Cha mẹ tôi giờ đã nghỉ hưu, và chẳng có ai thích lạc hậu với thời thế, đặc biệt là mẹ tôi, vốn trẻ hơn cha tôi và đã quen với việc “điều hành nhà thờ”. Đối với họ, Paul là phóng viên, là mối dây liên hệ chính với thực tế của họ, là máy thu hình thế giới đang dần xa cách họ và dù gì thì họ cũng chưa bao giờ hiểu rõ. Paul phải kể cho họ nghe hết chuyện này đến chuyện khác, mặc dù họ không tán thành một số chuyện. Họ ngồi quanh bàn rất lâu. Khi chúng tôi bắt đầu đứng dậy, tôi nói với cha: “Chúng con sẽ rất vui nếu cha đi câu với chúng con vào ngày mai”.
“Ồ”- Cha tôi nói và ngồi lại xuống ghế, máy móc mở cái khăn ăn của ông ra và hỏi: “Paul, con có chắc là muốn cha đi cùng không? Cha cũng không còn câu được ở một vài vũng trong số các vũng lớn. Cha không còn lội nước được nữa”.
Paul đáp: “Chắc chắn là con muốn cha đi cùng. Chừng nào cha còn có thể đến gần lũ cá thì cha còn có thể câu được chúng”.
Đối với cha tôi, mệnh lệnh cao nhất là làm bất cứ điều gì con cái muốn ông làm, đặc biệt là câu cá. Vị mục sư là cha chúng tôi trông như thể vừa được giáo đoàn yêu cầu quay trở lại để giảng lại buổi chia tay.
Đã quá giờ đi ngủ của cha mẹ, tôi và Paul cũng đã có một ngày dài, vì thế tôi nghĩ mình sẽ rửa chén giúp mẹ rồi sau đó chúng tôi sẽ đi ngủ. Nhưng tôi thật sự biết rằng mọi thứ sẽ không đơn giản như vậy, và cha mẹ chúng tôi cũng biết thế. Ngay sau khi ăn một lúc, Paul duỗi chân duỗi tay và nói: “Em nghĩ em nên ra thị trấn thăm mấy đứa bạn cũ. Em sẽ không về khuya quá, nhưng đừng thức chờ em”.
Tôi giúp mẹ rửa chén. Mặc dù chỉ có một người đi khỏi nhưng không khí im ắng hẳn. Paul đã nán lại đủ lâu sau bữa tối để chúng tôi nghĩ rằng nó sẽ vui lòng trải qua một buổi tối ở nhà. Chúng tôi ai cũng biết vài đứa bạn của nó, và tất cả chúng tôi đều biết đứa bạn mà nó rất quý, thằng ấy to lớn, dễ tính và dễ thương đối với chúng tôi, đặc biệt là với mẹ của chúng tôi. Nó vừa ra tù lần thứ hai.
Từ lúc mẹ tôi đứng nhìn cánh cửa đóng kín cho đến khi bà đi ngủ, bà chỉ bảo: “Chúc ngủ ngon”. Khi đã lên đến gần đỉnh cầu thang, bà ngoái đầu nói với xuống cha tôi và tôi.
Tôi không bao giờ biết được cha tôi hiểu Paul đến mức nào. Tôi thường cho rằng ông biết rất nhiều vì có một thiểu số khá lớn trong mỗi giáo đoàn tự xem việc thông báo cho mục sư biết tình hình con cái của ông ta là một bổn phận tôn giáo. Đôi khi cha tôi cũng bắt đầu nói với tôi về Paul như thể ông sắp mở ra một chủ đề mới, nhưng sau đó ông lại bất chợt ngưng lại trước khi nó trào ra.
“Con có nghe dạo này Paul làm gì không?” - Ông hỏi. Tôi trả lời ông: “Con không hiểu cha muốn nói gì. Con đã được nghe đủ thứ chuyện về Paul. Chủ yếu là con nghe nói nó là một phóng viên giỏi và cũng là một người câu cá giỏi”.
“Không, không” - Cha tôi nói - “Nhưng chẳng lẽ con không nghe nó làm gì dạo sau này à?”
Tôi lắc đầu.
Lúc đó tôi nghĩ rằng ông chuyển hướng những gì ông đang nghĩ, và chệch khỏi những gì ông sắp nói.
Ông lại hỏi tôi: “Con không nghe là nó đã đổi cách viết tên từ Maclean thành McLean à. Giờ nó viết họ bằng chữ L hoa”.
Tôi đáp: “Ồ, chắc rồi. Con biết hết về điều đó. Nó kể với con rằng nó chán việc chẳng có ai viết tên nó đúng cả. Mọi người thậm chí còn viết phiếu lương của nó với chữ L hoa, vì thế cuối cùng nó quyết định đầu hàng và viết tên theo cách mà mọi người hay viết”.
Cha tôi lắc đầu khi nghe tôi giải thích, lý lẽ đó không phù hợp. Ông lẩm bẩm với chính mình và với tôi: “Thật là khủng khiếp khi viết họ với chữ L hoa. Giờ đây, ai đó sẽ nghĩ rằng chúng ta là người Scotland đồng bằng chứ không phải dân đảo”.
Cha bước ra cửa, nhìn ra ngoài, và khi trở vào, ông không hỏi tôi câu nào nữa. Ông cố nói với tôi. Ông dùng những lời lẽ trừu tượng, nhưng ông đã bỏ ra cả đời người để làm cho người nghe quen với những ý niệm trừu tượng của ông, vì thế họ sẽ không gặp khó khăn gì khi liên kết những khái niệm trừu tượng đó với những điều cụ thể trong cuộc đời họ.
“Con còn quá trẻ để giúp bất kỳ ai, còn cha thì lại quá già” - Ông nói - “Giúp đỡ ở đây không có nghĩa là phép lịch sự như đãi món thạch anh đào dại hay giúp tiền”.
“Giúp đỡ là trao một phần của chính mình cho người sẵn lòng đón nhận và thật sự cần sự giúp đỡ đó”.
“Vì thế” - Ông chuyển sang lối thuyết pháp cổ - “Chúng ta ít khi có thể giúp được ai. Hoặc là chúng ta không biết cần trao phần nào hoặc có thể chúng ta không thích trao bất cứ phần nào của mình. Lúc đó thì thông thường là phần người ta cần thì ta lại không muốn trao. Và thậm chí còn phổ biến hơn là chúng ta không có phần người ta cần. Điều đó cũng giống như một cửa hàng bán phụ tùng xe hơi ở thị trấn luôn nói: ‘Rất tiếc, chúng tôi vừa bán hết loại phụ tùng đó”.
Tôi nói với ông: “Cha trầm trọng hóa vấn đề quá. Giúp đỡ đâu cần phải lớn lao đến vậy”.
Cha hỏi tôi: “Con có nghĩ rằng mẹ con giúp nó bằng cách phết bơ vào bánh mì của nó không?”
“Có thể. Thật ra thì đúng, con nghĩ mẹ đã giúp nó bằng cách đó”.
“Con có nghĩ rằng mình đã giúp nó?”
“Con đã cố giúp nó. Vấn đề là con không hiểu nó. Thật ra, một trong những khó khăn là con còn không biết nó có cần giúp đỡ hay không. Con không biết, đó là rắc rối của con”.
“Lẽ ra cha mới chính là người nói ra câu đó” - Cha tôi nói - “Chúng ta đều sẵn lòng giúp đỡ, nhưng lạy Chúa, nó cần giúp gì?”
“Cha vẫn còn biết câu cá” - Ông kết luận - “Ngày mai, chúng ta sẽ đi câu với nó”.
Tôi nằm chờ một lúc lâu rồi cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ. Tôi cảm thấy ở tầng trên, cha mẹ tôi cũng đang chờ đợi.
Thông thường tôi thức dậy sớm để làm theo điều răn mà chỉ một vài người trong chúng ta thực hiện - dậy sớm để chiêm ngưỡng ánh ban mai mà Thượng đế ban cho chúng ta. Một vài lần tôi nghe tiếng em tôi mở cửa phòng, sửa sang chăn màn cho tôi, rồi đóng cửa phòng. Tôi bắt đầu tỉnh giấc khi nhớ ra rằng em trai tôi dù thế nào cũng chưa bao giờ đi làm hay đi câu trễ. Tỉnh thêm một chút nữa, tôi nhớ rằng đây là chuyến đi câu mà em tôi sẽ chăm sóc tôi. Giờ tôi bắt đầu loáng thoáng nghĩ rằng nó đang nấu bữa sáng cho tôi, và khi biết đúng là như vậy, tôi đứng dậy mặc quần áo. Cả ba người đang ngồi ở bàn, uống trà và chờ đợi.
Mẹ nói, như thể sau một đêm ngủ dậy bà bỗng nhận ra mình là Nữ hoàng của ngày hôm đó: “Paul làm bữa sáng cho chúng ta”. Câu nói này làm em trai tôi cảm thấy vui và cười ngay từ đầu ngày, nhưng khi nó múc thức ăn cho tôi, tôi nhìn kỹ và thấy được những vằn đỏ trong mắt nó. Một người câu cá tất nhiên cũng bải hoải sau một đêm say xỉn - sau vài giờ câu thì cơn mệt cũng tiêu tan, chỉ còn lại sự háo nước, mặc dù anh ta đứng cả ngày ở dưới nước.
