Bầu trời đầy lá vàng và những quả mọng màu xanh từ đám liễu rơi lả tả, nhưng các cành cây thì vẫn còn nguyên. Khi con Nâu lớn chuồi lên khỏi bụi cây, nó làm rối dây ở mỗi cành cây mà nó đi qua. Nó đan bụi cây lại thành một mớ bòng bong với đầy các nút dẹt, nút ghế đơn và nút một vòng hai khóa.
Không có tai họa nào bất ngờ với thể xác và tâm hồn hơn việc để vuột mất một con cá to, bởi vì kết quả sau cùng là một sự chuyển đổi nhỏ giữa sự sống và cái chết. Nhưng với một con cá to, trong một khoảnh khắc, nó là trung tâm của thế giới, nhưng một tích tắc sau, nó đã biến mất. Chỉ có vậy. Nó đã vuột mất rồi. Con cá đã vuột khỏi tay còn trái tim bạn thì tan vỡ, chỉ còn lại một que củi nặng hai trăm tám mươi gram, ở đầu cột một sợi dây câu và một đoạn dây đan vợt trong mờ, ở cuối là một phân thép Thụy Điển nhỏ uốn cong, có cột một đoạn lông cổ gà.
Tôi thậm chí còn không hiểu nổi nó đã thoát thân bằng cách nào. Theo những gì tôi biết, có lẽ nó đã phóng thẳng lên bụi cây và tan thành mây khói.
Tôi lội ra phía bụi cây để xem có dấu hiệu thực nào còn lưu lại không. Có một đoạn nhợ câu vướng xung quanh, nhưng do tay tôi run quá nên không tháo được những đoạn rối phức tạp thít lấy những cành cây.
Ngay cả Moses có thể còn run hơn khi bụi cây phủ lên người cậu[1]. Cuối cùng, tôi tháo đoạn cước trong khỏi dây câu và bỏ mớ dây rối vướng trong đám liễu.
Các nhà thơ nói về “khoảnh khắc”, nhưng chính những người câu cá mới thật sự trải nghiệm sự vĩnh hằng được nén lại thành một khoảnh khắc. Không ai thật sự biết khoảnh khắc là gì cho đến khi toàn bộ thế giới bất chợt kết tinh vào một con cá và con cá đột nhiên biến mất. Tôi sẽ nhớ mãi thằng khốn kiếp ấy.
Một giọng nói đột ngột vang lên: “Con cá to đấy”. Đó có thể là giọng nói của em trai tôi, cũng có thể là của con cá từ không trung bay trở lại và khoác lác về chính mình sau lưng tôi. Tôi quay người lại và bảo với Paul: “Anh đã để vuột mất nó”. Nó đã chứng kiến tất cả, vì thế, nếu tôi biết điều gì khác thì hẳn tôi đã kể với nó. Nhưng thay vì vậy, tôi lặp lại: “Anh đã để vuột mất nó”. Tôi nhìn xuống đôi bàn tay, và lòng bàn tay ngửa lên như thể đang cầu xin.
“Không thể làm được gì hơn” - Em tôi nói - “Anh không thể câu cá to trong bụi rậm. Thật ra, em chưa thấy ai cố làm như vậy trước đây”.
Tôi hiểu nó đang cố an ủi tôi, đặc biệt là khi tôi không thể dằn lòng không dòm mấy cặp đuôi nâu tổ bố với những chấm đen khổng lồ ló ra khỏi cái giỏ câu của nó. “Em đã câu mấy con cá của em như thế nào?” - Tôi hỏi. Tôi rất kích động, và hỏi bất cứ đều gì tôi muốn biết.
“Em câu nó ở dòng nước nông, quang đãng, ở nơi không có bụi cây”.
“Những con cá to như vậy ở chỗ nước nông và quang sao?”.
“Đúng, những con Nâu lớn. Mọi người quen câu bọn Cầu Vồng ở dòng nước lớn. Nhưng bọn Nâu lớn thường kiếm ăn dọc theo bờ của các trảng cỏ, nơi có châu chấu và thậm chí cả chuột nhắt rơi xuống nước. Nên đi dọc dòng nước nông cho đến khi ta có thể thấy những cái lưng đen trồi lên khỏi nước và bùn bị vẩn lên”.
Điều này càng làm tôi mất tinh thần hơn. Tôi nghĩ rằng mình đã câu một cách hoàn hảo và đúng theo cách em trai tôi đã chỉ, trừ việc nó không nói trước với tôi là phải làm gì khi một con cá phóng lên cây. Đó là một rắc rối của việc quẩn quanh một bậc thầy - kẻ mà bạn học được một điều gì đó từ anh ta, ví dụ cách quăng câu vào một bụi cây, nhưng bạn lại sử dụng chiêu này khi bậc thầy ấy thì làm ngược lại.
Tôi vẫn còn bị kích động. Vẫn còn một khoảng trống rất lớn bên trong tôi cần phải lấp đầy và một lời đáp cho một câu hỏi khác. Cho đến trước khi bật ra câu hỏi, tôi vẫn chưa biết phải hỏi thế nào. “Anh có thể giúp em tiền hay bất cứ điều gì không?” - Tôi hỏi.
Hoảng hốt trước lời mình vừa thốt ra, tôi cố gắng trấn tĩnh nhanh. Thay vì vậy, tôi lại càng làm cho sai lầm trở nên trầm trọng hơn. “Anh nghĩ em có thể cần giúp đỡ vì chuyện đêm hôm trước”.
Sợ Paul có thể hiểu lầm ý tôi về chuyện đêm hôm trước thành về cô bạn gái da đỏ của nó, tôi đổi đề tài: “Anh nghĩ có thể em sẽ tốn nhiều tiền để sửa lại cái đầu xe sau cái đêm đuổi theo con thỏ”. Bây giờ thì tôi đã phạm ba sai lầm.
Paul hành động như thể cha chúng tôi đề nghị đút cho nó ăn một bát cháo bột yến mạch. Nó cúi đầu yên lặng cho đến khi chắc chắn là tôi sẽ không nói điều gì nữa. Sau đó nó nói: “Trời sắp mưa rồi”.
Tôi liếc nhìn bầu trời. Tôi đã quên bẵng bầu trời kể từ khi cả thể giới sà xuống không cao hơn bụi cây. Tất nhiên vẫn có bầu trời ở phía trên, nhưng tất cả đã biến thành một đám mây đen hẳn là quá nặng đối với hẻm núi này.
Em tôi lại hỏi: “Neal đâu?”
Câu hỏi làm tôi bất ngờ, và tôi phải nghĩ một lúc mới nhớ ra. Cuối cùng, tôi bảo: “Anh bỏ hắn ở khúc cua đầu tiên”.
“Anh sẽ gặp rắc rối với chuyện này” - Em trai tôi cảnh báo.
Lời cảnh báo đó đưa tôi trở lại thực tại đến đoạn chiếc xe tải nửa tấn và mấy người phụ nữ Scotland. “Anh biết” - Tôi nói, và bắt đầu thu dọn cần câu. “Đã đủ cho ngày hôm nay rồi” - Tôi nói tiếp, đầu cúi xuống cái cần.
Paul hỏi: “Anh câu được đủ số chưa?”. Tôi đáp: “Chưa” - Mặc dù tôi biết nó muốn hỏi có phải tôi còn nhiều rắc rối phía trước, cho dù có kiếm được đủ số chăng nữa. Đối với những người phụ nữ không biết câu cá, người đàn ông trở về nhà mà không kiếm đủ số là đồ thất bại.
