Những người câu cá cũng nghĩ rằng dòng sông đã được tạo ra với hình ảnh của họ ở trong tâm hồn nó, và họ nói về nó như thể họ là dòng sông. Họ nói về ba phần của quãng sông như một thể thống nhất và gọi nó là “vũng”, thác ghềnh là “đầu vũng”, khúc quanh lớn là “vực xanh” hay “hồ” và dòng nước nông, tĩnh lặng bên dưới là “đuôi vũng” - họ nghĩ nơi này nông và lặng nên có thể lội qua và “thử câu ở bờ bên kia”.
Khi những loáng nước trên dòng sông phía trước tôi nhảy múa với nhau và hòa tan vào nhau, tôi có thể cảm thấy những mẫu hình từ cuộc đời của chính mình hòa cùng với chúng. Chính tại đây, trong khi chờ em trai, tôi đã bắt đầu câu chuyện này, mặc dù tất nhiên vào lúc đó, tôi không biết rằng những câu chuyện đời giống dòng sông hơn là quyển sách. Nhưng tôi biết một câu chuyện đã bắt đầu, có lẽ là rất lâu rồi, gần dòng nước gầm thét. Và tôi cảm thấy ở phía trước, tôi sẽ gặp một điều gì đó không bao giờ bị xói mòn, vì thế sẽ có một khúc quanh gấp, những xoáy nước sâu, một bãi lắng và sự êm đềm.
Người câu cá thậm chí còn có một cụm từ để mô tả điều anh ta làm khi nghiên cứu những mẫu hình của dòng sông. Anh ta nói là mình đang “đọc con nước”, và có lẽ để kể những câu chuyện của mình, anh ta cũng phải làm gần giống như vậy. Lúc đó, một trong những vấn đề lớn nhất của anh ta là đoán xem ở đâu và vào thời khắc nào trong ngày, cuộc sống sẵn sàng để ta khai thác thành một câu chuyện đùa. Và để đoán xem liệu nó sẽ là một câu chuyện đùa hay hoặc dở.
Tuy thế, đối với tất cả chúng ta, việc đọc những con nước buồn dễ hơn rất nhiều.
“Anh câu được khá không?” - Giọng nói và câu hỏi cho biết nếu hồn tôi không ở tận nơi đâu và nhìn quanh, tôi sẽ thấy em tôi. Nhận định này trở nên chắc chắn khi giọng nói lại hỏi tôi: “Anh đang làm quái gì ở đây vậy?”.
“Ồ, chỉ là đang suy nghĩ thôi” - Tôi trả lời, như chúng ta đều trả lời như thế khi không biết mình đang làm gì.
Paul bảo trời quá nóng, không thể câu được nhưng nó đã câu cho đến khi kiếm được “một mớ lộn xộn kha khá”, nghĩa là mười hay mười hai con cỡ vừa. “Chúng ta hãy đi lấy bia nhé”. Nó rủ tôi. Khi nó nói đến “bia”, mọi thứ trở lại với tôi - món bia, con hải ly, gã anh vợ, và bạn câu của hắn.
“Lạy Chúa, chúng ta cần phải đi lấy bia” - Tôi tán thành.
Paul tiếp tục xoay cái mở chai quanh ngón tay út. Chúng tôi quá khô họng đến nỗi cảm thấy tai mình kêu khi cố nuốt nước bọt. Về nội dung cuộc nói chuyện, chúng tôi chỉ lặp lại điệp khúc của người câu cá mùa hè: “Một chai bia chắc chắn sẽ ngon”.
Có một lối đi uống nước của thú rừng cắt từ bờ xuống đến quãng sông nơi chúng tôi đã ướp bia của mình, và chúng tôi đi xuống đó với đôi chân cứng đơ. Paul đi trước, và khi đến gần dưới, đầu gối có vẻ mềm hơn, nó liền hướng về dòng sông. Chúng tôi đã ngâm bia dưới dòng nước chảy để làm lạnh bia nhưng không phải ở chỗ nước chảy quá xiết, vì nó sẽ cuốn chai bia đi.
“Em không thấy nó” - Paul nói khi dò bằng chân. “Ồ, em chưa tìm đúng chỗ đấy thôi. Nó phải ở đó chứ” - Tôi đáp lại và lội ra để tìm chai bia cho nó, bản thân cũng nghi ngờ việc mình có thể tìm thấy.
Nó nói: “Đừng tìm xung quanh nữa, chẳng ích gì đâu. Đó là nơi chúng ta đã chôn nó”. Em trai tôi chỉ những cái hốc trong lớp đất sét dưới đáy vũng, nơi chúng tôi đã lôi các tảng đá ra để dằn lên mấy chai bia. Tôi dò dưới một trong những cái hốc đó bằng mũi ủng lội nước như thể chai bia có thể trốn khỏi tầm mắt của tôi trong cái hốc chỉ to bằng cỡ tảng đá nhỏ. Paul cũng làm như vậy. Không có chai bia nào trốn dưới mấy cái hốc, chúng quá nhỏ nên mấy chai bia không thể chui lọt được.
Chúng tôi đã chịu khát quá lâu. Giờ đây, đứng ngập đến gối trong mấy cái hốc dưới lớp đáy bằng đất sét, chúng tôi khum tay và bắt đầu uống nước sông. Từ chỗ chúng tôi đến chiếc xe vẫn còn thêm ba vũng nữa, nơi chúng tôi chôn mấy chai bia, nhưng chúng tôi đã gần như từ bỏ hy vọng tìm thấy bia.
Paul nói: “Tổng cộng chúng ta đã chôn tám chai bia ở bốn vũng. Anh có nghĩ bọn chúng đã uống hết tám chai bia, ngoài phần còn lại của chai 3-7-77 không?”.
Nó nói một cách nhẹ nhàng, vì còn nể nang tôi, vợ và mẹ vợ tôi. Nhưng tôi không thể bác bỏ bất cứ điều gì nó đang nghĩ. Mặc dù đã đi trở lại con đường mòn, chúng tôi vẫn luôn nhìn thấy dòng sông và cả hai chúng tôi đều không thấy một người câu cá nào. Còn ai khác có thể lấy bia nữa?
