Nơi Dòng Sông Chảy Qua

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4

❊ ❊ ❊

Nhịp điệu cũng quan trọng như màu sắc và cũng tinh tế như vậy. Nhịp này chồng lên nhịp khác, nhịp bốn của dây câu và cổ tay mà cha chúng tôi dạy vẫn là nhịp điệu căn bản. Nhưng chồng lên nó là nhịp hai của cánh tay đẩy lên như cái pít-tông và nhịp bốn hình số 8 hoàn chỉnh dài, quan trọng nhất của những vòng dây ngược.

Hẻm núi lung linh với nhịp điệu và màu sắc.

Tôi nghe thấy tiếng nói ở sau lưng. Một người đàn ông và vợ đi xuống con đường mòn, mỗi người xách một cần câu, nhưng có lẽ họ sẽ chẳng câu kéo gì nhiều. Có lẽ họ không có ý định gì khác hơn là được đi chơi ngoài trời cùng nhau, và sẵn dịp hái quả việt quất về làm bánh. Vào thời đó, chưa có nhiều thứ trang phục thể thao vải dày cho phụ nữ. Cô ta là một người phụ nữ to béo, vạm vỡ mặc quần yếm nam loại phổ thông, cặp vú của người mẹ căng lên dưới lần vải yếm. Cô ta là người đầu tiên trông thấy em trai tôi đang xoay vòng trên đỉnh vách đá. Đối với cô ta, Paul hẳn phải trông giống như một “nghệ sĩ quăng dây” ở một cuộc tranh tài của những người chăn bò, đang làm đủ mọi loại trò, ngoại trừ việc nhảy vào và nhảy ra cái thòng lọng của mình.

Người phụ nữ tiếp tục quan sát trong lúc quờ tay ra sau lưng để trải một đám lá thông ra ngồi. Cô ta thốt lên: “Ôi trời, ôi trời!”. Anh chồng dừng lại, đứng yên và nói: “Giê-su”. Thỉnh thoảng anh ta lại kêu lên: “Giê-su”. Mỗi lần như vậy, cô vợ lại gật đầu. Cô ta nằm trong số những bà mẹ Mỹ không bao giờ mơ đến việc nói những lời báng bổ nhưng lại khoái trá trước những lời của chồng mình, và dần cảm thấy nghiện, giống như nghiện khói xì gà vậy.

Tôi dợm đứng lên đi tìm chỗ câu mới. “Ồ không” - cô ta nói - “Anh sẽ chờ chứ, phải không? Lúc nào anh ta vào bờ, anh sẽ thấy những con cá to của anh ta”.

“Không” - Tôi đáp - “tôi thà xem những con tép riu”.

Rõ ràng cô ta nghĩ là tôi điên, vì thế tôi nói thêm: “Tôi sẽ xem cá của nó sau”. Và để cho cô ta hiểu ra điều gì đó, tôi buộc phải nói tiếp: “Nó là em trai tôi”.

Khi tôi đi tiếp, cảm giác nhột nhột sau lưng cho tôi biết rằng hai vợ chồng nhà kia đang nhìn theo tôi - vì tôi là anh trai nó, và cũng vì tôi hơi gàn dở một chút.

Do mấy con cá của chúng tôi to, đáng để uống vài ly và trò chuyện rôm rả sau đó, nên chúng tôi trở về Helena trễ. Dọc đường, Paul hỏi tôi: “Sao anh không nghỉ lại đêm ở nhà em rồi sáng mai hãy xuống Wolf Creek?”. Rồi nó nói thêm rằng nó phải “đi chơi đêm”, nhưng sẽ trở về sớm sau nửa đêm. Sau này tôi mới biết lúc đó hẳn phải là hai giờ sáng. Tôi nghe tiếng chuông điện thoại và thoát khỏi làn sương mù cùng bụi nước của con sông, tỉnh giấc và nhấc điện thoại. Giọng người trong điện thoại hỏi: “Anh có phải là anh của Paul không?”. Tôi hỏi: “Có chuyện gì vậy?”. Anh ta nói: “Tôi muốn anh đến đây gặp em anh”. Nghĩ rằng điện thoại bị nhiễu, tôi đập vào điện thoại: “Anh là ai?”. Anh ta đáp: “Tôi là hạ sĩ trực. Tôi muốn anh đến gặp em anh”.

Quyển sổ séc vẫn còn nằm trong tay tôi khi đến nhà giam. Viên hạ sĩ trực nhíu mày, bảo: “Không, anh không phải đóng tiền tại ngoại cho anh ta đâu. Anh ta chuyên đưa tin vụ án và có bạn bè ở đây. Anh chỉ phải ngó anh ta một cái rồi đưa anh ta về nhà”.

Sau đó anh ta nói tiếp: “Nhưng anh ta sẽ phải quay lại. Một gã sẽ kiện anh ta. Cũng có thể là hai gã”.

Không muốn gặp Paul khi chưa biết ất giáp gì, tôi tiếp tục hỏi: “Có chuyện gì vậy?”. Khi viên hạ sĩ trực nghĩ rằng đã đến lúc nói, anh ta bảo tôi: “Anh ta nện một gã gãy hai cái răng và bị thương khắp người”. Tôi hỏi: “Vậy thì gã thứ hai kiện nó vì chuyện gì?”. “Đánh vỡ đĩa. Cả một cái bàn nữa” - Viên hạ sĩ nói. “Gã thứ hai là chủ một nhà hàng. Gã bị em anh đánh ngã trúng một cái bàn của hắn”.

Giờ thì tôi sẵn sàng gặp em tôi, nhưng đã rõ là viên hạ sĩ gọi tôi đến đồn để nói chuyện. Anh ta nói: “Gần đây, chúng tôi phải cứu anh ta rất nhiều lần. Anh ta uống quá nhiều”. Tôi đã nghe được nhiều hơn những gì tôi muốn nghe. Có lẽ một trong những rắc rối gần đây nhất của chúng tôi là tôi chưa bao giờ muốn nghe quá nhiều về em trai mình.

Viên hạ sĩ kết thúc những gì anh ta muốn nói bằng cách cuối cùng kể cho tôi nghe những gì anh ta thật sự muốn nói: “Ngoài ra, anh ta còn thua trò stud poker lớn ở Hot Springs. Thật không hay khi thua ván bài lớn ở Hot Springs.

“Anh và em trai anh nghĩ rằng các anh cứng rắn bởi vì các anh là các “chiến binh đường phố”. Nhưng ở Hot Springs, người ta không chơi trò trẻ con kiểu đánh nhau tay không. Ở Hot Springs là trò stud poker lớn và tất cả phải quay cuồng quanh cuộc chơi đó”.

Tôi cảm thấy rối, từ chuyện cố bật dậy trong cơn say ngủ cho đến việc hiểu ra điều mà tôi không muốn hiểu. Tôi hỏi: “Chúng ta hãy bắt đầu lại. Tại sao em tôi ở đây và nó có bị thương không?”.

Viên hạ sĩ trả lời: “Anh ta không bị thương, chỉ không khỏe thôi. Anh ta uống quá nhiều. Ở Hot Springs, họ không uống quá nhiều”. Tôi bảo viên hạ sĩ: “Chúng ta hãy tiếp tục. Tại sao nó lại ở đây?”.

Theo lời viên hạ sĩ thuật lại thì Paul và cô bạn gái của nó đã vào nhà hàng Weiss’s để dùng bánh kẹp khuya. Đó là một nơi được ưa chuộng vào nửa đêm vì có các ngăn nhỏ ở phía sau, ở đó, bạn và bạn gái có thể ngồi và kéo rèm che lại. Viên hạ sĩ nói: “Cô bạn gái là người lai da đỏ. Anh biết cô gái ấy đấy” - Anh ta nói như thể ám chỉ tôi.

Paul và cô bạn của nó rõ ràng đang tìm một ngăn trống thì một gã ở ngăn họ đi qua thò đầu ra khỏi rèm, hét lên: “Wahoo”[1]. Paul đã đấm ngay vào cái đầu ấy, làm nó rơi mất hai cái răng, còn thân mình thì ngã đè lên cái bàn. Chiếc bàn lật nhào, chén đĩa vỡ cắt vào thịt gã đó và bạn gái của gã. Viên hạ sĩ nói: “Gã đó bảo tôi: ‘Lạy chúa, tôi chỉ có ý là thật buồn cười khi đi chơi cùng một người da đỏ. Chỉ là một câu đùa thôi’”.

