Thân Phận Con Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11
Giờ 15

❊ ❊ ❊

Xuyên qua lớp sương mù, chiếc xe hơi chạy vào con đường dài trải cát dẫn đến một sòng bạc. “Mình có đủ thời giờ”, Clappique nghĩ thầm - “trước khi đến Black Cat”. Ông ta quyết định không để lỡ buổi hẹn với Kyo, vì số tiền ông ta chờ đợi nơi anh và có lẽ vì ông sắp sửa, lần này, không phải báo tin trước mà là cứu nguy cho anh. Ông ta thu thập được một cách không khó khăn những tin tức mà Kyo hỏi ông: các điểm chỉ viên biết được rằng một cuộc điều động các đoàn quân đặc biệt của Tưởng Giới Thạch được trù liệu vào lúc mười một giờ, và tất cả các Ủy ban Cộng sản sẽ bị bao vây. Không còn phải nói: “Cuộc phản động không thể tránh”, mà là: “Chiều nay đừng tới bất cứ một Ủy ban nào”. Ông ta không quên là Kyo cần phải ra đi trước mười một giờ rưỡi. Vậy là đêm nay có một vài cuộc hội họp của Cộng sản, mà Tưởng Giới Thạch muốn nghiền nát. Những tin tức cảnh sát nghe được đôi khi không đúng với sự thật, nhưng sự trùng hợp thì quá rõ rệt. Kyo được báo trước có thể sẽ cho hoãn lại buổi họp, hay là, nếu quá muộn, anh sẽ không đến đó... Nếu gã cho mình một trăm đôla có lẽ mình khá nhiều tiền: một trăm và một trăm mười bảy đôla kiếm được hồi chiều bằng cách lấy lòng thiên hạ và đến bất hợp pháp cả, hai trăm mười bảy... Nhưng có thể gã sẽ không có một đồng nào: lần này, không có vũ khí. “Trước hết hãy cố xoay xở lấy”. Chiếc xe hơi dừng lại. Clappique, mặc lễ phục, trả hai đôla. Người tài xế, đầu trần, cảm ơn ông bằng một nụ cười rộng miệng: Cuốc xe giá một đôla.

- Sự hào phóng ấy cốt để cho nhà ngươi có tiền mua một cái nón mơ lông nho nhỏ.

Và, ngón tay giơ lên, chứng tỏ chân lý:

“Tôi nói: nón mơ lông”

Người tài xế lái xe đi.

“Vì xét về phương diện hình thức, vốn dĩ là nhận xét của tất cả người nào lương thiện - Clappique nói tiếp đứng giữa lối đi trải sạn - người này cần phải có một cái nón mơ lông”.

Chiếc xe hơi đã chạy đi rồi. Ông ta chỉ nói với đêm tối; và, như để đáp lại lời ông, mùi hương của hoàng dương và những cây kiểng dầm nước tỏa lên từ khu vườn. Mùi hương gay gắt ấy, là chính Âu châu. Vị nam tước mò mẫm với cái túi bên tay mặt, và thay vì cái bóp, ông ta nhận ra khẩu súng lục của mình: cái bóp ở trong túi bên tay trái. Ông ta nhìn lên mấy của sổ không được thắp sáng. “Hãy suy nghĩ...” Ông ta biết rằng ông chỉ cố gắng kéo dài cái khoảnh khắc mà cuộc sát phạt chưa bắt đầu, và ông còn có thể chuồn đi được. “Ngày mốt, nếu trời mưa, ở đây sẽ tỏa lên mùi ấy; và biết đâu mình đã chết rồi... Ðã chết ? Mình nói gì đây ? Thật là điên! câm miệng lại: mình bất tử”. Ông đi vào, lên tầng lầu thứ nhất. Những tiếng thẻ và giọng nói của gã hồ lì hình như lên xuống theo các đợt khói. Những người phụ bàn ngủ; nhưng các thám tư người Nga thuộc sở Cảnh sát tư thọc tay vào túi áo vét ngắn (Cái túi bên tay mặt căng thẳng vì khẩu súng Colt) tựa lưng vào khung cửa hay thẫn thờ bước, vẫn còn thức, Clappique đi vào phòng đánh bạc: trong màn khói thuốc mù mịt, lấp lánh những đốm trắng đen xen kẽ nhau - màu đen của những bộ lễ phục, màu trắng là của những đôi vai - khom xuống mặt bàn màu xanh lá.

