Ông Standfast

Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Những Cuộc Phiêu Lưu Của Một Tay Tiếp Thị

❊ ❊ ❊

“Anh đúng giờ ghê nhỉ, anh Brand,” giọng Amos vang lên.

“Nhưng lạy Chúa! Trời đất ơi, anh làm gì với cái quần và đôi giày thế kia trông thảm hại quá! Bộ dạng anh chẳng còn chút thể diện nào nữa rồi.”

Tôi quả thực chẳng khá khẩm hơn là bao. Những tảng đá khốn khổ của dãy Coolin đã để lại dấu tích không thương tiếc trên giày tôi – vốn đã cả tuần chưa được đánh bóng, còn những ngọn đồi ấy cũng kịp làm rách bươm vai áo khoác, xé toạc ống quần ngay trên đầu gối phải, đồng thời nhuôm đủ thứ màu bùn than và địa y lên mọi ngóc ngách trang phục của tôi.

Tôi ngả người xuống đám cỏ bên cạnh Amos và châm chiếc tẩu thuốc. “Ông nhận được tin nhắn của tôi chứ?” tôi hỏi.

“Rồi. Đã có người tin cậy chuyển tiếp đến nơi chúng ta biết rồi. Anh xử lý khôn khéo lắm, anh Brand ạ, nhưng tôi vẫn ước gì anh đang ở tận London.” Ông rít một hơi tẩu, đôi lông mày rậm sụp xuống che khuất cả đôi mắt cảnh giác. Rồi ông lẩm bẩm suy tính thành tiếng.

“Anh không thể quay lại bằng đường Mallaig đâu. Tôi không rõ lý do cụ thể, nhưng bọn chúng đang lùng sục anh khắp tuyến đường đó. Thật phiền toái làm sao khi lũ bạn thân của anh – ý tôi là cảnh sát ấy – cứ làm hết sức để phá hỏng kế hoạch của anh mà anh lại chẳng thể hé lộ gì với họ. Tôi hoàn toàn có thể đánh điện cho viên Cảnh sát trưởng và tống thẳng anh về London không một cú dừng giống như một chuyến chở cá từ Aberdeen, nhưng làm thế thì hỏng bét cái vỏ bọc hoàn hảo mà anh đã tốn bao công sức dựng lên mất. Không, không! Anh buộc phải liều một phen và di chuyển qua Muirtown mà chẳng cần một mảnh giấy tùy thân nào.”

“Chắc chẳng rủi ro mấy đâu nhỉ,” tôi đan lời.

“Tôi không chắc thế đâu. Gresson đã rời Tobermory rồi. Hắn đi ngang qua đây hôm qua trên chuyến phà Mallaig, và đi cùng hắn là một tên lùn da ngăm đen đã xuống tàu ở Kyle. Gã vẫn ở đó, đang trọ tại khách sạn. Người ta gọi gã là Linklater và làm nghề bán sỉ rượu whisky. Tôi không có thiện cảm với bộ mặt của gã chút nào.”

“Nhưng Gresson đâu có nghi ngờ tôi?”

“Có thể là chưa. Nhưng anh hẳn không muốn chạm trán hắn ở vùng này đâu. Mấy gã đó không bao giờ bỏ sót cơ hội nào đâu. Hãy đinh ninh rằng mọi tên trong tay Gresson đều nắm rõ về anh, và chúng thuộc lòng từng đặc điểm nhận dạng của anh cho đến nốt ruồi trên cằm.”

“Thế thì chúng nhầm to rồi,” tôi đáp.

“Tôi chỉ nói ví von thế thôi,” Amos đáp lời. “Hôm qua tôi đã nghiền ngẫm vụ của anh suốt cả ngày, và tôi đã chuẩn bị sẵn trong xe ngựa những thứ tốt nhất có thể cho anh. Tôi chỉ ước gì y phục của anh trông đàng hoàng hơn, nhưng một chiếc áo khoác ngoài thật xịn sẽ che đi mấy chỗ rách rưới đó.”

Từ phía sau ghế xe ngựa, ông kéo ra một chiếc túi Gladstone cũ kỹ và bày biện những món đồ bên trong. Nào là một chiếc mũ quả dưa theo kiểu dáng bình dân và lỗi thời; nào là một chiếc áo khoác may sẵn bằng thứ vải sẫm màu, loại mà mấy tay nhân viên văn phòng hay mặc trên đường đi làm; nào là một đôi cổ tay áo bằng nhựa xелlulo có thể tháo rời, kèm theo một chiếc cổ áo bằng vải lanh và cả yếm ngực giả. Thêm vào đó là một chiếc vali nhỏ xách tay, giống như thứ mấy tay tiếp thị vẫn mang theo khi đi các mối hàng.

“Hành lý của anh đấy,” Amos nói với vẻ đầy tự hào. “Cái túi nhỏ này đầy ắp hàng mẫu. Anh nhớ là tôi đã cẩn thận đo đạc người anh ở Glasgow rồi nhé, nên mấy món đồ này sẽ vừa khít. Anh đã có một cái tên mới, anh Brand ạ, và dựa vào đó tôi đã thuê sẵn cho anh một phòng ở khách sạn. Anh giờ là Archibald McCaskie, đại diện thương mại cho hãng Todd, Sons & Brothers ở Edinburgh. Anh biết rõ mấy người này chứ? Họ chuyên xuất bản mấy cuốn sách đạo đức nhỏ xíu, thứ mà anh đang cố bán làm phần thưởng trường Chúa nhật cho mấy mục sư thuộc giáo phái Free Kirk ở Skye.”

Ý tưởng này có vẻ làm Amos thích thú, và ông chìm vào tiếng cười khúc khích trầm đục vốn được dùng thay cho những tràng cười sảng khoái của ông.

Tôi cất chiếc mũ và áo chống nước vào túi, rồi đội chiếc mũ quả dưa và khoác lên người chiếc áo ngoài. Chúng vừa vặn đến bất ngờ. Cả đôi cổ tay áo và cổ áo cũng vậy, dẫu rằng đoạn này tôi gặp chút trục trặc, vì tôi đã đánh rơi chiếc khăn choàng cổ đâu đó ở vùng Coolin, và Amos, với tinh thần hy sinh cao cả như bồ nông mẹ, đành phải nhường lại chiếc cà vạt đen sờn cũ đang thắt trên cổ mình. Đó là một bộ trang phục kỳ quặc, và tôi mặc vào mà thấy mình chẳng giống con gì trên đời, nhưng Amos thì vô cùng mãn nguyện.

“Thưa ngài McCaskie,” ông nói, “anh chính là hiện thân hoàn hảo của một tay tiếp thị sách. Tốt hơn là anh nên ôn lại vài chi tiết tiểu sử mà có lẽ anh đã quên. Anh là người Edinburgh, nhưng đã sống vài năm ở London, điều đó giải thích cách nói chuyện của anh. Anh đang trọ tại số 6 phố Russell, gần khu Meadows, và là một trưởng lão tại nhà thờ Nethergate U.F. Kirk. Anh có sở thích đặc biệt nào để có thể lái câu chuyện sang đó nếu lỡ bị ai bắt chuyện không?”