Tôi nói với viên hạ sĩ: “Chẳng buồn cười chút nào”, và viên hạ sĩ đáp lại: “Đúng, không buồn cười lắm, nhưng em của anh sẽ tốn bộn tiền và thời gian để thoát khỏi vụ này đấy. Điều không thật buồn cười là anh ta thua trong trò chơi ở Hot Springs”. “Anh có thể giúp anh ta sửa đổi không?”

“Tôi không biết phải làm gì” - Tôi thú thực với viên hạ sĩ.

“Tôi biết anh muốn nói gì” - Viên hạ sĩ thổ lộ với tôi. Các viên hạ sĩ vào thời đó vẫn là người Ireland. Anh ta nói: “Tôi có một thằng em nhỏ. Nó là một đứa tuyệt vời, nhưng luôn gây rắc rối. Nó là loại mà chúng tôi gọi là ‘dân nhọ Ireland’”.

“Vậy anh làm gì để giúp anh ta?” - Tôi hỏi. Sau một hồi im lặng, anh ta đáp: “Tôi đưa nó đi câu cá”.

“Và nếu cách đó không hiệu quả thì sao?” - Tôi lại hỏi.

“Anh nên vào gặp em trai” - Anh ta trả lời.

Bởi mong muốn nhìn thấy Paul với hình ảnh đã thấy hôm trước, tôi đứng yên cho đến khi có thể thấy lại người phụ nữ mặc quần yếm từng kinh ngạc trước ngón quăng câu ăn bóng của nó. Sau đó, tôi mở cửa vào căn phòng nơi họ tống những người say vào cho đến khi họ có thể đi thăng bằng trên một đường thẳng[2]. “Cô bạn đang ở cùng anh ta” - Viên hạ sĩ nói.

Paul đang đứng trước cửa sổ, nhưng không thể đang nhìn ra, vì có một tấm ngăn dày giữa các chấn song, và nó không thể trông thấy tôi, bởi vì bàn tay quăng câu to bè đang ôm lấy mặt. Nếu không vì tình cảm tôi dành cho bàn tay ấy thì sau đó có lẽ tôi đã nghi ngờ rằng mình đã nhìn thấy nó.

Cô bạn gái của Paul đang ngồi dưới sàn, cạnh chân nó. Mái tóc của cô gái đen óng lên, cô ấy là một trong những người phụ nữ tôi thích. Mẹ cô gái là một người da đỏ Cheyenne miền Bắc, vì thế khi mái tóc đen óng lên, trông cô đẹp tuyệt, giống người da đỏ Algonkian ở Canada và người La Mã hơn là một người Mông Cổ nhìn nghiêng, và trông rất hiếu chiến, đặc biệt là sau khi uống vài ly. Ít nhất một trong số hai bà cố của cô cũng đã sống cùng các bộ lạc Cheyenne miền Bắc, khi họ và người Sioux tiêu diệt tướng Custer và Lữ đoàn kỵ binh số Bảy, và do người Cheyenne cắm trại ở Little Bighorn đối diện với ngọn đồi nơi họ trở thành bất tử, những người phụ nữ Cheyenne là những người đầu tiên thu dọn bãi chiến trường sau trận đánh.

Gã “mặt tái”[3] này, kẻ đã ló đầu ra khỏi ngăn của hắn ở quán Weiss’s và hét lên “Wahoo”, may mắn là chỉ bị mất có hai cái răng.

Ngay cả tôi cũng không thể đi xuống phố bên cạnh cô ấy mà không gặp rắc rối. Cô bạn gái của Paul thích cắp tay Paul một bên, tôi một bên và xuống Last Chance Gulch vào tối thứ Bảy, buộc mọi người phải nhảy xuống rãnh nước để tránh chúng tôi, và khi họ không nhường đường, cô ấy sẽ đẩy Paul hay tôi vào họ. Bạn không buộc phải đi rất nhanh xuống Last Chance Gulch vào tối thứ Bảy, lấn mọi người xuống rãnh rồi tham gia vào một trận ẩu đả dữ dội, nhưng cô bạn gái của Paul luôn cảm thấy rằng mình đang có một buổi chiều đầy thất vọng và không được chiều chuộng nếu gã đàn ông đưa cô đi chơi không tham gia vào một trận ẩu đả dữ dội vì cô.

Tuy thế, khi mái tóc cô óng lên thì cô xứng đáng với trận ẩu đả. Cô là một trong những vũ công đẹp nhất mà tôi từng gặp. Cô làm cho bạn nhảy cảm thấy như thể anh ta sắp bị bỏ lại đằng sau, hay đã bị bỏ lại sau rồi.

Thật là một cảm giác lạ lùng, tuyệt diệu và có phần bối rối khi ôm một người trong tay mà cô ấy đang cố nhổ bạn ra khỏi thế giới này và bạn không đủ giỏi để theo đuổi cô ấy.

Tôi gọi cô ấy là Mo-nah-se-tah, tên của người con gái xinh đẹp của tù trưởng bộ lạc Cheyenne, Tảng Đá Nhỏ. Đầu tiên, cô bạn gái của Paul không đặc biệt quan tâm đến cái tên - vốn có nghĩa là “cây cỏ non nhú lên vào mùa xuân”, nhưng sau khi tôi giải thích Mo-nah-se-tah được cho là mang thai đứa con trai ngoài giá thú của tướng George Armstrong Custer thì cô ấy bắt đầu mê cái tên như vịt gặp nước.

Nhìn xuống cô bạn gái của Paul bây giờ, tôi chỉ có thể thấy mái tóc cô ấy xõa xuống vai và cặp chân xoãi trên sàn phòng giam. Mái tóc cô gái thôi óng ả và tôi chưa bao giờ nhìn thấy đôi chân cô nằm bất động trên sàn như thế này. Biết rằng tôi đang nhìn xuống mình, cô gái cố gắng đứng lên, nhưng đôi chân dài của cô oặt xuống và đôi vớ tuột xuống chân; cô bạn gái của Paul lại duỗi chân ra sàn cho đến khi cạp vớ và nịt vớ lộ ra.

Hai người bọn họ bốc mùi còn tệ hơn buồng giam. Họ bốc mùi đúng như họ phải vậy - một cặp say rượu mà dạ dày chứa bất cứ thứ gì cơ thể tạo ra khi nó cảm thấy lạnh và say túy lúy, biết rằng một điều tệ hại đã xảy ra và không muốn ngày mai đến.

Chẳng có ai nhìn tôi, còn Paul thì câm lặng. Cô bạn của nó cất tiếng yêu cầu: “Hãy đưa tôi về nhà”. Tôi cho biết: “Tôi đến đây để làm việc đó”. Cô gái lại yêu cầu thêm: “Đưa anh ấy về nữa”.

Cô gái ấy là một vũ công đẹp, cũng như em tôi là một tay câu đẹp. Tôi xốc nách khiêng cô gái, những ngón chân của cô ấy kéo lê phía sau. Paul quay người lại, đi theo sau, không nhìn ngó hay nói năng gì. Cổ tay phải to quá khổ giữ bàn tay phải che mắt để, theo cách của người say rượu, Paul nghĩ rằng tôi không thể thấy nó và nó cũng có thể nghĩ rằng chính nó cũng không thể nhìn thấy mình.

Khi chúng tôi đi qua bàn của cảnh sát trực, viên hạ sĩ hỏi: “Tại sao tất cả các anh không đi câu cá đi?”

Tôi không đưa bạn gái của Paul về nhà của cô ấy. Vào thời đó, những người da đỏ không sống trong khu bảo tồn, mà phải sống ngoài phạm vi thành phố và thường thì họ cắm trại gần lò mổ hay bãi rác thành phố. Tôi đưa hai người trở về căn hộ của Paul. Tôi đặt Paul lên giường của nó, và đặt cô gái lên chiếc giường tôi ngủ lúc nãy, nhưng đã thay khăn trải giường để tấm khăn mới sẽ làm đôi chân cô ấy cảm thấy êm ái hơn. Khi được tôi đắp chăn cho, cô bạn gái của Paul bảo: “Lẽ ra anh ấy phải giết chết tên khốn đó”.

Tôi góp lời: “Có thể nó đã làm vậy rồi”. Ngay lúc đó, cô gái quay người nằm nghiêng rồi chìm vào giấc ngủ. Cô bạn của Paul luôn luôn tin bất cứ điều gì tôi nói với cô ấy, đặc biệt là việc kẻ thù bị thương vong nặng nề.