Tôi thổ lộ: “Paul, anh rất tiếc. Anh ước gì mình đã biết cách để có thể tránh xa cái gã này”.
“Anh không thể tránh hắn được” - Paul khẳng định.
Hốt nhiên chúng tôi đã làm một điều mà trong một tích tắc, có vẻ lạ lẫm đối với tôi, xét đến việc chúng tôi đã biết là tất cả bia đã biến mất mà không cần vội vã kiểm tra và chúng tôi cũng biết mà không cần chứng cứ là ai đã lấy trộm. Chúng tôi đột ngột quay lại và lao lên khỏi dòng nước với một tiếng gầm, như hai con thú khi lội qua được dòng sông, nhảy lên bờ khi dòng nước đã nông hơn và làm sóng tràn vào bờ mãi một lúc lâu sau khi chúng tôi đã lên bờ. Sau đó, tôi có thể dễ dàng hiểu được sự dịu dàng của chúng tôi chỉ dành cho nhau và tiếng gầm cùng cú nhảy lên bờ là dành cho những kẻ đã lấy bia của chúng tôi.
Những viên đá lạo xạo và bắn ra khỏi bước chân khi chúng tôi đi dọc bờ. Ở mỗi vũng tiếp theo, chúng tôi lại lặp lại nghi thức nhìn chằm chằm vào chỗ trống cạnh những tảng đá đã bị lăn sang một bên.
Sau đó, chúng tôi đến nơi có thể nhìn thấy từ xa chiếc xe của mình đậu trên bờ sông và dưới đó, dòng sông chia đôi với dải cát ở chính giữa.
Không có ai dời chiếc xe đến nơi có bóng râm. Tôi có thể cảm thấy nó sẽ nóng thế nào nếu chúng tôi đụng vào cái chắn bùn trong khi cởi quần áo ướt ra.
Tôi nói: “Anh không thấy họ”. “Em cũng vậy” - Paul tiếp lời.
“Chúng không thể ở trong xe” - Tôi lại nói. Và Paul lại tiếp lời: “Ngày hôm nay, đến chó cũng phải chết nếu chúng ta bỏ quên nó trong xe”.
Rảo bước đi tìm chúng, tôi không nhìn đường nên đã vấp vào một tảng đá và ngã chống cùi chỏ xuống vì đưa tay ra để tránh ngã lên cần câu. Tôi đang nhặt cát ra khỏi vết thương thì Paul hỏi: “Cái gì ở trên dải cát thế?”. Vẫn còn đang cố nhặt các mảnh đá xanh đen ra khỏi chỗ trầy, tôi phỏng đoán: “Có thể là con gấu”.
“Con gấu nào?” - Em trai tôi hỏi vặn.
“Con gấu chạy lên núi” - Tôi kể với nó - “Đó là nơi nó từ trên núi xuống uống nước”.
“Không phải là gấu” - Paul nói chắc nịch.
Tôi xem xét dải cát. “Có thể là hai con gấu” - Tôi lại đoán già đoán non.
“Nó đúng là hai” - Em tôi khẳng định - “nhưng không phải gấu”.
“Tại sao em nói là ‘nó’ trong khi có hai con?” - Tôi hỏi Paul.
“Nó không phải là gấu. Nó màu đỏ”.
“Chờ chút, em sẽ thấy nó đi lên núi. Sau đó, em sẽ thấy nó là gấu. Gấu sẽ chạy thẳng lên núi”.
Lúc này, chúng tôi đi rất chậm, như thể sẵn sàng nhảy sang hai bên nếu con vật bất chợt lao đến.
“Nó màu đỏ. Và nó là bất cứ cái gì đã uống bia của chúng ta”.
Tôi bảo nó: “Thậm chí nó cũng không phải là người. Nó màu đỏ theo như em nói”.
Giờ thì chúng tôi dừng lại một cách bất an, giống như lũ thú tiến đến một vũng nước và trông thấy cái gì đó ở nơi chúng sẽ uống nước. Chúng tôi không thở phì phì và tát, nhưng chúng tôi có thể cảm nhận được uy lực của hơi thở và cú tát. Không còn cách nào khác, chúng tôi buộc phải đi tới.
Chúng tôi tiếp tục đi cho đến khi chúng tôi biết, nhưng không thể tin nổi. “Gấu à, chết tiệt. Đó là một cặp mông trần” - Paul nói.
“Hai cặp mông trần” - Tôi chỉnh lại.
“Em cũng muốn nói thế” - Paul đồng ý với tôi - “Đó là hai cặp mông trần. Cả hai đều đỏ lựng”.
Chúng tôi vẫn không tin nổi dù đã nhìn thấy tận mắt. “Tôi là đồ chó đẻ”, Paul nói. “Anh cũng vậy” - Tôi nói để xác nhận lại.
Bạn sẽ chưa bao giờ thật sự trông thấy một cặp mông trần cho đến khi bạn nhìn thấy hai cặp mông rám nắng trên một dải cát ở giữa sông. Hầu như toàn bộ những phần khác của cơ thể đều tan biến. Thân người là một cặp mông lớn đỏ lựng sắp rộp lên, với tóc ở một đầu là nơi có cái đầu và bàn chân gắn với đầu còn lại là đôi chân. Tối nay, chúng nó sẽ lên cơn sốt.
Lúc đó, cảm giác của tôi là như vậy, nhưng giờ đây, khi tôi nhìn lại qua sự đa cảm của ký ức, câu chuyện thuộc về một thế giới đồng nội, nơi bạn có thể trút bỏ quần áo, làm tình với một cô gái ở giữa dòng sông, sau đó, lăn qua nằm sấp và ngủ thiếp đi trong vài tiếng đồng hồ.
Thời nay, nếu bạn thử làm một điều gì đó giống như thế trên sông Blackfoot, cả nửa thành phố Great Falls sẽ đứng trên bờ sông chờ dịp đánh cắp quần áo của bạn, lúc bạn chìm vào giấc ngủ. Có thể là còn sớm hơn nữa.