Em trai tôi cũng suy nghĩ theo cách đó. Nó nói: “Anh chỉ mất vài phút để kiếm đủ số với mấy con Hồi Suối. Bọn chúng vẫn đang nhảy nhót khắp nơi kìa. Em chưa hút xong một điếu thuốc thì anh đã câu thêm được sáu con nữa rồi”.
Tôi đáp lời: “Cám ơn em, nhưng đã đủ cho ngày hôm nay rồi” - Trong thâm tâm, tôi biết nó không hiểu nổi tại sao kiếm thêm sáu con Hồi Suối nhỏ cũng không làm thay đổi được cái nhìn của tôi về cuộc đời. Cho đến giờ phút này, hôm nay rõ ràng là một ngày mà thế giới bên ngoài không để cho tôi làm điều tôi thật sự muốn làm - câu một con Hồi Nâu lớn và nói chuyện với em trai tôi theo một cách hữu ích hơn. Thay vào đó là một bụi cây rỗng không và trời thì sắp mưa.
Paul rủ tôi: “Nào, chúng ta hãy đi tìm Neal”. Sau đó nó nói tiếp: “Lẽ ra anh không nên để hắn lại phía sau”.
“Cái gì?” - Tôi hỏi.
“Anh nên cố mà giúp hắn” - Em trai tôi trả lời.
Tôi có thể tìm ra từ nhưng không tạo thành câu cho phù hợp được. “Anh không bỏ hắn. Hắn không thích anh. Hắn không thích Montana. Hắn bỏ anh để đi câu bằng mồi sống. Thậm chí hắn còn không thể câu bằng mồi sống. Anh... anh không thích bất cứ điều gì ở hắn”.
Tôi có thể cảm nhận toàn bộ sự kích động của mình khi để vuột mất con cá lớn đi qua một biến tần và chuyển thành nỗi giận dữ đối với gã anh vợ tôi. Tôi cũng có thể cảm thấy rằng mình đang lặp lại ngay cả khi không nói lại cùng một câu. Ngay cả như vậy, tôi vẫn hỏi: “Em nghĩ anh có nên giúp hắn không?”.
“Nên chứ. Em nghĩ chúng ta nên giúp hắn”. “Bằng cách nào?”
“Dắt hắn đi câu cùng chúng ta”.
“Anh vừa bảo em. Hắn không thích câu cá”.
“Có thể là như vậy. Nhưng có thể hắn thích ai đó cố giúp hắn”.
Tôi vẫn không hiểu nổi em tôi. Bản thân nó luôn luôn từ chối bất cứ đề nghị giúp đỡ nào, nhưng bằng một cách tinh tế, nó chắc chắn đang đề cập đến mình khi nói về việc Neal cần giúp đỡ. Nó nói: “Nào, chúng ta hãy đi tìm hắn trước khi hắn bị lạc trong cơn bão”. Nó cố quàng tay qua vai tôi nhưng cái giỏ câu có cái đuôi to thò ra ngoài xen giữa chúng tôi làm cho khó choàng qua được. Cả hai chúng tôi đều có vẻ lóng ngóng - đối với tôi là việc cố đề nghị giúp em trai, còn đối với nó là việc cố cám ơn tôi về việc đó.
“Chúng ta hãy nhanh chân nhanh tay nào” - Tôi giục giã. Chúng tôi gặp một con đường mòn và bắt đầu đi lên phía thượng nguồn. Đám mây đen đang chiếm lĩnh hoàn toàn hẻm núi. Kích thước của thế giới bị nén lại chỉ còn khoảng 270 x 270 x 270m. Hẳn đã xảy ra tình trạng giống như thế này vào năm 1949, khi ngọn lửa khổng lồ từ khe Mann, khe núi kế tiếp ở quãng trên của sông Missouri, quét qua Phân tuyến lục địa, vào nhánh sông Elkhorn. Khe Mann là nơi Lực lượng Kiểm lâm đã thả xuống mười sáu trong số những tay nhảy dù chữa cháy giỏi, mười ba người trong số ấy sau đó phải được nhận dạng bằng răng. Đó cũng là cách cơn bão tràn xuống nhánh sông Elkhorn - quét sạch, phá sạch.
Như thể lũ cá đã được thông báo trước, không một con nào còn nhảy nhót nữa. Sau đó thì gió kéo đến. Con nước rời dòng suối nhảy lên bụi cây, giống như con cá của tôi vậy. Bầu không khí dọc theo con suối đầy những lá liễu và quả xanh. Sau đó, bầu không khí biến mất khỏi tầm nhìn. Nó chỉ còn hiện hữu như những hình nón và cành cây quất vào mặt tôi rồi tiếp tục nghiêng ngả.
Cơn bão đến như một con ngựa hoang, chồm qua chúng tôi.
Chúng tôi bắt đầu băng qua trảng cỏ ở khúc quanh để tìm Neal, nhưng chẳng bao lâu, chúng tôi thậm chí không chắc chắn mình đang ở đâu. Đôi môi tôi ướt nước mưa. “Gã khốn không có ở đây” - Tôi nói, mặc dù cả hai chúng tôi đều không biết chính xác “đây” là đâu. Em tôi bác lại: “Không, hắn ở đó”. Sau đó nó nói tiếp: “Và khô ráo”. Vì thế chúng tôi đều biết “đó” là ở đâu.
Vào lúc chúng tôi quay lại chiếc xe tải, cơn mưa đã đều hạt, và giờ được kiểm soát bởi trọng lực. Tôi và Paul lôi thuốc lá và diêm từ bên trong mũ ra hong, nhưng tôi có thể cảm thấy nước đang chảy quanh các chân tóc của tôi.
Chiếc xe hiện ra trong cơn bão như thể trở về từ thời khẩn hoang, trông như một cỗ xe ngựa phủ bạt bị cơn mưa bao vây tứ phía. Ken hẳn là đã gấp rút trở về từ những con đập hải ly, kịp lúc để lấy ra vài tấm vải dầu cũ, chặt vài cây cọc rồi trải vải dầu lên trên thùng xe. Chính tôi chứ không phải em tôi là người đầu tiên ló đầu qua lớp vải và trở thành “gã da đen tinh ranh” trong màn phụ ở các rạp xiếc cũ, người ló đầu khỏi lớp màn hậu cảnh mà ai cũng có thể bỏ ra mười xu để ném một quả bóng chày vào mặt. Tuy nhiên, với cái đầu vẫn còn chui trong lỗ thủng, tôi cứng người, bất lực, không thể né được bất cứ thứ gì có thể ném vào đầu tôi hay thậm chí không thể xác định được trật tự mà mọi thứ xuất hiện. Trật tự thật sự hóa ra không theo như sự chọn lựa của tôi.
Đầu tiên là những người phụ nữ hiện ra và sau đó là cái nệm cũ. Những người phụ nữ hiện ra trước là vì hai người cầm dao cắt thịt, người còn lại - vợ tôi - cầm một cái nĩa dài, tất cả đều sáng lấp lóa trong bóng tối nhờ nhờ bên dưới tấm vải dầu. Mấy người phụ nữ ngồi xổm trên thùng xe, đang làm bánh mì kẹp thịt cho đến khi họ thấy đầu tôi xuất hiện giống như một mục tiêu trên tấm vải bạt. Sau đó họ chĩa các loại dao, nĩa về phía tôi.
Ở giữa thùng xe có một chỗ dột nơi tấm vải dầu bị sờn và không kín. Phía sau cùng của thùng xe là cái nệm cũ, nhưng do các loại dao, nĩa che khuất nên tôi không nhìn thấy chi tiết.