Lúc đó, bình minh ló dạng nơi phía ngọn núi bên kia sông Missouri, vì thế tôi lái xe về Wolf Creek.

Vào thời ấy, phải mất một tiếng đồng hồ để lái xe qua sáu mươi lăm cây số đường xấu từ Helena đến Wolf Creek. Khi mặt trời mọc trên dãy Big Belt và sông Missouri, sơn thủy đều tắm mình trong ánh nắng thì tôi cố tìm điều gì đó mà mình đã biết về cuộc đời; điều đó có thể giúp tôi vươn tay ra và chạm được vào em trai tôi, khiến cho nó phải nhìn tôi và nhìn lại chính mình. Một lúc nào đó, tôi thậm chí còn nghĩ rằng cái điều mà viên hạ sĩ trực bảo tôi lúc đầu tiên thật hữu ích. Là một hạ sĩ cảnh sát trực văn phòng, anh ta phải biết rất nhiều về cuộc đời và anh ta đã bảo tôi Paul là phiên bản Scotland của “dân nhọ Ireland”. Hiển nhiên là trong gia đình của cha tôi có những “dân nhọ Scotland” định cư ở những tiền đồn khác nhau, từ cố hương trên đảo Mull ở miền Nam Hebrides đến Fairbanks, Alaska, 177 đến 185km phía nam vòng Bắc cực, là những nơi xa nhất mà người Scotland có thể đến vào lúc đó để thoát khỏi trát đòi của các viên cảnh sát trưởng cùng những viên đạn súng săn của những gã chồng ghen tuông. Tôi đã tìm hiểu về họ qua những người phụ nữ trong gia đình, chứ không phải từ những người đàn ông, toàn là hội viên Hội Tam điểm và tin vào những hội kín của nam giới. Tuy nhiên, các cô, các dì của tôi nói về họ một cách hoan hỉ, rằng họ toàn là những người đàn ông cao lớn và vui tính, đã đối xử với họ rất tuyệt khi họ còn là những cô bé. Từ những lá thư của các chú, các cậu tôi, rõ ràng là họ vẫn coi các cô, các dì là những cô bé. Cho đến tận khi họ qua đời ở những nơi xa, mỗi mùa Giáng sinh, những người anh vội vã này lại gửi cho các cô em bé nhỏ một thời những tấm thiệp dễ thương, nguệch ngoạc những lời đảm bảo rằng họ sẽ sớm “trở về Mỹ để giúp các em treo vớ vào đêm Giáng sinh”.

Vậy là tôi đã dựa vào phụ nữ để tự giải thích những điều mình không hiểu về đàn ông, tôi nhớ lại một vài cô gái mình đã hẹn hò có chú, bác giống với em tôi. Mấy ông chú đó là chuyên gia ở một số ngành nghệ thuật vốn là sở thích giải trí của họ - một ông là họa sĩ màu nước, một ông khác là vô địch giải gôn câu lạc bộ - và mỗi người đều đã chọn một nghề cho phép họ có thể dành nhiều thời gian cho sở thích của mình. Cả hai đều có duyên, nhưng bạn không thật sự biết rằng mình hiểu được gì sau khi nói chuyện xong với họ. Vì họ không kiếm đủ tiền từ công việc để theo đuổi sở thích, nên gia đình họ thỉnh thoảng lại phải gặp luật sư của hạt để giải quyết êm thắm các vụ rắc rối.

Bình minh là lúc bạn cảm thấy sẽ tìm ra cách giúp một người thân mà bạn nghĩ là cần sự giúp đỡ, ngay cả nếu người ấy không nghĩ thế. Khi mặt trời mọc, mọi thứ đều sáng lóa nhưng lại nhìn không rõ.

Sau đó, cách Wolf Creek khoảng mười chín cây số, hiện ra con đường rẽ vào hẻm núi Little Prickly Pear, nơi bình minh đến trễ. Trong bóng tối lờ nhờ đột nhiên quay trở lại, tôi quan sát kỹ con đường, tự nhủ với mình rằng: chết tiệt, em mình chẳng giống ai khác. Nó không phải chú của bạn tôi hay anh của mợ tôi. Nó là em trai tôi và là một nghệ sĩ, khi cái cần câu nặng một trăm hai mươi tám gram nằm trong tay thì nó là một nghệ sĩ lớn. Nó không phí thời gian với cây cọ hay đi học để chơi một trò chơi tốt hơn. Nó cũng không nhận tiền ngay cả khi nó rất cần. Nó không chạy trốn bất kỳ ai để đến bất cứ nơi nào, đến vòng Bắc cực lại càng không. Thật là xấu hổ khi tôi không hiểu nó.

Tuy nhiên, ngay cả trong nỗi cô đơn khi ở hẻm núi, tôi biết cũng có những người giống tôi, họ có những người em mà họ không hiểu nhưng vẫn muốn giúp đỡ. Chúng tôi có lẽ là “những người trông nom em trai”, chúng tôi sở hữu một trong những bản năng lâu đời nhất, có lẽ là vô ích nhất và chắc chắn là ám ảnh nhất. Bản năng này không cho phép chúng tôi ngoảnh mặt làm ngơ.

Khi tôi lái xe ra khỏi hẻm núi thì ánh sáng ban ngày đã ngập tràn. Tôi đi ngủ và đánh một giấc cho đến khi vợ tôi gọi. Jessie bảo: “Đừng quên anh sẽ đi với Florence và em ra ga đón Neal”. Thật ra thì tôi không quên, nghĩ về hắn, tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Thật tốt khi nhớ ra rằng có một thành viên mà gia đình vợ lo ngại, và thậm chí còn tốt hơn khi nhớ ra rằng đối với mình thì hắn ta hơi buồn cười. Tôi cần phải cảm thấy nhẹ nhõm, một sự nhẹ nhõm đầy khôi hài và có vẻ chẳng tệ hơn bất cứ sự nhẹ nhõm nào khác.

Vợ tôi vẫn đứng ở cửa vì nghĩ rằng tôi sẽ lăn người qua rồi cố ngủ tiếp như mọi khi. Nhưng cô ấy đã phải ngạc nhiên khi thấy tôi nhảy khỏi giường và bắt đầu mặc đồ. “Sẽ vui đây” - tôi nói với Jessie. Jessie bảo tôi: “Anh thật khôi hài”, còn tôi thì hỏi lại: “Anh có gì khôi hài?”. Jessie đáp: “Em biết anh không thích anh ấy”. Tôi xác nhận: “Anh-không-thích-anh-ấy” một cách rõ ràng và trịnh trọng để phòng khi giọng tôi còn bị ngái ngủ. Jessie lặp lại: “Anh thật khôi hài”, rồi đóng cửa lại, sau đó mở hé cửa và nói: “Anh chẳng khôi hài đâu” - chữ “chẳng” của vợ tôi nghe cũng không giống ai.

Hắn là người cuối cùng xuống tàu. Hắn đi dọc theo sân ga và cố nhớ lại xem theo suy nghĩ của mình thì một tay vợt đẳng cấp quốc tế phải đi đứng thế nào. Có thể thấy rõ hắn là hành khách đầu tiên và cuối cùng bước ra khỏi toa tàu Great Northern tại Wolf Creek, Montana, mà mặc quần trắng bằng vải flannel và hai áo len. Lúc đó là thời mọi người mặc áo len quần vợt đỏ-trắng-xanh, còn hắn mặc áo len cổ chữ V đỏ-trắng-xanh bên ngoài áo len cổ lọ đỏ-trắng-xanh. Khi hắn nhận ra chúng tôi là họ hàng và hắn không thể là Bill Tilden hay F. Scott Fitzgerald, hắn đặt vali xuống và thốt lên: “Ô”, đến tôi thì hắn không nói gì cả. Sau đó, hắn đưa má ra để chờ được hôn. Trong khi những người phụ nữ thay phiên nhau hôn hắn thì tôi có dịp quan sát kỹ cái va-li của hắn. Nó nằm cạnh đôi giày trắng đen thanh lịch của hắn, các cạnh màu vàng rơm đã bắt đầu toác ra và một cái khóa không còn khóa được nữa. Giữa tay xách có hai chữ viết tắt F. M., là tên của mẹ vợ tôi trước khi lấy chồng. Khi mẹ vợ tôi trông thấy cái va-li, bà đã bật khóc.