- Ê Tô tô! - Những giọng người hét lên.

Vị nam tước thường được gọi bằng Tô tô, tại Thượng Hải. Mặc dù ông ta chỉ đến đây vào một vài dịp nào đó, để nhập bọn với bạn bè: ông ta không là một con bạc. Cánh tay mở rộng, điệu bộ của người cha tốt vui mừng gặp lại những đứa con:

- Hoan hô! Tôi lấy làm cảm động được tham gia buổi lễ gia đình nho nhỏ này...

Nhưng gã hồ lì đã ném quả cầu; Clappique không còn được chú ý đến nữa. ở đây, ông ta bị mất giá; những người này không cần được giải khuây. Khuôn mặt của họ bao giờ cũng chú mắt vào quả cầu ấy, trong một vẻ phục tùng tuyệt đối.

Ông có một trăm mười bảy đôla. Chơi trò may rủi trên những con số thật quá nguy hiểm. Ông đã chọn trước, chẵn hay lẻ.

- Một vài cái thẻ nho nhỏ đáng yêu, ông ta nói với người phát thẻ.

- Bao nhiêu ?

- Hai mươi cái.

Ông quyết định mỗi lần đặt một thẻ, bao giờ cũng đặt nơi chẵn. Ông ta cần phải được ít ra cũng ba trăm đô. Ông ta đặt thẻ. Con số 5 ra. Thua. Không quan trọng, không sao.

Ống ta lại đặt, vẫn nơi số chẵn. Số 2. Lại đặt. Số 7. Kế, số 9: thua. Số 4: được. Số 3: thua. Số 7, số l: thua. Ông ta thua mất tám mươi đôla. Ông ta chỉ còn có một thẻ.

Lần đặt cuối cùng.

Ông ta ném cái thẻ bằng bàn tay mặt, ông không còn động đậy bàn tay trái, như thể sự bất động của quả cầu dán chặt bàn tay dính liền với nó. Và thế nhưng bàn tay ấy lôi kéo ông ta trở về với chính mình. Đột nhiên ông nhớ ra: không phải bàn tay đã khiến ông khó chịu, chính cái đồng hồ đeo nơi cổ tay. Mười một giờ hai mươi lăm. Ông ta còn năm phút nữa để đến với Kyo.

Lần đặt áp chót, ông ta tin chắc sẽ được: cho dù có phải thua, ông cũng không thể thua mau như vậy. Ông có điều sai lầm đã không xem là quan trọng lần thua thứ nhất, đó chắc chắn là một điềm xấu. Nhưng gần như bao giờ người ta cũng được ở lần đặt sau cùng; và số lẻ đã ra ba lần liên tiếp. Thế nhưng, kể từ lúc ông ta vào đây, số lẻ ra thường hơn, vì bởi ông ta đã thua tiền... Thay đổi, đặt số lẻ à? Nhưng có một cái gì giờ đây đã thúc đẩy ông cứ tiếp tục thụ động, chịu đựng: ông cảm thấy như đã đến đây vì điều ấy. Mọi cử chỉ đều có thể bị xem như là một sự phạm thượng.

Người hồ lì ném quả cầu. Nó lăn mềm mại, như bao giờ, trông có vẻ ngần ngại. Kể từ lúc nhập cuộc, Clappique vẫn chưa thấy ra số đen cũng như số đỏ. Những ô ấy giờ đây có nhiều hy vọng nhất. Quả cầu vẫn tiếp tục lăn. Sao ông ta không đặt đỏ? Quả cầu lăn chậm lại. Nó dừng nơi số 2. Được.