“Này” - Paul hét lên với hai tay làm loa quanh miệng. Sau đó nó huýt sáo bằng hai ngón tay út.
“Anh nghĩ chúng có sao không?” - Nó hỏi tôi - “Anh thường làm việc dưới nắng vào mỗi mùa hè trong lực lượng Kiểm lâm mà”.
Tôi trả lời nó: “Ờ, anh chưa bao giờ thấy ai chết vì say nắng, nhưng chắc chắn chúng sẽ khốn khổ, thậm chí không mặc nổi đồ lót bằng len trong vài tuần lễ”.
“Hãy đưa chúng lên xe” - Paul đề xuất ý kiến. Chúng tôi cởi giỏ cá ra, dựa cần câu vào một khúc gỗ cho dễ thấy và để không ai giẫm lên.
Chúng tôi đã lội gần đến dải cát thì Paul dừng lại và đưa tay cản tôi lại. “Chờ chút. Em muốn nhìn một lần nữa để em sẽ luôn nhớ”.
Chúng tôi đứng đó một phút và ghi nhớ vào khoảng trống ít ỏi còn lại trong trí óc của mình. Đó là một sự ghi khắc bằng màu sắc. Ở tiền cảnh của bức tranh là lon cà phê Hills Bros., sau đó là những lòng bàn chân mềm mại đỏ hồng quay xuống dưới, hai cặp mông cháy xèo xèo dưới ánh mặt trời, và ở hậu cảnh là một đống quần áo với cái quần đỏ của cô ả ở trên cùng. Bên cạnh là phần còn lại của chai 3-7-77, nóng rẫy khi chạm vào. Không thấy cần câu hay giỏ câu.
Paul lại nói: “Cầu cho hắn dính thật nhiều vi trùng giang mai, nhưng cũng cầu cho hắn không bị liệt”.
Tôi chưa bao giờ quăng câu lại ở vũng này, nơi tôi đã coi là một chốn trú ẩn khi đi săn.
Chúng tôi lội hết quãng đường còn lại đến dải cát mà không phát ra tiếng ộp oạp, sợ làm hai đứa kia tỉnh giấc. Tôi cho rằng chúng tôi đã nghĩ: “Khi thức dậy chúng sẽ bắt đầu lột da”. Tôi biết mình đã nghĩ gì. Tôi đã làm việc mấy mùa hè ở lãnh thổ của rắn chuông vào cuối tháng Tám, và tôi nghĩ khi chúng thức giấc, nhận ra trời nóng thế nào, chúng sẽ lột da và bị mù một thời gian rồi sẽ tấn công bất cứ cái gì chúng nghe thấy. Tôi nhớ là mình đã luôn nghĩ rằng chúng sẽ rất nguy hiểm khi thức giấc, vì thế tôi bước quanh chúng một cách thận trọng, giữ khoảng cách an toàn.
Khi chúng tôi đến gần, ở hai đứa ấy hiện ra những bộ phận không thể nhìn thấy từ bờ. Từ chúng mọc ra đôi chân ở giữa mông và bàn chân, những cái lưng và cổ, đặc biệt là cổ ở giữa mông và tóc. Chúng đỏ cho đến tận tóc, những lọn tóc xoăn. Thật khó biết được tóc chúng quăn tự nhiên hay quắn lại dưới ánh nắng. Tóc bung ra từng sợi như được uốn bằng cái kẹp uốn tóc nóng.
Paul tiến tới để xem trong chai 3-7-77 còn lại gì, trong khi đó, tôi đứng lại nghiên cứu giải phẫu tạo hình. Mỗi sợi tóc là một sự đau đớn đến tận gốc, nhưng đó không phải là điều tôi sẽ lùi lại để nói với Paul. Tôi suy nghĩ lung đến nỗi phải lùi lại đến khi va vào nó.
“Ả có hình xăm trên mông” - Tôi chợt phát hiện.
“Anh không đùa chứ?” - Paul hỏi lại tôi.
Rồi nó đi vòng quanh cô ả như thể đi ngược chiều gió trong một cuộc săn lớn, trước khi cố gắng tiếp cận con mồi. Sau đó, nó lùi lại và hoàn tất vòng tròn khi gặp tôi. “Tên viết tắt của mấy gã chăn bò của ả là gì?”
“BI. và B. L.”
“Anh chắc chứ?”
“Chắc chắn”.
“À, không khớp, bởi vì ả xăm chữ LO ở một bên mông và chữ VE ở bên còn lại”.
Tôi chỉnh lại: “LOVE, với một cái gạch ở giữa”.
“Chết tôi mất” - Paul kêu lên và lùi ra, đi vòng quanh và bắt đầu xem xét lại tình hình từ đầu.
Da Sống Cũ nhảy dựng lên như cái đèn xoắn ốc ở hiệu cắt tóc. Người ả màu đỏ, trắng và xanh. Trắng ở nơi ả nằm sấp trên cát, lưng ả là một thang màu toàn những sắc đỏ, đỏ đến tận tóc, chỉ trừ vết xăm màu xanh đen. Ai đó lẽ ra nên quay vòng ả và chơi bài “Muôn năm sao và sọc” (The Stars and Stripes Forever).
Da Sống Cũ nhìn quanh đầy kích động để định hướng, rồi sau đó lao nhanh như chớp về phía đống quần áo, mặc vội cái quần thun đỏ của ả vào. Khi đã chắc chắn bạn không còn có thể nhìn miễn phí cái phần thân đã nuôi miệng ả, ả dịu xuống. Ả không mặc thêm đồ nào nữa, nhưng đi thơ thẩn trở lại, nhìn tôi và nói: “Ồ, là anh à”.
Sau đó, ả nhìn cả hai chúng tôi và nói tiếp: “À, cái gì ở trong đầu các anh vậy, các chàng trai?”. Ả đã sẵn sàng phục vụ chúng tôi.
Tôi đáp: “Chúng tôi ra đón Neal”.
Da Sống Cũ thất vọng: “Ồ, các anh muốn nói đến Anh Giai hả”.
