Tri thức mọn khiến toàn thế giới thành thân sơ.
—Châm ngôn, xxxii, 7.
Tôi thường đến ngắm nhìn bộ sưu tập đồ cổ tại lâu đài Heidelberg, và có lần tôi đã khiến người quản thủ nơi ấy phải ngạc nhiên bằng vốn tiếng Đức của mình. Tôi nói hoàn toàn bằng thứ ngôn ngữ đó. Ông tỏ ra hết sức thích thú; và sau khi tôi trò chuyện một hồi, ông bảo tiếng Đức của tôi thật vô cùng hiếm có, có lẽ là một "bản độc nhất", và ngỏ ý muốn đưa nó vào viện bảo tàng của mình.
Giá mà ông ấy biết tôi đã phải trả giá những gì để đạt được nghệ thuật ấy, chắc chắn ông cũng hiểu rằng bất kỳ nhà sưu tập nào mua nó cũng sẽ phải phá sản. Hồi đó, Harris và tôi đã miệt mài học tiếng Đức trong suốt mấy tuần liền, và dù chúng tôi đã tiến bộ đáng kể, thì thành quả ấy cũng đánh đổi bằng không ít khó khăn và phiền toái, bởi có tới ba người thầy của chúng tôi đã qua đời trong khoảng thời gian đó. Một người chưa từng học tiếng Đức sẽ chẳng thể nào hình dung nổi đó lại là một thứ ngôn ngữ rắc rối đến nhường nào.
Quả thực, chắc không còn ngôn ngữ nào khác lại cẩu thả, vô nguyên tắc, trơn tuột và khó nắm bắt đến thế. Người ta bị cuốn phăng đi trong đó, hết hướng này sang hướng khác, một cách hoàn toàn bất lực; và khi tưởng chừng như đã tóm được một quy luật mang lại mảnh đất vững chắc để nghỉ chân giữa cơn thịnh nộ và hỗn độn chung của mười từ loại, người ta lật trang sách ra và đọc thấy: "Đề nghị học viên lưu ý kỹ các NGOẠI LỆ sau đây." Dò mắt xuống dòng, ta nhận ra các ngoại lệ còn nhiều hơn cả các trường hợp tuân theo quy luật. Thế là ta lại bị hất tung xuống nước, để rồi đi mò mẫm tìm một ngọn núi Ararat khác giữa chốn cát lún. Trải nghiệm của tôi từ trước đến nay vẫn luôn là như vậy.
Mỗi lần tôi tưởng mình đã thuần thục được một trong bốn "cách" (cases) rắc rối này, thì một giới từ tưởng chừng vô hại lại len lỏi vào câu văn của tôi, mang theo một thứ quyền năng khủng khiếp và bất ngờ, đánh sập cả mặt đất dưới chân tôi. Chẳng hạn, cuốn sách của tôi hỏi về một chú chim nào đó — (nó luôn tò mò về những thứ chẳng có chút tầm quan trọng nào với bất kỳ ai): "Con chim ở đâu?" Giờ thì câu trả lời cho câu hỏi này — theo như sách — là con chim đang đợi ở tiệm rèn vì trời mưa. Tất nhiên chẳng có con chim nào làm thế cả, nhưng bạn buộc phải bám lấy sách. Rất hay, tôi bắt đầu dịch câu trả lời đó sang tiếng Đức. Tất nhiên là tôi phải bắt đầu từ cái đuôi, bởi đó chính là tư duy của người Đức. Tôi tự nhủ, "REGEN (cơn mưa) là giống đực — hoặc có lẽ là giống cái — hay khả năng cao là giống trung — tra cứu lúc này thì phiền phức quá. Do đó, nó có thể là DER (mạo từ) Regen, hoặc DIE Regen, hoặc DAS Regen, tùy thuộc vào giống của nó khi tôi tra cứu. Vì lợi ích của khoa học, tôi sẽ tính toán dựa trên giả định rằng nó là giống đực. Rất hay — vậy chữ THE mưa sẽ là DER Regen, nếu nó đơn thuần ở trạng thái tĩnh tại khi ĐƯỢC NHẮC TỚI, không mở rộng hay bàn luận — Cách gọi (Nominative); nhưng nếu cơn mưa này đang vương vãi đâu đó dưới đất theo một cách chung chung nào đó, thì khi ấy nó được xác định vị trí rõ ràng, nó ĐANG LÀM MỘT VIỆC GÌ ĐÓ — nghĩa là, ĐANG NGHỈ NGƠI (đây là một trong những quan niệm về hành động của ngữ pháp Đức), và điều này đẩy cơn mưa sang Cách tặng (Dative), biến nó thành DEM Regen. Tuy nhiên, cơn mưa này không nghỉ ngơi, mà đang làm việc MỘT CÁCH TÍCH CỰC — nó đang rơi — có lẽ là để phá đám con chim — và điều này biểu thị SỰ CHUYỂN ĐỘNG, có tác dụng trượt nó sang Cách đối (Accusative) và đổi DEM Regen thành DEN Regen." Sau khi hoàn thành lá số tử vi ngữ pháp cho vấn đề này, tôi tự tin trả lời và tuyên bố bằng tiếng Đức rằng con chim đang ở tiệm rèn "wegen (bởi vì) DEN Regen". Lúc đó, giáo viên mới nhẹ nhàng hạ nhục tôi bằng lời nhắc nhở rằng bất cứ khi nào từ "wegen" xuất hiện trong câu, nó LUÔN LUÔN đẩy chủ ngữ đó về Cách thuộc (GENITIVE), bất chấp hậu quả — và do đó con chim này đã ở tiệm rèn "wegen DES Regens."
T.B. — Sau đó, tôi được một bậc cao nhân hơn thông báo rằng có một "ngoại lệ" cho phép người ta nói "wegen DEN Regen" trong một số hoàn cảnh kỳ lạ và phức tạp nào đó, nhưng ngoại lệ này không áp dụng cho bất cứ thứ gì NGOẠI TRỪ mưa.
Có mười từ loại, và tất cả chúng đều phiền phức. Một câu bình thường trên báo Đức là một kỳ quan hùng vĩ và ấn tượng; nó chiếm tới một phần tư cột báo; nó chứa đựng tất cả mười từ loại — không theo trật tự thông thường, mà trộn lẫn vào nhau; nó được xây dựng chủ yếu từ các từ ghép do chính tác giả tự sáng tác tại chỗ, chẳng thể tìm thấy trong bất kỳ từ điển nào — sáu hoặc bảy từ dính chặt vào nhau thành một, không có lấy một đường nối hay đường khâu — nghĩa là không có dấu gạch nối; nó bàn về mười bốn hoặc mười lăm chủ đề khác nhau, mỗi chủ đề được bao bọc trong một dấu ngoặc đơn của riêng nó, rải rác đây đó là những dấu ngoặc phụ, tạo thành các chiếc bút lồng trong bút: cuối cùng, toàn bộ các dấu ngoặc đơn và ngoặc kép ấy được gom lại với nhau giữa một cặp siêu ngoặc, một chiếc nằm ở dòng đầu tiên của câu hùng vĩ ấy và chiếc kia nằm ở giữa dòng cuối cùng — SAU ĐÓ MỚI TỚI ĐỘNG TỪ, và lúc đó bạn mới nhận ra lần đầu tiên rằng người ta đang nói về cái gì; và ngay sau động từ — xét cho cùng thì chỉ mang tính chất trang trí — người viết lại tống thêm vào cụm "HABEN SIND GEWESEN GEHABT HAVEN GEWORDEN SEIN", hoặc những từ có ý nghĩa đại loại như vậy, và thế là tượng đài được hoàn thành. Tôi đoán rằng khúc khải hoàn kết thúc này mang bản chất của những nét hoa văn chữ ký — không cần thiết, nhưng đẹp mắt. Sách tiếng Đức đọc thì dễ đấy, miễn là bạn cầm nó trước gương hoặc đứngổng ngược đầu — để đảo ngược cấu trúc — nhưng tôi cho rằng việc học cách đọc và hiểu một tờ báo Đức là điều sẽ mãi mãi bất khả thi đối với một người nước ngoài.
