Khi Richard Steele, trong số báo thứ 555 của tờ Spectator, đặt bút ký tên vào bài báo cuối cùng và nhắc đến những người đã giúp ông hết mình “để duy trì tinh thần của một công trình kéo dài và được công nhận đến vậy,” ông đã dành vinh dự cao nhất cho một người mà trên trang viết cũng như trong tim ông, không có danh hiệu nào khác ngoài hai chữ Tri Kỷ.
Đó chính là “người quân tử mà sự trợ giúp của ông từng được tôi khoe khoang trong Lời tựa và Tờ kết luận của các tập Tatler của tôi. Quả thật, tôi tự hào về tình bạn lâu năm với ông hơn rất nhiều so với niềm vinh dự được xem là tác giả của bất kỳ bài viết nào mà chính bản thân ông có khả năng tạo ra. Tôi nhớ khi hoàn thành vở The Tender Husband, tôi đã nói với ông rằng chẳng có gì tôi khao khát mãnh liệt cho bằng việc có lúc nào đó chúng ta cùng xuất bản một công trình do cả hai viết chung, mang tên là Tượng Đài, để ghi nhớ tình bạn của chúng ta.”
Những dòng tiếp theo đã cho thấy lý do vì sao ông nhắc đến ước nguyện ấy. Bảy tập của tờ Spectator, lúc bấy giờ đã hoàn thành, chính là Tượng Đài trong tâm trí ông; và về tình bạn mà nó tưởng niệm, ông đã viết:
“Tôi thành mong mỏi những gì mình đã làm ở đây mang lại sự vinh danh cho cái tên thiêng liêng ấy đúng như cách mà học thức, sự châm biếm sắc sảo và lòng nhân ái đã tô điểm cho những tác phẩm mà tôi từng hướng dẫn độc giả cách phân biệt đâu là của ông ấy.”
Steele đã viết như thế; và tờ Spectator sẽ là nhân chứng cho thấy tình bạn ấy đã được đền đáp một cách thành kính nhường nào. Trong số báo 453, khi diễn giải lại Bài ca về lòng biết ơn của Đavít, “tâm hồn vươn lên” của Addison đã chiêm ngưỡng những ân huệ của Thiên Chúa, há chẳng phải Steele là người được ông cảm thấy đang ở bên cạnh mình trước ngai vàng ân xá khi ông viết rằng:
Bàn tay khoan dung với phúc lộc trần gian của Ngài
Đã làm cho chén của con tràn đầy,
Và trong hình hài một người Tri Kỷ nhân hậu, sắt son
Đã nhân đôi tất cả gia tài của con ư?
Tờ Spectator, tờ Spectator của chung Steele và Addison, chính là một đài tưởng niệm xứng tầm với tình bạn đáng nhớ nhất trong lịch sử chúng ta. Steele chính là người khởi xướng, người sáng lập, chủ biên, đồng thời là tác giả của phần chiếm trọn trái tim của nhân loại nhất. Sự đồng cảm của ông hướng về toàn thể nước Anh. Defoe và ông, với tầm nhìn hướng về tương lai, chính là những người lãnh đạo chân chính nhất thời đại họ. Chính bàn tay vững chãi của người bạn Steele đã nâng Addison bước lên vị trí xứng đáng trong văn học. Chính Steele đã khiến cho gu thẩm mỹ tinh tế của Addison — vốn có thể chỉ được dùng để chiều theo những xu hướng phù du của thời đại — được thấm nhuần vẻ trang nghiêm tôn giáo của Addison, và được làm cho sinh động bởi lối hài hước tung tẩy, đầy vẻ kỳ thú tinh tế cùng sự thông minh vui tươi, thứ đã biến những cuộc trò chuyện của ông thành niềm vui thích của một nhóm nhỏ những người được ngồi đàm đạo thoải mái bên ông. Chính Steele đã lôi kéo người bạn của mình hướng về tương lai, và biến những tài năng của người bạn ấy thành tài sản của cả một dân tộc. Steele từng viết trong một số báo muộn hơn của tờ Spectator, số 532, nơi ông đặt một câu đề từ tự gán cho mình vai trò là viên đá mài cho sự sắc sảo của người khác:
“Tôi tự nhận lấy công trạng đã khơi gợi ra những tác phẩm xuất sắc từ một con người tài năng bậc nhất, kẻ mà nếu không vì những phương cách đó thì sẽ chẳng bao giờ cho ra mắt chúng.”
Từng có những kẻ lập luận rằng ông quá hững hờ với danh tiếng bản thân khi lao động vị tha để tôn vinh người bạn của mình; và không thể phủ nhận rằng, tấm lòng hào hiệp hiếm có của ông đã nhiều lần bị hiểu lầm. Nhưng về điều đó thì Addison hoànH toàn vô can. Và cớ sao Steele phải đi định hình những công trạng của chính mình? Ông hiểu rõ những người đồng bào của mình, và có sự hòa hợp chân thành với tinh thần của một thời đại tuy hãy còn xa xôi lúc bấy giờ nhưng nay đã đến, nên ông chẳng mảy may nghi ngờ rằng, khi ông qua đời, công sức cả cuộc đời ông sẽ thay ông nói lên sự thật với hậu thế.
Tình bạn làm nên tượng đài cho tác phẩm này vẫn vẹn nguyên từ thuở thiếu thời cho đến tận lúc lâm chung. Addison và Steele từng là những nam sinh học chung tại trường Charterhouse. Addison là con trai của một vị đại giáo chủ và là học sinh nội trú đóng phí riêng; trong khi Steele mồ côi cha và là học sinh nhận học bổng của trường. Họ trạc tuổi nhau. Sổ bộ rửa tội của Steele, được củng cố bằng bút tích ghi chép khi ông nhập học tại Charterhouse (vốn cũng ngụ ý rằng ông chịu phép rửa tội ngay vào ngày sinh nhật), mang ngày 12 tháng 3 năm 1671, theo Lịch cũ; còn theo Lịch mới là 1672. Addison sinh vào Ngày tháng Năm năm 1672. Như vậy, giữa họ chỉ cách nhau vỏn vẹn bảy tuần.
Cha của Steele, theo sổ bộ ghi chép, cũng tên là Richard, hành nghề luật sư tại Dublin. Steele có vẻ như đang đúc rút từ chính trải nghiệm của mình — dẫu ông không viết về bản thân hay bị ràng buộc bởi bất kỳ chi tiết cá nhân xác thực nào — khi ở số 181 của tờ Tatler, ông nhắc đến người cha qua đời khi ông chưa tròn năm tuổi, và người mẹ là “một phụ nữ vô cùng xinh đẹp, với một khí chất cao quý.” Vị Công tước thứ nhất xứ Ormond được Steele nhắc đến trong lời Đề tặng vở kịch The Lying Lover như là vị ân chủ của thời thơ ấu ông; và chính vị quý tộc này đã tìm cho ông một suất học vào năm ông mười ba tuổi, trong số những học sinh nhận học bổng của trường Charterhouse, nơi ông lần đầu gặp Joseph Addison. Addison, người theo học tại Lichfield trong những năm 1683-4-5, đã chuyển đến Charterhouse vào năm 1686 và rời trường năm 1687 để vào học tại Queen's College, Oxford. Steele vào Oxford hai năm sau đó, chính thức ghi danh tại Christ Church vào ngày 13 tháng 3 năm 1689-90, cũng là năm Addison được bầu làm nghiên cứu sinh tại Magdalene. Bức thư giới thiệu của Steele, đề ngày 2 tháng 4 năm 1711, đề cập đến việc thực thi di chúc của “người bác Gascoigne, nhờ lòng quảng đại của ông mà tôi có được nền học vấn phóng khoáng.” Người đại diện duy nhất cho huyết thống mà Steele sinh ra này, một người “bác” có họ không trùng với họ mẹ Steele trước khi kết hôn, do đó dường như đã qua đời ngay trước hoặc vào khoảng thời gian tờ Spectator bắt đầu công việc xuất bản mỗi sáng một tờ giấy đầy ắp những suy tư, và — với việc Addison nói thay cho ông — hướng về việc
“rời khỏi đất nước này, khi ông được triệu hồi khỏi đó, với sự thỏa mãn thầm kín rằng mình đã không sống một đời hoài phí.”
Đối với trái tim nồng hậu của Steele, tình bạn của Addison chính là hiện thân cho tất cả những phúc lành gia đình mà ông đã lỡ mất. Sự duyên dáng nghịch ngợm của người chị, tình yêu của người anh, sự cảm thông và đức tin đơn sơ nơi Chúa của người mẹ, sự dẫn dắt của người cha — những điều đó ở đâu dành cho Steele, nếu không phải ở người bạn Addison?
Cha của Addison là một vị đại giáo chủ; mẹ ông là em gái của một giám mục; và hoài bão thời thơ ấu của ông, hay hoài bão của cha dành cho ông, đơn giản chỉ là việc một ngày kia ông sẽ trở thành một chức sắc Giáo hội thị vượng và đạo đức. Nhưng trong con người ông, cũng như ở Steele, ẩn chứa thứ thiên bẩm đã nhào nặn cuộc đời họ theo những mục đích riêng của nó, biến cả hai thành những con người mà chúng ta biết đến ngày nay. Joseph Addison sinh ra trong một mái ấm được tạo dựng nên bằng lao động bền bỉ và sự hạnh phúc từ người cha, Lancelot. Lancelot Addison đã gặt hái được thành công. Cha ông, tức ông nội của Joseph, cũng từng là một giáo sĩ, nhưng là một trong số những giáo sĩ xứ Westmoreland mà sự đơn sơ và nghèo khó của họ từng là đề tài cho biết bao câu chuyện cười. Lancelot kiếm được con đường học vấn như một đứa trẻ nghèo tại Ngữ pháp đường Appleby; nhưng ông đã tự vươn lên khi ở Đại học; từng là một người theo phái Bảo hoàng quá lộ liễu đến mức làm phật lòng Khối Thịnh vượng chung, và để rồi sau cuộc Phục hưng, phần thưởng cho sự nhiệt thành ấy chỉ vỏn vẹn là chức tuyên úy nhỏ nhoi cho đội đồn trú tại Dunkirk. Vị trí này sau đó bị đổi thành một nơi tồi tệ hơn tương tự tại Tangier, nơi ông ở lại suốt tám năm. Ông mất đi chức vụ ấy do một tai nạn rủi ro, và suýt rơi vào cảnh túng quẫn nếu ông Joseph Williamson không ban cho ông một giáo xứ trị giá 120 bảng một năm tại Milston, thuộc Wiltshire. Nhờ cơ ngơi này, Lancelot Addison đã kết hôn với Jane Gulstone, con gái của một Tiến sĩ Thần học, có người anh trai sau này trở thành Giám mục xứ Bristol. Tại nhà xứ nhỏ bé ở Wiltshire ấy, Joseph Addison cùng các em trai và em gái của ông đã cất tiếng khóc chào đời. Nhà tiểu luận được đặt tên là Joseph theo tên vị ân chủ của cha ông, người sau này là Ngài Joseph Williamson, một người bạn giữ chức vụ cao trong triều đình. Khi những đứa trẻ lớn lên, người cha vẫn miệt mài làm việc. Ông thể hiện năng lực và lòng trung thành qua các cuốn sách viết về miền Tây xứ Barbary, về Mahomet, và về Tình trạng của người Do Thái; rồi ông trở thành một trong những tuyên úy thường trực của Nhà vua vào thời điểm mà ân chủ Joseph Williamson của ông đang giữ chức Quốc vụ khanh. Lúc đó Joseph Addison mới chỉ ba tuổi. Chẳng bao lâu sau, người cha bận rộn ấy trở thành Phó tế xứ Salisbury, và được phong làm Đại giáo chủ xứ Lichfield vào năm 1683, khi cậu con trai Joseph của ông vừa tròn 11 tuổi. Khi còn là Phó tế xứ Salisbury, Mục sư Lancelot Addison đã gửi Joseph đến trường học tại Salisbury; và khi cha ông trở thành Đại giáo chủ xứ Lichfield, Joseph lại được gửi đến trường tại Lichfield, như đã nói ở trên, trong các năm 1683-4-5. Và rồi cậu được gửi làm học sinh nội trú tư thục tại Charterhouse. Tình bạn mà cậu thiết lập được ở đó với Steele đã được sự chấp thuận và vun đắp bởi vị Đại giáo chủ. Đứa trẻ bơ vơ với trái tim nồng hậu, trí tuệ rực rỡ và những hoài bão cao cả, đã được người bạn của mình đưa về nhà trong những dịp nghỉ lễ, đến dinh thự Đại giáo chủ ở Lichfield, nơi mà — như Steele sau này viết gửi Congreve trong lời Đề tặng vở kịch The Drummer —
“nếu những chuyện thế này mà đem phơi bày trước công chúng, tôi hoàn toàn có thể trưng ra chính bút tích của vị Đại giáo chủ, bằng những lời lẽ nồng nhiệt nhất, chúc phúc cho tình bạn giữa con trai ngài và tôi; và chẳng có đứa con nào của ngài lại không đặt tôi lên hàng đầu về lòng tốt và sự quý mến, tựa như chính người cha ấy đã yêu thương tôi như ruột thịt.”
Addison có hai người anh em trai, một người theo nghiệp kinh doanh và trở thành Thống đốc Pháo đài George tại Ấn Độ, người kia cũng giống như ông, trở thành Nghiên cứu sinh tại Magdalene College, Oxford. Trong ba người chị em gái của ông, hai người mất sớm, người còn lại kết hôn hai lần, người chồng đầu tiên là một mục sư người Pháp tị nạn và sau này trở thành một Kinh sĩ của nhà thờ Westminster. Về người em gái này của Addison, Swift từng nhận xét nàng là “một dạng người sắc sảo, rất giống ông ấy. Tôi không có mấy cảm tình với nàng.”
Vào những năm cuối thế kỷ XVII, khi Steele và Addison còn là sinh viên tại Oxford, phần lớn các nhà văn Anh đều cúi đầu trước sức mạnh mới của thiên tài phê bình Pháp. Thế nhưng quốc gia Anh lúc bấy giờ vừa mới hoàn thành cuộc Cách mạng vĩ đại để bảo vệ các quyền tự do của mình, đã bắt đầu tự suy ngẫm và khơi dậy năng lượng của những nhà văn cất lên tiếng nói vì nhân dân và tìm kiếm sự chuẩn thuận cùng ủng hộ từ nhân dân. Một thời kỳ mới khi ấy đang mở ra, đánh dấu ảnh hưởng của quần chúng đối với văn học Anh. Đó là những ngày tháng non trẻ của một ảnh hưởng giờ đây đã trưởng thành toàn diện, khi xưa từng bước tích lũy sức mạnh và lôi kéo những bộ óc ưu tú rời xa một lối văn Latinh ngoại nhập được gọt giũa để chiều lòng những nhà bảo trợ vốn luôn tìm kiếm uy tín qua sự tinh tế trong phân định phê bình. Năm 1690, Addison đã có ba năm, còn Steele có một năm học tập tại Oxford. Boileau lúc bấy giờ vẫn còn sống, ở tuổi năm mươi tư; và Tây Âu đang cúi đầu tuân theo quyền uy của ông như một vị quân vương vĩ đại của nền phê bình văn học. Boileau vẫn còn tại thế khi Steele xuất bản tờ Tatler, và qua đời vào đúng năm tờ Spectator được thành lập. Boileau, một con người chân tình, đầy thiên bẩm và lẽ phải, đã nâng tầm đồng bào mình thoát khỏi việc cân đong đo đếm từng chữ một cách vụn vặt của nhóm các nữ quý tộc Précieuses, giới ngữ pháp gia, và Viện Hàn lâm Pháp — đứa con ra đời từ những cuộc giao thiệp giữa các quý bà và quý ông ấy. Ông đem ra chế giễu sự lịch thiệp sáo rỗng của một lối văn phong đang thời suy tàn, và ra lệnh cho các nhà văn đương thời phải tìm kiếm hình mẫu ở những bậc thầy văn chương Latinh như Virgil và Horace, những người từng đưa tư duy và ngôn từ tự nhiên đến mức hoàn mỹ. Trong nỗ lực trước đó nhằm chấn chỉnh ngôn ngữ, người ta ưu ái các từ tiếng Pháp có gốc Latinh. Vì tiếng Pháp là một trong những ngôn ngữ có gốc Latinh chiếm phần lớn, đây chẳng qua chỉ là sự nối tiếp hợp lý cho mong muốn làm cho ngôn ngữ ấy chảy trong vắt từ nguồn cội.
Nếu các nhà phê bình Anh thời vua Charles II, những kẻ đã khuất phục trước luật lệ Pháp, chịu thấu hiểu tinh thần của nó thay vì vâng lời một cách mù quáng theo mặt chữ, thì họ hẳn cũng đã quay về tìm kiếm nguồn cội chính yếu của ngôn ngữ mình. Khi nhận ra rằng cội nguồn ấy không phải tiếng Latinh mà là tiếng Saxon, họ hẳn đã tìm cách bồi đắp sức mạnh và sự hài hòa cho nó bằng cách làm ngay điều mà theo quy luật tự nhiên, chúng ta nay đã học lại cách làm — bây giờ khi mà sự bảo trợ văn học đã rời khỏi tay những quý tộc văn hóa vốn thưởng thức theo gu thẩm mỹ thời đại họ, để chuyển sang tay nhân dân Anh. Addison và Steele sống trong thời kỳ chuyển giao giữa các thời kỳ ấy. Họ sinh ra trong thời kỳ này và — Steele thì ngay lập tức, còn Addison thì thông qua ảnh hưởng của Steele — họ chính là những người dẫn đường tin cậy bước sang thời kỳ kia. Do đó, tờ Spectator không đơn thuần là ví dụ xuất sắc nhất cho tay nghề của họ. Nó còn đại diện, và có lẽ đại diện hoàn hảo nhất, cho một cuộc Cách mạng lành mạnh trong nền văn học của chúng ta. Bản chất cốt lõi của văn học Anh không hề thay đổi, cũng giống như bản chất của người Anh không bị biến đổi bởi Tuyên ngôn Nhân quyền mà Thân vương William xứ Orange đã chấp nhận cùng chiếc vương miện nước Anh, vào lúc Addison vừa rời đi và Steele đang chuẩn bị rời trường Charterhouse để đến Oxford. Thế nhưng sự thay đổi quả thực đã diễn ra, và Steele đã thấu hiểu tận sâu trái tim của nó, ngay từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường đại học.
Oxford, trong những năm tháng chưa xa xôi gì lắm, từng có khuynh hướng tôn sùng quyền uy thần thánh của các vị vua. Cha của Addison, một chức sắc giáo hội từng là người phò vua trong suốt cuộc Nội chiến, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự vâng lời đối với quyền lực trong Giáo hội và Nhà nước. Khi văn học hiện đại được thảo luận hay nghiên cứu tại Oxford, người ta thường có xu hướng mạnh mẽ nhất là duy trì quyền lực đã được thừa nhận chung của các nhà phê bình Pháp — những con người thực sự rất tài năng, biết chấn chỉnh thói hư tật xấu của những người đi trước, đồng thời lấy lòng giới học giả bằng sự sùng kính thuần khiết của chính họ đối với các tác giả Latinh tinh tuyết nhất như là khuôn mẫu cho một văn phong hay phương pháp đúng đắn trong việc xử lý một đề tài. Chàng thanh niên Addison chẳng tìm thấy điều gì mới mẻ đối với mình trong bầu không khí của trường đại học, và cũng chịu ảnh hưởng — như bất kỳ ai ở tuổi thanh xuân cũng phải và nên chịu — bởi tông giọng thịnh hành trong giới trí thức đương thời. Nhưng bản thân ông vốn sẵn có, và cảm nhận rõ ràng sự sắc sảo cùng thiên bẩm của chính mình. Tâm hồn nhạy cảm của ông mang một nét tôn giáo dung dị và triệt để, với những bản năng hào hiệp, và được củng cố phần cao quý nhất thông qua sự gắn kết thân thiết với tâm hồn người bạn Steele.
Há chúng ta lại không thể hình dung về hai người bạn cùng nhau trong căn phòng ký túc xá, Addison với vóc dáng mảnh khảnh, những đường nét trên khuôn mặt chẳng thiếu vẻ uy nghi lẫn sự thanh tao, còn Steele với thể chất cường tráng, cùng “khuôn mặt ngắn” rạng rỡ của tờ Spectator — thứ quyền năng giúp ông đòi quyền gia nhập Câu lạc bộ KX (Những kẻ Xấu xí) cho vị quân tử ấy? Addison đang đọc Dryden — người được ông ca ngợi trong những vần thơ đầu tiên được biết đến của mình — hoặc đọc những sáng tác của chính ông, được người bạn Steele nhiệt liệt tán thưởng. Họ cùng nhau mơ về tương lai: Addison uyên bác nhưng hay suy tưởng, còn Steele thực tế dẫu có phần bốc đồng. Cả hai đều có xu hướng tìm thấy Thiên Chúa trong những ngã rẽ của cuộc đời, và đều tránh xa cái vẻ bề ngoài vô thần vốn vẫn còn phổ biến rộng rãi trong nước sau những cuộc Nội chiến vừa qua, như một sự phản ứng chống lại thứ đạo đức giả phô trương từng đè nặng những gông cùm kiềm chế; một sự phản ứng tự nhiên vốn bị gia tăng cường độ bởi ảnh hưởng đồi bại từ một vị Vua phóng đãng. Addison, lớn lên giữa những bậc giảng đạo, phảng phất một chút âm hưởng trừu tượng của nhà giảng thuyết, ngay cả khi những cuộc trò chuyện giữa hai người bạn đôi khi cuốn họ vào sự bộc lộ trực tiếp về ý nghĩa thiêng liêng của cuộc đời — thứ đã hợp nhất họ làm một.
