Ông Standfast

Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Những Hoạt Động Đa Dạng Ở Miền Tây

❊ ❊ ❊

Con tàu Tobermory vốn không phải là tàu chở khách. Boong tàu bừa bộn đủ thứ linh tinh, khiến người ta đi chừng một bước là phải lách mình né tránh, còn giường nằm của tôi chỉ là một cái kệ trong căn phòng khách nhỏ ngột ngạt, nơi mùi trứng ốp la và thịt xông khói vương vãi đặc quánh như sương mù. Tôi lên tàu tại Greenock và cùng thuyền trưởng đi dạo trên boong sau giờ uống trà, lúc ông chỉ cho tôi tên những ngọn đồi xanh thẫm ở phía bắc. Ông có khuôn mặt rám đồng cổ kính tuyệt đẹp và bộ mai tóc dài như một vị tổng giám mục; và vì đã dành toàn bộ cuộc đời bôn ba vùng biển phía tây, trong đầu ông có nhiều chuyện kể chẳng kém gì thánh Phê-rô.

"Trên con tàu này," ông tuyên bố, "chúng ta chẳng thể biết trước một ngày sẽ mang lại điều gì. Tôi có thể ghé vào Colonsay trong hai tiếng rồi neo lại đó ba ngày. Tôi nhận được điện tín ở Oban và điều tiếp theo là tôi đã ở tận phía bên kia đảo Barra. Cừu là một mặt hàng rắc rối. Người ta bắt buộc phải lùa chúng đi bán, mà chúng thì chậm chạp vô cùng. Thế nên, anh thấy đấy, đây hoàn toàn không phải là một chuyến du ngoạn giải trí đâu, thưa ngài Brand."

Quả thực không phải vậy, vì cái thùng phuy khốn khổ ấy tròng trành như một con heo béo ngay khi chúng tôi vòng qua một mũi đất và hứng trọn sức nặng của cơn gió Tây Nam. Khi được hỏi về mục đích chuyến đi, tôi giải thích rằng mình là một kiều bào gốc Scotland, đang có chuyến thăm quê hương đầu tiên và muốn khám phá vẻ đẹp của vùng Tây Highlands. Tôi để ông hiểu rằng tôi không phải là kẻ giàu có gì ở cõi đời này.

"Anh có giấy thông hành chứ?" ông hỏi. "Họ sẽ không để anh đi lên phía bắc Pháo đài William nếu không có nó đâu."

Amos chẳng hề nói gì về giấy thông hành, thế nên tôi ngẩn người ra.

"Tôi có thể giữ anh ở lại trên tàu trong suốt chuyến hải trình," ông nói tiếp, "nhưng anh sẽ không được phép lên bờ. Nếu anh tìm kiếm sự thưởng ngoạn thì việc ngồi trên boong tàu này ngắm nhìn công trình của Thượng Đế mà không được đặt chân lên đầu cầu tàu quả là một điều tẻ nhạt. Lẽ ra anh phải nộp đơn cho các ngài quân nhân ở Glasgow. Nhưng anh vẫn còn khối thời gian để quyết định trước khi chúng ta đến Oban. Chúng ta còn ghé qua rất nhiều nơi dọc đường đi Mull và Islay."

Người quản lý tàu tiến lại để hỏi về vé của tôi và chào tôi bằng một nụ cười toe toét.

"Anh quen ông Gresson à?" thuyền trưởng nói. "Chà, chúng ta là một đoàn thủy thủ vui vẻ, và đó mới là điều tuyệt vời nhất trong công việc kiểu này."

Tôi ăn tối rất ít, vì gió đã thổi mạnh lên tới cấp gần bão, và tôi thấy những giờ phút khốn khổ đang đến gần. Rắc rối của tôi là không thể nôn tháo cho xong chuyện một cách thoải mái được. Cảm giác buồn nôn và nhức đầu cứ bủa vây lấy tôi, chẳng còn cách nào khác ngoài việc lên giường nằm. Tôi ngả lưng vào giường, để lại thuyền trưởng và máy trưởng đang hút thuốc lá sợi cách đầu tôi chưa đầy sáu thước, rồi chìm vào giấc ngủ chập chờn. Khi thức dậy, căn phòng trống không, nồng nặc mùi thuốc lá cũ và phom-mai khó chịu. Cơn đau nhức đầu khiến tôi không thể ngủ tiếp, và tôi cố gắng làm dịu nó bằng cách lảo đảo bước lên boong tàu. Tôi nhìn thấy bầu trời đầy gió trong vắt, mỗi ngôi sao sáng rực như một cục than hồng, cùng một vùng nước tối tăm cuồn cuộn chảy về phía những ngọn đồi đen như mực. Ngay sau đó, một đợt nước biển ập tới hắt thẳng vào người, đẩy tôi lùi xuống cầu thang để trở lại giường nằm, nơi tôi nằm lì hàng giờ liền để cố vạch ra một kế hoạch hành động.

Tôi tự nhủ rằng nếu Amos muốn tôi có giấy thông hành thì ông ấy đã cung cấp cho tôi rồi, thế nên tôi chẳng cần phải bận tâm về điều đó. Nhưng nhiệm vụ của tôi là phải bám sát Gresson, và nếu con tàu ở lại một cảng nào đó suốt một tuần mà hắn lên bờ, tôi nhất định phải đi theo hắn. Không có giấy thông hành, tôi sẽ luôn phải tìm cách né tránh rắc rối, điều này sẽ cản trở việc di chuyển của tôi và rất có thể khiến tôi trở nên nổi bật hơn mức tôi muốn. Tôi đoán rằng Amos đã từ chối cấp giấy thông hành cho tôi chính vì muốn Gresson nghĩ rằng tôi vô hại. Do đó, khu vực nguy hiểm sẽ là vùng đất phải có giấy thông hành, nằm ở đâu đó phía bắc Pháo đài William.

Nhưng để theo dõi Gresson, tôi buộc phải liều lĩnh và bước vào vùng đất ấy. Mối nghi ngờ của hắn, nếu có, sẽ lắng xuống nếu tôi rời tàu ở Oban, nhưng tôi có trách nhiệm phải đi theo đường bộ lên phía bắc và bắt kịp nơi mà con tàu Tobermory dừng chân lâu ngày. Cái thùng phuy khốn khổ ấy chẳng có kế hoạch nào cả; nó cứ lang thang khắp vùng Tây Highlands để tìm cừu và đủ thứ khác; và ngay cả thuyền trưởng cũng không thể cho tôi biết lịch trình của nó. Thật khó tin rằng Gresson lại chịu nhọc công đến thế nếu hắn không biết rằng ở một nơi nào đó — và là nơi thích hợp — hắn sẽ có thời gian để lên bờ. Dù vậy, tôi khó mà hỏi Gresson thông tin đó, dù tôi quyết định sẽ dò la hắn một cách thận trọng. Tôi nắm được sơ lược hải trình của Tobermory — qua eo biển Islay đến Colonsay; rồi ngược lên phía đông đảo Mull để đến Oban; sau đó qua eo biển Mull đến những hòn đảo mang tên giống các loại cocktail như Rum, Eigg và Coll; rồi đến Skye; và cuối cùng là quần đảo Outer Hebrides. Tôi nghĩ nơi cuối cùng sẽ là điểm đến, và việc rời tàu lúc này quả là một hành động điên rồ, bởi Chúa mới biết làm thế nào tôi có thể băng qua vùng Minch. Suy nghĩ này lại làm hỏng toàn bộ kế hoạch của tôi, và tôi chìm vào giấc ngủ mệt mỏi mà chẳng đưa ra được kết luận nào.