Chẳng biết sao chúng tôi không thể khởi đầu suôn sẻ vào buổi sáng hôm đó. Sau khi tôi và Paul ra riêng, cha chúng tôi đã cất đồ câu đi, có lẽ ông nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ sử dụng lại nữa, vì thế bây giờ ông không nhớ nổi mình đã để ở đâu. Mẹ chúng tôi phải đi tìm gần như mọi thứ cho ông. Bà chẳng biết gì về câu cá và đồ câu, nhưng bà biết cách tìm đồ đạc, ngay cả khi chẳng biết hình dáng chúng thế nào.
Paul, người thường làm mọi người lo lắng vì nôn nóng lao xuống dòng nước, liên tục bảo cha: “Cha đừng lo. Trời đã mát hơn. Hôm nay chúng ta sẽ vớ bở. Cha đừng lo”. Thế nhưng cha tôi, người mà em trai tôi đã thừa hưởng dòng máu nóng đối với chuyện câu cá, lại nhìn tôi, rõ ràng là căm ghét chính mình vì già nua và vì không thể giữ bình tĩnh.
Mẹ tôi phải chạy từ dưới tầng hầm lên đến tầng sát mái và lục lọi hầu hết các rương tủ ở tất cả các tầng để tìm cái giỏ câu, cùng lúc chuẩn bị bữa trưa cho ba người đàn ông, mà mỗi người lại muốn ăn một loại bánh kẹp khác nhau. Sau khi đã tống tiễn chúng tôi lên xe, bà kiểm tra từng cánh cửa xe để đảm bảo không ai có thể rơi ra khỏi xe. Sau đó bà lau bàn tay vào tạp dề, mặc dù tay bà không ướt, và nói “Cám ơn Chúa” khi chúng tôi lái xe đi.
Tôi cầm lái, và tôi biết từ trước khi khởi hành là chúng tôi sẽ đi đâu. Chúng tôi không thể đi xa đến sông Blackfoot, bởi vì chúng tôi khởi hành trễ, mà phải là một quãng nước có hai hay ba cái vũng sâu cho Paul và tôi, cũng như một cái vũng nhiều cá và bờ không quá dốc để cha chúng tôi có thể leo xuống. Cũng vì ông không thể lội nước nên vùng nước câu tốt phải nằm ở phía bờ của ông. Cha và Paul tranh luận khi tôi lái xe, mặc dù họ biết cũng rõ như tôi là chúng tôi sẽ phải đi đâu, nhưng mỗi người trong gia đình chúng tôi đều xem mình là người quyết định cách câu cá ở sông Blackfoot. Khi chúng tôi đến con đường nhánh dẫn đến dòng sông ở phía trên miệng nhánh sông Belmont, lần đầu tiên cha chúng tôi và Paul cất lên tiếng nói chung. “Rẽ đây” - Hai người đồng thanh nói, và tôi làm như đang theo chỉ dẫn của họ, rẽ theo hướng mà họ có không bảo thì tôi cũng sẽ đi.
Con đường nhánh đưa chúng tôi xuống một vùng đất bằng đầy đá cuội và cỏ may. Chẳng có gia súc nào gặm cỏ ở đó; cào cào cất cánh giống như chim và bay một quãng thật xa, bởi vì ở vùng đất bằng đó, các bãi cỏ nằm cách xa nhau, ngay cả đối với lũ cào cào. Bản thân vùng đất bằng và đám đá cuội ở đó là tàn tích lởm chởm của một trong những thảm họa địa chất kinh khủng. Vùng đất bằng này rất có thể là dấu vết còn lại của một cái hồ từ kỷ băng hà, lớn bằng nửa hồ Michigan, ở vài chỗ sâu đến hơn sáu trăm mét cho đến khi cái đập băng bị vỡ và con thủy quái sống trên đồi này bục nước xuống các bình nguyên phía đông Washington. Cao tít trên những ngọn núi ở phía trên, nơi chúng tôi dừng lại câu cá là những vết xẹo nằm ngang do những tảng băng trôi qua cứa vào.
Tôi phải lái xe cẩn thận về phía sông để gầm xe không cấn lên một hòn đá cuội làm vỡ cầu. Vùng đất bằng đột nhiên kết thúc và con sông nằm sâu bên dưới một bờ dốc, lấp loáng ánh bạc đằng sau những thân cây rồi chuyển sang màu lam tương phản với một vách đá đỏ và lục. Đó là một thế giới khác cho ta nhìn và cảm, cùng một thế giới khác của đá. Những viên đá cuội trên vùng đất bằng được đẽo gọt từ kỷ băng hà cuối cùng cách nay chỉ mười tám, hai mươi ngàn năm, nhưng những tảng đá đỏ và lục của thời tiền sử nằm cạnh dòng nước lam thì hầu như nằm ở tầng đáy của không gian và thời gian.
Chúng tôi dừng lại, nhìn xuống bờ sông. Tôi hỏi cha tôi: “Cha có nhớ hồi chúng ta nhặt rất nhiều đá đỏ và lục ở dưới đó về xây lò sưởi không? Một số viên là đá bùn đỏ có những đường gợn sóng trên mặt”.
“Một số viên có những giọt mưa trên mặt”- Cha tôi nói. Trí tưởng tượng của ông luôn được kích thích bởi ý nghĩ mình đang đứng trong cơn mưa cổ xưa rơi lộp bộp trên bùn trước khi bùn trở thành đá. “Gần một tỉ năm trước” - Tôi nói khi hiểu được ông đang nghĩ gì.
Cha tôi ngừng lại. Ông đã từ bỏ niềm tin rằng Chúa đã tạo ra vạn vật, bao gồm cả sông Blackfoot, trong vòng sáu ngày, nhưng ông cũng không tin rằng công việc này quá khó khăn đối với quyền năng của Chúa, đến nỗi Ngài cứ phải làm mãi, làm mãi.
“Gần nửa tỉ năm trước”- Cha tôi nói như muốn góp phần hòa hợp khoa học và tôn giáo. Ông vội vã, không muốn bỏ phí bất cứ giây phút nào của tuổi già vào việc tranh cãi, trừ phi là tranh cãi về chuyện câu cá. “Chúng ta đã mang những tảng đá to này lên bờ sông” - Ông nói tiếp - “nhưng giờ thì cha không thể leo xuống được nữa. Dù vậy, ở hai cái vũng phía dưới, dòng sông tràn bờ và hầu như không có bờ dốc. Cha sẽ đi xuống đó câu cá, còn hai con câu ở hai cái vũng đầu tiên. Cha sẽ chờ ở ngoài nắng. Đừng vội”.
Paul nói như để động viên: “Cha sẽ câu được mà”, và đột nhiên cha lại tự tin vào chính mình. Sau đó ông đi khỏi. Chúng tôi có thể thoáng thấy ông đi dọc bờ sông vốn là đáy của một hồ băng lớn. Ông giữ thẳng cần câu ngay phía trước mặt và thỉnh thoảng lại vung nó về phía trước, có lẽ là tái hiện một ký ức kỷ băng hà nào đấy, trong đó, ông đâm lao vào một con voi răng mấu lông lá và dùng nó làm bữa sáng.
Paul lại nói: “Hôm nay chúng ta hãy đi câu cùng nhau”. Lúc đó tôi biết rằng nó vẫn đang để ý chăm sóc tôi, bởi vì chúng tôi hầu như luôn luôn tách ra khi đi câu.
“Được thôi”.
“Em sẽ lội qua sông và câu ở bờ đối diện”
Tôi gật đầu: “Được thôi”, và thật sự xúc động. Ở bờ bên kia sau lưng bạn là những vách đá và cây cối, vì thế hầu như chỉ có thể quăng câu cuốn, hoàn toàn không phải là sở trường của tôi. Ngoài ra, ở đây dòng sông chảy xiết và không có chỗ nào dễ lội qua, và xếp ngay sau thú câu cá của Paul là thú bơi qua sông với cần câu trong tay. Hóa ra nó không phải bơi ở đây, nhưng khi nó lội qua sông, thỉnh thoảng bức tường nước dâng lên đến bờ vai phía thượng nguồn của nó, trong khi lại không cao hơn hông ở phía sau nó. Paul vấp váp lội lên bờ, kéo theo cả trọng lượng của đám quần áo sũng nước, và vẫy tôi một cách nhiệt tình.
Tôi đi xuống bờ sông để câu cá. Gió mát đã thổi về từ Canada mà không gây ra cơn bão điện từ nào, vì thế bọn cá sẽ trồi lên khỏi đáy và kiếm ăn trở lại. Tôi đang nhìn khắp xung quanh để xem nên gắn mồi gì thì một con hươu tiến xuống bờ nước, đầu nó nhô ra thụt vào giữa hai vai để quan sát phía trước. Nhưng tôi không phải nhìn xa hơn cổ và mũi mình. Mấy con côn trùng vụng về đâm sầm vào mặt tôi, bám lấy cổ tôi và ngọ nguậy trong lớp áo trong của tôi. Lóng ngóng và mềm oặt - chúng đã được sinh ra trước khi có bộ não. Chúng sống dưới nước trong vòng một năm trên những đôi chân, bò lên một tảng đá, trở thành côn trùng, giao phối bằng đốt thứ chín và thứ mười của bụng, rồi chết đi. Sau đó, cơn gió nhẹ đầu tiên thổi chúng xuống nước, nơi có lũ cá háo hức lượn quanh. Chúng là giấc mơ trở thành hiện thực của cá - ngu ngốc, ngon lành và kiệt sức vì hoan lạc. Vẫn khó biết được phần đời quan trọng nào của con người dài tương đương giai đoạn từ lúc sống dưới nước trên đôi chân đến giây phút kiệt sức, chết yểu trên đôi cánh.