Tôi gợi ý đến các tác phẩm văn học kinh điển tiếng Anh.

“Quá hợp lý. Anh cũng có thể bàn về chính trị nữa. Tốt nhất là hãy làm một người ủng hộ tự do mậu dịch nhưng đã được quy phục bởi trường phái Lloyd George. Đó là chuyện cơm bữa, và anh sẽ phải tỏ ra vô cùng bình thường... Nếu tôi là anh, tôi sẽ la cà ở đây một lát và đừng mò mặt tới khách sạn cho đến khi trời tối hẳn. Sau đó anh có thể ăn tối rồi đi ngủ. Chuyến tàu đi Muirtown khởi hành lúc bảy rưỡi sáng mai... Không, anh không thể đi cùng tôi được. Sẽ chẳng hay ho gì nếu chúng ta bị bắt gặp đi chung. Lỡ có chạm mặt trên phố, tôi sẽ vờ như chẳng quen biết gì anh.”

Amos trèo lên xe ngựa và xóc nảy người phóng về nhà. Tôi đi xuống bờ biển, ngồi lẫn giữa mấy mớ đá lởm chởm và tận hưởng nốt chỗ dự trữ mang theo cho bữa xế chiều. Khi hoàng hôn buông xuống dịu ngọt, tôi thong thả đi bộ vào ngôi làng nhỏ và thuê một chiếc thuyền để qua bờ bên kia đến quán trọ. Đó hóa ra lại là một nơi vô cùng dễ chịu, với mụ chủ quán già phúc hậu đã dẫn tôi về phòng và hứa sẽ đãi món trứng ốp la thịt xông khói cùng cá hồi xông khói cho bữa tối. Sau khi rửa ráy sạch sẽ – điều tôi đang rất cần – và nỗ lực hết sức để bộ quần áo trông có vẻ lịch sự hơn, tôi bước xuống phòng ăn được thắp sáng bởi một ngọn đèn dầu hỏa mờ ảo duy nhất.

Thức ăn ngon tuyệt cú mèo, và vừa ăn, tinh thần tôi vừa phấn chấn hẳn lên. Chỉ hai ngày nữa là tôi sẽ lại được trở về London bên cạnh Blenkiron và cách Mary một ngày đường di chuyển. Giờ đây, tôi chẳng thể tưởng tượng ra bất cứ khung cảnh nào mà không nghĩ đến việc Mary hiện diện trong đó ra sao. Vì nàng, tôi thấy vùng Biggleswick thật đáng yêu, bởi tôi đã từng nhìn thấy nàng ở đó. Tôi không chắc đây có phải là tình yêu hay không, nhưng đó là thứ cảm xúc tôi chưa từng mơ tới trước kia, một thứ mà giờ đây tôi ôm ấp trong lòng. Nó nhuộm cả thế giới này thành một màu hồng phấn rực rỡ và vàng óng, khiến cuộc sống đáng sống đến mức tôi cảm thấy mình thật keo kiệt với từng ngày tháng sắp tới.

Tôi vừa ăn gần xong thì có một vị khách khác bước vào. Dưới ánh sáng của ngọn đèn tồi tệ kia, gã trông có vẻ là một kẻ nhỏ thó, nhanh nhẹn, với bộ ria mép đen rậm rạp và mái tóc đen rẽ ngôi giữa. Gã đã ăn tối từ trước và có vẻ đang khao khát được trò chuyện với loài người.

Chỉ trong vòng ba phút, gã đã khoe với tôi rằng gã vừa từ Portree xuống và đang trên đường đến Leith. Một phút sau, gã rút nhanh một tấm danh thiếp trên đó đề tên “J. J. Linklater”, và ở góc dưới là tên hãng Hatherwick Bros. Giọng điệu của gã tố cáo rằng gã đến từ miền Tây.

“Tôi vừa lượn một vòng qua mấy nhà máy chưng cất rượu,” gã thông báo với tôi. “Thời buổi này làm nghề chưng cất rượu chán ngắt, khi mà lũ người theo chủ trương kiêng rượu cứ tru tréo về nỗi nhục quốc thể và cách để thua trận chiến. Bản thân tôi là một người điều độ, nhưng tôi sẽ thấy xấu hổ nếu đi phá hoại công việc làm ăn của người ta. Nếu Chính phủ muốn dẹp bỏ chuyện uống rượu, hãy mua đứt chúng tôi đi. Họ đã cho phép chúng tôi bỏ những đồng tiền mồ hôi nước mắt vào thương vụ này, thì họ phải bảo đảm rằng chúng tôi lấy lại được vốn. Cách hành xử ngược lại sẽ làm sụp đổ tín dụng quốc gia. Đó là những gì tôi nghĩ đấy. Giả sử như mấy ngài Chính phủ Lao động nổi hứng cho rằng xà phòng có hại cho quốc gia thì sao? Họ định dẹp tiêm chủng Sunlight chắc? Hay cả quần áo đẹp nữa? Hoặc mũ chóp cao? Chẳng có điểm dừng cho sự điên rồ của họ nếu họ cứ đâm đầu vào con đường đó. Một ngành nghề hợp pháp thì mãi là hợp pháp, tôi nói thế đấy, và việc phó mặc nó cho đám cuồng tín là trái với lợi ích công cộng. Anh không đồng ý thế sao, thang bạn? Nhân tiện, tôi vẫn chưa biết tên anh nhỉ?”

Tôi liền khai tên và gã lại huyên thuyên tiếp.

“Bên tôi chuyên pha chế và làm ăn với phân khúc cao cấp, chủ yếu là xuất khẩu. Đương nhiên là chiến tranh đã giáng một đòn đau vào mảng xuất khẩu, nhưng chúng tôi chưa đến nỗi thảm hại như một vài hãng khác. Thế còn dòng sản phẩm của anh thì sao, anh McCaskie?”

Khi nghe tôi nói, gã tỏ ra vô cùng hứng thú.

“Thế cơ à? Anh làm cho hãng Todd! Trời ạ, bản thân tôi ngày trước cũng từng buôn sách, cho đến khi chuyển sang làm thứ gì đó béo bở hơn một chút. Tôi đã đi tiếp thị suốt ba năm liền cho Andrew Matheson. Chắc anh biết cái tên ấy chứ — phố Paternoster — số mấy thì tôi quên mất tiêu rồi. Tôi từng có chút tham vọng mở một cửa hàng sách của riêng mình và biến cái tên Linklater ở Paisley trở thành một thương hiệu lớn trong ngành. Nhưng rồi tôi nhận được lời mời từ Hatherwick, và lại đang muốn cưới vợ, thế là đồng tiền bát gạo đã chiến thắng. Và tôi chẳng hứa hẹn gì về việc hối hận vì đã đổi nghề đâu. Nếu không vì cái cuộc chiến tranh này, có lẽ giờ tôi đã kiếm được bốn con số nhờ tiền lương và hoa hồng rồi... Tẩu của tôi tắt ngúm mất tiêu. Anh có mang theo cái thứ kỳ cục và quý hiếm được gọi là diêm quẹt không thế, anh McCaskie?”