Buổi sáng đưa chúng tôi lướt qua giữa Jura và Islay, và tầm giữa trưa chúng tôi ghé vào một cảng nhỏ, nơi chúng tôi dỡ một ít hàng hóa và đón thêm vài mục đồng đang đi đến Colonsay. Buổi chiều dịu dàng cùng mùi thơm của muối và hoa thạch nam đã quét sạch những dư âm buồn nôn còn sót lại, và tôi có một giờ đồng hồ bổ ích trên đầu cầu tàu với một cuốn cẩm nang du lịch mang tên Scotland của Baddely, cùng một tấm bản đồ của Bartholomew. Tôi bắt đầu nghĩ rằng Amos có thể cung cấp cho tôi vài thông tin hữu ích, vì cuộc trò chuyện với thuyền trưởng gợi ý rằng con tàu Tobermory sẽ không nán lại lâu ở vùng lân cận Rum và Eigg. Mùa lùa gia súc lớn vẫn chưa chính thức bắt đầu, và cừu phục vụ thị trường Oban sẽ được thu gom trong chuyến hải trình chiều ngược lại. Nếu vậy, Skye sẽ là nơi đầu tiên cần theo dõi, và nếu tôi nắm được thông tin về bất kỳ chuyến hàng lớn nào đang chờ ở đó, tôi sẽ có thể lập ra một kế hoạch. Amos đang ở đâu đó gần Kyle, và nơi đó nằm bên kia eo hẹp tính từ Skye. Nhìn vào bản đồ, tôi thấy rằng dù không có giấy thông hành, tôi vẫn có thể tìm cách vượt qua Morvern và Arisaig để tiến đến vĩ độ của Skye. Khó khăn lớn nhất là vượt qua dải biển hẹp, nhưng chắc chắn sẽ có những chiếc thuyền để đi nhờ, mượn hoặc trộm.

Tôi đang miệt mài nghiên cứu cuốn sách của Baddely thì Gresson ngồi xuống bên cạnh. Tâm trạng hắn đang rất tốt và có vẻ muốn trò chuyện, ngạc nhiên thay, câu chuyện của hắn xoay quanh những phong cảnh đẹp đẽ của vùng quê này. Có một thứ ánh sáng xanh ngọc bích phủ lên vạn vật; những sườn đồi thạch nam dốc đứng cắt vào bầu trời trông như những viên đá thạch anh tím tía, trong khi phía bên kia eo biển, đại dương phương tây trải dài thứ ánh sáng vàng nhạt tan chảy hướng về phía hoàng hôn. Gresson cất lời ca ngợi khung cảnh ấy một cách say sưa. "Cảnh này vừa vặn làm tôi thấy thư thái trong lòng, anh Brand ạ. Tôi cứ phải rời khỏi cái thị trấn già cỗi nhỏ bé đó thường xuyên, nếu không tôi sẽ bắt đầu rụng lông như chim hoàng yến. Một con người mới thực sự cảm thấy mình sống khi đặt chân đến một nơi có mùi thơm dễ chịu thế này. Tại sao quỷ thần thiên địa lại bắt chúng ta vướng vào những cái lồng bằng đá và vữa đó cơ chứ? Tôi tính rằng có một ngày nào đó tôi sẽ dọn sạch đồ đạc đến một vùng đất trong lành, định cư ở đó và làm vài bài thơ nhỏ. Nơi này chắc sẽ làm tôi mãn nguyện lắm. Và có một đốm nhỏ ở California thuộc dãy núi Coast mà tôi vẫn luôn để mắt tới." Điều kỳ lạ là tôi tin hắn thật lòng. Khuôn mặt khó coi của hắn bừng sáng lên một niềm vui nghiêm túc.

Hắn bảo tôi rằng hắn đã từng đi chuyến hải trình này trước đây, thế nên tôi lôi cuốn Baddely ra và xin lời khuyên. "Tôi không thể dành quá nhiều thời gian cho việc đi nghỉ mát," tôi nói với hắn, "và tôi muốn ngắm tất cả những danh thắng đẹp nhất. Nhưng những nơi đẹp nhất hình như lại nằm trong khu vực mà chính phủ Anh ngốc nghếch này không cho phép người ta vào nếu không có giấy thông hành. Chắc tôi phải chia tay anh ở Oban rồi."

"Tệ thật," hắn nói với vẻ thông cảm. "Ồ, họ bảo quanh Oban cũng có vài cảnh đẹp lắm đấy." Thế rồi hắn lật giở cuốn cẩm nang du lịch và bắt đầu đọc về Glencoe.

Tôi bảo đó không phải là mục đích của mình, rồi bịa ra một câu chuyện về Hoàng tử Charlie và cách mà ông cố ngoại của mẹ tôi từng đóng một vai trò nào đó trong sự kiện ấy. Tôi nói với hắn rằng tôi muốn tận mắt nhìn thấy nơi Hoàng tử đặt chân lên bờ và nơi ngài rời đi để sang Pháp. "Theo những gì tôi hiểu thì điều đó sẽ không đưa tôi vào vùng đất phải có giấy thông hành, nhưng tôi sẽ phải đi bộ một quãng đường dài. Chà, tôi vốn quen với việc lê bước rồi. Tôi phải nhờ thuyền trưởng thả tôi xuống Morvern, và sau đó tôi có thể đi bộ vòng qua đầu hồ Lochiel rồi trở về Oban qua ngả Appin. Anh thấy chuyến hành trình nghỉ dưỡng này thế nào?"

Hắn tỏ vẻ tán thành kế hoạch đó. "Nhưng nếu là tôi, anh Brand ạ, tôi sẽ thử vận may để đánh đố mấy tay cảnh sát dũng cảm của các anh. Anh và tôi chẳng mặn mà gì với các chính phủ cùng mấy cái luật lệ rẻ mạt của họ, và sẽ là một trò chơi thú vị khi xem anh có thể tiến sâu đến mức nào vào vùng đất cấm đó. Một kẻ như anh hoàn toàn có thể qua mặt mấy gã nhà quê đó bằng một cú lừa ngoạn mục. Tôi không ngại cá cược đâu..."

"Không," tôi nói. "Tôi đi để nghỉ ngơi chứ không phải để chơi thể thao. Nếu có thể thu được lợi ích gì thì tôi đã cam kết dùng mưu mẹo để đến tận quần đảo Orkney rồi. Nhưng đó là một công việc hao mòn sức lực và tôi còn nhiều điều quan trọng hơn phải bận tâm."

"Thế à? Chà, cứ tận hưởng theo cách của anh đi. Tôi sẽ thấy tiếc khi anh rời đi, vì tôi còn nợ anh một bữa ra trò vì vụ hỗn chiến hôm trước, với lại chẳng có mấy trò giải trí bên cạnh lão thuyền trưởng lẩm cẩm ấy đâu."

Tối hôm đó, Gresson và tôi cùng nhau kể chuyện sau bữa tối, đệm theo những tiếng “Chúa ơi!” và “Có thể thế được sao?” của thuyền trưởng và máy trưởng. Tôi đi ngủ sau một hoặc hai ly rượu grog nhạt, bù lại cho đêm thức trắng trước đó bằng một giấc ngủ say sưa. Tôi mang theo rất ít hành lý, ngoài bộ quần áo đang mặc trên người và những thứ có thể nhét vào túi áo chống thấm nước, nhưng theo lời khuyên của Amos, tôi đã mang theo khẩu súng lục mạ niken nhỏ của mình. Ban ngày, nó nằm trong túi quần sau của tôi, nhưng ban đêm tôi giấu nó dưới gối. Thế nhưng, khi tỉnh dậy vào sáng hôm sau và nhận ra chúng tôi đang thả neo trong vịnh phía dưới những ngọn đồi thấp gồ ghề mà tôi biết là đảo Colonsay, tôi chẳng thể tìm thấy tăm tích đâu của khẩu súng lục. Tôi lục lọi từng inch trên chiếc giường nằm và chỉ rũ ra được mấy cái lông vũ từ lớp vải bọc mốc meo. Tôi nhớ rất rõ việc nhét nó ở phía sau đầu trước khi chìm vào giấc ngủ, thế mà giờ đây nó đã biến mất hoàn toàn. Tất nhiên tôi không thể lớn tiếng thông báo về việc bị mất trộm, và tôi cũng chẳng lấy làm tiếc nuối cho lắm, bởi đây không phải là công việc mà tôi có thể dùng nhiều đến súng ống. Dù vậy, nó khiến tôi phải suy nghĩ rất nhiều về ngài Gresson. Hắn hoàn toàn không thể nghi ngờ tôi; nếu hắn đã chôm mất khẩu súng của tôi, như tôi khá chắc chắn là hắn đã làm, thì chắc hẳn là vì hắn muốn giữ nó cho riêng mình chứ không phải để tước vũ khí của tôi. Dù suy luận theo cách nào đi nữa thì tôi cũng đi đến cùng một kết luận. Trong mắt Gresson, tôi có lẽ ngây thơ như một đứa trẻ.