Bên cạnh những nét ngẫu nhiên thuần túy của thời thơ ấu, khuynh hướng suy tưởng ở Addison tự nhiên mạnh mẽ hơn ở Steele. Ông thích thú việc phân tích tư duy. Trong khi đó, Steele bước ra từ thế giới thô ráp của nỗi hổ thẹn và khổ đau; trái tim to lớn, đôn hậu của ông rộng mở nhất trước những thực tại của cuộc đời, trước hiện trạng và tương lai của đất nước, trước những sự đồng cảm cá nhân trực tiếp; trước những bất công hiện hữu và những phương thuốc hiện hữu. Addison nhạy cảm, và khi ở giữa những người xa lạ, ông mang sự dè dặt trong lời nói lẫn diện mạo — thứ thường bị lầm tưởng là sự lạnh lùng và kiêu ngạo, nhưng thực chất lại là hình hài mà sự khiêm nhường khoác lên ở những con người tư tưởng, những kẻ có bản năng suy ngẫm và phân tích, tự trở nên ý thức về bản thân không phải vì kiêu căng, mà bởi họ không thể ngừng việc hướng những suy tưởng ấy ngược về chính mình. Steele thì hoàn toàn thoát khỏi cái tôi khi trái tim ông vội vã lao đi để hội ngộ người bạn của mình. Ông sống giữa những người xung quanh, và trong các mối giao hảo thân tình, ông dồn toàn bộ tâm trí vào giá trị của người bạn đồng hành. Chẳng bao giờ mảy may hạ thấp lý tưởng về một cuộc đời chân chính và hoàn hảo, cũng chẳng bao giờ thôi đề cao điều thiện chỉ vì bản thân không thể sống đạt đến tầm cao của những luận điểm mình đưa ra, ông quá đỗi bộc trực để che giấu dù là nhỏ nhất hay lớn lao nhất những thiếu sót của bản thân. Niềm vui và sức mạnh của một tình bạn tựa như giữa Steele và Addison có thể được tìm thấy — như rất nhiều người đã tìm thấy — trong sự quyến rũ và hữu dụng của một sự gắn kết mà ở đó các tính cách khác biệt nhau đến mức người này như mở ra một thế giới mới mẻ cho người kia, và mỗi người đều rút tỉa từ người kia sự trợ giúp của những nguồn sức mạnh mà tình bạn ấy biến thành của riêng mình. Thế nhưng những nền tảng sâu thẳm nhất của tình bạn này lại được đặt trên sự nghiêm cẩn trong tôn giáo vốn hiện diện ở cả hai; và cũng chính trên sự nghiêm cẩn tôn giáo ấy, nền tảng của cuốn sách này — Tượng đài của họ — mới được dựng xây.
Cả Addison và Steele đều viết thơ từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường đại học. Từ mỗi người bọn họ, chúng ta đều có một bài thơ được viết vào khoảng cùng độ tuổi: bài của Addison vào tháng 4 năm 1694, còn bài của Steele vào đầu năm 1695. Addison đúc rút từ văn học một khúc ca vần nhịp mang tựa đề “Bản tường trình về các nhà thơ vĩ đại nhất nước Anh.” Trong khi đó, Steele đúc rút từ đời thực nỗi đau đớn của nước Anh trước sự ra đi của Nữ hoàng Mary — vợ của vua William — người qua đời vào ngày 28 tháng 12 năm 1694.
Addison, khi viết bài thơ ấy vào năm đó, ở độ tuổi khoảng 23, dành cho một người bạn đại học,
Một bản tường trình ngắn về tất cả những tâm hồn được Nữ thần Thơ truyền cảm hứng,
Những kẻ, từ thời của Chaucer đến thời của Dryden,
Đã trút cạn cơn thịnh nộ cao quý của mình vào những vần thơ Anh quốc,
lại đang chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi quyền uy phê bình của người Pháp — thứ được chấp thuận bởi phần lớn những người theo đuổi văn chương thanh nhã tại Oxford và bất cứ nơi nào quyền uy ấy được tôn trọng — đến mức trong “Bản tường trình về các nhà thơ vĩ đại nhất nước Anh,” ông đã bỏ quên Shakespeare. Về phần Chaucer, lúc bấy giờ ông chẳng biết gì hơn ngoài việc thốt lên những lời mà người ta hoàn toàn có thể nói ở Pháp, rằng:
... thời gian đã làm han gỉ những gì nhà thơ viết,
Làm mòn đi ngôn ngữ của ông, và che mờ sự sắc sảo ấy:
Thật hoài công khi ông đùa cợt trong giọng điệu thô mộc của mình,
Và cố gắng làm cho độc giả mờ mắt vì cười mà chẳng được gì.
Tiếp theo là cụ Spenser già, được sưởi ấm bởi cơn thịnh nộ thi ca,
Đã giải trí cho một thời đại dã man bằng những câu chuyện cổ tích;
Nhưng giờ đây câu chuyện huyền bí từng làm say lòng thuở trước,
Chẳng thể nào làm say đắm thêm một thời đại biết suy ngẫm nữa đâu.
Addison đã phải tốn không ít công sức để bứt phá khỏi cái mạng nhện phê bình của một thời đại chuộng tóc giả và phấn dán — thời đại tự cho mình là “biết suy ngẫm” còn kỷ nguyên vĩ đại của nền văn học thời Elizabeth lại là “dã man.” Rymer, một trong những nhà phê bình của ông, từng tuyên bố rằng:
“trong tiếng hí của một con ngựa, hay trong tiếng gầm gừ của một con chó ngao, ẩn chứa một ý nghĩa, ẩn chứa một biểu cảm sống động, và, tôi có dám nói không, còn mang tính nhân văn nhiều hơn cả những lần bay bổng bi kịch của Shakespeare.”
Addison, với thiên bẩm của riêng mình cùng sự trợ giúp hướng tới sự tự do chuyển động từ những sự đồng cảm của Steele, cuối cùng đã thực sự bứt phá qua những chiếc mạng nhện của giới phê bình; thế nhưng ông vẫn vương lại một chút tơ nhện ấy trên đôi cánh của mình. Chúng ta có thể nhận thấy điều đó khi trong tờ Spectator, ông đối đầu với những định kiến của một “thời đại biết suy ngẫm,” đồng thời tự thỏa mãn phần nào bản thân bằng cách tìm ra lý do cho sự ngưỡng mộ của mình đối với tác phẩm Chevy Chase và Những đứa trẻ trong rừng, dựa trên sự tương đồng lớn lao của chúng với các tác phẩm của Virgil. Ta cũng thấy điều đó trong một số bài bình phẩm đi kèm với nỗ lực xuất sắc của ông nhằm biện minh cho sự ngưỡng mộ tự nhiên chân chính của mình đối với thơ ca Milton, qua việc chứng minh rằng Thiên đường đã mất được lên bố cục theo lối của người cổ đại và tuyệt đỉnh ngay cả trong sự tuân thủ các quy luật của Aristotle. Trong các bài viết trên tờ Spectator bàn về Trí tưởng tượng, ông cũng chỉ mới thoát ra được một nửa khỏi những quy ước của thời đại mình — thời đại từng căm ghét sự hoang dã của một con đèo trên núi, từng coi Đồng bằng Salisbury là một trong những quang cảnh tuyệt vời nhất nước Anh, từng thiết kế những công viên với các vòng tròn và hàng cây thẳng tắp, từng khinh miệt những nhà thờ cổ kính của chúng ta vì nghệ thuật “Gothic” của chúng, và nhìn thấy sự hoàn hảo trong kiến trúc La Mã cùng mái vòm tròn của nhà thờ St. Paul. Thế nhưng, trong những bài viết này và mọi bài tương tự, chúng ta vẫn thấy rằng Addison đã phá vỡ được những định kiến yếu nhược nhất thời đại, chống lại chúng bằng tư duy tự nhiên vững chãi của chính mình. Trong số những độc giả có học thức, những kẻ nhào nặn ý kiến ở tầng lớp thấp hơn, chắc chắn rằng thiên bẩm của ông càng hữu dụng hơn trong việc chấn hưng gu thẩm mỹ của thời đại mình, nhờ vào sự thấu hiểu thân thiện và việc chia sẻ một phần những tư tưởng mà chính thời đại ấy vô cùng tự hào.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là trong Bản tường trình về các nhà thơ vĩ đại nhất nước Anh, chàng thanh niên Addison đã dành tới một phần năm tác phẩm để bày tỏ sự ngưỡng mộ mà ngay từ khi ấy ông đã dành cho Milton. Việc sự cảm thụ của ông trở nên mang tính phê bình sâu sắc hơn, và dẫu còn nhiều giới hạn, vẫn dựa trên một cảm cảm thi ca đưa ông đến gần với Milton, đã được Addison minh chứng trên tờ Spectator qua mười tám bài báo viết vào ngày Thứ Bảy bàn về Thiên đường đã mất. Thế nhưng, chính từ khía cạnh tôn giáo mà ông lần đầu tiên bước vào sự thấu cảm với sự vĩ đại của tác phẩm ấy. Sự đồng cảm của ông với mục đích cao cả của nó đã khiến ông ca ngợi, ngay trên những trang giấy từng đề cao Thiên đường đã mất với đồng bào mình, một tác phẩm “sử” khác: cuốn Sáng thế ký của Blackmore — một treatises (chuyên khảo) bằng thơ tẻ nhạt chống lại chủ nghĩa vô thần — như một công trình xứng đáng được nhìn nhận là
“một trong những sản phẩm hữu ích và cao quý nhất của thơ ca tiếng Anh chúng ta. Độc giả,” ông nói thêm về một tác phẩm chắc chắn chia sẻ với Đồng bằng Salisbury những nét quyến rũ của sự bằng phẳng và không gian trải rộng, “độc giả không khỏi cảm thấy thú vị khi tìm thấy những chiều sâu triết học được làm cho sinh động bằng mọi nét duyên dáng của thơ ca, và được chiêm ngưỡng một sức mạnh lý trí lớn lao giữa một sự dư dả tuyệt đẹp của trí tưởng tượng.”
Cùng một sự đồng cảm mạnh mẽ với mục đích của Blackmore trong tác phẩm ấy cũng đã làm lòa mắt Tiến sĩ Johnson trước sự thất bại của tập thơ này — vốn là tác phẩm hay nhất của Blackmore. Do đó, có thể từ khía cạnh tôn giáo, khi còn là một sinh viên tại Oxford, Addison lần đầu tiên tiếp thu những ấn tượng của mình về thơ ca Milton. Tại Oxford, ông chấp nhận quan điểm của Pháp về nghệ thuật của Milton, nhưng lại thành thực tuyên bố, bất chấp điều đó, một niềm đam mê không hề kiềm chế:
Bất cứ điều gì ngòi bút ông miêu tả, tôi còn thấy nhiều hơn thế,
Trong khi mỗi vần thơ, khoác lên mình vẻ uy nghi,
Táo bạo và siêu việt, thu hút toàn bộ sự chú ý của tôi,
Và dường như vượt lên trên cả những luật lệ khắt khe của giới phê bình.
Vị trí đứng đầu trong số các nhà thơ Anh này đã được Addison dành cho Milton, với một tâm trí hãy còn tươi mới bởi những ảnh hưởng từ người cha — kẻ từng công khai khinh miệt Khối Thịnh vượng chung, và là người đã huấn luyện ông nhìn nhận sự phục vụ của Milton đối với khối đó theo cách mà ông đã viết:
Ồ, giá như Nhà thơ đừng bao giờ làm vấy bẩn ngòi bút của mình,
Để tô son trét phấn cho tội ác của những kẻ phản trắc;
Những tác phẩm khác của ông hẳn đã xứng đáng nhận được những lời tán dương,
Nhưng giờ đây ngôn ngữ ấy chẳng thể gánh nổi chính nghĩa,
Trong khi dòng suối trong lành, dẫu thanh thắc và rực rỡ,
Lại phơi bày một lớp bùn đáy ghê tởm lọt vào tầm mắt.
Nếu giờ đây chúng ta chuyển sang những vần thơ do Steele viết vào những ngày đầu ở Oxford, và chỉ trong vòng mười hai tháng kể từ thời điểm những dòng thơ của Addison về các nhà thơ Anh ra đời, chúng ta sẽ bắt gặp tác phẩm mà Steele gọi là Cuộc rước linh cữu. Đó là đoàn người rước theo thi hài đến nơi an nghỉ cuối cùng của Nữ hoàng Mary nhân từ — người qua đời vì căn bệnh đậu mùa ở tuổi 32. Steele chia sẻ niềm vui thích của người bạn Addison đối với Milton, và thực ra, ông chưa đọc đến số thứ sáu của tờ Tatler thì đã so sánh vẻ đẹp tự nhiên và sự ngây thơ của A-đam và Eva trong thơ Milton với cách mà Dryden xử lý tình yêu của họ. Thế nhưng, nhân vật duy nhất mà Steele dành nhiều cảm hứng nhất lại không phải là người có thể tìm thấy qua những trang sách; ông ấy là một kẻ nhào nặn sống động cho tương lai của dân tộc. Đầy háo hức hướng về Vua William — vị anh hùng của cuộc Cách mạng đã bảo vệ các quyền tự do của chúng ta — chàng thanh niên yêu nước đã tìm thấy ở vị vua ấy hình mẫu anh hùng cho những vần thơ của mình. Nhãn quan sắc bén về những thực tại xung quanh mà Steele sinh ra đã cất lên qua những dòng đầu tiên của bài thơ này:
Những ngày của con người đã định sẵn đau thương và tranh đấu,
Sự yên bình và thảnh thơi là những điều xa lạ với cuộc đời chúng ta;
Chẳng có sự thỏa mãn nào dưới thế gian này là chân thành,
Ngay cả niềm vui bản thân nó cũng mang theo điều gì đó khắc nghiệt.
Nước Anh từng hoan hỉ trước vận mệnh cao cả của Vua William, và giờ đây một thế giới tang tóc đang tiễn đưa người vợ của ông về nơi chín suối. Những người nghèo khổ là những người tiễn đưa đầu tiên và sâu sắc nhất của bà, họ nghèo vì rất nhiều nguyên nhân; và rồi Steele đã vẽ nên, bằng sự đồng cảm nồng nhiệt, từng hình hài nối tiếp nhau của nỗi thống khổ con người. Giữa những người nghèo đang chịu tang tóc ấy là những người mẹ vì sự tuyệt vọng của đóng nghèo, suýt chút nữa đã đâm những đứa con đang nức nở vì đói,
Nhưng trong khoảnh khắc suy nghĩ họ dừng lại, họ bứt tóc mình,
Ném văng lưỡi dao thép, và tàn nhẫn kiềm chế lại.
Những sinh linh vô tội tha thứ cho tình yêu của đấng sinh thành,
Mỉm cười trước số phận của mình, nào hay biết rằng họ còn đang sống.
Nơi những bí ẩn của sự khốn cùng ấy, vị Nữ hoàng quá cố đã thấu thấu đến tận cùng bằng “sự khéo léo để sống tốt” của bà. Sau những người nghèo, Hạ viện bước đi trong đoàn rước tang. Steele chỉ dành đúng hai dòng cho họ:
Với nỗi lo sợ đầy kính trọng, Viện Nguyên lão uy nghi tiến bước,
Nỗi buồn của họ, cũng như mọi cảm xúc khác, đều chung một nhịp.
Hội đồng tiếp theo xua tan đi những nỗi sợ hãi của chúng ta,
Đoàn người tang tóc oai nghiêm của các Viện tước sĩ Anh quốc.
Sự cuồng nhiệt bè phái lúc bấy giờ là đặc trưng trong các cuộc tranh luận của Hạ viện, trong khi Viện Lược viện (Viện Quý tộc) lại đứng ở hàng đầu của cuộc Cách mạng và bảo đảm sự trường tồn cho những thành quả tốt đẹp nhất của nó. Steele miêu tả, khi họ bước qua, nào Ormond, Somers, Villars — người dẫn dắt con tuấn mã của vị Nữ hoàng quá cố, con vật đang “thở ra những tiếng thở dài nặng nhọc mỗi khi nó định hí lên” — những vần thơ vừa mang nét thô mộc vừa đượm nhiệt huyết tuổi trẻ — rồi tiếp theo là cỗ xe tang, những người chịu tang trang sức ngọc ngà, và các quý bà trong triều đình,
Những vẻ đẹp phủ bóng mây của họ nói lên cuộc chiến hoa hòe của loài người,
Những khốn khổ lấp lánh của đời người.
Tôi vẫn còn thấy, Steele nói thêm, vị Nữ hoàng này đi ngang qua để đến lễ đăng quang của bà tại nơi mà giờ đây bà được khiêng đến phần mộ. Trên con đường ấy, xuyên qua những tiếng hoan hô của thần dân để nhận lấy chiếc vương miện,
Bà thản nhiên và dửng dưng trong suốt quãng đường,
Đáp lại những tràng pháo tay vang dội ấy bằng một nụ cười,
Với Uy nghi tự tại và Sự tôn nghiêm khiêm nhường,
Mỉm cười trước món đồ chơi mang tên Quyền lực, và tường tận thời hạn của nó.
Nhưng giờ đây
Những đôi bàn tay nào đang phó thác con người xinh đẹp, hiền đức và công chính,
Phần quý giá hơn của William, vào lòng đất lạnh?
Trong nàng ngụ tì hơi ấm sự sống của chàng, vinh quang của chàng nằm ở đó,
Trong nàng Vua chúa sống, trong nàng chàng thác.
...
Chẳng có nghi thức triều đình nào khiến Vị Đại Nhân phải từ bỏ
Nhiệm vụ dành cho tình yêu của nàng và cho nỗi buồn của chính chàng;
Vì khung thể nhân từ của chàng chẳng thể gánh nổi nỗi đau tột cùng ấy,
Nên vì xót thương Thần dân, chàng không có mặt ở đây:
Bởi vì trước mất mát to lớn mà chúng ta đang gánh chịu,
Nỗi đau đớn tiếp theo chính là việc nhìn thấy chàng chìm trong tang tóc.
Nếu chúng ta nhìn từ những âm hưởng nghiêm túc thuở thanh xuân ấy sang sự biểu đạt văn chương về khía cạnh vui tươi hơn trong tính cách của hai người bạn, chúng ta sẽ thấy Addison che chở cho gu thẩm mỹ viết lách vui đùa của mình đằng sau một Bức tường La Mã làm bằng những câu sáu bước (hexameter). Bởi vì trong số những bài thơ tiếng Latinh của ông nằm ở tập Musæ Anglicanæ tại Oxford có tới tám mươi hoặc chín mươi dòng thơ Latinh vang dội bàn về “Machinæ Gesticulantes, anglice A Puppet-show (Trò múa rối).” Trong khi đó, Steele, đón nhận cuộc đời theo cách ông tìm thấy nó và bày tỏ niềm vui theo lối trò chuyện của riêng mình, lại viết một vở hài kịch bằng tiếng Anh, rồi đem tin vào lời của một người bạn đại học rằng nó chẳng có giá trị gì. Có hai con đường trong cuộc đời lúc bấy giờ mở ra trước mắt một nhà văn Anh. Một là con đường bằng phẳng và êm ả của sự bảo trợ; con đường kia là một lối mòn gập ghềnh leo dốc dành cho những kẻ vất vả tranh đấu vì sự phục vụ nhân dân. Con đường bảo trợ vốn rất đáng kính trọng. Thời đại ấy đã trở nên vô cùng tinh đời dưới bàn tay của người La Mã và người Pháp đến mức sự thấu hiểu chân chính về những cái đẹp của văn học chỉ bị giới hạn trong một nhóm nhỏ được chọn lọc — những kẻ đã được dạy cho biết phải ngưỡng mộ điều gì. Việc viết văn tao nhã vốn vượt quá tầm cảm thụ thô sơ của đám đông. Do đó, giả sử công chúng đọc sách có lớn hơn nhiều so với thực tế đi chăng nữa, thì những con người có gu thẩm mỹ câu nệ, những kẻ dành sự tôn kính cho ý kiến thanh nhã nhiều như Addison từng làm thời trẻ, cũng chỉ có thể kỳ vọng vào một lượng thính giả “tuy ít nhưng tinh,” và sẽ chẳng có lấy sự khích lệ nào để theo đuổi nghiệp văn chương trừ phi sự bảo trợ khen thưởng cho công trạng ấy. Con đường còn lại chỉ mang lại sức hút cho những kẻ tiên phong kiên gan dũng mãnh, những kẻ tiên liệu được con đường nào sẽ được san lấp để trở thành đại lộ lớn của nền văn học chúng ta ngày nay. Addison bước ra thế giới theo con đường của thời đại ông; còn Steele đi theo con đường của thời đại chúng ta.