Vợ tôi nói trong khi vẫn còn chĩa cái nĩa dài về phía tôi: “Anh đi mất và bỏ rơi anh ấy”.
Mẹ vợ tôi thì nói khi đang liếc con dao vào cái que mài: “Tội nghiệp thằng bé, nó không được khỏe. Nó phơi nắng quá lâu”.
Bằng những từ có thể thốt ra khi cổ họng phơi ra trước mũi dao, tôi hỏi: “Anh ấy nói với mẹ vậy à?”.
“Đúng, thằng bé tội nghiệp” - Bà mẹ vợ của tôi đáp và ngọ nguậy di chuyển về phía sau của thùng xe rồi vỗ đầu gã con trai của mình bằng một tay, trong khi nắm chắc con dao cắt thịt ở tay kia. Bị vướng tay, bà bỏ con dao ra phía sau.
Chỗ hở giữa các tấm giấy dầu làm nước chảy vào nhiều nhưng ánh sáng lại không lọt vào mấy, do đó phải mất một lúc lâu, mắt tôi mới quen với bóng tối để nhìn thấy gã anh vợ tôi đang nằm trên tấm nệm. Ánh sáng trước tiên làm nổi lên lông mày của hắn, trông thanh thản nhưng xanh xao. Lông mày tôi cũng sẽ như vậy nếu mẹ tôi dành cả đời làm bánh kẹp thịt cho tôi và bảo bọc tôi trước cuộc đời.
Em trai tôi ló đầu qua tấm vải và đứng cạnh tôi. Điều đó làm cho tôi cảm thấy an tâm hơn khi có một đại diện của gia đình tôi hiện diện. Tôi thầm nghĩ: “Một ngày nào đó, tôi hy vọng có thể giúp được nó nhiều như vậy”.
Mấy người phụ nữ làm cho em trai tôi một cái bánh kẹp thịt. Cũng như tôi, đầu và vai thì được che, nhưng phần còn lại thì vẫn ở ngoài cơn mưa như trút nước; Paul cũng thế. Không ai có ý định dịch người để dồn lại gần nhau hơn, như vậy có thể dành chỗ cho chúng tôi ở bên trong. Gã khốn được dành hẳn phần phía trên của thùng xe. Thay vì nằm dài hết tấm nệm, hắn chỉ cần ngồi lên.
Ở bên ngoài, nước tuôn xuống lưng tôi trên một mặt phẳng rộng, dồn vào một con rãnh hẹp chảy dọc xương cùng, rồi sau đó chẻ làm hai nhánh và đổ vào vớ của tôi. Khi những người phụ nữ không sử dụng dao kéo để làm bánh kẹp thịt cho Neal thì họ lại chĩa về phía tôi. Tôi có thể ngửi thấy mùi tất cả những cái bánh kẹp mà họ không làm cho tôi, mùi nước dột chảy qua tấm bạt và hơi người chen chúc nhau bốc lên; tôi cũng có thể ngửi thấy mùi bữa rượu túy lúy tối qua bốc lên từ cái nệm cũ. Có lẽ bạn cũng biết người da đỏ dựng những phòng tắm hơi của họ trên bờ sông. Sau khi vã mồ hôi đầm đìa, họ lập tức nhảy xuống dòng nước lạnh ở bên ngoài, và có lẽ cũng cần nói thêm: đôi khi họ đã bị chết ngay lập tức. Tôi cảm thấy rằng cùng lúc, tôi là hai nửa của chính mình, một nửa ở trong phòng tắm hơi, một nửa đang ở dưới dòng sông lạnh giá và sắp chết.
Trước khi chết, trong đầu tôi nảy ra một loạt những ý nghĩ cuối cùng. “Làm sao gã khốn đó lại phơi nắng quá nhiều được? Gã khốn chưa chứng kiến quá vài tiếng trời nắng kể từ khi hắn rời Montana để sang Bờ Tây”. Tôi có một ý nghĩ đặc biệt về vợ tôi. Tôi nói hết mọi điều với vợ tôi trong ý nghĩ: “Anh không bỏ anh của em. Chính anh của em, gã khốn, mới bỏ anh”. Tất nhiên tất cả những điều này chỉ là trong suy nghĩ. Với mẹ vợ tôi, tôi cố gắng nghĩ đến lần bà ta hẳn đã phạm tội ngoại tình. Với cả vợ và mẹ vợ tôi, tôi nghĩ: “Vấn đề duy nhất của gã khốn là tất cả chất chống đông mà hắn đổ vào bộ tản nhiệt của hắn ở quán Dùi Cui tối hôm qua đã cạn hết rồi.
Mưa suốt đường về Wolf Creek, và chúng tôi bị sa lầy suốt dọc đường từ nhánh sông Elkhorn đến trại của Jim McGregor, nơi con đường bắt đầu được trải sỏi. Tất nhiên, Ken lái xe, còn tôi và Paul đẩy. Tôi đẩy xe với cái bụng rỗng không. Ngay trước khi tôi cảm thấy hai bên sườn mình gãy gập, tôi đi vòng ra phía tài xế và hỏi: “Ken, có thể nào lôi anh trai em dậy khỏi cái nệm để giúp bọn anh đẩy xe không?”
Ken trả lời tôi: “Anh biết nhiều về xe tải mà. Anh biết em phải có trọng lượng dằn ở đuôi xe, nếu không, bánh sau sẽ chỉ xoay tít mà không kéo chúng ta ra khỏi bùn được”. Tôi quay lại phía sau, và tôi cùng Paul phải đẩy cái trọng lượng dằn ấy đến trại. Đẩy xuống dốc cũng cực như đẩy lên dốc vậy. Lẽ ra chúng tôi cũng đã có thể đến phía đông Montana để đẩy một chiếc xe tải nửa tấn cộng với trọng lượng dằn lên đến sông Powder, nơi họ phát minh ra bùn lầy.
Khi chúng tôi về đến Wolf Creek, Paul ở lại để giúp tôi dỡ đồ ra khỏi xe, đồ đạc giờ đây nặng chịch do đẫm bùn và nước. Chúng tôi dỡ cái nệm sau cùng. Sau đó, tôi chuẩn bị đi ngủ, người ngợm rã rời, hoặc có thể chỉ là kiệt sức do đói; còn Paul về Helena. Trên đường lê về phòng, tôi gặp Neal và mẹ của hắn ở cửa trước. “Trọng lượng dằn” đã mặc hai cái áo len cúp Davis đỏ-trắng-xanh. Hắn đang nói dối mẹ hắn khi bị bà bắt gặp chuẩn bị lẻn ra ngoài. Hắn trông chưa bao giờ khỏe hơn thế. Tôi biết có hai cái kiện gỗ rất vui mừng được gặp hắn.
Tôi lên giường và chống lại cơn buồn ngủ cho đến khi đủ sáng suốt để đi đến một kết luận tương đối hiển nhiên và củng cố lại thành một câu: “Nếu tôi không đi khỏi nhà vợ trong vài ngày thì tôi sẽ không còn vợ nữa”. Vì thế sáng hôm sau, tôi gọi điện cho em trai tôi từ cửa hàng tạp phẩm để không ai bên nhà vợ nghe thấy. Tôi hỏi nó có còn ngày phép hè chưa nghỉ không, vì tôi cần đến hồ Seeley một thời gian.