Chúng tôi dành phần lớn thời gian trong ngày ở Colonsay, và Gresson, trong phạm vi nhiệm vụ cho phép, cứ bám riết lấy tôi như sam. Trước khi lên bờ, tôi viết một bức điện gửi cho Amos. Tôi đã dành một giờ đồng hồ căng thẳng để suy nghĩ về tác phẩm *Pilgrim’s Progress* (Hành trình của người hành hương), nhưng không thể soạn nổi bất kỳ thông điệp dễ hiểu nào liên quan đến văn bản của nó. Tất cả chúng tôi đều dùng chung một ấn bản — bản nằm trong bộ sưu tập Golden Treasury — thế nên tôi có thể tạo ra một dạng mật mã bằng cách tham chiếu các dòng và trang sách, nhưng việc đó sẽ tốn tới cả chục tờ giấy khai báo điện tín và có vẻ quá phức tạp cho mục đích lúc bấy giờ. Thế nên tôi đã gửi bức thông điệp này:

Ochterlony, Bưu điện, Kyle,

Tôi hy vọng sẽ dành một phần kỳ nghỉ ở gần chỗ ông và gặp ông nếu lịch trình của con tàu cho phép. Có chuyến hàng lớn nào đang chờ ở vùng lân cận của ông không? Trả lời Bưu điện, Oban.

Việc Gresson không nhìn thấy bức điện này là vô cùng quan trọng, nhưng việc rũ bỏ được hắn quả thực là một vấn đề rắc rối. Buổi chiều, tôi đi dạo dọc bờ biển và đi ngang qua bưu điện, nhưng gã khốn khổ đó cứ kè kè đi bên tôi suốt quãng đường. Cơ hội duy nhất của tôi là ngay trước lúc tàu nhổ neo, khi hắn phải lên bờ để kiểm tra một số hàng hóa. Vì bưu điện nằm ngay tầm mắt nhìn từ boong tàu nên tôi không dám bén mảng tới gần. Tuy nhiên, ở phía tận cùng của ngôi làng nhỏ, tôi tìm thấy nhà giáo làng và nhờ ông ấy hứa sẽ gửi bức điện giúp. Tôi cũng mua lại từ ông ấy hai cuốn tiểu thuyết bìa mềm bảy xu đã sờn cũ.

Kết quả là tôi đã làm chậm chuyến khởi hành của chúng tôi mất mười phút, và khi bước lên tàu, tôi phải đối mặt với một Gresson đang vô cùng tức giận. "Mày biến đi đâu thế hả?" hắn hỏi. "Thời tiết đang nổi giận và lão thuyền trưởng thì phát điên lên vì muốn nhổ neo rồi. Chiều nay mày duỗi chân chưa đủ à?"

Tôi nhún nhường giải thích rằng mình đã đến gặp thầy giáo làng để mua vài cuốn sách đọc, rồi chìa ra mấy cuốn sách bìa đỏ sờn màu của mình. Nghe vậy, trán hắn dãn ra. Tôi có thể thấy rằng những nghi ngờ của hắn đã được xua tan.

Chúng tôi rời Colonsay vào khoảng sáu giờ chiều, phía sau lưng là bầu trời đang ùn ùn kéo mây báo hiệu một cơn giông bão, và những ngọn đồi ở Jura bên mạn phải hiện lên một màu tía giận dữ. Colonsay là một hòn đảo quá thấp để có thể đóng vai trò là đê chắn sóng trước cơn cuồng phong từ phương Tây, thế nên thời tiết xấu ngay từ phút xuất phát. Hải trình của chúng tôi hướng Bắc Đông Bắc, và khi qua khỏi mũi phía nam của hòn đảo, chúng tôi nhô lên ngụp xuống giữa những con sóng lớn, nuốt trọn hàng tấn nước và tròng trành như một con trâu nước. Tôi hiểu về tàu thuyền cũng giống như về chữ tượng hình Ai Cập vậy, nhưng ngay cả đôi mắt của một kẻ ngoại đạo như tôi cũng có thể nhận ra rằng chúng ta sắp trải qua một đêm dữ dội. Tôi tự nhủ sẽ không để mình bị buồn nôn lần nữa, nhưng khi đi xuống dưới khoang, mùi ruột động vật và hành tây suýt làm tôi gục ngã; thế nên tôi chỉ ăn tối bằng một thanh sô-cô-la cùng một chiếc bánh quy khô loại dành cho hành khách, mặc áo chống nước vào, và quyết tâm bám trụ trên boong tàu.

Tôi chọn vị trí gần mũi tàu, nơi tránh xa được mùi dầu mỡ tanh tưởi của tàu thủy. Không khí ở đó trong lành chẳng khác nào trên đỉnh núi, nhưng vô cùng lạnh lẽo và ẩm ướt, vì những hạt mưa lất phất theo gió bắt đầu buông xuống, và tôi hứng trọn cả bọt nước bắn ra từ những con sóng lớn. Tôi đứng đó giữ thăng bằng khi con tàu lảo đảo chìm vào chập tối, một tay bám chặt lấy sợi dây thừng vắt từ chiếc cột lùn xuống. Tôi nhận ra rằng chỉ có một thanh lan can ọp ẹp chắn giữa tôi và mép vực ngoài biển, nhưng điều đó lại thu hút sự chú ý của tôi và giúp tôi quên đi cảm giác say sóng. Tôi đu đưa theo nhịp chuyển động của con tàu, và mặc dù lạnh thấu xương, cảm giác ấy lại khá thú vị. Ý định của tôi là để cho thời tiết quật cường đánh bay cơn nôn nao, và khi đã thực sự mệt mỏi, tôi sẽ đi xuống khoang và đi ngủ.

Tôi đứng đó cho đến khi màn đêm buông xuống. Lúc ấy tôi đã trở thành một cỗ máy tự động, giống như cách mà một người lính gác làm nhiệm vụ, và tôi hoàn toàn có thể bám trụ như thế cho đến sáng. Suy nghĩ của tôi lan man khắp nơi, bắt đầu từ công việc mà tôi đã dâng thân thực hiện, rồi chẳng mấy chốc — qua những ký ức về Blenkiron và Peter — chạm đến khu rừng ở Đức nơi mà vào dịp Giáng sinh năm 1915, tôi suýt mất mạng vì sốt rét và lão Stumm. Tôi nhớ cái lạnh cắt da cắt thịt của cuộc đua điên cuồng đó, và cảm giác tuyết cháy bỏng như lửa khi tôi vấp ngã và úp mặt vào nó. Tôi thầm nghĩ rằng say sóng chỉ là chuyện trẻ con so với một trận sốt rét hoành hành ra trò.

Thời tiết ngày càng trở nên tồi tệ hơn, và tôi không chỉ còn hứng chịu bọt nước từ những con sóng nữa. Tôi quàng cánh tay vòng qua sợi dây thừng vì các ngón tay đã tê cứng. Rồi tôi lại chìm vào những giấc mơ, chủ yếu là về Fosse Manor và Mary Lamington. Điều đó làm tôi mê mẩn đến mức suýt chìm vào giấc ngủ. Tôi đang cố tái hiện lại hình ảnh của cô ấy như lần cuối tôi nhìn thấy ở nhà ga Biggleswick...

Một vật nặng va mạnh vào tôi và hất cánh tay tôi khỏi sợi dây thừng. Tôi trượt dài trên khoảng boong tàu, chìm nghỉm giữa một cơn lốc nước. Một bàn chân vướng vào thanh giằng của lan can, và nó bật tung ra cùng với tôi, khiến có lúc tôi ngã nhào hơn nửa người ra ngoài mạn tàu. Nhưng các ngón tay tôi bấu víu điên cuồng và vớ được những mắt xích của thứ mà chắc hẳn là dây xích neo. Chúng đã giữ lại được, dù sức nặng cả tấn dường như đang giật mạnh lấy đôi chân tôi... Sau đó, chiếc thùng phuy già cỗi tròng trành quay trở lại, dòng nước trôi tuột đi, và tôi nằm xoài trên boong tàu ướt sũng với lồng ngực trống rỗng cùng cả gal-lông nước biển trong khí quản.