Addison, sau chiến dịch quân sự năm 1695, đã dâng lên Nhà vua lòng tôn kính bằng một tập thơ về chiến thắng Namur, và trình nộp chúng thông qua Ngài John Somers — lúc bấy giờ là Đại Chưởng ấn giữ Đại Ấn. Gửi kèm theo đó, ông gửi tới Lãnh chúa Somers một bài diễn văn đề tặng đầy nịnh nọt. Somers — người được kính trọng là một con người có gu thẩm mỹ — không hề từ chối việc “tiếp nhận món quà từ một nàng thơ vô danh.” Ông mời Addison đến gặp mình và trở thành nhà bảo trợ cho ông. Charles Montagu, sau này là Bá tước xứ Halifax, bản thân là một nhà phê bình kiêm người hâm mộ châm biếm, cũng tỏa sáng giữa hàng ngũ các chính khách nổi tiếng là những nhà bảo trợ văn học. Addison cũng tự giới thiệu bản thân với ông — một bậc vương giả trong số những nhà bảo trợ “được nuôi dưỡng bằng những lời đề tặng ngọt ngào suốt cả ngày.” Vào năm 1697, vì một phần danh tiếng công khai của ông là một học giả Latinh, Addison — một bậc thầy tiếng Latinh không kém — đã gửi dâng ông một bài thơ bằng tiếng Latinh bàn về Hiệp ước Ryswick. Với sự bảo trợ của Somers và Montagu, chàng thanh niên tài năng muốn thăng tiến hoàn toàn có thể dấn thân trọn vẹn vào sự nghiệp phục vụ Giáo hội — nơi ông đã được người cha đào tạo để hướng tới; thế nhưng sự khéo léo và tinh tế của Addison lại hứa hẹn sẽ hữu ích cho Nhà nước, và vì thế, như Steele kể cho chúng ta nghe, Montagu đã biến Addison thành một người thế tục.
“Những lý lẽ của ông được đặt nền tảng trên sự đồi trụy và tham nhũng chung của những người làm chính trị, những kẻ thiếu đi nền giáo dục phóng khoáng. Và tôi nhớ như in, tựa như vừa đọc bức thư ấy ngày hôm qua, rằng Lãnh chúa đã kết thúc bằng một lời khen ngợi rằng, dù ngài có bị miêu tả thế nào đi nữa là không có thiện cảm với Giáo hội, ngài cũng tuyệt đối không bao giờ làm tổn hại đến Giáo hội bằng cách nào khác ngoài việc giữ cho Ngài Addison không phải bước chân vào đó.”
Do đó, Addison mang ơn những ân huệ của Montagu và Somers khi vào năm 1699, ông nhận được một khoản trợ cấp du lịch trị giá 300 bảng một năm. Khoản tiền trợ cấp này dùng để hỗ trợ ông trong lúc tự trau dồi bản thân tại lục địa thông qua việc học ngoại ngữ và các phương diện khác, nhằm chuẩn bị cho sự nghiệp ngoại giao. Nó bị cắt đứt vào thời điểm Nhà vua qua đời vào mùa xuân năm 1702, và Addison bị đẩy vào cảnh phải tự xoay xở với nguồn lực của chính mình; thế nhưng ông vẫn phát đạt, và sống để trở thành một Thứ trưởng Bộ Ngoại giao vào những ngày tháng từng đưa Prior lên làm Đại sứ, đồng thời ban thưởng những mức thu nhập chính thức cho Congreve, Rowe, Hughes, Philips, Stepney cùng những người khác. Xuyên suốt sự nghiệp đáng kính của mình, sự thận trọng luôn mách bảo Addison mức độ phụ thuộc ít nhiều vào tình bạn với những kẻ thế lực. Là một người bạn trung thực của chính nghĩa bình dân, ông sẵn sàng bán ngòi bút của mình hơn là hiến dâng nó; dẫu cho phần thưởng lớn đến đâu cũng chẳng bao giờ có thểm cám dỗ ông đem bán cả lương tâm mình vào ván bài ấy. Nhờ lời nói tốt đẹp của Halifax mà vào năm 1704, ông nhận được từ Godolphin sắc lệnh của Chính phủ yêu cầu viết một bài thơ về Trận Blenheim, kèm theo khoản tiền ứng trước ngay lập tức bằng chức vụ Ủy viên Kháng án Thuế tiêu thụ đặc biệt trị giá 200 bảng một năm. Vì lý do thực tế vững chắc này mà Addison đã viết tác phẩm Chiến dịch; và sau thành công của nó, ông tiếp tục nhận được phần thưởng là chức Thứ trưởng Bộ phụ trách Ireland.
Tác phẩm Chiến dịch không phải là một bài thơ vĩ đại. Hàng ram ream giấy viết những bài thơ Chiến dịch cũng chẳng thể biến cái tên Addison thành một từ quen thuộc trong cửa miệng đồng bào ông như hiện nay. Tập “Nhận xét về một số vùng đất ở Ý, v.v.,” nơi Addison tiếp nối thành công của bài thơ Chiến dịch bằng những ghi chép về chuyến du lịch nước ngoài, khắc họa hình ảnh ông đến thăm nước Ý với tư cách là “Nước Ý của Virgil” — vùng đất của những nhà văn vĩ đại viết bằng tiếng Latinh, và tìm thấy phong cảnh hay phong tục tập quán của người dân nơi đây gợi nhắc về họ ở mọi ngóc ngách. Ông nhồi nhét vào các trang sách của mình vô số trích dẫn từ Virgil và Horace, Ovid và Tibullus, Propertius, Lucan, Juvenal và Martial, Lucretius, Statius, Claudian, Silius Italicus, Ausonius, Seneca, Phaedrus, và nốc ao “thời đại biết suy ngẫm” của mình bằng một liều lượng quá mức những thứ thuốc chữa bách bệnh văn chương của chính họ. Ông không thể nhìn thấy một kim tự tháp gồm những gã tung hứng đứng trên vai nhau mà không quan sát xem điều đó giải thích như thế nào cho một đoạn văn trong thơ Claudian — chứng minh rằng người Venice không phải là những kẻ phát minh ra trò mẹo này. Thế nhưng những mô tả ngắn gọn, mang tính nguyên bản của Addison về các thành phố và quốc gia mà ông tận mắt chứng kiến lại vô cùng dễ chịu cũng như đầy lý trí; và đây đó, chẳng hạn như đoạn ông dành để tường thuật bài giảng của Thánh Anthony trước đàn cá, hoặc bài viết ngắn về chuyến viếng thắm nhà hát opera tại Venice, đều hé lộ những dấu hiệu của sự hài humor bị che giấu chứ không hề bị bóp nghẹt dưới lớp vỏ ý thức về sự chuẩn mực cổ điển. Trong bản tường thuật về tình trạng chính trị của Naples và ở một số đoạn khác, ta còn bắt gặp sự gợi ý nhẹ nhàng về tình yêu tự do — một phần trong bản chất tuyệt vời của Addison vốn đã được sưởi ấm đôi chút nhờ sự tiếp xúc với nhiệt huyết hào hiệp của Steele. Trong bức thư bằng thơ gửi Halifax được viết trong suốt chuyến du lịch, Addison đã tóm tắt toàn bộ cuốn sách văn xuôi của mình khi ông kể lại cảm giác bản thân đang đặt chân
... trên mảnh đất kinh điển.
Bởi vì nơi đây Nữ thần Thơ đã gảy khúc đàn của mình thường xuyên đến mức,
Chẳng có ngọn núi nào ngẩng đầu mà không được xướng ca;
Mỗi lùm cây râm mát đều trở nên nổi tiếng trong thi ca,
Và mọi dòng suối đều tuôn chảy bằng những khúc ca thiên đàng.
Thế nhưng ông đang viết thư cho một chính khách của cuộc Cách mạng — người đồng thời là ân chủ chính trị của ông, kẻ lúc bấy giờ vừa mất chức — và sự chuẩn mực đã gợi ý những lời ca tụng cá nhân như gọi sông Boyne là sông Tiber, và coi Halifax là một phiên bản cải tiến của Virgil; trong khi trái tim ông lại đặt trọn vào đoạn kết đầy nhấn mạnh, cũng phù hợp với hoàn cảnh, khi ca ngợi thứ tự do ban tặng nụ cười cho những vách đá cằn cỗi và những ngọn núi hoang vu trên hòn đảo của nước Britannia, trong khi đối với nước Ý — vùng đất giàu có với những kho tàng thiên nhiên bất tận — thì Sự áp bức kiêu hãnh lại trị vì trong các thung lũng, và bạo tàn đang chiếm đoạt những đồng bằng hạnh phúc của xứ sở này. Những sự thăng hoa của Addison mang tính hình thức, và bản thân ông thừa điều đó khi viết rằng:
Tôi kìm hãm Nữ thần Thơ đang oằn mình giãy giụa trong đau đớn,
Kẻ đang khao khát phóng mình vào một âm hưởng táo bạo hơn.
Richard Steele không bằng lòng với việc học cách trở nên táo bạo. Đầy háo hức vào thời điểm bước ngoặt của đời sống quốc gia ấy, muốn phục vụ nước Anh bằng sức mạnh của gươm giáo ít nhất là nếu không thể bằng bộ óc uyên bác — thứ mà ông không được khích lệ cũng chẳng mượn mà đánh giá cao — lòng yêu nước của Steele đã thôi thúc ông bắt đầu dấn thân vào đời không phải bằng con đường bảo trợ, mà bằng cách gia nhập làm một binh nhì trong lực lượng Cận vệ Coldstream. Bằng hành động đó, ông thừa biết mình đã làm phật ý một người họ hàng và đánh mất một quyền thừa kế. Như chính ông sau này từng kể về bản thân,
“khi ông cưỡi trên lưng ngựa chiến, tay nắm chặt thanh gươm lớn, và đứng phía sau Vua William III để chống lại Louis XIV, ông đã đánh mất quyền thừa kế một cơ ngơi vô cùng khấm khá tại hạt Wexford ở Ireland, bắt nguồn từ chính tính cách mà ông vẫn giữ gìn cho đến tận ngày nay: luôn đặt trạng thái tâm trí lên trên tình trạng tài sản của mình.”
Steele gia nhập trung đoàn của Công tước xứ Ormond, và ông có những lý do riêng để tòng quân. James Butler — vị Công tước thứ nhất, người mà cha ông từng phục vụ — chính là người đã gửi ông vào trường Charterhouse. Vị Công tước đầu tiên ấy từng là Hiệu trưởng Đại học Oxford, và khi ông qua đời vào ngày 21 tháng 7 năm 1688, chín tháng trước khi Steele bước chân vào Christ Church, cháu trai ông — một James Butler khác — đã kế vị tước hiệu Công tước. Vị Công tước xứ Ormond thứ hai này cũng được Đại học Oxford đặt vào vị trí Hiệu trưởng của ông nội mình. Ông đã cùng Vua William sang Hà Lan vào năm 1691, chia sẻ thất bại của William trong trận Steinkirk vào tháng 8 năm 1692, và bị bắt làm tù binh vào tháng 7 năm 1693 khi Vua William thất bại tại Landen. Những thất bại này đã khích lệ phe ủng hộ nhà Stuart, và vào năm 1694, các thành phố Bristol, Exeter và Boston tuyên bố phò tá Vua James. Các lực lượng quân sự được chiêu mộ ở miền Bắc nước Anh nhằm hỗ trợ cho chính nghĩa của ông. Đến năm 1696 xuất hiện âm mưu của Sir George Barclay nhằm bắt cóc William vào ngày 15 tháng 2. Đại úy Charnock, một trong những kẻ chủ mưu, từng là nghiên cứu sinh tại Magdalene. Ngày 23 tháng 2, âm mưu này được đưa ra trước Nghị viện. Cơn chấn động bao trùm toàn quốc. Các Hiệp hội Trung thành được thành lập. Hiệu trưởng Đại học Oxford khi ấy là một đồng đội chiến đấu với Nhà vua, và mong muốn thu hút thêm sinh lực cho trung đoàn của mình từ nhiệt huyết của thời đại. Trái tim của Steele hướng về chính nghĩa của cuộc Cách mạng, và ông đồng thời mang ơn nhà Ormond một dạng lòng trung thành mang tính gia đình. Còn điều gì tự nhiên hơn việc ông nằm trong số những thanh niên Oxford bị cám dỗ gia nhập chính trung đoàn của Hiệu trưởng để bảo vệ tự do? Lãnh chúa Cutts — Đại tá của Trung đoàn — đã chọn Steele làm Thư ký riêng và xin cho ông một quân hàm Thiếu úy. Chính vào lúc ấy, ông đã viết cuốn sách đầu tay mang tên Người anh hùng Cơ Đốc — tác phẩm được Steele thuật lại một cách khiêm nhường rất lâu về sau, khi bị dồn vào thế phải tự vệ trước sự hung hăng đầy cay độc của bè phái:
“Ông lần đầu trở thành một tác giả khi còn là một Thiếu úy Cận vệ — một lối sống dễ sa vào vô số thói hư tật xấu; và khi đã hoàn toàn bị thuyết phục về rất nhiều điều mà ông thường xuyên hối hận, rồi lại càng thường xuyên lặp lại hơn, ông đã viết, cho mục đích sử dụng cá nhân, một cuốn sách nhỏ mang tên Người anh hùng Cơ Đốc, với thiết kế cốt lõi là khắc sâu vào tâm trí mình một ấn tượng mạnh mẽ về đức hạnh và tôn giáo, nhằm đối lập với xu hướng mãnh liệt hơn hướng tới những ham muốn bất chính. Sự ngưỡng mộ thầm kín ấy quá ư yếu ớt; do đó ông đã cho in cuốn sách mang theo tên mình, với hy vọng rằng một bằng chứng rành rành chống lại bản thân, cùng với ánh mắt của thế giới (tức là của những người quen biết ông) đang đổ dồn vào ông trong một diện mạo hoàn toàn mới, sẽ khiến ông phải hổ thẹn khi thấu hiểu và ra vẻ cảm nhận được những điều đạo đức, trong khi lại sống một cuộc đời đi ngược lại hoàn toàn.”
Giữa những người đồng ngũ, trong bầu không khí tươi mới của sự sùng bái các mô hình cổ điển tại Oxford, cảm giác tôn giáo vốn đi kèm với mọi sự tinh tế chân chính — thứ thực chất là một phần bản chất Anh trong con người ông cũng như ở Addison — đã thôi thúc Steele viết nên cuốn sách này. Trong đó, ông đối lập với thứ chủ nghĩa cổ điển đang thịnh hành của thời đại bằng một phản tư vững chắc rằng sự anh dũng của Cato hay Brutus kém xa về mặt sức mạnh chân chính, và ít thích ứng hơn nhiều với các nhu cầu của cuộc sống, so với Chủ nghĩa anh hùng Cơ Đốc đầy tính thời thượng được nêu bật qua Bài giảng trên núi.
Chiếu theo tựa đề phụ của cuốn sách này, đó là “một Luận điểm chứng minh rằng không có Nguyên tắc nào ngoài những nguyên tắc của Tôn giáo là đủ để tạo nên một Vĩ nhân.” Nó được gửi đề tặng Lãnh chúa Cutts trong một lời đề tặng đề ngày tại Sân Tháp Luân Đôn, ngày 23 tháng 3 năm 1701, gồm bốn chương: chương thứ nhất bàn về chủ nghĩa anh hùng của thế giới cổ đại; chương thứ hai kết nối con người với Đấng Tạo Hóa qua Câu chuyện Kinh thánh cùng Cuộc đời và Cái chết của Chúa Cứu Thế; chương thứ ba định nghĩa người Cơ Đốc nhân được thể hiện qua tính cách và lời dạy của Thánh Phao-lô, áp dụng định nghĩa đó một cách thực tiễn vào đời sống thường nhật của chính thời đại Steele. Trong chương cuối cùng, ông hạ mình khỏi sự suy ngẫm về những động lực rực rỡ hướng tới một cuộc sống cao cả hơn ấy, để bàn về những đam mê và lợi ích thông thường của con người — những cội nguồn hành động phổ quát (mà ông nói rằng chủ yếu là Danh tiếng và Lương tâm) — và tuyên bố rằng chúng sẽ được sử dụng và phát huy tốt nhất khi kết hợp với tôn giáo; tại đây mọi thứ hội tụ ở đoạn cao trào của lòng yêu nước, khép lại bằng bức chân dung về Vua William — “chân dung của một vị tướng quân vinh quang, và (điều mà ông trân quý hơn cả những tước hiệu lẫy lừng nhất) chân dung của một con người chân thành và ngay thẳng.” Đây chính là bức chân dung về William mà nhiều năm sau, trong những ngày tháng đấu tranh chính trị ti tiện hơn, khi Steele trích dẫn lại trên tờ Spectator, ông đã phải ngắt quãng một cách đau đớn và đột ngột bằng câu: ... Fuit Ilium, et ingens Gloria (Thành Ilium đã mất, và vinh quang lớn lao nay chẳng còn).
Tác phẩm Người anh hùng Cơ Đốc của Steele đã thu hút rất nhiều độc giả. Lần tái bản thứ năm của nó được đính kèm vào tập hợp đầu tiên gồm các số báo Tatler thành sách, vào thời điểm thành lập tờ Spectator. Bản tính truyền thống vốn có của tâm trí người Anh vẫn vô cùng mạnh mẽ trong con người Steele, và ông đã âm thầm cống hiến một khối óc sắc sảo, sinh động cho sự phục vụ chân chính của tôn giáo, mà không hề thốt ra hay viết ra cho đến ngày cuối đời bất kỳ một lời lẽ đạo đức giả rẻ tiền nào. Đã có một sĩ quan khiêu khích ông đấu tay đôi chỉ vì sự nhiệt thành của ông trong việc tìm kiếm hòa bình giữa hắn ta và một đồng đội khác. Steele, với tư cách là một sĩ quan lúc bấy giờ — hoặc chẳng bao lâu sau đó được phong làm Đại úy Lực lượng Bộ binh — không thể từ chối việc chiến đấu, nhưng ông chọn cách đứng ở thế phòng thủ; thế nhưng trong lúc gạt đỡ một đường gươm, lưỡi kiếm của ông đã đâm xuyên qua đối thủ, và hiểm họa mà kẻ đó phải gối chăn đã khoét sâu thêm sự căm ghét âm ỉ đối với tập quán đấu tay đôi — thứ đã khiến Steele tấn công nó trong các vở kịch, trong tờ Tatler, và trong tờ Spectator với một năng lượng kiên trì bền bỉ.
Về cuốn Người anh hùng Cơ Đốc, các chiến hữu của ông cảm thấy, và chính bản thân ông cũng nhận ra, rằng cuốn sách quá nặng tính giáo điều. Quả thực, đó là những sự thật trần trụi xuất phát từ trái tim Steele, thế nhưng bầu không khí bề trên — vốn chỉ được dung thứ thoải mái đối với một chuyên gia truyền dạy các quy luật về nghệ thuật của chính họ — lại bộc lộ qua một phong cách quá đỗi giáo điều. Chẳng có gì mâu thuẫn với bản chất của Steele hơn là cảm giác đó. Ông từng định nghĩa người Cơ Đốc nhân là “kẻ luôn là một ân nhân, nhưng mang phong thái của một kẻ nhận ơn.” Và đó cũng chính là tính cách của ông — một tính cách mắc cái tật là sẵn sàng cho đi hơn là nhận lại, sẵn sàng gán danh dự cho người khác hơn là đòi hỏi nó cho chính mình. Để lấy lại sự cân bằng cho bản thân, Steele đã viết một vở hài kịch vui tươi mang tên Đám tang, hay Nỗi sầu theo mốt; thế nhưng ẩn giấu cốt lõi của vở kịch ấy vẫn là sự nghiêm cẩn lớn lao trong việc chỉ trích sự chế giễu và trò lố bịch dành cho nỗi buồn vốn dĩ phải rất đỗi thiêng liêng; đồng thời ông đan xen vào đó, thông qua nhân vật Luật sư Puzzle, một lời phản kháng chống lại thói nhạo báng sự thật và công lý bằng những khúc chiết rối rắm của luật pháp. Sự sinh động của vở hài kịch này đã giúp Steele trở nên nổi tiếng trong giới trí thức; và những nét chấm phá tất yếu từ lòng yêu nước của tác giả cũng mang lại cho ông sự chú ý từ phía đảng Whig. Những kẻ theo đảng phái có lẽ đã sớm cảm nhận được phần nào sự độc lập không khoan nhượng ẩn chứa trong con người Steele, khi ngay trong vở kịch này, ông để vị Lãnh chúa già Brumpton dạy bảo con trai mình rằng:
“Nhưng con hãy cứ là người ngay thẳng, kiên định, công tâm;
Đừng để tình yêu, lòng căm thù hay bè phái lay chuyển con;
Hãy phân biệt rõ từ ngữ với sự việc, và con người với tội ác.”
Vua William, có lẽ nếu ngài còn sống, đã có thể nhận ra một cách công bằng ở Steele hình thái xã hội của một bộ óc minh mẫn vốn ở con người Defoe chỉ là sự cô độc. Về sau này, đối với Steele, đó là một ký ức đầy kiêu hãnh khi cái tên của ông, được lưu giữ để chiếu cố, “nằm trong cuốn sổ tay cuối cùng từng được sử dụng bởi vị Vua vinh quang và bất tử William III.”
