. Tôi loay hoay gỡ các nút buộc. Tôi có cảm giác sẽ phạm tội báng bổ thánh thần, nếu dùng kéo cắt sợi dây ấy - một sợi dây gai đã tơi tả, dùng đi dùng lại nhiều lần, mà hồi còn nhỏ tôi mới thấy. Một cuốn sách bọc bìa láng bóng màu xanh da trời và vàng lúa mì, hai màu biểu tượng của Ukraine hiện ra. Phía trên những tấm ảnh con con hình vuông chụp Mariupol và Moskva là tựa sách: Georgi Tschelpanov, cuộc đời và sự nghiệp.

Qua ông Konstantin, tôi đã biết trước là sách không nhắc đến mẹ tôi, thế nhưng, đột nhiên tôi sáp đến gần thế giới của bà, gần phát chóng cả mặt. Vừa mở bìa sách ra, mắt tôi đã đập ngay vào một bức ảnh, nhưng không phải ảnh gia đình bố mẹ ông Tschelpanov, mà là ảnh gia đình vợ ông, gia đình bà Olga Ivashtschenko. Tôi đưa mắt nhìn vào căn phòng của ông bà nội mẹ tôi, những người mà cho đến giờ tôi chưa hề nghĩ họ có mặt ở đời này. Vừa nhìn thoáng qua, tôi đã nhận ra ngay bà Valentina, người sáng lập trường Nữ sinh trung học, nhìn kĩ hơn, tôi phát hiện thêm một khuôn mặt quen thuộc với tôi. Đó là người đàn bà ngồi cạnh bà Valentina trong tấm ảnh mang từ Ukraine theo. Dòng chú thích dưới tấm ảnh in trong sách đúng như tôi đoán, cho biết đấy cũng là một bà cô nữa của mẹ tôi, bà Natalia. Tấm ảnh gia đình không thấy ghi ảnh chụp thời gian nào, nhưng tôi có thể nhẩm ra được. Bởi trên ảnh có cả ông Leonid, là ông bác duy nhất của mẹ tôi, thì dứt khoát ảnh phải chụp trước năm 1901. Đấy là năm ông Leonid mất vì bị động kinh, lúc ông vừa hai mươi sáu tuổi. Trong ảnh đây, ông đeo cravat, mặc Âu phục màu đen đứng sau các chị, trên tay cầm vật gì trông như điếu xì gà, và chắc chắn chưa hay biết gì về cái chết đang đến gần.

Tôi tự thấy làm lạ, rằng mình đã biết thêm bao nhiêu thứ về gia đình mình. Tôi biết trong ảnh thiếu mất ba người. Ông Epifan, ông nội mẹ tôi, vào khoảng thời gian này chắc chắn đã bỏ vợ, ra đi trên một con tàu do ông làm chủ. Bà bác lớn tuổi nhất của mẹ tôi, Olga, cũng đã bỏ Mariupol ra đi, đến sống với chồng là ông Georgi Tschelpanov ở Moskva. Và ông bố của mẹ tôi - người mà tôi mong ước giá được biết thêm về những giây khắc khác của đời ông thì hay biết bao nhiêu ấy - vào thời kỳ chuyển giao giữa hai thế kỷ này, đang chịu cảnh lao tù trong một trại giam nào đó ở Siberi xa xôi. Rõ ràng, tấm ảnh này chỉ chụp phần còn lưu lại Mariupol của đại gia đình trong khoảng thời gian đó. Đồ gỗ cùng những tấm thảm cổ xưa và quý giá, chắc chắn là những thứ sót lại từ thời gia đình còn khá giả, tức là từ thời ông Epifan chưa sạt nghiệp và chưa biến đi không bao giờ quay lại nữa. Trùm lên những người ngồi có trật tự trên ghế dài là tán lá cây cọ trồng trong phòng đặt trên bệ đỡ ở phía sau.

Ở đây, bà Natalia - người mà tôi đã quen mặt trong tấm ảnh mang từ Ukraine sang Đức ấy - chưa mang nụ cười vô vọng trên gương mặt, bà trông ở đây cũng trẻ hơn nhiều và đầy vẻ vô tư của một thiếu nữ. Bà búi tóc cao lên như tổ chim, mặc áo liền váy dài, tay áo kiểu gigot, trên tay cầm cái quạt. Bà Valentina mặc bộ quần áo mà bây giờ tôi đã biết là trang phục bà Hiệu trưởng phải mặc, dáng người bà gầy gò, ngồi ngay ngắn thẳng lưng bên cạnh mẹ bà trên chiếc ghế dài. Ngồi trên chiếc ghế bành kê ngay bên cạnh là chồng bà, ông Vassili Ostoslavski. Trông ông trẻ trung, đẹp trai, ăn mặc sang trọng, xứng đáng danh vị quý tộc Nga giàu có, một người không ai có thể ngờ sau này sẽ phải chết đói. Bà Jelena, bà cô thứ ba của mẹ lần đầu tôi được thấy trên ảnh, là người yêu kiều nhất. Bà mặc bộ áo liền váy bằng gấm thêu bó sát người, cổ áo kiểu Stuart, một quyển sách mở rộng đặt trên đùi. Ngay giữa tấm ảnh là bà Anna von Ehrenstreit, bà nội gốc Đức vùng Baltic của mẹ tôi, ngồi quây quần giữa các con bà hồi đó còn ở lại Mariupol. Người bà nhỏ nhắn, dáng dấp hơi nông dân trong bộ váy liền áo sẫm màu giản dị. Mái tóc ngay ngắn chải ngược ra sau, chắc chắn là búi lại ở sau gáy.

Một trong những bóng ma ghê gớm nhất ở thời thơ ấu của tôi là một người họ hàng của mẹ, một nhân vật mà bố tôi quả quyết bị mắc chứng tâm thần nan y. Mời bác sĩ tâm thần vang danh nổi tiếng ra tay điều trị cũng chẳng ăn thua. Bố tôi khăng khăng cả hai mẹ con tôi đều mang theo căn bệnh tâm thần di truyền ấy trong người. Cho nên, suốt cả thời thơ ấu lẫn thanh thiếu niên, tôi chỉ chờ xem lúc nào thì căn bệnh tâm thần di truyền đó sẽ bùng phát. Về sau này, khi đã gạt bỏ được nghi vấn độc địa của bố về căn bệnh di truyền đó rồi, tôi vẫn tự hỏi không biết đằng sau mối nghi ngờ ấy, thật ra có phải là mối sợ chính bản thân bị điên của ông hay không, căn bệnh sợ điên maniaphobie rất phổ biến ở người Nga, ngay cả Pushkin cũng đã nguyền rủa trong một bài thơ thuộc loại nổi tiếng nhất của mình ấy, vâng, sau này, khi tôi đã khôn lớn và các cơn ác mộng thời thơ ấu bắt đầu tới tấp trút những cơn sợ hãi vô nghĩa và quái đản lên đầu, những cơn sợ hãi mà dường như tôi không có cách gì cưỡng lại nổi, thì thỉnh thoảng tôi lại nghĩ, không chừng bố tôi đã có lý cũng nên, và các thảm họa về tâm lý của tôi vốn bắt rễ sâu từ tổ tiên xa xưa, như một thứ cỏ dại muốn nhổ thế nào thì nhổ, vẫn không bao giờ sạch rễ, phải, thứ cỏ dại bắt rễ sâu xa đến mức tôi không còn phương cách nào thoát khỏi các dấu vết khủng khiếp còn lại từ thời thơ ấu nữa cả.

Người bà con mang tiếng mắc bệnh tâm thần ấy của mẹ tôi, bây giờ thì tôi đoan chắc chỉ có thể là bà Olga, bà cô của mẹ tôi mà thôi. Sách ghi bà bị tâm thần, và đúng như lời ông Konstantin kể lại, bà đã gieo mình qua cửa sổ tự tử ở tuổi bốn mươi ba. Vị bác sĩ tâm thần nổi tiếng mà bố tôi bảo không đủ tài chữa cho bà, chẳng phải là ai khác, mà chính là ông Tschelpanov, chồng bà ấy.

Ngoài vô số những bức ảnh chụp ông cùng nhiều triết gia Nga khác cùng thời, trong sách còn in hàng loạt ảnh chụp bà vợ ông. Tôi ngắm mãi bức tranh thật sự của bóng ma từng ám ảnh tôi suốt một thời thơ ấu ấy. Người bà con đó quả thực đã tồn tại ở ngoài đời, chứ không thuộc vào số những nhân vật mà thời thơ ấu tôi tưởng tượng ra trong đầu, bà là người bằng xương bằng thịt hẳn hoi, người mà tôi phải gọi bằng bà mới phải, người có mái tóc đen, gương mặt hiền lành nhỏ nhắn và hết sức dịu dàng con trẻ, cùng đôi mắt mở to nghiêm nghị. Trong số ảnh in trong sách, một bức chụp bà mặc bộ váy sang trọng chuyên dùng trong các ngày vũ hội, mái tóc dày giắt hoa, bức thứ hai - chụp bà sát cánh bên chồng, trong bộ trang phục yêu kiều dùng vào lúc viễn du, bức thứ ba chụp bà quây quần cùng mọi người trong gia đình bà trên sân thượng ngôi nhà nghỉ nằm gần khuất hẳn giữa các khóm cây xanh rờn. Tác giả cuốn sách mô tả bà là một người thông minh khác thường, đã hiểu rộng biết nhiều, lại giàu tình cảm. Ông còn trích dẫn từ các lá thư bà gửi từ Mariupol cho chồng chưa cưới ở Moskva, và về sau, từ Moskva gửi bố mẹ mình ở Mariupol. Đó là những đoạn thư viết bằng lời lẽ yêu thương, chứa đầy những tên gọi cúng cơm, các biệt hiệu kiểu Nga dùng để gọi nhau thời con trẻ, cùng những lời lẽ chứa đầy nỗi nhớ nhung da diết dành cho mẹ và anh chị em, cũng như vô vàn thổn thức lo âu về số phận ông em Jakov ở Siberi xa xôi. Các bức thư ban đầu gửi chồng chưa cưới đều để lộ lòng thiếu tự tin của bà: bà khẩn khoản xin ông nghĩ lại cho chín về chuyện cưới xin, bởi chính ông - người đàn ông tuyệt vời được người người yêu mến, người mà dạo đó tất cả các cơ quan khoa học tối cao cũng như các phòng tiếp tân sang trọng nhất thành Moskva đều mở rộng cửa đón mời - xứng đáng được sánh đôi với một người đàn bà khác, cao sang hơn. Bà vừa không đẹp, vừa chẳng đáng yêu, đã ốm đau bệnh tật, lại già trước tuổi và đầu óc thường bị ám ảnh bởi những ý nghĩ điên cuồng và tăm tối.

Tuy nhiên, cuộc hôn nhân vẫn thành. Bà Olga sinh hạ được ba người con; cùng với một cô giữ trẻ và một bà quản gia, bà còn đảm đương cai quản cả một cơ ngơi khá lớn, nơi mà giới trí thức, văn nghệ sĩ thượng lưu ở Moskva thường xuyên lui tới. Theo lời viết trong sách, bà từng là người mẹ dịu hiền, là người vợ trung thành tận tụy hết sức với chồng, và cũng là người có tài đoán trước các biến cố chính trị về sau sẽ trở thành tai họa cho chồng. Bà thường theo chân ông ra nước ngoài, sang tận New York, qua Thụy Sĩ, đến Leipzig gặp gỡ nhà tâm lý học thực nghiệm lừng danh người Đức, Wilhelm Wundt, là người mà chồng bà hợp tác chặt chẽ, cũng như nhiều lần sang Berlin, đặt chân đến cả Charité. Vào những năm cuối đời, bà bị những ý nghĩ dằn vặt, những mối lo khôn nguôi cho mạng sống chồng con thường xuyên hành hạ; tác giả cuốn sách còn cho biết, đầu óc bà dường như luôn luôn quay cuồng cùng những sự kiện hay hiện tượng bà không giải thích nổi, bà phản ứng hết sức nhạy bén trước mọi biểu hiện của sự bất công, dù chỉ là biểu hiện nhỏ nhoi nhất, và bà có thể khóc ròng vì những nguyên cớ không đâu nhất. Cuốn sách không viết gì nhiều về lý do khiến bà gieo mình qua cửa sổ tự tử năm 1906, mọi phán đoán về nguyên cớ đều do tác giả đặt ra chứ không hề có bằng chứng nào hết.

Ông Konstantin quen biết tác giả cuốn sách; ông này sống tại một ngôi làng hẻo lánh ở miền Nam Ukraine và tránh hầu hết các mối tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Mọi nỗ lực tìm cách liên lạc với ông ta nhằm hỏi thêm về bà Olga cũng như về các nguồn tài liệu của ông về bà, đều không thành. Các email, kể cả của tôi lẫn của ông Konstantin, ông ta đều không hồi đáp.