Tôi ngồi trên một khúc gỗ và mở hộp mồi giả của mình ra. Tôi biết mình phải lấy một con mồi giống hệt những con côn trùng này, bởi vì khi không có loại mồi lớn thế này hay mồi cá hồi, bọn cá sẽ không đụng đến bất cứ thứ gì khác. Chứng cứ là cho đến giờ, tôi thấy Paul vẫn chưa giật cái nào.
Tôi nghĩ là nó không có loại mồi phù hợp, và tôi biết mình có loại mồi đó. Như tôi đã giải thích trước đây, nó giắt tất cả mồi giả trên dải mũ. Em trai tôi nghĩ rằng với bốn hay năm loại mồi phổ thông ở nhiều cỡ khác nhau, nó có thể bắt chước hành động của gần như bất cứ loại côn trùng dưới nước hay trên cạn nào, ở bất cứ giai đoạn nào từ ấu trùng cho đến khi mọc cánh. Nó luôn trêu chọc tôi vì đem theo nhiều mồi. Nó sẽ nghiêng ngó hộp đựng mồi của tôi rồi nói: “Ồ. Sẽ thật là tuyệt vời nếu một gã biết cách sử dụng mười trong số tất cả những con mồi giả đó”. Nhưng tôi đã kể cho bạn nghe về con mồi Ong, và tôi vẫn chắc chắn rằng có những lúc mồi phổ thông không hấp dẫn lũ cá. Lúc này đây, con mồi hiệu quả phải là một con côn trùng to, nó phải có thân mình màu vàng sọc đen, và nó phải bay cao trên mặt nước với đôi cánh vươn rộng, đại khái như một con bướm bị nạn và không thể làm khô cánh bằng cách đập cánh dưới nước.
Nó to và sặc sỡ đến nỗi tôi nhìn thấy nó đầu tiên ngay khi mở hộp ra. Nó được gọi là Bọ Bunyan, được bện bởi một người thợ làm mồi giả ở Missoula tên là Norman Means, ông này bện một dòng mồi giả to, sặc sỡ; tất cả đều được gọi là Bọ Bunyan. Chúng được bện vào những lưỡi câu to, số 2 và số 4, và có thân bằng nút bần cùng những sợi lông ngựa cứng được cột vuông góc với trục thân để chúng bay cao trên mặt nước như những con chuồn chuồn lộn ngửa. Thân bấc được sơn những màu khác nhau rồi được phủ dầu lắc. Có lẽ con to nhất và sặc sỡ nhất trong cả trăm con mồi mà em tôi lấy làm trò đùa là con Bọ Bunyan số 2 - Bọ đá vàng.
Tôi nhìn nó và cảm thấy thật hoàn hảo. Vợ tôi, mẹ vợ và em dâu vợ tôi, mỗi người dù bằng những ngôn từ khá khó hiểu, đều đã vừa tái khẳng định sự yêu quý của họ đối với tôi. Còn tôi, bằng lời lẽ hơi tối nghĩa của mình, cũng đáp lại tình yêu đó. Có thể tôi sẽ không bao giờ gặp lại gã anh vợ nữa. Mẹ tôi đã tìm thấy bộ đồ câu cũ của cha tôi và ông lại đi câu với chúng tôi thêm một lần nữa. Em trai tôi dịu dàng chăm sóc tôi, và chưa câu được con cá nào. Tôi thì sắp vớ bẫm.
Thật khó quăng câu những con Bọ Bunyan khi gió thổi, bởi vì bần và lông ngựa làm cho chúng rất nhẹ mặc, dù to lớn kềnh càng. Nhưng mặc dù cơn gió làm giảm tầm quăng, cùng lúc nó cũng làm cho con mồi đáp chậm và gần như thẳng đứng xuống mặt nước mà không làm văng nước khiến lộ tẩy con mồi giả. Con Bọ đá của tôi vẫn còn đang treo trên mặt nước thì có một cái gì đó giống như một chiếc ca nô lướt đến gần, hất văng mồi lên không trung, lượn vòng, kéo hết ga quay thẳng trở lại, và gầm rú lao đến điểm X, nơi con Bọ đá đáp xuống. Sau đó, chiếc ca nô biến thành tàu ngầm, nuốt hết mọi thứ, trong đó có con mồi giả vào bụng rồi lặn bặt tăm xuống dòng nước sâu. Tôi không thể thu dây đủ nhanh để theo kịp thứ đang biến mất và tôi không thể thay đổi đường đi của nó. Do không nhanh bằng thứ ở dưới nước, tôi thật sự đã giật nó lên không. Từ nơi đang đứng, tôi cho rằng mình không thấy được điều xảy ra, nhưng trái tim tôi nằm ở đầu sợi dây câu và truyền về ấn tượng của nó khi con vật đến gần. Ấn tượng chung của tôi là cuộc sống dưới nước đã biến thành cuộc thi của những chàng chăn bò. Thông tin cụ thể là một con Cầu Vồng lớn đã ra khoảng nắng - đớp mồi, lộn hai vòng trong không trung, mỗi lần như vậy đều bị va vào sợi dây câu và rách mép, rớt khỏi lưỡi câu, trong khi con mồi giả bay lên không trung. Thông tin rõ ràng là nó không bao giờ ngoái lại để nhìn. Thông tin duy nhất mà tôi nắm bắt được là khi tôi thu dây, không có gì ở đầu sợi dây câu trừ một cái nút bần và một vài cái lông đuôi ngựa.
Mấy con bọ đá vẫn béo tròn như mọi khi, lũ cá vẫn lượn vòng trong dòng nước tĩnh lặng, và tôi đã khôn ngoan hơn một chút. Tôi không để tâm nhiều đến việc sử dụng kiến thức, ngay cả của chính mình, nhưng trước khi quăng câu lần tiếp theo, tôi phải lưu ý là những con Cầu Vồng to đôi khi đến vùng nước yên, bởi vì các côn trùng nước nở trong nước hay gần dòng nước êm. “Hãy chuẩn bị tinh thần” - Tôi tự bảo mình, lòng nhớ đến một bài hát xung trận xưa. Tôi cũng chấp nhận lời khuyên của chính bản thân là hãy để thêm vài vòng dây trong bàn tay trái để giảm bớt lực kéo trong lần kéo chạy đầu tiên của con Cầu Vồng lớn kế tiếp, vốn đang lượn lờ trong dòng nước êm.
Thế là vào buổi chiều tuyệt vời khi mọi thứ đều tốt đẹp, tôi cứ quăng câu là dính, và đôi lần tôi miễn cưỡng chấp nhận lời khuyên để đạt đến sự hoàn hảo. Tôi không để vuột lần nào.
Từ đó trở đi, tôi để cho mồi bay quá xa đến nỗi đôi khi chúng vọt qua sông và đáp xuống ngay trước mặt Paul.
Khi tôi còn nhỏ, một cô giáo đã cấm tôi nói “hoàn hảo hơn”, bởi vì cô bảo rằng nếu một thứ gì đó đã hoàn hảo thì nó không thể tốt hơn được nữa. Nhưng cho đến giờ, tôi đã chứng kiến đủ để có lại niềm tin vào cuộc sống. Cách đây hai mươi phút tôi đã cảm thấy mỹ mãn, nhưng giờ, em tôi đã tháo mũ ra và cứ vài lần quăng câu lại thay mồi. Tôi biết nó chẳng đem con mồi loại đặc biệt nào như con Bọ Bunyan số 2 - Bọ đá vàng. Tôi đã có năm hay sáu con Cầu Vồng lớn trong giỏ. Chúng bắt đầu làm đau vai tôi, vì thế, tôi để nó lại trên bờ ở phía sau. Thỉnh thoảng tôi quay lại nhìn và cười với cái giỏ. Tôi có thể nghe thấy tiếng nó đập vào những tảng đá và đổ nghiêng. Nhưng có lẽ tôi đã vi phạm quy tắc ngữ pháp, tôi đang cảm thấy mỹ mãn hơn sau mỗi con Cầu Vồng câu được.
Ngay sau khi cái giỏ lay động một cái thật mạnh thì có tiếng quẫy ùm một cái làm nước văng tung tóe ở phía bên trái chỗ tôi quăng câu.”Lạy Chúa” - Tôi nghĩ trước khi có thể nhìn xem là gì - “không có con cá nào to như vậy dưới sông Blackfoot”. Và khi tôi đã dám nhìn thì thấy không có gì ngoài một vòng tròn sóng nước đang loang dần, loang dần. Cuối cùng, đợt sóng đầu tiên loang gần đến đầu gối của tôi. Tôi nghĩ: “Hẳn là một con hải ly”. Tôi đang chờ nó trồi lên thì một thứ gì đó lại quẫy ở đằng sau tôi. “Lạy Chúa” - Tôi lại nói - “tôi hẳn sẽ thấy một con hải ly bơi dưới nước gần chỗ tôi”. Trong khi tôi đang ngoái cổ lại phía sau, thì có thứ gì đó lại làm bắn nước ngay trước mặt tôi, quá gần nên nước văng ướt người và cũng đủ gần để thấy được điều gì đang xảy ra dưới nước. Bùn đang cuộn lên từ đáy sông như làn khói bốc lên từ nơi bị sét đánh. Một viên đá cỡ vừa đang nằm ở chỗ làn khói đang cuộn lên.