Vở Đám tang, lần đầu được công diễn với thành công vang dội vào năm 1702, đã được tiếp nối vào năm tiếp theo bằng Người chồng dịu dàng — vở kịch mà Addison đã đóng góp một số nét chấm phá, viết lời mở đầu, và được Steele đề tặng cho chính Addison, kẻ mà ông nói rằng sẽ “bất ngờ biết bao, giữa một cuộc trò chuyện hàng ngày và quen thuộc, lại nhận được một lời đề tặng mang dáng dấp xa vời như một lời đề tặng công khai.” Addison và người bạn của mình lúc bấy giờ đều đã bước sang tuổi ba mươi mốt. Là những người bạn thân thiết thuở nhỏ, họ vẫn là những tri kỷ gắn bó khi đang ở độ tuổi sung sức nhất của đời người. Chính sau khi họ cùng nhau hòa quyện trí tuệ để viết nên vở hài kịch này, Steele đã bày tỏ ước nguyện về một công trình do cả hai cùng chấp bút, đóng vai trò như Tượng đài cho tình bạn viên mãn nhất của họ. Khi Addison và Steele cùng nhau giải trí với việc sáng tác vở hài kịch này, Addison — người vừa đánh mất triển vọng làm chính trị ngay trước mắt cũng như cả bổng lộc do cái chết của Vua William vào năm trước — vừa mới trở về nhà sau chuyến du lịch dài ngày. Trên đường về nhà, vào tháng Chín tại La Hay, ông đã nhận được tin cha mình qua đời. Ông viết từ La Hay gửi ông Wyche rằng:
“Ngay khi vừa đặt chân đến nơi, tôi đã nhận được tin cha mình qua đời, và kể từ đó đến nay tôi vướng vào biết bao âm thanh và tiệc tùng đến nỗi chẳng tài nào nghĩ đến chuyện làm thơ nổi.”
Với tư cách là người con trai trưởng trong gia đình, khi trở về nước Anh, ông có rất nhiều việc gia đình phải sắp xếp, và có lẽ cả một khoản tiền phải nhận. Dù gắn bó với một đảng phái đã đánh mất quyền lực khi Nữ hoàng Anne lên ngôi và đang chờ đợi cơ hội việc làm mới — Addison — người từng từ chối lời đề nghị quá mức hạ mình của Công tước xứ Somerset về khoản tiền một trăm bảng cộng với mọi chi phí để làm gia sư du lịch cho con trai ngài là Hầu tước xứ Hertford — vẫn có thể, dẫu ở trong một căn phòng tồi tàn tại Haymarket, giao du tại London với những con người mà tình bạn của họ sẽ giúp ông thăng tiến, đồng thời cùng Steele gia nhập hội kín của giới trí thức và những kẻ ăn diện theo mốt thời thượng, những kẻ tự nhận mình là người có học thức và coi các nhà văn là chiến hữu trong Câu lạc bộ Kitcat. Khi vào năm 1704, chiến thắng của Marlborough tại Blenheim vực dậy thế lực của đảng Whig, gợi ý từ Halifax gửi tới Đại thần Ngân quỹ Godolphin đã khiến người ta tìm đến Addison để đặt hàng bài thơ Chiến dịch. Chính sau sự xuất hiện của bài thơ này, vở kịch của Steele được in ra, đi kèm lời đề tặng gửi người bạn thân, trong đó ông viết rằng:
“Tôi coi mối thâm tình với anh là một trong những ân huệ quý giá nhất đời mình. Đồng thời, tôi dành cho thị thành một lời khen ngợi không hề tồi về sự đón nhận nồng nhiệt dành cho vở hài kịch này, khi thừa nhận rằng nó đã nâng cao ý kiến của tôi về nó đến mức khiến tôi nghĩ rằng đây hoàn toàn là một tượng đài xứng đáng cho một Tình bạn bất khả xâm phạm. Tôi sẽ không dâng nó cho anh như thế, nếu tôi không vô cùng cẩn trọng để tránh xa mọi thứ có thể mang vẻ cay nghiệt, vô đạo đức, hay gây tổn hại đến những gì mà tầng lớp ưu tú của nhân loại coi là thiêng liêng và cao quý.”
Đó chính là mẫu số chung giữa hai người bạn. Tác phẩm Cái nhìn chớp nhoáng về tính tục tĩu và vô đạo đức của Sân khấu Anh của Collier đã được xuất bản vào năm 1698; nó tấn công vào một cái ác có thật, dù không phải lúc nào cũng theo đúng phương pháp, và lời đáp trả của Congreve đối với nó đã thất bại. Các vở hài kịch của Steele với tất cả sự vui tươi và hài hước hoàn toàn sạch bóng những lời thề thốt và những tiếng đệm tục tĩu mà các đồng nghiệp cùng thời dường như coi là thiết yếu để tạo điểm nhấn cho sân khấu. Mỗi vở hài kịch của ông đều được đặt trên nền tảng của sự nghiêm cẩn, giống như mọi thứ wit (sự sắc sảo) chân chính của người Anh từ trước đến nay kể từ khi có các nhà văn xuất hiện trên đất nước này. Phong cách vui tươi không hề che giấu hết những suy tư nghiêm túc vốn có thể va chạm với gu giải trí của thị thành; và nhờ thế Steele đã có thể đòi hỏi, bằng quyền năng của vở kịch thứ ba do mình viết, “vinh dự là nhà soạn kịch Anh duy nhất từng có một tác phẩm bị la ó tẩy chay vì tính đạo đức của nó.”
Đó chính là vở The Lying Lover (Kẻ dối trá đáng yêu), được công diễn vào năm 1704, một bản phóng tác từ Corneille — nơi chúng ta phải thừa nhận rằng sự nghiêm túc của Steele trong việc đề cao sự thật và lẽ phải thực sự đã khiến ông làm hỏng vở hài kịch. Vở kịch này sau đó được Foote phóng tác lại thành Kẻ dối trá, và ở hình thái cuối cùng của nó, với thêm một vài thay đổi, đôi khi đã được dựng lại với thành công vang dội. Rất đáng để lưu ý cách Steele xử lý cốt truyện của tác phẩm này. Nguyên tác của nó là một vở kịch của Alarcon — tác giả mà Corneille thoạt đầu lầm tưởng là của Lope de Vega. Alarcon, hay gọi đầy đủ là Don Juan Ruiz de Alarcon y Mendoza, là một người Tây Ban Nha gốc Mexico thuộc một dòng dõi quý tộc từng tạo dựng tên tuổi tại Mexico kể từ thời kỳ chinh phạt, và mang họ Alarcon theo tên một ngôi làng ở Tân Castile. Nhà thơ này là một gã lùn gù lưng, một quý ông Tây Ban Nha chính hiệu nhưng có phần kiêu kỳ, một nhà thơ kiêm nhà châm ngôn sắc sảo, người viết theo một phong cách tiếng Tây Ban Nha tinh tuyết bất thường; đồng thời cũng là một con người từng trải, đến Tây Ban Nha vào khoảng năm 1622 và giữ chức vụ thư ký báo cáo được trả lương rất cao cho Hội đồng Tối cao Ấn Độ. Khi Alarcon, vào năm 1634, được triều đình lựa chọn để viết một vở kịch lễ hội, đồng thời cho xuất bản phần thứ hai các tác phẩm kịch của mình, đã mạnh mẽ đòi lại những vở kịch mà dưới những cái tên ngụy trang, một số đồng nghiệp của ông đã tự nhận vây quanh công trạng về mình, lập tức đã hình thành một liên minh giận dữ chống lại ông, trong đó Lope de Vega, Gongora, và Quevedo đều tham gia. Tất cả những gì Alarcon viết ra hoàn toàn là của chính ông, nhưng các nhà biên tập thế kỷ XVII đã táo bạo phớt lờ những quyền lợi được vinh danh của ông và phân phát những tác phẩm hay nhất của ông vào các vở kịch của những nhà văn nổi tiếng khác, chủ yếu là của Rojas và Lope de Vega. Đó là điều đã đánh lừa Corneille, khiến ông tin và tuyên bố rằng vở la Verdad sospechosa của Alarcon — nền tảng để ông dựng lên vở Menteur vào năm 1642 — là một tác phẩm của Lope de Vega. Về sau, Corneille mới hay biết về sự gian dối đã diễn ra trong vấn đề này giữa các nhà biên tập. Ông đã trao trả cho Alarcon vinh dự xứng đáng, và kể từ đó, Alarcon được tưởng nhớ bên ngoài Tây Ban Nha chủ yếu thông qua vở kịch này. Tại Tây Ban Nha, khi vào năm 1852 Don Juan Hartzenbusch biên tập các vở hài kịch của Alarcon cho bộ Biblioteca de Autores Españoles, ông đã phải lên tiếng về sự thờ ơ bất công đối với vị tác giả xuất sắc này ngay tại quê nhà, nơi các nhà thơ và giới trí thức từng mòn mỏi mong mỏi một bộ sưu tập toàn diện các tác phẩm của ông. Lope de Vega, có thể nói thêm, thực chất là tác giả của phần tiếp theo cho vở la Verdad sospechosa — thứ mà Corneille cũng phóng tác thành phần tiếp theo cho vở Menteur của mình, nhưng nó còn tệ hơn cả những phần tiếp theo tầm thường khác.
Nhân vật chính trong vở kịch của Alarcon là một Don Garcia vừa mới hoàn thành việc học tập tại Salamanca, và nhân vật Latine của Steele lần đầu tiên xuất hiện ở đó dưới cái tên Tristan, chàng hề gracioso trong hài kịch cổ điển Tây Ban Nha. Hai tiểu thư là Jacinta và Lucrecia. Trong vở kịch nhẹ nhàng và duyên dáng của mình, Alarcon có tới ba người cha nghiêm khắc mang phong cách Tây Ban Nha, trong đó có một người — cha của Lucrecia — gây ra hình phạt cho Don Garcia bằng cách đe dọa sẽ giết hắn nếu hắn không chịu cưới con gái mình; và cứ thế, kẻ dối trá bị trừng phạt vì những lời thêu dệt lãng mạn của mình bằng một cuộc hôn nhân với cô gái mà hắn chẳng mảy quan tâm, thay vì được cưới cô gái hắn thực lòng yêu.
Corneille thì nhân từ hơn, và trong hồi thứ năm của vở Menteur, ông tạo ra cho nhân vật Lucrece một sự say mê mới, nhờ đó cuộc hôn nhân trái ý ngang trái ấy lại trở nên khá dễ chịu đối với ông.
Steele, khi phóng tác vở Menteur thành tác phẩm The Lying Lover của mình, đã thay đổi cái kết sao cho hoàn toàn ăn khớp với “sự quan tâm chính đáng đến một thời đại đang cải cách” — thứ đã khiến ông (khi phóng tác một câu thơ trong bài thơ Cuộc rước linh cữu lúc bấy giờ chưa được in) viết trong lời mở đầu rằng: “Niềm vui vẫn phải mang theo điều gì đó khắc nghiệt.” Sau khi chuyển dịch các bản dịch của Corneille từ Garcia và Tristan (Dorante và Cliton) thành Young Bookwit và Latine, ông biến người đầy tớ thành một người bạn học đại học, đóng giả làm đầy tớ bởi vì, vì “một tên đầy tớ ba hoa là điều cần thiết trong các cuộc mưu sự tình ái,” cả hai đã “bốc thăm xem ai sẽ là người đóng vai gia nhân của người kia trong chuyến viễn chinh này.” Sau đó, ông phóng tác các cặp câu đối thoại tiếng Pháp thành một vở hài kịch văn xuôi dễ chịu, điểm xuyết bằng một nét chấm phá nhẹ nhàng những trò lãng mạn thêu dệt về các chiến công quân sự và một buổi tiệc tùng trên sông, nhưng đến cuối cùng lại trở nên cực kỳ nghiêm túc, và tống cổ Young Bookwit vào nhà tù Newgate với tội danh sát hại người quý nhân — ở đây gọi là Lovemore — kẻ cuối cùng sẽ chiến thắng trái tim của người thiếu nữ mà Kẻ dối trá yêu thâu đắm. Ở hồi cuối, mở màn tại nhà tù Newgate, Steele bắt đầu bằng thơ tự do (blank verse), và dẫu cho Lovemore tất nhiên không hề chết, còn Young Bookwit cuối cùng cũng nhận được hơn cả một lời hứa hẹn mờ ảo từ cô gái kia như phần thưởng cho sự ăn năn của mình, thì những thay đổi trong cấu trúc vở kịch đã đẩy nó vượt ra ngoài ranh giới của thể loại hài kịch, và trên thực tế, đó là một bài học đạo đức xuất sắc nhưng lại không phải là một tác phẩm nghệ thuật hay. Và đó chính là ý nghĩa của Steele khi ông tuyên bố rằng mình có một vở kịch bị la ó tẩy chay vì tính đạo đức.
Với sự trân trọng mãnh liệt dành cho nghệ thuật sân khấu — thứ không thể thiếu đối với một con người sở hữu nhãn quan sống động của một nghệ sĩ về cuộc đời — Steele chưa bao giờ rút lại thiện cảm dành cho các nghệ sĩ biểu diễn, chưa bao giờ quên ca ngợi một vở kịch hay, và tôi xin nói thêm, luôn chộp lấy mọi cơ hội hợp lý để gợi ý cho thị thành về sự tinh tế trong thiên bẩm của Shakespeare. Thế nhưng ông đã ngừng viết hài kịch từ đó, cho đến tận gần cuối đời mới cho ra mắt một vở kịch khác đạt thành công vang dội: The Conscious Lovers (Những kẻ đa tình tỉnh thức). Và nhân tiện nhắc đến tác phẩm đó, Fielding từng để nhân vật Mục sư Adams của mình thốt lên rằng vở Cato và The Conscious Lovers là hai vở kịch duy nhất mà ông từng nghe tới, xứng đáng để một người Cơ Đốc nhân đọc, “và, tôi phải thú nhận rằng, trong vở kịch sau có những thứ gần như trang nghiêm đủ để làm một bài giảng đạo.”
Có lẽ vào khoảng thời gian này, Addison đã viết vở hài kịch The Drummer (Kẻ đánh trống) — tác phẩm đã nằm dài trong tay ông cho đến khi Steele — lúc bấy giờ đã trở thành một cổ đông trong ban quản lý Nhà hát Drury Lane — lôi nó ra khỏi sự vô danh, gợi ý một vài thay đổi nhỏ và đem ra dàn dựng nó — không công khai dưới danh nghĩa của Addison — trên sân khấu. Phiên bản xuất bản của nó cũng được đề cử bởi một lời tựa do chính Steele viết, trong đó ông nói rằng ông thích vở kịch của tác giả này hơn
“vì nó không có những câu đối đáp sắc sảo và ẩn dụ gượng gạo mà những người viết trước ông từng ném vào các vở kịch của mình, nhằm nuông chiều và lấy lòng một gu thẩm mỹ sai lệch từng hoành hành nhiều năm trên sân khấu Anh quốc. Tôi tin rằng tác giả hẳn đã nhún nhường sa vào con đường này đôi chút nếu trước khi viết, ông thường xuyên hiện diện tại các buổi trình diễn sân khấu. Tôi càng được củng cố thêm suy nghĩ của mình về vở kịch qua ý kiến của những vị giám khảo có thẩm quyền hơn mà tôi đã tham vấn, họ nhận xét rằng các phân cảnh được phác họa theo phong cách của Molière, và một mạch hài hước tự nhiên, dễ chịu xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Tôi không nghi ngờ gì việc độc giả sẽ khám phá ra điều này, và nhìn thấy vô số vẻ đẹp từng lọt thỏm khỏi sự chú ý của khán giả; bởi những nét chấm phá quá đỗi tinh tế đối với mọi gu thẩm mỹ trong một đại hội quần chúng. Các cổ đông đồng nghiệp của tôi (trong đặc quyền kinh doanh Nhà hát Drury Lane) đã cho rằng, ngay từ lần đọc đầu tiên, nó giống như một bức tranh mà những đường nét chưa đủ mạnh để hiển hiện từ xa. Vốn không nằm trong lối viết thông thường, sự tán dương ban đầu có phần mơ hồ, nhưng nó ngày càng gia tăng sau mỗi lần được công diễn, và đã trao cơ hội trong một số phân cảnh cho những diễn xuất chân thực và xuất sắc nhất mà tôi từng chứng kiến trên sân khấu.”
Vở hài kịch của Addison không được công diễn cho đến tận năm 1715 — năm sau nỗ lực bất thành của ông nhằm vực dậy tờ Spectator, thứ đã cho ra đời cái gọi là tập thứ tám của công trình đó. Vở kịch, lúc bấy giờ chưa được công nhận là của ông, bị chê bai dữ dội đến mức ông giữ kín danh tính tác giả cho đến tận phút cuối, và Tickell đã loại bỏ nó ra khỏi bộ sưu tập các tác phẩm của người bảo trợ mình. Thế nhưng Steele hiểu rõ những gì cần làm đối với người bạn của mình, và vào năm 1722, ông đã hiên ngang cho tái bản tác phẩm này dưới tên của Addison, kèm theo lời đề tặng gửi Congreve cùng những lời khiển trách Tickell vì đã ém nhẹm nó. Nếu quả thực vở The Drummer chẳng gây được tiếng vang nào trên sân khấu dù được diễn xuất vô cùng xuất sắc, “khi quan sát điều này,” Steele nói, “tôi đang đưa ra một nhận định khắc nghiệt hơn rất nhiều về điều đó so với chính vở hài kịch.” Nhân vật Kẻ đánh trống trong vở kịch của Addison là một quý ông, vì muốn tiến tới hôn nhân với người vợ góa của một người lính, đã hóa trang thành bóng ma đánh trống của người chồng quá cố ngay tại ngôi nhà vùng quê của nàng, nhằm gieo rắc sự kinh hoàng cho một tên công tử bột thị thành tự cao tự đại, một kẻ theo chủ nghĩa tự do tư tưởng — một kẻ theo đuổi khác — kẻ luôn tự tin rằng mình đang đối mặt trực diện với thế giới tâm linh, mặc dù hắn ta lớn tiếng tuyên bố rằng mình không thể tin vào điều đó. “Phần tôi, cô bé ạ, tôi đã tự làm cho mình cảm thấy thoải mái trong những vấn đề đó.” Chân dung của một gã công tử tự do tư tưởng được phác họa từ đời thực mà không hề phóng đại, nhưng phảng phất nhiều hơn một chút sự khinh bỉ cay đắng mà Addison dành cho gã đạo đức giả vô thần — kẻ mà ông quá đỗi dễ dãi khi đánh đồng với những người hoài nghi chân chính đối với các quan điểm chính thống. Những đoạn duy nhất của ông trên tờ Spectator chạm sát ranh giới của sự cố chấp chính là những đoạn ông đề cập đến kẻ tự do tư tưởng; thế nhưng không nên quên rằng dạng thức phổ biến nhất của kẻ tự do tư tưởng dưới thời Nữ hoàng Anne không phải là một con người tư duy vật lộn công khai với sự hoài nghi và tìm kiếm độc lập cho chân lý, mà là một kẻ ăn không ngồi rồi chối bỏ tư duy và nhào nặn tính cách bản thân dựa trên truyền thống từ triều đình Vua Charles II. Và xuyên suốt tờ Spectator, chúng ta có thể tìm thấy một âm hưởng Cơ Đốc giáo ẩn giấu trong sự không khoan nhượng của Addison đối với sự bất tín — thứ hoàn toàn vắng bóng khi nhà luân lý học ấy là Eustace Budgell. Hai hoặc ba nhân vật trong vở hài kịch The Drummer mở ra cơ hội cho những nét vẽ phác họa nhân vật xuất sắc của diễn viên, và trên một sân khấu lành mạnh, trước một khán giả có khả năng phân định những nét chấm phá hài hước tinh tế và thưởng thức sự biểu đạt không gượng gạo nhưng vô cùng rõ nét của các dạng tính cách khác nhau, vở The Drummer chắc chắn sẽ là một chương trình giải trí vô cùng đáng hoan nghênh.
Thế nhưng bức tranh phác họa của chúng ta giờ đây đang dừng lại ở năm 1705, khi Steele tạm ngừng viết hài kịch. Bài thơ Chiến dịch của Addison đã mang lại cho ông danh tiếng, và có lẽ giúp ông trả hết các khoản nợ thời đại học, kèm theo cả tiền lãi, đúng như những gì ông đã làm. Tập Nhận xét về nước Ý của ông, lúc bấy giờ được xuất bản, đúng như lời Tickell nói, “thoạt đầu chỉ được phần lớn độc giả thưởng thức ở mức độ hững hờ”; và vở kịch The Drummer có lẽ đã được viết xong và khóa kín trong ngăn kéo bàn làm việc của ông. Giờ đây đã xuất hiện những ngày tháng giao du mà Steele từng nhớ lại khi, với tình bạn bất tử, ông viết trong lời tựa cho lần xuất bản vở The Drummer do chính ông dàn dựng sau cái chết của Addison:
“Ông vượt trội hơn tất cả mọi người ở cái tài năng mà chúng ta gọi là khiếu hài hước, và tận hưởng nó một cách hoàn mỹ đến mức sau một đêm trò chuyện riêng tư với ông, cách biệt hoàn toàn khỏi thế giới, tôi thường tự suy ngẫm rằng mình vừa có được niềm vui được đàm đạo với một người tri kỷ của Terence và Catullus — những kẻ sở hữu toàn bộ sự sắc sảo và tự nhiên của họ, được nâng tầm bằng một khiếu hài hước tinh tế và thú vị hơn bất cứ ai từng có được.” Và một lần nữa trong chính Lời tựa ấy, Steele xoáy sâu vào “niềm vui mỉm cười ấy, thứ châm biếm tinh tế và lối khôi hài tao nhã, từng hiện diện nơi Ngài Addison mỗi khi ông thoát khỏi sự rụt rè đáng chú ý — thứ vốn là chiếc áo choàng che đậy và giấu kín tài năng; và những năng lực của ông chỉ bị che lấp bởi sự khiêm nhường — thứ nhân đôi những vẻ đẹp lộ diện, đồng thời mang lại uy tín và sự kính trọng cho mọi điều bị khuất lấp.”