Tôi nghe thấy một tiếng kêu thét sắc lạnh, và một bàn tay kéo tôi đứng dậy. Đó là Gresson, và trông hắn có vẻ vô cùng kích động.

"Chúa ơi, anh Brand, suýt thì toi mạng! Tôi đang đi lên tìm anh thì con tàu chết tiệt này bỗng nhiên nằm nghiêng sang một bên. Chắc là tôi đã đâm sầm vào anh, và tôi vừa tự mắng mình thậm tệ khi thấy anh lăn nhào xuống Đại Tây Dương. Nếu tôi không bám được vào dây thừng thì tôi cũng đã nằm cạnh anh dưới đó rồi. Này, anh không bị thương chứ? Tôi nghĩ tốt nhất là anh nên xuống dưới khoang và nốc một ly rum vào bụng đi. Người anh ướt như cái giẻ lau bát của mẹ rồi kìa."

Làm lính tòng quân có một ưu điểm thế này. Gặp vận may nào thì hưởng vận may ấy và đừng bận tâm đến những chuyện đã suýt xảy ra. Tôi chẳng thèm nghĩ ngợi gì thêm về vụ việc đó nữa, ngoại trừ việc nó đã trị dứt điểm cái ý định muốn say sóng của tôi. Tôi bước xuống căn phòng khách nồng nặc mùi hôi mà trong dạ dày không hề lăn tăn một gợn buồn nôn nào, rồi đánh một bữa no nê gồm bánh mì nướng phom-mai Welsh-rarebit và một chai bia Bass, kết thúc bằng một ngụm rum nhỏ. Sau đó, tôi cởi bỏ bộ quần áo ướt sũng và ngủ say sưa trên giường cho đến khi tàu thả neo ngoài khơi một ngôi làng ở Mull vào một buổi sáng xanh trong.

Chúng tôi mất bốn ngày để lê lết dọc theo bờ biển đó và đến Oban, vì con tàu trông giống như một cửa hàng tổng hợp nổi phục vụ cho mọi thôn làng dọc đường. Gresson tỏ ra vô cùng dễ chịu, như thể hắn muốn chuộc lỗi vì suýt hại chết tôi. Chúng tôi chơi vài ván bài poker, tôi đọc những cuốn sách nhỏ mua ở Colonsay, sau đó dựng cần câu cá và bắt được cá nục đen, cá nục vàng cùng vài con cá tuyết chấm đen cỡ lớn. Nhưng tôi thấy thời gian trôi qua thật chậm chạp, và tôi rất vui mừng khi vào khoảng trưa một ngày nọ, chúng tôi tiến vào một vịnh nhỏ bị che khuất bởi những hòn đảo và nhìn thấy một thị trấn nhỏ gọn gàng nằm tựa lưng vào sườn đồi cùng cột khói của một đầu máy xe lửa.

Tôi lên bờ và ghé vào một cửa hàng bán đồ tu-e-đơ để mua một chiếc mũ đẹp hơn. Sau đó, tôi đi thẳng đến bưu điện và hỏi xem có bức điện nào không. Một bức điện được trao tận tay tôi, và khi vừa mở ra, tôi thấy Gresson đang đứng kè kè bên khuỷu tay mình.

Nội dung như sau:

Brand, Bưu điện, Oban. Trang 117, đoạn 3. Ochterlony.

Tôi đưa nó cho Gresson với một khuôn mặt méo mó đầy vẻ phiền muộn.

"Đúng là một trò ngốc nghếch," tôi nói. "Tôi có một người họ hàng làm mục sư Trưởng lão ở tận Ross-shire, và trước khi tôi biết chuyện rắc rối về tờ giấy thông hành này, tôi đã viết thư cho ông ấy và ngỏ ý muốn đến thăm. Tôi bảo ông ấy gửi điện tín cho tôi ở đây nếu tiện, và lão ngốc đó đã gửi nhầm bức điện cho tôi rồi. Khả năng cao là bức này dành cho một vị mục sư đồng nghiệp nào đó, kẻ đã nhận được thông điệp của tôi thay vì thế này."

Gresson tò mò hỏi, vừa liếc nhìn chữ ký: "Tên gã đó là gì thế?"

"Ochterlony. David Ochterlony. Ông ấy là một tay viết sách có tiếng tăm lừng lẫy, nhưng hoàn toàn mù tịt về việc sử dụng điện tín. Tuy nhiên, điều đó chẳng quan trọng gì sất, vì tôi đâu có định đến gặp ông ấy." Tôi vo tròn tờ giấy hồng rồi ném xuống sàn nhà. Gresson và tôi cùng nhau đi bộ trở lại tàu Tobermory.

Chiều hôm đó, khi có cơ hội, tôi lấy cuốn *Pilgrim’s Progress* ra xem. Trang 117, đoạn 3 viết rằng:

"Rồi tôi thấy trong giấc mơ của mình rằng, cách con đường một đoạn ngắn, đối diện với Mỏ Bạc, Demas (với tác phong hào hoa) đang cất tiếng gọi những người qua đường đến xem: hắn nói với Christian và người đồng hành rằng, Này, hãy rẽ vào đây và ta sẽ cho các ngươi xem một thứ."

Đến bữa trà chiều, tôi lái câu chuyện xoay quanh cuộc đời quá khứ của chính mình. Tôi kể lể về những trải nghiệm của mình với tư cách là một kỹ sư mỏ, và nói rằng tôi không bao giờ bỏ được cái thói quen ngắm nhìn phong cảnh bằng ánh mắt của một kẻ thăm dò khoáng sản. "Chẳng hạn như," tôi nói, "nếu đây là Rhodesia, tôi sẽ bảo rằng có cơ hội rất lớn tìm thấy đồng ở những ngọn đồi thấp phía trên thị trấn này. Trông chúng chẳng khác mấy so với những ngọn đồi quanh mỏ Messina." Tôi nói với thuyền trưởng rằng sau chiến tranh, tôi đang tính chuyển hướng chú ý sang vùng Tây Highlands để tìm kiếm khoáng sản.

"Anh chẳng kiếm chác được gì từ đó đâu," thuyền trưởng nói. "Chi phí quá đắt đỏ, ngay cả khi anh tìm thấy khoáng sản, bởi vì anh sẽ phải nhập khẩu toàn bộ nhân công. Người dân vùng Tây Highlands không thích làm việc nặng nhọc đâu. Anh biết bài thánh ca của người nông dân chứ?"

Ước gì đám than bùn tự cắt lấy mình,

Đám cá nhảy nhót trên bờ,

Và tôi được nằm trên giường của mình

Từ nay cho đến mãi về sau!

"Đã có ai thử làm chưa?" tôi hỏi.

"Nhiều rồi chứ. Có những mỏ đá cẩm thạch và đá phiến, và từng có tin đồn về than đá ở Benbecula. Rồi còn có các mỏ sắt ở Ranna."

"Nó ở đâu thế?" tôi hỏi.

"Ngay trước mặt đảo Skye. Chúng ta sẽ ghé qua đó, và thường thì sẽ ở lại đó một chút. Có rất nhiều hàng hóa dành cho Ranna, và chúng ta thường nhận được một lượng hàng lớn chở về. Nhưng như tôi đã nói với anh, có rất ít người vùng Highlands làm việc ở đó. Phần lớn là người Ireland và mấy cậu thanh niên đến từ vùng Fife và Falkirk."

Tôi không đào sâu thêm vấn đề đó nữa, bởi vì tôi đã tìm thấy mỏ bạc của Demas. Nếu con tàu Tobermory nằm lại Ranna trong một tuần, Gresson sẽ có thời gian để giải quyết công việc riêng của hắn. Ranna sẽ không phải là điểm đến, vì hòn đảo này nằm trơ trọi giữa một luồng lạch có qua lại tấp nập. Nhưng đảo Skye nằm ngay bên kia, và khi nhìn vào bản đồ với những bán đảo lớn uốn lượn của nó, tôi kết luận rằng phỏng đoán của mình là chính xác, và Skye chính là nơi tôi phải hướng tới.