Khi tôi đang liên kết những gì đã xảy ra với viên đá hiện tại, nước lại bắn tung tóe ngay trước mặt tôi, nhưng lần này thì tôi chẳng buồn nhảy.
Quỷ tha ma bắt, đồ hải ly! Không cần nhìn, tôi cũng biết đó là em tôi. Điều này không thường xảy ra trên đời, chỉ khi nào bạn câu của nó đang câu dính cá còn nó thì không. Đó là một cảnh rất hiếm khi xảy ra mà khi chứng kiến, Paul không chịu được. Vì thế, nó sẽ phá cái vũng của bạn câu, ngay cả khi đó là anh trai nó. Tôi nhìn lên vừa kịp lúc thấy một viên đá cuội cỡ vừa từ trên trời rơi xuống và tôi không kịp né mình để tránh nước văng khắp người.
Paul đã bỏ mũ ra và dứ nắm đấm về phía tôi. Tôi biết nó đã câu hết đám mồi giả dắt trên dải mũ trước khi ném đá tôi. Tôi dứ nắm đấm đáp trả lại nó, rồi lội vào bờ, ở đó, cái giỏ cá của tôi vẫn đang quẫy đùng đùng. Trong suốt cuộc đời của mình, tôi chỉ dùng giải pháp ném đá vài lần, đó là trước đây. Tôi cảm thấy mỹ mãn hơn bao giờ hết.
Tôi chẳng phiền lòng là Paul đã phá cái vũng trước khi tôi thu hoạch đầy cái giỏ câu, bởi vì còn một vũng lớn nằm giữa chúng tôi và cha. Cái vũng tôi vừa câu hầu như ngập nắng, mặc dù trời đã trở nên mát hơn, nhưng nó vẫn ấm nên cái vũng phía trước nằm trong bóng râm sẽ thậm chí còn tốt hơn và tôi sẽ không gặp rắc rối gì với việc hoàn thành công việc bằng một con Bọ Bunyan số 2 - Bọ đá vàng.
Tôi và Paul đi gần hết chiều dài của cái vũng đầu tiên thì chúng tôi có thể nghe tiếng nhau hét vọng qua sông. Tôi biết Paul ghét hét vọng sang như thế: “Chúng nó ăn mồi gì?”. Những từ cuối “ăn mồi gì” vọng qua sông và làm tôi hài lòng.
Khi tiếng vọng đã tắt, tôi hét lên đáp lại: “Bọ đá vàng”. Những từ ấy vang vọng mãi cho đến khi chúng chìm vào tiếng của dòng sông. Paul liên tục quay chiếc mũ vòng vòng trong tay.
Tôi có lẽ đã bắt đầu hơi xấu hổ về bản thân. “Anh câu bằng Bọ Bunyan. Em có con nào không?”. “Không” - Nó hét trước khi hai từ “nào không” kịp vang vọng. Sau đó, các âm “nào không” và “không” giao thoa khi vọng lại.
“Anh sẽ lội sang sông đưa cho em một con” - Tôi nói qua hai bàn tay khum lại làm loa. Câu đó quá dài khi nói vọng qua sông, và phần đầu của nó khi vọng lại gặp phần cuối vừa bắt đầu phát đi. Tôi không biết liệu Paul có hiểu tôi nói gì không, nhưng dòng sông vẫn trả lời: “ Không cần”.
Khi đang đứng trong làn nước yên lặng, râm mát, tôi phần nào để ý thấy không có con bọ đá nào đang nở, và lẽ ra tôi nên nghĩ lâu hơn về điều mình trông thấy, nhưng thay vì thế, tôi lại nghĩ về tính cách con người. Dường như khá tự nhiên khi bắt đầu nghĩ về tính cách vào lúc bạn vượt lên trước ai đó, đặc biệt là tính cách của người ở phía sau. Tôi đang nghĩ về cách em trai tôi dựa vào chính mình để thoát khỏi rắc rối khi tình hình trở nên khó khăn. Nó không bao giờ mượn bất cứ con mồi giả nào của tôi. Tôi cứ suy nghĩ miên man mãi về chủ đề này trước khi trở về thực tại với những con bọ đá vàng. Tôi bắt đầu bằng suy nghĩ mặc dù nó là em trai tôi nhưng nó đôi khi là kẻ đầu bướu. Tôi cứ theo mạch nghĩ này trở ngược lại những người Hy Lạp, họ nghĩ rằng từ chối mọi sự giúp đỡ có thể làm bạn thiệt mạng. Sau đó, tôi bỗng nhớ ra rằng em tôi hầu như luôn luôn là người thắng cuộc và thường là do nó không bao giờ mượn mồi câu. Vì thế, tôi xác định rằng phản ứng của chúng tôi đối với tính cách vào một ngày bất kỳ phụ thuộc nhiều vào phản ứng của cá đối với tính cách vào ngày hôm đó. Và khi nghĩ về phản ứng của cá, tôi chuyển nhanh về thực tại và tự nhủ: “Còn một vũng nữa để câu”.
Chẳng có lấy một cú đớp mồi, và tôi chẳng thấy một con bọ đá nào, mặc dù cũng trên cùng một dòng sông như cái vũng ở trên, nơi tôi hẳn đã có thể câu đủ số cách đó vài phút, nếu em trai tôi không ném đá xuống nước. Con Bọ Bunyan đoạt giải của tôi bắt đầu trông giả giả đối với tôi cũng như lũ cá. Đối với tôi, nó trông giống một cái nệm nổi lều bều. Tôi quăng nó về phía thượng nguồn và để nó trôi xuôi tự nhiên như thể nó đã chết. Sau đó, tôi quật nó xuống nước như nó bị gió thổi bay xuống. Sau đó, tôi cho nó chạy theo hình chữ chi khi thu dây, như thể nó đang cố gắng bay lên. Nhưng rõ ràng nó vẫn giữ nguyên cái vẻ là một cái nệm nổi. Tôi lôi nó lên và thử một vài con mồi khác. Không có con côn trùng nào dưới nước để tôi bắt chước, vả lại cũng chẳng có con cá nào nhảy lên khỏi mặt nước.
Tôi bắt đầu nhìn qua vành mũ sang bên kia sông. Paul cũng chẳng câu được nhiều. Tôi trông thấy em trai tôi câu được một con, nó quay người và xách con cá lên bờ - một con cá cũng chẳng nhiều nhặn gì. Tôi cảm thấy bớt mỹ mãn hơn một chút.
Sau đó, Paul bắt đầu làm một điều mà hầu như nó chưa bao giờ làm, ít nhất là kể từ khi nó đủ lớn để vênh váo. Nó đột nhiên bắt đầu câu về phía thượng nguồn, câu lại vùng nước nó vừa mới câu xong. Cách đó giống của tôi hơn khi tôi cảm thấy mình câu cái vũng chưa đúng cách hay sai góc độ, nhưng khi em tôi câu ở một cái vũng thì nó cho rằng mình đã thử hết các khả năng. Tôi giật mình và dựa vào một tảng đá lớn để quan sát.
Hầu như ngay lập tức, Paul bắt đầu lôi cá vào. Những con cá thật to. Và nó cũng chẳng bỏ nhiều thời gian để cho cá đáp xuống đất. Tôi nghĩ Paul thả dây quá ngắn và lôi lũ cá vào quá nhanh, nhưng tôi biết nó đang bận rộn. Em trai tôi mong chờ sẽ vớ bẫm ở cái vũng này, và nó sẽ không để cho bất kỳ con cá nào quẫy đập lung tung dưới nước, làm cho những con cá còn lại hoảng sợ bơi đi mất. Nó đã dính được một con cá và đang thu dây quá mạnh đến nỗi giật con cá lên không trung. Khi con cá nhảy, Paul ngả người nắm cần và quật con cá xuống nước trở lại. Phổi con cá giờ chứa đầy không khí, nó lướt trên mặt nước với cái đuôi như cánh quạt của chiếc thủy phi cơ cho đến khi có thể điều áp được khoang lặn và lặn xuống nước trở lại.
Paul để vuột mất vài con cá, nhưng hẳn nó phải được mười con vào thời điểm quay lại đầu cái vũng.
Sau đó, nó nhìn qua sông và thấy tôi ngồi bên cái cần của mình. Em trai tôi bắt đầu câu trở lại, ngừng, và nhìn tiếp. Nó khum bàn tay và hét: “Anh có mồi Bờm vàng số 2 của George không, loại có cánh bằng lông vũ chứ không phải lông ngựa ấy?”. Tôi nghe được “số 2” đầu tiên, vì đó là cái lưỡi to chết tiệt, tiếp theo là “George”, vì đó là bạn câu của chúng tôi, rồi “vàng”. Với lượng thông tin đó, tôi bắt đầu tìm trong hộp, và để những từ khác tạo thành câu sau.