Thế nhưng, ngay cả sách tiếng Đức cũng không hoàn toàn thoát khỏi căn bệnh viêm dấu ngoặc — dẫu rằng chúng thường nhẹ nhàng đến mức chỉ chiếm vài dòng, và do đó khi bạn cuối cùng cũng lần tới được động từ, nó vẫn mang lại chút ý nghĩa cho tâm trí bạn bởi bạn còn có thể nhớ được kha khá những gì diễn ra trước đó. Giờ đây, hãy xem một câu trích từ một cuốn tiểu thuyết Đức nổi tiếng và xuất sắc — có kèm theo một dấu ngoặc nhẹ. Tôi sẽ dịch hoàn toàn theo từng chữ, đồng thời chèn thêm các dấu ngoặc và một số dấu gạch nối để hỗ trợ người đọc — mặc dù trong bản gốc chẳng có dấu ngoặc hay dấu gạch nối nào cả, và người đọc đành phải tự mình mò mẫm bơi lội qua đoạn đường dài để tìm cho ra động từ ở tít đằng xa:
"Nhưng khi hắn, trên đường phố, người (trong-bộ-đồ-bằng-sат-và-lụa-nay-đã-trở-nên-rất-tự-nhiên-theo-lối-thời-trang-mới-nhất) vợ của vị cố vấn chính quyền ĐÃ GẶP," v.v., v.v. [1]
1. Wenn er aber auf der Strasse der in Sammt und Seide gehuellten jetz sehr ungenirt nach der neusten mode gekleideten Regierungsrathin begegnet.
Đó là đoạn trích từ BÍ MẬT CỦA NÀNG MAMSELLE CŨ, của bà Marlitt. Và câu văn ấy được cấu trúc theo mô hình chuẩn mực nhất của người Đức. Bạn có thể thấy cái động từ kia nằm cách xa căn cứ địa của người đọc đến nhường nào; chà, trên một tờ báo Đức, người ta cất động từ tít sang tận trang sau; và tôi nghe nói đôi khi sau khi kéo dài lê thê những màn dạo đầu kích thích cùng các lớp ngoặc đơn suốt một hoặc hai cột báo, họ đành phải vội vã đưa bản thảo đi in mà chẳng tài nào với tới nổi động từ. Đương nhiên, lúc đó người đọc sẽ bị bỏ lại trong trạng thái kiệt sức và vô minh tột cùng.
Văn học nước chúng ta cũng mắc căn bệnh ngoặc đơn này; và người ta có thể bắt gặp những trường hợp như thế mỗi ngày trong sách vở và báo chí: nhưng ở xứ ta, đó là dấu hiệu và đặc trưng của một cây bút non tay hay một tư duy mơ hồ, trong khi ở người Đức, đó chắc chắn là dấu hiệu của một ngọn bút già dặn cùng sự hiện diện của thứ sương mù trí tuệ rực rỡ tượng trưng cho sự minh bạch trong mắt những con người này. Bởi vì chắc chắn đó KHÔNG PHẢI là sự minh bạch — nó vốn dĩ không thể là sự minh bạch được. Ngay cả một bồi thẩm đoàn cũng đủ sự sâu sắc để nhận ra điều đó. Tư duy của một nhà văn hẳn phải khá rối rắm, lệch lạc và thiếu logic, khi anh ta bắt đầu bằng việc kể rằng một người đàn ông gặp vợ của một vị cố vấn trên phố, rồi ngay giữa chừng cái hành động đơn giản ấy lại bắt những kẻ đang tiến đến phải khựng lại và đứng im để anh ta kịp liệt kê một lượt trang phục của người phụ nữ. Điều đó rõ ràng là vô lý. Nó gợi cho người ta nhớ đến những nha sĩ khơi gợi sự quan tâm tức thì và nghẹt thở của bạn đối với một chiếc kìm kẹp chiếc răng đau, rồi cứ đứng đó lê la qua một giai đoạn kể chuyện tẻ nhạt trước khi tung ra cú giật đáng sợ. Dấu ngoặc trong văn chương cũng như trong nha sĩ đều là thứ thiếu tinh tế.
Người Đức còn có một loại dấu ngoặc khác, được tạo ra bằng cách bổ đôi một động từ, đặt một nửa ở đầu một chương đầy kịch tính và NỬA CÒN LẠI ở cuối chương đó. Có ai tưởng tượng nổi điều gì rắc rối hơn thế không? Những thứ này được gọi là "động từ tách được". Ngữ pháp tiếng Đức chi chít những động từ tách được; và hai phần của một động từ càng bị kéo ra xa bao nhiêu, thì tác giả của cái tội ác ấy càng cảm thấy vô cùng đắc ý bấy nhiêu. Một từ rất được ưa chuộng là REISTE AB — có nghĩa là đã khởi hành. Dưới đây là một ví dụ mà tôi đã nhặt nhạnh từ một cuốn tiểu thuyết và rút gọn lại bằng tiếng Anh:
"Khi những chiếc vali đã sẵn sàng, hắn SAU KHI — hôn từ biệt mẹ và các em gái, rồi một lần nữa ôm ghì vào ngực nàng Gretchen yêu kiều, người trong bộ váy muslin trắng giản dị, với một nhành huệ tây cài giữa những nếp tóc nâu dày bồng bềnh, đã lảo đảo bước xuống những bậc thang, vẫn còn xanh xao vì nỗi kinh hoàng và chấn động của buổi tối hôm trước, nhưng khao khát được tựa cái đầu đau nhức tội nghiệp của mình thêm một lần nữa lên bộ ngực của người mà nàng yêu quý hơn cả sinh mạng — ĐÃ KHỞI HÀNH."
Tuy nhiên, không nên quá đào sâu vào các động từ tách được. Người ta rất dễ nổi nóng; và nếu cứ cắm cổ bám lấy chủ đề này mà phớt lờ cảnh báo, cuối cùng nó sẽ hoặc làm mềm não bạn, hoặc biến bộ não ấy thành đá cứng. Đại từ nhân xưng và tính từ là một thứ phiền toái sinh sôi nảy nở trong ngôn ngữ này, lẽ ra chúng nên được lược bỏ. Chẳng hạn, cùng một âm thanh SIE, nhưng nó vừa có nghĩa là BẠN, vừa có nghĩa là CÔ ẤY, lại vừa có nghĩa là BÀ ẤY, là NÓ, là HỌ, và là CHÚNG NÓ. Hãy nghĩ đến sự nghèo nàn xơ xác của một ngôn ngữ phải bắt một từ gánh vác công việc của sáu từ — mà lại là một sinh linh nhỏ bé yếu ớt chỉ có đúng ba chữ cái. Nhưng trên hết, hãy nghĩ đến sự bực bội khi chẳng bao giờ biết được người nói đang muốn truyền tải ý nghĩa nào trong số đó. Điều này giải thích tại sao, bất cứ khi nào ai đó thốt lên từ SIE với tôi, nếu đó là một người lạ, tôi thường sẽ cố gắng tẩn cho hắn một trận.
Giờ hãy quan sát tính từ. Đây là một trường hợp mà sự đơn giản lẽ ra sẽ là một lợi thế; thế nhưng, không vì lý do gì khác, nhà phát minh ra thứ ngôn ngữ này đã phức tạp hóa nó hết mức có thể. Khi chúng ta muốn nói về "người bạn tốt hay những người bạn tốt" của mình, trong ngôn ngữ khai sáng của chúng ta, chúng ta chỉ gắn bó với một hình thức duy nhất và chẳng gặp rắc rối hay hậm hực nào về chuyện đó; nhưng với tiếng Đức thì lại khác. Khi một người Đức tóm được một tính từ, anh ta biến cách nó, và cứ tiếp tục biến cách cho đến khi mọi sự minh mẫn đều bị biến cách sạch sành sanh. Nó tệ hại chẳng khác gì tiếng Latinh. Chẳng hạn, anh ta nói:
SỐ ÍT
Cách gọi (Nominative) — Mein gutER Freund, người bạn tốt của tôi.
Cách thuộc (Genitives) — MeinES GutEN FreundES, của người bạn tốt của tôi.
Cách tặng (Dative) — MeinEM gutEN Freund, tới người bạn tốt của tôi.
Cách đối (Accusative) — MeinEN gutEN Freund, người bạn tốt của tôi.