Addison mang trong mình ý thức về cái tôi của một tâm trí nhạy cảm và hay suy tưởng. Điều này, đi kèm với phong thái rụt rè khi ở trước những người không thân thiết, thường bị lầm tưởng là sự tự mãn lạnh lùng. “Viện nguyên lão nhỏ bé” của những người bạn thân thiết đã bị thu hút bởi sự thấu hiểu về độ ấm áp thực sự trong bản chất của ông. Và các mối thâm tình của ông, cũng giống như tôn giáo của ông, chi phối những phán đoán của ông. Sự cởi mở mang chiếc áo choàng triết học trước thế giới đã khiến ông buông bỏ bản thân trên tờ Spectator — thậm chí còn không chút dè dặt hơn cả những gì Steele từng làm — vào những nỗ lực lặp đi lặp lại nhằm giúp đỡ một người bạn như Ambrose Philips — người với những bài thơ ca ngợi những đứa trẻ nổi bật, “đề tài nhỏ nhoi, sự sắc sảo nhỏ nhoi,” đã dấy lên cái tên Namby-pamby. Sự trầm lặng của Addison trước những người xa lạ là rào cản cho sự mở rộng nhanh chóng vòng tròn bạn bè thân thiết, và điều đó chắc chắn đã biến tình bạn hào hiệp to lớn của Steele trở thành tất cả đối với ông, cũng như tình bạn của ông đối với Steele. Quả thực, nó đã “nhân đôi toàn bộ gia tài của ông.” Trái tim Steele rộng mở trước niềm vui tận hưởng mọi mối giao hảo tử tế với con người. Về sau này, khi sự biểu đạt tư duy trong văn học các dân tộc giành được sự tự do và chân thành, hai dạng thức văn học đã được hình thành từ hai dạng thức tâm trí mà Addison và Steele có thể được xem là đại diện phần nào. Mỗi người đều tìm kiếm bước tiến hướng tới một ánh sáng tốt đẹp hơn: một người thông qua việc xoáy sâu vào các nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân của con người cùng mối liên hệ của họ với sự vô hạn; người kia thông qua việc nghiên cứu đặc biệt về các mối liên kết xã hội và quyền tự do của con người cùng mối liên hệ của họ với khối cộng đồng nơi họ là thành viên. Goethe chẳng hạn, nghiêng về nghiên cứu thứ nhất; Schiller nghiêng về nghiên cứu thứ hai; và mọi tâm trí tự do có lẽ sẽ nghiêng về một trong hai tâm điểm quan điểm ấy. Addison là một chính trị gia lạnh lùng bởi vì ông là chính mình nhất khi phân tích các nguyên tắc tư duy, cùng những thói hài hước, đam mê và bổn phận của cá nhân. Ngược lại, Steele sẵn sàng đối mặt với sự hủy diệt vì những niềm tin của mình với tư cách là một chính trị gia, bởi vì bản chất xã hội đã biến sự nghiêm cẩn của ông thành mối bận tâm đối với sự thịnh vượng của đất nước, và ông sống trong những thời điểm mà người ta vẫn chưa chắc chắn liệu những quyền tự do vừa được bảo vệ ấy đã thực sự được bảo đảm vĩnh viễn hay chưa. Phe phái mong muốn khôi phục lại những sự bạo tàn cổ xưa vẫn đang vô cùng mạnh mẽ, và bản thân Nữ hoàng hầu như không đứng về phía tự do.
Vào năm 1706 — thời điểm diễn ra cuộc liên hiệp giữa Anh và Scotland — thế lực của đảng Whig đã được củng cố nhờ các cuộc bầu cử năm trước, và vào đầu năm 1706, Addison được phong làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao dưới quyền Sir Charles Hedges — một người thuộc đảng Tory, kẻ đã bị thay thế trước cuối năm đó bởi con rể của Marlborough, Bá tước xứ Sunderland — một nhân vật thuộc đảng Whig, dưới quyền vị này Addison đương nhiên tiếp tục giữ chức vụ, và từ đó trở thành ân chủ tích cực của ông. Cũng trong năm đó, vở opera Rosamond được công diễn với phần lời do Addison chấp bút. Đó mới chỉ là năm thứ ba, hoặc thực chất là năm thứ hai, của nghệ thuật opera tại Anh, bởi vì chúng ta khó có thể tính là tạo nên một năm opera cho các màn đệm và khúc dạo đầu hát múa mang phong cách Ý, được biểu diễn dưới sự chỉ đạo của Clayton tại Tòa nhà York vào năm 1703. Năm 1705, vở Arsinoe của Clayton — được phóng tác và dịch từ tiếng Ý — được công diễn tại Drury Lane. Vở Camilla của Buononcini được trình diễn tại nhà hát ở Haymarket và được hát bằng hai ngôn ngữ, phần ca khúc của nữ chính bằng tiếng Anh và của nam chính bằng tiếng Ý. Thomas Clayton, một nhạc công hạng hai nhưng là một người có gu văn học, người từng đưa nghệ thuật opera đến London, lập luận rằng phần lời của một opera không chỉ bằng tiếng Anh, mà phải là tiếng Anh xuất sắc nhất, và âm nhạc Anh phải minh họa cho nền văn học bản địa chất lượng tốt. Addison và Steele hoàn toàn đồng tình với điều này. Addison bị thuyết phục để viết lời cho một vở opera của Clayton — chính là tác phẩm Rosamond — và Steele sau đó bị lôi kéo tham gia đầu tư tài chính dưới hình thức hợp tác nào đó với những nỗ lực của Clayton nhằm phổ nhạc thơ tiếng Anh trong các chương trình giải trí tại Tòa nhà York, mặc dù người bạn Hughes của ông đã cảnh báo thẳng thắn rằng Clayton không phải là một nhạc sĩ cừ khôi.
Tác phẩm Rosamond là một thất bại của Clayton chứ không phải một thành công của Addison. Nhà thơ chỉ gặt hái được những lời giễu cợt nghèo nàn từ một nhân vật hài hước tên là Sir Trusty — kẻ canh giữ khu vườn của Rosamond và có một người vợ hay cằn nhằn. Thế nhưng bù lại, có một lời ca tụng đầy hạnh phúc dành cho Marlborough khi trao cho Vua Henry một viễn cảnh tại Woodstock về vinh quang sắp tới của nước Anh, và qua sự thể hiện trực quan bằng cảnh tượng cung điện Blenheim — món quà của quốc gia dành cho Marlborough — mọc lên ngay trên bối cảnh câu chuyện về Nữ hoàng Rosamond xinh đẹp. Quả thực, không thể nghi ngờ gì khi chính vì vì cảnh tượng tại Woodstock và cơ hội có được từ đó mà Rosamond đã được chọn làm đề tài cho vở opera. Addison bắt Nữ hoàng Eleanor cho Rosamond uống thuốc mê thay vì thuốc độc, và qua đó ông đạt được cái kết có hậu hằng mong muốn cho một vở opera.
Hãy tin rằng Rosamond của ngài vẫn còn sống.
Vua: Ôi ngày hạnh phúc! Ôi cảnh tượng dễ chịu!
Nữ hoàng của ta tha thứ —
Nữ hoàng: — Trượng phu của ta thật lòng dạ sắt son.
Vua: Ta sẽ chẳng thay lòng đổi dạ nữa.
Nữ hoàng: Ta sẽ chẳng đau buồn thêm nữa.
Cả hai: Nhưng sẽ mãi mãi gắn bó sống chung thế này.
Nói cách khác, diễn ra trong ba ngày — đúng bằng tuổi thọ của vở opera. Thế nhưng vị Thứ trưởng Bộ Ngoại giao văn chương ấy đã cứu vãn được phẩm giá chính trị của mình bằng lời tri ân sân khấu dành cho Marlborough, thứ đã hậu thuẫn cho lời ca tụng trong phòng kín của bài thơ Chiến dịch.
Vào tháng 5 năm 1707, Steele nhận được chức vụ Người biên soạn công báo (Gazettier) — vốn trước đó trị giá 60 bảng, nhưng ngay sau đó được Harley nâng mức lương lên 300 bảng một năm. Vào khoảng thời gian đó, ông cũng được bổ nhiệm làm một trong những thị thần cho chồng của Nữ hoàng Anne, Thân vương George xứ Denmark. Cũng trong năm đó, Steele kết hôn. Về đời sống riêng tư bậc nhất của ông trước thời điểm này, người ta biết rất ít. Ông từng kết hôn với một phụ nữ đến từ Barbados, người đã qua đời chỉ vài tháng sau đó. Từ những năm tháng được nhắc đến trong cuốn Người anh hùng Cơ Đốc, ông có một người con gái mà ông hết lòng chăm sóc như một người cha. Năm 1707, Steele ở độ tuổi khoảng 35, kết hôn với cô (hoặc như những tiểu thư đã đến tuổi trưởng thành thời đó được gọi là bà) Mary Scurlock, lúc bấy giờ 29 tuổi. Đó là một cuộc hôn nhân xuất phát từ tình yêu từ cả hai phía. Steele thừa hưởng từ người vợ đầu một điền trang tại Barbados, mang lại lợi tức sau khi trừ đi các khoản lãi vay thế chấp là 670 bảng một năm. Chức vụ Người biên soạn công báo của ông, trừ đi 45 bảng tiền thuế, trị giá 255 bảng một năm, và chức vụ trong hộ gia đình Thân vương phu quân mang lại thêm một trăm bảng nữa. Do đó, mức thu nhập mà Steele dùng để kết hôn nhỉnh hơn một ngàn bảng một năm, và thân mẫu của cô Scurlock sở hữu một điền trang trị giá khoảng 330 bảng một năm. Mary Scurlock từng là bạn của người vợ đầu tiên của Steele, bởi trước khi kết hôn, cô từng gợi nhắc Steele về tâm trí mẹ mình bằng câu nói: “Đó là người sống sót sau đám tang mà tôi từng đến khi lâm bệnh.”
“Hãy biến những quan tâm của chúng ta dành cho nhau,” Steele viết ngay trước khi kết hôn, “trở thành tương hỗ và bất biến, để trong khi thế giới xung quanh chúng ta bị mê hoặc bởi những sự thỏa mãn giả dối của những ham muốn lang thang, thân thể chúng ta sẽ là những điện thờ dành cho nhau, và thiêng liêng đối với lòng trung thành lứa đôi, sự tin tưởng tuyệt đối, cùng hội đoàn thiên đàng.”
Vẫn còn lưu lại một lời cầu nguyện do Steele viết trước lần đầu tiên nhận bí tích thánh thể cùng vợ sau khi kết hôn. Bên cạnh đó còn có những bức thư và mẩu giấy nhỏ do Steele gửi cho vợ, được trân quý bởi tình yêu của nàng, và được in ra bởi một nhà khảo cổ nhẫn tâm, kẻ mù quáng trước câu nói nằm ở một trong những bức thư đầu tiên ấy:
“Anh xin em đừng cho bất kỳ ai đang sống xem những bức thư của anh, mà hãy để chúng ta hài lòng với những suy nghĩ của nhau về lời nói và hành động của đôi bên, mà không cần sự nhúng tay của những kẻ khác — những kẻ chẳng thể thấu hiểu nổi một tình tiết tinh tế như mối giao thương giữa vợ chồng.”
Thế nhưng chúng vẫn được in ra để lũ nông cạn cười cợt và người khôn ngoan tôn kính. Chúng cho thấy rằng ngay cả trong những khoảnh khắc vô tâm nhất hay lo lắng nhất, nhà châm biếm xã hội, người ái quốc bận rộn ấy vẫn nhớ về “cô Prue thân yêu” của mình, và là người tình của nàng cho đến tận cùng. Chẳng bao lâu sau khi kết hôn, Steele đưa vợ đến một trường nội trú ở ngoại ô, nơi họ gặp một thiếu nữ mà Steele thể hiện tình cảm yêu thương khiến bà Steele phải cất lời hỏi liệu đó có phải là con gái của ông không. Ông đáp rằng đúng thế. “Vậy thì,” bà Steele nói, “tôi xin phép được coi con bé là con của tôi nữa.” Kể từ đó, cô bé sống trong mái ấm của họ dưới cái tên Miss Ousley, và được đối xử như con ruột bởi người vợ của Steele. Quả thực, đây là một người phụ nữ xứng đáng nhận được tình yêu chưa bao giờ phai nhạt từ ông. Là một người chồng chân chính và một người bạn chân thành, ông đùa cợt gọi Addison là tình địch của mình. Trong tờ Spectator xuất hiện một bài báo của Steele (số 142) miêu tả một số bức thư tình của chính ông như cách kể lại những gì một người đàn ông từng nói và nên có khả năng nói về người vợ của mình sau bốn mươi năm chung sống. Bảy năm sau ngày cưới, ông ký tên: “Của em nhiều hơn những gì em có thể tưởng tượng hay anh có thể diễn tả.” Ông đề tặng nàng một tập của bộ Thư viện của Phụ nữ, và viết về những sự chăm sóc của nàng dành cho ông rằng:
“nếu có những sinh linh gọi là thiên thần hộ mệnh, thì họ đang hành động như thế. Tôi sẽ chẳng bao giờ tin một thiên thần nào đó tốt đẹp hơn về mặt bản tính, cũng như chẳng thể hình dung nó quyến rũ hơn về mặt hình hài so với vợ tôi.”
Vào năm trước khi nàng qua đời, ông vẫn ký những bức thư của mình bằng câu “Chúa phù hộ em!” và “Prue thân yêu, mãi mãi là của em.” Rằng Steele biến nhiệm vụ trong đời sống văn học của mình thành cuộc chiến chống lại sự chế giễu phù phiếm và đồi bại đối với các mối liên kết hôn nhân vốn phổ biến trong thời đại ông, đồng thời bảo vệ danh dự thiêng liêng và hạnh phúc của chúng — điều đó là thứ mà độc giả của tờ Spectator không thể nào không nhận ra.
Steele, khi kết hôn vào năm 1707, thuê một ngôi nhà trên phố Bury, khu St. James's, và năm tiếp theo chuyển đến một ngôi nhà tại Hampton mà ông gọi đùa là cái lều tranh (Hovel). Addison từng cho ông vay một ngàn bảng để lo chi phí sắm sửa đồ đạc và các nhu cầu cấp bách khác. Khoản tiền này đã được trả hết trong vòng một năm, và khi vào cùng thời điểm đó, mẹ vợ ông đề xuất một thỏa thuận tài chính có lợi cho bản thân ông, Steele đáp lại rằng ông hoàn lắm nếu, giả sử ông sống sót qua đời vợ, lại “đổi dòng chảy của điền trang ra khỏi cái máng mà nó vốn dĩ phải thuộc về, giả như tôi chưa từng bước chân vào gia đình này.” Luôn hào phóng đem của cải của mình cho người khác, đôi khi ông trắng tay không còn một xu dính túi và bị vây bẫy bởi nợ nần. Thế nhưng ông chưa từng lừa gạt bất kỳ ai. Khi ông tiễn đưa cô Prue của mình về nơi chín suối, ông không nợ bất kỳ ai một xu, dẫu cho ông để lại tất cả đồng bào mình mang ơn ông, và để lại cho hai người con gái sống sót nhiều hơn cả phần tài sản của người mẹ. Một người chết vì bệnh lao chỉ một năm sau đó, người kia kết hôn với một trong các Thẩm phán xứ Wales, sau này là Lãnh chúa Trevor.
Tình bạn — một tình bạn bình đẳng — giữa Steele và Addison vẫn vẹn nguyên không một vết nứt, giống như tình yêu giữa Steele và người vợ của mình. Những câu chuyện vặt vãnh có thể đã bị thêu dệt hoặc hiểu lầm. Trong những ngày tháng của sự công kích cá nhân đầy ác ý, Steele vẫn dũng cảm đương đầu với điều tồi tệ nhất của thói hằn học đảng phái, và những lời vu khống tìm thấy để ném vào ông thực sự vô cùng ít ỏi. Chẳng có ai trong suốt cuộc đời họ từng hoài nghi về sức mạnh và sự chân thành bình đẳng trong mối thâm tình giữa hai người bạn. Steele chưa bao giờ là kẻ bám đuôi Addison. Xuyên suốt cuộc đời, ông đi theo con đường của chính mình, đóng vai trò dẫn dắt thay vì kẻ theo sau: tiên phong với tư cách nhà soạn kịch; tiên phong trong việc hình thành và thực thi đề án của tờ Tatler, Spectator, và Guardian; kiên định đi theo tiếng gọi lương tâm của riêng mình chống lại sự thực dụng của Addison khi chuyển từ tờ Guardian sang tờ Englishman, và qua đó dấn thân vào những bước di chuyển đầy hiểm nguy với tư cách là một nhà văn chính trị — kẻ có trái tim hoàn toàn đặt trọn vào điều mà ông cho là chính nghĩa của nhân dân.
Khi Swift từng viết thư cho Addison rằng ông nghĩ Steele là “kẻ đê tiện nhất nhân loại,” trong bức thư phản hồi Swift về điều đó, Steele phàn nàn rằng tờ Examiner — nơi Swift nhúng tay rất sâu — đã tuyên bố Addison đã “kìm cương ông ta trong vấn đề chính trị,” và nói thêm rằng:
“Điều này thật là một gợi ý tồi tệ cả về phần ông ấy lẫn tôi. Tôi chẳng thuộc về phe phái nào cả; mà sự thật của vấn đề mới là thứ tôi sẽ bảo vệ hết sức có thể bất cứ khi nào một con người tôi kính trọng bị tấn công.”
John Forster — người với nhãn quan sắc bén vào những cốt lõi của văn học đã dẫn dắt ông viết một bài tiểu luận về từng người trong hai bậc khai sáng vĩ đại của giai đoạn cuối văn học Anh là Defoe và Steele — đã chỉ ra trong bài tiểu luận xuất sắc của mình về Steele rằng Swift phủ nhận việc từng phát biểu rằng Steele bị người bạn của mình kìm cương, và làm điều đó theo một cách thừa nhận thẳng thắn quyền ghen tị của Steele trước lời gán ghép ấy. Ngài Forster công tâm nói thêm rằng trong suốt những lời tâm sự thân mật của Swift gửi Stella,
“dẫu tâm trạng của ông ta mang tính châm biếm hay lịch thiệp, tình bạn của Steele và Addison vẫn mãi gợi nhắc trong ông ta một sự phiền toái nào đó, một nỗi bẽ bàng, một sự tiếc nuối, nhưng chưa từng có dù chỉ một lần hoài nghi rằng đó không phải là một tình cảm thân thiết và chân thành, hay trong đó có sự len lỏi của bất cứ điều gì bất tương thích với sự bình đẳng hoàn hảo.”
Sáu tháng sau cái chết của Addison, Steele viết (trong số báo số 12 của tờ Theatre, và tôi lại đang trích dẫn những dữ kiện được dẫn bởi John Forster),
“rằng chưa từng có một tình bạn nào khắng khít hơn giữa ông và Addison, và họ cũng chưa từng có bất kỳ sự bất hòa nào ngoài những điều bắt nguồn từ phương thức khác nhau của họ trong việc theo đuổi cùng một mục tiêu; một người chờ đợi và chấn chỉnh dòng nước xiết, trong khi người kia quá thường xuyên lao thân vào dòng chảy ấy; thế nhưng dù họ đã sống như thế suốt những năm qua, tránh mặt nhau, họ vẫn duy trì sự quan tâm nhiệt thành bậc nhất đối với hạnh phúc của nhau; và khi họ gặp nhau, họ cởi mở như những đứa trẻ, trò chuyện về những đại sự — nơi họ nhìn thấy những điểm bất đồng — mà không hề ép buộc (điều mà họ biết là bất khả thi) để cải đạo lẫn nhau.”
Về bản chất hay giá trị của những điều từng chia rẽ họ như thế, Steele chỉ bổ sung thêm biểu đạt đầy ý nghĩa về hy vọng của ông rằng, nếu gia đình ông phải chịu thiệt thòi, thì đất nước của ông có lẽ sẽ nhận được những điều tốt đẹp hơn, “vì nỗi bẽ bàng mà ông đã phải trải qua.”
Do đó, đó chính là Tình bạn mà tờ Spectator là Tượng đài trường tồn. Tờ Spectator là một sự tiếp nối được cải biên của tờ Tatler, và tờ Tatler được gợi ý từ một phần tờ Review của Defoe. Tờ Spectator thuộc về những ngày đầu tiên của một thời kỳ khi quần chúng nhân dân mở rộng năng lực đọc sách của họ sang những lĩnh vực kiến thức vốn trước đó chưa từng được họ tìm kiếm, và sự ủng hộ của họ nhìn chung được nhận thấy là đáng khao khát hơn sự ủng hộ của ngay cả vị ân chủ vương giả nhất. Thời kỳ này nên được tính từ ngày vào năm 1703 khi cánh cửa sắt khép lại giam giữ Defoe trong nhà tù Newgate — cũng là năm ra mắt vở Người chồng dịu dàng của Steele, và là thời điểm Addison đang ở Hà Lan trên đường trở về sau chuyến du lịch châu Âu. Defoe lúc bấy giờ bốn mươi hai tuổi, còn Addison và Steele trẻ hơn ông khoảng mười một năm.