Đêm đó, tôi ngồi trên boong tàu cùng Gresson, giữa một bầu trời đầy sao tĩnh lặng kỳ diệu, chúng tôi ngắm nhìn những ánh đèn từ các ngôi nhà trong thị trấn tắt dần và trò chuyện về muôn vàn thứ chuyện. Tôi nhận ra — điều mà tôi đã láng mang nhận thấy từ trước — rằng người đồng hành của mình không phải là một kẻ tầm thường. Có những khoảnh khắc hắn quên mất bản thân và trò chuyện như một người có học thức: rồi sau đó hắn sực nhớ ra, và lại rơi về cái thứ tiếng lóng của Leadville, Colorado. Trong vai một kẻ tò mò ngây thơ, tôi đặt ra cho hắn những câu hỏi hóc búa về chính trị và kinh tế, những thứ mà tôi có vẻ như lượm lặt được từ việc đọc ngấu nghiến những cuốn sách nhỏ một cách vô thức. Nói chung, hắn trả lời bằng một vài câu cửa miệng mang tính tiếng lóng, nhưng thỉnh thoảng hắn lại tỏ ra hứng thú vượt quá sự thận trọng, và đối xử với tôi như một người ngang hàng qua những bài giãi bày dài dòng. Tôi phát hiện ra một điều nữa, đó là hắn có niềm đam mê cuồng nhiệt với thơ ca và một trí nhớ vô cùng uyên bác về lĩnh vực đó. Tôi quên mất chúng tôi đã lái câu chuyện sang đó bằng cách nào, nhưng tôi nhớ hắn đã ngâm một số vần thơ ám ảnh kỳ lạ mà hắn bảo là của Swinburne, cùng những câu thơ của những người mà tôi từng nghe Letchford nhắc đến ở Biggleswick. Sau đó, nhìn thấy sự im lặng của tôi, hắn nhận ra mình đã đi quá đà và lại thụt lùi về thứ biệt ngữ của miền Tây. Hắn muốn biết về các kế hoạch của tôi, thế nên chúng tôi đi xuống khoang tàu và xem lại tấm bản đồ. Tôi giải thích lộ trình của mình, đi ngược lên Morvern và vòng qua đầu hồ Lochiel, rồi quay lại Oban qua phía đông hồ Loch Linnhe.

"Hiểu rồi," hắn nói. "Anh sắp phải đi bộ một quãng đường dài chết tiệt đấy. Con sâu đó chưa từng cắn tôi, và đoán là tôi chẳng thèm ghen tỵ gì với anh đâu. Và sau đó thì sao, anh Brand?"

"Trở về Glasgow để làm việc cho chính nghĩa," tôi đáp nhẹ bẫng.

"Đúng thế," hắn cười toe toét nói. "Đó là một cuộc đời tuyệt vời nếu anh không bị đuối sức."

Chúng tôi rời khỏi vịnh vào sáng hôm sau khi trời vừa hửng sáng, và khoảng chín giờ, tôi lên bờ tại một nơi nhỏ bé gọi là Lochaline. Toàn bộ hành lý đều nằm trên người tôi, và các túi áo chống thấm nước nhét đầy kẹo sô-cô-la cùng bánh quy tôi mua ở Oban. Thuyền trưởng tỏ ra nản lòng. "Anh sẽ ngấy tận cổ mấy ngọn đồi Highlands cho mà xem, anh Brand, trước khi anh vòng qua được đầu hồ. Lúc đó anh lại chỉ ước mình được quay lại tàu Tobermory thôi." Nhưng Gresson vẫn vui vẻ thúc giục tôi lên đường, nói rằng hắn ước gì mình cũng được đi cùng tôi. Thậm chí hắn còn đi cùng tôi một trăm thước đầu tiên, và vẫy mũ chào theo cho đến khi tôi khuất dạng sau khúc cua của con đường.

Chặng đầu tiên của cuộc hành trình đó mang lại niềm vui sướng thuần túy. Tôi vô cùng biết ơn vì đã thoát khỏi con con tàu chết tiệt kia, và hương thơm mùa hè ấm áp tỏa ra từ thung lũng mang lại cảm giác dễ chịu sau mùi muối biển lạnh lẽo. Con đường dẫn lên sườn một vịnh nhỏ, nơi có một ngôi nhà trắng lớn nằm ẩn mình giữa những khu vườn ở đỉnh vịnh. Chẳng mấy chốc tôi đã rời khỏi bờ biển và tiến vào một thung lũng nơi dòng sông cá hồi màu nâu uốn lượn qua những cánh đồng ngập tràn hoa sim đầm lầy. Nó bắt nguồn từ một cái hồ, nơi những ngọn núi vươn lên dốc đứng — một khung cảnh phẳng lặng đến mức vào buổi trưa tháng Tám ấy, từng vết sẹo và nếp nhăn của sườn đồi đều được phản chiếu chân thực. Sau đó, tôi băng qua một con đèo thấp để đến đầu một nhánh hồ biển khác, và theo bản đồ, tôi rẽ qua sườn của một ngọn đồi lớn rồi ăn trưa ở tít trên cao, phóng tầm mắt ngắm nhìn khung cảnh tuyệt diệu của rừng cây và sông nước bên dưới.

Suốt buổi sáng hôm ấy tôi rất hạnh phúc, không nghĩ ngợi gì về Gresson hay Ivery, mà để tâm trí mình được thảnh thơi giữa những không gian rộng lớn ấy, còn lồng ngực thì tràn ngập bầu không khí sảng khoái của miền đồi núi. Nhưng tôi nhận thấy một điều kỳ lạ. Trong chuyến thăm Scotland lần trước, khi tôi vượt qua nhiều dặm hoang mạc trong một ngày hơn bất kỳ ai kể từ thời Claverhouse, tôi đã bị vùng đất này mê hoặc, và từng tự mãn với những dự định định cư ở đây. Nhưng giờ đây, sau ba năm chiến tranh và những biến động dữ dội, tôi cảm thấy ít bị thu hút bởi khung cảnh kiểu đó hơn. Tôi thèm khát một nơi nào đó xanh tươi, yên bình và đáng sống hơn, và tâm trí tôi hướng về vùng Cotswolds với một niềm khao khát khôn nguôi.

Tôi trăn trở về điều này cho đến khi nhận ra rằng trong tất cả những bức tranh về Cotswolds của tôi, có một bóng hình cứ đến rồi đi — một thiếu nữ với mái tóc vàng bồng bềnh cùng dáng người thanh mảnh, khỏe khoắn như một thiếu niên, người từng hát bài “Cherry Ripe” trong một khu vườn ngập ánh trăng. Ngay trên sườn đồi ấy, tôi hiểu rất rõ rằng tôi, kẻ từng thờ ơ với phụ nữ như một tu sĩ, đã sa vào lưới tình cuồng nhiệt với một cô bé chỉ đáng tuổi con mình. Tôi không muốn thừa nhận điều đó, dù trong nhiều tuần qua, kết luận ấy cứ ép tôi phải chấp nhận. Không phải vì tôi không đắm chìm trong sự điên rồ của mình, mà vì nó có vẻ là một việc quá vô vọng, và tôi chẳng có hứng thú gì với những mối tình vẩn vơ vô bổ. Thế nhưng, ngồi trên một mảng đá nhai sô-cô-la và bánh quy, tôi dám đối mặt với sự thật và quyết định phó mặc cho vận may. Rốt cuộc thì chúng tôi cũng là đồng đội trong một sứ mệnh lớn lao, và tôi phải có trách nhiệm sống ra dáng một người đàn ông để chinh phục trái tim cô ấy. Suy nghĩ đó dường như tiếp thêm lòng dũng cảm cho tôi. Không có nhiệm vụ nào là quá khó khăn khi nhận được sự đồng tình của cô ấy và có bóng dáng cô ấy ẩn hiện ở phía sau. Tôi ngồi thừ người trong một giấc mơ hạnh phúc rất lâu, nhớ lại mọi khoảnh khắc thoáng qua được ngắm nhìn cô ấy, và ngân nga bài hát của cô cho một khán giả độc nhất là một con cừu mặt đen.