SỐ NHIỀU
C. gọi — MeinE gutEN FreundE, những người bạn tốt của tôi. C. thuộc — MeinER gutEN FreundE, của những người bạn tốt của tôi. C. tặng — MeinEN gutEN FreundEN, tới những người bạn tốt của tôi. C. đối — MeinE gutEN FreundE, những người bạn tốt của tôi.
Giờ thì hãy để những ứng viên cho nhà thương điên thử học thuộc lòng mấy biến thể đó, và xem họ sẽ được kết nạp nhanh đến thế nào. Thà ở Đức mà không có bạn bè còn hơn là rước lấy ngần ấy phiền toái vì họ. Tôi đã chỉ ra việc biến cách một người bạn (nam) tốt phiền phức thế nào; chà, đây mới chỉ là một phần ba công việc, bởi vẫn còn một loạt các biến dạng mới của tính từ phải học khi đối tượng là giống cái, và lại thêm một loạt khác nữa khi đối tượng là giống trung. Giờ thì số lượng tính từ trong ngôn ngữ này còn nhiều hơn cả số mèo đen ở Thụy Sĩ, và chúng đều phải được biến cách công phu y như các ví dụ nêu trên. Khó khăn ư? — Phiền toái ư? — Những từ ngữ ấy chẳng thể nào mô tả nổi. Tôi từng nghe một sinh viên người California ở Heidelberg thốt lên trong một khoảnh khắc bình tĩnh nhất rằng thà anh ta từ chối hai ly rượu còn hơn là phải biến cách một tính từ tiếng Đức.
Kẻ phát minh ra thứ ngôn ngữ này có vẻ rất lấy làm thích thú trong việc làm phức tạp hóa nó bằng mọi cách có thể tưởng tượng được. Chẳng hạn, nếu ai đó đang nhắc đến một ngôi nhà một cách thông thường, HAUS, hay một con ngựa, PFERD, hoặc một con chó, HUND, anh ta đánh vần những từ này như tôi đã chỉ ra; nhưng nếu anh ta nhắc đến chúng ở Cách tặng (Dative), anh ta lại tống thêm một chữ E ngớ ngẩn và thừa thãi vào để viết thành HAUSE, PFERDE, HUNDE. Do đó, vì một chữ E thêm vào thường biểu thị số nhiều, giống như chữ S trong tiếng của chúng ta, nên một học viên mới có thể sẽ mất cả tháng trời để tạo ra những cặp sinh đôi từ một con chó ở Cách tặng trước khi phát hiện ra sai lầm của mình; và mặt khác, rất nhiều học viên mới vốn chẳng dư dả gì đã phải bỏ tiền ra mua hẳn hai con chó mà rốt cuộc chỉ nhận được có một con, bởi vì anh ta đã vô tình mua con chó đó ở Cách tặng số ít trong khi thực sự cứ đinh ninh rằng mình đang nói số nhiều — điều này tất nhiên khiến luật pháp đứng về phía người bán theo các quy tắc nghiêm ngặt của ngữ pháp, và vì thế một vụ kiện đòi lại tài sản là điều không thể xảy ra.
Trong tiếng Đức, tất cả các Danh từ đều bắt đầu bằng chữ cái viết hoa. Chà, đó là một ý tưởng hay; và một ý tưởng hay, trong thứ ngôn ngữ này, tất yếu sẽ trở nên nổi bật vì sự cô độc của nó. Tôi cho rằng việc viết hoa danh từ này là một ý tưởng hay bởi vì nhờ nó mà hầu như lúc nào bạn cũng có thể nhận ra một danh từ ngay khoảnh khắc trông thấy nó. Thỉnh thoảng bạn vẫn vấp phải sai lầm, bởi vì bạn nhầm tên của một người với tên của một vật, và hoài phí khối thời gian để cố moi móc ý nghĩa từ cái tên ấy. Tên tiếng Đức hầu như lúc nào cũng mang một ý nghĩa nào đó, và điều này góp phần đánh lừa học viên. Có lần tôi dịch một đoạn văn nói rằng "con hổ cái nổi điên đã sổng chuồng và ngấu nghiến hoàn toàn khu rừng thông không may" (Tannenwald). Khi tôi đang thắt lưng buộc bụng để chuẩn bị hoài nghi điều này, tôi phát hiện ra rằng Tannenwald trong trường hợp này lại là tên của một người đàn ông.
Mỗi danh từ đều có một giống, và chẳng có chút logic hay hệ thống nào trong sự phân bố đó; thế nên giống của từng từ phải được học riêng và học thuộc lòng. Không còn cách nào khác. Để làm được điều này, người ta phải có một bộ nhớ giống như một cuốn sổ tay ghi nhớ. Trong tiếng Đức, một thiếu nữ thì không có giới tính, trong khi một củ cải lại có. Hãy ngẫm xem điều đó cho thấy sự sùng bái thái quá nào dành cho củ cải, và sự thiếu tôn trọng đến chai lì đối với người con gái. Hãy xem nó trông như thế nào khi in ấn — tôi dịch đoạn này từ một cuộc trò chuyện trong một trong những cuốn sách chủ nhật hay nhất của trường dòng Đức:
"Gretchen. Wilhelm, củ cải đâu rồi?
"Wilhelm. Nó đã xuống bếp rồi.
"Gretchen. Thiếu nữ Anh tài giỏi và xinh đẹp đâu rồi?
"Wilhelm. Nó đã đi xem opera rồi."
Để tiếp tục bàn về các giống trong tiếng Đức: một cái cây là giống đực, các chồi của nó là giống cái, các chiếc lá của nó là giống trung; ngựa thì không có giới tính, chó là giống đực, mèo là giống cái — tất nhiên là tính cả mèo đực; miệng, cổ, ngực, khuỷu tay, ngón tay, móng tay, bàn chân và thân thể của một người thì thuộc giống đực, còn đầu của người đó là giống đực hoặc giống trung tùy thuộc vào từ được chọn để chỉ nó, chứ KHÔNG phụ thuộc vào giới tính của cá nhân mang cái đầu đó — bởi vì ở Đức tất cả phụ nữ đều mang đầu của nam giới hoặc đầu không có giới tính; mũi, môi, vai, ngực, bàn tay và ngón chân của một người thì thuộc giống cái; còn tóc, tai, mắt, cằm, chân, đầu gối, trái tim và lương tâm của người đó thì hoàn toàn chẳng có giới tính nào cả. Kẻ phát minh ra thứ ngôn ngữ này có lẽ đã góp nhặt những gì hắn biết về lương tâm qua lời đồn đại.
Giờ thì, qua màn mổ xẻ trên, bạn đọc sẽ thấy rằng ở Đức một người đàn ông có thể TƯỞNG RÌNH mình là đàn ông, nhưng khi xem xét kỹ lưỡng vấn đề, anh ta chắc chắn sẽ phải hoài nghi; anh ta nhận ra rằng trên thực tế phũ phàng, bản thân chỉ là một sự pha trộn vô cùng lố bịch; và nếu anh ta kết thúc bằng việc tự an ủi bản thân với ý nghĩ rằng ít nhất mình vẫn có thể dựa vào một phần ba của mớ hỗn độn này để thấy mình ra dáng nam nhi đàn ông, thì ý nghĩ thứ hai đầy nhục nhã sẽ nhanh chóng nhắc nhở anh ta rằng về mặt này, anh ta chẳng khá hơn bất kỳ người phụ nữ hay con bò nào trong xứ sở đó cả.
Trong tiếng Đức, quả thực do một chút sơ suất nào đó của kẻ phát minh ra ngôn ngữ, Phụ nữ (Woman) là giống cái; nhưng Người vợ (Weib) thì không — điều đó thật bất hạnh. Ở đây, Người vợ không có giới tính; cô ấy là giống trung; thế nên, theo ngữ pháp, một con cá là HÒN (HE), vảy của nó là NÀNG (SHE), nhưng một mụ bán cá thì chẳng là gì cả. Mô tả một người vợ là không có giới tính có thể gọi là miêu tả thiếu; điều đó đã đủ tệ rồi, nhưng miêu tả thừa thì chắc chắn còn tệ hơn. Người một nước Đức gọi một người đàn ông Anh là ENGLÄNNDER; để đổi giới tính, anh ta thêm hậu tố INN, và đó là từ chỉ phụ nữ Anh — ENGLÄNDERINN. Điều đó có vẻ đã đủ tính mô tả rồi, nhưng vẫn chưa đủ chính xác đối với người Đức; thế nên anh ta đặt trước từ đó mạo từ biểu thị rằng sinh vật theo sau là giống cái, và viết ra như sau: "die Engländerinn," — có nghĩa là "mụ đàn-bà-Anh-giống-cái." Tôi cho rằng con người đó đã bị miêu tả đến mức thừa thãi.