Vậy là hắn đã trở về nhà với gần như y nguyên những gì hắn đã có khi rời Montana, bởi vì hắn vẫn dùng chiếc vali của mẹ mình và nhận thức về bản thân là một tay vợt cúp Davis, và lần đầu tiên xuất hiện ở Wolf Creek, nơi bạn không thể nhảy qua lưới mà không đáp xuống đám xương rồng.

Cho đến tám giờ rưỡi hay chín giờ tối hôm đó, hắn mới cố thu nhỏ mình lại để có thể lẻn ra khỏi cửa mà không ai nhìn thấy, nhưng Florence và Jessie đang đợi hắn. Vợ tôi không biết rào đón, vì thế, để tránh khỏi bị sai bảo, tôi đã đứng bật dậy và hộ tống hắn ra quán Dùi Cui, mặc dù đôi khi khó mà gọi nơi này là quán rượu được.

Quán Dùi Cui là một toa xe chở hàng đã được tháo hết bánh xe và đặt trên sỏi ở bên kia cây cầu bắc qua sông Little Prickly Pear. Ở bên hông của toa xe có biểu tượng của công ty hỏa xa Great Northern - một con dê núi đang nhìn xuống, trông qua bộ râu trắng của nó, nằm giữa một khung nền rực sắc đỏ. Đây là con dê duy nhất từng nhìn thấy đáy thế giới của nó luôn bị chiếm lĩnh bởi một chai whisky dán nhãn “3-7-77”, là những con số mà các ủy viên trật tự đính lên áo những kẻ lục lâm đã bị họ treo cổ, có lẽ để thể hiện kích thước của ngôi mộ. (Các con số này được cho là rộng ba feet, dài bảy feet, và sâu bảy mươi bảy inch). Quầy rượu là một khúc gỗ được bửa đôi bởi một người dùng rìu không khéo lắm, có thể là chính lão Dùi Cui, nhưng khách hàng của lão thì lại giỏi hơn lão nhiều khi làm cho nó lên nước bóng loáng chỉ bằng cùi chỏ. Dùi Cui thấp người, run rẩy, và không bao giờ rời khẩu súng ru-lô cùng cây dùi cui nằm bên dưới quầy rượu. Răng lão xếu xáo, có lẽ là do uống thứ rượu whisky mình bán, vốn được nấu đâu đó trên quãng Sheep Gulch.

Mấy cái ghế ở phía trước quầy rượu được chế từ kiện hàng tạp phẩm. Khi tôi và Neal bước vào, hai kiện gỗ đã có người ngồi, cả hai đều là những nhân vật từ lâu đã quen thuộc với con dê núi Great Northern. Một người được gọi là Cung Dài, bởi vì ở vùng một thời là đất của người da đỏ này, bất cứ ai đạt đến nghệ thuật nói trạng về chiến tích săn thú và bắn súng của mình đều được gọi là “kéo cây cung dài”.

Tuy vậy, một lần được chứng kiến anh ta bắn súng, bản thân tôi không bao giờ hùa theo lối nghĩ là anh ta nói trạng về khả năng bắn súng của mình. Tôi đã thấy một người bạn của anh ta tung năm viên thuốc aspirin lên trời và ngay lập tức, chúng vỡ tung thành năm bông hoa trắng nhỏ sau năm phát đạn vang lên gần như cùng lúc.

Tôi cũng chắc rằng anh ta có thể thách thức tay vô địch của trại chăn nuôi Sieben trong trò bắn súng của mình. Đồng cỏ Sieben là một trong những đồng cỏ tốt nhất của vùng Tây Montana, kéo dài suốt từ thung lũng Helena đến Lincoln và xa hơn nữa. Chủ trại, Jean và John Baucus, đã kể về một người chăn cừu thân tín mà họ đã từng phải đưa vào bệnh viện. Tình trạng của anh ta xấu đi nhanh chóng. Họ không thể cởi đồ lót của anh ta ra, vì anh ta mặc quá lâu nên lông mọc xuyên qua vải. Cuối cùng, họ phải nhổ lông anh ta giống như nhổ lông gà vậy, và cuối cùng, đồ lót của anh ta rơi ra, da tróc ra theo. Ở ngực áo phanh đến tận bụng của Cung Dài, bạn có thể thấy lông đâm ra ngoài đồ lót.

Trên kiện gỗ ở đầu bên kia của quầy rượu là một nhân vật nữ được lũ dê suốt dọc tuyến đường sắt Great Northern gọi là Da Sống Cũ. Cách đây khoảng mười năm, vào dịp kỷ niệm Quốc khánh, cô ả đã được bình chọn là hoa hậu vùng Wolf Creek. Cô ả đã cưỡi ngựa không yên và đứng hẳn lên lưng ngựa khi đi qua các cư dân, đa số là nam giới, đứng dọc hai con đường của Wolf Creek. Váy cô ả bay cao, và ả đã thắng cuộc thi. Nhưng do không có những phẩm chất cần thiết để trở thành một kỵ sĩ chuyên nghiệp, cô ả đã sống bằng nghề tiếp sau mà bản thân vốn có sở trường. Tuy nhiên, ả vẫn còn mặc váy quần của các nữ kỵ sĩ miền Tây vào thời đó, mặc dù trang phục này hẳn sẽ trở thành vô dụng đối với cái nghề mới của ả.

Mặc dù mang tiếng là một thị trấn nhỏ nhưng Wolf Creek hiện ra lù lù trên bản đồ. Nó đóng góp hai nhân vật nổi tiếng gần như toàn quốc, một người vật ngã được bò mộng còn người kia quăng thòng lọng siêu hạng. Hai nghệ sĩ địa phương này biểu diễn ở hội chợ hạt suốt mùa hè và đủ khả năng kiếm được năm, sáu trăm đô-la một mùa, tất nhiên đã trừ chi phí bệnh viện. Da Sống Cũ không có ý định sống hết phần đời còn lại làm một vận động viên đầy thất vọng, vì thế, cô ả sống với gã quăng thòng lọng một mùa đông và với tay vật bò mùa đông tiếp theo. Thi thoảng, vào cuối mùa thu, khi thấy mùa đông tới có vẻ khắc nghiệt, cô ả sẽ cưới một trong hai người, nhưng hôn nhân không phải là niềm hạnh phúc tự nhiên của Da Sống Cũ, trước mùa xuân, cô ả sẽ tằng tịu với người kia. Việc tằng tịu này làm bộc lộ những phẩm chất lâu dài và bền vững của Da Sống Cũ; không như hôn nhân, có thể trông mong những phẩm chất này sẽ kéo dài qua tất cả các mùa đông.

Vào các mùa hè, khi các nghệ sĩ của cô ả đang sống bằng bánh hot dog ở các hội chợ hạt và bị húc thủng ruột khi vặn cổ bò thì Da Sống Cũ ngồi mọc rễ ở quán Dùi Cui, hạ mình mồi chài các tay câu cá lạc bước. Đa số họ là những người câu cá bằng mồi sống và bằng lưỡi câu chùm đến từ Great Falls, vì thế đối với cô ả, cũng như đối với phần còn lại của thế giới, cuộc đời lắm lúc lên voi xuống chó. Tuy nhiên, ở ả ta không thấy rõ những tác động của cuộc sống. Giống với nhiều tay kỵ sĩ siêu hạng, cô ả khá nhỏ nhắn nhưng rất dẻo dai và rất khỏe, đặc biệt là đôi chân. Cô ả đủ dãi dầu để xứng với biệt danh của mình, nhưng trông không già hơn nhiều so với tuổi ba mươi của mình - ba mươi năm chủ yếu sống bên ngựa cùng những người cưỡi ngựa, và môi trường thể thao của Great Falls.

Ngay cả khi cô ả và Cung Dài cùng ngồi ở quầy rượu thì họ cũng ngồi ở hai đầu bàn để những tay câu cá lang bạt kỳ hồ phải ngồi ở giữa và đãi rượu họ.

Đó là nơi tôi và Neal ngồi khi chúng tôi bước vào. “Chào Cung Dài” - Neal nói và bắt tay anh ta. Cung Dài không thích cái tên đó, mặc dù anh ta biết mọi người gọi như vậy sau lưng mình, nhưng đối với Neal thì anh ta đơn giản chỉ là Cung Dài. Sau vài ly 3-7-77, Neal bắt đầu khoác lác rằng tài bắn súng, săn thú, đặt bẫy của hắn còn hơn cả người đánh bẫy của chính phủ.

Có điều gì đó sâu thẳm bên trong Neal thúc ép hắn phải khoác lác trước các chuyên gia trong lĩnh vực đó, họ biết tỏng rằng hắn đang nói khoác. Hắn là loại người cần bị lật tẩy khi đang nói khoác.