Hồ Seeley là nơi chúng tôi có nhà nghỉ hè. Nó chỉ cách hẻm núi Blackfoot hai mươi bảy cây số và cách sông Swan cũng không xa hơn. Sông Swan đẹp như cái tên Thiên Nga của mình, vì nó trôi bềnh bồng cạnh sông băng Mission. Tôi nghĩ em trai tôi vẫn còn cảm nhận được trận mưa ngày hôm qua chảy xuống lưng mình khi không có ai dịch người để cho chúng tôi bò vào dưới tấm vải dầu, vì thế nó hiểu điều gì đang diễn ra trong đầu tôi. Dù sao chăng nữa, nó cũng trả lời tôi: “Em sẽ hỏi ông sếp”.
Đêm đó, tôi hỏi vợ tôi một câu - khi muốn thỏa thuận với cô ấy, tôi sẽ dễ làm chủ tình thế hơn nếu dùng một câu hỏi, thay vì một loạt câu tuyên bố. Vì thế tôi hỏi vợ tôi: “Em có nghĩ sẽ là một ý hay nếu anh và Paul đến hồ Seeley vài ngày không?”. Cô ấy nhìn xuyên thẳng qua tôi và đáp: “Có”.
Tôi vẫn sống sót qua ngày hôm sau. Ngày hôm sau nữa, khi Paul và tôi vượt qua Phân tuyến lục địa và bỏ lại thế giới phía sau, tôi vẫn chưa ngừng suy nghĩ. Nhưng vào khoảnh khắc chúng tôi bắt đầu sang phía bờ Thái Bình Dương, Paul bắt đầu kể cho tôi nghe về cô bạn gái mà nó mới quen. Tôi nghe một cách lơ đãng, chờ dịp để nói sang chuyện khác.
Tôi đã từng trải qua cảnh ngộ đó. Có lẽ nó đang kể câu chuyện tôi không thích nghe nhưng sẽ đỡ hơn nếu lần đầu tôi đọc được trên báo - hoặc có lẽ tôi đang phí thời gian nghi ngờ - có lẽ nó chỉ là đứa em của tôi, một nhà báo đang tiết lộ những mẩu tin quá riêng tư hay quá thơ mộng không thể đưa lên báo được.
“Cô ấy rất buồn cười” - Nó nói, khi chúng tôi rõ ràng đang lao xuống sườn phía tây của lục địa Bắc Mỹ. “Đúng” - Nó nói như thể tôi đã bình luận gì đó - “cô ấy rất buồn cười. Nơi duy nhất mà cô ấy để cho em làm tình là ở phòng thay đồ nam của nhà tập thể thao trường trung học”.
Và Paul nói tiếp như thể đáp lại lời tôi, hoặc cũng có thể là như vậy thật. “Ồ, cô ấy tính toán mọi thứ. Cô ấy biết một cái cửa sổ nhà vệ sinh nam không bao giờ đóng và em đẩy cô ấy lên rồi sau đó cô ấy chồm xuống và kéo em lên”.
Nó nói tiếp một mình: “Cô ấy muốn em làm tình với cô ấy trên cái bàn xoa bóp”.
Suốt quãng đường đến hồ Seeley, tôi cố lý giải không biết Paul muốn kể rằng mình đang gặp rắc rối với một cô gái nào đó, hay qua đó, nó muốn ám chỉ rằng tôi vẫn tiếp tục buông thả cuộc sống tinh thần của mình, mặc dù tôi đã đi lấy vợ. Tôi cứ nghĩ miên man cho đến khi có thể ngửi thấy mùi gỗ phỉ, rượu xoa bóp, máy sưởi với đồ tập sũng mồ hôi phơi ở trên, và các ngăn tủ của nam sinh sẽ không được lau dọn bên trong cho đến tận cuối mùa giải bóng bầu dục.
Tôi nhủ thầm: “Bây giờ ở đây nóng như quỷ. Câu cá sẽ không thuận lợi lắm. Bọn cá sẽ nằm hết dưới đáy”. Sau đó, tôi cố hình dung một con cá nằm ngửa trên bàn xoa bóp. Thật khó giữ cho dòng suy nghĩ được liền mạch mà không bị phân tâm với hình ảnh con cá giúp người câu cá chui qua cửa sổ nhà vệ sinh của phòng thay đồ nam. Vào lúc đó, chúng tôi lái vào một rừng thông rụng lá là nơi có nhà nghỉ của chúng tôi. Đột nhiên không khí mát dịu. Rừng thông này khoảng tám trăm đến một ngàn hai trăm năm tuổi, cây cao bóng cả ngăn cản hơi nóng luồn vào. Chúng tôi chưa dỡ hàng ra khỏi xe mà đi bơi ngay.
Sau khi đã thay đồ nhưng chưa chải đầu, chúng tôi mang quần bơi ra treo ở dây phơi đồ giăng giữa hai cây bóng nước. Sợi dây được cột cao để hươu không vướng sừng vào đó, vì thế, khi tôi đang đứng nhón gót để cố kẹp quần áo thì bỗng nghe tiếng xe hơi rẽ từ đường Kiểm lâm vào lối nhà chúng tôi.
Em trai tôi bảo: “Đừng ngoái lại”.
Chiếc xe chạy đến ngay sau lưng tôi thì dừng lại. Động cơ của nó hổn hển thở ra hơi nóng. Nhưng ngay cả nếu nó phả hơi vào lưng thì tôi cũng không quay lại nhìn. Có ai đó rơi ra khỏi cửa trước.
Khi tôi ngoái nhìn, tay vẫn còn cầm chiếc kẹp quần áo, tôi nhận ra mình đã lầm khi nghĩ rằng có ai đó ngã ra khỏi cửa trước, bởi vì chiếc xe không có cửa trước. Mặc dù vậy, nó vẫn có sàn xe ở phía trước, và trên sàn có một lon cà phê Hill Bros., một chai 3-7-77 và một chai sâm banh dâu. Ở Montana, chúng tôi không quan tâm đến vị rượu whisky nếu chúng tôi có thể kiếm được sâm banh dâu để át mùi.
Trời đang vào giữa trưa, cứ như khung cảnh trong một bộ phim viễn Tây. Anh vợ tôi ngật ngưỡng ở tay lái, có lẽ giống như suốt quãng đường từ Wolf Creek đến đây.
Da Sống Cũ nhấc mình lên khỏi đám lá kim - nơi ả ta đã ngã vào, ngó quanh để định hướng lại, rồi bắt đầu bước thẳng đến chỗ tôi. Ả ta hẳn sẽ tông vào em trai tôi nếu nó không miễn cưỡng tránh đường.
“Rất vui được gặp anh” - Ả nói với tôi, vươn người về phía bàn tay tôi đang cầm cái kẹp quần áo. Như cái máy, tôi chuyển cái kẹp sang tay kia để ả có thể bắt bàn tay mà ả đang muốn bắt.
Đôi khi thứ trước mặt bạn to lớn đến nỗi bạn không biết liệu có nên nhận thức nó bằng cách nhìn lướt tổng thể trước, sau đó mới lắp ráp hay thêm vào các mảnh ghép, cho đến khi trong đầu bạn lóe lên khái niệm nó là gì. Tôi chỉ lắp vài mảnh ghép với nhau trước khi một giọng nói trong tôi cất lên: “Mình sẽ không bao giờ làm Paul tin được rằng mình không kéo nó vào vụ này”.
“Anh khỏe không?” - Ả hỏi - “Tôi đưa Anh Giai đi câu cùng anh”.
Ả luôn gọi Neal là “Anh Giai”. Ả đã ngủ với quá nhiều đàn ông đến nỗi vấn đề nhớ tên của họ làm ả mệt óc. Đến giờ, tất cả mọi người đàn ông - ngoài Dùi Cui, Cung Dài và hai nghệ sĩ cưỡi ngựa ném dây - ả đều gọi là Anh Giai, trừ tôi thì ả chỉ gọi là “anh”. Ả có thể nhớ tôi nhưng ả không bao giờ có thể nhớ rằng đã gặp tôi.