Gã là một gã đàn ông lùn tịt vui vẻ cứ huyên thuyên không dứt, cho đến khi tôi bày tỏ ý định đi ngủ. Nếu đây chính là tay tiếp thị của Amos, kẻ từng bị bắt gặp đi chung với Gresson, thì tôi mới hiểu rõ những nghi ngờ của một kẻ thông minh đôi khi ngớ ngẩn đến nhường nào. Gã có lẽ đã nhập bọn với Gresson trên chuyến phà đi Skye, và tra tấn cái tâm hồn u sầu gắt gỏng ấy bằng những lời ba hoa của mình.

Tôi thức dậy từ sớm, thanh toán hóa đơn, ăn bữa sáng gồm cháo yến mạch và cá tuyết tươi, rồi đi bộ vài trăm thước ra nhà ga. Trời ấm áp và âm u, không một giọt nắng, còn mấy ngọn đồi ở Skye thì chìm trong sương mù tới tận chân núi. Ba toa tàu trên chuyến tàu lửa nhỏ đã gần như chật cứng khi tôi mua xong vé, và tôi chọn một toa hút thuốc hạng ba đang chở bốn người lính đang nghỉ phép về thăm nhà.

Con tàu đã bắt đầu lăn bánh thì một hành khách lỡ tàu vội vã chạy dọc sân ga và leo lên khoang cùng tôi. Một câu chào vui vẻ: “Chào buổi sáng, anh McCaskie,” đã vạch trần thân phận vị khách cùng trọ với tôi ở khách sạn tối qua.

Chúng tôi xóc nảy rời khỏi vùng ven biển, vượt qua một thung lũng rộng rồi tiến vào một vùng đất ngập nước mênh mông với những ngọn đồi lớn nhô lên hướng bắc. Đó là một ngày buồn ngủ, và giữa không gian nồng nặc mùi thuốc lá sợi cùng đám đông chen chúc, tôi cảm thấy mắt mình muốn sụp xuống. Tôi chợp mắt một lát, rồi tỉnh giấc thì nhận ra ông Linklater đã đổi chỗ từ lúc nào và giờ đang ngồi ngay bên cạnh tôi.

“Mãi đến Muirtown chúng ta mới gặp lại người Scotland đấy nhé,” gã nói. “Anh không có cuốn hàng mẫu nào có thể cho tôi mượn đọc đỡ buồn chán sao?”

Tôi suýt quên mất đám hàng mẫu. Tôi mở vali ra và bắt gặp một bộ sưu tập những cuốn sách nhỏ kỳ cục nhất, tất cả đều mang những bìa sách sặc sỡ. Vài cuốn mang tính tôn giáo, với mấy cái tên như Sương mai xứ Hermon và Hồ Siloam mát lạnh; vài cuốn là những câu chuyện ngây thơ, Cậu bé Tommy tiết kiệm xu như thế nào, Một đứa trẻ truyền đạt phúc âm ở Trung Hoa, và Bé Susie cùng ông chú. Lại có cả một cuốn Tiểu sử David Livingstone, một cuốn sách thiếu nhi viết về vỏ sò, và một ấn bản mạ vàng lộng lẫy chứa thơ của một gã tên James Montgomery. Tôi chìa đống lựa chọn này cho ông Linklater, gã nhe răng cười và chọn cuốn Đứa trẻ truyền đạt phúc âm. “Đây chẳng phải thứ sách vở mà tôi hay đọc,” gã nói. “Tôi thích mấy món nặng đô hơn cơ — kiểu như Hall Caine và Jack London ấy. Nhân tiện, anh giải quyết thế nào với mấy hiệu sách trong thương vụ này thế? Hồi tôi còn làm ở nhà Matheson, thể nào cũng có rắc rối lớn nếu chúng tôi bán trực tiếp cho khách hàng như các anh.”

Gã chết tiệt đó bắt đầu huyên thuyên về những tiểu tiết trong ngành kinh doanh sách, thứ mà tôi hoàn toàn mù tịt. Gã muốn biết chúng tôi bán dòng sách “thiếu nhi” theo những điều khoản gì, chiết khấu bao nhiêu cho các đại lý bán buôn lớn, và loại sách nào được xếp vào diện “gửi bán”. Tôi chẳng hiểu một chữ nào trong mớ thuật ngữ của gã, và chắc chắn tôi đã tự lòi cái đuôi ngớ ngẩn của mình ra, vì gã liên tục tra hỏi tôi về những hãng xuất bản mà tôi chưa từng nghe tên bao giờ, buộc tôi phải bịa ra câu trả lời nào đó cho qua chuyện. Tôi tự nhủ rằng gã đần độn này vô hại thôi, và ý kiến của gã về tôi chẳng có quái gì quan trọng cả, nhưng ngay khi có thể làm điều đó một cách tự nhiên nhất, tôi liền vờ như đang đắm chìm vào cuốn Hành trình của người hành hương – một bản in lòe loẹt nằm trong đống hàng mẫu. Sách mở đúng đoạn truyện về chàng Christian và Hopeful ở Vùng đất Mê hồn, và giữa cái toa tàu ngột ngạt ấy, tôi nhanh chóng nối gót sự bất cẩn và liều lĩnh của hai nhân vật nọ để chìm vào giấc ngủ say sưa. Tôi bị đánh thức bởi tiếng bánh xe lửa lạo xạo chạy qua đoạn ghi đổi hướng của một trạm trung chuyển nhỏ trên hoang mạc. Chìm đắm trong cơn lười biếng dễ chịu, tôi ngồi nhắm nghiền mắt, rồi len lén liếc sang người bạn đồng hành. Gã đã bỏ cuốn Đứa trẻ truyền đạt phúc âm xuống và đang đọc một cuốn sách nhỏ màu nâu xám, vừa đọc vừa dùng bút chì đánh dấu những đoạn văn. Gương mặt gã lúc đó rất tập trung, và đó là một gương mặt hoàn toàn khác, không còn cái vẻ ngớ ngẩn, tốt bụng của gã tiếp thị hoa hòe hoa sói nữa, mà thay vào đó là sự cáo già, sắc sảo và đầy nguy hiểm. Tôi vẫn giữ nguyên tư thế cúi gập người như đang ngủ gật và cố liếc xem đó là cuốn sách gì. Nhưng đôi mắt tôi, dẫu có tinh tường đến đâu, cũng chẳng thể nhận ra nổi một con chữ hay tựa đề nào, ngoại trừ một ấn tượng cực kỳ mạnh mẽ rằng cuốn sách đó không hề được viết bằng tiếng Anh.