Càng nghĩ ngợi lâu về chuyện này, tôi càng thấy nó huyền bí, khó hiểu. Liệu có phải ông Tschelpanov, là người vốn theo thuyết Tính bẩm sinh, đã nhìn vào sự bất ổn về tâm lý của vợ mình mà dự đoán trước căn bệnh tâm thần bẩm sinh của bà? Phải chăng bà Olga đã là nạn nhân của các thí nghiệm tâm lý học của ông? Phải chăng tất cả chúng tôi, cả bà Olga, lẫn mẹ con tôi, đều mắc căn bệnh mang tên Tschelpanov nọ? Phải chăng bây giờ tôi đã lần đến đúng người đầu tiên nuôi dưỡng cái ý nghĩ mà về sau không những chỉ đẩy bà Olga, mà cả mẹ tôi đến chỗ tự tử? Có phải những ý nghĩ trong lòng bố tôi chính là những ý nghĩ của ông Georgi Tschelpanov, những ý nghĩ đã ấp ủ dai dẳng suốt hơn một thế kỷ để rốt cuộc cắm rễ trong đầu óc tôi? Trước mắt tôi cứ thường xuyên hiện lên đôi bàn chân nhỏ nhắn và dễ thương của bà Olga, đôi bàn chân xỏ trong đôi ủng xinh xinh có dây buộc, từng bước đi trên một con phố nào đó ở Berlin, để sát cánh bên chồng đến thăm bệnh viện Charité hơn một trăm năm trước. Vào kiếp trước của tôi, sao mà bà đã đến gần nhà tôi đến thế, chỉ hai chục phút đi bộ từ căn hộ hiện nay tôi đang sống tại Berlin thôi chứ mấy.

Mười năm sau khi bà mất, và cũng chẳng bao lâu sau khi cách mạng bùng nổ, đúng như bà từng tiên đoán trước, ngôi sao chiếu mệnh của chồng bà trên nền trời khoa học cũng tắt ngấm. Người ta buộc tội ông theo chủ nghĩa thần bí, chủ nghĩa duy tâm phản mác-xít, ông mất chân giảng dạy ở Đại học Tổng hợp Moskva, ông không được phép bước chân vào học viện nghiên cứu do chính tay ông dựng nên nữa, sách vở mang tên ông đều bị loại hết khỏi thư viện. Một người con gái của ông trở thành nghệ sĩ trung thành với chế độ, chuyên dựng các tượng đài hoành tráng ca ngợi chủ nghĩa anh hùng; người con gái thứ hai lấy chồng là nhà triết học người Pháp, Brice Parain và theo chồng sang sống ở Paris, tức là chung đụng với bọn tư bản ngoại quốc, khiến ông Tschelpanov càng bị thất sủng. Con trai ông, một nhà Đức học và chuyên gia về ngôn ngữ cổ đại, và người từng tham gia biên soạn một cuốn đại từ điển Đức-Nga, cuốn từ điển sau khi xuất bản bị gán ngay mác tác phẩm phản cách mạng và phát-xít. Ba người trong ban biên soạn và xuất bản sách, trong số đó có con trai ông Tschelpanov, bị kết án tử hình và xử bắn tại pháp trường. Riêng ông Tschelpanov, như có phép màu, lại thoát bị nhục hình. Vào những năm cuối đời, nghe nói ông - lẻ loi, khốn khổ - thường lảng vảng ở cổng viện nghiên cứu xưa kia và thều thào hỏi những người qua lại, xem họ còn nhớ ông là ai không. Ngày nay, ông được phục hồi danh dự, sách của ông lại được xuất bản, người ta lại nghiên cứu, rồi viết cả sách về ông.

Tôi cứ ngắm đi ngắm lại bức ảnh gia đình Ivashtschenko với cây cọ trồng trong phòng. Liệu mẹ tôi có biết cây cọ ngoài đời thật sự thế nào không nhỉ, liệu mẹ tôi có bao giờ chạm tay vào cây cọ này không, chẳng biết bên ảnh đây có ghi các vết tay vô hình của mẹ không nhỉ? Càng ngắm bức ảnh, tôi càng thấy không thể tin được rằng mẹ tôi vốn xuất thân từ cái thế giới tôi thấy trong ảnh đây. Ở bà, không hề có, vâng, hoàn toàn không có một dấu hiệu nào của thế giới ấy. Dù có lo sợ, dù có cố tình che giấu thế nào đi nữa, thì cũng có lúc bà phải vô tình hé lộ gốc gác mình ra chứ? Làm sao một con người có thể hoàn toàn biến đi, khi hình hài vẫn nguyên như cũ? Hay là lúc còn nhỏ, tôi không nhận thấy những dấu hiệu mà bây giờ, giá nhìn thấy, tôi khắc nhận ra ngay ấy?

Tôi cố lần tìm dấu vết của bà nội gốc Đức miền Baltic của mẹ tôi, nhưng trên mạng, tôi chỉ tìm thấy một trang kết quả chứa đựng không nhiều thông tin lắm trong từ điển bách khoa về các gia đình quý tộc Áo năm 1826: Ngài Jacob Zwillach, Đại úy thuộc trung đoàn bộ binh Wallache thứ nhất được phong quý tộc vào năm 1798 với danh hiệu Edler[1] von Ehrenstreit. Nếu chữ Wallache ở đây không bắt nguồn từ chữ Wallach, là tên một giống ngựa, mà là từ chữ Walachei, thì có phần chắc rằng ông Jacob Zwillach được phong quý tộc ở đây là người bà con với bà cố nội của tôi, không chừng là bố, hay ông nội bà cũng nên. Rất có thể bà đã lấy tên Jacob của bố hay ông mình để đặt cho Jakov, con trai đầu của bà, và cũng là bố của mẹ tôi. Bởi vì dạo đó, xứ Walachei là đất bảo hộ nằm trong Đế chế Nga, là Đế chế bao trùm cả vùng Baltic lẫn đất Ukraine, cho nên, xét cho cùng, thì cả hai dòng họ Ehrenstreit và Ivashtschenko đều cùng là dân một nước cả. Cụ bà Anna von Ehrenstreit hẳn đã phải theo chân cụ ông Epifan đến Mariupol khi cụ còn rất trẻ, bởi theo sổ nhà thờ, tại đó, lúc mới mười chín tuổi, bà đã sinh con đầu lòng, tức bà Olga. Tiếp liền theo sau là hai người con thứ, ông Jakov - bố của mẹ tôi - và em gái ông là bà Jelena. Ngắt quãng mất năm năm thì đến lượt các bà Valentina, bà Natalia và ông Leonid ra đời. Nếu ở đời quả thực không có nỗi đau đớn nào lớn hơn nỗi đau mẹ mất con, thì bà cố nội Anna của tôi đã phải hai lần chịu đựng nỗi đau đó. Lúc bà năm mươi sáu tuổi, ông Leonid mất sau một cơn động kinh; năm năm sau, bà Olga con gái bà lại gieo mình qua cửa sổ mà chết. Lúc ấy, có lẽ bà đã bị ông chồng Epifan bỏ rơi, và chỉ còn sống một thân một mình. Hai năm sau khi bà Olga mất, bà cũng qua đời vì ung thư. Tôi đoán rất có thể trước khi nhắm mắt xuôi tay, bà đã được hưởng niềm an ủi lớn là được gặp lại con trai mình, ông Jakov, lúc đó vừa quay lại Mariupol sau hai chục năm bị lưu đày phát vãng.

Thoạt đầu, tôi cũng chẳng biết tại sao mình cứ phải ngắm đi ngắm lại cụ cố nhiều lần như thế, chưa rõ tại sao tôi lại thấy cụ có nét gì thật thân quen đối với tôi như vậy. Nhưng mãi rồi thì tôi cũng nhìn ra: tôi nhận ra chính mình trên bức ảnh chụp cách đây hơn một trăm năm tại Mariupol ấy. Gương mặt tôi trông giống gương mặt cụ như đúc; ngay cả tư thế cụ ngồi chống một cùi tay lên thành ghế bành, còn tay kia để trên đùi, cũng là tư thế của tôi. Gen di truyền của cụ, người sinh ra trước tôi tròn một thế kỷ, đã nhảy cóc qua hai thế hệ đến cắm vào tôi. Đó chính là nguyên nhân vì sao trông tôi không giống bố mẹ đẻ. Có lẽ chính sự khác nhau đập ngay vào mắt ấy khiến mẹ tôi cứ quả quyết, tôi không phải con bà đẻ ra, mẹ đẻ tôi phải là ai khác kia. Bà cứ mắng như thế vào mặt tôi, đến mức khi đã thành người lớn rồi, tôi vẫn bán tín bán nghi, không chừng sự thể là như vậy thật cũng nên. Nhưng bây giờ, mấy chục năm sau, bức ảnh gia đình có hình cụ bà đã dẹp hết mọi nỗi ngờ vực. Tôi đúng là chắt của cụ, thì cũng có nghĩa tôi là con mẹ tôi. Tôi cũng chưa thật hiểu, bằng chứng đó có ý nghĩa thế nào đối với tôi, nhưng trong lúc ngắm cụ bà, lần đầu tiên trong đời, một tình cảm lạ lùng đã trỗi dậy trong lòng tôi, một tình cảm hình như người ta vẫn bảo là tình cảm máu mủ, giống nòi thì phải. Âu cũng là thứ gì đó giống như tình cảm ruột thịt sâu sắc gắn bó ta với giống người nói chung vậy.

Trong lúc tôi vùi đầu đọc cuốn sách viết về Tschelpanov thì ông Konstantin đem đăng một tấm trong số ảnh cũ của gia đình tôi chụp ở Ukraine lên trang diễn đàn của ông ấy - bức chụp mẹ tôi đứng bên người đàn bà lạ mặt có mái tóc bạc. Một chị Irina nào đấy ở Charkov, vốn là người từ lâu cũng cất công tìm tổ tiên gốc Ý của chị, đã vô tình vào diễn đàn của ông Konstantin và không dám tin vào mắt mình nữa. Bức ảnh chị nhìn thấy trên diễn đàn cũng là một trong số những bức ảnh nằm trong album ảnh gia đình nhà chị. Và cả chị ấy cũng đã biết bức ảnh đen trắng này từ thời thơ ấu, và cả hai người đàn bà trong ảnh, theo lời chị viết cho tôi, vô cùng thân thiết với chị.

Tôi có cảm giác, trong cuộc tìm kiếm này đang diễn ra những điều gì đó thật bất thường. Bức ảnh cũ kỹ này - bức ảnh bao lâu nay vốn vẫn nằm khuất đâu đó trong ngăn kéo bàn làm việc của tôi - vừa ló ra nhìn đời, thì lập tức đã có người bà con xa nào đó của tôi - cũng có thể là người duy nhất trên thế gian này - xuất hiện và cam đoan chị cũng đang giữ một tấm ảnh y xì như thế, vẫn từng ngắm nghía nó từ khi còn rất nhỏ.

Song le, khác với tôi, chị biết rất rõ những người chụp trong ảnh là ai. Chị viết cho tôi, rằng người đàn bà tóc bạc đứng cạnh mẹ tôi, chính là bà Matilda Iosifovna, mẹ đẻ của mẹ tôi. Tôi không thể tin được điều đó. Người đàn bà tóc bạc như tuyết đó trông đã quá lứa để có thể là mẹ của mẹ tôi, là người dạo ấy mới khoảng mười tám tuổi là cùng; tôi ước chừng bà ít nhất phải bảy chục rồi, nhưng bà ngoại vẫn còn sống của chị Irina khẳng định rằng, không nghi ngờ gì nữa, đó chính là bà Matilda Iosifovna, chị gái của bà nội gốc Ý của Irina - tức là bà Angelina De Martino.

Irina, một người mà quan hệ họ hàng với tôi thật sự thế nào, tôi cũng chẳng rõ, đã kể tôi nghe một câu chuyện đến là khó tin: Ông bố bà Matilda, tức cố ngoại Giuseppe De Martino của tôi, vốn xuất thân từ một gia đình làm nghề điêu khắc đá ở Napoli. Lúc lên mười hai tuổi, ông xin học nghề thủy thủ, và qua năm tháng, leo lên đến vị trí Thuyền trưởng. Ông may mắn qua khỏi bệnh đậu mùa từng mắc ở Hồng Kông, và nghe đâu, cũng là công dân Ý đầu tiên căng buồm vòng quanh châu Phi. Rồi một ngày nào đó, ông đã theo một con tàu buôn cập bến Mariupol. Ở đây, ông làm quen với cô con gái một nhà buôn Ý giàu có - cô gái mười bốn tuổi Teresa Pacelli; cô này say mê say mệt chàng thuyền trưởng đẹp trai. Một năm sau, hai người làm lễ cưới. Cô Teresa - lúc này đã mười lăm tuổi - đem búp bê lên thuyền, và từ đó theo chồng lênh đênh mọi miền biển cả. Nghe nói bà đã sinh hạ cả thảy mười sáu người con, nhưng chỉ sống được bảy người. Một người trong số này là bà Matilda, mẹ đẻ ra mẹ tôi sau này. Bà cùng các anh chị em khác sống và lớn lên tại các gia đình họ hàng ở Mariupol, trong khi bà Teresa mê say búp bê và ông thuyền trưởng người Ý vẫn theo chồng lênh đênh đây đó. Đến lúc ông cố ngoại tôi rốt cuộc cùng với vợ lên bờ cắm đất ở lại làm ăn ở Mariupol, thì ông phất lên, giàu rất nhanh. Hồi ấy, hầu hết dân Ý di cư đến sinh sống ở Ukraine đều làm nghề buôn bán lúa mì, rượu vang hay than đá, là thứ vô cùng vô tận ở vùng mỏ Donetsk. Ông Giuseppe De Martino chọn nghề buôn than; ông xuất than đi khắp thế giới và nhờ đó mà thu bạc triệu. Ông chủ hạm đội thương thuyền chuyên chở than đến cùng trời cuối biển đó, chính là thân sinh của con rể tương lai của ông, tức là cố nội Epifan người Ukraine của tôi, người vốn kết duyên cùng bà Anna von Ehrenstreit. Do hai gia đình đi lại thân thiết với nhau, cho nên bố mẹ của mẹ tôi - tức là bà Matilda, con gái nhà xuất khẩu than người Ý, và ông Jakov, con trai chủ hạm đội tàu hàng - cũng qua đó mà quen biết nhau.