Chà, sau khi học sinh đã nắm được giống của rất nhiều danh từ, cậu ta vẫn gặp khó khăn, bởi vì cậu ta thấy không tài nào thuyết phục được cái lưỡi của mình gọi những thứ vốn quen miệng gọi là "nó" ("it") thành "anh ấy" ("he") và "cô ấy" ("she"), "hắn" ("him") và "nàng" ("her"). Ngay cả khi cậu ta soạn sẵn một câu tiếng Đức trong đầu, với các từ "him" và "her" ở đúng vị trí, rồi lấy hết can đảm để thốt lên — thì cũng vô ích — ngay khoảnh khắc cậu ta bắt đầu nói, cái lưỡi liền trật bánh và tất cả những giống đực giống cái được nhọc công chuẩn bị ấy lại thốt ra thành "nó" ("its"). Và ngay cả khi tự đọc tiếng Đức cho bản thân nghe, cậu ta lúc nào cũng gọi những thứ đó là "nó", trong khi lẽ ra cậu ta phải đọc theo thế này:
CÂU CHUYỆN VỀ MỤ BÁN CÁ VÀ SỐ PHẬN BI THƯƠNG CỦA NÓ [2]
2. Tôi viết hoa các danh từ theo phong cách Đức (và tiếng Anh cổ).
Đó là một Ngày ảm đạm. Hãy nghe Mưa, hắn trút xuống thế nào, và Mưa đá, hắn gõ lộp bộp ra sao; và kìa Tuyết, hắn trôi dạt dọc theo, và Bùn kìa, hắn sâu biết nhường nào! A, mụ bán cá tội nghiệp, nó đã mắc kẹt cứng trong Vũng lầy; nó đã đánh rơi Chiỏ cá của mình; và Những bàn tay của nó đã bị cắt bởi Vảy cá khi nó tóm lấy một số Sinh vật đang rơi xuống; và thậm chí một chiếc Vảy đã lọt vào Mắt nó, và nó không thể lấy nàng ra được. Nó há Miệng ra để kêu Cứu; nhưng nếu có bất kỳ Âm thanh nào phát ra từ hắn, hỡi ôi, hắn đã bị nhấn chìm bởi cơn giông bão cuồng nộ. Và giờ đây một con Mèo đực đã chộp được một con Cá và nàng chắc chắn sẽ trốn thoát cùng hắn. Không, nàng cắn đứt một cái Vây, nàng giữ cô trong Miệng mình — liệu nàng có nuốt chửng cô không? Không, Chó-mẹ dũng cảm của mụ bán cá liền bỏ rơi bầy Con của mình và giải cứu chiếc Vây — thứ mà tự hắn ăn luôn như một Phần thưởng. Ồ, kinh hoàng thay, Sét đã đánh trúng Giỏ cá; hắn châm lửa đốt nó; hãy nhìn Ngọn lửa, nàng liếm láp Đồ vật bị kết án ấy bằng chiếc Lưỡi đỏ quánh và giận dữ của mình; giờ đây nàng tấn công Bàn chân bất lực của mụ bán cá — nàng thiêu rụi hắn, trụi thùi lui chỉ còn lại ngón chân cái, và ngay cả NÀNG cũng bị tiêu rụi một phần; thế nhưng nàng vẫn lan rộng, vẫn vẫy vùng Những chiếc lưỡi lửa của mình; nàng tấn công Cẳng chân của mụ bán cá và phá hủy NÓ; nàng tấn công Bàn tay của nó và tiêu diệt NÀNG luôn; nàng tấn công Cẳng chân của mụ bán cá và tiêu diệt NÀNG luôn; nàng tấn công Thân thể của nó và ngấu nghiến HẮN; nàng quấn quanh Trái tim của nó và NÓ bị thiêu rụi; tiếp theo là quanh Ngực của nó, và trong chớp mắt NÀNG thành tro tàn; giờ nàng với tới Cổ của nó — Hắn đi; giờ là Cằm của nó — NÓ đi; giờ là Mũi của nó — NÀNG đi. Chỉ một chốc nữa thôi, nếu cứu viện không đến, mụ bán cá sẽ không còn nữa. Thời gian cấp bách — chẳng có ai đến cứu trợ và giải cứu sao? Có chứ! Vui mừng thay, với những bước chân bay bổng, mụ-đàn-bà-Anh đã đến! Nhưng hỡi ôi, người Giống-cái rộng lượng ấy đã đến quá muộn: mụ bán cá số phận bi đát giờ ở đâu? Nó đã chấm dứt Những nỗi thống khổ của mình, nó đã đi đến một Miền đất tốt đẹp hơn; tất cả những gì còn lại của nó để Những người thân yêu khóc thương chính là Đống tro tàn ngún khói tội nghiệp này. A, đống tro tàn đáng thương, đáng thương thay! Chúng ta hãy nâng hắn lên một cách dịu dàng, thành kính, trên chiếc Xẻng khiêm nhường, và đưa hắn về Giấc ngủ ngàn thu, cùng lời cầu nguyện rằng khi hắn thức dậy lần sau, đó sẽ là một Vương quốc nơi hắn có một Giới tính đàng hoàng, vững chắc và có trách nhiệm, và sở hữu hoàn toàn cho riêng mình, thay vì phải gánh một mớ Giới tính thập cẩm ghẻ lở rải rác khắp người thành từng đóm.
Đấy, giờ thì bạn đọc có thể tự mình thấy rằng chuyện đại từ này là một thứ vô cùng bất tiện đối với cái lưỡi chưa quen thuộc. Tôi cho rằng trong tất cả các ngôn ngữ, sự tương đồng về mặt hình thức và âm thanh giữa những từ không có chút tương đồng nào về nghĩa chính là nguồn cơn phong phú gây ra sự bối rối cho người nước ngoài. Ngôn ngữ của chúng ta cũng vậy, và đặc biệt rõ rệt trong tiếng Đức. Kìa là cái từ phiền toái VERMÄHLT: đối với tôi, nó có sự tương đồng quá lớn — dù là thực tế hay tưởng tượng — với ba hoặc bốn từ khác, đến mức tôi chẳng bao giờ biết được nó có nghĩa là khinh miệt, được sơn, bị nghi ngờ, hay đã kết hôn; cho đến khi tôi tra từ điển, và rồi tôi phát hiện ra nó mang nghĩa sau cùng. Có rất nhiều từ như thế và chúng thực sự là một cực hình. Để tăng thêm phần khó khăn, lại có những từ DƯỜNG NHƯ giống nhau, nhưng thực ra không phải; thế nhưng chúng lại gây rắc rối y như thể chúng giống nhau vậy. Chẳng hạn, có từ VERMIETHEN (cho thuê, cho mướn); và từ VERHEIRATHEN (một cách nói khác của việc kết hôn). Tôi từng nghe về một người Anh gõ cửa nhà một người ở Heidelberg và ngỏ ý, bằng thứ tiếng Đức tốt nhất mà ông ta có thể huy động, muốn "verheirathen" ngôi nhà đó. Bên cạnh đó, lại có một số từ mang ý nghĩa này khi bạn nhấn trọng âm ở âm tiết đầu, nhưng lại mang ý nghĩa hoàn toàn khác nếu bạn đặt trọng âm vào âm tiết cuối. Chẳng hạn, có một từ mang nghĩa kẻ đào tẩu, hoặc hành động lướt qua một cuốn sách, tùy thuộc vào vị trí đặt trọng âm; và một từ khác biểu thị việc GIAO KẾT với một người, hoặc LÁNH XA anh ta, tùy thuộc vào việc bạn đặt trọng âm ở đâu — và bạn thường có thể tin chắc rằng mình sẽ đặt nhầm chỗ và tự đẩy bản thân vào rắc rối.