“Anh Giai không còn tiền nữa. Anh ấy cần anh giúp” - Ả nói.
Paul bảo tôi: “Giúp anh ta đi”.
Tôi hỏi: “Anh ấy cần bao nhiêu tiền?”
“Chúng tôi chẳng cần tiền của anh. Chúng tôi muốn đi câu với các anh”.
Ả Da Sống Cũ đang uống whisky hồng bằng cái ly giấy cũng màu hồng. Tôi đi đến chiếc xe và hỏi vào cái cửa sổ kế bên chỗ tài xế: “Anh có muốn đi câu không?”
Rõ ràng gã anh vợ tôi đã học thuộc lòng một câu để đề phòng trường hợp không nghe thấy gì. Hắn trả lời: “Tôi muốn đi câu với chú và Paul”.
Tôi bảo hắn: “Giờ quá nóng, chưa thể đi câu được”. Bụi vẫn còn cuốn qua rừng từ ngã rẽ ở con đường sỏi đến lối vào nhà chúng tôi.
Gã anh vợ tôi lặp lại: “Tôi muốn đi câu cùng chú và Paul”.
Paul nói: “Vậy thì đi”.
Tôi bảo Paul: “Tất cả lên xe của chúng ta, anh sẽ lái”.
Paul dành phần: “Để em lái cho”. Và tôi đồng ý.
Da Sống Cũ và Neal không thích ý tưởng tất cả đi bằng xe của chúng tôi. Tôi nghĩ chúng muốn ở một mình nhưng lại sợ và chán ở một mình nên muốn chúng tôi ở gần đó, nhưng không phải là ở băng trước. Tôi và Paul không tranh luận. Nó ngồi vào ghế tài xế còn tôi ngồi kế bên, còn hai đứa bọn chúng thì lầm bầm. Cuối cùng, Da Sống Cũ bắt đầu chuyển đồ của chúng sang băng ghế sau xe tôi - đầu tiên là chai sâm banh hồng rồi sau đó là lon cà phê Hills Bros.
Tôi nghĩ ngay từ đầu mình đã để ý thấy chúng không đem theo cần câu. Nếu là ai khác lái xe, tôi đã bảo chờ một chút để tôi kiểm tra lại xem chúng có bỏ quên cần câu bên xe chúng không, nhưng đối với Paul thì không thể khoan dung với người đi câu mà bỏ quên đồ câu của mình. Nó tỏ ra dịu dàng với tôi và nhanh chóng đề nghị giúp đỡ chúng, và không hề có ý sẽ cư xử thô lỗ khi phải đưa chúng đi câu vào giữa trưa, khi tất cả cá đều đang nằm nghỉ dưới đáy nước; nhưng sẽ quá tệ cho chúng nếu chúng chẳng để tâm đủ để có thể câu được khi đến đó.
Chúng dựa vào nhau và ngủ. Tôi thấy may mắn là mình không phải cầm lái - tôi còn quá nhiều thứ phải suy ngẫm. Ví dụ, tôi ngẫm nghĩ tại sao phụ nữ lại là một lũ người dễ bị bịp và tất cả bọn họ đều muốn giúp một tên khốn như hắn chứ không phải tôi. Tôi suy nghĩ đặc biệt lâu về việc tại sao khi tôi cố giúp ai đó, cuối cùng tôi đều đề nghị giúp tiền hay đưa đi câu cá.
Qua một cái dốc cao, chúng tôi ra khỏi rừng thông và cụm hồ mát mẻ để đi vào ánh nắng chói lòa của bình nguyên Blanchard. Paul hỏi: “Anh muốn rẽ đường nào khi chúng ta đến giao lộ với đường Blackfoot?”. “Đường trên. Ở hẻm núi nước chảy quá xiết nên bọn chúng không thể câu được. Chúng ta hãy rẽ lên đầu hẻm núi, ở đó có một vài vũng nước đẹp trước khi dòng sông đi vào vùng đá” - Tôi đáp. Vì thế, chúng tôi rẽ khỏi con đường chính ở đầu bình nguyên và chạy xóc nảy qua phần còn lại của sông băng cho đến khi tới được một ngã ba sông cạnh rừng thông Ponderosa, nơi chúng tôi có thể đậu xe trong bóng râm.
Ở giữa sông, ngay ngã ba, có một dải cát dài. Nếu bạn có thể lội ra đó, bạn sẽ có một vị trí câu cá lý tưởng. Cá to ở cả hai phía của bạn, và không có khúc gỗ trôi hay rễ cây lớn hoặc tảng đá nào làm khó bạn khi bạn giật cá lên - chỉ có cát bao quanh người lũ cá, vì thế chúng không để ý thấy mình đang nằm trên đất cho đến khi há miệng tìm nước.
Mặc dù đã câu ở vũng này nhiều lần, song tôi vẫn đi khảo sát một vòng trước khi lấy cần câu. Tôi lò dò từng bước đến gần Paul như một con thú mắc bẫy sợ cành cây cong. Khi tôi ào xuống, cần câu trong tay, chuẩn bị kết liễu một con cá trong lần thả câu đầu tiên và thực sự đã quăng câu thì một phần ngọn núi ở bờ bên kia bắt đầu đổ xuống sông. Trước đây, tôi chưa bao giờ thấy một con gấu và rõ ràng nó cũng không thấy tôi cho đến khi nó nghe tiếng tôi văng tục do giật câu chậm trước cú đớp mồi đầu tiên. Tôi thậm chí không biết con gấu đã làm gì ở đó - bắt cá, bơi hay uống nước. Tôi chỉ biết nó chạy lên núi làm đất đá lở xuống ào ào.
Nếu bạn chưa bao giờ nhìn thấy một con gấu phóng qua núi thì bạn chưa hiểu được khi sợ thì gấu chạy thế nào. Tất nhiên hươu chạy nhanh hơn, nhưng không chạy thẳng một lèo lên dốc. Ngay cả nai sừng tấm, hai chân sau cũng không mạnh như vậy. Hươu và nai sừng tấm chạy dích dắc và vòng vèo rồi dừng lại thở. Con gấu rời mặt đất giống như một lưỡi tầm sét thu mình về và để lại tiếng sấm ở phía sau.
Paul đã cầm cần câu lên khi tôi trở lại xe. Nó hỏi tôi: “Neal và bạn hắn có đi không?”. Tôi nhìn vào phía sau xe, nơi hai đứa bọn chúng vẫn còn ngủ, nhưng chúng cựa quậy khi tôi nhìn nên cũng có thể chúng không ngủ. Tôi bảo: “Neal, dậy và nói cho bọn tôi biết anh muốn làm gì”. Không như ý nghĩ của tôi, gã anh vợ cố gắng từng hồi để thức dậy. Cuối cùng, hắn đẩy Da Sống Cũ ra khỏi vai rồi bước ra khỏi xe, người cứng đờ như một ông già. Nhìn ra bờ sông, hắn hỏi: “Cái vũng đó thế nào?”. Tôi trả lời hắn: “Tốt đấy. Thật ra thì bốn, năm cái tiếp theo cũng vậy”.
“Chú có thể lội ra dải cát ngoài kia không?” - Hắn hỏi tiếp. Tôi bảo hắn rằng tôi không thường ra đó, nhưng gần đây trời quá nóng đến nỗi mực nước sông đã hạ xuống ba tấc hơn và hắn sẽ không gặp khó khăn gì khi lội ra đó.