Chị Irina gửi cho tôi cả tá ảnh chụp hai cụ người Ý của chúng tôi qua màn hình máy tính. Một bức chụp hai cụ người Ý của tôi hồi còn trẻ, hình như vừa đi nghỉ đâu đó trên đất liền về. Vị thuyền trưởng cùng vợ chưa cưới trông dáng có vẻ giản dị, nhưng cũng không kém ngang tàng, trang phục hai người đều màu đen, như chuẩn bị đi lễ nhà thờ. Bà Teresa mặc váy dài bằng vải taffeta, chỉ nhìn ảnh thôi cũng như đã nghe thấy tiếng vải sột soạt, làm tôi liên tưởng đến một bà vợ góa trẻ tuổi người đảo Sicily nào đó trong phim do Visconti đạo diễn. Trong số bảy người con sống sót, chỉ còn ảnh bà Matilda và em gái Angelina, một người có sắc đẹp bán nam bán nữ của một thiên thần; bà lấy chồng là người Hy Lạp, người giàu có nhất Mariupol hồi bấy giờ. Hai vợ chồng họ từng sống trong ngôi nhà mà dân thành phố gọi là “Nhà nghỉ bạch ốc”, mặc dù ngôi nhà trông chẳng giống nhà nghỉ chút nào, mà từa tựa một tòa lâu đài thật sự thì đúng hơn. Bức ảnh chụp sau này, dưới thời Liên Xô, trên lan can hoành tráng phía trên dãy cột nhà kiểu Hy Lạp đã thấy treo cờ Liên Xô, phía ngoài vườn hoa là hai y tá đội mũ trắng. Sau cách mạng, ngôi nhà bị chuyển thành nhà an dưỡng cho bệnh nhân bệnh phổi, mang tên Nadeshda Krupskaja, bà vợ của Lenin.

Trên vài bức ảnh khác, viền vàng và trang trí bằng các loại họa tiết khác nhau, tôi được thấy ba cô con gái còn nhỏ tuổi của bà Angelina, tức là các cô em họ của mẹ tôi. Bọn trẻ đeo nơ kiểu Nga trên các mái tóc gợn sóng và được đặt ngồi như hình nộm trên những bộ ghế ngồi sang trọng. Ảnh chụp bọn trẻ được cô bảo mẫu người Ba Lan bế trên tay, mặc áo và đeo ống tay lông thú; ảnh chụp chúng trượt tuyết, ảnh chụp chúng mặc váy học múa ba lê. Bức ảnh khác chụp một người đàn ông sang trọng đội mũ, mặc áo choàng, là ông cậu người Hy Lạp của mẹ tôi, và như chị Irina cho biết, vốn cũng là ca sĩ opera nổi tiếng tại nhà hát Mariinsky ở St. Petersburg.

Tôi kinh ngạc ngắm nhìn các bức ảnh chụp những người đến là xa lạ với tôi đó, và không khỏi cười thầm trong bụng. Hóa ra hồi nhỏ, tôi đã chẳng bịa sai chuyện chút nào, thậm chí chuyện tôi bịa còn xoàng xĩnh kém xa sự thật nhiều. Tôi quả thật là chắt một nhà tư bản lớn chuyên buôn bán than đá, một nghề hồi đó có lẽ cũng lời lãi ngang khai mỏ vàng, như ngày nay buôn dầu mỏ vậy. Họ hàng nhà tôi hẳn đã sống trong xa hoa phú quý, trong khi đa phần dân chúng Ukraine sống chìm đắm trong đói nghèo khổ ải.

Nhưng làm sao mà ông Jakov - ông ngoại người Ukraine của tôi, một người đã phải trả giá cho các ý tưởng cách mạng của mình bằng hai mươi năm đi đày phát vãng ấy - lại lấy con gái một nhà triệu phú ngoại quốc được chứ? Phải chăng lúc ông còn trẻ trung nông nổi, ông mới hăng hái theo chân những người bolshevik - là những người chủ trương tiêu diệt giai cấp của những người như ông? Phải chăng cảnh tù đày giam hãm đã làm ông tỉnh ngộ? Phải chăng trở về Mariupol đã đánh dấu việc ông quay lại với thế giới giàu sang xưa kia, với cô bạn gái Matilda, người mà có thể ông đã yêu thương từ trước khi bị đi đày cũng nên? Phải chăng được làm rể một gia đình giàu có vốn là sự may mắn ông được hưởng, khi chính gia đình ông thì lụn bại trong thời gian ông bị tù đày?

Tôi xoay đi xoay lại mãi trên tay bức ảnh chụp mẹ tôi hồi còn trẻ bên cạnh người đàn bà đã lớn tuổi, người dường như là bà Matilda Iosifovna De Martino ấy. Mặc dù các con số ghi năm tháng trong sổ nhà thờ cho biết bà Matilda đã sinh mẹ tôi khá muộn, tức là mãi lúc bà đã bốn mươi ba tuổi rồi, và cũng có thể suy diễn rằng lúc mẹ tôi bị lùa đi, bà đã không phải bất cứ bức ảnh nào cũng mang theo, mà chỉ chọn những bức chụp bố mẹ của bà thôi, thì tôi vẫn khó lòng tin người đàn bà tóc bạc, trông tuổi đã khá cao trong ảnh đây lại là mẹ của mẹ tôi, lúc đó mới mười tám tuổi. Có lẽ, đây là bà ngoại mẹ tôi, bà Teresa Pacelli - nàng dâu biển cả hôm xưa - lúc về già, thì sẽ hợp lý hơn chăng?

Irina lại làm rối tung tất cả các hình ảnh lâu nay tôi vẫn hình dung về mẹ tôi một lần nữa. Có phải đúng bà là con gái người đàn bà được sinh ra trên biển sóng, là con của người con gái vị thuyền trưởng - một người lớn lên không những không cha, mà cũng không mẹ nốt, ở nhà họ hàng trên đất liền, những người bà con hẳn đã chứa chấp bà vì miễn cưỡng chứ không phải vì yêu thương, là một đứa con cô độc, bị ruồng bỏ, không nhà không cửa? Liệu một người đàn bà như thế, sau này có thể nuôi nấng, yêu thương đùm bọc con cái của chính mình hay không? Tôi chợt có cảm giác, dường như cuộc đời vô quê hương của mẹ tôi không phải mãi đến khi sang Đức mới bắt đầu, mà bà đã sống cuộc đời ấy ngay từ hồi còn ở Ukraine, như thể bà không phải là con chim non, vào một lúc nào đó, không may rơi khỏi tổ, mà thực ra bà là con chim chưa bao giờ có tổ ấm, bởi chính bố mẹ bà cũng từng là những kẻ sống vô gia cư, nay đây mai đó. Bà Matilda - bị bố mẹ đem cho người khác; ông Jakov - bị ông bố - vị chủ tàu phá sản, từng ra đi không bao giờ quay trở lại nữa ấy - bỏ rơi. Và không phải chính ông Jakov, sau hai chục năm lưu đày ở Siberi, cũng trở thành người tha hương, thành kẻ xa lạ giữa đời này hay sao? Phải chăng chính đó là bố mẹ của mẹ tôi, hai con người đã tìm đến với nhau, khi cả hai đều đã bị chặt gốc trốc rễ, bị ruồng rẫy xua đuổi? Nếu cái nôi Ukraine của mẹ tôi chưa từng tồn tại, thì phải chăng, bây giờ tôi phải tự tìm lại toàn bộ câu chuyện về mẹ tôi cho mình?

Trí nhớ thời con trẻ của bản thân làm tôi kinh ngạc. Lại có cái gì đó, mà từ lâu tôi cứ nghĩ chỉ là điều mình tưởng tượng ra, chỉ tồn tại trong đầu óc tôi, hóa ra lại đúng với sự thật. Dòng họ De Martino quả đã tồn tại trong tiền kiếp của tôi thật, mẹ tôi quả đúng là con gái một bà người Ý, thậm chí “người buôn than” cũng không phải do tôi bịa ra mà đúng thực là ai đó trong gốc gác tiền sử của chính tôi, dù cho đấy là người buôn than thuộc hạng hoàn toàn khác với hạng người mà thông thường người đời vẫn gắn với danh hiệu “người buôn than”.

Trong số ảnh Irina có về gia đình cụ bà Angelina có cả một tấm chụp bác Sergey, anh trai của mẹ tôi. Bức ảnh cũ đã bạc màu ấy được chụp vào năm 1927, lúc bác mười hai tuổi. Ai đó đã nháy bức ảnh này bên bờ sông Dnieper, ở Cherson, nơi mà dạo đó một ông chú người Ý của mẹ tôi là chủ nhân một khu vườn nho lớn. Nhìn lên ảnh, tôi như tắm mình vào ánh nắng một ngày hè năm 1927, vào thời thơ ấu của mẹ tôi, lúc bà mới bảy tuổi đời. Phong cảnh đẹp tuyệt vời, thiên nhiên tĩnh lặng, một con thuyền neo bên bờ sông, một cây cổ thụ đứng bên bờ. Có thể nhận thấy, dường như những người trong ảnh đã đứng ở những vị trí không phải ngẫu nhiên, mà có bố trí hẳn hoi, đối với nhau cũng như đối với thân cây trong ảnh. Chính giữa, ngồi trên chạc cây đầu tiên là một thiếu nữ yêu kiều mà Irina không rõ là ai. Ở dưới, đứng ngay cạnh gốc cây là ba đứa con gái rất xinh của bà Angelina - tức là em họ mẹ tôi; ở đây trông họ lớn hơn hẳn so với bức ảnh có trang trí bằng họa tiết nói trên, cả ba đều tóc tết đuôi sam và đều mặc áo kiểu Tolstoi. Trên cành cây chìa ra là một cậu bé với đôi tai vểnh lên đang nhoẻn miệng cười. Cậu ta mặc quần cộc, đội mũ thủy thủ, đôi chân trần buông thõng, lơ lửng giữa trời.

Chị Irina bảo đấy là bác Sergey, anh trai mẹ tôi, người mà tôi với ông Konstantin lùng tìm bấy lâu nay chưa ra dấu tích. Dạo ấy, ít nhất là ở Ukraine, chắc chắn người ta chưa ai phát hiện ra “nụ cười khi lên ảnh”, cho nên trên tất cả các tấm ảnh qua mắt tôi đến giờ, tôi thấy ai nấy đều nghiêm nghị, ngay cả trẻ con, thế mà đúng ông anh của mẹ tôi lại toét miệng ra cười. Chẳng biết vì cớ gì điều đó lại làm tôi thất vọng. Bởi tôi cứ nghĩ ông, một người nếu đã gần gũi với mẹ tôi đến thế, hẳn phải là người hết sức sâu sắc, nhạy cảm, u uất lắm mới đúng, vâng, tôi những hình dung ông là người đồng tình đồng cảm với mẹ tôi. Nào ngờ ông lại ngồi vắt vẻo trên cành cây, hai chân buông thõng giữa trời, miệng toét cười nhìn thẳng vào ống kính thế này. Một cậu bé yêu đời, thậm chí có vẻ hơi thô lỗ, cục cằn là đằng khác. Đến vẻ bề ngoài tôi cũng chẳng thấy có gì giống nhau giữa ông với mẹ tôi. Liệu có phải tôi đang ngắm ảnh anh trai bà thật không, hay Irina nhầm, và đây là ảnh cậu bé nào hoàn toàn khác?

Dưới sông, ngay sát bờ, có thể thấy lấp ló một con thuyền, trong thuyền là hình bóng hai người đang ngồi, một người giữ mái chèo. Tôi tự hỏi không biết đó có phải mẹ tôi và chị Lidia không? Kể cũng có lý, bởi không lẽ bác Sergey chỉ đi chơi một mình với các chị họ thôi? Không biết tấm ảnh này có phải là tấm đã chụp vào kỳ nghỉ hè tụi trẻ cùng về nghỉ tại nhà ông bác người Ý bên bờ sông Dnieper không?

Tôi cứ trân trân nhìn, đến mức cay cả mắt, vào hình bóng hai người ngồi dưới thuyền. Tôi phóng to rồi lại thu nhỏ bức ảnh trên màn hình máy tính của tôi, bởi phóng to đến độ nào đó là mọi thứ lại nhòe hết. Tôi lôi kính lúp ra soi, tôi in ảnh ra giấy hết cỡ này cỡ khác, nhưng hình bóng hai người trong thuyền quá nhỏ, quá xa vời, quá mờ nhạt, và bất chấp cả kỹ thuật hiện đại, hai người vẫn khăng khăng giữ kín bí mật của họ, ngăn không cho tôi nhìn được, dù chỉ một lần, vào thời thơ ấu của mẹ tôi.