Có một số từ cực kỳ hữu ích trong ngôn ngữ này. Chẳng hạn như SCHLAG; và ZUG. Có tới ba phần tư cột từ SCHLAG trong từ điển, và một cột rưỡi cho từ ZUG. Từ SCHLAG có nghĩa là Đòn, Cú đánh, Quất, Đánh, Cú sốc, Vỗ tay, Tát, Thời gian, Quãng, Tiền xu, Con dấu, Loài, Hạng, Kiểu, Cách, Đột quỵ, Chặt gỗ, Vùng đất rào kín, Cánh đồng, Khu đất rừng phát hoang. Đó là ý nghĩa đơn giản và CHÍNH XÁC của nó — nghĩa là, ý nghĩa bị thu hẹp, bị kìm kẹp của nó; nhưng có những cách giúp bạn giải phóng nó, để nó có thể bay cao, tựa như trên đôi cánh của buổi bình minh, và không bao giờ nghỉ ngơi. Bạn có thể móc bất kỳ từ nào bạn thích vào đuôi của nó, và khiến nó có nghĩa bất cứ thứ gì bạn muốn. Bạn có thể bắt đầu với SCHLAG-ADER, có nghĩa là động mạch, và bạn có thể móc toàn bộ cuốn từ điển vào, từng từ một, xuyên suốt bảng chữ cái cho đến SCHLAG-WASSER, có nghĩa là nước đọng đáy tàu — và bao gồm cả SCHLAG-MUTTER, có nghĩa là mẹ vợ.
Y hệt như vậy với ZUG. Nói một cách nghiêm ngặt, ZUG có nghĩa là Kéo, Giật, Luồng gió, Đám rước, Cuộc hành quân, Sự tiến bộ, Chuyến bay, Hướng, Cuộc thám hiểm, Tàu hỏa, Đoàn lữ hành, Lối đi, Cú đánh, Chạm, Đường nét, Nét hoa văn, Nét tính cách, Đặc điểm, Nét mặt, Nước đi cờ vua, Cần cản ống đàn organ, Đàn gia súc, Hơi thở, Thiên hướng, Ngăn kéo, Tính thất thường, Sự hít vào, Khuynh hướng: nhưng thứ mà nó KHÔNG có nghĩa — khi tất cả các lá cờ hợp pháp của nó đã được giương lên — thì vẫn chưa ai khám phá ra.
Người ta không thể đánh giá quá cao sự hữu ích của SCHLAG và ZUG. Chỉ được vũ trang bằng hai từ này, cùng với từ ALSo, điều gì mà một người nước ngoài trên đất Đức lại không thể hoàn thành cơ chứ? Từ ALSO trong tiếng Đức tương đương với cụm từ "You know" (bạn biết đấy) trong tiếng Anh, và hoàn toàn chẳng mang ý nghĩa gì sất — trong GIAO TIẾP, dù đôi khi nó có nghĩa trên bản in. Mỗi lần một người Đức mở miệng là một chữ ALSO rơi ra; và mỗi lần ngậm miệng lại là hắn cắn đứt đôi một chữ ALSO đang cố THÒ ra ngoài.
Giờ đây, người nước ngoài được trang bị ba từ cao quý này, chính là chúa tể của tình huống. Cứ để anh ta nói liền mạch, không sợ hãi; cứ để anh ta trút ra thứ tiếng Đức làng nhàng của mình, và khi thiếu từ, hãy tung ngay một cú SCHLAG vào khoảng trống; mọi xác suất đều cho thấy nó khớp vào đó như một chiếc nút chai, nhưng nếu không khớp, hãy nhanh chóng ném ngay một chữ ZUG tiếp theo; cả hai kết hợp lại khó mà thất bại trong việc bịt kín cái lỗ ấy; nhưng nếu, bằng một phép màu nào đó, chúng VẪN thất bại, thì hãy cứ thốt lên ALSO! và điều đó sẽ cho anh ta một khoảnh khắc để suy nghĩ về từ cần thiết. Ở Đức, khi bạn nạp đạn cho khẩu súng hội thoại của mình, tốt nhất lúc nào cũng nên tống thêm một hoặc hai chữ SCHLAG và một hoặc hai chữ ZUG vào, bởi vì dù phần đạn còn lại có văng tung tóe đi đâu chăng nữa, bạn chắc chắn vẫn sẽ tóm được thứ gì đó với CHÚNG. Sau đó, bạn điềm đạm thốt lên ALSO, và tiếp tục nạp đạn. Không gì mang lại bầu không khí duyên dáng, thanh lịch và phóng khoáng cho một cuộc trò chuyện bằng tiếng Đức hoặc tiếng Anh hơn việc rải đầy những chữ "Also" hay "You knows" vào đó.
Trong sổ tay của tôi có ghi chép thế này:
Ngày 1 tháng 7. — Hôm qua tại bệnh viện, một từ dài mười ba âm tiết đã được phẫu thuật thành công khỏi cơ thể một bệnh nhân — một người Bắc Đức đến từ vùng gần Hamburg; nhưng ngặt một nỗi các bác sĩ đã mổ nhầm chỗ vì tưởng rằng trong bụng anh ta có chứa một bức tranh toàn cảnh (panorama), nên anh ta đã tử vong. Sự kiện đau buồn này đã phủ lên toàn bộ cộng đồng một bầu không khí u ám.
Đoạn văn đó cung cấp chất liệu cho một vài lời bàn về một trong những đặc điểm kỳ lạ và đáng chú ý nhất của chủ đề tôi đang đề cập — độ dài của các từ tiếng Đức. Một số từ tiếng Đức dài đến mức chúng có cả phối cảnh. Hãy quan sát các ví dụ sau:
Freundschaftsbezeigungen.
Dilettantenaufdringlichkeiten.
Stadtverordnetenversammlungen.
Những thứ này không phải là từ, chúng là những cuộc diễu hành theo bảng chữ cái. Và chúng không hề hiếm; người ta có thể mở một tờ báo Đức bất cứ lúc nào và nhìn thấy chúng oai nghiêm diễu hành ngang qua trang giấy — và nếu có chút trí tưởng tượng, người ta thậm chí còn có thể nhìn thấy cờ hoa và nghe thấy cả tiếng âm nhạc nữa. Chúng truyền một niềm phấn khích mang âm hưởng nhà binh cho cả những thần dân nhút nhát nhất. Tôi rất hứng thú với những kỳ quan này. Bất cứ khi nào bắt gặp một từ hay, tôi lại nhồi bông cho nó và bỏ vào viện bảo tàng của mình. Bằng cách này, tôi đã tạo được một bộ sưu tập khá có giá trị. Khi có những bản trùng lặp, tôi đem đổi với các nhà sưu tập khác, qua đó làm phong phú thêm chủng loại cho kho hàng của mình. Dưới đây là một số mẫu vật mà tôi mới mua được tại một phiên đấu giá đồ đạc của một tay săn lùng đồ cổ bị phá sản:
Generalstaatsverordnetenversammlungen.
Alterthumswissenschaften.
Kinderbewahrungsanstalten.
Unabhängigkeitserklärungen.

Wiedererstellungbestrebungen.
Waffenstillstandsunterhandlungen.