Một trong những điều bất tiện khi mang theo một hộp mồi chứa đầy mồi giả như tôi là gần nửa thời gian, tôi vẫn không có được con mồi phù hợp.
“Không” - Tôi thú nhận vọng qua sông - Và con nước tiếp tục lặp lại những lời thú nhận của bạn.
“Em sẽ sang bên đó” - Paul gọi vọng lại và lội lên thượng nguồn.
“Khỏi” - tôi hét theo, ngụ ý là đừng ngừng câu vì tôi. Bạn không thể chuyển một lời ngụ ý sang sông, hay nếu bạn có thể chuyển đi nữa thì cũng dễ bị làm ngơ. Em tôi đi đến đầu thấp của cái vũng đầu tiên nơi nước nông và lội qua.
Vào thời điểm Paul đến chỗ tôi, tôi đã điểm lại hầu hết các chiêu nó hẳn đã dùng để nhận ra cá đang ăn gì. Từ lúc Paul bắt đầu quăng câu về phía thượng nguồn, cần câu của nó luôn nghiêng ở một góc và dây quá chùng nên nó hẳn phải câu bằng mồi thấm nước và để cho mồi chìm. Thật ra, dây chùng như vậy thì nó hẳn phải để cho mồi chìm mười ba hay mười lăm phân. Vì thế, khi tôi đang câu ở cái vũng này như tôi đã câu ở cái vũng trước, với một con mồi thân bằng bần nổi trên mặt nước, tôi đã dồn hết sức cho trận cuối. Lưỡi “số 2” tất nhiên cho tôi biết rằng đó là một con côn trùng to chết tiệt, nhưng “vàng” có thể có nhiều nghĩa. Câu hỏi lớn của tôi vào thời điểm Paul lội đến chỗ tôi là: “Chúng đang ăn côn trùng nước ở giai đoạn ấu trùng hay nhộng, hay chúng đang ăn côn trùng đã mọc cánh bị rớt xuống nước?”.
Paul vỗ nhẹ lưng tôi và đưa cho tôi một trong những con Bờm vàng số 2 của George với một cái cánh bằng lông vũ. Nó nói: “Chúng nó đang ăn bọ đá vàng rớt xuống nước”.
Tôi hỏi Paul: “Sao em nghĩ ra?”
Em trai tôi hồi tưởng lại những gì đã xảy ra như một phóng viên. Nó bắt đầu trả lời, lắc đầu khi nhận ra mình sai, và sau đó bắt đầu trở lại. “Tất cả là: suy nghĩ là thấy được điều gì đó đáng chú ý khiến cho bạn thấy được điều gì đó bạn không chú ý vốn làm cho bạn thấy được điều thậm chí vô hình”.
Tôi nói với em tôi: “Cho anh một điếu thuốc và nói lại xem ý em là gì”.
“À” - Paul nói: “Điều đầu tiên em chú ý về cái vũng này là anh trai của em chưa câu được con cá nào ở đây. Không có gì đáng lưu ý đối với một người đi câu hơn là việc bạn câu của anh ta chưa câu được con cá nào. Điều đó làm cho em hiểu rằng em chưa thấy một con bọ đá nào bay quanh cái vũng này”.
Sau đó, nó hỏi tôi: “Trên đời này còn gì hiển nhiên hơn là ánh nắng và bóng râm, nhưng cho đến khi em thật sự nhận ra rằng ở đây không có con bọ đá nào nở thì em vẫn không để ý rằng cái vũng phía trên nơi chúng nở hầu như ngập trong ánh nắng, còn cái vũng này nằm trong bóng râm”.
Miệng tôi khô khốc không thể thốt nên lời, và điếu thuốc lại càng làm cho nó khô hơn, vì thế, tôi búng điếu thuốc xuống nước.
“Sau đó, em biết nếu có côn trùng cánh ở cái vũng này, thì hẳn chúng phải đến từ cái vũng ngập nắng phía trên, là nơi đủ ấm để chúng có thể nở được. Mà như vậy thì lẽ ra em phải thấy xác chúng trên mặt nước. Do em không thấy xác chúng trên mặt nước, nên em biết rằng chúng phải ở dưới nước ít nhất là mười lăm hay mười tám phân, là nơi em không trông thấy chúng được. Vì thế em đã câu ở đó”.
Nó dựa vào một tảng đá to với hai bàn tay gối sau đầu cho êm. “Anh hãy lội ra đó và thử con mồi số 2 của George đi”, nó nói và chỉ vào con mồi đưa cho tôi lúc nãy.
Tôi không câu được ngay, và tôi cũng không mong điều đó. Bờ phía bên tôi mặt nước tĩnh lặng, là bên phù hợp để câu cái vũng phía trên nơi có đám bọ đá đang nở, nhưng ở đây đám bọ đá rơi xuống nước bị nhấn chìm dưới dòng nước xiết của bờ bên kia vũng. Tuy nhiên sau bảy, tám lần quăng câu, một loang nước nhỏ xuất hiện trên mặt nước. Một loang nhỏ thường là một con cá nhỏ trồi lên mặt nước, nhưng cũng có thể là một con cá to quẫy mình dưới nước. Nếu đó là một con cá to dưới nước thì nó trông không giống một con cá bằng một cái cầu vồng với những đường cong lúc ẩn lúc hiện.
Paul thậm chí không chờ để xem tôi có kéo được con cá lên không. Nó lội ra để nói chuyện với tôi. Nó cứ nói mãi như thể tôi có thời gian để vừa nói chuyện vừa kéo con cá to lên. Nó nói: “Em sẽ lội trở về và câu bên kia bờ vũng”. Đôi khi tôi nói: “Ừ”, và khi con cá lên khỏi mặt nước, tôi không nói được nữa, và khi con cá kéo chạy, cuối cùng tôi nói: “Em sẽ phải nói đi nói lại chuyện đó”.
Cuối cùng, chúng tôi hiểu ý nhau. Nó sẽ lội sông trở lại và câu ở phía bên kia. Cả hai chúng tôi đều nên câu thật nhanh, vì có lẽ cha đang chờ chúng tôi. Paul ném điếu thuốc xuống nước rồi bước đi mà không chờ xem liệu tôi có kéo được con cá lên không.
Chẳng những tôi ở sai phía của dòng sông để câu với những con bọ đá chết chìm, mà Paul còn là tay câu cuốn đủ giỏi để câu được phần lớn phía bên tôi từ vị trí của nó. Nhưng dù sao tôi cũng câu được thêm hai con nữa. Chúng bắt đầu chỉ là hai loáng nước nhỏ trông như con cá nhỏ ăn mống, thế nhưng thực tế lại là những đường cong gãy của những con cầu vồng to ở dưới nước. Sau khi câu được hai con này, tôi ngừng câu. Tổng cộng được mười con, và ba con cuối cùng là ba con tuyệt nhất mà tôi từng câu được. Chúng không to nhất hay đẹp nhất, nhưng chúng là ba con cá tôi câu được nhờ em tôi lội qua sông để đưa cho tôi con mồi và bởi vì chúng là những con cá cuối cùng tôi câu cùng em mình.
Sau khi lau mấy con cá, tôi tách ba con cá này ra bằng một lớp cỏ và bạc hà dại. Sau đó, tôi nhấc cái giỏ câu nặng trịch, cử động vai cho đến khi cái quai giỏ không còn cấn vào da thịt, và nghĩ: “Mình đã kiếm đủ cho ngày hôm nay. Mình sẽ đi xuống phía dưới, ngồi trên bờ cạnh cha và nói chuyện với cha”. Sau đó tôi nghĩ thêm: “Nếu cha không cảm thấy thích nói chuyện, mình sẽ chỉ ngồi chơi với ông”.
Tôi có thể thấy mặt trời phía trước. Sự xuất hiện đột ngột của ánh sáng làm cho khi nhìn từ bóng râm, tôi và dòng sông chảy sâu bên dưới trông như trồi lên mặt đất. Mặc dù cho đến giờ tôi chỉ có thể thấy ánh nắng chứ không nhìn thấy gì trong cái vùng nắng chói chang ấy, tôi vẫn biết cha tôi đang ngồi đâu đó trên bờ sông. Tôi biết một phần vì ông và tôi có chung tần số, thậm chí còn ngừng câu cùng lúc. Mặc dù chưa thể nhìn thấy gì ở phía trước, tôi vẫn chắc là ông đang ngồi đâu đó ngoài trời nắng và đọc sách Tân ước bằng tiếng Hy Lạp. Tôi biết điều này cả bằng bản năng và kinh nghiệm.
Tuổi già đã đem lại cho cha tôi những khoảnh khắc hoàn toàn bình yên. Thậm chí khi chúng tôi đi săn vịt trời và tiếng súng buổi sớm đã tắt thì ông cũng sẽ ngồi ở chỗ mai phục, mình khoác tấm mền quân dụng cũ, một tay cầm quyển sách Tân ước bằng tiếng Hy Lạp, tay kia cầm khẩu súng săn. Khi một con vịt lạc lối tới gần, ông sẽ để cuốn sách xuống, đoạn nâng súng lên, và sau khi bắn xong, ông lại cầm quyển sách lên, thi thoảng lại dừng việc đọc để cám ơn con chó của mình vì đã cắp con vịt về.