Còn đối với Da Sống Cũ thì Neal chưa nhìn tới. Tôi đã hiểu ra mánh khóe đầu tiên trong việc cưa gái của Neal là phớt lờ họ, và bắt đầu nhận ra rằng đó thật là một mở đầu hiệu quả.

Tấm gương phía sau quầy rượu trông như một tấm đá bùn thời tiền sử được mài bóng và có những gợn sóng trên mặt. Neal nhìn gương liên tục, rõ ràng là bị mê hoặc bởi hình ảnh méo mó của chính mình, vẫn còn sống - đang đãi rượu mọi người và giành nói một mình, không nghe ai nói. Tôi cố phá vỡ thế độc tôn đó bằng cách nói chuyện với Da Sống Cũ đang ngồi kế tôi, nhưng cô ả chỉ chú ý khi bị phớt lờ, do đó ả phớt lờ tôi.

Cuối cùng, tôi lắng nghe, vì sẽ chẳng có ai lắng nghe tôi nói, mặc dù tôi chưa đi đến chỗ đãi rượu mọi người. Neal đã theo dấu một con rái cá và đàn con của nó lên tận đèo Rogers, nơi nhiệt kế chính thức ghi nhận âm 56,5 độ C. Trong khi hắn lần theo con rái cá thì tôi cố lần theo giống loài của nó qua mô tả của hắn. Hắn bảo: “Tôi đã gặp nhiều khó khăn khi lần theo nó, bởi vì lông nó chuyển thành màu trắng vào mùa đông”, (vậy hẳn nó phải lai chồn ermine). Hắn kể sau khi đuổi nó leo lên cây: “Nó vươn người ra trên cành cây thấp, chuẩn bị phủ xuống con nai đầu tiên đi qua”, (vậy nó hẳn phải lai sư tử núi. Nó cũng phải lai rái cá, bởi vì nó biết giễu cợt và cười nhạo hắn). Nhưng chủ yếu nó là loài 3-7-77, bởi vì nó là loài thú duy nhất ở miền Tây Montana, ngoài loài người, đẻ con vào mùa đông. “Bọn rái cá con chòi đạp ngay trong áo tôi” - Hắn nói, vén hai cái áo len đỏ-trắng-xanh lên cho chúng tôi thấy cái áo sơ mi.

Cung Dài gõ nhẹ phần đế dày của cái ly không trên mặt quầy rượu, không nói lời nào vì sợ có vẻ khiếm nhã. Nhưng Da Sống Cũ không thể nhịn nói lâu hơn được nữa, dù là gì chăng nữa. Cô ả ngả người qua trước mặt tôi, nói vào một bên mặt của Neal: “Này, Anh Giai, bọn rái cá làm gì trên đỉnh của Phân tuyến lục địa vậy? Tôi nghĩ là rái cá bơi ở các lạch nước và chơi đùa trong bùn chứ?”.

Neal ngừng giữa câu và nhìn vào gương, cố nhận ra một hình ảnh méo mó khác với hình ảnh của kẻ đã kể câu chuyện. “Hãy uống thêm một ly nữa” - Hắn nói với tất cả những hình ảnh méo mó. Sau đó, lần đầu tiên hắn chính thức nhận ra một người phụ nữ đang hiện diện không phải bằng cách nhìn vào hình ảnh trong gương, mà là nhìn vào Dùi Cui bằng xương bằng thịt đứng sau quầy rượu, và ra lệnh: “Rót cả cho cô ta nữa”.

Da Sống Cũ nắm bàn tay lại khi ly rượu được đưa vào tay, nhưng vẫn tiếp tục nhìn gương mặt nhìn nghiêng của Neal. Ở thị trấn của các trang trại Wolf Creek, cô ả và con dê hãng Great Northern có lẽ chỉ thấy một vài gã đàn ông khác có khuôn mặt trắng xanh và đôi mắt trũng.

Khi tôi dợm nhấc người ra khỏi cái thùng gỗ để giữ lời hứa về nhà sớm, thì Cung Dài nói: “Cảm ơn”. Do tôi chưa từng đãi một ly rượu nào trong suốt buổi tối đó, nên tôi biết anh ta hẳn đang cám ơn tôi vì để ông anh vợ lại. Ngay khi tôi vừa nhấc mông lên khỏi cái thùng, Da Sống Cũ liền chuyển sang đó ngồi để gần Neal hơn. Cô ả nhìn chằm chằm vào bộ mặt nghiêng của Neal, và mùi tình tứ toát ra từ thịt da cô ả.

Trên đường đi ra, tôi ngoái lại nói với Neal: “Đừng quên, anh sẽ đi câu cá vào sáng mai đấy”. Hắn cũng ngoái ra sau và hỏi: “Cái gì?”.

Paul đến Wolf Creek sớm vào sáng hôm sau như đã nói. Mặc dù tôi và nó được tự do khi đã trưởng thành, song chúng tôi không bao giờ vi phạm nền giáo dục tôn giáo thuở thiếu thời: luôn luôn đi nhà thờ, đi làm và đi câu đúng giờ.

Florence đón nó ở cửa với vẻ đầy lo lắng: “Cô xin lỗi, Paul, nhưng Neal chưa dậy. Nó về nhà trễ”.

“Cháu thậm chí còn không ngủ đêm qua. Đánh thức anh ấy dậy đi, Florence”.

“Nó không được khỏe”.

“Cháu cũng không khỏe, nhưng cháu sẽ đi câu trong vài phút nữa”.

Họ nhìn nhau chằm chằm. Không bà mẹ Scotland nào thích bị bắt gặp có một đứa con trai lười biếng mê ngủ, và không có người câu cá Scotland nào lại muốn đứng chờ một người bà con không dậy nổi vì đêm qua say rượu. Mặc dù người Scotland làm ra whisky, nhưng họ cố không công nhận sự tồn tại của cơn mệt sau uống rượu, đặc biệt là trong gia đình. Thông thường, đây hẳn sẽ là một cuộc đấu không phân thắng bại giữa em trai tôi và mẹ vợ tôi, nhưng trong trường hợp hiếm gặp này, một phụ nữ Scotland không thể nghĩ ra một lời nào để bênh vực con trai mình, vì thế bà phải đánh thức hắn dậy, mặc dù chỉ làm chiếu lệ thôi.

Chúng tôi chậm rãi chất hàng lên chiếc xe tải nửa tấn của Kenny, một đứa em vợ vẫn còn ở Wolf Creek. Ba người phụ nữ đã trải một tấm nệm cũ ở phần râm của thùng xe, sau đó họ đặt lên nệm người bà con sống ở Bờ Tây của họ. Sau khi đã tìm ra chỗ để món salad khoai tây, lò nướng và dụng cụ câu cá, sáu người chúng tôi cố gắng thoải mái nhưng tuyệt đối không quấy rầy cái nệm.

Gần như toàn bộ năm cây số đầu tiên của con đường dẫn đến Elkhorn chạy song song với sông Missouri, bắt đầu khi nó xuất hiện từ khe núi khổng lồ mà Lewis và Clark gọi là Cửa vào các ngọn núi. Mặc dù dòng nước vẫn còn trong khi chảy thêm vài dặm xuống phía dưới, nhưng đất bắt đầu chuyển đỏ ngay khi dòng sông đổ ra khỏi các ngọn núi. Con đường kết thúc ở ngay dưới khe núi đen, nơi dòng Elkhorn đổ vào sông Missouri. Cũng như hầu hết những con đường đất chạy men theo sông Missouri, con đường toàn bụi xám và các rãnh thoát nước. Những rãnh thoát nước này chạy ngang đường không làm cho sức khỏe của Neal khá hơn, và bụi xám sẽ biến thành bùn nhão khi mưa xuống.

Kenny, em của Jessie hiện sống ở Wolf Creek, cũng giống như hầu hết những người sống ở các thị trấn với hai con đường - nó có thể làm được gần như mọi việc. Nó có thể lái chiếc xe tải nửa tấn xuyên qua vùng đất khó mà tìm được lấy một chiếc xe thồ, và nó đã cưới Dorothy, một y sĩ có chứng chỉ hành nghề. Cô ta đậm người, khỏe mạnh, được đào tạo chuyên ngành hộ lý chăm sóc hậu phẫu. Các chủ trại bị thương lòi ruột sẽ một tay bụm ruột, một tay lái xe từ vùng quê vào thị trấn để tìm “y sĩ có chứng chỉ” khâu bụng lại. Florence và Jessie đều tham gia vào ngành y ở các mức độ khác nhau, và ba người bọn họ được coi là trung tâm y tế của vùng Wolf Creek. Giờ đây, ba người phụ nữ chúi đầu trên tấm nệm cũ, trên thực tế, tạo thành một đội chăm sóc tập trung.