Tất nhiên, khi một trong những dãy núi hùng vĩ ấy vươn mình trải dài khắp trang báo in, nó tô điểm và nâng tầm cho phong cảnh văn học ấy — nhưng đồng thời nó lại là một nỗi thống khổ lớn lao đối với học viên mới, bởi nó chặn đứng lối đi của anh ta; anh ta không thể bò bên dưới, trèo lên trên, hay đào hầm xuyên qua nó. Thế nên anh ta đành cầu cứu từ điển, nhưng chẳng có sự trợ giúp nào ở đó cả. Từ điển cũng phải đặt ra ranh giới cho mình chứ — thế nên nó đà đành gạt bỏ loại từ này. Và điều đó là đúng đắn, bởi những thứ dài dòng này khó mà được coi là từ hợp pháp, mà đúng hơn là sự kết hợp của nhiều từ, và kẻ phát minh ra chúng đáng lẽ phải bị trừng trị. Chúng là những từ ghép bị lược bỏ dấu gạch nối. Các từ khác nhau được dùng để kiến tạo nên chúng đều có mặt trong từ điển, nhưng ở trạng thái phân tán tơi bời; thế nên bạn có thể lùng sục từng nguyên liệu một, và cuối cùng cũng chạm tay tới ý nghĩa, nhưng đó là một công việc vô cùng tẻ nhạt và mệt mỏi. Tôi đã thử nghiệm quy trình này với một vài ví dụ trên. "Freundshaftsbezeigungen" có vẻ mang nghĩa là "Biểu hiện tình bạn" (Friendship demonstrations), hóa ra chỉ là một cách nói ngớ ngẩn và vụng về để diễn tả "những biểu hiện tình bạn" (demonstrations of friendship). "Unabhängigkeitserklärungen" có vẻ là "Tuyênngôndựclập" (Independencedeclarations), chẳng hề cải thiện được chút nào so với "Tuyên ngôn Độc lập" (Declarations of Independence), theo những gì tôi có thể thấy. "Generalstaatsverordnetenversammlungen" dường như là "Họphọccửđạidiệncáchủbangchung" (General-statesrepresentativesmeetings), theo cách tôi có thể mò ra được — tôi phán đoán đây chỉ là một uyển ngữ đầy nhịp điệu và sướt mướt để chỉ "các phiên họp của cơ quan lập pháp" (meetings of the legislature). Văn học chúng ta từng mắc kha kha cái tội này, nhưng giờ thì nó đã lỗi thời rồi. Chúng ta từng quen dùng cụm từ "không bao giờ quên được" (never-to-be-forgotten) thay vì cô đọng nó thành một từ đơn giản và đầy đủ là "đáng nhớ" (memorable) rồi thản nhiên tiếp tục công việc của mình như chẳng có chuyện gì xảy ra. Vào thời đó, chúng ta không thỏa mãn với việc ướp xác sự việc và chôn cất nó một cách đàng hoàng, chúng ta còn muốn xây cả một tượng đài đè lên nó.
Thế nhưng trong các tờ báo của chúng ta, căn bệnh từ ghép vẫn còn vương vấn đôi chút cho đến tận ngày nay, chỉ là bị lược mất dấu gạch nối theo phong cách Đức. Nó mang hình hài thế này: thay vì nói "Ông Simmons, thư ký tòa án hạt và quận, đã có mặt ở thị trấn ngày hôm qua," cấu trúc mới lại diễn đạt như sau: "Thư ký Tòa án Hạt và Quận Simmons đã có mặt ở thị trấn ngày hôm qua." Điều này chẳng tiết kiệm được thời gian hay mực in chút nào, lại mang âm thanh cục mịch kỳ quặc. Người ta thường bắt gặp những lời nhận xét như thế này trên báo chí của chúng ta: "BÀ Trợ lý Biện lý Quận Johnson đã trở lại dinh thự thành phố vào ngày hôm qua cho mùa vụ mới." Đó là một trường hợp ghép từ thực sự bất hợp lý; bởi vì nó không chỉ chẳng tiết kiệm được thời gian hay công sức, mà còn ban tặng cho bà Johnson một chức danh mà bà chẳng hề có quyền sở hữu. Nhưng những ví dụ nhỏ nhặt này quả thực chỉ là chuyệnn vặt vãnh khi đặt cạnh hệ thống tiếng Đức nặng nề và ảm đạm chuyên chồng chất các từ ghép lộn xộn lên nhau. Tôi xin trình bày mẩu tin vặt địa phương sau đây, được trích từ một tờ báo ở Mannheim, để làm ví dụ minh họa:
"Vào lúc đêm hôm-kia-chỉ-hơi-quá-mười-một-giờ Đêm, quán trọ-đứng-ở-trong-thị-trấn này mang tên 'Người đánh xe' đã bị thiêu rụi. Khi ngọn lửa bén tới Tổ cò-đang-an-nghỉ-trên-ngôi-nhà-bị-cháy bên dưới, những con cò bố mẹ liền bay đi. Nhưng khi Cái tổ-chính-mìh-đang-bị-lửa-vây-quanh-và-bốc-cháy ấy bén Lửa, ngay lập tức Cò-mẹ-vừa-về-vội-vã đã lao đầu vào Ngọn lửa và chết, đôi Giông cánh dang rộng che chở cho bầy con của mình."
Ngay cả cấu trúc rườm rà của tiếng Đức cũng không tài nào tước đi nét bi cảm trong bức tranh đó — thực ra, bằng cách nào đó nó dường như lại làm tăng thêm sức nặng cho bức tranh ấy. Mẩu tin này có niên đại từ nhiều tháng trước tận đẩu tận đâu. Tôi đã có thể dùng nó sớm hơn, nhưng tôi cứ đợi tin tức từ Cò-bố. Tôi vẫn đang tiếp tục chờ.
"ALSO!" Nếu tôi chưa chứng minh được rằng tiếng Đức là một ngôn ngữ khó khăn, thì ít ra tôi cũng đã có ý định làm điều đó. Tôi từng nghe về một sinh viên người Mỹ nọ được hỏi rằng anh ta đang xoay sở thế nào với vốn tiếng Đức của mình, và đã đáp lại một cách nhanh chóng: "Tôi chẳng xoay sở được gì sất. Tôi đã cắm cổ học nó suốt ba tháng ròng rã, và tất cả những gì tôi thu được chỉ là một cụm từ tiếng Đức độc nhất vô nhị — 'ZWEI GLAS'" (hai cốc bia). Anh ta dừng lại một lát, đầy vẻ chiêm nghiệm; rồi đong đầy cảm xúc bổ sung thêm: "Nhưng tôi đã nắm CHẮC cục này rồi đấy!"
Và nếu tôi vẫn chưa chứng minh được rằng tiếng Đức là một môn học phiền toái và bực bội, thì lỗi là do phần thể hiện của tôi có vấn đề, chứ không phải do ý định của tôi. Gần đây tôi nghe nói về một sinh viên người Mỹ kiệt sức và bị đày ải khổ sở, người thường phải tìm đến một từ tiếng Đức nhất định để giải tỏa khi anh ta không thể chịu đựng thêm những nỗi bực dọc — từ duy nhất có âm thanh ngọt ngào, quý giá đối với tai anh ta và chữa lành cho tâm hồn rách nát của anh ta. Đó là từ DAMIT. Chỉ có ÂM THANH mới giúp được anh ta, chứ không phải ý nghĩa; [3] và rồi, cuối cùng, khi biết rằng trọng âm không nằm ở âm tiết đầu, chỗ bấu víu và điểm tựa duy nhất của anh ta đã tiêu tùng, và anh ta đã phai tàn rồi qua đời.
3. Nói theo nghĩa chung nhất, nó chỉ có nghĩa là "kèm theo đây" ("herewith").
Tôi cho rằng mô tả về bất kỳ sự kiện ồn ào, náo động, hỗn loạn nào cũng sẽ trở nên kém ấn tượng trong tiếng Đức hơn là trong tiếng Anh. Các từ ngữ mang tính miêu tả của chúng ta thuộc thể loại này sở hữu âm thanh trầm, khỏe, vang vọng biết bao, trong khi các từ tương đương trong tiếng Đức lại có vẻ quá mỏng manh, nhẹ nhàng và thiếu sinh lực. Boom (Ầm), burst (Nổ tung), crash (Va rầm), roar (Gầm rú), storm (Bão táp), bellow (Rống), blow (Thổi), thunder (Sấm sét), explosion (Vụ nổ); howl (Hú), cry (Khóc), shout (Hét), yell (Gào), groan (Rên rỉ); battle (Trận chiến), hell (Địa ngục). Đỉnh cao làm sao những từ ấy; chúng sở hữu sức mạnh và độ lớn của âm thanh xứng tầm với những thứ mà chúng mô tả. Nhưng các từ tương đương trong tiếng Đức của chúng sẽ cực kỳ thích hợp để hát ru trẻ con ngủ, hoặc nếu không thì đôi tai kinh hoàng của tôi sinh ra chỉ để làm cảnh chứ chẳng có chút công dụng tối cao nào trong việc phân tích âm thanh. Liệu có ai muốn chết trong một trận chiến được gọi bằng một cái tên tẻ nhạt như SCHLACHT? Hay một kẻ mắc bệnh lao liệu có cảm thấy quá rườm rà, khi sắp sửa bước ra ngoài với độc một chiếc cổ áo sơ mi và một chiếc nhẫn hải cẩu, để đối mặt với một cơn giông bão được miêu tả bởi cái từ có giai điệu tiếng chim hót GEWITTER? Và hãy quan sát từ mạnh mẽ nhất trong số các từ tiếng Đức đồng nghĩa với vụ nổ — AUSBRUCH. Từ Bàn chải đánh răng (Toothbrush) của chúng ta còn có uy lực hơn thế nhiều. Dường như người Đức sẽ chẳng thiệt thòi gì nếu họ nhập khẩu từ đó vào ngôn ngữ của mình để mô tả những vụ nổ đặc biệt khủng khiếp. Từ tiếng Đức chỉ địa ngục — Hoelle — nghe giống HELLY hơn bất kỳ thứ gì khác; thế nên, nó thật vô cùng nhí nhảnh, phù phiếm và thiếu ấn tượng làm sao. Nếu một người bị bảo bằng tiếng Đức hãy xéo xuống đó, liệu anh ta có thực sự nâng tầm được cảm giác thấy mình bị xúc phạm hay không?