Trên con đường cái quan cách chỗ tôi nửa dặm bên dưới, tôi nhìn thấy một bóng người đang đạp xe leo dốc, rồi xuống xe lau mồ hôi trên trán ở đỉnh đồi. Tôi chĩa chiếc ống nhòm Zeiss về phía đó và quan sát thấy đó là một viên cảnh sát làng. Hắn phát hiện ra tôi, trân trân nhìn một lúc, dựng chiếc xe đạp vào vệ đường, rồi rất chậm chạp bắt đầu leo lên sườn đồi. Có lúc hắn dừng lại, vẫy tay và hét lên điều gì đó mà tôi không nghe rõ. Tôi ngồi ăn nốt bữa trưa của mình, cho đến khi nhận diện rõ mặt mũi của một gã đàn ông già nua béo ú, thở hồng hộc như một con cá voi, chiếc mũ đội lệch hẳn về phía sau cái đầu hói, và ống quần được buộc túm lại ở cổ chân bằng dây thừng.

Có một mạch nước phun ngay bên cạnh và tôi lôi chiếc bình dẹt của mình ra để kết thúc bữa ăn.

"Làm ngụm nước chứ," tôi nói.

Mắt hắn sáng lên, và một nụ cười lan tỏa trên khuôn mặt đẫm mồ hôi.

"Cảm ơn ngài. Leo lên con dốc này mệt bở hơi tai."

"Anh không nên làm thế," tôi nói. "Thực sự là anh không nên thế đâu, biết không. Cố sức đạp xe lên dốc rồi lại leo thốc lên núi thế này không tốt cho lứa tuổi của anh đâu đấy."

Hắn nhấc nắp bình nước của tôi lên để bày tỏ sự kính trọng long trọng. "Chúc sức khỏe ngài." Sau đó, hắn chép miệng, uống liền mấy vạn ngụm nước từ mạch phun.

Giọng hắn cất lên với âm điệu luyến láy dịu dàng sau khi đã lấy lại được hơi thở: "Chắc ngài đi từ hướng Achranich tới phải không?"

"Đúng thế. Thời tiết đẹp cho loài chim đấy, nếu có ai đó bắn chúng."

"À, không đâu. Hôm nay sẽ có rất ít tiếng súng nổ, vì chẳng còn quý tộc nào ở Morvern nữa rồi. Nhưng tôi muốn hỏi ngài, nếu ngài đến từ Achranich, ngài có thấy ai trên đường không?"

Từ trong túi áo, hắn lôi ra một phong bì màu nâu và một tờ giấy điện tín dày cộp. "Ngài đọc giúp tôi được không, vì tôi quên mang theo kính rồi?"

Nó chứa mô tả về một kẻ tên Brand, một người Nam Phi và là một đối tượng khả nghi, kẻ mà cảnh sát được cảnh báo phải chặn lại và áp giải về Oban. Bản mô tả không đến nỗi tệ, nhưng lại thiếu đi bất kỳ chi tiết đặc trưng rõ ràng nào. Rõ ràng là viên cảnh sát coi tôi là một kẻ đi bộ vô hại, có lẽ là khách của một điền trang săn bắn nào đó trên hoang mạc, với làn nước da rám nắng, bộ đồ tu-e-đơ thô ráp và đôi giày đinh tán.

Tôi cau mày suy nghĩ một lát. "Tôi có thấy một gã cách đây chừng ba dặm trên sườn đồi. Có một quán rượu nhỏ ngay chỗ con suối chảy ra, và tôi nghĩ hắn đang hướng về đó. Biết đâu đó chính là kẻ mà anh đang tìm. Bức điện này ghi là ‘Người Nam Phi’; và giờ tôi nhớ ra gã đó trông có vẻ ngoài của một kẻ từ thuộc địa tới."

Viên cảnh sát thở dài. "Chắc chắn đó là hắn ta rồi. Có lẽ hắn sẽ có súng lục và sẽ bắn trả."

Tôi cười lớn: "Không đời nào. Trông hắn có vẻ rách rưới thảm hại lắm, và hắn sẽ sợ mất mật khi nhìn thấy anh đấy. Nhưng hãy nghe lời khuyên của tôi, hãy kiếm thêm người đi cùng trước khi tóm hắn. Có nhân chứng lúc nào cũng tốt hơn mà."

Hắn phấn khởi nói: "Đúng thế thật! Chà, thời buổi này tệ thật đấy! Ngày trước chẳng có việc gì làm ngoài việc canh gác mấy cánh cửa ở các buổi triển lãm hoa và ngăn không cho du thuyền đánh bắt trái phép cá hồi biển. Nhưng giờ thì toàn là gián điệp với gián điệp, và ‘Donald ơi, dậy đi, đi hai mươi dặm để bắt một tên Đức đây.’ Tôi chỉ ước chiến tranh mau kết thúc và lũ người Đức chết hết đi cho rồi."

Tôi kêu lên: "Đúng thế!" và nhân cơ hội đó mời hắn thêm một ly rượu nữa.

Tôi đi cùng hắn ra đến đường cái, nhìn hắn leo lên xe đạp và lạng lách như một con dòi dọc theo sườn đồi hướng về Achranich. Sau đó, tôi nhanh chóng khởi hành đi về phía bắc. Rõ ràng là tôi di chuyển càng nhanh càng tốt.

Vừa đi, tôi vừa thầm thán phục sự hiệu quả của lực lượng cảnh sát Scotland. Tôi tự hỏi làm thế quái nào mà họ lại đánh dấu được tung tích của tôi. Có lẽ là cuộc họp ở Glasgow, hoặc có thể là mối liên hệ của tôi với Ivery ở Biggleswick. Dù thế nào đi nữa thì có ai đó ở đâu đây đang lập hồ sơ cực kỳ nhanh chóng. Trừ khi tôi muốn bị áp giải trở lại Oban, bằng mọi giá tôi phải tiến thật nhanh về phía bờ biển Arisaig.

Chẳng mấy chốc con đường dẫn xuống một hồ nước biển lấp lánh nằm tựa như lưỡi kiếm màu xanh giữa sắc tím của những ngọn đồi. Ở đầu hồ có một ngôi làng nhỏ xíu, nép mình giữa những rặng bạch dương và cây thanh lương trà, nơi một con suối màu nâu sẫm uốn lượn chảy ra biển. Khi tôi đặt chân đến nơi, trời đã xế chiều khoảng bốn giờ, và sự bình yên phủ trùm lên nơi này như một tấm áo choàng. Trên con đường rộng rãi và ngập nắng, không một bóng người qua lại, chẳng có âm thanh nào ngoài tiếng gà cục tác và tiếng lũ ong chăm chỉ vo ve giữa những khóm hồng. Có một nhà thờ nhỏ màu xám như chiếc hộp, và ngay sát cây cầu là một ngôi nhà mái tranh treo biển bưu điện kiêm điện tín.

Trong suốt tiếng đồng hồ qua, tôi vẫn luôn tự nhủ rằng mình tốt hơn nên chuẩn bị sẵn sàng cho những rủi ro bất ngờ. Nếu cảnh sát vùng này đã nhận được cảnh báo, họ có thể quá sức đối phó với tôi, và Gresson sẽ được tự do thực hiện hành trình của mình mà không vấp phải trở ngại nào. Việc duy nhất có thể làm là gửi một bức điện cho Amos và phó mặc mọi chuyện trong tay ông ấy. Việc đó có khả thi hay không lại phụ thuộc vào cơ quan bưu chính hẻo lánh này.

Tôi bước vào cửa hàng nhỏ, rời khỏi ánh nắng rực rỡ bên ngoài để bước vào không gian mờ ảo phảng phất mùi dầu hỏa và kẹo bạc hà sọc đen. Một bà cụ đội chiếc mũ trùm đầu đang ngồi trên chiếc ghế bọc đệm phía sau quầy. Bà ngước lên nhìn tôi qua cặp kính tròng và mỉm cười, và tôi có cảm tình ngay lập tức với bà. Bà có gương mặt hiền từ, thông thái mà Thượng Đế hằng yêu mến.

Bên cạnh bà, tôi chú ý thấy một chồng sách nhỏ, trong đó có một cuốn Kinh Thánh. Trải rộng trên đùi bà là một tờ tạp chí mang tên *United Free Church Monthly*. Tôi để mắt quan sát kỹ lưỡng những chi tiết này, bởi vì tôi phải quyết định xem mình sẽ đóng vai gì.