Ken thân với tất cả các cư dân của Wolf Creek và hầu hết các chủ trại ở vùng xung quanh, đặc biệt là những người gốc Scotland. Họ là những người đến miền Tây sớm và sớm biết cách chăn nuôi gia súc trong khí hậu lạnh giá của núi cao. Đó là lý do chúng tôi được phép câu cá ở Elkhorn. Jim McGregor sở hữu vùng này, thậm chí đến cả dòng nước đầu nguồn, và mỗi hàng rào đều gắn bảng, theo thứ tự từ trên xuống, với các dòng chữ: “Không săn bắn”, “Không câu cá”, và cuối cùng bổ sung thêm: “Cấm vào”. Kết quả là ông ta dành đồng cỏ cho cả bò lẫn nai sừng tấm, nhưng ông ta tính toán rằng làm vậy còn rẻ hơn là mở cửa đồng cỏ cho các tay thợ săn từ Great Falls sang, vì họ không phân biệt được bò và nai sừng tấm.

Một điều đặc biệt về con đường qua đồng cỏ là nó càng mờ nhạt bao nhiêu thì lại càng đi gần với lũ bò bấy nhiêu. Nó chỉ còn là hai vệt bánh xe chạy ngoằn ngoèo lên đỉnh dốc, sau đó nó lại ngoằn ngoèo qua bấy nhiêu khúc cua để xuống sông Elkhorn, vốn chỉ là một khúc quanh của rặng liễu và dòng nước uốn khúc qua đám cỏ cao cho đến khi ngọn núi mở ra và rặng liễu biến mất. Ở đỉnh dốc, hai vệt bánh xe vẫn đọng bụi xám, và những đám mây đen tụ lại trên những ngọn núi đen trên đầu.

Paul nhảy ra khỏi chiếc xe tải ngay khi nó dừng tại đáy thung lũng. Nó cầm cần câu, đoạn cước nối và hộp mồi giả trước khi tôi có thể thoát khỏi chỗ ngồi tồi tệ giữa Dorothy và Jessie. Hai người phụ nữ níu chặt tay tôi, thì thầm: “Chẳng lẽ anh lại đi, bỏ lại anh của bọn em sao”. Ngoài ra, tôi còn phải nhảy lò cò một lúc, bởi vì một chân bị tê cứng do bị chèn ép.

Vào lúc đó, Paul ngoái lại bảo: “Em sẽ đi xuôi xuống ba cái vũng và câu lên phía thượng nguồn. Anh tản ra và câu xuống hạ nguồn cho đến khi chúng ta gặp nhau”. Rồi nó đi mất.

Một lý do khiến Paul câu được nhiều cá hơn bất cứ ai khác đó là vì nó thả mồi chạm nước nhiều hơn bất kỳ ai. Nó cho biết: “Anh à, ở Montana, cá không đớp mồi trên không. Ở đây, anh không thể câu cá khi mồi giả ở trên không”. Bộ đồ câu của em trai tôi đã sẵn sàng ngay khi nó bước ra khỏi xe. Paul bước nhanh, nó ít khi phí thời gian thay mồi mà dành thời gian thay đổi độ sâu thả mồi hay là cử động giật mồi, nếu phải thay mồi thì nó sẽ cột dây với tốc độ của một cô thợ may, và còn nhiều mẹo khác. Thời gian mồi của nó ở dưới nước nhiều hơn tôi ít nhất là hai mươi phần trăm.

Tôi nghĩ còn có một lý do khác khiến hôm nay nó muốn tách khỏi tôi càng nhanh và càng xa càng tốt - nó không muốn tôi nói chuyện với nó về đêm hôm trước.

Ken nói nó sẽ đi lên phía thượng nguồn để câu cá ở các đập hải ly. Nó thích các đập hải ly vì biết cách câu ở đó. Thế là nó vui sướng biến đi, lội bì bõm trong bùn sông và len qua các bụi cây rồi tuột xuống các đống cành cây lung lay được gọi là đập hải ly; rồi cuối cùng trở về với một giỏ đầy cá và một nùi tảo biển quấn quanh cổ. Jessie lại bấu tay tôi và cảnh cáo một cách ngắn gọn: “Đừng bỏ anh trai em”. Tôi xoa cánh tay rồi bắt gã anh vợ đi trước để hắn không trốn thoát được ngay. Chúng tôi đi xuống con đường mòn vòng qua khúc quanh đầu tiên, nơi nhánh sông hiện ra từ đám liễu và chảy xuyên qua trảng cỏ. Sau đó, bước chân hắn bắt đầu loạng choạng và cố ý làm ra vẻ đáng thương. Hắn nói: “Tôi vẫn chưa khỏe. Có lẽ tôi sẽ dừng ở đây và câu cá ở trảng cỏ”. Do khúc quanh của nhánh sông, mọi người không thể nhìn thấy hắn, và nếu hắn quay trở lại thì chỉ phải đi có vài trăm mét.

“Tại sao lại không?” - Tôi buột miệng và biết rằng đó là câu hỏi ngu ngốc vừa được thốt ra.

Mặc dù giờ này Paul hẳn đã câu được ba, bốn con cá, còn tôi vẫn phải bỏ thời giờ bước xuống con đường mòn, cố bỏ lại thế giới ở phía sau mỗi bước chân của mình. Có một điều gì đó tiềm ẩn bên trong những người câu cá thôi thúc làm cho việc câu cá trở thành một thế giới hoàn hảo và riêng biệt - tôi không biết điều đó là gì và nằm ở đâu, bởi vì đôi khi nó ở trong cánh tay tôi, đôi khi ở trong cổ họng, lại có lúc không nằm ở cụ thể nơi nào, mà ở sâu thẳm trong lòng. Nhiều người trong chúng tôi lẽ ra đã trở thành những người câu cá giỏi hơn nếu không dành quá nhiều thời gian để quan sát và chờ đợi thế giới đó trở nên hoàn hảo.

Thứ khó lòng bỏ lại phía sau nhất, như tình cảnh của tôi hiện nay, có thể tạm gọi là lương tâm.

Tôi có nên nói với em tôi về những gì đã xảy ra tối hôm trước không? Tôi gọi điều đó một cách mơ hồ là “những gì đã xảy ra tối hôm trước” để không phải hình dung ra nó, đặc biệt là cái bàn tay cầm cần câu. Ít nhất, tôi có nên đề nghị giúp nó ít tiền, nếu nó phải bồi thường các hư hại? Tôi cứ miên man nghĩ về những cách hỏi mới cho câu hỏi xưa cũ này, vốn giờ đây được đóng khung bởi cặp chân vũ công xoãi ra trên nền phòng giam, cho đến khi những câu hỏi về lương tâm cuối cùng lại biến mất, như mọi khi, mà không có câu trả lời nào. Tôi vẫn chưa biết tôi có quyết định nói chuyện với em trai mình hôm nay hay không.

Tuy nhiên, tôi vẫn lo lắng về một điều gì đó, bất kể là gì, cho đến khi tôi quay ngược lại trên con đường mòn và đi trở lại trảng cỏ để có thể nói rằng tôi đã quyết tâm phải nói.

Bên kia trảng cỏ là một con đập và phía trên nó là một cái vũng lớn xanh ngắt. Neal đang ngồi gà gật trên một tảng đá, lon cà phê Hills Bros. đỏ nằm bên cạnh hắn. Cổ hắn cúi xuống, trông xanh xao, phơi ra ngoài nắng và chẳng bao lâu, đỏ lựng như màu lon cà phê.

“Anh đang làm gì vậy?” - Tôi hỏi.

Tôi cho hắn một ít thời gian để nghĩ ra câu trả lời. “Tôi đang câu cá” - Cuối cùng hắn nói. Sau đó, hắn cố trả lời một lần nữa cho chính xác hơn: “Tôi đang câu cá và cảm thấy không khỏe”.

“Vùng nước lặng này thường không có cá, đúng không?” - Tôi hỏi kháy.

“Tại sao” - Hắn nói tiếp - “Hãy nhìn mấy con cá dưới đáy vũng kìa”.

