Ông Standfast

Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
Nằm Trên Giường Cứng

❊ ❊ ❊

Gã nhà báo đến từ Kansas City quả là con người của hành động. Hắn chẳng phí lời tự giới thiệu hay giải thích kế hoạch tác chiến. “Nghe này anh bạn, cứ bám sát tôi, cấm lệch nửa bước chân. Giải thích để sau. Đêm nay trong cái xó này có việc lớn đấy.” Hắn mở then chiếc cửa nhỏ gần như không phát ra tiếng động, gạt lớp tuyết đóng trên ủng rồi đi trước dẫn đường vào một lối đi tối om như hầm mộ. Cánh cửa êm ru khép lại sau lưng chúng tôi; vừa bước khỏi bầu không khí giá buốt ngoài trời, mùi ngột ngạt ngột thở như bên trong một két sắt lập tức phả vào mũi.

Một bàn tay đưa ra phía sau để đảm bảo tôi vẫn bám theo. Có vẻ chúng tôi đang ở trong một lối đi lát đá nằm dưới tầng trệt của ngôi nhà. Đôi ủng đóng đinh sắt của tôi trượt liên tục trên nền đá, tôi phải vịn vào vách tường có vẻ như xây bằng đá hộc thô ráp để giữ thăng bằng. Quý ngài Donne bước đi êm ru và đầy vẻ tự tin, âu cũng nhờ đôi giày của hắn thích hợp với chuyến đi này hơn tôi; bàn tay dẫn đường của hắn liên tục quờ lại phía sau để kiểm tra xem tôi đang ở đâu.

Tôi còn nhớ lúc ấy tâm trạng tôi hệt như đêm tháng Tám nọ, khi tôi thám hiểm khe núi Coolin—vẫn là linh cảm kỳ lạ rằng sắp có chuyện quái đản xảy ra, cùng một sự liều lĩnh và phấn chấn lạ lùng. Nhích từng bước một hết sức thận trọng, chúng tôi đến một chỗ rẽ bên phải. Hai bậc thang thoai thoải dẫn chúng tôi sang một lối đi khác, rồi đôi bàn tay quờ quạng của tôi chạm phải một bức tường cụt. Gã người Mỹ đã đứng sát bên cạnh, kề sát miệng vào tai tôi.

“Giờ phải bò,” hắn thì thầm. “Anh bò trước đi, để tôi cởi cái áo khoác này ra đã. Bò sấp bụng khoảng tám bộ rồi mới đứng lên được.”

Tôi trườn qua một đường hầm thấp lè tè, đủ rộng cho ba người nằm ngang nhưng chiều cao chưa đầy hai bộ. Bò được nửa đường, tôi bắt đầu thấy ngột ngạt, bởi xưa nay tôi vốn ghét những nơi hang hốc chật hẹp; trong đầu chợt dấy lên thoáng âu lo chẳng rõ chúng tôi đang dấn thân vào chuyến hành hương dưới hầm ngục này để làm gì. Lát sau, tôi ngửi thấy luồng không khí thoáng đãng và gượng quỳ dậy.

“Ổn cả chứ, anh bạn?” một tiếng thì thầm cất lên từ phía sau. Bạn đồng hành của tôi dường như đợi tôi qua hết mới chịu bò theo.

“Ổn,” tôi đáp rồi cẩn thận đứng thẳng dậy.

Đúng lúc ấy, có biến cố xảy ra sau lưng tôi. Một tiếng rầm chấn động vang lên, tựa hồ vòm hầm vừa sụp xuống. Tôi quay phắt lại, quờ quạng quanh miệng hầm. Tôi thò chân xuống thử và nhận ra đường đã bị chặn cứng.

“Donne,” tôi gọi, to hết mức có thể mà vẫn kìm giọng, “anh có sao không? Anh ở đâu rồi?”

Tuyệt nhiên không có tiếng trả lời.

Ngay cả lúc đó, tôi vẫn chỉ đinh ninh đây là một tai nạn. Kế hoạch đã đổ bể, và tôi bị cô lập dưới tầng hầm của một hang ổ đầy thù địch, lạc mất kẻ duy nhất thuộc đường đi nước bước và nắm giữ kế hoạch trong đầu. Tôi bực bội cáu tiết hơn là sợ hãi. Quay lưng khỏi miệng hầm, tôi lần mò vào bóng tối phía trước mặt. Tốt hơn hết là cứ việc thám sát xem mình vừa đâm đầu vào cái nhà tù kiểu gì.

Tôi mới bước được ba bước—chẳng hơn. Hai chân tôi bỗng dưng hẫng đi rồi bắn ngược lên trời. Mọi chuyện xảy ra chớp nhoáng đến mức tôi ngã vật xuống nặng trịch như một khúc gỗ, đầu đập sầm xuống sàn đá mạnh đến nỗi tôi bất tỉnh nhân sự trong khoảnh khắc. Khi lờ mờ tỉnh lại, tôi thấy có vật gì đó sập xuống đè nghiến lấy mình, một áp lực khủng khiếp đè nặng lên ngực. Tôi ngột ngạt thở không ra hơi, tay chân bị ghim chặt cứng, cả thân mình như bị kẹp trong một chiếc gọng kìm gỗ khổng lồ. Cơn chấn động não khiến tôi buồn nôn cồn cào, chỉ biết thở dốc và cố nuốt cơn nôn ọe xuống. Vết rách sau gáy máu chảy ròng ròng, nhưng chính điều đó lại giúp đầu óc tôi tỉnh táo lại đôi chút; dẫu vậy, tôi vẫn phải nằm đờ đẫn mất một hai phút chẳng nghĩ ngợi được gì. Tôi nhắm nghiền mắt lại, như người ta vẫn làm khi cố chống chọi với cơn ngất xỉu.