Tôi cất giọng với phương ngữ vùng đất thấp rộng rãi, bởi tôi có trực giác rằng bà không phải là người vùng cao: "Trời hôm nay ấm thật đấy, thưa cụ."

Bà gấp tờ tạp chí lại. "Đúng vậy đấy, thưa cậu. Thời tiết thật tuyệt vời để thu hoạch mùa màng, nhưng ở đây thì phải đến tận cuối tháng Chín mới làm được, mà tốt nhất cũng chỉ là chút lúa yến mạch còm cõi thôi."

Tôi đáp: "Vâng. Dưới vùng Annandale thì khác hẳn."

Khuôn mặt bà bừng sáng. "Cậu ở Dumfries tới phải không?"

"Không hẳn là từ Dumfries, nhưng tôi biết rất rõ vùng Biên giới."

Bà kêu lên: "Cậu không thể chê bai gì chúng được đâu! Không phải ở đây không phải là một nơi tốt và tôi có rất nhiều điều phải biết ơn kể từ khi John Sanderson — chồng tôi — đưa tôi đến đây từ bốn mươi bảy năm trước vào dịp lễ Martinmas. Nhưng càng có tuổi, tôi càng nghĩ nhiều hơn đến mảnh đất nơi mình sinh ra. Nó cách Wamphray hai dặm trên con đường đi Lockerbie, nhưng họ bảo nơi đó giờ chỉ còn là một đống đổ nát ngổn ngang đá."

"Thưa cụ, tôi đang tự hỏi không biết mình có thể tìm một ly trà ở trong làng không."

Bà nói: "Cậu sẽ uống trà với tôi. Ở đây chúng ta hiếm khi thấy ai đến từ vùng Biên giới lắm. Ấm nước vừa mới sôi tới độ đấy."

Bà mời tôi trà, bánh scone phết bơ, mứt lý chua đen và những chiếc bánh quy mật mía tan chảy ngay trong miệng. Vừa ăn, chúng tôi vừa trò chuyện đủ thứ chuyện — chủ yếu là về chiến tranh và sự bất lương của thế giới này.

Bà ngậm ngùi: "Chẳng còn chàng trai nào ở lại đây nữa rồi. Tất cả bọn họ đều gia nhập Trung đoàn Camerons, và phần lớn đã ngã xuống ở một nơi khủng khiếp gọi là Lowse. John và tôi không có lấy một đứa con trai, chỉ có duy nhất một cô con gái đã gả cho Donald Frew, người đưa thư ở Strontian. Tôi từng buồn phiền về chuyện đó, nhưng giờ thì tôi tạ ơn Chúa vì trong lòng thương xót của Ngài, Ngài đã tha cho tôi nỗi đau buồn. Dù vậy, tôi vẫn ước gì mình có được một cậu con trai chiến đấu vì tổ quốc. Thỉnh thoảng tôi ước mình theo đạo Công giáo để có thể cầu nguyện cho những người lính đã khuất. Chắc đó sẽ là một sự an ủi lớn lao lắm."

Tôi nhanh chóng rút cuốn *Pilgrim’s Progress* từ trong túi ra. "Đó là một cuốn sách tuyệt vời cho những thời điểm thế này."

Bà nói: "Tôi thuộc làu làu ấy chứ. Tôi nhận được nó như một phần thưởng ở Trường Chúa Nhật khi còn là một cô thiếu nữ."

Tôi lật các trang sách. Tôi đọc to một hoặc hai đoạn, rồi ra chiều như sực nhớ ra một ký ức bất chợt.

"Đây là một bưu điện phải không thưa cụ. Cụ có thể phiền giúp tôi gửi một bức điện tín được không? Cụ thấy đấy, tôi có một người anh họ làm mục sư ở Ross-shire gần Kyle, và tôi với ông ấy hay thư từ trao đổi lắm. Ông ấy vừa viết thư bàn về một chi tiết trong *Pilgrim’s Progress* và tôi nghĩ mình sẽ gửi cho ông ấy một bức điện tín để hồi âm."

Bà bảo: "Gửi thư từ sẽ rẻ hơn đấy."

"Vâng, nhưng tôi đang đi nghỉ mát và không có thời gian để viết thư."

Bà đưa cho tôi một tờ mẫu, và tôi viết:

Ochterlony. Bưu điện, Kyle. — Demas sẽ ở mỏ của hắn trong tuần này. Hãy tranh thủ với hắn, kẻo tôi ngã quỵ dọc đường.

Nhận xét duy nhất của bà là: "Cậu phung phí từ ngữ quá đấy, thưa cậu."

Chúng tôi chia tay trong sự tiếc nuối, và suýt chút nữa đã cãi nhau khi tôi cố trả tiền trà. Tôi được dặn dò phải chuyển lời hỏi thăm đến một người tên David Tudhole, nông dân ở Nether Mirecleuch, vào lần tới khi tôi đi qua Wamphray.

Ngôi làng vẫn yên tĩnh khi tôi rời đi giống hệt lúc tôi bước vào. Tôi tiếp tục hành trình lên đồi với một tâm hồn nhẹ nhõm hơn, vì đã gửi được bức điện và hy vọng mình đã xóa sạch dấu vết. Người phụ nữ làm việc ở bưu điện, nếu bị gặng hỏi, chắc chắn sẽ không thể nhận ra bất kỳ kẻ tình nghi Nam Phi nào ở một vị lữ khách cởi mở, chân chất từng trò chuyện với bà về vùng Annandale và cuốn *Pilgrim’s Progress*.

Ánh hoàng hôn màu dâu tằm dịu ngọt của bờ biển phía tây bắt đầu buông xuống những ngọn đồi. Tôi hy vọng sẽ đi được chừng mười hai dặm trước khi trời tối để đến ngôi làng tiếp theo trên bản đồ, nơi tôi có thể tìm chỗ trọ qua đêm. Nhưng chưa đi được bao xa, tôi đã nghe thấy tiếng động cơ ô tô ở phía sau, và một chiếc xe lướt qua chở theo ba người đàn ông. Người lái xe liếc nhìn tôi sắc lẹm rồi đạp phanh gấp. Tôi nhận thấy hai người ngồi ở hàng ghế sau đang mang theo súng săn thể thao.

Gã lái xe hét lên: "Này, anh kia! Lại đây." Hai kẻ mang súng — những gã hướng dẫn săn bắn trông có vẻ nghiêm nghị — liền đưa vũ khí vào tư thế sẵn sàng.

Gã ta nói: "Chúa ơi, chính là hắn rồi. Tên anh là gì? Hãy chĩa súng vào hắn đi, Angus."

Hai gã hướng dẫn lập tức chĩa súng vào tôi, và tôi chẳng thích thú gì với những nòng súng đang chĩa run rẩy đó. Rõ ràng là bọn chúng cũng ngạc nhiên không kém gì tôi.

Tôi chỉ có khoảng nửa giây để vạch ra kế hoạch. Tôi bước tới với một dáng vẻ vô cùng cứng nhắc và hỏi gã có ý quái gì. Bây giờ thì dẹp ngay phương ngữ vùng đất thấp đi. Giọng điệu của tôi lúc này là của một sĩ quan phụ tá thuộc một tiểu đoàn Cận vệ.

Kẻ thẩm vấn tôi là một người đàn ông cao gầy khoác chiếc áo khoác ulster, đội chiếc mũ phớt xanh trên cái đầu nhỏ. Gã có khuôn mặt gầy gò, mang phong thái quý phái và đôi mắt xanh lam vô cùng cáu kỉnh. Tôi đánh giá gã là một cựu sĩ quan quân đội, thuộc trung đoàn vùng cao hoặc kỵ binh theo kiểu cũ.

Gã lôi ra một tờ giấy điện tín, giống hệt như viên cảnh sát.

"Tầm vóc trung bình — vóc người lực lưỡng — đồ tu-e-đơ màu xám — mũ nâu — nói giọng thuộc địa — da rám nắng. Tên anh là gì, thưa ngài?"

Tôi không trả lời bằng giọng thuộc địa, mà bằng vẻ kiêu kỳ của một sĩ quan Anh khi bị lính gác Pháp chặn lại. Tôi lại hỏi gã xem quái quỷ gì mà gã lại xía vào công chuyện của tôi. Điều này khiến gã nổi giận và bắt đầu lắp bắp.