Sau khi đã chỉ ra chi tiết từng tật xấu của thứ ngôn ngữ này, giờ đây tôi bước sang nhiệm vụ ngắn ngủi và thú vị là chỉ ra những đức tính của nó. Việc viết hoa các danh từ thì tôi đã đề cập rồi. Nhưng đứng vượt lên trên đức tính ấy là một đức tính khác — đó là đánh vần một từ theo đúng âm thanh của nó. Sau một bài học ngắn về bảng chữ cái, học viên có thể biết bất kỳ từ tiếng Đức nào được phát âm ra sao mà chẳng cần phải hỏi; trong khi với ngôn ngữ của chúng ta, nếu một học viên hỏi rằng, đánh vần chữ "B, O, W" ra sao, chúng ta sẽ buộc phải trả lời rằng: "Chẳng ai biết nó đánh vần thành gì khi bạn tách nó ra đứng một mình cả; bạn chỉ có thể biết bằng cách tra cứu ngữ cảnh và tìm hiểu xem nó biểu thị điều gì — liệu đó là một thứ dùng để bắn tên, hay một cái gật đầu, hay phần mũi phía trước của một chiếc thuyền."
Có một số từ tiếng Đức mang lại hiệu quả kỳ lạ và mạnh mẽ. Chẳng hạn, những từ mô tả cuộc sống gia đình thấp hèn, bình yên và đầy tình cảm; những từ bàn về tình yêu, dưới bất kỳ hình thức nào, từ tình cảm tử tế đơn thuần và thiện chí chân thành đối với người lữ khách qua đường, cho đến tận chuyện tỏ tình; những từ bàn về Thiên nhiên ngoài trời, trong những khía cạnh mềm mại và đáng yêu nhất — với những đồng cỏ và khu rừng, chim chóc và hoa lá, hương thơm và ánh nắng mùa hè, cùng ánh trăng của những đêm mùa đông thanh bình; nói một cách ngắn gọn, những từ bàn về bất kỳ và tất cả các hình thức nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng và hòa bình; những từ bàn về các sinh vật và điều kỳ diệu của xứ sở thần tiên; và cuối cùng và quan trọng nhất, những từ diễn tả nỗi bi cảm, thứ ngôn ngữ này tỏ ra vô cùng giàu có và đầy sức gợi cảm. Có những bài hát tiếng Đức có thể khiến một kẻ ngoại đạo phải bật khóc. Điều đó cho thấy ÂM THANH của các từ hoàn toàn chuẩn xác — nó diễn giải các tầng nghĩa một cách chân thực và chính xác; và nhờ thế đôi tai được tiếp thu, và qua đôi tai, trái tim cũng được chạm đến.
Người Đức có vẻ không hề e ngại việc lặp lại một từ khi đó là từ chuẩn xác. Họ lặp lại nó vài lần, nếu họ muốn. Điều đó thật khôn ngoan. Nhưng trong tiếng Anh, khi chúng ta dùng một từ đôi ba lần trong một đoạn văn, chúng ta bắt đầu hoang tưởng rằng mình đang mắc bệnh lặp từ, và thế là chúng ta yếu mềm đến mức đem đổi nó lấy một từ khác chỉ mang nghĩa xấp xỉ để trốn chạy thứ mà chúng ta ngộ nhận là một vết nhơ lớn hơn. Sự lặp lại có thể là tồi tệ, nhưng chắc chắn sự thiếu chính xác còn tồi tệ hơn.
Trên đời có những kẻ sẵn sàng bỏ ra không ít công sức để chỉ ra những lỗi lầm trong một tôn giáo hay một ngôn ngữ, rồi thản nhiên quay về với công việc của mình mà chẳng đưa ra bất kỳ giải pháp khắc phục nào. Tôi không phải là con người kiểu đó. Tôi đã chỉ ra rằng ngôn ngữ Đức cần phải được cải cách. Rất hay, tôi đã sẵn sàng cải cách nó. Ít nhất tôi đã sẵn sàng đưa ra những đề xuất thích hợp. Một hành động thế này có thể xem là thiếu khiêm tốn ở người khác; nhưng tôi đã dành hơn chín tuần trọn vẹn, tính cả đầu lẫn cuối, cho việc nghiên cứu cẩn thận và phản biện thứ ngôn ngữ này, và qua đó đã bồi đắp được một niềm tin vững chắc vào khả năng cải cách nó — điều mà không một nền văn hóa hời hợt nào có thể ban phát cho tôi.
Trước hết, tôi sẽ loại bỏ Cách tặng (Dative). Nó làm rối tung các hình thái số nhiều lên, và vả lại, chẳng ai bao giờ biết được khi nào mình đang ở trong Cách tặng, trừ khi vô tình phát hiện ra nó — và rồi anh ta cũng chẳng biết mình đã lọt vào đó lúc nào, ở đâu, hay đã ở trong đó bao lâu, hoặc làm thế nào để thoát ra được nữa. Cách tặng chẳng qua chỉ là một thứ trò hề mang tính trang trí — tốt hơn hết là nên vứt xó nó đi.
Thứ hai, tôi sẽ dịch chuyển Động từ lên phía trước. Bạn có thể nạp đạn với một Động từ cừ khôi đến đâu đi nữa, nhưng tôi nhận ra rằng ở tầm bắn hiện tại của tiếng Đức, bạn chẳng bao giờ thực sự hạ gục được chủ ngữ — bạn chỉ làm nó tàn phế mà thôi. Thế nên tôi khăng khăng đòi đưa từ loại quan trọng này ra một vị trí mà người ta có thể dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thường.
Thứ ba, tôi sẽ nhập khẩu một số từ mạnh mẽ từ tiếng Anh — để chửi thề, và cũng để dùng trong việc mô tả tất cả các loại sự việc mạnh mẽ theo một cách thức đầy sung sức. [4]
4. "Verdammt" cùng các biến thể và mở rộng của nó là những từ có rất nhiều ý nghĩa, nhưng ÂM THANH lại quá nhẹ nhàng và bất lực đến mức phụ nữ Đức có thể sử dụng chúng mà không mang tội. Những phụ nữ Đức dường như không thể bị thuyết phục hay ép buộc phạm tội dưới bất kỳ hình thức nào lại sẵn sàng thốt ra một trong những từ nhỏ bé vô hại này khi váy của họ bị rách hoặc khi họ không thích món súp. Nó có âm thanh ác độc tương đương với câu "Trời ạ" ("My gracious") của chúng ta. Phụ nữ Đức liên tục thốt lên, "Ach! Gott!" "Mein Gott!" "Gott in Himmel!" "Herr Gott" "Der Herr Jesus!" v.v. Có lẽ họ nghĩ phụ nữ chúng ta cũng có thói quen tương tự; bởi vì tôi từng nghe một bà cụ người Đức dịu dàng và đáng yêu nói với một thiếu nữ Mỹ ngọt ngào rằng: "Hai thứ tiếng thật giống nhau làm sao — thật dễ chịu biết bao; chúng tôi nói 'Ach! Gott!' còn các bạn nói 'Goddamn'."
Thứ tư, tôi sẽ tổ chức lại các giống và phân bố chúng theo ý muốn của đấng tạo hóa. Điều này xem như một sự bày tỏ lòng kính trọng, nếu không vì mục đích gì khác.