Khi tôi mở mắt ra thì thấy có ánh sáng. Nó hắt tới từ phía bên trái căn phòng, luồng sáng chói lòa từ một chiếc đèn pin cực mạnh. Tôi ngơ ngác nhìn nó, nhưng chính ánh sáng ấy lại là cú hích cần thiết kéo các mối dây suy nghĩ của tôi lại với nhau. Giờ thì tôi đã nhớ ra đường hầm và gã nhà báo từ Kansas. Rồi đằng sau luồng sáng, tôi nhìn thấy một khuôn mặt—khuôn mặt ấy lập tức kéo những giác quan đang chập chờn của tôi ra khỏi vũng lầy tăm tối.

Tôi nhìn thấy chiếc áo khoác ulster dày sụ cùng chiếc mũ lưỡi trai mà trước đó tôi chỉ cảm nhận được chứ chưa từng thấy rõ ngoài rặng nguyệt quế tối tăm kia. Đó là đồ của gã ký giả Clarence Donne, sứ giả đầy tin cẩn của Blenkiron. Nhưng giờ đây tôi đã thấy rõ mặt hắn, và đó chính là gương mặt mà tôi từng huênh hoang với Bullivant rằng cả đời này tôi không bao giờ có thể nhầm lẫn được nữa. Lúc này đây tôi tuyệt đối không nhầm, và tôi nhớ mình còn thoáng thấy hài lòng vì đã giữ đúng lời hứa. Trước đó tôi không nhận ra chẳng qua là vì chưa có dịp nhìn tận mặt hắn cho tới tận giây phút này. Tôi nhìn thấy với độ sắc nét đến rợn người cái mẫu số chung của mọi thân phận ngụy trang: gã thanh niên nói ngọng trong ngôi biệt thự ven biển, vị nhà từ thiện béo tốt ở Biggleswick, kẻ mềm nhũn hoảng loạn nơi ga tàu điện ngầm, viên sĩ quan tham mưu người Pháp bảnh bao ở tòa lâu đài vùng Picardy... Tôi còn nhìn thấy nhiều hơn thế, bởi giờ đây hắn chẳng buồn ngụy trang nữa. Tôi đang đối mặt với von Schwabing, kẻ lưu vong đã cống hiến cho nước Đức nhiều hơn bất kỳ một viên tướng chỉ huy quân đoàn nào... Lời cảnh báo của Mary dội về trong tâm trí tôi—“kẻ nguy hiểm nhất thế giới”... Tôi không hề sợ hãi, cũng chẳng thấy đau đớn vì thất bại, hay tức giận—chưa phải lúc này, bởi tôi còn quá đỗi bàng hoàng và kinh sợ. Tôi nhìn hắn như người ta trân trối nhìn một thảm họa thiên nhiên vừa quét sạch cả một lục địa.

Khuôn mặt ấy đang nở nụ cười.

“Thật hân hạnh cuối cùng cũng được tiếp đãi ngài chu đáo,” hắn cất tiếng.

Tôi gắng gượng chấn chỉnh tinh thần để đối phó với hắn. Thanh xà ngang đè trên ngực tôi bớt siết chặt hơn, giúp tôi thở dễ dàng hơn đôi chút. Nhưng khi tôi cố cất lời, cổ họng nghẹn đắng chẳng thốt nên câu.

“Chúng ta là bạn cũ rồi,” hắn nói tiếp. “Ta đã quen biết nhau khá thân tình suốt bốn năm qua, một quãng thời gian dài trong thời chiến đấy chứ. Tôi vẫn luôn thấy ngài rất thú vị, bởi ngài có một thứ trí khôn mộc mạc, thô ráp, và ngài đã buộc tôi phải coi ngài là đối thủ nghiêm túc. Giá mà ngài thông minh hơn một chút, hẳn ngài đã biết trân trọng lời khen này. Nhưng ngài lại ngu xuẩn đến mức tưởng rằng mình có thể đánh bại được tôi, và vì thế ngài phải chịu trừng phạt. Ồ không, đừng tự huyễn hoặc rằng ngài từng là mối nguy hiểm nhé. Ngài chỉ phiền toái và xấc xược như con muỗi mà người ta chỉ cần búng nhẹ một cái khỏi tay áo thôi.”

Hắn đứng tựa vào một cánh cửa dày đang đóng kín. Rút chiếc hộp quẹt nhỏ bằng vàng, hắn châm một điếu xì gà rồi đưa mắt nhìn tôi đầy vẻ thích thú.

“Ngài sẽ có khối thời gian để suy ngẫm, nên tôi định bụng khai sáng cho ngài một chút. Ngài vốn là kẻ biết quan sát những điều tỉ mỉ. Phải không? Đã bao giờ ngài thấy cảnh mèo vờn chuột chưa? Con chuột chạy lăng xăng, lẩn trốn, xoay xở và cứ ngỡ mình đang làm chủ cuộc chơi. Nhưng bất cứ lúc nào con mèo cũng có thể chìa vuốt ra và kết liễu nó. Ngài chính là con chuột đó đấy, vị Tướng quân tội nghiệp của tôi—bởi tôi tin ngài là một trong những gã nghiệp dư nực cười mà người Anh vẫn xưng tụng là Tướng. Bất cứ lúc nào trong suốt chín tháng qua, tôi chỉ cần gật đầu một cái là đã có thể cho ngài xong đời rồi.”