"Tôi sẽ cho anh biết tại sao tôi lại xía vào đấy! Tôi là phó tổng quản hạt này, và tôi có chỉ thị của Bộ Hải quân theo dõi vùng bờ biển. Chết tiệt thật, ngài đây, tôi có một bức điện từ Cảnh sát trưởng mô tả về anh đấy. Anh là Brand, một tên cực kỳ nguy hiểm, và chúng tôi muốn biết anh đang làm cái quái gì ở đây."

Khi nhìn vào ánh mắt phẫn nộ và cái đầu gầy gò của gã — nơi có lẽ chẳng chứa được bao nhiêu trí khôn — tôi hiểu rằng mình phải thay đổi giọng điệu. Nếu tôi chọc giận gã, gã sẽ trở nên khó chịu, từ chối lắng nghe và giữ tôi lại hàng giờ liền. Thế nên giọng tôi trở nên cung kính.

"Xin lỗi ngài, nhưng tôi không quen bị chặn lại một cách đột ngột và bị đòi kiểm tra giấy tờ tùy thân. Tên tôi là Blaikie, Đại úy Robert Blaikie, thuộc Trung đoàn Scots Fusiliers. Tôi đang về nghỉ phép ba tuần để tìm chút bình yên sau trận Hooge. Chúng tôi vừa mới được rút khỏi chiến tuyến cách đây năm ngày thôi." Tôi hy vọng người bạn cũ của mình trong bệnh viện sốc do đạn pháo ở Isham sẽ tha thứ cho việc tôi mượn danh tính của anh ta.

Gã tỏ ra bối rối. "Làm quái nào mà tôi có thể chắc chắn về điều đó chứ? Anh có giấy tờ gì để chứng minh không?"

"Chà, không. Tôi đâu có mang theo giấy thông hành bên mình trong một chuyến đi bộ dã ngoại. Nhưng ngài có thể gửi điện tín cho sở chỉ huy, hoặc đến địa chỉ ở Luân Đôn của tôi."

Gã giật giật bộ ria mép màu vàng. "Treo cổ tôi lên nếu tôi biết phải làm gì bây giờ. Tôi muốn về nhà ăn tối. Nói thế này nhé, thưa ngài, tôi sẽ cho anh đi cùng xe với tôi và cho anh ở nhờ đêm nay. Con trai tôi đang ở nhà để dưỡng thương, và nếu nó nói anh là hàng thật thì tôi sẽ xin lỗi và thết đãi anh một chai cảng hảo hạng. Tôi sẽ tin tưởng nó và cảnh báo trước là nó tinh mắt lắm đấy."

Chẳng còn cách nào khác ngoài việc đồng ý, và tôi bước lên xe ngồi cạnh gã với một tâm trạng bất an. Giả sử đứa con trai biết rõ Blaikie thật thì sao! Tôi hỏi tên tiểu đoàn của đứa con trai, và được biết đó là Trung đoàn 10 Seaforths. Đó không phải là một tin tức dễ chịu gì, bởi vì họ từng đóng chung một lữ đoàn với chúng tôi ở Somme. Nhưng Đại tá Broadbury — vì ông ta đã xưng tên — lại chủ động cung cấp một thông tin khác giúp tôi trút được gánh nặng trong lòng. Cậu con trai chưa tròn hai mươi tuổi và mới ra trận được bảy tháng. Tại Arras, cậu ta dính một mảnh đạn pháo vào đùi, làm tổn thương nghiêm trọng dây thần kinh tọa, và hiện vẫn phải dùng nạng.

Chúng tôi phóng vù vù qua những dải hoang mạc, luôn giữ hướng bắc, và dừng lại trước một ngôi nhà quét vôi trắng dễ chịu nằm sát bờ biển. Đại tá Broadbury dẫn tôi vào một sảnh lớn nơi có đống than bùn nhỏ đang cháy âm ỉ, và trên chiếc ghế dài bên cạnh nằm một thanh niên gầy gò, da dẻ tái nhợt. Ông ta đã vứt bỏ thái độ của một viên cảnh sát và cư xử như một quý thực sự. "Ted," ông nói, "Cha đưa một người bạn về nhà qua đêm đây. Cha đi tìm một kẻ tình nghi nhưng lại bắt được một sĩ quan Anh. Đây là Đại úy Blaikie, thuộc Trung đoàn Scots Fusiliers."

Cậu thanh niên nhìn tôi với vẻ mặt thân thiện. "Rất vui được gặp ngài, thưa ngài. Xin lỗi vì tôi không đứng dậy được, vì chân tôi đang bị thương." Cậu ta là bản sao của người cha về mặt đường nét khuôn mặt, nhưng da ngăm và sạm hơn trong khi người cha có tóc vàng. Cậu ta cũng sở hữu cái đầu hẹp, cái miệng bướng bỉnh và đôi mắt trung thực, nóng tính hệt như vậy. Đó là tuýp người tạo nên những sĩ quan trung đoàn xông pha trận mạc, giành được Huân chương Chữ thập Victoria, và rồi bị tiêu diệt hàng loạt. Tôi chưa bao giờ thuộc tuýp người đó. Tôi thuộc về trường phái của những kẻ hèn nhát đầy mưu mẹo.

Trong nửa giờ trước bữa tối, mọi vết gợn nghi ngờ cuối cùng đã bay biến khỏi tâm trí người chủ nhà. Bởi vì Ted Broadbury và tôi ngay lập tức chìm đắm vào những câu chuyện "nghề nghiệp". Tôi đã gặp hầu hết các sĩ quan cấp cao của cậu ta, và tôi biết rõ mọi chiến tích của họ ở Arras, vì lữ đoàn của cậu ta đóng quân ngay bên kia sông ở sườn trái của chúng tôi. Chúng tôi cùng nhau ôn lại trận chiến vĩ đại, kể cho nhau nghe về các chi tiết kỹ thuật và chê bai giới tham mưu theo đúng kiểu của các sĩ quan trẻ, còn người cha thì thỉnh thoảng xen vào những câu hỏi thể hiện rõ ông tự hào biết bao về con trai mình. Tôi tắm rửa sạch sẽ trước bữa tối, và khi dẫn tôi đến phòng tắm, ông đã cẩn thận gửi lời xin lỗi rất lịch sự vì thái độ cư xử tồi tệ ban đầu của mình. "Sự xuất hiện của anh đúng là một ơn phước trời ban cho thằng Ted đấy. Nó cứ thừ người ra vì buồn chán ở cái xó này. Dù tôi có thể không nên khen, nhưng nó thực sự là một đứa con trai tuyệt vời."

Tôi đã thưởng thức chai rượu vang cảng như đã hứa, và sau bữa tối, tôi đánh bida với người cha. Sau đó, chúng tôi ngồi quây quần trong phòng hút thuốc, và tôi dốc sức để giải trí cho hai cha con. Kết quả là họ muốn giữ tôi lại ở chơi một tuần, nhưng tôi viện cớ thời gian nghỉ phép ngắn ngủi và nói rằng mình phải ra ga tàu rồi quay lại Pháo đài William để lấy hành lý.

Thế là tôi trải qua đêm đó giữa những tấm ga trải giường sạch sẽ, ăn một bữa sáng thịnh soạn theo phong cách Cơ đốc giáo, và được cho mượn chiếc xe hơi của chủ nhà để đi một đoạn đường. Tôi bảo xe dừng lại sau chừng sáu dặm, và theo bản đồ, tôi băng qua những ngọn đồi hướng về phía tây. Khoảng giữa trưa, tôi vượt lên một sườn núi, và nhìn thấy eo biển Sleat đang lấp lánh bên dưới. Vẫn còn những cảnh tượng khác trong khung cảnh ấy. Ở thung lũng bên phải, một đoàn tàu hàng dài đang lầm lũi bò đi trên tuyến đường sắt Mallaig. Và băng qua dải biển hẹp ấy, tựa như một pháo đài của các vị thần cổ đại, những pháo đài tối tăm cùng các tháp pháo của những ngọn đồi trên đảo Skye sừng sững vươn lên.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John Buchan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.