“Đó là điều tôi sẽ làm, tôi sẽ ở lại đây và câu cá” - Neal nói. Hắn chưa từng nhắc đến Da Sống Cũ lấy một lần. Ngoài việc hết lòng với nghệ thuật phớt lờ phụ nữ, hắn cũng biết là tôi và Paul không nghĩ là ả ta nên có mặt ở đây, vì thế có thể hắn đã nghĩ rằng nếu hắn không nhắc đến ả thì chúng tôi sẽ không để ý đến ả.
Da Sống Cũ thức dậy và đưa cho Paul chai 3-7-77. “Làm một hớp đi” - Ả nói. Paul cầm bàn tay ả và đẩy sang chỗ Neal. Như tôi đã nói, vì một vài lý do trong đó có sự dạy dỗ của cha chúng tôi, tôi và Paul không uống rượu khi câu cá. Nhưng sau đó thì vâng, thật sự là ngay khi cởi bộ quần áo ướt ra và có thể đứng lên đó, thay vì những lá kim của cây thông, một người sẽ nhoài vào ngăn để găng tay của chiếc xe, nơi luôn để một chai rượu.
Nếu bạn nghĩ rằng điều tiếp theo tôi sắp kể cho bạn nghe mâu thuẫn với điều này thì bạn sẽ phải nhận ra rằng ở Montana, uống bia không được tính là nhậu. Paul mở thùng xe và lấy ra tám chai bia. Nó bảo Neal: “Bốn chai cho các anh và bốn chai cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ ướp ở mỗi vũng tiếp theo hai chai cho anh. Chúng sẽ làm các anh quên đi cái nóng”. Rồi em trai tôi cho bọn chúng biết nơi chúng tôi sẽ ướp lạnh bia và sau đó lẽ ra nó nên nghĩ cho kỹ trước khi bảo chúng rằng chúng tôi sẽ giấu bia của mình ở hai cái vũng tiếp theo, nơi chúng tôi sẽ kết thúc việc câu cá trên đường từ vách đá trở về.
Thế giới đã từng đẹp làm sao. Ít nhất thì con sông của những ngày xưa thật tươi đẹp. Và nó hầu như là của tôi và gia đình tôi cùng một vài người khác không ăn cắp bia. Bạn có thể ướp lạnh bia dưới sông, và nó sẽ lạnh đến nỗi khi bạn quay lại, nó sẽ không sủi bọt nhiều. Đó có thể là loại bia làm ở thị trấn kế bên, nếu thị trấn đó có mười ngàn dân hay nhiều hơn. Vì thế, đó có thể là bia Kessler làm ở Helena hay bia Highlander làm ở Missoula được chúng tôi ướp lạnh dưới sông Blackfoot. Thế giới đã từng đẹp làm sao khi tất cả bia đều không được làm ở Milwaukee, Minneapolis hay St. Louis.
Chúng tôi lấy đá dằn lên chai bia để nó không bị cuốn đi mất. Sau đó, chúng tôi bắt đầu đi xuôi dòng một quãng câu. Trời nóng đến nỗi ngay cả Paul cũng không quá hối hả. Thế rồi đột nhiên nó phá vỡ trạng thái mê ngủ, nói: “Một ngày nào đó Neal hiểu được chính mình và hắn sẽ không trở lại Montana. Hắn không thích Montana”.
Khi nghe nhận xét này, tôi chỉ nhớ là đã thấy Paul quan sát mặt Neal khi hắn đang thức dậy. Tôi nói: “Anh biết hắn không thích câu cá. Hắn chỉ thích kể cho phụ nữ rằng hắn thích câu cá. Điều đó có lợi cho hắn và cho mấy người phụ nữ kia. Và cả cho mấy con cá nữa” - Rồi tôi nói thêm: “Nó làm cho họ cảm thấy tốt hơn”.
Trời quá nóng nên chúng tôi dừng lại và ngồi trên một khúc gỗ. Khi yên lặng, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng lá kim rơi như những chiếc lá khô. Bỗng những chiếc lá kim ngừng rơi. “Em nên rời Montana. Em nên sang Bờ Tây” - Paul nói.
Tôi cũng đã nghĩ về điều đó, nhưng tôi vẫn hỏi: “Tại sao?”
“Ở đây, em đưa tin thể thao địa phương, những câu chuyện đời tư và tin vụ án. Em chẳng có việc gì để làm. Ở đây, em sẽ chẳng bao giờ có gì để làm”.
“Trừ việc câu cá và đi săn” - Tôi bổ sung.
“Và vướng vào rắc rối” - Em trai tôi tiếp lời.
Tôi lại bảo với nó: “Anh đã từng nói với em là anh nghĩ có thể giúp nếu em muốn làm việc cho một tờ báo lớn. Khi đó, có thể viết những bài của chính em - những bài đặc biệt, thậm chí một ngày nào đó, là một mục do em phụ trách”.
Trời nóng đến nỗi những ảo ảnh của làn hơi nước bốc lên từ mặt sông hòa tan vào nhau. Khó mà biết được liệu những gì tôi đã nghe có phải là lời tiên tri hay không. Paul nói: “Chúa ơi, trời nóng quá. Chúng ta hãy xuống sông cho mát đi”.
Nó đứng dậy, nhặt cần câu của mình lên, cái cần câu quấn chỉ đẹp tuyệt của nó lung linh như làn không khí xung quanh nó. “Em sẽ không bao giờ rời Montana” - Em tôi nói - “Chúng ta hãy đi câu đi”.
Khi chúng tôi tách ra, nó bảo: “Em thích những rắc rối xuất phát từ việc ở lại Montana”. Vì thế chúng tôi quay lại nơi mình đã bắt đầu, và trời quá nóng nên việc câu kéo có thể chẳng khá mấy.
Và quả là không khá thật. Trong cơn nóng giữa trưa, vạn vật im ngủ dưới dòng nước cuộn chảy. Bạn cứ quăng câu rồi lại quăng câu trên dòng sông, và chẳng có gì ngoi lên khỏi mặt sông. Ếch cũng chẳng buồn nhảy. Bạn bắt đầu nghĩ rằng bạn là thứ duy nhất cử động ở dòng sông này. Có lẽ trong quá trình tiến hóa, toàn bộ sự sống di chuyển từ dưới nước lên cạn, tất cả, trừ bạn, và bạn đang trên đường xuống nước với một phần của bạn không ngâm dưới nước đã khô nẻ trong bầu không khí lạ lẫm. Với ánh nắng mặt trời phản chiếu từ mặt nước vào bạn và rọi thẳng vào phía dưới lông mày, ngay cả chiếc mũ rộng vành cũng chẳng có tác dụng gì.
Từ trước khi bắt đầu, tôi đã biết công việc sẽ khó khăn, vì thế tôi cố gắng tỏ ra nhạy bén. Tôi câu ở phía trước và phía sau của những tảng đá to, nơi bọn cá có thể trú trong bóng râm và dòng nước sẽ đem thức ăn đến cho chúng mà chúng không phải khó nhọc đi tìm. Tôi cũng tập trung vào dòng nước chảy dưới những bụi cây, nơi cá có thể nằm trong bóng râm và chờ lũ côn trùng nở trên nhánh cây rồi rơi xuống nước trước mũi chúng. Nhưng đã chẳng có gì trong bóng râm ngoại trừ sự dịu mát.