Cơn buồn nôn đã dứt và tôi có thể hiểu trọn những gì hắn nói, dù vẫn chưa đủ sức đáp lời.

“Để tôi giải thích cho mà nghe,” hắn tiếp tục. “Tôi đã theo dõi những trò nhảy múa của ngài ở Biggleswick với sự thích thú tột cùng. Mắt tôi dõi theo từng bước ngài đến vùng Clyde và cả những đường đi nước bước ngớ ngẩn của ngài ở Scotland. Tôi thả dây cho ngài chạy, bởi ngài quá đỗi vô hại, vả lại tôi còn có những việc hệ trọng hơn phải bận tâm. Tôi để mặc ngài tự tiêu khiển ở Mặt trận Anh bằng những cuộc điều tra con nít, rồi tha hồ đóng vai chú hề ở Paris. Tôi bám sát từng đường đi nước bước của ngài ở Thụy Sĩ, và tôi còn tiếp tay cho gã bạn Yankee đần độn của ngài lập mưu chống lại chính tôi nữa đấy chứ. Trong khi ngài cứ đinh ninh mình đang giăng lưới bủa vây tôi, thì thực ra chính tôi mới là kẻ đang khép vòng vây quanh ngài. Tôi cam đoan với ngài, đây quả là một trò tiêu khiển tao nhã sau những công việc nghiêm túc đấy.”

Tôi biết tỏng gã này đang bốc phét. Có phần là thật, bởi rõ ràng hắn đã qua mặt được Blenkiron; nhưng tôi vẫn nhớ như in cảnh hắn phải cuống cuồng tháo chạy khỏi Biggleswick và Eaucourt Sainte-Anne khi cục diện rõ ràng chống lại hắn. Giờ đây hắn nắm đằng chuôi, nên tha hồ đem thói phù phiếm ra trút lên đầu tôi. Điều đó khiến hắn trở nên tầm thường hẳn trong mắt tôi, và sự kinh sợ ban đầu bắt đầu tan biến.

“Ngài biết đấy, xưa nay tôi chẳng thù dai bao giờ,” hắn bảo. “Trong nghề của tôi, tức giận là điều ngu xuẩn, chỉ tổ hao tổn tâm lực. Nhưng tôi không bao giờ dung thứ cho sự xấc xược, Tướng quân thân mến ạ. Và đất nước tôi có truyền thống thực thi công lý đối với kẻ thù. Có lẽ ngài sẽ hứng thú khi biết rằng ngày tàn đã cận kề rồi. Nước Đức đã một mình đối đầu với cả một thế giới vũ trang đầy đố kỵ, và lòng dũng cảm phi thường của chúng tôi sắp sửa được chứng minh. Nước Đức đã đập tan từng mảng một trong cỗ máy tổ chức vụng về của các người. Giờ này nước Nga ở đâu rồi, cái cỗ xe lu từng được kỳ vọng sẽ nghiền nát chúng tôi ấy? Còn Rumania, con tốt thí tội nghiệp thì sao? Sức mạnh của Italy, kẻ từng khoác lác sẽ làm nên kỳ tích nhân danh cái gọi là Tự do, giờ đâu rồi? Tan tác hết cả. Tôi đã hoàn thành phần việc của mình trong sứ mệnh đó, và giờ không cần đến tôi nữa. Nước Đức rảnh tay sắp sửa quay sang nghiền nát đám tàn quân ô hợp của các người ở phía Tây và hất cẳng các người xuống Đại Tây Dương. Sau đó chúng tôi sẽ thanh toán nốt phần tàn tích rách rưới của nước Pháp cùng dúm người Mỹ ồn ào kia. Đến giữa mùa hè, hòa bình sẽ được thiết lập theo những điều khoản do một nước Đức khải hoàn áp đặt.”

“Có quỷ mới để chuyện đó xảy ra!” Cuối cùng tôi cũng cất được tiếng nói.

“Chắc chắn như có Chúa vậy,” hắn đáp vẻ nhã nhặn. “Đó là điều mà các người vẫn gọi là sự chắc chắn mang tính toán học. Không nghi ngờ gì nữa, các người sẽ chết một cách dũng cảm, tựa như những bộ tộc man dã mà Đế quốc của các người từng đi chinh phạt vậy. Nhưng chúng tôi có kỷ luật cao hơn, tinh thần mạnh mẽ hơn và bộ óc vĩ đại hơn. Sự ngu xuẩn rốt cuộc luôn phải trả giá, và các người là một giống nòi ngu xuẩn. Đừng mong những kẻ cùng huyết thống bên kia bờ Đại Tây Dương sẽ cứu vớt các người. Bọn chúng là một lũ con buôn và chẳng hề tự tin vào bản thân chút nào. Sau khi to mồm dọa dẫm vài câu, chúng sẽ biết điều mà tìm cách giữ thể diện thôi. Gã Tổng thống hề hước của chúng sẽ diễn thuyết dăm ba câu rồi gửi cho chúng tôi một công hàm trịnh trọng, chúng tôi sẽ đáp lại bằng giọng điệu hùng hồn nghiêm túc mà ông ta hằng say mê, rồi sau đó đôi bên lại ôm hôn làm lành như chưa hề có chuyện gì. Tận đáy lòng mình, ngài thừa hiểu sự thể sẽ diễn ra đúng như thế mà.”