Vào năm tiếp theo, 1704 — năm diễn ra chiến thắng Blenheim — Defoe cho phát hành, vào ngày 19 tháng 2, số báo số 1 của tờ “Bản tuần san tường trình về các vấn đề nước Pháp: Được thanh tẩy khỏi những sai lầm và tính thiên vị của các Nhà báo và Tiểu chính khách từ mọi phía,” và trong bản phác thảo nhập đề cho kế hoạch của nó, đã tuyên bố rằng:
“Sau khi các Vấn đề Nghiêm trọng của chúng ta đã khép lại, chúng ta sẽ vào cuối mỗi Tờ báo, Gửi tới quý vị một chút Giải trí, bất cứ khi nào có điều gì xảy ra khiến Thế giới Phải mỉm cười; và dù là bạn hay thù, phe phái này hay phe phái khác, nếu có chuyện gì xảy ra đáng khinh bỉ đến mức đòi hỏi một Sự quở trách công khai, Thế giới hoàn toàn có thể bắt gặp nó ở đó.”
Và đây chính là “chút Giải trí” đầu tiên; mầm mống của các tờ Tatler và Spectator — những thứ về sau đã mang lại tiếng cười và sự tu dưỡng cho thị thành.
Mercure Scandale: hay, Lời khuyên từ Câu lạc bộ Tai tiếng. Được dịch từ tiếng Pháp.
Hội đoàn này là một Tập đoàn được thành lập từ lâu tại Paris, và chúng ta không thể hoàn thiện các Thông tin từ Pháp mà không chiêu đãi Thế giới bằng mọi thứ chúng ta bắt gặp từ quốc gia đó.
Và dẫu cho việc Giao thiệp với Kẻ thù của Nữ hoàng là bị cấm đoán; nhưng vì Sự việc sẽ hoàn toàn trong sạch, chỉ đơn thuần là kể cho Thế giới nghe về những điều mà ai nấy đều thừa nhận là tai tiếng, chúng ta tin rằng mình sẽ được chào đón.
Tập đoàn này đã được thiết lập được vài tháng, và mở các Phiên họp đầu tiên vào khoảng Hội chợ Bartholomew gần đây nhất; thế nhưng vì chưa nhận được Sắc lệnh, họ chưa từng, cho đến tận bây giờ, công khai các Quyết định của mình.
Công việc của Hội đoàn này là khiển trách Hành vi của con người, chứ không phải của các Bè phái, và đặc biệt là những Hành vi được công khai bởi chính tác giả của chúng, đến mức tự bản chất của chúng, biến thành một Lời kêu gọi sự Tán dương chung.
Họ không có ý định phơi bày Cá nhân mà là Sự việc; và trong số đó, chẳng có gì ngoài những thứ vượt quá mức bình thường đáng phải chịu điều đó; những ai không muốn bị khiển trách bởi Hội đoàn này, được đề nghị hãy hành động với sự thận trọng vừa đủ để không rơi vào Tay họ; bởi vì họ quyết tâm đối xử với Tội ác và Hành vi đồi bại bằng mức Độ nghiêm khắc tột cùng.
Vấn đề Đáng chú ý Đầu tiên được đưa ra trước Hội đoàn này, là về Hội chợ Bartholomew; thế nhưng vì các cuộc Tranh luận kéo dài, cuối cùng chúng bị hoãn lại cho đến Hội chợ tiếp theo, khi chúng ta phỏng đoán nó sẽ được định đoạt; do đó, vì không muốn làm phiền Thế giới với bất kỳ điều gì hai lần, chúng ta xin chuyển việc đó sang tháng Tám tới.
Vào ngày 10 tháng 9 năm ngoái, đã có một buổi Điều trần dài trước Câu lạc bộ, về một Tên tuyên bố rằng hắn đã giết Công tước xứ Bavaria. Giờ đây, giống như Đavít từng trừng phạt kẻ tuyên bố mình đã giết Vua Saul, dù sự thật có thế nào đi chăng nữa, người ta cho rằng Tên này phải bị giao cho Công lý, dẫu cho Công tước xứ Bavaria vẫn còn sống.
Nhìn chung, người ta đã bỏ phiếu đó là một Hành vi tai tiếng, Rằng các Nhà báo nên giết các vị Vua và Thân vương rồi làm họ sống lại theo ý thích; và để làm Gương cho Tên này, hắn bị sa thải, với Điều kiện hắn phải đến Ghế dự thẩm Nữ hoàng một Ngày một lần, và chịu khó ngồi bầu bạn với Fuller — một Đồng nghiệp trong Ngành của hắn — trong hai tiếng đồng hồ liền trong suốt mười bốn ngày; sự Trừng phạt tàn độc này đã được thi hành với Sự nghiêm khắc tột độ.
Câu lạc bộ đã gặp rất nhiều phiền toái về các Nhà báo, những kẻ liên tục bị lôi ra trước mặt họ vì những câu chuyện nực cười, và thói áp đặt lên Nhân loại; và dẫu cho các Thủ tục pháp lý khá tẻ nhạt, chúng tôi bắt buộc phải làm phiền quý vị bằng một vài câu chuyện trong số đó vào số báo tới.
Dòng phụ đề gắn liền với tiêu đề, “Được dịch từ tiếng Pháp,” chỉ xuất hiện ở số báo số 1, và cái tên đầu tiên Mercure Scandale (được phỏng theo một cuốn sách tiếng Pháp xuất bản khoảng năm 1681) sau khi bị chỉ trích rất nhiều về ngữ pháp và trên các phương diện khác, đã bị bỏ ở số báo số 18. Kể từ đó, những bình luận dí dỏm của Defoe về những thói hư tật xấu qua đường xuất hiện dưới một tiêu đề duy nhất là Lời khuyên từ Câu lạc bộ Tai tiếng. Mặc dù vậy, các nhà Phê bình ngôn ngữ vẫn tiếp tục đùa cợt với cái tên này.
“Chúng ta đã phải bảo vệ Tiêu đề của mình quá nhiều lần,” Defoe nói trong số báo số 38, “đến mức thế giới bắt đầu nghĩ rằng Hội đoàn của chúng ta đang thiếu Công việc... Nếu từ Tai tiếng bắt buộc chẳng có ý nghĩa gì ngoài Tai tiếng Cá nhân, liên quan đến Chủ đề mà nó được vị ngữ; chúng tôi đề nghị những quý ông đó hãy trả lời thay chúng tôi xem tờ Post-Man hay Post-Boy có thể mang ý nghĩa là một Tờ Báo bằng cách nào, khi mà trong tất cả những gì tôi từng đọc, Post Man hay Post Boy được áp dụng đúng đắn và nghiêm ngặt, không phải cho Tờ Báo, mà cho Con người mang hoặc chuyển phát Tin tức? Mercury cũng vậy, nếu tôi hiểu đúng, thông qua sự Biến đổi ý nghĩa, từ một vị Thần biến thành một Sách vở — Từ đây Câu lạc bộ của chúng tôi cho rằng mình không nhận được Sự đối xử công bằng, khi bị tước bỏ Đặc quyền tạo ra một Phép ẩn dụ giống như những người khác.”
Trong số báo số 46, Defoe thực hiện thêm một thay đổi nữa, nhượng bộ một cách dí dỏm bằng cách bớt đi một âm tiết thông qua việc đặt một dấu thu gọn vào vị trí của nó, và kể từ đó gọi phần này trong tờ Review của ông là Lời khuyên từ Câu lạc bộ Tai tiếng (Advice from the Scandal Club). Chẳng có gì hiển nhiên hơn sự tương đồng gia tộc giữa tiền thân này của các tờ Tatler và Spectator với những hậu duệ quen thuộc hơn của chúng. Có một âm điệu quen thuộc chung cho tất cả, và một số bài báo của Defoe hoàn toàn có thể được viết cho tờ Spectator. Hãy lấy ví dụ như mẩu chuyện ngụ ngôn nhỏ trong số báo số 45, kể về một Thiếu nữ trẻ chán nản được đưa trước Câu lạc bộ, được tìm thấy bên Hồ Rosamond trong Công viên trong một trạng thái kỳ lạ, bị đám đông nhầm tưởng là một kẻ mất trí, với những bộ trang phục lỗi mốt hoàn toàn, thế nhưng khi khuôn mặt nàng hé lộ, nó đã khiến toàn bộ câu lạc bộ kinh ngạc bởi vẻ ngọt ngào và uy nghi phi thường. Nàng kể về việc mình bị đẩy đến bờ vực tuyệt vọng, và cái tên của nàng hóa ra chính là — Sự khiêm nhường. Trong các bức thư, câu hỏi và bình luận — những thứ cũng có thể được trích ra từ tờ Tập san Bổ sung Hàng tháng cho chuyên mục Lời khuyên từ Câu lạc bộ Tai tiếng của Defoe — chúng ta thỉnh thoảng lại bắt gặp một sự tương đồng chính xác với tinh thần của các tờ Tatler và Spectator. Một số kẻ từng chỉ trích Defoe vì không tự giới hạn mình vào phần trọng tâm hơn trong mục đích thiết lập tờ Review. Ông đã đáp lại, trong Lời tựa cho tập Bổ sung Hàng tháng đầu tiên của mình, rằng rất nhiều người
“chỉ thích đọc một chút mỗi lần,” và nói rằng, “cứ thế chúng ta phỉnh nịnh họ, nếu được phép dùng Biểu thức đó, bước vào Sự hiểu biết về Thế giới — những kẻ thà chịu đựng sự Dốt nát của mình và chẳng màng tìm kiếm bất cứ thứ gì còn hơn là phải bỏ ra thêm chút Công sức.”
Đơn tâm, sắc sảo, và nhanh nhạy hành động trước gợi ý đầu tiên về một đỉnh cao hữu ích hơn mà mình có thể vươn tới, Steele nhận thấy tâm trí quần chúng đã sẵn sàng cho một dạng thức quan hệ mới mẻ với những người cầm bút, và ông đi theo bước chân của Defoe. Thế nhưng dẫu cho ông quay lưng lại với tâm thế phù phiếm hơn của lượng khán giả sân khấu đang suy tàn, để giao lưu giữa bầu không khí tự do cùng toàn thể đất nước, ông vẫn thận trọng kiềm chế sự nghiêm cẩn sâu sắc của mình trong ranh giới của một ảnh hưởng vui tươi, không kiêu căng. Nó sẽ rơi xuống từng giọt một, và sức mạnh của nó nằm ở sự kiên trì. Ông sẽ mang thứ wit (sự sắc sảo) mà mình có ra khỏi nhà hát, và cất lên tiếng nói của chính mình, giống như Defoe, với chính quần chúng nhân dân vào mỗi ngày phát thư. Thế nhưng ông sẽ không ra vẻ thông thái đạo đức giả, ông sẽ không kêu gọi bất kỳ cảm xúc nào, mà sẽ tự tuyên bố mình chỉ đơn thuần là “một Kẻ ba hoa (Tatler).” Ông tự hỏi, liệu mình có thể sử dụng — bằng sự khiêm nhường hoài nghi trước sức hút của chính tâm trí mình — một phần tin tức có được nhờ đặc quyền từ chức vụ Người biên soạn công báo mà Harley đã ban cho, để mang lại trọng lượng và sự đón nhận cho thứ văn chương mà ông chỉ trích giá trị của nó dựa trên mức độ hữu dụng mà nó có thể đạt được. Bởi vì, như chính ông đã chân thành khẳng định trên tờ Tatler,
“sự sắc sảo, nếu một người có được nó, trừ phi được hướng đến một mục đích hữu ích nào đó, thì cũng chỉ là một phẩm chất phóng túng và phù phiếm; tất cả những gì một người nên tự hào về loại hình này là việc anh ta có được một dụng ý cao cả nào đó trong đó.”
Swift — lúc bấy giờ chưa phải là kẻ đào ngũ sang phe Tory — là một người bạn của Steele. Vào thời điểm số báo Tatler đầu tiên ra mắt, Swift từng khiến thị thành giải trí bằng khoản chi phí của John Partridge — nhà chiêm tinh kiêm người làm lịch thiên văn — thông qua tác phẩm “Những lời tiên tri cho năm 1708,” được tuyên bố là do Isaac Bickerstaff, Esq. chấp bút. Dự đoán đầu tiên là về cái chết của Partridge,
“vào ngày 29 tháng 3 tới, vào khoảng mười một giờ đêm, vì một cơn sốt cuồng phong.”
Swift tự hỏi tự đáp, và đồng thời cho xuất bản đúng hạn tác phẩm
“Sự ứng nghiệm dự đoán đầu tiên của Ngài Bickerstaff: tường thuật về cái chết của Ngài Partridge, người làm lịch, vào ngày 29 này.”
Những người có máu mặt khác tiếp tục duy trì trò đùa đó, và trong cuốn lịch của năm tiếp theo (năm 1709), Partridge đăng quảng cáo rằng,
“trong khi Isaac Bickerstaff, Esq. và những người khác cố tình loan tin đồn để ngăn cản việc tiêu thụ cuốn lịch năm nay, rằng John Partridge đã chết, thông báo này xin gửi tới tất cả những người đồng hương yêu quý rằng ông vẫn còn sống, khỏe mạnh, và lũ khốn nào tung tin đồn ngược lại mới là những kẻ lừa đảo.”
Steele gia tăng thêm nét nhẹ nhàng cho phong cách của tờ Tatler — lần đầu ra mắt vào ngày 12 tháng 4 năm 1709 — bằng cách viết dưới danh nghĩa Isaac Bickerstaff, đồng thời tiếp tục trò đùa mà đối với tâm trí nghiêm túc của ông chính là một đòn giáng mạnh vào thói mê tín dị đoan đang thịnh hành. Khi nhắc lại trong số báo Tatler đầu tiên về quảng cáo của Partridge, ông đã tuyên bố rằng:
“Tôi ở một nơi khác, và trong một bài báo riêng biệt, đã thuyết phục đầy đủ con người này rằng ông ta đã chết; và nếu ông ta còn chút liêm sỉ nào, tôi không mảy may nghi ngờ việc đến lúc này ông ta đã thừa nhận điều đó với tất cả những người quen biết. Bởi vì dẫu cho đôi chân, đôi tay và toàn bộ cơ thể của con người đó vẫn có thể hiện diện và thực hiện các chức năng động vật của chúng, thế nhưng như tôi từng quan sát ở nơi khác, khi nghệ thuật của ông ta đã mất, con người ấy cũng đã không còn.”
Quả thực, đối với Steele, sự thật tuyệt đối là một con người chỉ đáng giá bằng những gì anh ta có thể làm.
Với tinh thần đó, Steele bắt đầu khởi xướng tờ Tatler, đơn giản xem xét rằng bài báo của ông sẽ được xuất bản “để phục vụ những người dân lương thiện của nước Anh,” và tuyên bố ngay từ đầu rằng ông là một tác giả viết cho công chúng, kẻ trông đợi sự đền bù từ công chúng cho công sức của mình, và ông ưu tiên con đường này hơn là đánh bạc để cầu sự bảo trợ từ những kẻ có chức có quyền. Sau khi vạch trần một cách thú vị bản chất vị kỷ ẩn giấu đằng sau những lời tuyên bố cao cả về sự vô vụ lợi của đám lang băm,
“chúng tôi khinh bỉ,” ông nói, “những kẻ buôn bán tầm thường như thế, và do đó từ trước đến nay luôn thông báo cho công chúng biết rằng chúng tôi dự định cung cấp những lời khuyên vì lợi ích của chính mình, đồng thời đang lao động để khiến những bài suy tưởng của mình đạt được một mức giá trị bằng tiền bạc, nhằm phục vụ sự duy trì thuận tiện hơn trong sứ mệnh phục vụ công chúng. Chắc chắn rằng rất nhiều kế hoạch khác từng được đề xuất với tôi — chẳng hạn như một người bạn ngỏ ý muốn cho tôi xem một chuyên khảo do anh ta viết, mang tên Nghệ thuật Sống toàn thư; hoặc Nhập môn vào Thế giới của các Vĩ nhân, được minh họa qua một Bộ Bài. Thế nhưng vì tôi là một kẻ ngoại đạo trong mọi thể loại trò chơi, tôi đã từ chối lời đề nghị ấy.”
Addison đã đón nhận những bộ bài đó, và chơi một ván bài trung thực với chúng một cách thành công. Vào cuối năm 1708, Bá tước xứ Sunderland — con rể của Marlborough — mất chức bộ trưởng, Addison cũng mất vị trí thứ trưởng; thế nhưng ông không hề phản đối việc sang Ireland để làm chánh văn phòng cho Lãnh chúa Wharton — vị tổng đốc mới, một nhà hoạt động đảng phái năng nổ, một nhân vật sừng sỏ trên đường đua ngựa nổi tiếng với lối sống phóng túng sau giờ làm việc theo đúng phong cách triều đình vua Charles II.
Lãnh chúa Wharton mang theo Clayton sang Ireland để viết các chương trình âm nhạc cho mình, cùng một đoàn ăn bám quý tộc. Ông ta là một kẻ chuyên mua bán ghế nghị sĩ cừ khôi, và được đồn đại là từng có thời điểm mang lại chiến thắng cho ba mươi nghị sĩ. Do đó, ông chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc tìm cho Addison một chiếc ghế, và đưa ông trở thành Nghị sĩ quốc hội đại diện cho Malmesbury vào năm 1709 ấy. Addison chỉ đúng một lần cố gắng phát biểu trước Hạ viện, và rồi, vì bối rối trước những tràng pháo tay khích lệ chào đón mình, ông đã lắp bắp rồi ngồi thụp xuống. Thế nhưng khi đã gác lại những ván bài chính trị sang một bên, trong sự thoải mái tại tổ ấm của mình với ngòi bút trên tay, ông mang bộ óc minh mẫn cùng khiếu hài hước nhanh nhạy đến hỗ trợ người bạn Steele, ông đã cùng Steele bước vào mối quan hệ trực tiếp với nhân dân Anh. Addison chưa từng trao cho hậu thế cơ hội thấu hiểu những gì ẩn chứa trong con người ông cho đến khi, đi theo bước chân của Steele, ông viết nên những bài báo trên các tờ Tatler, Spectator, và Guardian — nơi duy nhất thiên bẩm của ông trú ngụ cùng chúng ta, và sẽ mãi mãi gắn bó với các độc giả Anh cho đến tận cùng. Các tờ Tatler, Spectator, và Guardian đều là tác phẩm của Steele, do chính ông khởi xướng và kết thúc theo toàn quyền quyết định của mình. Trong ba ấn phẩm này, Steele chịu trách nhiệm cho 510 bài báo; Addison viết 369 bài. Swift viết hai bài và gửi khoảng một tá đoạn ngắt quãng. Congreve viết một bài trên tờ Tatler; Pope viết ba lần cho tờ Spectator, và tám lần cho tờ Guardian. Addison, người đang ở Ireland khi tờ Tatler lần đầu ra mắt, chỉ đoán ra tác giả thông qua một biểu thức trong một số báo đầu; và mãi cho đến khi tám mươi số báo đã được phát hành cùng lúc tính cách của tờ báo mới đã được định hình và thiết lập, Addison mới chính thức gia nhập cùng người bạn của mình — người với sự khiêm nhường hoàn toàn quen thuộc đã gán ghép vinh quang của sự thành công cho người đồng minh mà ông hết mực yêu quý.
Đó chính là loại thành công mà Steele từng khao khát — một ảnh hưởng lan tỏa rộng rãi mang lại điều thiện. Các tờ Tatler là những tờ báo một xu được phát hành ba lần một tuần, đồng thời được phát hành thêm với nửa xu phụ thu kèm một nửa trang giấy trắng để gửi qua đường bưu điện, nhờ đó bất kỳ mẩu tin đồn vặt nào trong ngày mà bạn bè gửi cho nhau đều có thể được đính kèm. Chính thông qua những ấn phẩm này, cùng các tờ Spectator hằng ngày nối tiếp sau đó, người dân nước Anh mới thực sự học được cách đọc sách. Vài trang giấy mỏng manh chứa đựng lý trí và sự tưởng tượng vững chãi chỉ là một gánh nặng nhẹ nhàng đối với năng lực chú ý chưa được trau dồi. Vẻ duyên dáng tinh tế và lòng nhân hậu chân chính, ở đây được gắn liền với những lối sống quen thuộc và những sự kiện tầm thường của đời sống hằng ngày, đã mang lại cho biết bao người lương thiện cảm nhận tươi mới về hạnh phúc tuyệt vời nhất nằm trong những bổn phận thông thường được thực hiện một cách trung thực, cùng một nguồn năng lượng mới mẻ — trong sạch khỏi sự hiểm độc tựa như chính Cơ Đốc giáo — bởi vì cả Steele và Addison đều hướng tờ báo đến điều đó — trong việc chống lại sự phù phiếm và những vụ lừa dối nhỏ nhặt đối với lương tâm vốn làm xói mòn lòng nam nhi.
Một cuốn sách mỏng của John Gay — Tình trạng Hiện tại của Sự sắc sảo, trong một Bức thư gửi Người bạn ở Vùng quê — được đề ngày 3 tháng 5 năm 1711, khoảng hai tháng sau khi tờ Spectator thay thế tờ Tatler. Và qua đó, Gay miêu tả những lời bàn tán tuyệt vời nhất của thị thành về những ấn phẩm này:
"Trước khi tôi tiến xa hơn trong bản tường trình về các tờ báo hằng tuần của chúng ta, sẽ là cần thiết nếu thông báo với quý ông rằng vào đầu mùa đông, trước sự kinh ngạc vô bờ bến của toàn thể Thị thành, Ngài Steele đã buông xuôi tờ Tatler của mình, và thay vì cái tên Isaac Bickerstaff, Esq., đã ký tên Richard Steele vào số báo cuối cùng của các ấn phẩm đó, kèm theo một lời khen ngợi đẹp đẽ gửi đến Thị thành vì sự đón nhận nồng nhiệt dành cho những nỗ lực của ông nhằm giải trí cho họ.