Theo như trong thư Irina viết cho tôi từ Charkov, bà Lidia - chị cả của mẹ tôi - từng chơi thân với người em họ là Marusia, tức cô xinh nhất trong ba cô gái đứng dưới gốc cây trong ảnh. Một ngày nọ, lúc cả Lidia lẫn Marusia đều khoảng mười tám tuổi gì đó, hai người rủ nhau cùng tự tử một lúc. Lý do vì sao thì rất mờ mịt, nhưng Irina cho rằng, nguyên do rất có thể là ở chỗ hai người tự thấy mình, xuất phát từ gia thế, không còn triển vọng tương lai nào nữa hết trong hệ thống chính trị mới. Dì Marusia không được vào đại học nên hết sức thất vọng, đâm chán đời rồi sinh ra trầm cảm nặng. Không rõ bác Lidia có bị u sầu trầm cảm như thế hay không, chỉ biết bác chính là người đầu têu chuyện này. Bằng cách nào đó hai người đều gom đủ thuốc độc rồi hẹn nhau đúng ngày, đúng giờ sẽ uống thứ thuốc chết người đó. Dì Marusia y hẹn, uống thuốc rồi chết, hẳn là một cách đau đớn quằn quại thê thảm lắm, nhưng bác Lidia đến phút chót lại sợ, hất đổ thuốc đi, nên may mắn sống sót.

Chuyện nghe tuy có vẻ hoang đường, do thói hay bi kịch hóa mọi sự của người Nga mà ra, nhưng khiến tôi không khỏi thấy ghê ghê trong lòng. Liệu tất cả họ có giống nhau cả một lượt không, mới đầu là bà Olga - bà bác của mẹ tôi, người đã gieo mình qua cửa sổ tự tử - đến dì Marusia - em họ mẹ tôi - cũng tự kết liễu cuộc đời mình, rồi bác Lidia - chị cả mẹ tôi - toan liều mình quyên sinh, chỉ đến phút chót, mới không dám nữa, và sau rốt, là mẹ tôi? Phải chăng họ đều mắc căn bệnh mang tên Tschelpanov ấy? Liệu tự tử có phải là một thứ bệnh di truyền trong gia đình không? Phải chăng do mẹ tôi, lúc đó khoảng chín tuổi, đã ít nhiều chứng kiến thảm kịch đó? Và không biết bác Lidia đã sống như thế nào, khi đã thất hẹn và phản bội lời thề nguyền chết người, khiến em họ mình lìa đời trong niềm tin cùng được chết với chị? Người chị cả mẹ tôi này vốn là người thế nào? Liệu hồi đó thanh gươm Damocles của trại khổ sai đã treo lơ lửng trên đầu bác chưa?

Lẽ ra tôi có thể tự tìm trên mạng, song tôi cảm thấy cái chữ ấy gần gũi thân thiết thế nào đó, khiến tôi không thể đánh nó vào công cụ tìm kiến ẩn danh được. Tôi đành phải hỏi ông Konstantin, không biết ông có biết địa danh Medvedja Gora không. Ông ta hồi đáp:

Medvedja Gora là một nhà ga ở Karelia. Hồi xưa, lâu lắm rồi, dạo tôi mới thi xong ngạch sơ cấp ngành y, họ phái tôi đến làm ở Petrosavodski. Tôi từng sống ở đấy vài năm và đã có lần đạp xe một trăm sáu chục cây số, xuyên rừng đến Medvedja Gora. Nếu quả thực bác của bà bị đày đến trại này thì rất ít có khả năng bà ấy qua đời vì một nguyên nhân tự nhiên. Tù nhân ở trại này phải đào kênh đào Bạch Hải - Baltic, một con kênh dài cỡ hai trăm ba chục cây sổ nối Bạch Hải với biển Baltic và mở đường cho Leningrad thông ra biển Barent. Tù nhân phải đốn hạ hàng ngàn cây cối; họ hầu như không có phương tiện kỹ thuật hiện đại nào hỗ trợ, và thực ra, đã phải đào kênh bằng sức người là chính. Trung tâm hành chính của công trình khổng lồ này (mà thực chất là trại cải tạo lao động) nằm ở Medvedja Gora. Nó là chi nhánh của trại Solovki khét tiếng, vốn nằm trên một quần đảo ở Bạch Hải. Trước đây, Solovki là một tu viện nổi tiếng, sang thế kỷ 18 nó biến thành nhà tù đáng sợ nhất thời Sa hoàng. Thời Liên Xô, ở đây đã xuất hiện nguyên mẫu cho tác phẩm Quần đảo Gulag sau này. Không ai biết rõ số người chết tại công trường đào kênh Bạch Hải - Baltic là bao nhiêu, các con số ước lượng nằm trong khoảng từ năm chục đến hai trăm năm chục ngàn. Vô số người đã thiệt mạng ngay tại công trường, chết ngập chết vùi dưới đất cát bùn lầy; xác họ vẫn nằm vùi nằm dập ở đó đến tận giờ.

Thì ra Medvedja Gora, vâng, địa danh Núi Gấu nằm ở đấy, tại xứ Karelia thần tiên của nước Nga, nơi vô vàn hồ nước và vô tận rừng cây, nơi những ngôi nhà thờ xây bằng gỗ im lìm ẩn náu. Đó quả là một địa danh có thực ở đời, một địa danh mà tôi đã ghi nhớ từ hồi còn rất nhỏ. Đối với tôi, ý nghĩ bà chị cả mẹ tôi không thể sống sót trong trại giam ấy không phải là mới mẻ, song bây giờ, tôi thấy bà trước mắt mình, bị hành hạ đọa đày cho đến chết, xác bị giày xéo nhão nhoẹt nằm dưới lòng con kênh đào, cùng với bao nhiêu con người khác đã bỏ mạng tại công trường đó. Lòng kênh đào dài hai trăm ba chục cây số lót tuyền bằng xác người, trong đó có xác bác tôi…

Tôi mở bản đồ ra dò tìm. Medvedja Gora nằm cách xa Mariupol hai ngàn ba trăm cây số. Với khoảng năm ngàn dân, mảnh đất này nằm lọt giữa một miền rừng cây gần như vô cùng vô tận, trải từ Bạch Hải - một góc con con của Bắc Băng Dương - sang tận đất Phần Lan, một khu rừng taiga Nga vô tận, đầm lầy, lắm sói, nhiều gấu, suốt nửa năm trời chỉ độc tuyết với tuyết, đêm Bắc cực, vào mùa ấm áp ngắn ngủi thì rặt muỗi với muỗi mà thôi. Chế độ toàn trị đã biết lợi dụng không những chỉ miền đất xa xôi cách trở, mà còn dựa cả vào thiên nhiên khắc nghiệt để thiết lập hệ thống trừng phạt đày đọa của nó. Tôi thử hình dung xem hồi ấy, người ta phải mất bao nhiêu lâu để vượt hết chặng đường dài hai ngàn ba trăm cây số ấy. Bác Lidia đã phải đi bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm để lê thân được đến trại? Lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận được mức độ rộng lớn khủng khiếp của không gian trong đế chế khổng lồ ấy, khoảng không gian mênh mông dữ dội trùm lên số mệnh lẻ loi trơ trọi, bất lực và vô vọng của con người. Chỉ xét riêng khoảng cách với quê hương xứ sở thôi, thì hình phạt mà bác Lidia phải chịu có lẽ cũng còn là nhẹ, bởi nói cho cùng, dưới thời Liên Xô còn có những trại giam nằm xa Mariupol hơn rất nhiều, những hàng chục ngàn cây số, hay còn xa hơn nữa.

Ngày nay, Medvedja Gora là khu an dưỡng, với nhiều nguồn nước khoáng nổi tiếng. Khách du lịch đến đây trầm trồ ngắm cảnh Bắc cực quang và các đêm trắng, họ đi thăm tu viện bí hiểm nằm quây gọn trong những bức tường thiên cổ trên quần đảo giữa Bạch Hải, và thăm một thắng cảnh khác được mô tả như sau qua một bài viết đăng trên trang web Nga:

Vô số tù nhân đã bỏ mạng trong các khu rừng bao quanh Medvedja Gora, những tù nhân đã xây dựng kênh đào, và theo tinh thần thời ấy, họ được mệnh danh là các “chiến sĩ đào kênh”. Sau khi ghé thăm nghĩa trang ở đó, người ta sẽ có một cảm giác kỳ lạ, pha trộn giữa đau buồn, phẫn uất và bất lực hoàn toàn. Ở dãy không có các ngôi mộ như người ta thường vẫn thấy ở các nghĩa trang, ở đây chỉ có các thân cây, trên mỗi thân cây gắn một tấm biển dán chân dung và đôi dòng về cuộc đời người đã khuất. Rất nhiều cây, nhiều lắm, thành cả một khu rừng mênh mông rộng lớn. Và trong khu rừng ấy, gió thổi rì rà rì rào như thể muốn đưa muôn vàn tiếng thì thầm trò chuyện của bấy nhiêu sinh mạng từng bị sát hại nơi đây đến với ta.

Liệu bà chị cả của mẹ tôi có phải là “một chiến sĩ đào kênh” không? Giả sử tôi có lên đường tìm bác ấy, thì liệu tôi có phải đi tìm một thân cây nào đó ở miền Karelia đó không? Liệu tôi có tìm thấy ở đó, trên thân cây ấy, tấm ảnh lâu nay tôi vẫn nôn nao mong ước được thấy - tấm ảnh chụp chị gái mẹ tôi không?

Mãi sau này nhẩm tính lại, tôi mới nghĩ chắc chắn mình sẽ không tìm thấy ảnh của bác Lidia trên bất cứ thân cây nào ở xứ sở ấy. Kênh được đào trong thời gian từ năm 1931 đến năm 1933. Bởi vì quân Đức tấn công Liên Xô vào tháng Sáu năm 1941, thì chắc chắn bà Matilda, thân mẫu mẹ tôi, phải lên đường đi tìm con gái ở Medvedja Gora trước đó ít lâu, tức là sau khi kênh đã đào xong được những tám năm. Điều đó có nghĩa là bác Lidia hoặc đã sống sót (sau những tháng bị đày ải) hoặc mãi đến sau năm 1933 mới bị đem đến trại, lúc mà cây cối vùng Karelia được đốn hạ cho mục tiêu khác. Có thể bác đã ở lại định cư ngay tại xứ sở mình bị đày ải, như không ít phạm nhân vẫn làm lúc mãn hạn tù. Tức là, ai mãi mãi nằm lại giữa chốn rừng sâu hoang dã cứ nằm, ai sống sót vẫn tiếp tục sống tại đây, do muốn tránh thật xa các trung tâm đông đúc, hoặc do sau một thời gian dài đày biệt xứ, họ mất hết mọi mối liên hệ với đời và không còn biết về đâu khác nữa.

Tính từ đầu đến giờ, tôi với ông Konstantin đã viết cho nhau hàng trăm email chứ không ít, có ngày cả chục, hay hơn nữa. Nhiều tháng nay, tôi không làm gì khác ngoài đọc mail của ông ấy rồi trả lời ngay, nhằm thúc đẩy công việc tìm kiếm hai chúng tôi đã cất công. Nhưng trước sau chúng tôi vẫn chưa tìm thấy tung tích của anh chị mẹ tôi. Bác Lidia dường như biến mất trong mớ bòng bong các xáo động của thời cuộc, và việc tìm kiếm bác Sergey cũng không tiến thêm được bước nào. Ý tưởng khôn ngoan của Konstantin, toan tìm bác ấy qua chương trình truyền hình được người người ưa chuộng, mang tên “Đợi anh về” - theo nhan đề bài thơ nổi tiếng của Konstantin Simonov, nhà thơ Nga thời chiến tranh - đã không thành, bởi ban biên tập của chương trình nhận được quá nhiều yêu cầu của khán giả. Hàng ngày, có tới hàng trăm người đăng kí xin tìm người thân, thời gian chờ đến lượt kéo cả năm trời, chưa kể các yêu cầu của người khác còn khẩn thiết hơn nhiều yêu cầu của chúng tôi. Chúng tôi đã gửi thư thỉnh cầu đến kho lưu trữ trung tâm của Đảng, là nơi chúng tôi cầm chắc lý lịch hồ sơ đảng viên của bác Sergey phải được lưu giữ, nhưng cũng không được hồi đáp. Ông Konstantin dò hết địa chỉ những ai mang họ Ivashtschenko còn sống ở Mariupol, và tôi viết cả thảy bốn mươi tám bức thư cho họ, nhưng chỉ nhận được hai thư trả lời, trong đó người viết cho biết không có họ hàng với người chúng tôi tìm. Cơ quan hộ khẩu Mariupol cũng im lặng, không đáp lại thư của chúng tôi. Theo một đầu mối khác, chúng tôi lần về được một ngôi làng Ukraine bên bờ biển Azov, và tôi thư từ qua lại ít lâu với một cậu thanh niên sống ở đấy; cậu này quả quyết cụ ông cụ bà đang sống của cậu ta từng quen biết bác Sergey tôi. Nhưng sau mẩu tin nhiều hứa hẹn đó cùng những lời than phiền về tình hình tồi tệ ở Mariupol, cậu ta lặn mất tăm. Chúng tôi còn lần theo dân cư một khu phố nhỏ ở Kiev, là nơi có dấu hiệu cho biết bác Sergey từng cư ngụ. Ông Konstantin còn nhờ một ông bạn sống ở Kiev đến đó tìm nhưng chẳng ăn thua. Rốt cuộc, ông ấy viết thư hỏi tất cả các nhà hát opera lớn nhất ở các nước Cộng hòa Xô viết cũ. Thế mà lại may. Nhà hát Bolshoi ở Minsk - Bạch Nga, trả lời ông Konstantin rằng, vào những năm 50, ông Sergey Jakovlevitch Ivashtschenko từng là “diễn viên đơn ca hạng nhất” thuộc khối các nhà hát opera. Theo họ biết, ông kết hôn với một nữ bác sĩ, hai người có người con gái tên là Jevgenia. Năm 1958, ông rời Minsk, chuyển về Nhà hát Quốc gia Kazakhstan ở Alma-Ata. Từ Alma-Ata, chúng tôi chỉ nhận được dòng tin cộc lốc, rằng năm 1962 ông này chuyển về Nhà hát ở thành phố Rostov bên sông Đông. Từ đó là bặt, không còn tin tức gì nữa.