Một sự thờ ơ trống rỗng dường như bao trùm lấy tôi. Mấy lời khoác lác kia chẳng làm tôi nổi giận, tôi cũng chẳng còn thiết tha tranh cãi với hắn làm gì. Có thể đó là hậu quả của cú ngã trời giáng, nhưng đầu óc tôi lúc này đã ngưng trệ. Tôi nghe giọng hắn như người ta lơ đãng lắng nghe tiếng tích tắc của đồng hồ.

“Tôi sẽ tiết lộ thêm cho ngài hay,” hắn nói tiếp. “Hôm nay là tối ngày mười tám tháng Ba. Các tướng lĩnh của các người ở Pháp đang ngóng đợi một cuộc tấn công, nhưng họ chẳng biết chắc nó sẽ nổ ra ở đâu. Kẻ thì đoán ở Champagne hoặc bên sông Aisne, kẻ lại ngờ ở Ypres, người khác lại cho là ở St Quentin. Chà, Tướng quân thân mến, tôi chỉ tiết lộ bí mật này cho riêng mình ngài biết thôi nhé. Rạng sáng ngày hai mươi mốt, tức là ba ngày nữa, chúng tôi sẽ tổng tấn công vào sườn phải của Quân đội Anh. Trong hai ngày, chúng tôi sẽ vào đến Amiens. Đến ngày thứ ba, chúng tôi sẽ thọc một mũi giáo sâu tận ra biển. Rồi chỉ trong vòng một tuần, chúng tôi sẽ cuộn tròn cánh quân của các người từ phía hữu ngạn, và chẳng mấy chốc sẽ làm chủ Boulogne và Calais. Sau đó Paris sẽ thất thủ, và thế là Hòa bình.”

Tôi không đáp lại. Từ “Amiens” gợi tôi nhớ về Mary, và tôi cố nhớ lại cái ngày tháng Giêng hôm hai chúng tôi cùng lái xe về phía nam từ thành phố êm đềm ấy.

“Tại sao tôi lại nói cho ngài những điều này? Trí thông minh của ngài—bởi ngài đâu có hoàn toàn đần độn—hẳn đã mách bảo cho ngài câu trả lời rồi. Đó là vì đời ngài coi như đã chấm dứt. Đúng như lời Shakespeare của các người từng nói, phần còn lại là sự im lặng... Không, tôi không giết ngài đâu. Làm vậy thì thô thiển quá, mà tôi lại ghét sự thô thiển. Bây giờ tôi phải đi một chuyến ngắn, và khi tôi quay lại sau hai mươi tư giờ nữa, ngài sẽ là bạn đồng hành của tôi. Ngài sắp được đi thăm nước Đức rồi đấy, Tướng quân thân mến ạ.”

Câu nói ấy kéo giật sự chú ý của tôi trở lại, và hắn nhận ra ngay, bởi hắn tiếp tục nói với vẻ vô cùng đắc ý.

“Ngài đã nghe nói đến Untergrundbahn bao giờ chưa? Chưa à? Thế mà cũng khoe khoang là ngành Tình báo! Dẫu sao thì toàn bộ Bộ Tổng tham mưu của các người cũng dốt nát chẳng kém gì ngài. Đó là một tổ chức nhỏ do chính tay tôi gầy dựng. Nhờ nó, chúng tôi có thể áp giải những kẻ bất phục và nguy hiểm vượt qua biên giới về nước để xử lý tùy ý. Đã có vài kẻ bị bốc đi từ Anh và rất nhiều kẻ từ Pháp. Về mặt chính thức, tôi tin họ đều bị ghi nhận là ‘mất tích’, nhưng họ chẳng hề lạc bước trên bất kỳ chiến trường nào đâu. Họ bị tóm ngay tại nhà riêng, khách sạn, công sở, hay thậm chí ngay giữa những con phố đông đúc. Tôi chẳng giấu gì ngài, tuyến đường sắt Ngầm của chúng tôi hoạt động từ Anh và Pháp có phần hơi thất thường. Nhưng từ Thụy Sĩ thì lại êm ru chẳng khác nào tuyến đường huyết mạch. Biên giới có những chỗ không ai canh gác, chúng tôi lại có tay trong nằm ngay trong lực lượng biên phòng, và giấy thông hành thì chẳng bao giờ là vấn đề. Quả là một thiết kế tuyệt mỹ, và ngài sắp có vinh dự được mục kích cách nó vận hành rồi đấy... Sang đến Đức, tôi không dám hứa ngài sẽ được thoải mái, nhưng tôi tin cuộc đời ngài sẽ chẳng tẻ nhạt chút nào đâu.”

Dứt lời, nụ cười lịch thiệp trên môi hắn biến thành một cái nhếch mép hiểm độc như quỷ dữ. Ngay cả trong cơn mê muội, tôi vẫn cảm nhận được nọc độc toát ra từ đó và bất giác rùng mình.

“Khi quay lại, tôi sẽ có thêm một người bạn đồng hành nữa.” Giọng hắn lại ngọt ngào như rót mật. “Có một quý cô xinh đẹp vốn được dùng làm mồi nhử để dụ tôi sang Italy. Có phải vậy không? Chà, tôi đã cắn câu rồi đấy. Tôi đã sắp đặt để cô nàng hội ngộ với tôi ngay đêm nay tại một quán trọ trên núi phía bên kia biên giới Italy. Tôi cũng đã thu xếp để cô ta chỉ có một thân một mình. Nàng chỉ là một đứa trẻ ngây thơ, và tôi cho rằng nàng chẳng qua chỉ là công cụ trong bàn tay vụng về của đám bạn ngài mà thôi. Nàng sẽ ngoan ngoãn đi theo khi tôi ngỏ lời, và chúng ta sẽ là một hội vui vẻ trên chuyến Tàu tốc hành Ngầm.”