Tôi giật mình tỉnh giấc, chồm người sang phía gã. Nhanh như chớp, gã giấu vụt chiếc bút chì lên ống tay áo và quay sang tôi với một nụ cười ngây ngô.

“Anh thấy thế nào về cuốn này, anh McCaskie? Đây là cuốn sách nhỏ tôi nhặt được trong một buổi đấu giá cùng với năm mươi cuốn khác. Tôi vớ được cả lô có năm shilling. Trông có vẻ là tiếng Đức đấy, nhưng hồi trẻ tụi tôi có được dạy ngoại ngữ đâu cơ chứ.”

Tôi cầm lấy vật đó và lật giở từng trang, cố gắng kìm nén mọi biểu hiện khôn ngoan trên nét mặt. Đó đúng là tiếng Đức rành rành, một cuốn sổ tay thủy văn học nhỏ không đề tên nhà xuất bản. Nó mang phong cách của loại tài liệu hướng dẫn mà một cơ quan chính phủ thường phát hành cho các quan chức của mình.

Tôi trả lại cuốn sách. “Hoặc là tiếng Đức, hoặc tiếng Hà Lan. Tôi chẳng giỏi giang gì mấy môn này, ngoại trừ dăm ba chữ tiếng Pháp và mớ tiếng Latin học hồi còn ở Bệnh viện Heriot... Chuyến tàu này chạy chậm như rùa bò ấy nhỉ, anh Linklater.”

Mấy người lính đang chơi bài tú lơ khơ, và tay tiếp thị bèn gạ gẫm làm một ván bài. Tôi kịp nhớ ra mình là một vị trưởng lão trong nhà thờ Nethergate U.F. Church nên đã từ chối với giọng điệu có phần gay gắt. Sau đó tôi lại nhắm nghiền mắt lần nữa, vì muốn suy ngẫm cho thấu đáo hiện tượng kỳ lạ này.

Gã biết tiếng Đức – điều đó quá rõ ràng. Gã cũng từng bị bắt gặp đi cùng Gresson. Tôi không tin là gã đang nghi ngờ mình, dù tôi thì nghi ngờ gã tận xương tủy. Nhiệm vụ của tôi là phải tuân thủ tuyệt đối vai diễn của mình và không để lộ bất kỳ sơ hở nào khiến gã hoài nghi. Rõ ràng gã cũng đang tập dượt vai diễn của chính mình trước mặt tôi, và tôi buộc phải vờ như tin sái cổ những gì gã khoác lác. Thế là chẳng bao lâu sau, tôi tỉnh dậy và lôi gã vào một cuộc tranh luận nảy lửa về đạo đức của việc buôn bán rượu mạnh. Gã hưởng ứng ngay lập tức, đưa ra những luận điểm vô cùng sắc bén và đanh thép để bào chữa cho cồn ca. Cuộc tranh luận thu hút sự chú ý của mấy người lính, và một trong số họ, để tỏ ra đứng về phía Linklater, đã rút ra một bình Flask nhỏ mời gã một ngụm. Tôi kết thúc câu chuyện bằng một câu lầm bầm rằng tay tiếp thị này lẽ ra nên làm một gã buôn sách tốt bụng dưới trướng Alexander Matheson thì hơn, và câu nói đó đã chấm dứt hoàn toàn cuộc trò chuyện.

Chuyến tàu này đúng là phá kỷ lục thiên hạ. Nó dừng lại ở mọi nhà ga, và đến xế chiều thì dường như nó kiệt sức hẳn, cứ thế ì ra giữa một vùng hoang mạc rồi ngẩn ngơ suy tư suốt một tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng tôi lại thò đầu ra khỏi cửa sổ, hít hà mùi hương ngai ngái của rễ cây và bùn lầy, rồi lúc tàu dừng trên cầu thì ngắm nghé đàn cá hồi bơi lội trong mấy vũng nước nâu sẫm của con sông. Cứ thế, tôi luân phiên giữa ngủ và hút thuốc, rồi bắt đầu cảm thấy cơn đói cào ruột gan.

Có bận tôi tỉnh giấc và nghe thấy mấy người lính đang bàn tán về chiến tranh. Đó là cuộc tranh cãi giữa một hạ sĩ quan trung đoàn Camerons với một binh nhì công binh về một sự cố vụn vặt nào đó ở Somme.

“Tao bảo là tao có ở đó mà,” gã lính gốc Cameron quả quyết. “Tụi tao đang thay phiên cho trung đoàn Black Watch, lính Đức thì cứ pháo kích đường đi, và mãi tới một giờ sáng tụi tao mới lên tới chiến tuyến. Từ ngã tư Frickout cho đến mỏm phía nam của Rừng cao chắc chắn phải dài tới năm dặm.”

“Không quá ba dặm đâu,” gã công binh cãi cùn.

“Trời ạ, chính tao đã lết bộ qua đấy rồi.”

“Tao cũng thế. Đêm nào tao chả khiêng dây thép gai suốt cả tuần.”

Gã lính Cameron đảo mắt nhìn quanh đám đông với vẻ rầu rĩ. “Ước gì ở đây có thêm một mống nào từng rành rỗi khu vực đó. Nó sẽ làm chứng cho tao. Mấy cậu này chẳng tích sự gì cả, vì nhập ngũ muộn hơn. Tao khẳng định là năm dặm.”

“Ba dặm,” gã công binh đáp.

Mấy cái đầu bắt đầu nóng lên, bởi cả hai bên đều cảm thấy sự trung thực của mình bị thách thức. Trời thì quá oi bức để mà gây sự, còn tôi thì buồn ngủ ríu cả mắt nên chẳng buồn màng tới.

“Câm miệng lại đi mấy thằng ngốc,” tôi lên tiếng. “Khoảng cách ấy là sáu cây số, nên cả hai đứa bay đều sai bét nhè.”

Giọng điệu của tôi tự nhiên đến mức khiến đám lính phải khựng lại dập tắt ngay cuộc cãi vã, nhưng đó hoàn toàn không phải là giọng điệu của một tay tiếp thị sách. Ông Linklater liền chỏng tai lên nghe ngóng.

“Cây số là cái gì thế, anh McCaskie?” gã thong thả hỏi.

“Nhân với năm rồi chia cho tám là ra dặm chứ gì.”

Lúc này tôi đã cảnh giác trở lại, bèn bịa ra một câu chuyện dài lê thê về một người cháu trai đã tử trận ở Somme, và cách tôi đã thư từ trao đổi với Bộ Chiến tranh ra sao về trường hợp của nó. “Thêm nữa,” tôi tiếp lời, “tôi là một con mọt đọc báo chính hiệu, và tôi đã đọc sạch sành sanh mọi cuốn sách viết về chiến tranh. Đây là một giai đoạn vô cùng khó khăn đối với tất cả chúng ta, và nếu anh có thể dành sự quan tâm nghiêm túc cho các chiến dịch quân sự thì nó sẽ giúp ích được rất nhiều. Ý tôi là việc dò tìm các địa điểm trên bản đồ và nghiền ngẫm các bản báo cáo của Haig ấy mà.”