Bởi vì bác Sergey ra đời từ năm 1915, nên chúng tôi nghĩ chắc ông không còn sống; thế nhưng, dù sao bây giờ chúng tôi cũng nắm được một thông tin quan trọng. Bác có người con gái là Jevgenia Sergeyevna, rất có thể đang còn sống. Song, chúng tôi phải bắt đầu tìm từ đâu? Giá bác Sergey có con trai thì mọi sự sẽ dễ dàng hơn rồi đấy. Con gái bác chắc đã lấy chồng, mang họ chồng mà chúng tôi không biết là họ gì. Đến đây, hóa ra chúng tôi lại chui đầu vào ngõ cụt.

Do bác Sergey từng ra trận cùng dàn đồng ca “Cờ Đỏ”, nên trước đây tôi cứ nghĩ chắc ca sĩ Sergey cũng thuộc cỡ nhàng nhàng thôi; nhưng các nhà hát, mà nơi nào ông cũng từng được mời tham gia trong tư cách “diễn viên đơn ca hạng nhất” đều bác lại ý nghĩ đó của tôi. Dẫu gì thì giữa tôi với nhạc kịch opera đã có duyên nợ với nhau từ lâu. Dạo còn rất trẻ, dạo mà tôi chưa biết gì nhiều về thế giới ngoài khu nhà thời hậu chiến dành cho đám công nhân bị cưỡng bức trước đây ra, có lần tôi vô tình được vào Nhà hát quốc gia ở München. Lúc ấy, người ta đang diễn vở Don Carlos, chuyện thế nào tôi chẳng hiểu mấy, thế nhưng, lúc vị Hoàng đế Phillip đã về già trong khu lâu đài Escorial về đêm, cất tiếng ca “Nàng chưa từng yêu ta” dưới ánh nến sắp lụi tàn, thì tôi mới thật sự bắt đầu được khai tâm vậy. Tôi đã từng chịu cảnh cô đơn, từng kiệt quệ ốm đau vì đói, nhưng tôi chưa bao giờ ngờ rằng ngoài thức ăn thức uống ra còn có thứ dinh dưỡng này nữa. Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy thế giới bên ngoài để tâm đến tôi, lần đầu tiên tôi nhận được một thông điệp của chính tôi từ thế giới bên ngoài gửi tới. Từ đó, nhà hát opera, thế giới các âm thanh trở thành thế giới của tôi, nhà ở của tôi. Có lẽ tôi đã là nữ khán giả không biết mệt mỏi nhất trong số khán giả không có chỗ ngồi, phải đứng trên bục sau cùng của Nhà hát quốc gia München. Tôi không còn mong ước gì tha thiết hơn là biến thành một viên gạch xây Nhà hát, để không phải rời nó ra về nữa, để không phải bỏ sót một âm thanh nào nữa cất lên ở đây. Tôi đã lắng nghe ở đây giọng ca của hầu hết các danh ca thời đó, từ Birgit Nilsson cho đến Teresa Stratas, từ Fritz Wunderlich đến Nikolai Ghiaurov. Sau mỗi buổi diễn tôi lại hồi hộp run rẩy đứng chờ ở lối ra vào dành riêng cho nghệ sĩ, để xin được chữ ký của các vị thánh tôi ngưỡng mộ vào mặt sau tấm vé của mình, và để được đứng gần họ vài giây phút đồng hồ. Phải chăng bác ruột tôi đã từng là một vị thánh như thế? Liệu có phải chính bác là người dạo ấy đã đứng trên sâu khấu tranh tối tranh sáng, cất giọng trầm trầm ca lời ta thán bất hủ của vị Hoàng đế Tây Ban Nha mệt mỏi, chán đời, ngán quyền lực, và là người chồng bị ruồng rẫy, liệu có phải chính giọng hát của bác hồi đó, trong một khoảnh khắc kỳ diệu, đã lôi tôi thoát khỏi cảnh cô đơn, làm tôi thay đổi hoàn toàn và mãi mãi không?

Do cách đặt tên trong khu vực nói tiếng Nga thường không cho biết người ta có ưa tên gọi đó hay không, nhưng chắc chắn nói lên tình yêu thương dành cho một người nào đó, nhất là người thân trong gia đình, thế nên không nghi ngờ gì nữa, bác Sergey đã lấy tên Jevgenia của mẹ tôi đặt cho con gái mình. Tôi chỉ muốn chạy ngay đến bên mẹ, báo cho bà tin vui ấy: Đây này, bác Sergey không quên mẹ đâu nhé, bác không bao giờ hết yêu thương mẹ nhé, con có bằng chứng hẳn hoi đây này, mẹ nghe không, bác lấy tên mẹ đặt cho con gái bác đấy nhé…

Trong lúc ông Konstantin với tôi vẫn tiếp tục cuộc tìm kiếm dường như vô vọng ấy, thì chị Olga, bạn tôi, từ Kiev sang thăm. Sau thời kỳ Bước ngoặt ít lâu, thoạt đầu chị sang thăm Berlin, và vừa từ một nơi khốn khổ như Ukraine hồi đó ra đi, chị không thể tin vào mắt mình khi nhìn thấy ở các nhà hàng hai bên đại lộ Ku’damm, người ta thản nhiên dọn những miếng thịt nướng to đùng to đoàng cho khách. Sau đó, người nữ kỹ sư cầu đường học hành đến nơi đến chốn ấy chuyển sang làm nghề quét dọn ở Berlin để kiếm tiền gửi về Ukraine cho con cháu mình có cái ăn. Sau cuộc Cách mạng Cam ít lâu, chị quay về Kiev, sống với người chồng cũ - một người gốc Crimea theo đạo Karäer - và đứa cháu ngoại, trong căn hộ lắp ghép cũ rộng ba mươi sáu thước vuông và cánh cửa sổ ngắm cảnh hoàng hôn trên sông Dnieper. Con gái chị sống lưu vong bên Hà Lan từ nhiều năm nay mất rồi!

Như mọi lần, chị Olga mang bánh nướng Kiev sang cho tôi, một thứ bánh ngon khôn tả, làm từ trứng gà, hạt dẻ và bơ; sau khi thay đổi chính quyền ở Ukraine, chúng tôi gọi đây là bánh Poroschenko, bởi nó được sản xuất từ một nhà máy do vị tân Tổng thống này làm chủ. Ăn xong thể nào tôi cũng bị chướng bụng kiểu Poroschenko, bởi tôi không sao đừng được và đã tọng quá nhiều bánh vào miệng. Nhưng lần này chị Olga sang không phải để thăm tôi cho vui, mà phải sang vì bà chị Tamara của chị vừa qua đời trong một nhà dưỡng lão dành cho người Do Thái ở Berlin. Lễ an táng đã qua rồi, nhưng chị Olga những mong mang được hũ đựng cốt tro về chôn ở nghĩa địa làng quê chị ở Ukraine, nơi thời thơ ấu của hai chị em từng trải qua. Chị sang đây từ nơi cuộc nội chiến vừa bùng nổ - vâng, trên quảng trường Maidan, nơi mọi sự vốn bắt đầu yên bình là thế, giờ đây súng đã nổ.

Cứ như có ma ám vậy: lúc tôi bắt đầu tìm mẹ cũng là lúc xảy ra các rung động địa chấn đầu tiên báo hiệu cuộc xung đột vũ trang mới trên đất Ukraine. Tôi có cảm giác, như thể tivi đang chiếu lại các hình ảnh của cuộc nội chiến diễn ra lúc mẹ tôi mới chào đời, như thể chúng đang phơi ra trước mắt tôi những gì hồi đó mẹ từng chứng kiến vậy. Rồi chẳng bao lâu nữa, chiến tranh sẽ lan đến Mariupol, và ngôi nhà đầu tiên ở đó bốc cháy lại chính là ngôi nhà dựng trên mảnh đất của ngôi trường Trung học nữ sinh do bà dì Valentina của mẹ tôi dựng nên. Giới truyền thông Ukraine đều đưa tin về “ngôi nhà bị bốc cháy ba lần”. Lần đầu tiên nó bị làm mồi cho lửa là thời nội chiến, khi nó vẫn còn là trường trung học của bà Valentina. về sau, cũng ngay tại chỗ đó, nhà số 69 phố Georgievskaia, quân chiếm đóng Đức lấy làm trụ sở Sở Lao động, và khi phải rút khỏi Mariupol, chúng đã châm lửa đốt nhằm xóa dấu vết của cơ quan chuyên lo việc cưỡng bức lao động đưa sang Đức.

Đến đây thì một câu hỏi quan trọng của tôi dường như được giải đáp. Tôi đoán, có thể ngôi trường đã được dựng lại sau khi nó bị hỏa hoạn, và về sau, mẹ tôi, cháu gái của người có công gây dựng ngôi trường này và qua đời từ lâu, đã dạy học ở đây. Khi quân Đức kéo sang chiếm đóng, chúng đóng cửa trường, rồi dùng ngôi nhà nằm gần trung tâm này làm Sở Lao động và lưu dụng các nhân viên của nhà trường trước đây. Vì thế mà mẹ tôi trở thành nhân viên Sở Lao động của quân chiếm đóng Đức. Bà không tự mình xin vào làm ở đây, cũng chẳng được ai tuyển chọn, chỉ do guồng máy quan liêu đã chạy là cứ thế mà chạy thôi. Nhung mặt khác, kể ra cũng có tin rằng bà được quân chiếm đóng Đức xếp vào làm ở nơi trước đây vốn là trường trung học do chính dì bà dựng nên, chỉ là chuyện hoàn toàn ngẫu nhiên mà thôi.

Mới gần đây thôi, chẳng mấy ai ở Đức nghe nói đến Mariupol, nhưng nhoáng một cái, cuộc nội chiến như thể đã rọi đèn pha lên thành phố này. Trong khi đầu óc tôi vẫn miên man các ý nghĩ về mẹ, thì tivi lần đầu tiên đã chiếu cho tôi thấy các hình ảnh của thành phố bà từng sống. Những đường phố bà từng đi qua, những ngôi nhà bà từng quen thuộc, một vườn hoa nho nhỏ có lẽ đã nằm ở đó từ thời bà còn sống trong thành phố này. Tivi chiếu đi chiếu lại hình ảnh ngôi nhà số 69 phố Georgievskaia cháy nghi ngút khói, ngôi nhà mà trước khi bị tấn công là trụ sở chính của Sở cảnh sát Mariupol, ngôi nhà dựng trên một địa điểm vốn là trung tâm của lịch sử gia đình tôi ấy, bỗng chốc trở thành tâm điểm của các ống kính phóng sự thuộc nhiều đài truyền hình Đức. Tấm biển gắn trên mảng tường mà ngọn lửa còn chừa lại của ngôi nhà, người ta có thể đọc thấy những dòng chữ như sau:

Trong thời kỳ bị chiếm đóng từ năm 1941 đến năm 1943, nơi đây là Sở Lao động Đức. Từ đây, hơn sáu chục ngàn người dân Mariupol đã bị lùa sang Đức làm nô lệ. Trong số họ, cứ mười người thì có một người bị thiệt mạng trong cảnh tù đày.