Giọng nói của dòng sông ngầm chảy trong bóng râm khác với giọng nói của dòng sông loáng nắng ở phía trước. Trong bóng râm chảy bên vách đá, dòng sông sâu và có những vực thẳm, thỉnh thoảng lại uốn quanh trở lại để tâm tình, để chắc rằng mình đã hiểu được chính mình. Nhưng dòng sông trước mặt đổ ra một thế giới tràn đầy nắng như một gã ba hoa, cố hết sức để tỏ ra thân mật. Nó gật đầu chào một bên bờ rồi đến bên kia để không ai cảm thấy bị bỏ rơi.
Vào lúc này, tôi đã có thể nhìn thấy bên trong khoảng nắng và nhận ra cha tôi. Ông đang ngồi trên bờ cao, đầu không đội mũ. Dưới ánh nắng, mái tóc hung bạc màu của ông một lần nữa lại rực cháy và bừng sáng. Ông đang đọc, mặc dù rõ ràng là chỉ đọc từng câu, bởi vì ông thường nhìn ra khỏi quyển sách. Sau khi trông thấy tôi, mãi một lúc sau, ông mới gập sách lại.
Tôi bò lên bờ sông và hỏi ông: “Cha câu được bao nhiêu con rồi ạ?”.
“Đủ số cha muốn”.
“Là bao nhiêu con?”
“Bốn hay năm con gì đó”.
“Có to không ạ?”
“Chúng rất đẹp”.
Cha tôi là người duy nhất biết dùng từ “đẹp” trong ngôn ngữ hàng ngày, và tôi nghĩ mình đã tiếp thu thói quen đó khi quanh quẩn bên cạnh ông hồi nhỏ.
“Còn con, câu được mấy con?”
“Con cũng câu được đủ số con muốn”.
Cha tôi bỏ qua câu hỏi đủ số là mấy, nhưng ông hỏi tôi: “Chúng có to không?”. “Chúng rất đẹp” - Tôi trả lời rồi ngồi xuống cạnh ông.
“Cha đọc gì vậy?”
“Một quyển sách”
Quyển sách nằm trên mặt đất ở phía bên kia của ông. Vì thế tôi chẳng mất công nhìn qua đầu gối ông để xem nó. Cha tôi nói tiếp: “Một quyển sách hay”.
Sau đó ông bảo tôi: “Trong phần cha đang đọc, sách nói rằng Ngôi Lời là khởi đầu của vạn vật, và đúng như vậy. Cha từng nghĩ rằng nước là khởi nguyên, nhưng nếu con lắng nghe, con sẽ thấy rằng lời nói nằm bên dưới con nước”.
“Đó là vì trước tiên, cha là một mục sư rồi mới là một người câu cá. Nếu cha hỏi Paul, nó sẽ nói với cha rằng lời nói được tạo ra từ con nước”.
“Không, con chưa lắng nghe kỹ. Con nước chảy trên những lời nói. Paul cũng sẽ nói với con như vậy. À, Paul đâu rồi?”
Tôi bảo ông rằng nó đã quay lại câu ở chỗ cái vũng đầu tiên một lần nữa. “Nhưng nó đã hứa sẽ về đây sớm” - Tôi nói cho ông yên tâm. “Nó sẽ về đây khi đã câu đủ số” - Cha tôi bổ sung. “Nó sẽ về đây sớm thôi” - Tôi lại trấn an ông, một phần là vì tôi đã có thể trông thấy em trai trong bóng râm ở sâu bên dưới.
Cha tôi trở lại với việc đọc và tôi cố kiểm nghiệm lại những gì chúng tôi đã nói với nhau bằng cách lắng nghe. Paul đang câu nhanh, kéo câu lúc ở chỗ này lúc ở chỗ kia và không bỏ phí thời gian khi lôi những con cá mắc mồi lên bờ. Khi nó ở ngay đối diện với chúng tôi, nó giơ hai ngón tay, mỗi bàn tay một ngón lên. Thấy thế, cha tôi bảo: “Nó còn thiếu hai con nữa mới đủ số”.
Tôi nhìn xem quyển sách đang mở ra ở phần nào và chỉ biết đủ tiếng Hy Lạp để nhận ra chữ λόγος nghĩa là Ngôi Lời[1]. Tôi đoán từ chữ đó và luận điểm mà tôi đang xem ở câu đầu tiên trong sách của John. Khi tôi đang xem, cha tôi báo cho biết: “Nó vừa dính một con”.
Thật khó tin, bởi vì nó đang câu ngay trước mặt chúng tôi ở phía bên kia của cái vũng cha vừa câu. Cha tôi chậm rãi đứng dậy, tìm thấy một viên đá khá to và giữ ở sau lưng. Paul kéo con cá lên rồi lại lội ra câu con cá thứ hai mươi cũng là hạn mức của nó. Ngay khi nó đang quăng câu lần đầu thì cha tôi ném viên đá. Ông đã khá già nên ném một cách vụng về và sau đó phải xoa vai, nhưng viên đá đáp xuống sông ngay chỗ mồi câu của Paul rơi xuống và hầu như cùng lúc, vì thế bạn có thế hiểu em tôi đã học cách ném đá xuống vùng nước của bạn câu khi nó không thể chịu nổi việc chứng kiến bạn câu của mình câu được nhiều cá hơn.
Paul chỉ giật mình một chút. Sau đó, nó phát hiện ra cha đứng trên bờ sông xoa vai, nó cười, dứ nắm đấm về phía ông, rồi trở lại bờ và đi xuôi dòng cho đến khi nó ra khỏi tầm ném đá. Từ chỗ đó, nó lội xuống nước và bắt đầu quăng câu trở lại, nhưng giờ nó đã đủ xa để chúng tôi không thể trông thấy dây câu hay vòng dây của nó. Paul là người có cây đũa thần điều khiển dòng sông, và dù bất cứ điều gì xảy ra, chúng tôi cũng phải đoán từ những gì người đó, cây đũa thần và dòng sông đã làm.
Khi Paul lội ra, cánh tay phải nở nang của nó vung trước sau. Mỗi vòng xoay của cánh tay lại làm ngực nó nở căng lên. Mỗi vòng xoay lại nhanh hơn, cao hơn và dài hơn, cho đến khi cánh tay trở nên ngang ngạnh và ngực nó đỡ lấy bầu trời. Trên bờ, mặc dù không thể thấy được dây câu nhưng chúng tôi chắc chắn rằng không trung phía trên đầu Paul đang rít lên những vòng dây không bao giờ chạm mặt nước, mà ngày càng rộng ra mỗi lần chúng bay qua và rít lên. Và chúng tôi biết nó đang nghĩ gì qua cái vẻ ngang tàng kéo dài cánh tay của nó. Paul sẽ không để cho mồi giả của mình chạm mặt nước gần bờ, nơi cá nhỏ và cá tầm tầm ăn mồi. Qua cánh tay và ngực của nó, chúng tôi biết toàn bộ cơ thể nó đang nói rằng: “Con cuối cùng không được là con cá nhỏ”. Mọi sức lực dồn vào cú quăng câu lớn vì một con cá lớn sau cùng.
Từ góc nhìn của chúng tôi ở độ cao trên bờ sông, cha tôi và tôi có thể trông thấy cây đũa thần của nó sẽ để cho mồi giả chạm mặt nước ở nơi phía xa. Ở giữa dòng sông là một tảng đá ngầm, chỉ có đỉnh của nó là lộ ra khỏi mặt nước và bên dưới là một ngôi nhà bằng đá. Nơi này đáp ứng tất cả các yêu cầu về chỗ trú ngụ cho những con cá to - dòng nước xiết mang thức ăn đến các cửa trước và cửa sau, cũng như chỗ nghỉ ngơi và bóng mát phía sau lưng chúng.
Cha tôi bảo: “Phải có một con cá cụ ở ngoài đó”.
“Cá nhỏ không thể sống ngoài đó” - Tôi nói.
“Con cá cụ sẽ không cho nó ở đó” - Cha tôi khẳng định.
Cha tôi có thể biết được qua độ nở của ngực Paul rằng nó sắp để cho vòng dây tiếp theo lao đi. Nó không thể nào rộng hơn được nữa. Ông nói: “Cha muốn câu ở ngoài đó, nhưng cha không thể quăng câu xa như vậy”.
Thân mình của Paul xoay như thể nó sắp đánh quả banh gôn bay ba trăm mét, và cánh tay của nó đưa cao tạo thành một vòng cung lớn còn đầu cây đũa thần của nó thì cong xuống như lò xo, rồi sau đó mọi thứ bật mạnh và rít lên.
Bất chợt, mọi thứ bất động. Người đàn ông bất động. Cây đũa thần không còn uốn cong, không còn quyền năng. Nó chĩa hướng mười giờ và hướng mười giờ nhắm về phía tảng đá. Trong một tích tắc, người đàn ông trông như một thầy giáo với que chỉ bảng minh họa một điều gì đó về đá cho đá nghe. Chỉ có dòng nước là chuyển động. Đâu đó trên đỉnh ngôi nhà đá, một con mồi giả bị cuốn vào dòng nước quá xiết mà chỉ một con cá cụ mới có thể sống ở đó để trông thấy nó.
Sau đó vũ trụ được nạp năng lượng. Cây đũa thần nảy bật lên khi nó tiếp xúc với dòng điện màu nhiệm của thế giới. Cây đũa cố nhảy ra khỏi bàn tay phải của người đàn ông. Bàn tay trái của anh ta trông như đang điên cuồng từ biệt con cá, nhưng thật ra là đang cố thu đủ dây vào cần để giảm bớt hiệu điện thế và cú sốc khi điện giật.