“Ra thế,” gã đáp một cách khô khốc, và tôi có cảm giác gã đang quan sát mình với ánh mắt vô cùng kỳ lạ.

Một ý nghĩ mới lóe lên trong đầu tôi. Gã này từng thuộc phe của Gresson, gã biết tiếng Đức, và rõ ràng gã chẳng phải là thứ gã đang trưng bày ra cho thiên hạ thấy. Lỡ như gã đang làm việc cho lực lượng Tình báo của chúng ta thì sao? Tôi bỗng từ hư không xuất hiện ở Kyle, lại mang bộ dạng thảm hại của một tay tiếp thị chẳng biết gì về nghề nghiệp của chính mình. Tôi đang có mặt ở một khu vực bị cấm đối với dân thường; và gã có đầy đủ lý do để theo dõi từng bước đi của tôi. Gã đang đi về phía nam, và tôi cũng vậy; rõ ràng chúng tôi thể nào cũng phải tìm cách tách nhau ra.

“Chúng ta đổi tàu ở Muirtown, phải không?” tôi hỏi. “Chuyến tàu đi miền nam khởi hành lúc mấy giờ thế?”

Gã lật xem cuốn lịch trình bỏ túi. “Mười giờ ba mươi ba phút. Thường thì chúng ta sẽ phải chờ khoảng bốn tiếng, vì theo lịch thì sáu giờ mười lăm phút tàu mới tới nơi. Nhưng với cái quan tài di động này thì may lắm là chín giờ nó mới lết tới nơi được.”

Dự đoán của gã hoàn toàn chính xác. Chúng tôi ì ạch rời khỏi vùng đồi núi để tiến vào những cánh đồng ngập nước và bắt gặp thoáng qua khung cảnh Biển Bắc. Sau đó, chúng tôi lại bị kẹt cứng lại để nhường đường cho một đoàn tàu chở hàng dài dằng dặc chạy qua. Trời gần tối mịt thì chúng tôi mới lủi thủi bò vào sân ga Muirtown, trút xuống sân ga đám binh lính đang phờ phạc vì nóng bức và mệt mỏi.

Tôi cất tiếng chào từ biệt Linklater một cách đầy phô trương. “Rất hân hạnh được gặp anh. Lát nữa gặp lại trên chuyến tàu đi Edinburgh nhé. Tôi tranh thủ đi bộ duỗi chân và kiếm chút gì lót dạ đây.” Tôi vô cùng kiên quyết trong việc để chuyến tàu mười rưỡi đi miền nam lăn bánh mà không có mặt mình trên đó.

Ý định của tôi là tìm một chỗ trọ qua đêm và kiếm một bữa ăn tại quán hẻo lánh nào đó, rồi sáng hôm sau sẽ thong thả đi bộ ra ngoài để bắt một chuyến tàu chậm xuôi về phía nam. Linklater đã biến mất về phía toa xe hành lý để tìm đồ đạc của gã, còn đám lính thì đang ngồi thừ trên những chiếc ba lô với cái vẻ ngơ ngác, bơ vơ và bị bỏ rơi đặc trưng của những người lính Anh trên đường hành quân. Tôi đưa vé và thong thả bước ra phố mà chẳng gặp chút trở ngại nào, cứ thế hòa vào thị trấn từ một chuyến tàu miền bắc.

Hôm nay là phiên chợ đêm, đường phố đông nghẹt người. Thủy thủ đoàn từ Hạm đội, dân làng lên phố mua sắm, cùng đủ thứ thành phần quân nhân chen chúc kín các vỉa hè. Những kẻ bán cá đang ra rả rao hàng, và ở một góc phố có một tay thổi kèn rách rưới đang làm cho màn đêm trở nên phát tởm. Tôi chọn một lối đi ngoằn ngoèo và cuối cùng dừng chân tại một quán rượu có vẻ khiêm tốn nằm ở một con hẻm khuất phía sau.

Khi hỏi thuê phòng, tôi chẳng tìm thấy ai có thẩm quyền, nhưng một ả hầu bàn luộm thuộm thông báo rằng vẫn còn một chiếc giường trống và tôi có thể ăn món trứng ốp la thịt xông khói ngay tại quầy bar. Thế là, sau khi đập mạnh đầu vào một thanh xà ngang, tôi lủi thủi bước xuống mấy bậc thềm và đặt chân vào một căn phòng nhỏ ngột ngạt nồng nặc mùi bia tràn ra sàn và khói thuốc lá cũ.

Món trứng ốp la thịt xông khói đã hứa hẹn hóa ra lại là bất khả thi – tối đó ở Muirtown chẳng kiếm đâu ra quả trứng nào – nhưng tôi được đãi món cừu nguội và một vại bia dở tệ. Chẳng có ai trong quán ngoài hai tay nông dân đang nhấm nháp whisky nóng pha loãng với nước và bàn tán với vẻ u sầu về việc giá thức ăn chăn nuôi tăng vọt. Tôi ăn xong bữa tối, và vừa định hỏi thăm đường tìm phòng ngủ thì cánh cửa chính bật mở và một tá lính tót bước vào.

Chỉ trong chớp mắt, không gian yên tĩnh bỗng biến thành một cái chợ vỡ. Bọn họ hoàn toàn tỉnh táo; nhưng đang ở cái tâm trạng muốn tỏ ra thân thiện và thèm thuồng một thứ đồ uống nào đó. Một gã đứng ra mời khách; gã là kẻ cầm đầu nhóm, và để ăn mừng ngày nghỉ phép chấm dứt, gã đang chiêu đãi bạn bè. Từ chỗ ngồi, tôi không thể nhìn rõ mặt gã, nhưng giọng nói thì vô cùng át vía. “Mấy chú thích uống gì nào, Jock? Bia cho anh nhé, Andra? Một vại và một ly rượu mạnh cho tôi. Thế này vẫn sướng chán so với cái đám vongblong với vongrooge ở bển phải không Davie. Trời ạ, mỗi khi ngồi trong mấy cái quán estamints gì gì đó, tao lại thèm thuồng làm sao một quán rượu Scotland chính hiệu.”

Giọng nói này nghe quen quen. Tôi dịch chuyển chỗ ngồi để nhìn cho rõ mặt kẻ vừa cất lời, rồi hốt hoảng thụp người xuống. Đó chính là tay lính pháo binh Scotland mà tôi từng nện cho một cú vào cằm khi bảo vệ Gresson sau buổi mít tinh ở Glasgow.

Nhưng đúng là oan gia ngõ hẹp, gã đã kịp nhìn thấy tôi.