Cả người chị của Olga, bà Tamara - người mới qua đời ở Berlin do tuổi cao sức yếu ấy - cũng từng bị lùa từ Ukraine sang phía Tây. Lúc mới hai mươi tuổi, bà bị bắt từ Kiev đưa đến Vienna, làm nhân công tại một nhà máy làm đồ hộp. Sau chiến tranh, bà quay về Ukraine, và tuy không phải chung số phận với nhiều người khác - những người bị khép tội phản quốc hay tội làm tay sai cho giặc nên bị xử bắn hoặc bị nhốt vào hết trại lao động khổ sai này đến trại cải tạo khác - bà vẫn nằm trong số lớn những người suốt đời chịu hậu quả của thời gian bị đày đọa nơi đất khách quê người hôm xưa. Những người dạo ấy không chống lại lệnh cưỡng bức của kẻ địch, nay lại quay trở về ấy không được tiếp nhận vào cuộc sống xã hội nữa, phần lớn họ đều phải sống khổ sống cực cho đến lúc chết. Bà Tamara không được học hành gì tiếp, bà không kiếm được việc làm, ngay cả những công việc sơ đẳng nhất cũng không. Nhiều năm trời bà buộc phải sống dựa vào bố mẹ, mặc dù bố mẹ bà cũng phải thắt lưng buộc bụng cho qua ngày. Rốt cuộc, một người quen của bố mẹ bà, vị giáo sư sinh hóa đã luống tuổi, đem lòng thương mến rồi xin cưới bà làm vợ. Bà không yêu ông, nhưng cuộc hôn nhân đã cứu sống bà, nhờ nó mà bà sống sót, ít nhất cũng được lành lặn thân xác. Nhưng nào người ta đâu có chịu làm ngơ cho hành động bạo gan đó của ông chồng bà, một người do gốc gác Do Thái nên xưa nay vẫn bị tị nạnh ghen ghét. Suốt một thời gian dài, ông là vị giáo sư duy nhất ở Kiev không được cấp căn hộ riêng, mà phải ăn ở chui rúc cùng vợ và hai con trong một căn hộ tập thể chật chội.

Tôi biết bà chị của chị Olga là người đàn bà nhất mực điềm tĩnh, luôn luôn bình thản trước mọi hoàn cảnh. Trên đời này dường như không gì có thể làm bà lúng túng, gương mặt bà không để lộ bất cứ điều gì, trông cứ như mặt nước hồ muôn đời gió lặng. Khi chồng bà qua đời và các con bà di cư sang Đức, thì bà cũng theo chân các con; là mẹ của hai người con Do Thái cho nên bà cũng được nhận giấy phép cư trú. Thế là bà lại trải qua quãng cuối cùng và còn khá dài của đời bà tại đất nước từng nô dịch bà, trong vai một người nhận trợ cấp Hartz-IV tại một ngôi nhà cao tầng ở quận Wedding thuộc thành phố Berlin. Bà thường ngồi trong căn hộ một phòng xem chương trình truyền hình của Nga, hoặc loay hoay giải các ô chữ của Nga. Bà có vẻ không nghe được tiếng Đức, và dường như không biết gì đến thế giới lạ lẫm ở phía bên ngoài cửa sổ phòng bà. Nhưng bà lại coi thời kỳ mình từng sống ở Vienna là thời gian sung sướng nhất đời. Hễ nhắc đến thành Vienna là đôi mắt đùng đục của bà chợt sáng lên, đôi má nhợt nhạt như phết sáp chợt thoáng ửng hồng. Olga cầm chắc rằng mối tình đầu và cũng là cuối cùng của chị mình đã diễn ra ở Vienna, và người tình của chị bà vốn là người Đức. Nếu quả như thế thật thì đúng là bà Tamara đã vô cùng liều lĩnh. Các nữ nhân công người Slave bị cưỡng bức sang Đức nhỡ vướng víu tình ái với đàn ông Đức sẽ bị xử tử hoặc bị tống ngay vào trại tập trung. Ngay cả trên đất Ukraine, bà Tamara cũng sẽ bị trừng phạt nặng nề, thậm chí mất mạng; nếu mối tình của bà với người đàn ông Đức kia bị lộ. Ngoài ra, cả gia đình bà cũng sẽ bị liên lụy. Bà Tamara biết rất rõ điều đó, cho nên suốt đời bà đã im lặng, dường như mọi nỗi kinh hoàng bà từng phải trải qua trong thời bị cưỡng bức lao động đã bị bà tẩy bỏ khỏi nhận thức và chỉ còn sống cùng những ký ức nồng nàn ấy nữa mà thôi. Bà qua đời ở tuổi gần chín mươi, trên mảnh đất mà xưa kia, rất có thể bà đã gửi gắm trái tim mình, và mang theo các bí mật riêng tư về nơi chín suối.

Chị Olga còn phải lo nốt một số thủ tục giấy tờ để được phép nhận hũ đựng cốt tro, nên chị ở lại nhà tôi thêm đôi ba tuần nữa. Như mọi lần, mỗi khi chị Olga đến thăm, chúng tôi lại cùng nghe opera trên YouTube đến nửa đêm. Ngay từ những ngày đầu chúng tôi kết bạn với nhau cách đây gần hai mươi lăm năm, niềm ham mê opera đã từ tôi lây sang chị. Chúng tôi nghe đi nghe lại giọng bariton nam trầm Nga của Dmitri Hvorostovsky; con người xuất thân từ xứ Krasnoyarsk vùng Siberi, và gần đây đã trở thành danh ca nổi tiếng thế giới ấy đã từng nói: “Ta không hát để các vị giải trí và khiến các vị khoan khoái lòng dạ, ta cất tiếng ca nhằm lay cho các bị bừng tỉnh, làm các vị phải đau đớn và than khóc cùng ta.” Ông cất tiếng ca “Ah, per sempre io ti perdei”, ông hát “Kak molody my byli”, ông chẳng phải mất công tốn sức nhiều lắm để dùng giọng ca làm chúng tôi đau đớn, và chúng tôi cứ thế mà ngồi khóc hu hu trước màn hình.

Ngày nào cũng như ngày nào, tôi bỏ khá nhiều thời gian tiếp tục tìm tung tích bác Sergey và người con gái mang tên Jevgenia của bác, tức chị họ tôi. Một hôm, tôi lại thử dùng biện pháp đơn giản trial-and-error và công cụ tìm kiếm Google của Nga để tìm Jevgenia Sergeyevna Ivashtschenko, thì một trang web không rõ nguồn gốc đã cho tôi một địa chỉ ở Kiev: Krutoj Spusk, Nhà số 25, hộ số 5. Chị Olga biết con phố ấy, tên con phố nếu dịch ra có nghĩa là “con dốc cao”. Nó thuộc khu vực khá tiêu biểu của thành Kiev cổ, ngay phía sau Maidan. Bên cạnh địa chỉ còn có cả số điện thoại. Lúc tôi lấy được đủ can đảm để gọi theo số điện thoại đó, tôi chỉ còn nghe được giọng của máy tự động nói bằng tiếng Ukraine và tiếng Anh báo tin số máy này không còn chủ nữa.

Một hiện tượng khá phổ biến trên đất Liên Xô trước đây là ai cũng lo cho tính mạng người thân. Cuộc sống thường ngày đầy rẫy hiểm nguy, các loại hình tội phạm nhan nhản khắp nơi. Hiện giờ, lúc Kiev đang ở tình trạng như có chiến tranh thì mỗi khi đứa cháu hai mươi ba tuổi của chị phải rời khỏi nhà, là chị Olga sợ đến chết khiếp. Lẽ ra chị đã chẳng bao giờ cho phép thằng cháu mò ra quảng trường Maidan, là nơi nó quyết bảo vệ nền tự do của Ukraine đâu, nhưng lúc này chị đâm lây sự nôn nóng của tôi, khiến chị gọi thằng cháu qua Skype trên màn hình máy tính của tôi, rồi sau khi dặn dò kỹ lưỡng, chị phái cậu ta đến địa chỉ tôi nhận được qua mạng.

Phải mất đến hai tiếng rưỡi, quãng thời gian chắc phải dài vô tận đối với chị Olga, thì thằng cháu chị mới đi thám thính về. Cậu ta không gặp ai ở căn hộ nói trên, ở các căn hộ bên cạnh cũng không ai đáp lại tiếng chuông của cậu. Ông quản gia báo nhiều năm về trước có một bà già từng sống ở căn hộ số 5, nhưng nay bà ấy chết rồi, bà cụ tên gì ông ta không nhớ. Từ hồi đó đến giờ, căn hộ đã hai lần đổi chủ, hiện giờ nó cũng đang được sủa sang đón chủ mới.

Trước khi lên đường về quê, chị Olga lấy hai chiếc khăn tắm bọc kín hũ đựng cốt tro lại, nhét vào vali. Tôi đưa chị ra ga ở đầu kia của thành phố. Như thế, bà chị Tamara của chị, người hồi nào từng trải qua những ngày sung sướng nhất đời mình trong phận nữ nhân công bị cưỡng bức tại một nhà máy đồ hộp thành Vienna, nay lại lần nữa lên đường trở về Ukraine - trở về không phải trên một toa tàu chuyên chở gia súc, mà trên một chiếc xe buýt đường dài đầy đủ tiện nghi, có cả máy điều hòa, và lần trở về này là lần trở về vĩnh viễn.

Vừa về đến Kiev, sau một chuyến đi dài bằng xe buýt như thế mà chị Olga cũng chẳng buồn dành mấy tiếng ngủ cho thật đẫy. Chị uống vội hai ly cà phê mà, bất chấp kỹ thuật hiện đại, chị nhất định phải pha bằng cezva - một loại ấm pha cà phê bằng đồng có cán dài bắc trên lò gang - và sau khi hút hết một điếu thuốc lá, chị hăm hở lên đường ra bến tàu điện ngầm. Bất kỳ ai nhìn thấy chị từ phía sau hay từ phía xa đều tưởng chị là một phụ nữ trẻ tuổi. Chị mảnh mai như con hươu non, và ở tuổi bảy mươi hai, chị vẫn thoăn thoắt trèo cây ngoài nhà vườn để thu hoa hái quả.

Cả lần này, cũng không ai ở căn hộ số 5 nhà 26 phố Krutoj Spusk mở cửa cho chị cả, nhưng bà hàng xóm đang ở nhà. Bà ta kể cho chị Olga biết rằng không phải bà Jevgenia Sergeyevna Ivashtschenko - vốn là nữ bác sĩ bệnh viện quận này - đã qua đời, mà cách đây mấy năm, bà ấy chuyển đi chỗ khác thôi. Như thế thì rõ ràng bà là con gái bác Sergey chứ còn gì. Rất có thể có nhiều phụ nữ cùng mang tên họ Jevgenia Sergeyevna Ivashtschenko thật, nhưng một bà bác sĩ mang tên họ như thế, và lại là con một bà bác sĩ, thì có lẽ chỉ một người mà thôi. Nhưng chị Olga vẫn gặng hỏi cho chắc. Không rõ bà hàng xóm có biết bố bà Jevgenia Sergeyevna là ai không.

“Biết quá đi chứ,” bà hàng xóm đáp. “Ông ấy dân Mariupol, và ông ấy vốn là danh ca opera nổi tiếng.” Bà ta còn ghi cả số điện thoại mới của người hàng xóm trước đây của mình cho chị Olga.

Thời Liên Xô trước đây, dân tình thường gặp gỡ chuyện trò trong bếp với nhau. Bây giờ ở Kiev đã có vô số các nhà hàng, quán cà phê khiến cho các căn bếp mất hết vai trò của những trung tâm văn hóa xã hội trước đây. Song, bà chị họ Jevgenia của tôi không thể tiếp ai ở nhà riêng, theo lời chị Olga nói ngay trong điện thoại, chỉ vì bà có đến sáu người thuê chỗ ở trong căn hộ nhỏ hai phòng của bà. Ngay trong một thành phố dư thừa dân cư đến mức khủng khiếp như Kiev, một thành phố mà xó xỉnh nào cũng có thể đem cho thuê được ấy, không phải dễ mà tìm được người cho thuê nhà kiểu như chị họ tôi.

Tôi vẫn biết lương bổng giới bác sĩ thời Liên Xô trước đây chẳng được bao nhiêu. Cho nên trước mắt tôi hiện ra ngay hình ảnh một bà bác sĩ bệnh viện quận mệt mỏi, hốc hác, một người từng suốt đời tận tụy, hao công tổn sức trong một bệnh viện quận nghèo nàn, khốn khổ nào đó, và hiện giờ vì lương hưu không đủ sống nên phải biến căn hộ nhỏ của mình thành nơi trọ đêm cho lữ khách bốn phương. Vâng, hình ảnh một bà già trong nỗi khốn cùng hậu Xô viết!

Song, sau buổi gặp gỡ, chị Olga lại mô tả một bức tranh hoàn toàn khác về bà. Đó là một quý bà ăn mặc sang trọng, trang điểm với những đường nét lập dị. Chị Olga bảo nhìn tạng người và dáng dấp, trông bà ta rất giống tôi, chị còn lục lọi trong căn hộ chất đầy đồ đạc của mình gần suốt đêm để tìm cho ra vài tấm ảnh và sách của tôi, cốt chỉ để đưa cho bà chị họ tôi xem, nhưng bà này chỉ liếc thoáng qua một cái rồi thôi. Mọi cố gắng của chị Olga muốn kể đôi điều cho bà ta nghe về tôi, hay để biết thêm chút ít về bà, đều bị cắt ngang. Bà Jevgenia nói luôn mồm về ông bố mình, con người mà chắc bà đặt ngang hàng với Chúa, chứ chẳng ít. Hai tiếng sau, chị Olga dịu hiền và đằm tính của tôi đành đánh bài chuồn - ngay trên màn hình máy tính của tôi, trông chị mệt mỏi rã rời, như thể chị vừa trải qua một cuộc vật lộn thượng cẳng chân hạ cẳng tay với bà chị họ tôi không bằng.