Cho rằng nếu một ý tưởng không đem lại kết quả gì thì điều ngược lại có thể có tác dụng, tôi rời bỏ hoàn toàn bóng mát mà bước ra trảng cỏ quang đãng đầy châu chấu. Đối với người quen thuộc với một chủ đề, không có gì khó khăn để tìm ra lý do cho ý tưởng ngược lại. Tôi tự nhủ: “Đang mùa hè và lũ châu chấu ra phơi nắng được thì không lý gì lũ cá lại không”. Tôi lắp một con mồi giả có thân bằng cây bần trông như một con châu chấu to, béo ngậy, màu vàng. Tôi câu gần bờ, nơi ngay cả những con cá to cũng chờ châu chấu sẩy chân. Sau khi câu với châu chấu bần nổi trên mặt nước, tôi cột một con mồi giả to có thân gỗ màu vàng, nó sẽ thấm nước và chìm như một con châu chấu chết. Vẫn không có lấy một con ếch nhảy ra.
Thân thể dễ bỏ cuộc hơn lý trí nhiều, vì thế, những người câu cá mồi giả đã đưa ra “thuyết tò mò” với nội dung đúng như tên gọi. Theo thuyết ấy, cá, cũng như người, đôi khi đớp một thứ nào đó chỉ để xem nó là gì chứ không phải vì trông nó ngon lành. Với hầu hết những người câu cá mồi giả, đó là “thuyết giải pháp cuối cùng”; trong thực tế, đôi khi nó lại ứng nghiệm. Tôi cột một con mồi giả mà George Croonenberghs đã bện cho khi anh ta còn là một đứa trẻ - vài thập kỷ trước khi anh ta trở thành một trong những người bện mồi giả giỏi nhất miền Tây. Con mồi giả này được bện vào một phút ngẫu hứng của tuổi thơ, dùng đủ mọi nguyên liệu, từ lông hươu cho đến lông gà gô.
Một lần, khi đang câu ở thượng nguồn sông Blackfoot, tôi trông thấy một vật lạ có đầu và cổ bị cuốn trôi khi đang cố bơi qua sông. Tôi không thể nhận ra đó là gì cho đến khi nó lên bờ và đứng giũ nước. Lúc đó, tôi nhận ra một con linh miêu đang ướt sũng, và nếu bạn không biết một con linh miêu ướt trông thế nào thì đây, nó hệt như một con mèo nhỏ bị ướt. Khi con linh miêu bị ướt, nó là một con thú nhỏ hiền lành, gầy gò, nhưng sau khi lông đã khô và mượt trở lại, và một lần nữa cảm thấy chắc chắn rằng mình là một con mèo, nó quay lại, nhìn tôi và gầm gừ.
Tôi hy vọng người bạn câu vạm vỡ, George Croonenberghs, không phiền khi tôi nói rằng tác phẩm tuổi thơ này của anh khi chiến đấu dưới dòng nước trông giống như một con linh miêu. Dù sao chăng nữa, đối với lũ cá, trông nó cũng thú vị.
Từ dưới dòng nước sâu vô vọng và bất động, sự sống xuất hiện. Nó trồi lên chậm đến nỗi trông như nó đang bơi ngược thời gian. Sau một hồi, tôi ước lượng nó dài khoảng hăm lăm phân. Nó đến mỗi lúc một gần, nhưng đến một khoảng nhất định, trông nó không lớn thêm nữa, vì thế tôi đoán được nó lớn cỡ nào. Ở một khoảng cách có vẻ là an toàn, thằng cá hăm lăm phân bắt đầu lượn vòng quanh Đặc sản Linh miêu của George. Tôi chưa bao giờ trông thấy cặp mắt hoài nghi to như thế ở một con cá nhỏ như vậy. Nó luôn nhìn chằm chằm vào con mồi và dường như để cho dòng nước cuốn nó đi quanh con mồi. Sau đó, nó thôi quạt nước, để cho thân mình chìm từ từ. Khi trông nó chỉ còn dài khoảng mười lăm phân, nó lại nổi lên, trở lại thành thằng cá hăm lăm phân và kiểm tra con mồi của George lần cuối. Được nửa vòng tròn thì nó rời mắt khỏi con mồi và ngước nhìn tôi rồi phóng đi mất dạng. Rõ ràng đây là lần duy nhất có một con cá xem xét tác phẩm tuổi thơ của George một cách nghiêm túc, mặc dù tôi vẫn đem nó theo vì tình cảm với George.
Tôi từ bỏ “lý thuyết” về sự tò mò, nằm sấp xuống và uống một ngụm nước, cảm thấy càng khát hơn khi uống xong. Tôi bắt đầu nghĩ đến món bia, và cho rằng chẳng nên phí thời gian nữa. Thật tình thì lẽ ra tôi đã bỏ câu và ngồi trong bóng râm, nhưng tôi không muốn bị em mình hỏi khi đang ngồi trong bóng râm: “Anh câu được mấy con rồi?”. Và phải trả lời: “Chẳng được con nào”. Vì thế, tôi tự nói với chính mình như cầu nguyện: “Mình sẽ thử thêm một vũng nữa”.
Tôi không thích cầu nguyện mà lời cầu nguyện của mình không thành sự thật, vì thế tôi đi một quãng dài trên bờ sông để đến cái vũng cuối cùng mà mình đã cầu nguyện này. Khi tôi trông thấy nó, thực ra tôi không nhìn kỹ, bởi vì nó là một quãng nước bình thường, nhưng khi đột nhiên nhìn lại, tôi có thể trông thấy cá nhảy khắp vũng. Hầu như ngay lúc ấy tôi ngửi thấy mùi gì đó, một mùi hôi. Thật ra, vào những ngày nóng bức, mấy cái vũng rất hôi. Tôi không muốn đến gần hơn, nhưng vào thời điểm này, mấy con cá không tồn tại vẫn đang nhảy nhót ngay trước mắt tôi. Tôi đi vòng qua con hải ly chết để xuống bờ vũng. Tôi biết mình đã tìm được đúng chỗ.
Khi nhìn thấy con hải ly chết, tôi biết tại sao cá lại nhảy. Ngay cả một người câu cá cuối tuần cũng biết con hải ly chết đã thu hút cả một bầy ong vo ve sát mặt đất và mặt nước. Ở đẳng cấp câu cá của mình, tôi biết mình đã có con mồi phù hợp để trông giống như chúng, và tôi không nghĩ rằng em tôi có loại mồi đó. Nó không đem theo nhiều mồi giả - tất cả đều giắt trên dải mũ của nó, nhiều nhất là hai mươi đến hăm lăm con, nhưng thật sự chỉ có bốn hay năm loại, bởi vì mỗi loại có nhiều cỡ. Chúng là thứ mà những người câu cá gọi là “loại phổ thông”, là loại mà người câu cá giỏi có thể bắt chước rất nhiều loại côn trùng và nhiều giai đoạn khác nhau của vòng đời côn trùng, từ ấu trùng cho đến khi mọc cánh. Cách nhìn mồi giả của em tôi rất giống cách cha tôi, một người thợ mộc giỏi, nhìn các đồ nghề của mình - ông khăng khăng rằng bất cứ ai cũng có thể phô diễn kỹ năng của thợ mộc nếu có đủ đồ nghề. Nhưng tôi không phải là một người câu cá đủ giỏi để coi thường đồ nghề. Tôi đem theo một hộp đầy mồi giả, loại “phổ thông” và cả loại mà người câu cá gọi là loại “đặc biệt” - những con côn trùng non rất đặc biệt, ví dụ như kiến cánh, phù du, bọ đá[2], bọ vân sam. Và cả ong nữa.