Lý do chính mà ông thấy phù hợp để đưa ra cho việc ngừng viết lách là vì, đã bị nhìn nhận trong tất cả các không gian công cộng và hội đoàn như là Tác giả của những bài báo đó, ông nhận thấy những người bạn thân thiết nhất và những người quen biết của mình cảm thấy đau khổ khi phải nói chuyện hay hành động trước mặt ông.
Thị thành hoàn lắm mới thỏa mãn với lý do này, và phần lớn mọi người đánh giá nguyên nhân thực sự là, hoặc:
Rằng ông đã cạn kiệt hoàn toàn, và thiếu hụt chất liệu để tiếp tục công trình của mình lâu hơn nữa; hoặc
Rằng ông gác bút như một dạng thức khuất phục, và thỏa hiệp với Chính phủ để đổi lấy một số tội lỗi trong quá khứ; hoặc cuối cùng,
Rằng ông có ý định thay đổi Diện mạo của mình, và xuất hiện trở lại trong một ánh sáng mới mẻ nào đó.
Dù thế nào đi nữa, sự biến mất của ông dường như bị thương tiếc như một dạng tai họa chung. Ai nấy đều khao khát một hình thức giải trí dễ chịu đến thế, và các quán cà phê bắt đầu nhận thức được rằng những bài suy tưởng của Ngài Hiệp sĩ đã mang lại cho họ nhiều khách hàng hơn tất cả các tờ báo khác cộng lại.
Phải thừa nhận rằng chưa từng có con người nào buông ngòi bút của mình xuống dưới những sự cám dỗ mạnh mẽ hơn trong việc tiếp tục sử dụng nó lâu hơn. Danh tiếng của ông đang ở mức độ cao hơn, tôi tin rằng, so với bất kỳ tác giả còn sống nào trước ông. Thật hợp lý khi phỏng đoán rằng lợi nhuận của ông cũng đáng kể tương ứng. Mọi người đều đọc ông với niềm vui thích và sự thiện chí; và phe Tory, vì tôn trọng những phẩm chất tốt đẹp khác của ông, hầu như đã tha thứ cho sự bất cẩn không thể giải thích nổi của ông khi dám tuyên bố chống lại họ.
Cuối cùng, thật là bất hợp lý khi cho rằng, nếu ông rũ bỏ một Nhân vật mà những ý tưởng về nó đã in sâu quá mạnh mẽ vào tâm trí mọi người, dẫu cho ông có viết tuyệt vời đến đâu trong bất kỳ hình thức mới nào, ông vẫn có thể nhận được sự đón nhận tương tự.
Để bày tỏ suy nghĩ của riêng tôi về những tác phẩm của quý ông này, trước hết, tôi xin quan sát rằng, có một sự khác biệt cao quý giữa ông và tất cả các tác giả hào hoa, thanh nhã khác của chúng ta. Nhóm tác giả sau đã nỗ lực làm vừa lòng Thời đại bằng cách hùa theo họ, và cổ vũ họ trong những thói hư tật xấu hợp mốt cùng những quan niệm sai lầm về sự việc. Sẽ là một trò cười, một thời gian trước đây, nếu có ai đó khẳng định rằng bất cứ điều gì sắc sảo có thể được thốt lên để ca ngợi tình trạng hôn nhân, hay Lòng sùng đạo và Đức hạnh là điều cần thiết cho tính cách của một Quý ông Hoàn hảo. Bickerstaff đã dám nói với Thị thành rằng họ chẳng qua chỉ là một lũ công tử bột, kẻ ngốc và gái lẳng lơ; nhưng theo một cách thức khiến họ thậm chí cảm thấy thích thú, và khiến họ nghiêng ngả hơn một nửa trong việc tin rằng ông đang nói sự thật.
Thay vì tuân theo những tình cảm sai lầm hay gu thẩm mỹ đồi bại của Thời đại — dù là về luân lý, phê bình, hay phép lịch sự — ông đã mạnh mẽ đảm bảo với họ rằng họ hoàn toàn sai lầm; và ra lệnh cho họ, với một uy quyền hoàn toàn xứng đáng với ông, hãy đầu hàng trước những lý luận của ông vì Đức hạnh và Lẽ phải.
Thật không thể tưởng tượng nổi tác động mà các tác phẩm của ông đã tạo ra trên Thị thành; có bao nhiêu ngàn thói hư tật xấu đã bị trục xuất hoàn toàn hoặc bị kìm hãm mạnh mẽ; bao nhiêu sự khích lệ ông đã bồi đắp cho Đức hạnh và Tôn giáo; bao nhiêu người ông đã mang lại hạnh phúc bằng cách chỉ cho họ thấy đó là lỗi của chính họ nếu họ không hạnh phúc; và cuối cùng, hoàn toàn thuyết phục những gã công tử bột và thanh niên trẻ tuổi của chúng ta về giá trị và lợi ích của Tri Thức.
Quả thực, ông đã giải cứu nó khỏi tay những kẻ thông thái rởm đời và những gã khốc ngốc, đồng thời khám phá ra phương pháp chân chính để làm cho nó trở nên đáng yêu và đáng mến đối với toàn nhân loại. Trong lớp áo mà ông khoác lên cho nó, nó là một vị khách vô cùng được chào đón tại các bàn tiệc trà và các buổi hội họp, đồng thời được thưởng thức và cưng chiều bởi các thương gia trên Sàn giao dịch. Do đó, chẳng có một Quý bà nào tại Triều đình, hay một Chủ ngân hàng nào trên Phố Lombard, lại không hoàn toàn bị thuyết phục rằng Đại úy Steele chính là học giả vĩ đại nhất và nhà biện lý giỏi nhất trong số tất cả những người ở nước Anh.
Cuối cùng, các tác phẩm của ông đã đặt toàn bộ các nhà văn và giới tri thức của chúng ta vào một lối tư duy hoàn toàn mới — thứ mà trước đó họ hầu như không có khái niệm gì; và dẫu cho chúng ta không thể nói rằng bất kỳ ai trong số họ đã chạm đến những vẻ đẹp của nguyên tác, tôi nghĩ chúng ta hoàn toàn có thể dám khẳng định rằng mỗi người trong số họ đều viết và suy nghĩ chính xác hơn rất nhiều so với thời gian trước đây."
Sự đa dạng phong phú của các đề tài mà Ngài Steele đã đề cập, trong những phong cách khác nhau đến thế, nhưng tất cả đều hoàn hảo đến mức hoàn hảo, đã khiến Thế giới tin rằng chúng không thể cùng xuất phát từ một bàn tay. Điều này khiến mọi người bắt đầu đoán già đoán non xem ai là bạn của Ngài Hiệp sĩ? Và phần lớn mọi người thoạt đầu tưởng rằng đó phải là Bác sĩ Swift; thế nhưng giờ đây chuyện đó không còn là bí mật nữa, rằng người trợ lý lớn lao và hằng xuyên duy nhất của ông chính là Ngài Addison.
Đó chính là người bạn tuyệt vời mà Ngài Steele mang ơn rất nhiều; và là kẻ từ chối đặt tên mình lên những tác phẩm mà những ngòi bút vĩ đại nhất nước Anh sẽ phải tự hào nhận làm của riêng. Quả thực, chúng khó có thể làm gia tăng thêm danh tiếng cho Quý ông này: người mà các tác phẩm thơ ca bằng tiếng Latinh và tiếng Anh từ lâu đã thuyết phục Thế giới rằng ông là Bậc thầy vĩ đại nhất châu Âu trong hai ngôn ngữ đó.
Tôi được đảm bảo, từ những nguồn tin cậy, rằng tất cả những giấc mộng, và các tiểu luận khác theo lối viết đó, cùng với một số lượng vô cùng lớn những tác phẩm sắc sảo và trào phúng tinh tế nhất xuyên suốt các Bài suy tưởng đều hoàn toàn do Quý ông này soạn thảo; điều này phần nào giải thích cho cái Thiên bẩm khác biệt xuất hiện trong các bài báo mùa đông so với các bài báo mùa hè; vào thời điểm đó, như tờ Examiner thường xuyên ám chỉ, người bạn này của Ngài Steele đang ở Ireland.
Ngài Steele thú nhận trong Tập cuối cùng của các tờ Tatler rằng ông mang ơn Bác sĩ Swift về bài thơ Cơn mưa Thị thành và Miêu tả buổi Sáng, cùng một số gợi ý khác nhận được từ ông trong các cuộc trò chuyện riêng tư.
Tôi cũng nghe nói rằng một số bức thư được gửi đến như từ những bàn tay vô danh đã được viết bởi Ngài Henley; đó chính là câu trả lời cho thắc mắc của bạn, 'Những người bạn mà Ngài Steele nhắc đến trong tờ Tatler cuối cùng của ông là ai?'
Thế nhưng để tiếp tục bản tường trình của tôi về các tờ báo khác của chúng ta. Sự kết thúc của các bài suy tưởng của Bickerstaff đi kèm với những hệ quả gần như tương tự với cái chết của con bò đực của Meliboeus trong thơ Virgil: khi con bò sau sinh sôi ra hàng đàn ong, thì tờ báo trước ngay lập tức sản sinh ra hàng đàn những kẻ viết thuê châm biếm nhỏ nhoi.
Một trong số những tác giả này tự gọi mình là Kẻ Gầm Gừ (Growler), và đảm bảo với chúng tôi rằng, để bù đắp cho sự im lặng của Ngài Steele, ông ta quyết định sẽ gầm gừ với chúng tôi hằng tuần, chừng nào chúng tôi còn thấy phù hợp để trao cho ông ta bất kỳ sự khích lệ nào. Một Quý ông khác, với sự khiêm nhường hơn, gọi tờ báo của mình là Kẻ Thầm Thì (Whisperer); và người thứ ba, để làm vừa lòng các Quý bà, đặt tên cho tờ báo của mình là Kẻ Chỉ Điểm (Tell tale).
Cùng thời điểm đó, xuất hiện một số tờ Tatler; mỗi tờ đều đảm bảo với chúng ta bằng sự thật và sự sắc sảo ngang ngửa rằng anh ta mới chính là Isaac Bickerstaff chính hiệu.
Có thể quan sát thấy rằng khi Ngài Hiệp sĩ buông ngòi bút của mình xuống; dẫu cho ông không thể không tiên liệu rằng một vài kẻ viết thuê sẽ sớm chộp lấy nó — điều mà người ta nghĩ ông có thể dễ dàng ngăn chặn: ông khinh bỉ việc bận tâm thêm về điều đó, mà để ngỏ hoàn toàn chiến trường cho bất kỳ người kế nhiệm xứng đáng nào. Ngay lập tức, một số nhà văn của chúng ta muốn tự thành lập thành một Câu lạc bộ, được dẫn đầu bởi một ông Harrison, và thử xem họ có thể bắn nổi Cung tên của Ulysses này không; thế nhưng họ nhanh chóng nhận ra rằng thể loại viết lách này đòi hỏi một lối tư duy quá đỗi tinh tế và cụ thể, cùng sự am hiểu chính xác về Thế giới, đến mức khiến họ hoàn toàn tuyệt vọng trước thành công.
Ban đầu họ dường như nghĩ rằng thứ vốn chỉ là lớp áo trang trí của các tờ Tatler trước đó mới là thứ tạo nên sức hút cho chúng; chứ không phải những Giải trí Thực chất ngập tràn khắp nơi. Do đó họ liên tục bàn tán về Nữ gia nhân, Mũ trùm đêm, Kính mắt và Charles Lillie. Mặc dù vậy, thỉnh thoảng vẫn có những nỗ lực mờ nhạt hướng tới Sự hài hước và những tia lửa sắc sảo: thứ mà Thị thành, vì thiếu những hình thức giải trí tốt hơn, đành bằng lòng săn lùng xuyên qua một đống những điều vô bổ; thế nhưng ngay cả những thứ đó, ở hiện tại, cũng đã trở nên hoàn toàn vô hình và bị nuốt chửng hoàn toàn trong ánh hào quang rực rỡ của tờ Spectator.
Quý vị có thể nhớ lại, tôi từng nói với quý vị trước đó rằng một nguyên nhân được gán cho việc khai tử tờ Tatler là Thiếu Hụt Chất Liệu; và quả thực, đây là quan điểm thịnh hành trong Thị thành: khi chúng ta bất ngờ bị chấn động toàn tập bởi một tờ báo mang tên Spectator, được hứa hẹn sẽ tiếp tục xuất bản hằng ngày; và được viết trong một phong cách vô cùng xuất sắc, với một phán cục tinh tế cùng sự phong phú cao quý của sự sắc sảo và hài hước, đến mức không khó để xác định nó không thể xuất phát từ bất kỳ bàn tay nào khác ngoài những kẻ từng viết nên các Bài suy tưởng.
Điều này lập tức làm chấn động những quý ông đó — những kẻ, như cách nói của Ngài Steele, nắm giữ 'Quyền kiểm duyệt được ủy quyền.' Họ nhận thấy tờ Spectator mới tiến đến như một cơn hồng thủy, cuốn phăng đi mọi thứ cản đường. Họ tuyệt vọng trong việc sánh ngang với ông về sự sắc sảo, hài hước, hay học thức — vốn là con đường chân chính và chắc chắn để chống lại ông: và do đó thà chọn cách tấn công Tác giả; đồng thời kêu cứu tất cả những người Cơ Đốc nhân lương thiện bằng cách đảm bảo hết lần này đến lần khác rằng họ mới chính là Isaac Bickerstaff Đầu tiên, Nguyên bản, Chân chính và Không thể tranh cãi.
Trong khi đó, tờ Spectator — kẻ mà chúng ta xem như Hầm trú ẩn khỏi cơn hồng thủy văn chương sai lệch và vô bổ đang tràn vào chúng ta — nằm trong tay mọi người; và là món ăn tinh thần hằng ngày cho cuộc trò chuyện buổi sáng tại các bàn tiệc trà và quán cà phê. Quả thực, thoạt đầu chúng ta chẳng hề có chút khái niệm nào về việc một tờ báo nhật triều có thể được tiếp tục duy trì trong tinh thần và phong cách của các tờ Spectator hiện tại của chúng ta: thế nhưng, trước sự ngỡ ngàng không nhỏ của mình, chúng ta thấy chúng ngày càng vươn lên mạnh mẽ hơn, và chỉ có thể tự hỏi dòng chảy vĩ đại đến thế của Sự sắc sảo và Học thức có thể bắt nguồn từ đâu; khi mà một số giám khảo xuất sắc nhất của chúng ta dường như nghĩ rằng từ trước đến nay chúng vượt trội hơn cả những số báo Tatler đầu tiên của Ngài Hiệp sĩ.
Hầu hết mọi người tưởng tượng, từ tần suất xuất hiện của chúng, rằng chúng phải được soạn thảo bởi một Hội đoàn: cá nhân tôi xin dành những vị trí hàng đầu cho Ngài Steele và Người bạn của ông.
Đến đây là những lời của John Gay, khi cuộc tranh luận của ông về các tờ Tatler và Spectator xuất hiện lúc mới chỉ có năm mươi lăm số báo Spectator được ấn hành.
Sự kình chống phe phái diễn ra vô cùng khốc liệt; và đất nước phải đối mặt với hiểm họa thực sự từ một bước ngoặt tiềm tàng của thời cuộc sau cái chết của Nữ hoàng Anne, rằng một cuộc khôi phục nhà Stuart khác, dưới danh nghĩa quyền uy thần thánh của các vị vua, sẽ bỏ mặc các quyền lợi của nhân dân phải bị tái chinh phục trong biển lửa nội chiến. Các thủ lĩnh của cả hai phe đều đang kêu gọi nhân dân và huy động mọi sự sắc sảo có thể thu gom được để chiến đấu về phe mình trong cuộc chiến tranh truyền đơn. Trái tim Steele hoàn toàn đặt vào hệ lụy trọng đại ấy. Cả ông và Addison đều ghi nhớ điều đó trong tâm trí trong khi họ đan xen sự điềm đạm vui tươi của mình với mọi âm thanh ồn ào của báo chí. Tinh thần mà những người bạn này lao động chắc chắn đã được cảm nhận bởi chàng thanh niên Pope; bởi vì sau khi Addison giúp ông trong bước đầu tiếp cận danh tiếng thông qua việc dành vinh quang trên tờ Spectator cho tác phẩm Bài tiểu luận về Phê bình của ông, và khi ông biết ơn vì sự giúp đỡ đó, ông đã đóng góp cho tờ Spectator tác phẩm Đấng Mê-si của mình. Sự hiến dâng rõ ràng đó cho thấy Pope đã phiên giải công cuộc của các nhà tiểu luận theo cách nào.
Tại các vùng đầm lầy xứ Lincolnshire, nhà khảo cổ Maurice Johnson đã tập hợp những người hàng xóm ở Spalding lại với nhau.
“Cẩn trọng,” người ta kể lại, “để không làm hoảng sợ các quý ông vùng quê bằng bất kỳ sự đề cập sớm nào về đồ cổ, ông thoạt đầu nỗ lực lôi kéo họ bước vào những lối mòn thơ mộng hơn của văn học. Vào năm 1709, một vài người trong số họ tụ họp lại với nhau vào mỗi ngày phát thư tại quán cà phê ở Quảng trường Tu viện; và sau khi một người trong nhóm đọc lớn số báo Tatler vừa được phát hành gần nhất, họ tiến hành bàn tán về đề tài đó giữa các thành viên với nhau.”
Ngay cả tại vùng Perthshire xa xôi,
“các quý ông gặp gỡ nhau sau buổi lễ nhà thờ vào ngày Chủ nhật để thảo luận về tin tức trong tuần; các số Spectator được đọc đều đặn như tờ Journal.”
Và thế là liều thuốc cay đắng của chính trị đã được làm cho ngọt ngào bởi sự khôn ngoan của niềm vui tươi lành mạnh. Sự vui tươi của các nhà tiểu luận chạm đến bằng một bàn tay nhẹ nhàng và nhân ái đối với mọi hình thái của sự điệu đà giả tạo, đồng thời đặt đời sống hằng ngày vào ánh sáng mà một con người chân chính và trung thực sẽ nhìn nhận nó. Cảm nhận về những yếu tố cốt lõi của đời sống được mặc nhiên thừa nhận cho người đọc — những kẻ chỉ được yêu cầu mỉm cười đầy bác ái trước những sự hư vinh của nó. Steele nhìn thấu qua mọi lớp ngụy trang giả tạo để chạm đến trái tim nguyên bản của người Anh, kêu gọi thứ đó, và dễ dàng tìm thấy nó ngay cả dưới lớp vỏ ngụy trang của chàng thanh niên được trích dẫn trong số Tatler thứ 77,
“kẻ quá đỗi khao khát được nhìn nhận là tồi tệ hơn thực tế đến mức trong mức độ hiểu hiểu của mình, hắn tự xưng là một kẻ tự do tư tưởng, và lớn tiếng bàn luận theo lối vô thần ở các quán cà phê suốt cả ngày, mặc dù vào mỗi buổi sáng và buổi tối, điều đó có thể chứng minh được trên người hắn, hắn vẫn đều đặn cầu nguyện ở nhà.”
Thế nhưng khi các sự kiện công cộng dẫn dắt gần hơn tới viễn cảnh về một chiến thắng của phe Jacobite — thứ sẽ một lần nữa kéo người Anh đối đầu với nhau gươm chống gươm — chẳng có tiếng nói cảnh báo nào dũng mãnh hơn Richard Steele. Ông thay thế tờ Spectator bằng tờ Guardian — ấn phẩm mang tinh thần tự do hơn nhằm bảo vệ các quyền lợi của nhân dân, và dấn thân rõ ràng hơn với tư cách là một chính trị gia, ông trở thành nghị sĩ đại diện cho Stockbridge. Thay thế cho tờ Guardian — thứ mà ông đã từ bỏ khi cảm thấy khuôn khổ của tờ báo đó không tương xứng với sự biểu đạt chân chính và toàn vẹn của tâm trí mình — Steele chọn cho tờ định kỳ tiếp theo cái tên Englishman, và dưới cái tên đó, ông chiến đấu — với một sự từ khước các công kích cá nhân chưa từng có tiền lệ thời bấy giờ — chống lại các nguyên tắc được đề cao bởi Swift trong tờ Examiner. Sau đó, khi Hiệp ước Utrecht làm hoảng sợ những người ái quốc Anh, Steele trong một tập truyền đơn táo bạo mang tên Cuộc khủng hoảng (The Crisis) đã bày tỏ nỗi sợ hãi của mình đối với quyền lực chuyên chế và sự kế vị của phe Jacobite bằng một sự táo bạo khiến ông mất đi chiếc ghế trong Nghị viện, đúng như ông từng hy sinh vị trí Người biên soạn công báo vì sự bộc trực của mình.