“Mấy con đó là cá đác[4] và cá mút[5]” - Tôi trả lời hắn mà không thèm nhìn.

“Cá mút là cá gì?” - Hắn hỏi và trở thành người gốc Montana đầu tiên ngồi trên một tảng đá mà hỏi cá mút là gì.

Ở cái vũng bên dưới hắn là một mớ nhỏ màu hồng, chắc hẳn là con trùn bị một cái lưỡi câu xuyên qua thân. Trên đoạn cước nối, ngay phía trên con trùn, có hai cái hột màu đỏ, rõ ràng là được cột ở đó để trang trí. Mớ trùn và hai cái hột đỏ lủng lẳng cách con cá mút gần nhất khoảng tám phân. Chẳng con cá nào động lòng, người câu cá cũng vậy, mặc dù cả hai phía đều nhìn nhau trân trối.

“Anh có muốn lúc nào đó đi câu cá mồi giả với tôi và Paul không?” - Tôi hỏi.

“Cám ơn, nhưng không phải bây giờ”.

“Ờ, vậy thì hãy bảo trọng và chúc vui vẻ”.

“Tôi đang vui đây”.

Tôi lại bước xuống con đường mòn với suy nghĩ sai lầm là lẽ ra tôi đã có thể làm được điều gì hay ho khi quay trở lại gặp anh vợ tôi. Tuy nhiên, đám mây lớn bay ra từ lối vào dãy Rocky tiếp tục nói với tôi rằng mặc dù tôi cố tìm những phút giây hoàn hảo, nhưng tôi sẽ không tìm thấy vào ngày hôm nay, và rằng tôi sẽ không câu được nhiều cá trừ phi tôi không lởn vởn ở quanh đây.

Tôi rẽ khỏi con đường mòn tại trảng cỏ tiếp theo, và lẽ ra đã có thể câu đủ định mức đưa ra ở hai hay ba cái vũng. Do Jim McGregor chỉ cho phép vài người câu cá đến nhánh sông nhỏ này thôi, nên nó đặc cá mà có lẽ không bao giờ lớn hơn mười lăm phân.

Tôi chỉ gặp một vấn đề khi câu cá và nó chỉ kéo dài trong vài lần câu đầu. Có một cái ngạnh ở cuối lưỡi câu, và trừ phi lưỡi câu ăn vào miệng hay hàm cá đủ sâu để dính ngạnh, còn nếu không thì con cá sẽ rách mép và vuột khỏi lưỡi câu. Vì thế, ngay khi cá đớp mồi, ta phải giật dây câu ngay, dù là trực tiếp bằng tay trái hay bằng cần câu bên tay phải. Thời điểm và độ mạnh phải hoàn hảo - quá sớm hay quá trễ, quá yếu hay quá mạnh đều làm cho con cá đau môi trong vài ngày, nhưng có thể sẽ sống lâu hơn để tinh khôn hơn.

Tôi buông mồi quá nhanh đến nỗi tôi giật mồi lên trước khi chúng kịp đớp mồi. Mỗi loại cá hồi khác nhau có một tốc độ ăn mồi khác nhau, và thời điểm chính xác để giật mồi sẽ thay đổi theo dòng chảy và thậm chí theo thời tiết và thời gian trong ngày. Tôi đã câu cá quá lâu ở dòng nước xiết của sông Blackfoot Lớn, nơi loài Cầu Vồng lớn xuất hiện từ phía sau lũy đá lớn. Những chủ trại đầu tiên đã thả xuống nhánh sông Elkhorn giống cá Hồi Suối Miền Đông, và đúng như tên của mình, chúng là loài trầm lặng hơn.

Một khi đã không giật ngay thì tôi chẳng còn buồn giật mồi nữa. Trông chúng thật đẹp - lưng đen trũi, thân điểm những đốm vàng và cam, bụng đỏ nối với vây bụng đỏ viền trắng. Chúng là những hòa sắc vốn thường được vẽ trên những cái đĩa gỗ. Nhưng chúng chỉ là những đối thủ tầm tầm và ta có cảm giác chúng là những con cá chình vì chúng quá nhỏ. Ngoài ra, tên của chúng chống lại chúng, vì ở Tây Montana, từ “suối” không thường được coi là đồng nghĩa với “nhánh sông”.

Đột nhiên tôi tự hỏi không biết giờ này em tôi đang làm gì, bởi vì tôi biết chắc chắn nó chẳng phí công câu mấy con cá Hồi Suối Miền Đông cỡ mười lăm phân làm gì. Nếu tôi muốn theo kịp nó, tốt hơn tôi nên bắt đầu cố câu vài con Quái vật Nâu từ sông Missouri ngược dòng lên đây.

Câu cá là một thế giới được tạo ra tách biệt với tất cả các thế giới khác, và bên trong nó là những thế giới đặc biệt của riêng nó - một trong số đó là câu những con cá to sống trong dòng nước nhỏ, nơi không có đủ không gian và nước để cá và người câu cá thỏa sức vùng vẫy, và rặng liễu bên bờ con suối cản trở người câu cá.

Tôi dừng lại, rửa mấy con cá Hồi Suối Miền Đông, và xếp chúng trong giỏ giữa các lớp cỏ dại và lá bạc hà. Trông chúng đẹp hơn những con cá được vẽ trên đĩa. Sau đó, để chuẩn bị cho cuộc chơi lớn, tôi thay một sợi cước trong chịu được 4,6kg và mồi giả số sáu. Tôi bôi sáp vào mười mét dây câu đầu tiên để đề phòng nó đã ngấm nước và không nổi, nhìn lại lần cuối mấy con cá Hồi Suối Miền Đông nằm trong đám lá bạc hà, rồi từ biệt thế giới của những con cá nhỏ.

Một bóng tối khổng lồ với đám mây lớn phía sau trùm lên tôi khi đang băng qua trảng cỏ. Hẻm núi Elkhorn sâu và hẹp đến nỗi một đám mây đen, hay nó cộng với một phần của đám mây tiếp theo, cũng có thể che phủ bầu trời. Đám mây đen có thể bay qua và mặt trời tiếp tục chiếu sáng hay tiếp theo nó là những đám mây còn đen hơn. Từ đáy hẻm núi, không có cách nào biết được đám mây nào sẽ bay đến, nhưng tôi có cảm giác trời sẽ không có nắng.

Bất chợt, vô số cá bắt đầu nhảy đến nỗi trông như những giọt mưa sớm cực lớn vừa sa. Khi cá bắt đầu nhảy như thế này, có điều gì đó đang diễn ra đối với thời tiết. Vào giây phút đó, thế giới là một bản giao hưởng của dòng Elkhorn, loài cá Hồi Nâu huyền thoại, thời tiết và bản thân tôi, và trong tôi chỉ còn tồn tại những suy nghĩ về nhánh sông Elkhorn, thời tiết và loài cá huyền thoại có thể chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của tôi.

Dòng Elkhorn trông đúng như tính chất của nó - một khe nứt trên mặt đất đánh dấu nơi dãy Rocky kết thúc và nơi khởi đầu Đồng bằng Lớn. Những ngọn núi khổng lồ có sườn đen sẫm, trên đó mọc những cá thể gần như cuối cùng của loài thông núi. Sườn phía đông của chúng chuyển sang màu nâu và vàng, nơi những đám cỏ cao bình nguyên bắt đầu mọc, nhưng thi thoảng lại có những chấm đen là những cây thông lìa bầy ngoái lại phía sau lần cuối. Giống cá Hồi Nâu huyền thoại và hẻm núi hòa hợp với nhau trong những suy nghĩ của tôi. Giống cá hồi có lẽ có thực và nằm ngay trong tầm tay này rất to, lưng đen trũi, hai bên sườn màu vàng và nâu, có những chấm đen và vây viền màu trắng. Cả dòng Elkhorn lẫn giống cá Hồi Nâu đều nửa đẹp nửa xấu.

Tôi lội qua 150 đến 200 mét mặt nước, nơi những con “Hồi Suối” nhỏ vẫn còn nhảy như mưa sa và cuối cùng, đến một quãng sông đẹp, không có một con cá nào nhảy nhót. Ở đầu của một cái vũng, dòng nước rẽ làm hai tại một tảng đá lớn, xoáy ngược trở lại, trở nên sâu hơn, lắng lại, và cuối cùng trở thành dòng nước nông trôi lững lờ dưới rặng liễu. Tôi nghĩ sở dĩ không có cá nhảy ở dòng nước tuyệt đẹp này là vì chẳng có cá nhỏ. Hẳn phải có một con cá cụ giống như con hươu mộng với “bộ sừng hoàng đế”, vào mùa giao phối, đã đuổi tất cả các tình địch ra khỏi bầy.