Tôi xác nhận: “Tôi muốn nói đến hắn”. Và khi tôi chỉ tay vào gã anh vợ, hắn rên rỉ. Tôi nghĩ hắn không muốn thức dậy và thấy mình bị bỏng nắng, nhức đầu nữa, sau cơn say. Hắn lại rên rỉ và chuồi sâu hơn nữa xuống dưới cát. Cái bụng trắng của Da Sống Cũ bị phủ đầy cát, và có vết hằn ở những chỗ da ả bị nhăn lại khi ả nằm đè lên. Cát chảy ra từ rốn của ả.
Paul bảo: “Mặc đồ của cô vào và giúp chúng tôi lôi hắn ta dậy”. Da Sống Cũ trông có vẻ phẫn nộ. Ả nói: “Tôi có thể lo cho anh ấy”. Paul bảo: “Cô đã làm rồi đấy thôi”.
Ả khăng khăng: “Anh ấy là người đàn ông của tôi. Tôi có thể lo cho anh ấy. Ánh nắng không làm gì được tôi”. Và tôi cho rằng ả đã nói đúng - gái điếm của ngư dân làm tiền dưới nắng.
Paul tỏ ra cương quyết: “Mặc đồ vào, không thì tôi sẽ đá vào mông cô đấy”. Cả ả và tôi đều biết nó muốn nói gì.
Paul đi đến chỗ đống quần áo và bắt đầu tách đồ của Neal ra khỏi đồ của ả. Chúng nằm theo trật tự lúc lột ra. Đó là lý do tại sao cái quần đỏ của ả lại nằm trên cùng, và cái dây thắt lưng của ả lại nằm dưới cùng.
Tôi bảo Paul: “Làm vậy là tốt, nhưng chúng ta không thể mặc đồ cho hắn. Anh không nghĩ hắn sẽ chịu nổi quần áo cọ xát vào người”.
“Vậy thì chúng ta sẽ đưa hắn về nhà trần truồng” - Paul nói.
Khi nghe thấy từ “nhà” Neal đột ngột ngồi dậy, cát chảy thành dòng khỏi người hắn.
“Tôi không muốn về nhà” - Hắn cho biết.
“Vậy thì anh muốn đi đâu, Neal?”
“Tôi không biết, nhưng tôi không muốn về nhà”.
Tôi bảo hắn: “Có ba người phụ nữ ở nhà biết cách chăm sóc cho anh”.
“Tôi không muốn gặp ba người phụ nữ ấy” - Hắn nói, và cát lại chảy khỏi người hắn.
Da Sống Cũ cắp đồ của ả dưới cánh tay. Tôi cúi xuống, nhặt đồ của Neal lên và để cho hắn cắp nách. “Đây này”
- Tôi nói, nắm lấy cánh tay còn lại của gã anh vợ: “Tôi sẽ giúp anh lội trở vào bờ”.
Neal nhảy bật ra vì đau. “Đừng đụng vào tôi” - Hắn nói với Da Sống Cũ - “Cầm đồ cho anh. Cắp nách đau lắm”.
“Anh cầm đi” - Ả bảo tôi, và tôi làm theo. Ả nắm lấy cánh tay mà Neal đã giật ra khỏi tôi và dắt hắn đến mé nước. Đi được một quãng, ả quay đầu lại, nói với tôi: “Anh ấy là người đàn ông của tôi”. Ả là một người phụ nữ khỏe mạnh và rắn rỏi. Blackfoot là một con sông lớn và khó lội. Gã đàn ông đã không thể lội qua nếu không nhờ đôi chân khỏe của ả.
Đi được nửa đường, Paul quay đầu lại và quay lại lấy chai 3-7-77 còn dở. Sau khi Da Sống Cũ đưa Neal lội qua hết sông, ả để hắn tự dò dẫm qua các tảng đá bằng đôi chân mềm của mình, và lội ngược trở lại dải cát. Chân ả cũng mềm, nhưng ả lội trở lại dải cát để lấy lon cà phê Hills Bros. đỏ.
Tôi gặp Da Sống Cũ trên bờ khi ả quay trở lại.
“Có gì quý trong lon cà phê đó vậy?” - Tôi hỏi ả.
“Tôi không biết. Nhưng Anh Giai luôn thích giữ nó bên mình”.
Có một cái chăn mỏng ở ghế sau của chiếc xe mà chúng tôi dùng để trải trên đất khi chúng tôi đi picnic. Lá kim của cây linh sam bám vào đó. Chúng tôi đặt Neal và Da Sống Cũ ở ghế sau rồi ném cái chăn lên người chúng - có lẽ là do một vài lý do. Cũng có thể là để cho chúng không bị bỏng thêm, đặc biệt là bởi gió nóng, và cũng có thể là để cảnh sát bang không bắt chúng tôi vì tội lõa lồ. Nhưng vào lúc cái chăn vừa chạm vào vai, chúng oằn mình cho đến khi cái chăn rơi ra. Vì thế, chúng tôi lái về Wolf Creek, hoàn toàn phơi ra trước nắng gió và cảnh sát.
Neal không bao giờ ngồi thẳng lên, thỉnh thoảng hắn lại lầm bầm: “Tôi không muốn gặp ba người phụ nữ ấy”. Mỗi lần hắn lẩm bẩm câu này, Da Sống Cũ lại ngồi thẳng dậy đáp lời: “Đừng lo. Em là người phụ nữ của anh. Em sẽ lo cho anh.” Mỗi lần hắn lẩm bẩm câu này, tôi lại ghì chặt lấy tay lái. Tôi cũng không muốn gặp ba người phụ nữ ấy.
Trên suốt đường đi, tôi và Paul không nói chuyện với nhau hay với chúng. Chúng tôi để cho một đứa lầm bầm dưới nách của chính hắn, còn đứa kia nhảy dựng lên rồi lại vùi mình trong đống quần áo. Nhưng khi chúng tôi đến gần Wolf Creek thì tôi có thể cảm thấy Paul đang sẵn sàng thay đổi cách thức. Nó từ từ nhoài người lên cho đến khi có thể chạm vào băng ghế sau. Tiếng lầm bầm lại vang lên: “Tôi không muốn về nhà”. Paul vươn tới, nắm lấy cánh tay thuộc về cái nách kia, kéo hắn dậy. Cánh tay chuyển sang trắng bệch ngay cả khi nó bị bỏng nắng. Paul bảo: “Anh đã sắp đến nhà rồi. Chẳng còn chỗ nào khác để đi đâu”. Không còn tiếng lầm bầm nữa. Paul vẫn tiếp tục giữ lấy cánh tay.