Ngày hôm sau, khi gọi điện cho chị Jevgenia, tôi liền hiểu ngay chị Olga đã phải chịu đựng những gì. Độ khoảng mười phút thì tôi cũng hiểu mình sẽ chẳng mở miệng nói được gì, rằng tôi khó mà hỏi được bà chị họ những câu hỏi tôi chuẩn bị sẵn. Sau khi kêu ré lên chào, bà ta liền nói một thôi một hồi khiến tôi không chen được lấy một lời, và thật tình mà nói, tôi cũng không rõ, liệu bà ta có biết bà đang nói chuyện với ai hay không. Tôi chỉ còn mỗi một cách là gắng tập trung nghe, để lọc từ những lời tuôn ra tràng giang đại hải đó đôi điều tôi muốn biết mà thôi.

Hy vọng mỏng manh của tôi, rằng bà ta còn biết cả mẹ tôi, rồi cũng bị tiêu tan. Bà Jevgenia sinh năm 1943, đúng vào năm mẹ tôi rời Mariupol mãi mãi ra đi. Hóa ra cậu thanh niên Ukraine ở ngôi làng nọ bên bờ Biển Azov, anh thanh niên sau đôi lần thư từ qua lại với tôi rồi biến mất ấy, lại là đầu mối đúng, vì có lẽ ông bà cố của anh ta quả có biết bác Sergey thật. Chính tại làng này, bà Jevgenia, đứa con của quân nhân trong kỳ nghỉ phép, đã ra đời. Một hôm, lúc bà lên ba tuổi gì đó, cũng tại ngôi làng đó, một người đàn ông lạ mặt đã bước vào phòng và nói: “Ta là ba con đây.” Và chính bà cũng biết ngay là đúng như thế, đúng người đàn ông này chứ không phải ai khác, là bố của bà. Hai bố con thương yêu nhau “cuồng nhiệt” ngay từ đầu, bà ta cứ nói đi nói lại mãi như thế, và kéo âm “…uồng” rõ dài.

Chính từ miệng bà mà lần đầu tiên tôi nghe nhắc đến người trông trẻ tên là Tonia; bà này từng ở trong nhà mẹ tôi từ trước cách mạng, và về sau, cùng nếm chịu với gia đình mọi tai biến lẫn loạn lạc diễn ra thời đó. Đúng bà Tonia ấy, nghe đâu từng kể lại rằng hồi chiến tranh, mẹ tôi đã lấy một viên sĩ quan người Mĩ và theo ông ấy sang Mĩ rồi.

Tôi không lạ gì cái tật thích chuyện hoang đường của dân Nga, một thói tật suốt thời gian tìm kiếm tung tích người thân, tôi vẫn phải đề phòng, thế nhưng lúc này tôi lấy làm kinh ngạc trước sự coi thường những sự thật lịch sử mà nói chung người dân Liên Xô trước đây ai cũng phải biết. Mặc dù tôi cũng nghe nói đến chuyện một vài nữ công nhân Liên Xô xưa kia bị cưỡng bức sang Đức làm lao công, sau khi được giải phóng đã lấy lính Mĩ làm chồng và theo chồng về Mĩ thật, nhưng đó là chuyện chỉ xảy ra trên đất Đức. Bảo rằng hồi chiến tranh đang diễn ra mà một viên sĩ quan Mĩ có mặt trên đất Liên Xô rồi làm quen với mẹ tôi ở Mariupol, là chuyện không thể có được. Cho dù cô trông trẻ Tonia có tung ra tin đồn như thế thật, mà bà chị họ tôi không hề tỏ ra ngờ vực chút nào thì cũng đến là lạ.

Tuy vậy, thông tin về cô trông trẻ cũng lấp được một lỗ hổng tôi chưa lấp được khi tìm hiểu cuộc đời mẹ tôi. Bao lâu nay tôi cứ đoán già đoán non về hoàn cảnh sống của bà lúc chiến tranh nổ ra - bố đã qua đời từ bốn năm trước, anh trai ra mặt trận, chị gái bị đi đày viễn xứ, còn mẹ thì lưu lạc, mất tăm mất tích đâu đó trên đường đi tìm con. Lúc nào tôi cũng mường tượng mẹ tôi hoàn toàn trơ trọi, một thân một mình trong thời buổi kinh hoàng đó, bởi ngoài những người thân trong gia đình tôi không biết còn ai có thể gần gũi với bà nữa cả. Bây giờ thì tôi biết, có lẽ cô trông trẻ Tonia đã ở bên bà, một người có lẽ bà đã quen biết từ lúc mới mở mắt chào đời. Có thể bà Tonia đã là người từng đốt lò sưởi, nếu bà tìm được than củi để sưởi, là người đã lùng sục ở khắp nơi trong thành phố đã đổ nát tan hoang nhằm tìm những thứ gì lót dạ được, và cũng là người đã cùng mẹ tôi chạy xuống hầm trú ẩn mỗi khi có báo động máy bay.

Như bà chị họ nói lại với tôi, bác Sergey quả đã lấy tên mẹ tôi đặt cho con gái bác thật. Bác từng yêu thương cô em gái nhất mực, cho đến lúc chết bác vẫn không ngớt nhắc đến em gái, đến sắc đẹp tuyệt vời và trí thông minh đặc biệt sắc sảo của bà, và không mất hy vọng, một lúc nào đó sẽ nhận được tin tức của bà. Lần đầu tiên trong đời tôi được nghe kể về một con người yêu thương mẹ tôi, người mẹ mà tôi chỉ được biết trong vai một con người bị ruồng rẫy. Ánh mắt trìu mến đầu tiên từ bên ngoài xa xôi dành cho bà đã làm tôi bàng hoàng nhận ra rằng ở Đức, việc bị ghét bỏ đã làm bà khổ sở đến nhường nào.

Lẽ ra bây giờ, chị họ tôi đã có cơ hội để nhận được những tin tức mà bố bà lúc đương thời từng mỏi mắt trông chờ, thế nhưng chị ta không hỏi lấy một lời về mẹ tôi. Chị ta không muốn tôi phá bỏ huyền thoại lâu nay chị vẫn ghi lòng, rằng chị có bà cô sống ở đất nước với vô vàn các cơ hội phất lên làm giàu ấy. Thậm chí, có thể chị còn nghĩ mẹ tôi còn sống, và tôi từ bên Mĩ gọi điện về cho chị cũng nên.

Về bà Matilda Iosifovna De Martino, bà ngoại tôi và là bà nội chị, chị họ tôi biết chắc bà không qua đời thời chiến tranh. Thế nhưng, sau chuyến đi đến Medvedja Gora, bà không bao giờ trở lại Mariupol nữa. Chị họ tôi không hay biết gì về nguyên do của chuyện đó, chị chỉ biết về sau bà sống ở Voskresensk, một thành phố Nga nằm gần Moskva. Bà qua đời năm 1963, lúc bà tám mươi sáu tuổi, tức là bà sống lâu hơn mẹ tôi những sáu năm.

Giá như mẹ được biết những gì bây giờ tôi biết, thì có lẽ mọi sự đã khác đi rồi. Giá như hồi đó bà biết mẹ mình còn sống trên cõi đời này, thì có lẽ cuộc đời bà trên đất Đức sẽ nhẹ nhàng hơn chút ít. Giá biết như thế thì có thể bà đã từ bỏ ý định tự tử. Thế nhưng, dòng sông dường như đã cất tiếng gọi bà bằng giọng của mẹ bà, trong lúc lội xuống dòng sông Regnitz trên đất Đức, có thể bà đã tưởng mình đang đi đến với người mẹ đã khuất của mình cũng nên.

Trong đời chị họ tôi, chị chỉ gặp bà nội hai, ba lần là cùng, nhưng chị còn nhớ như in ngày bà mất. Ngày đó trùng với sinh nhật tôi. Đúng vào ngày tôi tròn mười tám tuổi tại một thị trấn tỉnh lẻ của Đức thì bà ngoại tôi qua đời tại Voskresensk, một thành phố mà tên gọi trong tiếng Nga có nghĩa là ngày “Chúa nhật” và “Phục sinh”. Liệu bà tôi có tin là con gái bà đang sung sướng sống đâu đó trên đất Mĩ hay không?

Bà chị họ tôi mô tả bà nội là người lạnh lùng, khó gần, cay độc. Một bà già bé nhỏ, khẳng khiu, tóc bạc như tuyết và mũi khoằm, ăn uống nhỏ nhẹ như chim. Ai cũng ít nhiều sợ bà, cả bác Sergey cũng sợ, vì bà suốt ngày chê giọng của bác chưa đủ tầm đúng cỡ. Suốt đời, bà chỉ yêu độc một người là ông anh Valentino De Martino của bà. Bác Lidia con bà nghe đâu chính là con ông anh này, tức là đứa con ra đời do loạn luân. Ngoài ra chị họ tôi không biết gì thêm về bác Lidia nữa, chị ta cũng chưa gặp bác bao giờ. Sau khi bác bị bắt, bác Sergey không nhận được tin tức gì cả, và bác cũng chẳng bao giờ nhắc đến cái tên ấy nữa. Chị họ tôi đoán, có lẽ bác Lidia đã chết trong trại khổ sai.

Bà chị Jevgenia quả quyết ông Jakov, tức thân phụ mẹ tôi, đã tự tử. Nghe đâu ông sắp bị bắt và bị ép phải vu khống người khác, nhưng ông không chịu, và vào đêm trước khi bị bắt, ông đã dùng súng tự tử. Người đầu tiên tìm thấy xác ông chính là mẹ tôi. Điều lạ lùng là ở chỗ, tôi có cảm giác đã nghe chuyện này từ miệng mẹ tôi từ trước. Đồng thời tôi cũng nhớ rất rõ mẹ kể ông tôi mất vì nhồi máu cơ tim. Cho đến giờ tôi cũng còn cảm thấy nỗi sợ hãi mẹ tôi phải trải qua lúc người ta đến trường đón bà về ngay giữa buổi học, và bà cũng đoán được ngay chuyện gì đã xảy ra với bố mình. Tôi có cảm giác như thể ông tôi đã chết hai lần, như thể mẹ tôi phải hai lần chịu đựng đau đớn vậy. Làm sao mà cả hai cách ông tôi mất đều lưu lại trong trí nhớ tôi mới được chứ? Tôi sực nhớ đến những gì được ghi về ông Jakov trong sổ đăng ký của nhà thờ. Chẳng phải việc trong sổ không ghi lý do chết đã nói lên sự thật là ông đã tự sát hay sao? Chẳng phải ô chữ bị để trống là vì không được phép ghi cái từ “tự tử” vào sổ lưu của nhà thờ ư?

Gần suốt buổi, bà chị họ tôi toàn kể về ông bố bà, tức về bác Sergey. Chị ta bảo, ông thông thạo đến mười hai thứ tiếng và từng là ca sĩ lớn nhất thời đó, do ông có giọng ca kịch đặc trưng kiểu Ý, hồi ấy không ai sánh nổi ông. Ngay từ thời còn học đại học ở Kiev, ông đã được ông Stanislav Kossior để ý, ông Kossior vốn là người đứng đầu nhà nước Ukraine thời đó và cũng là một trong những người phải chịu trách nhiệm chính về nạn đói trong những năm 30. Lúc để mắt đến bác Sergey, ông ta đã leo lên giữ chân ủy viên chính thức Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô. Chỉ nghe bác Sergey hát một lần trong buổi hòa nhạc tại nhạc viện Kiev là ông ta liền ra tay bảo trợ. Ông ta chắc phải mê bác lắm lắm, bởi không những bảo trợ bác trong tư cách ca sĩ, ông ta còn nhiều lần mời bác về cả nhà riêng nữa kia. Chuyện một Ủy viên Bộ Chính trị mời một tay sinh viên vô danh về nhà riêng là chuyện hầu như chưa từng có. Thế nhưng chẳng bao lâu sau thì ông Kossior, cũng giống như nhiều người khác, trở thành nạn nhân của chính Nhà nước ông ta phụng sự. Stalin ra lệnh bắt và tra tấn ông ta, buộc ông ta phải nhận một tội nào đó. Bởi ông không chịu nhận, người ta lôi con gái ông ra hãm hiếp ngay trước mặt ông. Ông Kossior đành nhận tội, kết quả là con gái ông nhảy lầu tự tử, còn chính ông bị xử bắn và tro cốt ông bị người ta đem đổ xuống hố chôn tập thể trong nghĩa địa Donskoj ở Moskva. Số phận bác Sergey cũng vì thế mà mạt; bởi bác từng là con cưng của tên phản quốc Kossior; nên cái bóng của ông này đã bám lấy bác tôi suốt đời. Theo lời chị Jevgenia, nhờ giọng ca tuyệt vời nên bác tôi được mời biểu diễn tại nhiều nhà hát lớn ở Liên Xô; thế nhưng, riêng cánh cửa nhà hát Bolshoi ở Moskva, cánh cửa dẫn tới đỉnh vinh quang thật sự ấy, thì đã bị vĩnh viễn khép lại trước mặt đứa con cưng hồi nào của Kossior mất rồi.