Tôi lấy một con mồi giả mà George Croonenberghs đã bện phỏng theo loài ong. Trông nó không giống ong lắm. Nếu bạn bắt đầu làm người câu cá mồi giả, tốt hơn là bạn nên cẩn thận, đừng nghĩ cá cũng nhìn giống mình và mua những con “mồi giả đặt ở quầy” - những con mồi giả bán ở quầy tiệm thuốc mà dưới mắt bạn trông hệt những con côn trùng thật. George có một bồn thủy tinh ở sân sau mà anh ta đổ đầy nước vào. Sau đó, anh ta nằm dưới cái bồn và nghiên cứu loài côn trùng mình sẽ phỏng theo đang nổi ở phía trên, mà nhìn từ dưới lên thì trông chẳng giống chút nào. Tôi cột một con Ong của George - mà trông không giống ong, và câu được ba con cá bằng con mồi đó. Chúng trông cũng kha khá nhưng không thể gọi là to - khoảng ba mươi sáu phân gì đó. Tuy thế, tôi cảm thấy khoan khoái vì đã cất được gánh nặng đang mang.
Không biết tại sao rất khó dừng ở số lẻ, vì thế, tôi muốn câu được thêm một con nữa cho đủ bốn, nhưng tôi cần phải chăm chỉ hơn nếu muốn câu được nó. Cuối cùng, khi tôi câu được rồi thì con cá lại nhỏ và tôi biết rằng nó là con cuối cùng, vì lũ cá còn lại đã cảnh giác với con Ong của George. Cái nóng ngày càng tăng của buổi trưa giờ lại xua đuổi ruồi nhặng khỏi con hải ly chết và nó đã trở nên quá nặng mùi, vì thế tôi leo lên bờ sông và đi ngược chiều gió đến chỗ rẽ tiếp theo, nơi tôi có thể ngồi và nhìn xuôi dòng tìm Paul. Giờ đây nó có thể hỏi tôi, và tôi sẽ không xấu hổ khi bị bắt gặp ngồi trong bóng râm.
Tôi ngồi đó trong ánh nắng trưa nóng rẫy và cố quên đi con hải ly để nghĩ về món bia. Khi cố quên con hải ly, tôi cũng cố quên gã anh vợ và Da Sống Cũ. Tôi biết mình sẽ còn nhiều thời gian để ngồi đây và quên đi mọi thứ, vì em tôi sẽ không bao giờ dừng tay với ba hay bốn con cá như tôi, ngay cả khi nó sẽ gặp khó khăn khi cố câu thêm. Tôi ngồi đó, cố quên đi và quên đi, cho đến khi chỉ còn lại dòng sông trôi và thằng tôi đang ngồi ngắm. Trên dòng sông, những loáng nước nhảy múa cùng nhau, vỡ tan vào nhau rồi nắm tay nhau nhảy quanh vòng quanh. Cuối cùng, người ngắm hòa với dòng sông làm một, chỉ còn lại một - dòng sông.
Ngay cả cấu tạo của dòng sông cũng phơi ra. Không xa phía dưới là một lòng sông khô cạn mà dòng sông đã từng chảy qua. Có một cách để hiểu về một thứ gì đó là qua cái chết của nó. Nhưng cách đây nhiều năm, tôi đã từng biết dòng sông khi nó chảy qua cái lòng sông giờ đây khô cạn này, vì thế tôi có thể làm cho chứng tích sỏi đá sống lại bằng dòng nước của ký ức.
Lòng sông chết cũng có mẫu hình của nó, và chúng tôi chỉ có thể hy vọng đến vậy. Mẫu hình chung của nó là những đường cong uốn khúc mà họa sĩ ưa thích dùng để ký họa thung lũng, từ ngọn đồi của tôi đến ngọn đồi cuối cùng, có thể nhìn thấy từ phía bên kia. Nhưng ở bên trong, nó được tạo thành bởi những góc nhọn. Dòng sông dường như chảy thẳng một khoảng, rẽ đột ngột, sau đó trôi êm trở lại, rồi gặp vật cản, lại rẽ gấp và lại trôi êm. Những đường thẳng không thật thẳng và những góc không thật vuông trở thành những đường cong đẹp của người họa sĩ và dòng sông chảy từ đây, ngang qua thung lũng, đến khuất tầm mắt.
Tôi cũng trở thành dòng sông khi biết nó đã được tạo thành như thế nào. Blackfoot Lớn là một dòng sông băng tan trẻ chảy xiết và dốc. Dòng sông chảy thẳng qua những thác ghềnh cho đến khi nó đụng vào những tảng đá lớn hay những cây to có rễ lớn. Đây là đoạn quanh co không hẳn là những góc vuông. Sau đó, nó uốn lượn và trở nên sâu hơn ở giữa những tảng đá lớn và chảy vòng trở lại qua những chướng ngại vật này, ở nơi ấy, những con cá to thường sống dưới đám bọt nước. Khi sông trôi êm trở lại, cát và những hòn đá nhỏ nó mang theo từ những thác ghềnh ở phía trên bắt đầu tỏa ra và lắng xuống đáy, dòng nước trở nên nông và lặng. Sau khi đã lắng đọng xong, nó bắt đầu chảy tiếp.
Vào một buổi trưa nóng bức, trí óc cũng có thể tạo ra những con cá và sắp đặt chúng theo cách nó đã tạo ra dòng sông. Nó sẽ để cho lũ cá sống hầu hết cuộc đời ở “vực xanh lớn” tại ngay ngã rẽ, nơi chúng có thể được những tảng đá lớn bảo vệ và nhàn nhã chờ thức ăn được những con nước lớn cuốn tới. Từ đó, chúng có thể vượt thác ở phía trên khi chúng thật sự đói hay vào tháng Chín và trời mát, nhưng cuộc sống ở vùng nước xiết đó bao giờ cũng khắc nghiệt. Trí óc vốn sắp đặt mọi thứ cũng có thể dẫn lối cho lũ cá bơi vào dòng nước êm khi chiều xuống, khi đám muỗi mắt và bướm đêm túa ra. Ở đây, người câu cá cần được khuyên nên dùng những con mồi nổi nhỏ và bôi sáp để chúng nổi trên mặt nước. Anh ta cũng cần được thông tin rằng trong con nước buổi chiều, mọi thứ phải hoàn hảo, bởi vì trong ánh hoàng hôn, lũ cá có thể nhìn thấy mọi thứ, vì thế ngay cả việc con mồi giả có quá nhiều lông ở đuôi cũng có thể làm cho lũ cá cảnh giác. Trí óc có thể sắp đặt tất cả những thứ này, nhưng lũ cá không phải bao giờ cũng tuân theo sự sắp đặt.
❀ ❀ ❀
[1] Tác giả nhắc đến tích Moses nằm trong nôi cỏ nến trong Kinh Thánh. Pharaoh lo ngại về số lượng ngày càng tăng của người Do Thái trên đất Ai Cập nên đã ra lệnh giết chết tất cả các bé trai Do Thái. Một bà mẹ đã bảo vệ con mình bằng cách đặt con trai vào một cái giỏ làm bằng cỏ nến và thả xuống dòng sông. Khi nhìn thấy đứa trẻ, công chúa Ai Cập đã quyết định giữ lại nuôi. Sau đó người mẹ tìm cách làm vú nuôi. Công chúa đặt tên cho cậu bé là Moses. Moses sau này trở thành tông đồ của Chúa Jesus, người dẫn dắt dân Do Thái đến miền đất hứa.
[2] Stonefly: một loại côn trùng thuộc bộ cánh cụp (plecoptera), hình dạng giống con tò vò.