Sự thờ ơ trong tôi biến sạch, từng sợi dây thần kinh lập tức giật nảy lên trước những lời ấy.

“Đồ súc sinh!” tôi gầm lên. “Cô ấy ghê tởm bản mặt mày. Đến cái đầu sào cô ấy còn chẳng thèm đụng vào người mày nữa là!”

Hắn gạt tàn xì gà. “Tôi nghĩ ngài lầm rồi. Tôi có tài thuyết phục lắm, vả lại tôi chẳng thích dùng vũ lực với phụ nữ đâu. Nhưng dù muốn hay không, nàng cũng sẽ phải đi cùng tôi. Tôi đã làm việc cật lực và tôi có quyền được hưởng lạc, mà tôi thì đã trót say đắm quý cô bé nhỏ ấy rồi.”

Trong giọng điệu của hắn có cái gì đó thô bỉ, dâm đãng, tự mãn và nửa như khinh miệt, khiến máu trong người tôi sôi sục. Hắn đã chọc trúng chỗ hiểm của tôi, và thái dương tôi giật thình thịch như có búa nện. Tôi uất ức đến phát khóc vì căm hờn, phải vận hết nghị lực mới giữ cho miệng mình câm nín. Tôi quyết không để hắn được đắc chí thêm nữa.

Hắn nhìn đồng hồ. “Thời gian trôi nhanh thật,” hắn bảo. “Tôi phải lên đường tới chỗ hẹn hò đầy quyến rũ của mình đây. Tôi sẽ chuyển lời hỏi thăm của ngài tới quý cô ấy. Thứ lỗi cho tôi vì không thể thu xếp cho ngài được tiện nghi cho tới khi tôi quay lại. Thể chất ngài cường tráng thế kia thì nhịn đói một ngày cũng chẳng suy suyển gì đâu. Để ngài khỏi bận tâm, tôi xin nói trước là không thể trốn thoát được đâu. Cơ cấu này đã được kiểm chứng quá nhiều lần rồi, mà dẫu ngài có thoát ra được thì đám gia nhân của tôi cũng sẽ tóm gọn ngài thôi. Nhưng tôi phải cảnh báo ngài một điều. Nếu ngài táy máy phá phách hay vùng vẫy quá mức, nó sẽ phản ứng theo một cách rất kỳ lạ đấy. Sàn nhà ngay dưới chân ngài che miệng một cái giếng thông thẳng xuống lòng hồ bên dưới. Kích hoạt một chiếc lẫy nhất định, ngài có thể thấy mình bị bắn thẳng xuống làn nước sâu thẳm dưới lớp băng dày, nơi xác ngài sẽ rữa nát cho tới tận mùa xuân... Dĩ nhiên, đó là một lựa chọn mở dành cho ngài, nếu ngài không đủ kiên nhẫn chờ tôi trở về.”

Hắn châm một điếu xì gà mới, vẫy tay chào rồi biến mất sau cánh cửa. Khi cánh cửa khép lại sau lưng hắn, tiếng bước chân lập tức tắt lịm. Những bức tường này hẳn phải dày như tường nhà lao.

Tôi đồ rằng lúc đó mình rơi vào trạng thái mà người ta hay tả trong sách là “chết lặng”. Những phát giác dồn dập trong vài phút vừa qua quá đỗi choáng váng khiến bộ não tôi không sao tiêu hóa nổi. Tôi nhớ rất rõ rằng lúc ấy mình chẳng hề nghĩ đến sự thất bại thảm hại của kế hoạch, hay những toan tính của quân Đức vừa bị phơi bày đầy ngạo mạn trước mặt tôi như thể tôi đã là một người thiên cổ. Trước mắt tôi chỉ hiện lên một hình ảnh duy nhất—một quán trọ giữa thung lũng phủ đầy tuyết trắng (tôi hình dung nó nhỏ bé như túp lều của Peter), một cô gái cô độc, con quỷ đội lốt người mỉm cười vừa rời khỏi đây, và rồi nỗi kinh hoàng khôn xiết của Tuyến đường sắt Ngầm. Tôi nghĩ dũng khí của mình đã sụp đổ trong thoáng chốc, và tôi đã bật khóc vì bất lực và căm hờn. Tiếng búa nện nơi thái dương đã ngừng bặt, bởi nó chỉ giật lên khi tôi phẫn nộ trong hành động. Giờ đây khi nằm bẹp trong bẫy, nhuệ khí đàn ông đã trôi tuột khỏi các khớp xương, và nếu Ivery còn đứng nơi ngưỡng cửa, tôi nghĩ mình đã hạ mình van xin hắn rủ lòng thương. Tôi sẵn sàng dâng cho hắn mọi điều tôi biết trên cõi đời này, miễn là hắn hứa sẽ buông tha cho Mary.