Ả gái điếm vẫn ương ngạnh, ả và Paul tranh cãi với nhau. Paul đã quen nói chuyện với những người phụ nữ ương ngạnh, còn ả thì quen dùng những lời lẽ “có gươm có đao”. Cuộc tranh cãi là về việc chúng tôi sẽ tống cổ ả ngay khi về đến thị trấn hay ả sẽ ở lại và chăm sóc Anh Giai. Những từ ngữ phát ra toàn là: “Chúa nguyền rủa mày, tao sẽ lo”, “Chúa nguyền rủa mày, không phải việc của mày”. Paul nói với tôi khi đang cãi vã: “Khi đến thị trấn, anh hãy dừng ở phòng khiêu vũ bằng gỗ”.
Phòng khiêu vũ gỗ là tòa nhà đầu tiên ở rìa của thị trấn. Đó là một nơi rất tốt để đánh nhau, và ở đó đã xảy ra vô số trận chiến, đặc biệt là vào các đêm thứ Bảy - lần nào cũng do các tay say rượu của Wolf Creek cố nhảy với bạn gái của những kẻ say từ vùng Dearborn tới thực hiện.
Dựa trên mức độ báng bổ thì bạn không thể xác định ai thắng trong cuộc tranh cãi, nhưng khi chúng tôi đến gần thị trấn hơn thì Da Sống Cũ vươn tới đống quần áo và lấy mấy thứ mặc lên người. Có một khúc quanh ở nhánh sông và con đường ngay trước khi bạn đến phòng khiêu vũ gỗ. Khi Da Sống Cũ trông thấy khúc quanh, ả nhận ra mình sẽ không kịp mặc hết quần áo vào khi chúng tôi đến phòng khiêu vũ, vì thế, ả bới gấp đống quần áo và túm lấy những thứ của ả.
Ngay khi tôi dừng xe, Da Sống Cũ điên cuồng thọc tay vào đống đồ, mở cửa xe và nhảy ra ngoài. Ả ở mé đối diện với Paul trên chiếc xe, và ả hẳn đã nhận ra rằng việc đó sẽ cho ả một lợi thế xuất phát đủ lớn. Ả để mặc cho cửa xe đung đưa, khư khư ôm chặt mớ quần áo trên tay. Ở trên cùng của mớ quần áo là chiếc quần lót của Neal, không biết là do ả lấy nhầm hay muốn giữ làm vật lưu niệm. Ả càu nhàu tiếp khi ôm chặt mớ quần áo, giống như một người đóng hàng thắt một nút vương miện[1] để chắc chắn rằng cả kiện hàng sẽ không bung ra trong suốt chuyến đi gian khổ ở phía trước.
Sau đó, ả nói với em tôi: “Mày là thằng khốn kiếp hôi hám”. Paul ra khỏi chiếc xe như thể xe không có cửa rồi đuổi theo ả.
Tôi nghĩ mình biết Paul cảm thấy thế nào. Nó không ưa ả, mà nó cũng không thật sự có ấn tượng mạnh đối với ả. Chính gã khốn đang nằm lõa lồ ở ghế sau mới là người nó ghét. Gã khốn đã làm hỏng gần như hoàn toàn chuyến đi câu mùa hè của chúng tôi. Gã khốn câu cá bằng mồi sống đã xâm phạm mọi điều trong câu cá mà cha chúng tôi đã dạy bằng cách đem theo một con điếm và một lon cà phê trùn nhưng lại không đem cần câu. Gã khốn câu cá bằng mồi sống đã chơi con điếm ngay giữa dòng sông của gia đình tôi. Và sau khi uống hết bia của chúng tôi, gã khốn ấy ở ngay phía sau xe không ai đụng tới được vì ngại ba người phụ nữ.
Da Sống Cũ chạy chân không và cố giữ lấy mớ đồ của ả cùng cái quần lót của Neal, vì thế Paul bắt kịp ả sau khoảng mười bước. Nó đá ả khi đang chạy, tôi nghĩ là ngay vào giữa chữ “LO” và chữ “VE”. Trong vài giây, cả hai bàn chân của Da Sống Cũ chới với trong không trung phía sau ả. Hình ảnh đó in dấu trong ký ức tôi.
Khi đã có thể cựa quậy chân tay, tôi nhìn lướt qua gã anh vợ hai lần rồi đếm đến bốn. Bốn là số người phụ nữ ở ngoài đường sẵn sàng bảo vệ hắn - một ở giữa đường và ba ở trong ngôi nhà phía dưới một chút.
Đột nhiên, trong lòng tôi trào dâng một ham muốn được đá đít một người phụ nữ. Trước đây, tôi chưa bao giờ biết đến ham muốn đó, nhưng giờ đây, nó tràn ngập trong tôi. Tôi nhảy ra khỏi chiếc xe và bắt kịp Da Sống Cũ, nhưng trước đó, ả đã bị đá đít bởi một chuyên gia, vì thế tôi hoàn toàn để vuột mất ả. Tuy vậy, tôi vẫn cảm thấy dễ chịu hơn bởi nỗ lực của mình.