Cần phải dời bốn mươi đôla sang số 7, và đặt số ấy. Cũng là hiển nhiên: từ giờ phút này, ông cần phải bỏ rơi đồng bọn. Ông ta đặt xuống hai chiếc thẻ của mình, và được. Khi người hồ lì đẩy về phía ông ta mười bốn cái thẻ, khi chạm vào chúng, ông ta nhận ra với niềm kinh ngạc rằng ông ta có được tiền: đó không phải là một sự tưởng tượng, một cuộc đánh số quái dị với những người trúng số lạ mặt. Đột nhiên ông ta cảm thấy như ngân hàng nợ tiền ông, không phải vì trước hết ông ta đặt nơi số trúng, không phải vì ông ta thua tiền, mà từ bao giờ, vì sự cầu kỳ và tự do của tinh thần ông; cái hột ấy hãy dành sự may rủi phục vụ cho ông để trang trải tất cả những nợ nần của định mệnh. Thế nhưng, nếu đặt nhồi một số, ông ta có thể thua. Ông ta đặt hai trăm đôla xuống số lẻ, và thua tiền.

Giận dữ, ông ta rời khỏi bàn trong giây lát, và đến gần nơi cửa sổ.

Bên ngoài, bóng đêm. Dưới những tầng cây, những ngọn đèn đỏ phía sau xe hơi. Mặc dầu những tấm kiếng ông ta vẫn nghe lọt vào tai một sự ồn ào hỗn độn gồm những giọng nói, tiếng cười, và đột nhiên, một câu nói bằng giọng tức giận vang lên mà người ta không phân biệt được những lời nói. Những dục vọng... Tất cả những người đi ngang qua trong lớp sương mù ấy, họ sống cuộc đời ngu độn và nhu nhược nào đây ? Cũng không hẳn là những cái bóng: những giọng nói trong bóng đêm. Chính trong căn phòng này mà máu người đổ dồn tới đời sống. Những người nào mà không đánh bạc đều không phải là con người. Cả quá khứ của ông phải chăng không chỉ là một cơn điên rồ dài hạn? Ông ta quay trở lại bàn.

Ông ta đặt sáu mươi đôla xuống số chẵn. Quả cầu ấy mà sự chuyển động sắp sửa giảm dần là một định mệnh và trước hết là định mệnh của ông. Ông không chống lại tạo hóa, mà là chống lại một loại thần linh; và vị thần linh ấy, đồng thời chính là ông. Quả cầu lăn trở lại.

Ông ta bắt gặp ngay sự bối rối thụ động mà ông tìm kiếm; một lần nữa, ông ta như nắm lấy cuộc đời mình, treo nó vào quả cầu tầm thường ấy. Nhờ nó, ông ta thỏa mãn được, lần đầu tiên, hai Clappique làm nên con người ông, một Clappique muốn sống và một muốn hủy diệt. Tại sao lại nhìn vào đồng hồ? Ông ta ném trả Kyo trở về thế giới mộng mị; ông ta như nuôi dưỡng quả cầu ấy, không phải tiền đánh bạc, mà chính bằng cuộc đời ông - không gặp Kyo, ông ta đánh mất mọi hy vọng tìm lại số tiền và bằng cuộc đời của một người khác; và người này vì không biết được điều ấy đã khoác cho quả cầu, mà đường cong đang lơi dần, đời sống của những hành tinh giao hội, những chứng bệnh chết người, những gì mà con người tin tưởng rằng định mạng của mình sẽ được treo vào đó. Quả cầu ấy đang ngập ngừng bên mép lỗ giống như mõm chó và nhờ nó ông ôm siết lấy định mệnh của mình; có quan hệ gì đến tiền bạc đâu! Ðược tiền, không còn cốt để trốn đi nữa mà để ở lại, để liều mình thêm nữa, để cho sự tự do ông đã chinh phục được khiến cử chỉ của ông càng thêm phi lý. Tựa lên cánh tay, không còn để mắt đến ngay cả quả cầu đang tiếp tục quãng đường mỗi lúc một chậm lại của nó, các thớ thịt ở bắp chân và đôi vai run rẩy, ông ta khám phá ra chính ý nghĩa của cuộc chơi, sự mê cuồng trút túi.