May thay hắn đã rời đi, và chẳng có ai chứng kiến nỗi hèn nhát của tôi. Cũng may thay, làm một kẻ hèn nhát dài lâu cũng khó khăn chẳng kém gì làm một bậc anh hùng. Chính câu nói của Blenkiron về Mary đã kéo tôi đứng dậy—“Cô ấy không biết sợ và chẳng ai vấy bẩn được cô ấy”. Đúng thế, có trời chứng giám, không ai có thể làm nhục nàng. Tôi có thể tin tưởng quý cô của mình hơn nhiều so với việc tin vào chính bản thân. Lòng tôi vẫn quặn thắt vì âu lo, nhưng tôi đang dần lấy lại quyền tự chủ. Tôi đã cùng đường, nhưng Ivery đừng hòng đắc thắng trước mặt tôi. Hoặc là tôi chìm dưới đáy băng giá, hoặc là tôi sẽ tìm cơ hội găm một viên đạn vào đầu mình trước khi bị lôi qua biên giới. Nếu chẳng làm được gì khác, ít ra tôi cũng có thể chết một cách đàng hoàng... Rồi tôi bật cười, và tôi biết mình đã vượt qua cơn khủng hoảng tồi tệ nhất. Điều làm tôi bật cười chính là ý nghĩ về Peter. Mới một giờ trước tôi còn thương hại anh ta vì chỉ còn một chân, vậy mà giờ đây anh ta đang rong ruổi ngoài thế giới sống động đầy hơi thở kia với cả cuộc đời dài phía trước, còn tôi thì nằm dí dưới đáy sâu, tay chân bất động, tính mạng như ngàn cân treo sợi tóc.

Tôi bắt đầu ngẫm nghĩ về làn nước lạnh buốt dưới lớp băng, nơi tôi có thể tìm đến nếu muốn. Tôi không nghĩ mình sẽ chọn con đường ấy, bởi chừng nào người ta chưa chết hẳn thì cơ hội vẫn chưa tắt, nhưng tôi mừng vì vẫn còn lối thoát ấy... Rồi tôi nhìn lên bức tường trước mặt, và tít trên cao, tôi nhận ra một ô cửa sổ vuông nhỏ xíu.

Lúc tôi bước vào căn nhà quỷ quái này thì trời đầy mây che khuất các vì sao, nhưng hẳn là sương mù đã tan. Tôi nhìn thấy chòm sao Thợ Săn Orion, người bạn cũ của mình, đang dõi mắt qua những thanh chấn song. Và điều đó đột nhiên khiến tôi phải suy nghĩ.

Peter và tôi từng ngắm nhìn các vì sao trong đêm, và tôi biết rõ vị trí của mọi chòm sao chính so với thung lũng St Anton. Tôi từng đinh ninh mình đang ở trong một căn phòng hướng ra mặt hồ của ngôi Biệt thự Hồng: chắc chắn phải thế, nếu những lời Ivery nói là thật. Nhưng nếu vậy, tôi tuyệt đối không đời nào có thể nhìn thấy sao Orion qua khung cửa sổ này được... Chẳng còn kết luận nào khác, tôi ắt hẳn đang ở trong một căn phòng nằm ở phía đông ngôi nhà, và Ivery đã nói dối. Hắn vốn dĩ đã nói dối khi huênh hoang về chuyện đã qua mặt tôi ở Anh và ngoài Mặt trận ra sao. Rất có thể hắn cũng đang nói dối về Mary... Không, tôi gạt bỏ niềm hy vọng mong manh ấy. Những lời hắn nói về nàng nghe quá đỗi chân thực.

Tôi suy nghĩ chừng một phút và kết luận rằng hắn bịa chuyện chỉ để khủng bố tinh thần khiến tôi ngoan ngoãn nằm im; do đó cái cỗ máy quái ác này rất có thể có điểm yếu. Tôi cũng thầm nghĩ rằng sức mình vốn khá khỏe, hẳn là khỏe hơn nhiều so với hình dung của Ivery, bởi hắn chưa bao giờ thấy tôi lúc cởi trần. Giữa căn phòng tối om như mực, tôi không tài nào đoán được cỗ máy này vận hành ra sao, nhưng tôi cảm nhận được những thanh giằng ngang cứng ngắc đè trên ngực và chân mình, cùng những thanh giằng dọc kẹp chặt hai cánh tay vào mạn sườn... Tôi hít một hơi thật sâu rồi cố gồng hai khuỷu tay banh ra. Chẳng có gì nhúc nhích, tôi cũng chẳng thể nhấc thanh xà trên chân lên dù chỉ một phân.

Tôi thử lại lần nữa, rồi lại lần nữa. Thanh giằng bên sườn phải dường như bớt cứng hơn những chỗ khác. Tôi xoay xở nhấc được bàn tay phải lên cao hơn tầm đùi, rồi sau một hồi vật lộn, tôi chộp được thanh xà ngang, tạo cho mình một điểm tì nhỏ. Bằng một nỗ lực phi thường, tôi thúc mạnh cùi chỏ và vai phải vào thanh giằng dọc. Hình như nó hơi lay chuyển... Tôi dồn hết sức bình sinh thử lại một lần nữa. Một tiếng “rắc” vang lên rồi tiếng gỗ nứt toác, thanh xà nặng nề oằn mình dạt ra một cách mềm oặt, và cánh tay phải của tôi đã có thể cử động sang ngang, dù thanh xà ngang vẫn đè không cho tôi nhấc bổng lên.

Khá chật vật tôi mới thò tay vào được túi áo khoác, nơi cất chiếc đèn pin và khẩu súng ngắn. Vừa tốn bao công sức vừa đau điếng, tôi mới lôi được chiếc đèn pin ra và bật công tắc bằng cách quẹt chốt gạt vào thanh xà ngang. Bấy giờ tôi mới nhìn rõ chốn lao tù của mình.