Tôi và Paul đứng bên nhau mà xem Da Sống Cũ chạy cong đuôi xuống con đường xuyên qua thị trấn. Ả không còn lựa chọn nào khác. Ả sống ở phía bên kia của thị trấn, trong một khe núi hẹp. Sau khi về đến gần nhà, ả dừng lại vài lần để nhìn lại phía sau, và tôi với Paul đều không thích những điều ả nói mà chúng tôi không thể nghe được. Mỗi lần như vậy, chúng tôi lại giả vờ như chúng tôi sắp đuổi theo ả tiếp, và ả lại dịch gần hơn tới túp lều của mình. Cuối cùng, ả và mớ đồ biến mất, chỉ còn chúng tôi với băng ghế sau. “Giờ thì chúng ta không còn việc gì nữa ngoài việc đưa hắn về nhà” - Em trai tôi chép miệng. Khi chúng tôi quay lại xe, nó nói thêm: “Anh gay go rồi”. “Anh biết, anh biết” - Tôi nói. Nhưng tôi không thật sự biết. Tôi vẫn không biết những người phụ nữ Scotland sẽ trông thế nào khi họ đấu tranh để giữ niềm kiêu hãnh và không còn nhiều cơ sở để làm được điều đó. Phòng khi bạn nghi ngờ, họ vẫn luôn giữ được lòng kiêu hãnh.
Ngay cả Neal cũng cố lấy lại tinh thần. Hắn cố mặc đồ vào trước khi mấy người phụ nữ trông thấy hắn. Hắn chất đống quần áo bên ngoài xe, và khi không thể tìm thấy cái quần lót, hắn bắt đầu cố gắng mặc quần vào, nhưng bị vấp ngã và tiếp tục vấp ngã. Hắn giữ cái quần ở phía trước mình và cố xỏ chân vào. Tuy nhiên, hắn vấp ngã quá nhanh nên không theo kịp cái quần, hắn chưa bao giờ tới gần được cái quần quá một tầm tay.
Hắn thở không ra hơi khi chúng tôi giữ lấy hắn và thở hổn hển khi chúng tôi mặc quần cho hắn. Đôi chân của hắn sưng quá to nên không mang giày vào được. Chúng tôi khoác áo trên vai hắn và để đuôi áo thả xuống lưng. Khi chúng tôi đưa hắn vào nhà, trông hắn như một kẻ đắm tàu mà chúng tôi đã tìm thấy trên đảo.
Florence đi ra khỏi bếp và khi trông thấy tôi cùng Paul đang dìu ai, bà bắt đầu lau tay vào cái khăn lau đĩa.
“Các anh đã làm gì con trai bé bỏng của tôi?” - Mẹ vợ tôi hỏi gặng.
Nghe tiếng của mẹ, Jessie cũng từ nhà bếp đi ra. Cô có vóc người cao và tóc màu hung. Tôi khom người trước cô do cố dìu gã anh trai của cô.
“Anh là đồ khốn” - Cô ta nói vào mặt tôi. Đồ khốn mà tôi đang đỡ nặng cả tấn.
“Không”- Paul phản bác.
“Tránh đường”- Tôi bảo Jessie. “Bọn tôi phải đặt anh ấy lên giường”.
“Anh ấy bị bỏng nắng nặng” - Paul nói.
Những người phụ nữ mà tôi lớn lên cùng không bao giờ chần chừ khi có việc cần làm, đặc biệt là những gì liên quan đến y khoa. Hầu hết mọi người đều có phản ứng hóa học tức thì là rúm người lại vì đau hay trước sự biến dạng xấu xí, nhưng những người phụ nữ mà tôi lớn lên cùng đã bị y học hút hồn rồi.
“Nào, cởi đồ nó ra” - Florence ra lệnh đồng thời lùi lại nơi cửa phòng ngủ và mở ra.
“Con sẽ đi tìm Dotty” - Jessie nói. Dotty là y sĩ có chứng chỉ.
Neal không muốn mẹ cởi đồ cho mình, còn mẹ hắn thì nghĩ chúng tôi hậu đậu nên cứ đẩy chúng tôi ra. Trước khi chuyện này có thể xảy ra, Jessie đang ở trong phòng ngủ cùng Dorothy. Tôi không biết làm cách nào mà một y sĩ có thể mặc đồng phục nhanh đến vậy, nhưng tôi có thể nghe tiếng sột soạt của vải hồ cứng khi cô ta đi qua cửa. Khi Neal nghe tiếng vải hồ, hắn thôi vặn vẹo người để thoát khỏi chúng tôi. Dorothy thấp người và đầy uy lực, còn Jessie và mẹ cô ấy thì cao và gầy, nhưng rất khỏe. Tôi và Paul đứng bên giường tự hỏi tại sao chúng tôi đã không thể cởi được quần áo của hắn ra. Chẳng bao lâu, gã anh vợ của tôi đã trở thành một cái xác đỏ lựng nằm trên cái khăn trải giường màu trắng.
Hầu như cũng ngay lúc đó, tôi và Paul, những người đã nắm cả thế giới trong tay khi cầm cái cần câu một trăm hai mươi tám gram, không hề mảy may được phục vụ. Chúng tôi bị vứt sang một bên như thể chúng tôi không có khả năng nấu nước hay tìm băng gạc hoặc đem vào nếu chúng tôi tìm thấy.
Lần đầu tiên Jessie đi qua ngang mặt tôi, cô ta nói toạc móng heo: “Tránh đường”. Tôi biết trước đây, vợ tôi không thích tôi nói với cô ta như vậy.
Theo phản ứng hóa học, tôi và Paul lùi lại phía cửa phòng ngủ, nhưng em tôi đến đó trước và dợm bước ra quán Dùi Cui để làm một ly, tôi cũng cần phải uống. Mặc dù vậy, tôi đã không khép cửa phòng ngủ trước khi ba người phụ nữ đến gặp tôi.
Ngay khi Florence thấy con trai mình đỏ như tôm luộc, bà tiến đến gần để tìm hiểu lý do. Đối với những người phụ nữ Scotland, vấn đề y khoa đặt trên vấn đề phẩm hạnh. Bà nhìn lại một lần nữa để chắc chắn rằng Dorothy đã lo liệu vụ này, xong, bà gọi tôi.