“Thằng nào đang rúc ở góc kia thế nhỉ?” gã hét lên, rời khỏi quầy bar để trợ trừng mắt nhìn tôi. Chà, đúng là một chuyện kỳ lạ, một khi bạn đã từng giao chiến với ai đó, dẫu chỉ trong vài giây ngắn ngủi, bạn vẫn sẽ khắc ghi khuôn mặt kẻ đó, huống chi vụ ẩu đả ở Glasgow lại diễn ra ngay dưới ánh đèn đường. Tay lính thừa nhận ra tôi ngay lập tức.

“Có chúa mới tin nổi!” gã gào lên, “nếu đây không phải là một món quà từ vận may! Này tụi bây, đây chính là thằng tao từng tẩn nhau ở Glasgow đây này. Mấy chú còn nhớ tao kể không? Nó đã đánh gục tao, và giờ đến lượt tao làm điều tương tự với nó. Đêm nay tao đang định phá phách một trận cho ra trò đây. Chẳng có thằng nào dám đánh Geordie Hamilton mà không phải trả giá đắt cả. Đứng dậy mau thằng kia, vì tao sắp đấm bay cái đầu mày ra khỏi cổ đấy.”

Tôi ngoan ngoãn đứng dậy, trưng ra vẻ mặt bình thản nhất có thể để nhìn thẳng vào mắt gã.

“Anh nhầm người rồi bạn tôi ơi. Tôi chưa từng giáp mặt anh bao giờ, và đời này tôi chưa từng đặt chân tới Glasgow.”

“Xạo mẹ nó vừa thôi,” tên lính pháo binh gầm lên. “Chính mày là nó, mà nếu không phải, thì trông mày cũng đủ giống để ăn một trận đòn bầm dập rồi!”

“Bớt cái trò vô lý ấy đi!” tôi đáp. “Tôi chẳng có thù hằn gì với anh, và tôi còn khối việc quan trọng hơn là đi thượng cẳng chân hạ cẳng tay với một kẻ xa lạ trong quán rượu.”

“Thế cơ à? Được thôi, tao sẽ dạy cho mày bài học. Tao chuẩn bị đấm mày đây, và rồi mày sẽ phải đánh nhau cho dù có muốn hay không. Tam, giữ giùm tao cái áo khoác, và canh chừng đừng để đổ ly rượu của tao đấy.”

Đúng là một rắc rối tồi tệ, vì một vụ ẩu đả ở đây chắc chắn sẽ kéo cảnh sát tới, và cái thân phận mập mờ của tôi sẽ bị phơi bày ra ánh sáng. Tôi tính đường nhào vào chiến đấu, bởi tôi tin chắc mình có thể hạ gục tay lính này thêm lần nữa, ngặt một nỗi là tôi chẳng biết cơ sự sẽ kết thúc ra sao. Biết đâu tôi lại phải tẩn cả đám bọn chúng, và điều đó đồng nghĩa với một màn múa võ hoành tráng trước mặt công chúng. Tôi cố hết sức dùng lời lẽ ôn hòa để xoa dịu đối phương. Tôi bảo rằng tất cả chúng ta đều là bạn bè tốt và ngỏ ý mời cả hội một chầu nước. Nhưng máu trong người tên lính đã dồn lên não và gã đang khát khao một trận chiến, được sự cổ vũ nhiệt tình của đám đồng bọn. Gã đã cởi tung chiếc áo quân phục và đang giậm chân đùng đùng trước mặt tôi với hai nắm đấm thủ sẵn.

Tôi bèn chọn phương án tối ưu nhất trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó. Chỗ ngồi của tôi nằm sát ngay mấy bậc thềm dẫn tới khu vực bên trong của quán trọ. Tôi vớ lấy chiếc mũ, phóng vọt lên trên, và trước khi bọn chúng kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì tôi đã sập phập chốt cửa lại phía sau. Tôi có thể nghe thấy cảnh hỗn loạn đang bùng nổ ở quầy bar.

Tôi lách mình qua một hành lang tối tăm dẫn tới một lối đi khác vuông góc với nó, dường như nối liền cửa chính của quán trọ với khu vực hậu phía sau. Tôi nghe thấy tiếng người vang lên ở sảnh nhỏ, điều đó khiến tôi khựng lại ngay lập tức.

Một trong số đó là giọng của Linklater, nhưng gã không còn nói cái giọng điệu của một tay tiếp thị nữa. Gã đang nói bằng thứ tiếng Anh chuẩn mực của người có học. Tôi nghe thấy một giọng khác mang âm hưởng Scotland, mà tôi đoán là của chủ quán, và một giọng thứ ba nghe có vẻ giống như của một viên cảnh sát cấp cao nào đó, cực kỳ sắc bén và ra dáng công quyền. Tôi thậm chí còn nghe thấy một cụm từ phát ra từ miệng Linklater – “Gã tự gọi mình là McCaskie.” Rồi họ im bặt, bởi tiếng ồn ào từ quán bar đã lan đến tận cửa trước. Tay lính pháo binh và đồng bọn đang lùng sục tôi ở lối đi kia.

Sự chú ý của mấy kẻ ở sảnh chính đã bị phân tán, và đó là cơ hội duy nhất cho tôi. Chẳng còn cách nào khác ngoài cửa sau. Tôi lách người chuồn qua đó ra một khoảng sân và suýt ngã nhào vào một cái thùng đựng nước. Tôi liền đẩy văng nó ra giữa lối đi sao cho bất cứ kẻ nào rượt theo đường này cũng sẽ ngã sấp mặt. Một cánh cửa dẫn tôi vào căn chuồng ngựa trống hoác, và từ đó tôi trượt ra một con hẻm nhỏ. Mọi chuyện dễ dàng một cách nực cười, nhưng vừa đặt chân xuống con hẻm, tôi đã nghe thấy một tiếng động rầm rộ cùng những tiếng la hét giận dữ. Đã có kẻ đâm sầm vào cái thùng nước và tôi chỉ cầu mong đó chính là Linklater. Phải công nhận là tôi bắt đầu có thiện cảm với tay lính pháo binh Scotland kia rồi đấy.

Đâu đó trên bầu trời đang lấp ló vầng trăng non, nhưng con hẻm này tối như húc tăm. Tôi rẽ trái, bởi phía bên phải trông giống như một con hẻm cụt. Nó đưa tôi ra một con đường yên tĩnh lót những căn nhà tranh hai tầng, nơi đầu đường lấp lánh ánh đèn phố thị. Thế là tôi chọn hướng ngược lại, vì tôi không muốn cả thành phố Muirtown rầm rộ kéo nhau đi truy lùng mình. Cuối cùng tôi cũng ra tới một con đường nông thôn, và cũng đụng độ ngay nhóm đầu của toán truy đuổi, chắc bọn chúng đã khôn ngoan cắt ngắn quãng đường. Chúng hét lên khi trông thấy tôi, nhưng tôi có chút lợi thế khoảng cách, bèn cắm cổ chạy thục mạng dọc con đường đó với niềm tin ngây thơ rằng mình đang chạy trốn ra vùng ngoại ô thoáng đãng.