Đó là một căn phòng vuông vức nhỏ hẹp nhưng trần rất cao, bên trái tôi là cánh cửa nặng trịch nơi Ivery vừa rời đi. Những thanh gỗ sẫm màu của cái giàn kẹp hiện ra mồn một, và tôi có thể lờ mờ đoán ra cách thức nó hoạt động. Một chiếc lẫy nào đó đã làm sụt sàn nhà xuống, khiến cái khung gỗ từ vị trí của nó trên vách tường bên phải sập xuống theo. Tôi nhận thấy nó bị khóa chặt bởi một cơ cấu nằm trên sàn ngay trước cửa ra vào. Nếu tôi phá được cái chốt đó, việc thoát thân sẽ rất dễ dàng, bởi đối với một người có thể lực như tôi thì sức nặng của cái giàn này không đến mức không nhấc nổi.

Nghị lực đã trở lại với tôi, và lúc này tôi chỉ sống cho từng khoảnh khắc hiện tại, gạt phăng mọi hy vọng trốn thoát viển vông sang một bên. Nhiệm vụ đầu tiên là phải phá hủy cái chốt đang khóa chặt cái giàn kẹp xuống, mà vũ khí duy nhất tôi có trong tay lúc này là khẩu súng ngắn. Tôi xoay xở chèn được chiếc đèn pin nhỏ vào góc thanh xà ngang, rọi luồng sáng thẳng xuống sàn nhà về phía cánh cửa. Kế đến là cả một cực hình trần ai để lôi được khẩu súng ra khỏi túi. Cổ tay và các ngón tay cứ chốc chốc lại bị chuột rút, tôi nơm nớp sợ mình sẽ đánh rơi súng vào chỗ không với tới được.

Tôi ép mình phải bình tĩnh tính toán vị trí chiếc chốt, bởi một viên đạn súng ngắn rất nhỏ bé, và tôi không được phép bắn trượt. Vận dụng những hiểu biết về cơ khí, tôi suy luận và đi đến kết luận rằng điểm mấu chốt chính là một đốm kim loại sáng loáng mà tôi vừa thoáng thấy dưới các thanh xà ngang. Nó sáng bóng chứng tỏ vừa mới được sửa chữa gần đây, và đó là một lý do nữa cho thấy tầm quan trọng của nó. Vấn đề là làm sao bắn trúng nó, khi mà tôi không thể gióng thẳng khẩu súng với tầm mắt. Cứ thử cái kiểu bắn súng ấy mà xem, cánh tay gập lại tì lên xà, người nằm bẹp dí dưới sàn và mắt phải ngước nhìn mục tiêu từ bên dưới thanh gỗ, người ta mới hiểu nó khó khăn đến nhường nào. Tôi có sáu viên đạn trong ổ quay, và kiểu gì cũng phải bắn hai ba phát để căn chỉnh tầm bắn. Tôi không được bắn hết sạch đạn, bởi phải để dành một viên cho bất kỳ tên gia nhân nào mò tới dò xét, và tôi cũng muốn giữ lại một viên dự phòng cho chính mình. Nhưng tôi nghĩ tiếng súng sẽ không lọt ra ngoài phòng được; tường ở đây quá dày.

Tôi gồng cứng cổ tay tì lên thanh xà ngang rồi bóp cò. Viên đạn cắm lệch sang bên phải mảnh thép sáng loáng chừng một inch. Nhích tay một chút, tôi bắn phát thứ hai. Đạn đã sượt qua mép trái. Mắt dán chặt vào mục tiêu đau nhức, tôi thử bắn phát thứ ba. Tôi thấy có mảnh gì đó văng ra, và bất thình lình toàn bộ cái khung gỗ đang đè trên người tôi đổ sụp xuống lỏng lẻo và có thể dịch chuyển... Tôi hết sức bình tĩnh nhét khẩu súng trở lại vào túi và cầm chiếc đèn pin trên tay trước khi cử động... Vận may đã mỉm cười, tôi đã được tự do. Tôi lật úp người lại, cong lưng lên, và chẳng mấy khó khăn bò ra khỏi cái cơ cấu bẫy rập ấy.

Tôi không cho phép mình tơ tưởng đến chuyện trốn thoát cuối cùng, bởi nghĩ thế chỉ tổ làm mình rối trí, lúc này đi từng bước một là đủ rồi. Tôi còn nhớ mình đã phủi bụi trên quần áo, và nhận thấy vết rách sau gáy đã cầm máu. Tôi nhặt lại chiếc mũ bị lăn vào góc khi ngã... Rồi tôi tập trung tâm trí vào bước tiếp theo.

Đường hầm thì chịu chết không thể quay lại, lối thoát duy nhất chỉ có cánh cửa. Nếu dừng lại mà suy xét, tôi hẳn đã biết cơ hội thoát khỏi một ngôi nhà như thế này chỉ là một phần nghìn. Tiếng súng đã bị những bức tường dày như hang động nuốt chửng, nhưng tôi biết thừa nơi này đầy rẫy gia nhân, và dẫu có qua được cánh cửa trước mắt thì tôi cũng sẽ bị tóm gọn ở một lối đi nào đó thôi. Song tôi đã làm chủ được bản thân tốt đến mức lao vào xử lý cánh cửa hệt như thể mình đang khảo sát để đào một giếng mỏ mới ở Rhodesia vậy.

Cửa không có tay nắm, và theo như tôi quan sát thì cũng chẳng có lỗ khóa... Nhưng khi rọi đèn pin xuống sàn, tôi nhận thấy từ cái chốt tôi vừa bắn nát có một thanh đồng chôn dưới sàn dẫn thẳng tới một bên khung cửa. Rõ ràng cánh cửa này hoạt động bằng một lò xo nối liền với cơ cấu của cái giàn kẹp.