Bà mẹ vợ đứng trước mặt tôi cứng còng như thể đang đứng cho nhiếp ảnh gia Scotland thế kỷ mười chín David Octavius Hill chụp ảnh. Đầu bà lẽ ra đã có thể được giữ yên để chụp tốc độ chậm nhờ một cây chống không trông thấy được ở phía sau cổ của bà. Bà yêu cầu tôi: “Hãy kể cho tôi nghe. Việc nó bị bỏng nắng từ đầu đến chân xảy ra như thế nào?”. Tôi sẽ không kể cho bà nghe, và tôi cũng sẽ không nói dối nếu tôi biết không thể thoát thân bằng lý do đó. Cách đây rất lâu, tôi đã học được, đôi khi chứng nghiệm qua kinh nghiệm xương máu của chính mình, rằng lòng mộ đạo của người Scotland đi kèm với việc biết trước tội lỗi. Chúng tôi muốn nói đến tội lỗi sẵn có - chúng tôi không phải phạm tội để biết về tội lỗi.
Tôi nói với bà: “Anh ấy không thấy thích đi câu cá với chúng con, và khi chúng con quay lại thì thấy anh ấy đang nằm ngủ trên cát”.
Bà mẹ vợ biết tôi sẽ chỉ kể đến vậy. Cuối cùng, nhiếp ảnh gia thế kỷ mười chín đã lấy đi cái trụ chống ở phía sau cổ của bà. Bà nói: “Tôi quý anh”. Tôi biết bà không thể nghĩ ra điều gì khác để nói. Tôi cũng biết bà nói thật lòng. “Tại sao anh không ra ngoài đi?” - Và bà mẹ vợ của tôi nói thêm.
“Đợi đã” - Dorothy nói với tôi, rồi chuyển công việc cho Florence. Dorothy và tôi là những người dâu, rể của gia đình và thường có cảm giác là nếu không đoàn kết lại thì chúng tôi sẽ bị treo cổ từng người một. “Đừng lo về anh ấy” - Cô nói - “Bỏng độ hai. Rộp da. Lột da. Sốt. Vài tuần là khỏi. Đừng lo về anh ấy. Đừng lo cho chúng tôi. Phụ nữ chúng tôi có thể giải quyết được.
Dorothy nói: “Thật ra, tại sao anh và Paul không ra khỏi đây? Chúng tôi còn Ken và anh ấy có thể làm mọi thứ. Neal là anh của anh ấy. Hơn nữa, tôi nghĩ, thậm chí không cần các anh ở đây. Tất cả những gì các anh có thể làm là đứng quanh và ngó, và lúc này đây, không ai trong gia đình này muốn bị ngó cả”.
Mặc dù thấp người nhưng Dorothy có bàn tay to. Cô ta nắm lấy bàn tay tôi và bóp. Tôi nghĩ đó là lời tạm biệt của cô ta nên quay người toan bước đi, nhưng cô kéo tôi lại và hôn nhẹ rồi quay lại tiếp tục làm việc.
Cứ như thể mấy người phụ nữ đã thỏa thuận với nhau về một kiểu cơ chế con thoi, hai người luôn bênh bực Neal còn một thì đứng về phía tôi. “Đợi đã” - Jessie nói, trước khi tôi đóng cửa lại ở sau lưng mình.
Đàn ông gặp bất lợi khi nói chuyện với một người phụ nữ cao bằng anh ta, tôi đã cố gắng rất lâu và rất vất vả để vượt qua khó khăn này.
“Anh không thích anh ấy phải không?” - Vợ tôi hỏi.
“Em yêu” - Tôi hỏi lại: “Anh có thể yêu em mà không thích anh ấy chăng?”
Jessie chỉ đứng nhìn tôi, vì thế tôi tiếp tục nói và nói nhiều hơn những điều tôi định nói. Tôi nói những điều cô ấy đã biết, nhưng có thể có một điều cô ấy muốn nghe lại. Tôi nói: “Jessie. Em biết là anh không biết nói dối. Anh không thích anh ấy. Anh sẽ không bao giờ thích anh ấy. Nhưng anh yêu em. Tuy nhiên, đừng tiếp tục thử thách anh bằng cách không cho anh chọn lựa. Jessie, đừng để cho anh ấy...”. Tôi ngưng không nói tiếp vì tôi biết lẽ ra, tôi nên tìm một cách khác ngắn hơn để nói những điều đã nói.
“Đừng để anh ấy làm gì?”- Vợ tôi hỏi - “Anh định nói gì vậy?”.
“Anh không thể nhớ mình định nói gì” - Tôi trả lời - “nhưng anh cảm thấy không tìm được tiếng nói chung với em”.
“Em đang cố giúp một người” - Jessie nói - “Một người trong gia đình em. Anh hiểu chứ?”.
Tôi đáp: “Anh hiểu”.
“Em không thể giúp được” - Vợ tôi thú nhận. “Anh cũng hiểu điều đó”.
“Chúng ta nói chuyện quá lâu rồi” - Jessie nói tiếp - “Tại sao anh và Paul không quay lại Blackfoot và hoàn thành chuyến đi câu của mình? Anh và nó không có tác dụng gì ở đây. Nhưng dù anh đi đâu, đừng bao giờ quên liên lạc với em”.
Mặc dù Jessie bảo rằng chúng tôi đã nói chuyện quá lâu, song cô ấy chỉ bước lùi có một bước. Vợ tôi lại hỏi: “Hãy kể cho em nghe. Tại sao anh ấy lại bị bỏng từ đầu đến chân?”. Khi cần hỏi điều gì, những người con gái Scotland hầu như là những bản sao hoàn hảo của mẹ họ.
Tôi kể cho cô ấy nghe những gì tôi đã kể cho bà mẹ vợ của tôi và cô ấy trông hệt mẹ khi lắng nghe.
Vợ tôi tiếp tục câu chuyện: “Hãy kể cho em nghe, ngay trước khi anh và Paul đưa Neal vào, anh có vô tình trông thấy con điếm chạy qua thị trấn với một ôm đầy quần áo không?”.
“Có thấy từ xa” - Tôi trả lời.
Jessie lại hỏi: “Hãy cho em biết nếu anh của em trở về nhà vào mùa hè tới, anh có cố gắng giúp anh ấy vì em không?”
Mất một lúc lâu, cuối cùng tôi mới đáp: “Anh sẽ cố”.