Mọi thứ có vẻ như được nạp điện nhưng lại không gắn với điện. Những tia lửa điện lóe lên ở đây đó trên dòng sông. Một con cá nhảy quá xa phía hạ nguồn đến nỗi trông như nó ở ngoài tầm điện trường của người đàn ông, nhưng khi con cá nhảy, người đàn ông ngửa người kéo cần và chính lúc đó, con cá đổ vật xuống dòng nước mà không làm chủ được sự chuyển động rơi của mình. Mối liên hệ giữa sự chấn động và tia lửa điện trở nên rõ ràng hơn nhờ sự lặp lại. Khi người đàn ông ngửa người kéo cần và con cá rơi trở lại xuống nước không phải chỉ bằng sinh lực của chính mình thì cây đũa thần lại nạp thêm sự chấn động, bàn tay người đàn ông lại vẫy điên cuồng cho một lần đưa tiễn mới, và xa hơn nhiều ở bên dưới, một con cá lại nhảy lên. Do mối liên hệ đó mà con người cùng con cá trở thành một.
Con cá đã cố chạy trốn ba lần trước khi một màn diễn mới lại bắt đầu. Mặc dù màn diễn bao gồm một người có tầm cỡ và một con cá to, song, trông nó vẫn giống trò chơi của trẻ con hơn. Bàn tay trái của người đàn ông bắt đầu lén thu dây trở lại, và sau đó như thể bị bắt quả tang, thu toàn bộ dây vào cần khi con cá hiểu ra và bắt đầu thêm một lần trốn chạy nữa.
“Nó sẽ tóm được con cá” - Tôi khẳng định với cha mình.
“Hiển nhiên rồi” - Cha tôi nói. Dây câu còn ở bên ngoài trở nên ngắn hơn phần bàn tay trái kéo vào.
Khi Paul nhìn xuống nước phía sau mình, chúng tôi biết nó định bắt đầu lôi con cá vào bờ và không muốn lùi trúng một cái hố hay tảng đá. Chúng tôi có thể nói rằng nó đã kéo con cá vào vùng nước nông, bởi vì nó nâng cái cần ngày càng cao để giữ con cá không va vào bất cứ thứ gì dưới đáy. Ngay khi chúng tôi nghĩ rằng màn trình diễn đã chấm dứt, thì cây đũa giật nảy và người đàn ông đánh xuống nước, vào một sức mạnh vô hình nào đó đang phóng ra vùng nước sâu.
“Con cá chó đẻ vẫn kháng cự” - Tôi nghĩ là mình nói thầm, nhưng không thể lầm lẫn tôi đã nói ra miệng, và bối rối vì đã nói to ngay trước mặt cha tôi.
Ông không nói gì.
Thêm hai, ba lần nữa Paul lôi con cá gần hơn vào bờ, nó lại quẫy và quay trở lại chỗ nước sâu, nhưng ngay cả từ khoảng cách đó, cha tôi và tôi vẫn có thể cảm thấy sự đuối sức dần của sức mạnh dưới nước kia. Chiếc cần phất cao lên không trung, và người đàn ông lùi nhanh nhưng bình tĩnh về phía sau, đó là những cử động mà khi dịch ra thành sự kiện thì có nghĩa là con cá đã cố kháng cự một lúc trên mặt nước và người đàn ông đã nhanh chóng nâng cái cần lên cao rồi lôi nó lên bờ trước khi con cá nghĩ đến việc lặn xuống nước một lần nữa. Paul lôi con cá qua những tảng đá trở lại một doi cát trước khi con cá bị ngạt ngáp ngáp và phát hiện ra mình không thể sống trên cạn. Trong cơn tuyệt vọng muộn màng, con cá trỗi dậy trên cát và dùng phần đời ngắn ngủi còn lại để nhảy Vũ điệu của Thần chết trên đuôi của mình.
Người đàn ông bỏ cây đũa xuống, quỳ chống tay trên nền cát, và giống như một con thú, anh ta vờn quanh một con thú khác, chờ đợi. Sau đó, bờ vai đẩy thẳng ra, em tôi đứng dậy, quay về phía chúng tôi, cánh tay giơ lên tự tuyên bố mình là người chiến thắng. Một cái gì đó khổng lồ lủng lẳng dưới nắm tay của nó. Nếu những người La Mã nhìn thấy cảnh này, họ hẳn sẽ nghĩ rằng vật đang đung đưa có đội mũ giáp.
“Thế là nó đã kiếm đủ số” - Tôi nói với cha mình.
“Trông nó thật đẹp” - Cha tôi nhận xét, mặc dù em tôi vừa hoàn thành chỉ tiêu của nó ở cái vũng mà cha tôi đã câu trước đó.
Đây là con cá cuối cùng mà chúng tôi thấy Paul câu được. Sau này, cha tôi và tôi còn nói về khoảnh khắc này vài lần, và dù chúng tôi có cảm giác nào khác đi chăng nữa, chúng tôi vẫn luôn cảm thấy rằng nói về điều này là phù hợp: khi chúng tôi chứng kiến Paul câu con cá cuối cùng của mình, chúng tôi không hề trông thấy con cá mà chỉ trông thấy nghệ thuật của người câu.
Trong khi cha tôi đang quan sát Paul, ông cũng vươn sang để vỗ vai tôi, nhưng ông vỗ trượt, vì thế ông phải quay nhìn và tìm đầu gối của tôi để cố lại lần nữa. Ông hẳn phải nghĩ là tôi cảm thấy bị bỏ quên và cảm thấy nên bảo tôi rằng ông cũng tự hào về tôi nhưng vì những lý do khác.
Nước hơi sâu và chảy xiết ở chỗ Paul đang cố lội sang sông, và nó biết như vậy. Nó cúi mình trên mặt nước, hai cánh tay xoãi rộng để giữ thăng bằng. Nếu bạn từng lội sông lớn, có thể bạn đã cảm nhận từ khoảng cách xa như vậy rằng sức mạnh của dòng nước làm cho chân bị yếu đi, chùng xuống và chực chới với dưới thân người. Em tôi nhìn xuôi dòng để ước lượng khoảng cách đến một chỗ dễ lội hơn.
Cha tôi bảo: “Nó sẽ chẳng rước lấy rắc rối bằng cách đi xuôi xuống dưới. Nó sẽ bơi sang sông”. Cùng lúc, Paul cũng nghĩ như vậy nên bỏ mấy điếu thuốc và hộp diêm vào dưới mũ.
Cha tôi và tôi ngồi trên bờ sông, nhìn nhau cười. Hai chúng tôi không ai có ý nghĩ phải vội vã đi lên bờ sông, vì có thể Paul cần giúp đỡ khi tay phải thì cầm cần câu, vai trái thì đeo cái giỏ chứa đầy cá. Trong gia đình tôi, việc một người câu cá bơi qua sông với bao diêm để trên đầu không có gì to tát. Chúng tôi cười nhạo nhau vì anh ta sẽ ổn nhưng ướt sũng, và chúng tôi sống trong hình ảnh của anh ta, bị quét qua những tảng đá cùng anh ta và giơ cao cái cần câu của anh ta trên tay chúng tôi.
Khi Paul lội lên bờ, nó gượng đứng thẳng dậy và sau đó ngã quỵ, và khi nó đứng lên lại, nước từ người nó lại tuôn xuống nhiều hơn và nó đi xiêu vẹo lên bờ. Em tôi không dừng lại để rũ nước. Nó leo lên bờ sông, trút xuống những giọt nước và hình ảnh của chính mình, để lộ một thứ thò ra khỏi cái giỏ của nó, và nhỏ nước lên khắp người chúng tôi, giống như một con chó săn vịt còn non vì quá vui mừng nên quên rũ nước trước khi xán lại gần người.
“Chúng ta hãy bày tất cả cá lên trên cỏ và chụp một bức ảnh”- Paul nói. Thế là chúng tôi vét giỏ và sắp xếp chúng theo kích cỡ rồi thay phiên chụp ảnh nhau, thán phục cá và ngưỡng mộ chính mình. Các tấm hình khi rửa ra lại giống hầu hết các ảnh không chuyên chụp “chiến lợi phẩm” sau buổi câu - mấy con cá bị trắng vì dư sáng và trông không to như thật, còn những người câu cá thì trông ngượng ngùng như thể tay dẫn đường nào đó đã câu giùm họ.
Tuy nhiên, có một hình ảnh cận cảnh mà đến ngày hôm nay vẫn còn mãi trong tâm trí tôi, như thể đang hiện ra sau khi được tráng qua thuốc rửa ảnh. Thông thường, ngay sau khi câu xong, Paul ít khi nói, trừ phi thấy rằng lẽ ra đã câu được nhiều hơn. Nó thường chỉ cười. Giờ đây, những con mồi giả nhảy nhót quanh dải mũ của em tôi. Những giọt nước lớn chảy từ mũ xuống mặt rồi xuống môi khi nó cười.
Đến tận hôm nay, tôi vẫn nhớ đến Paul vừa như một hình ảnh trừu tượng xa xôi về nghệ thuật câu cá, vừa như một bức ảnh cận cảnh về dòng nước và nụ cười.