Đó chính là sai lầm chết người của tôi. Con đường vòng vèo lại đưa tôi trở về phía bên kia thị trấn, và ngay khoảnh khắc tôi tưởng mình sắp có cơ hội thoát thân thì trước mặt tôi hiện ra ánh đèn của một chòi gác tín hiệu và lệch sang bên trái là ánh sáng của nhà ga. Chỉ nửa tiếng nữa là chuyến tàu đi Edinburgh sẽ khởi hành, nhưng tôi đã tự tay bóp nát cơ hội đó. Phía sau lưng, tôi có thể nghe thấy tiếng lũ săn đuổi đang sủa vang như bầy chó con, bởi chúng đã lôi kéo thêm được vài gã bợ nhậu cừ khôi gia nhập vào đội ngũ của mình. Tôi đang luống cuống chẳng biết nên rẽ hướng nào thì bỗng nhận ra ngoài sân ga có một hàng dài những bóng đèn mờ ảo, thứ chỉ có thể là một đoàn tàu đang hạ rèm cửa sổ. Nó đã được lắp đầu máy và dường như đang chờ nối thêm vài toa xe nữa là lăn bánh. Đó là một canh bạc điên rồ, nhưng cũng là tia hy vọng duy nhất tôi nhìn thấy. Tôi lao qua một bãi đất trống, leo lên một đoạn bờ kè rồi thả mình xuống tận đường ray. Tôi luồn người qua mấy cái móc nối toa và nép sang tận phía bên kia đoàn tàu, khuất tầm nhìn của kẻ thù.

Ngay lúc đó, hai sự việc xảy ra cùng một lúc. Tôi nghe thấy tiếng hò hét của kẻ đuổi theo cách đó chỉ chục thước, và đoàn tàu cũng tròng trành chuyển động. Tôi nhảy vồ lên bậc lên xuống và ngó vào một khung cửa sổ đang mở. Khoang tàu chật ních lính t tráng, sáu người một bên và hai gã đang ngồi chỏng chơ dưới sàn, cửa ra vào thì bị khóa chặt. Tôi liền lao đầu xuyên qua khung cửa sổ và hạ cánh thẳng cẳng lên cổ một anh lính mệt mỏi vừa chợp mắt.

Trong lúc ngã nhào, tôi đã định hình sẵn cách ứng xử cho mình. Tôi phải vờ như say khướt, bởi tôi thừa hiểu sự đồng cảm vô bờ bến của người lính Anh dành cho những kẻ lỡ rơi vào hoàn cảnh đó. Họ kéo tôi đứng dậy, và nạn nhân bị tôi đè bẹp dí nãy giờ đang xoa xoa cái đầu, vừa rủa xả vừa hằn học đòi giải thích.

“Mấy sếp ơi,” tôi nấc cụt, “tôi xin... lỗi. Tôi bị lỡ mất cái chuyến tàu ch-chết tiệt này rồi và mai buộc phải có mặt ở E’inburgh bằng được nếu không muốn bị đuổi việc. Tôi xin lỗi. Nếu tôi lỡ làm đau đầu anh bạn đây, tôi sẵn sàng ôm hôn để xoa dịu cho lành vết thương nhé.”

Nghe vậy, cả đám cười rộ lên khoái chí. “Cậu nên nhận lời đi, Pete,” một kẻ trêu chọc. “Đây là lần đầu tiên có người ngỏ ý muốn hôn cái bộ mặt xấu xí của cậu đấy.”

Một gã hỏi tôi là ai, và tôi ra vẻ đang hì hục lục lọi tìm ví đựng danh thiếp.

“Tiêu rồi,” tôi rên rỉ. “Tiêu đời rồi, cả cái túi xách nhỏ cũng mất veo và chiếc mũ xinh xắn của tôi cũng bẹp dí. Tôi trông thảm hại quá các sếp nhỉ – một tấm gương tày giạ về tội đến nhà ga muộn màng. Tôi là John Johnstone, thư ký điều hành của hãng Watters, Brown & Elph’stone, số 923 phố Charl’tte, E’inburgh. Tôi vừa ở miền bắc lên thăm u ruột về đây.”

“Anh phải ra chiến trường Pháp mới đúng,” một người lên tiếng.

“Tôi cũng ước được thế, ngặt nỗi họ có cho đâu. ‘Anh Johnstone ạ,’ họ bảo thế, ‘anh chẳng tích sự gì sất. Anh bị giãn tĩnh mạch và tim có vấn đề,’ họ nói vậy đấy. Thế là tôi đáp: ‘Chào các sếp nhé. Đừng có trách tôi nếu đất nước này sụp đổ nha’. Tôi nói thế đấy các cậu ạ.”

Lúc này tôi đã chiếm trọn khoảng không gian trống duy nhất còn lại trên sàn tàu. Mang theo thứ triết lý sống đặc trưng của đồng bào họ, đám lính thản nhiên chấp nhận sự hiện diện của tôi và quay trở lại với câu chuyện dở dang của chính mình. Đoàn tàu đã bắt đầu tăng tốc, và phán đoán đây là một chuyến tàu đặc biệt nào đó nên tôi hy vọng sẽ chẳng có mấy điểm dừng. Hơn nữa, đây không phải là loại toa có hành lang dọc, mà là loại cổ điển, nên tôi hoàn toàn an tâm tránh xa sự chú ý phiền toái từ mấy tay soát vé. Tôi duỗi thẳng đôi chân dưới ghế ngồi, tựa đầu vào đầu gối của một tay pháo binh vạm vỡ, rồi an vị để tận hưởng chuyến đi theo cách tốt nhất có thể.

Những suy nghĩ trong đầu tôi chẳng mấy dễ chịu. Tôi đã dấn thân quá sâu vào vũng lầy, và mang theo cảm giác trần trụi hệt như trong giấc mơ khi bạn tưởng mình mặc nguyên chiếc áo ngủ để đến nhà hát. Tôi đã đeo tới ba cái tên chỉ trong vòng hai ngày, cùng ngần ấy thân phận khác nhau. Tôi cảm thấy mình chẳng có lấy một mái nhà hay chỗ đứng nào trên cõi đời này, chẳng khác nào một con chó hoang bị tất cả mọi người xua đuổi. Đó là một cảm giác tồi tệ, chẳng hề được xoa dịu bởi bất kỳ nỗi sợ hãi tột cùng nào hay chút ý thức nào về việc đang vướng vào một vở kịch tuyệt vọng. Tôi thừa biết mình hoàn toàn có thể xuôi thẳng về Edinburgh, và khi cảnh sát gây chuyện – điều chắc chắn sẽ xảy ra – một bức điện gửi Scotland Yard sẽ giải quyết ổn thỏa mọi thứ chỉ trong vài tiếng đồng hồ. Chẳng có chút nguy hiểm thể xác nào để vớt vái lại chút thể diện cho tôi cả. Tệ nhất là Iverry sẽ hay tin tôi được chính quyền bảo kê, và cái vai diễn tôi cất công dàn dựng sẽ chính thức đổ sông đổ biển. Chắc chắn hắn sẽ đánh hơi được. Tôi vô cùng nể trọng hệ thống tình báo của lão ta.