Tôi nhớ lại những lời ông Konstantin tỏ ra ngạc nhiên về việc bác Sergey có chân trong Đảng. Giờ thì tôi đã rõ làm sao lại có chuyện lạc đà chui lọt lỗ kim như thế. Chỉ có ông Stanislav Kossior mới tác động nổi việc này, có thể ông ta chỉ cần búng tay một cái là đủ - phải chăng là với điều kiện bác Sergey phải từ người em gái mình lúc đó đang ngồi tù? Tôi chợt thấy một ông bác yếu hèn, run rẩy hiện ra trước mặt, một người thỏa hiệp với cường quyền và suốt đời phải trả giá cho hành động hèn nhát đó. Một người đàn ông cần có chỗ dựa chắc chắn, cho nên đã chọn một người đàn bà cứng rắn làm vợ, người đàn bà mà nói như con gái ông nói qua điện thoại, là một “Stalin mặc váy” chính hiệu.

Chị Jevgenia không lấy chồng; cái trò ngu xuẩn ấy, theo lời chị, chị không thiết. Chị chỉ sống vì bố mình, người bố vốn thừa hưởng bệnh yếu tim từ ông nội Jakov. Chị học thành bác sĩ chỉ cốt để lo chạy chữa cho bố. Chị sống cuộc đời du mục, chạy từ nước Cộng hòa này sang nước Cộng hòa khác, nhảy từ thành phố này sang thành phố khác, đến những nơi bác Sergey được mời diễn một, hai năm gì đó. Bao giờ cả gia đình ba người cũng chỉ sống trong những căn hộ tạm bợ, phần lớn là trong nhà khách của nhà hát nào đó. Đến đâu chị Jevgenia cũng lên đường lùng sục kiếm cho bố những thứ rau quả hiếm, lo chạy thuốc đau tim cho ông từ nước ngoài, và thậm chí còn có mang, chỉ cốt để tặng cho bố đứa cháu ông thèm muốn, một thằng cháu bây giờ đã có gia đình riêng. Chị ở chung với vợ chồng cậu con trai này trong ngôi nhà ở Krutoj Spusk, nhưng vì không hợp tính con dâu, nên phải đổi căn hộ lớn lấy hai căn nhỏ hơn.

Ở tuổi năm mươi hai, bác Sergey bị nhồi máu cơ tim nặng, khiến ông không bao giờ hồi phục nữa. Đến lúc ông phải bỏ ca hát, gia đình đành chuyển về sống ở Kiev, nơi mà ước mơ được có một căn hộ riêng của ông rốt cuộc thành hiện thực. Mặc dù sự nghiệp ca sĩ từng lừng lẫy như thế, nhưng ông chỉ được một khoản lương hưu khốn khổ, cho nên ông buộc phải làm thêm để kiếm tiền mà sống. Vào những năm cuối đời, ông giữ chân gác cổng cho một công viên giải trí. “Ông cụ tôi chết gục ngay trên đường phố,” chị Jevgenia bảo tôi, “cụ ngã gục ngay trên lối đi từ công viên về nhà.” Chị quả quyết ông bị ám sát: Vì ông cụ tôi tận mắt chứng kiến vụ tai nạn trên đu quay trong công viên khiến mấy đứa trẻ chết oan, cho nên chúng nó giết ông để bịt đầu mối. Chuyện này có đáng để tôi tin không? Hay bà chị họ tôi chỉ tưởng tượng ra như thế, vì chị không thể chịu đựng nổi ý nghĩ, rằng ông bố chị tôn thờ ngang thánh ngang thần ấy đã từ giã cõi đời một cách thật tầm thường ngớ ngẩn như thế - có lẽ chỉ do một lần nhồi máu cơ tim nữa mà thôi - một căn bệnh mà chị không ngăn chặn nổi, mặc dù đã bỏ bao nhiêu công đèn sách học hành thành bác sĩ tim mạch.

Bà chị họ đã kể tôi nghe khá nhiều, nhiều vượt quá cả mong đợi của tôi, thế nhưng sau cú điện thoại kéo dài gần hai tiếng đồng hồ mà thực ra tôi chẳng chen được mấy lời ấy, tôi bỗng cảm thấy lòng mình hoàn toàn trống rỗng. Tôi ngồi trước bảng gia phả chia ra thành nhiều nhánh, bảng gia phả vốn do ông Konstantin phác họa cho tôi, nay được phóng to treo trên tường phía trước bàn làm việc của tôi, và thầm nghĩ, bây giờ mình có thể vẽ thêm ba nhánh nữa rồi đây, nhánh hướng đến chị họ tôi, rồi từ chị đến con trai và con dâu chị, thế nhưng, tôi lại chẳng biết vẽ thêm để làm gì mới được. Tôi không còn biết thật ra mình tìm cái gì, không biết những con người xa lạ này can hệ gì đến tôi, không còn biết cái gì ràng buộc tôi với họ. Suốt đời, tôi luôn cảm thấy mình bị thiệt thòi, bởi không có gia đình, song, sở dĩ tôi có cảm giác đó chỉ là vì không biết rằng mình sẽ sung sướng hơn nhiều nếu không phải mang toàn bộ cái gánh nặng gia đình đó lên người mà thôi. Nỗi buồn sâu thẳm - nỗi buồn gần đây đôi lúc vẫn xâm chiếm lòng tôi vì tôi chưa bao giờ được biết đến dòng họ nửa Ukraine nửa Ý của mình - giờ đã biến thành nỗi kinh sợ trước dòng họ ấy. Tôi không còn muốn nghe nói đến tất tật những điều kinh khủng đó nữa, tất cả những câu chuyện đen tối và vô cớ về tình thương, về nỗi hận thù hay sự điên khùng mà theo đó, hầu như không một ai trong số tổ tiên tôi đã qua đời một cách tự nhiên cả. Trong đầu tôi lẫn lộn mọi thứ, chuyện bịa hay chuyện tưởng tượng ra lẫn lộn với sự thật cũng như những chuyện thật điên rồ từ miệng một người đàn bà đầu óc nửa tỉnh nửa điên, một người tự loanh quanh luẩn quẩn với chính mình và thần tượng ông bố của mình. Tôi thật sự không biết chuyện nào nên tin, chuyện nào nên bỏ qua, tôi nuối tiếc thời gian yên lành của tôi với những người đã khuất, những con người đẹp đẽ và thú vị trên những bức ảnh đen trắng xa xưa. Trước mắt tôi, họ mất hết vẻ kỳ ảo, và chuyển sang mang những nét của người chị họ đang sống sờ sờ ra kia. Có lẽ cả chị ấy nữa, cũng từng trải qua những cơn ác mộng mà một đời người phải chịu, dường như chị cũng chưa bao giờ được sống cuộc đời của riêng mình, chị chỉ sống dưới danh nghĩa người con gái mà thôi. Không biết con trai chị đã phải mang một số phận ra sao, khi anh được sinh ra cốt chỉ để làm món quà cho bố chị mà thôi?

Bức tranh chị Jevgenia mô tả bà Matilda của hai chúng tôi làm tôi lúng túng nhiều nhất. Liệu mẹ tôi có thể cạn cả nước mắt vì thương khóc một người mẹ lạnh lùng, khó gần và cay độc không? Phải chăng bức tranh mẹ tôi vẫn dựng lên cho tôi về thân mẫu bà chỉ là bức tranh bắt nguồn từ nỗi đau làm méo mó mọi sự, nỗi đau vẫn thường dấy lên trong lòng ta mỗi khi ta thương nhớ người thân đã mãi mãi ra đi? Có phải bà Matilda - vốn là đứa con bị bỏ rơi của bà vợ thuyền trưởng Teresa Pacelli nay đây mai đó - về sau đã không đủ sức che chở và đùm bọc những đứa con do mình đẻ ra, vì chính bà cũng chưa bao giờ được yêu thương đùm bọc không?

Mối liên hệ với biển cả dường như là mối liên hệ xuyên suốt lịch sử gia đình mẹ tôi. Ông nội Epifan của bà, người chủ tàu năm xưa, đã chọn đường biển ra đi biệt tích. Ông ngoại Giuseppe của bà, vị thuyền trưởng ngày nào, gần như suốt đời lênh đênh trên biển, cùng với một bà vợ từng đem búp bê lên tàu, nhưng con mình đẻ ra thì bỏ mặc trên bờ cho người khác nuôi ấy. Rất có thể hai đứa con ông bà, bà Matilda và ông Valentino, đã không sống và lớn lên dưới chung một mái nhà của người bà con nào đó, mà mỗi người một nơi, và có thể hai người không biết nhau rồi đến lúc nào đó đã phải lòng nhau. Hoặc sự gần gụi của hai anh em cùng chung cảnh ngộ bơ vơ đã nhen nhóm mối tình say đắm giữa hai người, mà kết quả là bác Lidia tôi? Có phải bác đúng là đứa con do loạn luân, đứa con của tội lỗi, và vì thế mà trở thành người bị ruồng rẫy, bị xua đuổi của gia đình, một người không những chỉ bị em trai Sergey mà cả em gái, là mẹ tôi, kiêng không nhắc đến không? Có phải mọi sự, từ nỗi sỉ nhục ngay lúc lọt lòng, đến cuộc hẹn hò cùng tự tử một lúc với người em họ Marusia, và trại khổ sai, nơi bác biến mất tăm mất tích, đều liên quan với nhau không? Có phải như thế không, hay dòng suy nghĩ của tôi cũng đang bị cuốn theo dòng suy diễn của bà chị họ kỳ dị của tôi, người mắc chứng monomania độc tưởng, một người xuất phát từ sự sùng kính quá độ với bố đẻ mình mà thêu dệt nên câu chuyện tình loạn luân kia?

Nếu những gì chị họ tôi nói về bác Lidia là đúng, nếu quả thật người chị gái mẹ tôi đã bỏ mạng trong trại khổ sai, thì công cuộc tìm kiếm của tôi cũng đến hồi chấm dứt. Từ những họ hàng xa hơn nữa còn có thể có ở đời này, tôi không hy vọng biết thêm điều gỉ nữa về mẹ tôi. Bà chị họ Jevgenia dường như đã bỏ mặc tôi giữa một bãi sa mạc, còn nhiều nghi vấn hơn trước đây, những nghi vấn mà có lẽ chẳng bao giờ tôi giải đáp nổi nữa. Tôi đã để mẹ tuột khỏi tầm mắt mình, bà dường như mãi mãi chìm xuống một hố sâu gồm cả chuyện thật lẫn chuyện hoang đường, biến mất giữa khoảng hư không lấp lóa, vô định. Tất cả những gì tôi tìm được về bà, rốt cuộc, chỉ là dữ liệu cho các dự đoán và giả thuyết, vâng, dữ liệu đủ cho một câu chuyện hoang đường mà thôi.

Ít ngày sau cuộc nói chuyện điện thoại với tôi, chị Olga bất ngờ chạm trán bà Jevgenia ngay tại Maidan. Mặc dù vào thời điểm đó quảng trường này đã biến thành địa điểm nóng bỏng của thành phố đúng theo nghĩa đen, song Kiev chí ít cũng là thành phố gần ba triệu dân, cho nên quả là bất ngờ khi mà hai người mới quen biết qua loa hôm trước, mấy ngày sau đã lại chạm trán nhau ngoài đường. Chị Olga vì thế mà phát hoảng, lẩn ngay vào đám đông, song có lẽ, bà chị họ tôi cũng chẳng nhận ra chị. Lúc hai người gặp nhau, đến nhìn chị, bà cũng chẳng nhìn mà chỉ chìa cho chị xem hai lúm đồng tiền mà ông bố bà từng yêu quý và chính bà có vẻ cũng vì thế mà lấy làm hãnh diện lắm. Bây giờ bà ta đứng đó, bên rìa quảng trường, trên người khoác áo măng tô sang trọng màu chàm pha màu xanh lam, đầu đội mũ đen rộng vành rồi cất tiếng hát. Bên lề khu quảng trường đang chìm ngập trong bầu không khí chiến tranh, đôi mắt sáng ngước nhìn lên trời, giọng hơi run run, bà hát bằng tiếng Nga bản Élégie nổi tiếng của Massenet mà ở Ukraine ai cũng thuộc, và hôm xưa bố bà chắc cũng từng hát: “Những ngày đó đâu rồi, những ngày tháng yêu thương, mộng mị ngọt ngào, và ngân nga chim hót…”

Cuối buổi nói chuyện qua điện thoại, rồi bà chị họ cũng hỏi tôi một câu thật. Chị hỏi tôi đã về lại Mariupol bao giờ chưa. Phải, có lẽ đã đến lúc tôi cần lên đường quay lại đó, để mắt thấy tai nghe nơi xuất xứ của mẹ tôi, và nói cho cùng, tôi với chị họ tôi, chúng tôi cũng không đến nỗi khác nhau lắm đâu. Chị ấy cả đời nấp sau lưng bố chị, còn tôi - sau mép bàn giấy của mình. Bởi những nguyên cớ rất khác nhau, tôi với ông Konstantin cũng có những nét chung. Mạng Internet đã thay thế thế giới bên ngoài, chẳng những chỉ cho ông, mà cả cho tôi nữa.

Từ đó, tôi không bao giờ nhận được tin tức gì của chị họ tôi nữa cả.

❀ ❀ ❀

[1] Edler: Danh hiệu quý tộc thời Đế chế Áo-Hung.

Hoàng Đăng Lãnh (dịch) Nguyên tác: Sie kam aus Mariupol (2017)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.