Về chặng đường lịch sử sau này của Steele và Addison, chỉ cần vài lời là đủ. Đây không phải là một bản tường trình về cuộc đời họ, mà là một nỗ lực nhằm chứng minh lý do vì sao người Anh luôn giữ một sự quan tâm sống động đối với tờ Spectator — tác phẩm chung của họ. Tờ Spectator của Steele khép lại với tập thứ bảy. Các nhân vật trong Câu lạc bộ đều được giải quyết ổn thỏa, và tờ báo chính thức được kết thúc; thế nhưng thông qua gợi ý về một nghi thức mở miệng tờ Spectator trong tương lai, một con đường đã được mở sẵn cho Addison, bất cứ khi nào ông muốn, gắn kết với loạt bài nổi tiếng đó một nỗ lực của riêng mình nhằm vực dậy nó. Một năm rưỡi sau, Addison thực hiện nỗ lực này, cho ra mắt tờ báo mới mang tên cũ và, xét về phần các đóng góp của ông, không hề thua kém sự sắc sảo và nghiêm cẩn cũ, phát hành ba lần một tuần thay vì hằng ngày. Thế nhưng ông chỉ giữ nó tồn tại cho đến khi hoàn thành đúng một tập. Addison không có sự nhạy cảm quần chúng của một biên chủ như Steele. Ông giảng đạo, và để cho những kẻ tẻ nhạt hơn giảng đạo, trong khi trong những lời giễu cợt của mình, ông thỉnh thoảng viết ra những điều mà dường như ông không sẵn lòng thừa nhận. Tập thứ tám của ông chứa đựng những chất liệu xuất sắc, thế nhưng các đề tài không phải lúc nào cũng được lựa chọn hay biến hóa một cách khôn ngoan, và người ta hoàn toàn hiểu được lý do vì sao tờ Spectator nắm giữ một vị thế vững chắc hơn đối với xã hội khi hai người bạn ở độ tuổi sung sức nhất của cuộc đời, tầm khoảng bốn mươi tuổi, cùng nhau làm việc và ôm trùm trong tay một phạm vi rộng lớn của tư duy và cảm xúc con người. Cũng nên ghi nhớ rằng Nữ hoàng Anne qua đời trong lúc tập thứ tám của Addison đang được phát hành, và sự thay đổi trong vị thế của đảng Whig đã mang lại cho ông những công việc chiếm dụng thời gian khác.
Vào tháng 4 năm 1713, trong khoảng thời gian giữa việc hoàn thành tờ Spectator thực sự và sự xuất hiện của tập bổ sung, bi kịch Cato của Addison — được lên bố cục từ thuở ngồi trên ghế nhà trường; bắt đầu trong những chuyến du lịch nước ngoài, được trau chuốt lại ở Anh, và cuối cùng được hoàn thiện — đã được công diễn tại Drury Lane. Addison vốn không xem nó là một vở kịch sân khấu, thế nhưng khi có người giục rằng thời điểm đã thích hợp để khích lệ công chúng bằng những tư tưởng của Cato, ông đã đồng ý cho công diễn. Ngoài giá trị thực sự của nó, vở kịch còn có lợi thế là được tán dương bởi phe Whig — những kẻ nhìn thấy trong đó một lý tưởng chính trị của Whig — và bởi phe Tory — những kẻ muốn chứng minh rằng họ là những người bạn nhiệt thành của tự do không thua kém bất kỳ ai thuộc đảng Whig.
Sau cái chết của Nữ hoàng Anne, Addison đóng vai trò thư ký cho Hội đồng Nhiếp chính trong một thời gian ngắn, và khi George I bổ nhiệm ân chủ của Addison — Bá tước xứ Sunderland — làm Tổng đốc Ireland, Sunderland đã mang theo Addison với tư cách là chánh văn phòng của mình. Sunderland từ chức chỉ sau mười tháng, và do đó chức vụ thư ký của Addison chấm dứt vào tháng 8 năm 1716. Addison cũng được thuê để đối phó với cuộc Cuộc nổi dậy năm 1715 thông qua việc viết tờ Freeholder. Ông viết dưới tựa đề này năm mươi lăm bài báo, được xuất bản hai lần một tuần trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 1715 đến tháng 6 năm 1716; và ông được thưởng bằng chức vụ Ủy viên Thương mại và Thuộc địa. Vào tháng 8 năm 1716, ông kết hôn với Nữ bá tước góa phụ xứ Warwick, thân mẫu của vị Hậu tước trẻ tuổi xứ Warwick — người mà ông từng chịu trách nhiệm phần giáo dục vào năm 1708. Addison định đoạt cho Nữ bá tước khoản tiền 4000 bảng để đổi lấy một điền trang mà bà từ bỏ vì ông. Kể từ đó, ông sinh sống chủ yếu tại Holland House. Vào tháng 4 năm 1717, Lãnh chúa Sunderland trở thành Quốc vụ khanh, và vẫn nhớ đến người ủng hộ lẫy lừng của Marlborough, ông phong Addison làm đồng nghiệp của mình. Mười một tháng sau, tình trạng sức khỏe kém buộc Addison phải từ chức con dấu; và cái chết của ông diễn ra ngay sau đó, vào ngày 17 tháng 6 năm 1719, ở tuổi 47.
Những khó khăn chính trị của Steele chấm dứt vào thời điểm Nữ hoàng Anne qua đời. Sự trở lại nắm quyền của đảng Whig nhân dịp George I lên ngôi mang lại cho ông chức vụ Tổng giám sát các Chuồng ngựa Hoàng gia tại Cung điện Hampton; ông cũng đứng đầu danh sách Ủy viên hòa giải cho hạt Middlesex, và được phong làm một trong những phó tổng đốc của hạt này. Theo yêu cầu của ban quản lý, tên của Steele được đưa vào đặc quyền mới được yêu cầu tại Drury Lane bởi đoàn kịch hoàng gia khi một vị quân vương mới lên ngôi. Steele cũng được bầu làm Nghị sĩ quốc hội đại diện cho Boroughbridge ở Yorkshire, là tác giả của Bản kiến nghị gửi nhà vua được trình bày bởi tổng đốc và các phó tổng đốc hạt Middlesex, và được phong tước hiệp sĩ trong dịp đó cùng hai vị phó khác, chính thức trở thành Sir Richard Steele vào mùa xuân năm 1714. Chỉ vài tuần sau cái chết của người vợ vào tháng 12 năm 1718, Sunderland — vào thời điểm ông có Addison làm đồng nghiệp — đã đệ trình một dự luật nhằm ngăn chặn bất kỳ sự phong tước quý tộc nào trong tương lai, ngoại trừ trường hợp một tước hiệu quý tộc hiện có bị tuyệt chủng. Steele — kẻ xem đây là sự vi phạm cả các đặc quyền của vương quyền lẫn quyền lợi của thần dân — đã phản đối dự luật này tại Nghị viện, và khởi xướng vào tháng 3 năm 1719 một tờ báo mang tên Plebeian, trong đó ông lập luận chống lại một biện pháp mà ông cho rằng dẫn đến sự hình thành một thể chế đầu sỏ. Addison phản hồi lại trong tờ Old Whig, và đây — sự việc diễn ra chưa đầy một năm trước khi cuộc đời Addison khép lại — chính là bất đồng chính trị lớn giữa họ. Dự luật này, vấp phải sự phản đối dữ dội, đã bị đình hoãn trong kỳ họp đó và được trình bày lại (sau cái chết của Addison) vào tháng 12 tiếp theo, để rồi bị Hạ viện bác bỏ.
Lập luận của Steele chống lại chính phủ đã giáng xuống đầu ông sự thù địch từ Công tước xứ Newcastle — lúc bấy giờ là Đại thần Quản hạt (Lord Chamberlain); và một phần nhằm bảo vệ bản thân cùng các đồng nghiệp sở hữu đặc quyền trước hành động thù địch bị đe dọa bởi Công tước, vào tháng 10 năm 1720, Steele khởi xướng tờ báo mang tên Theatre. Thế nhưng ông bị tước bỏ quyền quản lý nhà hát — nơi vốn đi kèm mức lương 600 bảng một năm — và chịu đựng sự bức hại từ triều đình cho đến khi Walpole trở lại nắm quyền. Steele sau đó được phục chức, và trong năm tiếp theo, 1722, ông cho ra mắt vở hài kịch thành công nhất của mình: The Conscious Lovers. Sau khoảng thời gian đó, sức khỏe của ông suy giảm; tinh thần trở nên chán nản. Ông rời London để đến Bath. Người con trai duy nhất còn sống của ông là Eugene — sinh ra trong lúc tờ Spectator đang được phát hành và được Thân vương Eugene đỡ đầu — qua đời ở tuổi mười một hoặc mười hai vào tháng 11 năm 1723. Đứa con gái út trong hai người con gái của ông cũng bị căn bệnh lao đánh dấu cái chết. Sức khỏe và tài sản của ông đã suy sụp khi vào năm 1726, ông bị một cơn đột quỵ liệt nửa người — khúc dạo đầu cho cái chết của ông. Ông qua đời vào ngày 1 tháng 9 năm 1729 tại Carmarthen, nơi ông đang ở trọ nhà một thương gia chuyên bán vải — người đồng thời là đại lý và người thu tiền thuê nhà của ông. Có một hồ sơ ghi chép thú vị rằng
“ông vẫn duy trì sự ngọt ngào vui tươi trong tính cách cho đến tận phút cuối; và thường được khiêng ra ngoài vào một buổi chiều mùa hè, nơi các thiếu niên nam nữ trong làng tụ họp tham gia các trò chơi điền dã — và bằng chiếc bút chì của mình, trao một tấm lệnh gửi cho đại lý kiêm thương gia vải của ông để cấp một chiếc áo đầm mới cho vũ công xuất sắc nhất.”
Hai ấn bản của tờ Spectator, ấn bản thứ mười và mười một, được xuất bản bởi Tonson trong năm Steele qua đời. Những ấn bản này và ấn bản tiếp theo, đề ngày 1739, không bao gồm các phần dịch của các câu đề từ — tuy nhiên chúng lại xuất hiện trong ấn bản năm 1744. Các chú thích lần đầu tiên được bổ sung bởi Tiến sĩ Percy — biên tập viên của bộ Di sản Thơ ca Cổ đại (Reliques of Ancient Poetry) — và Tiến sĩ Calder. Tiến sĩ John Calder, người gốc Aberdeen, được đào tạo theo đường lối giáo sĩ ly khai, từng giữ chức thủ thư cho Thư viện của Tiến sĩ Williams tại Phố Redcross. Ông từng là ứng viên cho chức vụ được trao cho Tiến sĩ Abraham Rees — biên tập viên kiêm tổng giám sát của ấn bản mới thuộc bộ Bách khoa toàn thư Chambers (Chambers's Cyclopædia), do các nhà sách đảm nhận năm 1776 — và ông đã cung cấp cho nó một số bài viết mới. Công tước xứ Northumberland nhiệt thành bảo trợ Tiến sĩ Calder, và biến ông thành người đồng hành tại London cũng như tại Lâu đài Alnwick với tư cách là Thư ký Văn học Riêng tư. Tiến sĩ Thomas Percy — kẻ tự nhận mình là họ hàng và người thân tín của dòng họ Percy xứ Northumberland — giành được chức giám mục Dromore vào năm 1782, năm tiếp theo mất đi người con trai duy nhất, và chịu đựng sự suy giảm thị lực dẫn đến mù lòa hoàn toàn.
Sau khi trở nên quen thân với Tiến sĩ Calder khi ở Nhà Northumberland và Alnwick, Percy đã ủy thác cho ông những chú thích mà ông thu thập được nhằm minh họa cho các tờ Tatler, Spectator, và Guardian. Những chú thích này sau đó được sử dụng, kèm theo các phần bổ sung bởi Tiến sĩ Calder, trong các ấn bản khác nhau của những tác phẩm đó, đặc biệt là ấn bản sáu tập của tờ Tatler do John Nichols xuất bản năm 1786, nơi các chú thích của Percy được đính kèm chữ P, còn của Tiến sĩ Calder được ký tên 'Annotator (Nhà chú thích).' Tờ Tatler được chú thích đầy đủ, và tờ Tatler có chú thích đã cung cấp một số thông tin được đưa ra trong ấn bản hiện tại của tờ Spectator. Percy thực tế đã biên tập hai tập cho R. Tonson vào năm 1764, nhưng công việc bị đình trệ bởi cái chết của nhà sách đó, và sáu tập còn lại được bổ sung vào đó vào năm 1789. Chúng chỉ được chú thích một cách sơ lược, cả về số lượng lẫn giá trị của các chú thích; thế nhưng Percy và Calder sống trong thời điểm các truyền thống của Spectator vẫn còn tươi mới, và thông tin truyền miệng vẫn có thể tiếp cận được đối với các điểm ám chỉ cá nhân hoặc quyền tác giả của một số bài báo hoặc bức thư mà nếu không có họ thì có lẽ đã ẩn danh mãi mãi. Các chú thích của họ chính là những thứ có phần nội dung đã trải dài qua tất cả các ấn bản sau này. Rất ít, hoặc thậm chí chẳng có gì được bổ sung thêm bởi Bisset hay Chalmers; khi năng lượng của những biên tập viên đó chủ yếu tập trung vào việc bảo tồn hoặc nhân lên những sai lệch của văn bản. Percy, khi thông báo với Tonson rằng ông đã hoàn thành hai tập của tờ Spectator, cho biết ông đã chỉnh sửa 'những sai lệch vô số' từng len lỏi vào đó và chỉ có thể xuất phát từ lỗi in ấn. Kể từ thời điểm đó, không chỉ các lỗi in ấn được bảo tồn và nhân lên, mà dấu câu còn được hiện đại hóa một cách có chủ đích, phá hủy đi sự tươi mới của văn phong nguyên bản, và các biên tập viên của một 'thời đại biết suy ngẫm' khác cũng tự gánh lấy việc chỉnh sửa văn phong hoặc ngữ pháp của Addison bằng vô số những nét chấm phá nhỏ nhặt.
Tập sách này tái bản lần đầu tiên trong thế kỷ hiện tại văn bản của tờ Spectator đúng như những gì các tác giả của nó để lại. Một ấn bản gần đây tốt chứa trong 18 bài báo đầu tiên — đại diện công bằng cho toàn bộ tác phẩm — tới 88 biến thể nhỏ nhặt so với văn bản gốc (tính ra trên toàn bộ công trình là hơn 3000 biến thể) chưa kể đến việc biên tập lại dấu câu — thứ chỉ được tính là lỗi trong hai trường hợp, khi nó làm thay đổi ý nghĩa. Văn bản của Chalmers năm 1717 chẳng khá khẩm hơn là bao, và khoảng hai phần ba tổng số các sai lệch đã xuất hiện trong ấn bản của Bisset năm 1793, từ đó chúng được chuyển dịch sang. Do đó Bisset cũng như Chalmers trong Lời đề tặng Tập I đã biến các 'phần tinh tế của học thức' thành các 'nghệ thuật tinh tế của học thức,' và khi quý ông im lặng kể với chúng ta rằng rất nhiều người quen thuộc với dung mạo của ông bàn tán về ông 'rất rôm rả bằng cái tên Ngài Làm-thế-nào-gọi-là-hắn,' Bisset trước Chalmers đã bẻ câu văn thành 'rất chính xác bằng danh xưng Ngài Làm-thế-nào-gọi-là-hắn.' Thế nhưng có vẻ như chính Chalmers là người đầu tiên đảm nhận việc chỉnh sửa, trong bài báo tiếp theo, ngữ pháp của Addison, bằng cách biến cụm 'từng cười sảng khoái khi thấy' thành 'từng cười sảng khoái để nhìn thấy' và biến một hiệp ước 'cùng London và Wise' — một công ty nay đã có uy tín lịch sử — về việc cung cấp hoa cho nhà hát opera, thành một hiệp ước 'giữa London và Wise' — thứ mà hầu hết mọi người sẽ cho là một vấn đề hoàn toàn khác. Nếu ấn bản hiện tại mang phần chia sẻ của riêng mình về các lỗi in ấn và sơ suất, ít nhất nó không thừa nhận bất kỳ điều gì; và nó không chứa bất kỳ sự thay đổi cố ý nào đối với văn bản.
Các bài báo khi lần lượt xuất hiện trong số phát hành hằng ngày dạng tờ nửa khổ folio trị giá một xu (và sau khi thuế tem được áp dụng là hai xu) đã được đối chiếu sát sao với lần phát hành đầu tiên dạng sách khổ octavo đóng bìa da (guinea octavos), mà chúng được trau chuốt cho đó, và với ấn bản cuối cùng xuất hiện trước khi Steele qua đời.
Văn bản gốc được cung cấp ở đây chính xác như những gì nó được để lại sau khi được trau chuốt bởi các tác giả của nó; và đồng thời thể hiện mức độ và tính chất của phần chỉnh sửa.
Những câu văn được bổ sung trong bản tái bản được in màu nâu mà không kèm theo bất kỳ chú thích nào. Những câu văn bị lược bỏ, hoặc các từ ngữ bị thay đổi, được thể hiện bằng cách in phiên bản được chỉnh sửa bằng màu nâu, đồng thời cung cấp văn bản như nó vốn đứng ở lần phát hành hằng ngày ban đầu dưới dạng chú thích cuối trang 1.
Do đó, độc giả ở đây có được cả hai phiên bản văn bản gốc của tờ Spectator. Các Bài tiểu luận, khi được trau chuốt bởi các tác giả của chúng cho việc sử dụng lâu dài, hình thành nên phần văn bản chính của tập này. Thế nhưng nếu các từ ngữ hoặc đoạn văn nằm trong ngoặc vuông bị lược bỏ; các từ ngữ hoặc đoạn văn trong các chú thích cuối trang tương ứng — nơi có các chú thích cuối trang như vậy — được thay thế cho chúng; văn bản sẽ hoàn toàn trở thành tờ Spectator như lúc nó mới xuất hiện lần đầu trong các số báo hằng ngày.
Vì một vài khác biệt giữa cách đánh vần tốt dưới thời Nữ hoàng Anne và cách đánh vần tốt ngày nay chưa bao giờ thuộc dạng làm mờ ý nghĩa của một từ, hay làm giảm sự thưởng thức của độc giả, người ta cho rằng sẽ tốt hơn nếu tạo ra sự tái tạo hoàn hảo, và qua đó thể hiện không chỉ những gì Steele và Addison viết, mà cả cách họ đánh vần, đồng thời khôi phục lại cho văn phong của họ sự hài hòa thích hợp của các phương pháp đánh dấu câu của chính họ, cùng cách thức thỉnh thoảng tạo ra điểm nhấn thông qua việc tận dụng Chữ Viết Hoa — thứ trong tay họ không hoàn toàn mang tính quy ước. Các số folio gốc cũng được tuân theo trong việc sử dụng chữ nghiêng và các chi tiết nhỏ khác về việc bố trí kiểu chữ; ví dụ, trong việc tái tạo những hàng dấu ngoặc đơn đảo ngược phân biệt điều mà một thông tín viên gọi là các phần 'được thắt dây dọc theo bên cạnh bằng những chữ c nhỏ.' [Chi tiết định dạng cuối cùng này chưa được tái tạo trong tệp này. Chú thích của biên tập viên bản HTML.]
Phần dịch của các câu đề từ và các trích dẫn tiếng Latinh — thứ mà Steele và Addison có chủ đích tránh né không cung cấp, và vì chúng sau đó được bổ sung, gây cản trở và đôi khi làm nhiễu loạn cũng như mâu thuẫn với văn bản — được đặt thành một khối ở phần cuối, dành cho những ai cần đến chúng.
Hết lần này đến lần khác, các nhà tiểu luận đắm chìm trong sự trêu chọc về sự huyền bí của các câu đề từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp; và sự hỗn loạn nào sẽ len lỏi vào tâm trí của độc giả bất cẩn khi tìm thấy tác phẩm Homer của Pope được trích dẫn ở phần đầu của một số Spectator rất lâu trước lời ca ngợi của Addison dành cho Bài tiểu luận về Phê bình của chàng thanh niên thơ trẻ. Do đó, các câu đề từ được đặt trong một Phụ lục.
Đồng thời cũng có một Phụ lục ngắn gồm các quảng cáo được lấy từ số báo gốc của tờ Spectator, và một vài quảng cáo khác, khi chúng dường như minh họa cho một điểm nào đó trong văn bản, sẽ được tìm thấy trong phần chú thích.
Trong số lượng lớn các chú thích được bổ sung ở đây vào phần chỉnh sửa những chú thích được để lại cho chúng ta bởi Percy và Calder, mục tiêu là cung cấp thông tin có thể góp phần làm quen gần gũi hơn với các tác giả của cuốn sách, và sự thưởng thức các ẩn ý về phong cách và sự kiện quá khứ.
Cuối cùng, từ Mục lục Chung cho các tờ Spectator, v.v., được xuất bản thành một tập riêng biệt vào năm 1760, những gì hữu ích đã được lấy ra và các bổ sung đã được thực hiện với mong muốn đảm bảo cho ấn bản tờ Spectator này những ưu điểm là tiện lợi cho việc tra cứu cũng như trung thành với văn bản thực sự.
H. M.
Chú thích 1: "Các câu văn bị lược bỏ, hoặc các từ ngữ bị thay đổi;" tất nhiên không phải là những biến thể không quan trọng về cách đánh vần mà các thợ sắp chữ trượt vào trong văn phòng in ấn. Trong tờ Athenaeum ngày 12 tháng 5 năm 1877, là lời đáp trả đối với những hiểu lầm về điểm này bởi biên tập viên của một tập tuyển tập thuộc Nhà xuất bản Đại học Clarendon mang tên Những đoạn trích từ Addison.
trở lại dấu chú thích
Mục lục