Số 5.

Gần như tất cả đều thua; khói thuốc đầy ngập căn phòng cùng lúc với những sợi thần kinh dãn ra với niềm thất vọng và tiếng những thẻ được cái cào gom góp lại. Clappique biết rằng ông ta chưa sạch túi. Tại sao lại giữ lại mười bảy đôla? Ông ta lấy ra tấm giấy mười đôla và đặt trở lại nơi số chẵn. Ông ta tin chắc mình sẽ thua tiền đến mức ông không đánh trọn cả số bạc - như để được cảm thấy thua tiền một cách lâu hơn. Ngay khi quả cầu bắt đầu ngập ngừng, bàn tay mặt của ông dõi theo nó, nhưng bàn tay trái vẫn dán chặt xuống bàn. Giờ đây ông ta thấy rõ sự sinh hoạt tàn khốc của các vật đen đỏ: quả cầu này không giống như một quả cầu nào khác - như quả cầu mà người ta không dùng để chơi trò may rủi; ngay cả sự ngập ngừng của nó trong khi quay tròn cũng sống động: sự chuyển động ấy vừa tất nhiều vừa mềm mại run run vì có những sinh mệnh đã gắn liền vào đó. Trong khi nó đang quay, không có một con bạc nào rít lấy điếu thuốc đang cháy dỡ của mình. Quả cầu chui vào một lỗ giống như ổ ong màu đỏ, chui trở ra, tiếp tục lang thang, chui vào lỗ số 9. Một cách vô cảm giác Clappique phác cử chỉ bằng bàn tay trái để cất nó lên khỏi cái bàn. Một lần nữa. Ông ta lại thua tiền.

Năm đôla nơi số chẵn: thẻ cuối cùng, một lần nữa. Quả cầu được ném ra vẽ những vòng tròn rộng lớn chưa có gì linh động. Ðồng hồ đeo tay, dù vậy, đã xoay hướng cái nhìn của Clappique. Ông ta trải bàn tay lên mặt bàn và chỉ còn nhìn vào quả cầu. Ông ta khám phá ra rằng cờ bạc là một cuộc tự tử không chết; ông ta chỉ cần đặt tiền xuống đó, nhìn quả cầu và chờ đợi, như thể ông ta đã chờ đợi sau khi nuốt xong một loại thuốc độc, thuốc được đổi mới không ngừng, với niềm kiêu hãnh đã dùng đến nó. Quả cầu dừng lại nơi số 4. Ðược.

Ðược tiền gần như không là điều quan hệ với ông. Thế nhưng, nếu ông ta lại thua tiền... Một lẫn nữa ông lại được, rồi thua lại. Ông ta còn bốn mươi đôla, nhưng ông ta muốn bắt gặp lại sự thảng thốt của lần đặt tiền cuối cùng. Những số tiền đặt chồng chất nơi số đỏ từ lâu rồi không được xổ ra. Cái ô ấy, nơi hội tụ những mắt nhìn của hầu hết những người đang tham dự, cũng mê hoặc ông; nhưng rời bỏ số chẵn đối với ông có vẻ như bỏ cuộc tranh hùng. Ông ta vẫn giữ số chẵn, đặt bốn mươi đôla. Không hề có lần đặt tiền nào sánh bằng lần này; có lẽ Kyo vẫn chưa lên đường trong mười phút nữa: chắc chẵn ông không thể nào bắt kịp gã; nhưng, bây giờ, có lẽ vẫn còn kịp cho ông. Bây giờ, bây giờ, ông ta đặt lên canh bạc những đồng tiền cuối cùng; cuộc đời của ông, và của một người khác, nhất là của người khác. Ông ta biết rằng mình đã nạp mạng cho Kyo; chính Kyo bị ràng buộc vào quả cầu ấy, vào cái bàn ấy và chính ông, Clappique, là quả cầu chủ tế của mọi vật và của chính ông - dù vậy đang nhìn vào nó một cách sống động - như thể ông ta đã chưa từng sống, cảm thấy phát khùng lên, rã rời vì một niềm xấu hổ choáng váng.