Cha tôi luôn cảm thấy xấu hổ khi buộc phải khen ngợi một thành viên trong gia đình, và gia đình của ông luôn cảm thấy xấu hổ khi được ông khen. Cha tôi bảo: “Con là một người câu cá giỏi”.
Em tôi đáp lại: “Con khá giỏi trong việc dùng cần câu, nhưng con cần thêm ba năm nữa để nghĩ được như một con cá”.
Hãy nhớ rằng Paul đã câu được đủ số của mình bằng cách chuyển sang mồi Bờm vàng số 2 có cánh bằng lông vũ của George, tôi nói mà không biết mình đã nói nhiều thế nào: “Em đã nghĩ được như một con bọ đá chết”.
Chúng tôi ngồi trên bờ và dòng sông trôi xuôi. Như mọi khi, em tôi đang nói một mình, và giờ nó nói cho chúng tôi nghe. Thật khó mà biết được trong ba người đàn ông ngồi cạnh nhau này, ai hiểu rõ hơn một dòng sông đang nói gì.
Viền dọc theo sông Blackfoot Lớn phía trên cửa nhánh sông Belmont là những rừng thông Ponderosa lớn. Trong ánh nắng xiên khoai buổi chiều muộn, bóng những cành cây to đổ ngang qua sông, và những cây thông ôm trọn dòng sông trong vòng tay của mình. Những bóng cây đổ dài lên bờ sông, cho đến khi chúng trùm lên chúng tôi.
Tuy nhiên, con sông có quá nhiều thứ để nói đến nỗi khó mà biết được nó nói gì với mỗi người chúng tôi. Khi chúng tôi xếp đồ câu và cá lên xe, Paul lặp lại: “Hãy cho con thêm ba năm”. Vào lúc đó, tôi ngạc nhiên vì lời lặp lại, nhưng sau này tôi nhận ra rằng dòng sông, ở đâu đó, vào một lúc nào đó, hẳn cũng đã bảo với tôi rằng nó sẽ không được ban cho khả năng đó. Bởi vì khi viên trung sĩ cảnh sát đánh thức tôi dậy trước khi trời sáng vào đầu tháng Năm năm sau, tôi đã nhỏm dậy và không hỏi câu nào. Tôi cùng anh ta lái xe vượt qua Phân tuyến lục địa và dọc suốt chiều dài của sông Blackfoot Lớn, qua những thảm rừng vàng rực và đôi khi trắng tinh của hoa loa kèn tuyết để báo tin cho cha mẹ tôi rằng em tôi đã bị đánh đến chết bằng báng súng ru-lô rồi bị vứt xác trong một ngõ hẻm.
Mẹ tôi quay người và đi lên phòng ngủ của bà trong ngôi nhà đầy đàn ông, cần câu và súng trường, nơi bà đã từng đối mặt với hầu hết các khó khăn lớn một mình. Bà không bao giờ hỏi tôi một câu hỏi nào về người đàn ông mà bà yêu thương nhất nhưng lại hiểu về người ấy ít nhất. Có lẽ bà biết đủ để hiểu rằng đối với bà, chỉ cần như vậy cũng quá đủ để yêu thương nó. Nó có lẽ là người đàn ông duy nhất trên thế gian này đã ôm bà trong vòng tay rồi ngả người ra sau và cười.
Khi tôi nói xong với cha tôi, ông hỏi: “Con còn gì để kể cho cha nghe nữa không?”
Cuối cùng, tôi nói tiếp: “Hầu như tất cả xương bàn tay nó đều bị gãy”.
Cha tôi hầu như đã ra đến cửa rồi nhưng sau đó quay người lại để hỏi cho chắc chắn: “Con có chắc rằng xương bàn tay nó bị gãy không?”. Tôi lặp lại: “Gần như tất cả xương bàn tay nó đều bị gãy”. “Bàn tay nào?” - Cha tôi hỏi. “Bàn tay phải” - Tôi trả lời.
Sau cái chết của em tôi, cha tôi không bao giờ đi vững được nữa. Ông phải vật lộn để nhấc bàn chân mình lên, và khi ông nhấc được bàn chân lên, chúng lại rơi xuống, ngoài tầm kiểm soát. Đôi khi tôi lại phải xác nhận lại với ông về cánh tay phải của Paul; rồi cha tôi lại lê bước đi. Ông không thể lê bước thành một đường thẳng khi cố nhấc bàn chân lên. Giống như nhiều mục sư Scotland trước ông, cha tôi đã phải cố tìm niềm an ủi từ sự thật là con trai ông đã chết khi đánh nhau.
Tuy nhiên, thỉnh thoảng ông lại đấu tranh tìm thêm thông tin để mà bấu víu vào đấy. “Con có chắc là con đã kể cho cha nghe mọi điều về cái chết của nó không?”
“Tất cả mọi thứ cha ạ”.
“Như thế là không nhiều phải không?”
“Không nhiều lắm, nhưng cha có thể yêu thương trọn vẹn mà không cần hiểu trọn vẹn kia mà”.
“Cha biết và cha vẫn thường thuyết giảng về điều này”.
Một lần, cha tôi trở lại với một câu hỏi khác: “Con có nghĩ là lẽ ra, cha đã có thể giúp nó?”. Ngay cả nếu tôi có thời gian để suy nghĩ lâu hơn thì tôi cũng vẫn sẽ trả lời: “Cha có nghĩ là lẽ ra, con đã có thể giúp nó?”. Chúng tôi đứng chờ để chiều theo ý nhau. Làm sao có thể trả lời một câu hỏi bằng cách hỏi những câu hỏi của cả một đời người?
Sau một thời gian dài, cha tôi hỏi một câu mà ông hẳn đã muốn hỏi từ đầu: “Con có nghĩ đó chỉ là một vụ cướp và nó đã ngốc nghếch khi cố gắng thoát ra ngoài? Con biết cha muốn nói gì - rằng nó không liên quan đến bất cứ điều gì trong quá khứ của nó”.
“Cảnh sát không biết”.
“Nhưng con có biết không?”- Cha tôi hỏi, và tôi cảm nhận được ẩn ý của ông.
“Con đã nói là con đã kể cho cha tất cả những gì con biết rồi. Nếu cha cứ gặng hỏi con mãi, thì đây là tất cả những gì con biết: nó là một người câu cá cừ khôi”.
“Con biết nhiều hơn thế. Nó thật đẹp”.
“Đúng vậy, nó thật đẹp. Lẽ ra nó nên như vậy - cha đã dạy cho nó mà”.
Cha tôi nhìn tôi một lúc lâu - ông chỉ nhìn tôi. Đó là lần cuối cùng ông và tôi còn nói với nhau về cái chết của Paul.
Tuy nhiên, em tôi vẫn gián tiếp tồn tại trong nhiều cuộc nói chuyện của chúng tôi. Ví dụ, một lần kia, cha tôi hỏi tôi một loạt câu hỏi mà đột nhiên làm tôi tự hỏi không biết mình có hiểu ngay cả người cha mà mình cảm thấy gần gũi hơn bất cứ người đàn ông nào mà mình biết không. “Con thích kể những câu chuyện thực, đúng không?”, ông hỏi, và tôi trả lời: “Đúng ạ, con thích kể những câu chuyện thực”.
Sau đó ông hỏi tiếp: “Sau khi con đã kể xong những câu chuyện thực, sao con không hư cấu ra một câu chuyện và những nhân vật trong đó? Chỉ đến lúc đó con mới hiểu điều gì đã xảy ra và tại sao nó lại xảy ra. Đó là những gì chúng ta sống cùng và yêu thương nên biết ai trốn tránh chúng ta”.
Giờ đây, gần như tất cả những người tôi yêu thương và không hiểu khi tôi còn nhỏ đều không còn, nhưng tôi vẫn vươn tay níu giữ lấy họ.
Tất nhiên, giờ đây tôi đã quá già nên không thể đi câu nhiều, và giờ đây, tất nhiên tôi thường câu ở những dòng sông lớn một mình, mặc dù vài người bạn nghĩ rằng tôi không nên làm như vậy. Cũng như nhiều người câu cá mồi giả ở Tây Montana, nơi những ngày hè hầu hết là rét mướt suốt ngày, tôi thường không bắt đầu câu cho đến khi trời mát xuống vào buổi chiều tối. Sau đó, trong ánh sáng Bắc cực nhạt nhòa của hẻm núi, tất cả thực tại mờ ảo đi hòa với tâm hồn và những kỷ niệm của tôi, những âm thanh của dòng Blackfoof Lớn, nhịp bốn, và hy vọng rằng một con cá sẽ ngoi lên.
Cuối cùng, tất cả mọi thứ hòa làm một, và một dòng sông chảy qua đó. Dòng sông được tạo ra bởi cơn lụt lớn nhất thế giới và chảy qua những tảng đá từ tầng đáy của thời gian. Trên một vài tảng đá còn lưu lại những giọt mưa vượt thời gian. Bên dưới các tảng đá là những lời nói, và một số trong số những lời nói đó là về chúng.
Tôi bị ám bởi những con nước.
❀ ❀ ❀
[1] Trong Kinh Thánh: “Ngôi Lời” nghĩa là Chúa với ý nghĩa Chúa không thể hiện qua hình hài, mà qua những lời nói (điều răn).