Dẫu vậy, chừng đó cũng đủ tồi tệ lắm rồi. Cho đến giờ phút này, tôi đã làm rất tốt. Tôi đã đánh lạc hướng thành công Gresson. Tôi đã tìm ra những gì Bullivant muốn biết, và việc tôi cần làm chỉ là lủi thủi quay về London mà không thu hút sự chú ý để giành chiến thắng trong ván bài này. Tôi tự nhủ với bản thân những điều đó, nhưng chẳng tài nào vực dậy nổi tinh thần. Tôi thấy mình thật hèn nhát, bị săn đuổi và cảm thấy lạnh cóng từ đầu đến chân.

Nhưng trong tôi vẫn ẩn chứa một sự bướng bỉnh lì lợm khiến tôi chẳng bao giờ muốn bỏ cuộc cho đến khi bị dồn vào đường cùng. Vận may đang quay lưng lại với tôi. Cảnh sát Scotland đang tích cực để mắt tới hành trình của tôi và chắc chắn sẽ túc trực sẵn sàng chào đón tôi ở điểm cuối cuộc hành trình. Chiếc mũ của tôi đã hỏng bet, và như Amos đã nhận xét, quần áo tôi mặc chẳng lấy gì làm lịch sự. Tôi đã cạo sạch bộ râu bốn ngày từ tối hôm qua, ngặt một nỗi lại tự cắt vào mặt trong lúc thao tác, thế nên với cái mặt phơi sương gió cùng mái tóc rối bù, tôi trông giống một tay thợ hàn xoong nồi lang thang hơn là một nhân viên tiếp thị đàng hoàng. Tôi hoài niệm khôn nguôi về chiếc vali xách tay đang nằm trong Khách sạn Pentland ở Edinburgh, nhớ cái bộ comple bằng vải len chéo màu xanh đậm lịch lãm và đống quần áo tinh tươm nằm bên trong đó. Đây chẳng phải lúc để chơi trò mưu lược tinh vi, bởi trong tay tôi chẳng còn quân bài nào nữa rồi. Dẫu vậy, tôi vẫn tự nhủ sẽ không buông xuôi cho đến khi bị ép buộc hoàn toàn. Nếu đoàn tàu dừng lại ở bất kỳ đâu, tôi sẽ nhảy xuống và phó mặc phần đời còn lại cho trí thông minh của chính mình cùng vận may muôn thuở của Quân đội Anh.

Cơ hội đến ngay sau bình minh, khi chúng tôi dừng lại ở một trạm chuyển đổi nhỏ. Tôi ngáp dài đứng dậy và hì hục vặn mở cửa, chợt nhớ ra nó đã bị khóa chặt. Lập tức, tôi thò đôi chân ra khỏi cửa sổ ở phía ngược lại hướng sân ga, và ngay lập tức bị một anh lính Seaforth ngái ngủ tóm chặt lấy vì tưởng tôi đang mưu toan tự tử.

“Thả tôi ra xem nào,” tôi càu nhàu. “Tôi quay lại ngay trong chớp mắt bây giờ.”

“Cứ để hắn đi đi, Jock,” một giọng khác vang lên. “Cậu lạ gì bộ dạng của một thằng vừa nốc rượu say khướt nữa. Không khí lạnh tái tê ngoài đó sẽ giúp hắn tỉnh táo lại ngay thôi.”

Tôi được thả ra, và sau vài động tác nhào lộn điệu nghệ, tôi rơi phịch xuống đường ray rồi lủi nhanh về phía đuôi tàu. Vừa trèo lên sân ga thì con tàu bắt đầu chuyển động, và một khuôn mặt ló ra từ một trong những toa phía sau. Đó chính là Linklater và gã đã nhận ra tôi. Gã cố gắng chui ra ngoài, nhưng cánh cửa đã bị một tay nhân viên nhà ga giận dữ sập phập lại. Tôi nghe thấy tiếng gã la hét phản đối, và gã cứ rướn cổ nhìn theo cho đến khi con tàu khuất hẳn sau khúc cua. Thế là hỏng bét ván bài của tôi rồi. Chắc chắn gã sẽ đánh điện báo cảnh sát ngay từ nhà ga tiếp theo cho mà xem.

Trong lúc ấy, tại cái trạm dừng chân sạch sẽ, trống trải và lạnh lẽo này chỉ có duy nhất một vị hành khách. Đó là một thanh niên mảnh khảnh, mang theo một chiếc túi vải thô và một hộp đựng súng. Y diện một bộ cánh tuyệt đẹp, chiếc mũ Homburg màu xanh lá, chiếc áo khoác tuýt màu xanh lục sành điệu cùng đôi giày được đánh bóng loáng như hạt dẻ. Tôi thoáng bắt gặp góc nghiêng gương mặt y khi y đưa vé cho soát vé và đến hóa đá vì ngạc nhiên khi nhận ra đó là ai.

Trạm trưởng liếc nhìn tôi với vẻ nghi ngờ khi tôi bước tới trước mặt y trong bộ dạng tả tơi, bù xù. Tôi cố lên giọng bằng thứ điệu bộ đầy uy quyền.

“Gã vừa bước ra ngoài là ai thế?”

“Vé của anh đâu?”

“Tôi không có thời gian mua vé ở Muirtown, và như anh thấy đấy, tôi đã bỏ quên hành lý lại đằng sau rồi. Cứ trừ tiền từ tờ một bảng này đi rồi tôi sẽ quay lại lấy tiền thừa sau. Tôi chỉ muốn biết kẻ vừa rồi có phải là Sir Archibald Roylance hay không.”

Y liếc xéo tờ tiền với vẻ đầy nghi hoặc. “Tôi nghĩ đó chính là tên của ngài ấy. Ngài ấy là đại úy trên Trường Đào tạo Không quân. Anh tìm ngài ấy có chuyện gì?”

Tôi lao rầm rập qua phòng bán vé và bắt gặp ngay mục tiêu đang chuẩn bị bước lên một chiếc ô tô màu xám cỡ lớn.

“Archie,” tôi hét lên và giáng mấy cú đét vào vai y.

Y giật mình quay phắt lại. “Cái quái gì thế—! Mạng người nào đấy?” Và rồi sự nhận biết le lói hiện lên trên gương mặt y trước khi thốt lên một tiếng reo mừng rỡ. “Lạy chúa tổ tông bên nội bên ngoại tôi! Vị Tướng quân lại đi giả dạng thành Charlie Chaplin cơ à? Anh có muốn tôi cho đi nhờ đoạn nào không, thưa ngài?”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John Buchan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.