Thông thường, sẽ tốt hơn nếu câu về phía thượng nguồn, để dòng nước được câu tiếp theo không bị khuấy đục, vì thế tôi bước trở lên bờ để lũ cá không trông thấy tôi và đi về phía thấp hơn của cái vũng, trước khi thả câu lần đầu. Vào lúc đó, tôi đã không còn tin vào lý thuyết con hươu mộng ở cái vũng này, nhưng đúng là tôi vẫn mong câu được một, hai con cá hồi suối ở vùng nước nông. Tôi di chuyển mà không khuấy động nước, đến chỗ nước sâu hơn ở phía thượng nguồn, nơi đám liễu bắt đầu xuất hiện và côn trùng từ trên cây rơi xuống nước.

Không có lấy một ánh bạc phản chiếu từ thân một con cá hồi đang vờn mồi, đột nhiên tôi nhận ra có gì đó không ổn. Tôi bắt đầu thắc mắc liệu có ai đã ném một thỏi thuốc nổ xuống vũng này và làm tất cả cá, trong đó có con cá cụ của tôi, chết phơi trắng bụng không? Nếu còn có một con cá trong cái vũng này, thì chỉ có một chỗ duy nhất cho nó trốn - nếu nó không ở ngoài trống và không ở ngoài rìa của đám liễu - đó là ở dưới đám liễu. Tôi không thích thú gì trước cái viễn cảnh phải quăng câu vào đám liễu rậm rạp.

Cách đây nhiều năm, khi đó tôi đã gia nhập Kiểm lâm, vào cuối một mùa hè, tôi đi câu cá cùng Paul. Do lâu không đi câu, tôi đặc biệt cẩn thận chỉ quăng câu ở chỗ trống. Paul quan sát tôi câu cá ở cái vũng luồn dưới đám liễu cho đến khi nó ngứa mắt không chịu nổi.

Nó bảo tôi: “Anh à, anh không thể câu cá hồi trong bồn tắm. Anh thích câu ở mặt nước trống, có nắng vì anh là một người Scotland và sợ mất mồi giả nếu quăng câu vào bụi rậm. Nhưng cá không tắm nắng. Bọn nó sống dưới những bụi rậm - vừa mát lại vừa an toàn trước những tay câu cá như anh”.

Khi cố chống chế, tôi lại càng làm lời chỉ trích của Paul trở nên có lý. Tôi phàn nàn: “Anh đã bị mất mồi khi bị vướng vào đám bụi rậm”.

“Việc quái gì anh phải quan tâm?” - Em trai tôi hỏi - “Chúng ta đâu phải mua mồi giả đâu. George luôn vui lòng bện thêm mồi giả cho chúng ta mà. Không ai kiếm được một mẻ câu tốt mà không bị mất vài con mồi giả trong bụi cây. Anh không thể câu được cá nếu không dám vào tận nơi chúng sống”.

“Đưa cần câu cho em” - Nó nói. Tôi nghĩ Paul lấy cần câu của tôi để tôi không cho rằng chỉ cần câu của nó mới quăng câu vào bụi cây được. Chính bằng cách này mà tôi đã hiểu ra cần câu của mình cũng có thể quăng câu vào bụi cây được, nhưng sự thật là tôi chưa bao giờ thuần thục việc này, có lẽ bởi vì tôi vẫn còn nhát tay vì sợ mất những con mồi giả mà tôi chẳng phải tốn tiền mua.

Giờ đây tôi chẳng còn chọn lựa nào khác ngoài việc quăng câu vào đám liễu, nếu tôi muốn biết tại sao cá lại nhảy tứ tung khắp xung quanh tôi, ngoại trừ ở cái vũng này, và tôi vẫn muốn biết bởi vì không còn là câu cá mồi giả nếu bạn không luôn tò mò đi tìm câu trả lời cho những thắc mắc. Vì lâu không ném câu theo cách này, tôi quyết định luyện tập lại một chút, do đó tôi lùi xuống hạ nguồn rồi quăng câu vài lần vào bụi cây. Sau đó, tôi cẩn thận đi lên thượng nguồn đến nơi đám liễu rậm rạp hơn, bàn chân hết sức nhẹ nhàng để không làm đá sỏi kêu lạo xạo.

Dây câu bay cao và nhẹ nhàng khi vọt qua đầu tôi, ngược lại với khi trời có gió. Tôi rất phấn khích, nhưng vẫn giữ được bình tĩnh và kiểm soát được độ chính xác của cánh tay. Thay vì ra lực khi dây câu bắt đầu bay ra trước, tôi để nó bay tự do cho đến khi cái thước canh dọc trong mắt, não hay cánh tay gì đó bảo tôi rằng con mồi giả đã bay qua rìa của đám liễu gần nhất. Lúc đó tôi dừng phắt tay cần, và nó bắt đầu rơi xuống theo chiều gần như thẳng đứng. Ba hay bốn mét rưỡi phía trước nơi con mồi đáp xuống, bạn có thể biết được cú quăng câu sẽ hoàn hảo hay không, và nếu cần thiết, vẫn có thể điều chỉnh một chút. Dây câu mềm và chậm đến nỗi ta có thể quan sát nó giống như làn khói bay lên từ ống khói lò sưởi. Một trong những nỗi rạo rực lặng lẽ của cuộc đời là tách ra khỏi cơ thể mình một chút để quan sát chính mình nhẹ nhàng trở thành tác giả của một điều đẹp đẽ, ngay cả khi chỉ là một làn khói mỏng bay lên.

Đoạn cước trong đáp xuống cành thấp nhất của một bụi cây và con mồi giả đung đưa như quả lắc cách mặt nước khoảng một tấc, hay cũng có thể một tấc rưỡi gì đó. Để hoàn tất cú ném, tiếp theo tôi cần phải dùng cần câu rung dây câu để nếu dây câu không vướng vào bụi cây thì mồi giả sẽ rơi xuống mặt nước phía dưới. Có lẽ tôi đã làm như vậy, hoặc có thể con cá phóng lên khỏi nước và đớp con mồi đang nhún nhảy trên bụi cây. Đó là lần duy nhất tôi phải vật lộn với một con cá trong một bụi cây.

Người da đỏ thường hay đan giỏ bằng những cành liễu màu đỏ, những cành này sẽ không bị gãy. Chỉ có cá hay người câu cá mới làm chúng gãy thôi.

Có một điều gì đó kỳ lạ, độc lập và thậm chí hơi hài hước xảy ra cho người câu cá to ngay sau khi một con cá to đớp mồi. Bên trong cánh tay, vai hay não của người câu cá to là một “cái cân”, và vào giây phút con cá to bị giật lên khỏi mặt nước thì người câu cá to, dù đang cực kỳ phấn khích, vẫn đặt cái cân dưới con cá và lạnh lùng cân. Anh ta không có đủ ba đầu sáu tay để làm mọi việc khác mà lẽ ra anh ta nên làm cùng lúc, nhưng anh ta cố gắng ước lượng tương đối chính xác trọng lượng của con cá để không bị thất vọng khi gỡ câu. Tôi tự bảo mình: “Thằng khốn kiếp này nặng đến ba, bốn ký”, và tôi cố tính đến một sự thật là có thể một phần sức nặng là do cành cây trì xuống nữa.

❀ ❀ ❀

[1] Từ cảm thán thể hiện sự vui sướng.

[2] Đây là một phương pháp kiểm tra độ say rượu, đối tượng được yêu cầu đi theo một đường thẳng kẻ trên đường hay sàn nhà xem có giữ được thăng bằng hay không.

[3] Cách gọi người da trắng của người da đỏ Bắc Mỹ.

[4] Squaw fish - loài cá nước ngọt Bắc Mỹ, lớn nhất trong họ cá chép, có thể dài hơn 60cm.

[5] Sucker - một loài cá nước ngọt thường nhỏ hơn 60cm, thuộc họ Catostomidae, hình dáng giống cá trắm. Cần phân biệt với sucker fish là một loại cá biển nhỏ có giác hút, thường bám trên lưng cá mập.

chảy qua Nguyên tác: A river runs through it ebook©MotSAch TVE-4u©thanhbt —★— Nhà xuất bản: NXB Trẻ 03/2012
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Norman Maclean

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.