Một ý nghĩ táo bạo lóe lên trong đầu kéo tôi bật dậy. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa, và nó từ từ hé mở. Viên đạn giải thoát cho tôi cũng đồng thời nhả chốt lò xo điều khiển cánh cửa.

Bấy giờ, đi ngược lại mọi nguyên tắc thận trọng của mình, tôi bắt đầu nhen nhóm hy vọng. Tôi cởi mũ ra, thấy trán mình nóng bừng như lửa đốt, bèn tựa trán vào bức tường mát lạnh trong giây lát... Biết đâu vận may của tôi vẫn chưa dứt. Ý nghĩ về Mary, về Blenkiron, về Peter và tất cả những gì chúng tôi từng đổ mồ hôi sôi nước mắt vì nó ùa về dồn dập, khiến tôi khao khát chiến thắng đến phát điên.

Tôi hoàn toàn mù tịt về sơ đồ bên trong ngôi nhà hay vị trí cửa chính thông ra thế giới bên ngoài. Đèn pin rọi thấy một hành lang dài hun hút với vật gì đó trông như một cánh cửa ở tít đằng xa, nhưng tôi bấm tắt đèn ngay, bởi lúc này không dám dùng nữa. Khắp nơi im ắng đến rợn người. Lắng tai nghe, dường như tôi thoáng thấy tiếng một cánh cửa mở ra ở đằng xa, rồi tĩnh lặng lại bao trùm.

Tôi lần mò dọc theo hành lang cho đến khi hai bàn tay chạm vào cánh cửa phía xa. Tôi thầm mong nó sẽ thông ra đại sảnh, nơi tôi có thể trốn qua cửa sổ hoặc ban công, bởi tôi đoán cửa chính ắt đã bị khóa chặt. Tôi lắng tai, bên trong tuyệt nhiên không có tiếng động. Chần chừ cũng chẳng ích gì, nên tôi hết sức rón rén vặn quả đấm cửa rồi hé ra một khe nhỏ.

Cửa kêu cọt kẹt khiến tim tôi đập thình thịch vì sợ bị phát giác, bởi bên trong tôi thấy ánh đèn hắt ra. Nhưng không có động tĩnh gì, hẳn là phòng trống. Tôi thò đầu vào nhìn quanh rồi lách cả người vào trong.

Đó là một căn phòng rộng lớn, có củi đang cháy bập bùng trong lò sưởi, và sàn nhà trải những tấm thảm dày cộp. Khắp bốn bề tường xếp đầy sách, giữa phòng có một chiếc bàn kê chiếc đèn đọc sách đang bật sáng. Vài chiếc hộp đựng công văn đặt trên bàn, cạnh đó là một xấp tài liệu nhỏ. Vừa có người ở đây cách đó chỉ một phút, bởi một điếu xì gà hút dở vẫn đang âm ỉ cháy gác trên miệng nghiên mực.

Đúng khoảnh khắc ấy, tôi đã hoàn toàn lấy lại sự tỉnh táo cùng vẻ điềm tĩnh vốn có. Hơn thế nữa, cái tính liều lĩnh bất cần ngày trước—thứ từng bao phen giúp tôi thoát hiểm—lại trỗi dậy trong tôi. Ivery đã đi rồi, nhưng đây chính là mật thất của hắn. Hệt như cái ngày trên những mái nhà ở Erzerum khi tôi cháy bỏng khao khát đoạt lấy tài liệu của Stumm, giờ đây một thôi thúc mãnh liệt mách bảo tôi bằng mọi giá phải xem cho bằng được xấp tài liệu kia.

Tôi bước tới bên bàn và nhặt mảnh giấy trên cùng lên. Đó là một mẩu giấy màu xanh đánh máy bằng chữ nghiêng, ở góc có một con dấu kỳ lạ, chằng chịt mực đỏ. Trên đó, tôi đọc được dòng chữ:

“Die Wildvögel müssen heimkehren.”

Cùng lúc ấy, tôi nghe thấy tiếng bước chân và cánh cửa ở phía bên kia bật mở. Tôi lùi lại một bước về phía lò sưởi, tay nắm chặt khẩu súng trong túi áo.

Một người đàn ông bước vào, dáng hơi gù kiểu học giả, râu ria lởm chởm và đôi mắt thâm quầng to tướng có vẻ ngái ngủ. Vừa nhìn thấy tôi, hắn khựng lại, toàn thân căng cứng. Đó chính là gã người Do Thái gốc Bồ Đào Nha, kẻ mà lần cuối tôi nhìn thấy chỉ là bóng lưng nơi cửa lò rèn ở đảo Skye, và tạ ơn Chúa là hắn chưa từng nhìn thấy mặt tôi bao giờ.

Tôi buông tay khỏi khẩu súng, bởi một tia cảm hứng chợt lóe lên trong đầu. Trước khi hắn kịp mở miệng thốt ra nửa lời, tôi đã nhanh chân phủ đầu trước.

“Die Vögelein schweigen im Walde,” tôi nói.

Gương mặt hắn giãn ra thành một nụ cười niềm nở, và hắn đáp lại:

“Warte nur, balde ruhest du auch.”

“Kìa,” hắn nói bằng tiếng Đức, chìa tay ra, “ngài lại tới bằng đường này ư, trong khi chúng tôi cứ đinh ninh ngài sẽ đi ngả Modane. Nhiệt liệt chào đón ngài, tôi đã nghe danh những chiến tích lẫy lừng của ngài rồi. Ngài chính là Conradi, người đã lập công xuất sắc ở Italy phải không?”

Tôi cúi đầu. “Vâng, tôi chính là Conradi,” tôi đáp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John Buchan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.