Thứ diễn, tôi sẽ dẹp bỏ những từ ghép dài ngoằng ấy; hoặc bắt buộc người nói phải phát hành chúng theo từng phần, có kèm theo thời gian giải lao để nạp năng lượng. Hoàn toàn dẹp bỏ chúng là phương án tối ưu nhất, bởi vì tư duy sẽ dễ tiếp nhận và tiêu hóa hơn khi chúng đến từng cái một thay vì ập đến cả đống. Lương thực trí tuệ cũng giống như mọi thứ khác; việc nạp nó bằng thìa sẽ dễ chịu và có lợi hơn nhiều so với việc xúc bằng xẻng.
Thứ sáu, tôi sẽ bắt buộc người nói phải dừng lại khi đã kết thúc bài diễn văn, thay vì lê thê bám víu một chuỗi những từ vô tích sự "haven sind gewesen geschabt haben gewordens" vào cuối câu. Những thứ lòe loẹt kiểu này chỉ làm giảm đi sự trang nghiêm của bài phát biểu, thay vì tô điểm thêm nét duyên dáng. Do đó, chúng là một sự xúc phạm, và cần phải bị vứt bỏ.
Thứ bảy, tôi sẽ loại bỏ Dấu ngoặc đơn. Cả dấu ngoặc lồng ngoặc, dấu ngoặc lồng-lồng-ngoặc, và cả tỉ lần lồng ngoặc như thế, cùng với cả chiếc siêu ngoặc rộng lớn bao trùm ở đoạn cuối. Tôi sẽ yêu cầu mọi cá nhân, dù cao sang hay hèn kém, hãy triển khai một câu chuyện thẳng thắn, rạch ròi, nếu không thì hãy cuộn nó lại, ngồi lên trên và giữ im lặng. Những kẻ vi phạm luật này phải bị trừng phạt bằng hình thức tử hình.
Và thứ tám, cũng là điều cuối cùng, tôi sẽ giữ lại ZUG và SCHLAG, cùng với các từ phụ của chúng, và tống khứ phần còn lại của kho từ vựng. Điều này sẽ đơn giản hóa ngôn ngữ đi rất nhiều.
Tôi vừa điểm tên những thứ mà mình cho là các thay đổi cần thiết và quan trọng nhất. Có lẽ đây là tất cả những gì người ta có thể mong đợi tôi liệt kê miễn phí; nhưng vẫn còn những đề xuất khác mà tôi có thể và sẽ đưa ra trong trường hợp hồ sơ ứng tuyển của tôi được chính phủ chính thức thông qua để đảm nhận công cuộc cải cách ngôn ngữ.
Các nghiên cứu ngữ văn của tôi đã làm tôi thỏa mãn rằng một người có năng khiếu lẽ ra phải học xong tiếng Anh (trừ phần đánh vần và phát âm) trong ba mươi giờ, tiếng Pháp trong ba mươi ngày, và tiếng Đức trong ba mươi năm. Do đó, hiển nhiên là ngôn ngữ sau cần phải được tỉa tót và sửa chữa lại. Nếu nó cứ tiếp tục duy trì hiện trạng như thế này, tốt hơn hết nên nhẹ nhàng và thành kính xếp nó vào hàng ngũ các ngôn ngữ chết, bởi vì chỉ có người chết mới có đủ thời gian để học nó.
MỘT BÀI DIỄN VĂN NGÀY QUỐC KHÁNH 4 THÁNG TƯ BẰNG TIẾNG ĐỨC, ĐƯỢC TRÌNH BÀY TẠI BỮA TIỆC CỦA CÂU LẠC BỘ SINH VIÊN ANH-MỸ BỞI TÁC GIẢ CUỐN SÁCH NÀY
Thưa các quý ông: Kể từ khi tôi đặt chân đến vùng đất thần tiên cổ kính này, khu vườn rộng lớn của nước Đức, cách đây một tháng, chiếc lưỡi tiếng Anh của tôi đã quá nhiều lần chứng minh nó chỉ là một món hành lý vô dụng, mang theo vô cùng vướng víu tại một quốc gia không áp dụng hệ thống gửi hành lý, đến mức cuối cùng tôi đã bắt tay vào việc và học lấy tiếng Đức. Also! Es freut mich dass dies so ist, denn es muss, in ein hauptsächlich degree, höflich sein, dass man auf ein occasion like this, sein Rede in die Sprache des Landes worin he boards, aussprechen soll. Dafuer habe ich, aus reinische Verlegenheit — no, Vergangenheit — no, I mean Höflichkeit — aus reinishe Höflichkeit habe ich resolved to tackle this business in the German language, um Gottes willen! Also! Sie muessen so freundlich sein, und verzeih mich die interlarding von ein oder zwei Englischer Worte, hie und da, denn ich finde dass die deutsche is not a very copious language, and so when you've really got anything to say, you've got to draw on a language that can stand the strain.
Wenn haber man kann nicht meinem Rede Verstehen, so werde ich ihm dasselbe uebersetz, wenn er solche Dienst verlangen wollen haben werden sollen sein hätte. (Tôi chẳng biết wollen haben werden sollen sein hätte có nghĩa là gì, nhưng tôi nhận thấy họ luôn tống nó vào cuối một câu tiếng Đức — chỉ để tạo vẻ rực rỡ mang tính văn học đại chúng, tôi đoán thế.)
Hôm nay là một ngày vĩ đại và đáng kính — một ngày xứng đáng với sự tôn sùng mà các nhà ái quốc chân chính thuộc mọi tầng lớp và quốc tịch dành cho nó — một ngày cung cấp một chủ đề phong phú cho suy ngẫm và phát biểu; und meinem Freunde — no, meinEN FreundEN — meinES FreundES — chà, hãy chọn lấy một từ đi, giá tiền như nhau cả; tôi chẳng biết từ nào mới là đúng — also! ich habe gehabt haben worden gewesen sein, như Goethe đã nói trong tác phẩm Thiên đường đã mất — ich — ich — nghĩa là — ich — thôi chúng ta đổi toa tàu đi.
Also! Die Anblich so viele Grossbrittanischer und Amerikanischer hier zusammengetroffen in Bruderliche concord, quả thực là một cảnh tượng đáng hoan nghênh và đầy phấn khích. Và điều gì đã thúc đẩy các bạn đến đây? Liệu ngôn ngữ Đức ngắn gọn có vươn tới việc diễn đạt xung lực này không? Nó chính là Freundschaftsbezeigungenstadtverordnetenversammlungenfamilieneigenthümlichkeiten chăng? Nein, O nein! Đây là một từ sắc sảo và cao quý, nhưng nó lại thất bại trong việc đâm thấu vào tận xương tủy của xung lực đã quy tụ buổi họp mặt thân thiện này và tạo ra diese Anblick — eine Anblick welche ist gut zu sehen — gut fuer die Augen trong một vùng đất xa lạ và một đất nước xa xôi — eine Anblick solche als in die gewöhnliche Heidelberger phrase nennt man ein "schönes Aussicht!" Ja, freilich natürlich wahrscheinlich ebensowohl! Also! Die Aussicht auf dem Koenigsstuhl mehr grösser ist, aber geistlische sprechend nicht so schön, lob' Gott! Bởi vì các bạn đã tề tựu nơi đây, trong sự hòa hợp huynh đệ, để kỷ niệm một ngày trọng đại, mà những lợi ích cao cả của nó không dành riêng cho một vùng đất hay một địa phương nào, mà đã ban phát một lượng phước lành cho tất cả các quốc gia ngày nay biết trân trọng tự do và yêu quý nó. Hundert Jahre vorueber, waren die Engländer und die Amerikaner Feinde; aber heut sind sie herzlichen Freunde, Gott sei Dank! Nguyện cho tình bằng hữu này trường tồn; nguyện cho những lá cờ hòa quyện trong tình thân ái này mãi mãi tung bay; nguyện cho chúng không bao giờ còn phải phấp phới trên những chiến tuyến đối đầu, hay bị vấy bẩn bởi dòng máu vốn là anh em, đang là anh em, và sẽ mãi mãi là anh em, cho đến khi một vạch kẻ trên bản đồ có thể cất tiếng nói rằng: "ĐIỀU NÀY ngăn cản dòng máu tổ tiên chảy trong huyết quản của hậu duệ!"