Sau đó vợ tôi cho biết: “Anh ấy sẽ không trở về đâu” và cô nói thêm: “Hãy nói cho em biết, tại sao những người muốn được giúp đỡ lại khá hơn nếu không được giúp - ít nhất là không tệ hơn. Thật ra, đó chính là sự thật, không tệ hơn. Người ta nhận tất cả sự giúp đỡ họ có thể kiếm được, và vẫn trở lại y như cũ”.
“Trừ khi họ bị bỏng nắng” - Tôi tiếp lời.
“Chẳng có gì khác cả”.
“Hãy nghe anh nói này” - Tôi nói như một lời đề nghị - “nếu anh trai em trở về vào mùa hè tới, cả hai chúng ta sẽ cố giúp anh ấy nhé”.
“Nếu anh ấy trở về” - Vợ tôi gật đầu. Tôi nghĩ mình đã trông thấy những giọt nước mắt trong mắt Jessie, nhưng tôi đã lầm. Trong suốt cuộc đời, tôi chưa bao giờ thấy vợ mình khóc. Và Neal cũng chẳng bao giờ trở lại.
Không làm mất thời gian của nhau nữa, hai chúng tôi nói hầu như cùng lúc: “Đừng bao giờ xa cách nhau”. Và chúng tôi đã không bao giờ xa cách, cho đến khi cái chết của cô ấy đã chia lìa đôi lứa.
Jessie nói: “Tránh đường”. Chỉ đến lần này cô ấy mới cười sau khi vừa dứt tiếng. Sau đó, vợ tôi bắt đầu đóng cửa ngay trước mũi tôi. Khi khung cửa chỉ còn một khe hẹp, chúng tôi hôn nhau, và với một mắt, tôi cố nhìn xung quanh cô ấy. Họ bôi mỡ cho gã anh vợ tôi từ đầu đến chân như một cái bắp ngô nướng. Họ đã chuẩn bị đủ lượng băng gạc để bắt đầu quấn quanh hắn như một xác ướp.
Tôi ra quán Dùi Cui uống một ly với Paul, rồi thêm một ly nữa. Em trai tôi giành trả tiền và đòi trở về Blackfoot ngay trong đêm đó. Nó nói: “Em xin nghỉ phép mấy ngày, vì thế, em vẫn còn một ngày phép”. Sau đó, nó nài nỉ tôi đi về đường Missoula và ở lại với cha mẹ một đêm. Nó bảo: “Có thể chúng ta thuyết phục được ông già đi câu cùng vào ngày mai”. Sau đó nó đòi lái xe.
Vị trí thông thường của chúng tôi đã bị đảo ngược, và tôi là người anh phải dùng đến câu cá vì tác dụng chữa lành vết thương lòng của dòng nước mát. Nó biết tôi bị đổ lỗi vì chuyện của Neal, và nó hẳn có thể nghĩ rằng cuộc hôn nhân của tôi đang rạn nứt. Nó đã nghe tôi bị vợ gọi là thằng khốn, và nó đã đi khỏi nhà khi tôi và ba người phụ nữ Scotland công khai bày tỏ tình cảm thương yêu với nhau, mặc dù văn hóa Scotland hạn chế thể hiện tình cảm. Thật ra, tôi đang lâng lâng vì tình yêu và vài lần đã cười phá lên mà chỉ có thể giải thích là vì hạnh phúc, nhưng Paul có thể đã nghĩ là tôi đang cố tỏ ra can đảm trước một sự xáo trộn của cuộc đời. Tôi không thật sự hiểu em trai nghĩ gì, nhưng nó dịu dàng với tôi như tôi vẫn thường cố đối xử với nó.
Trên đường đi, nó bảo với tôi: “Mẹ cũng sẽ rất mừng khi gặp chúng ta. Nhưng mẹ sẽ hết hồn khi chúng ta xuất hiện mà không báo trước, vì thế, chúng ta hãy dừng tại Lincoln để gọi điện về nhà”.
“Em gọi mẹ đi. Mẹ thích nghe giọng em”.
“Được thôi, nhưng anh phải thuyết phục cha đi câu cùng chúng ta”.
Thế là nó sắp đặt mọi thứ cho chuyến đi mà hóa ra là lần đi câu chung cuối cùng của chúng tôi. Paul nghĩ vì tất cả chúng tôi.
Mặc dù chúng tôi đã gọi điện trước, nhưng mẹ chúng tôi vẫn hồi hộp khi chúng tôi đến Missoula. Bà cố vặn tay trong tạp dề, ôm lấy Paul, cười, tất cả mọi việc xảy ra cùng lúc. Cha chúng tôi đứng ở phía sau và chỉ cười. Tôi vẫn còn cảm thấy lâng lâng tuy lúc ấy chỉ đứng ở phía sau. Bất cứ khi nào chúng tôi sum họp gia đình, Mẹ và Paul đều luôn là tâm điểm của sự chú ý. Em trai tôi sẽ ngả người ra sau khi ôm mẹ và cười, nhưng bà thì chỉ có thể ôm lấy nó và cố cười.
Chúng tôi về đến Missoula trễ. Chúng tôi đã cẩn thận không ăn dọc đường, mặc dù ở Lincoln có một nhà hàng ngon, bởi vì chúng tôi biết rằng nếu chúng tôi ăn ở đó, chúng tôi cũng vẫn phải ăn lại ở Missoula. Đầu bữa ăn tối, mẹ đặc biệt dịu dàng với tôi, bởi vì cho đến giờ, bà đã không chú ý nhiều đến tôi, nhưng chẳng bao lâu, mẹ quay trở lại với bánh mì tròn mới nướng, và bà phết bơ vào bánh của Paul.
“Đây là món thạch anh đào dại mà con thích đấy” - Mẹ nói và chuyển món ăn sang cho nó. Bà nấu các món quả dại và thịt rừng rất ngon, và bà luôn chuẩn bị sẵn món thạch anh đào dại cho em tôi. Vào một lúc nào đó bà lại quên mất rằng tôi mới là người thích thạch anh đào dại, đây là một sự nhầm lẫn nhỏ mà ba người đàn ông của bà chẳng ai phiền lòng cả.
❀ ❀ ❀
[1] Double diamond hitch - còn gọi là nút bện đầu dây.