Ông ta bước ra vào lúc một giờ; “sòng bạc” đã đóng cửa. Ông ta còn lại hai mươi bốn đôla. Khí trời bên ngoài làm ông khuây khoả như nơi một khu rừng. Sương mù thưa mỏng hơn nhiều so với mười một giờ. Có lẽ trời đã mưa: mọi vật đều ẩm ướt. Mặc dầu ông không trông thấy trong bóng đêm những cây hoàng dương và những cây kiểng, ông ta cũng đoán ra được cành lá rậm do mùi gay gay của chúng. “Thật rất đáng kể, ông ta thầm nghĩ, lời thiên hạ thường nói rằng cảm giác của con bạc nảy sinh từ hy vọng được tiền! Tương tự như người ta cho rằng mình giao đấu để trở thành vô địch kiếm thuật...” Nhưng sự thanh tĩnh của đêm tối, hình như đã xua đuổi tất cả những nỗi lo âu cũng với sương mù, tất cả những nỗi khổ đau của con người. Thế nhưng, có những tràng đạn, nổ lên, xa kia. “Người ta lại bắt đầu hành quyết...”

Ông ta rời khỏi khu vườn, cố gắng không nghĩ đến Kyo, bắt đầu bước đi trở lại. Cây cối đã thưa thớt. Đột nhiên, xuyên qua lớp sương mù còn lại, ánh trăng mờ đục hiện ra trên bề mặt của mọi vật. Clappique ngước mặt lên. Vầng trăng vừa nhô khỏi một cồn mây im lìm đã vỡ ra và trôi chầm chậm trong một lỗ hổng mênh mông, u ám và trong suốt giống như một cái hố với những đáy sâu đầy những vì sao. ánh trăng mỗi lúc một thêm sáng khoác lên tất cả những ngôi nhà kín cửa ấy, lên sự hoang phế hoàn toàn của thành phố, một đời sống ở ngoài mặt đất như thể vầng trăng đến an bài vào khoảng vắng lặng bất chợt mênh mông ấy ánh sáng của nó. Thế nhưng, phía sau khung cảnh của vì sao đã chết ấy, có những con người. Hầu hết đều yên giấc và đời sống thắc thỏm lo âu của giấc ngủ phù hợp với sự hoang tàn của đô thị đã bị diệt vong như thể chính nó cũng là đời sống trên một hành tinh khác. “Trong Một ngàn lẻ một đêm có những thành phố nhỏ đầy những người nằm ngủ, bị bỏ hoang từ hàng bao thế kỷ với những giáo đường dưới ánh trăng, những thành phố với sa mạc im lìm... Có thể mình sẽ chết”. Cái chết, ngay cả cái chết của ông, cũng không lấy gì làm thiệt lắm trong bầu không khí không có bao nhiêu về người đến nỗi ông ta tự cảm thấy mình là kẻ ngoại nhập. Và những người không ngủ thì sao? Có những người đang đọc. Những người đang gặm nhắm (Câu diễn tả mới hay đẹp làm sao!). Những người đang làm tình. Ðời sống tương lai run rẩy phía sau tất cả vẻ yên lặng ấy. Nhân loại điên cuồng, không có gì giải thoát được! Mùi xác chết của thành phố Trung Hoa phất qua, với cơn gió vừa thổi lên trở lại. Clappique phải cố gắng để thở: nỗi lo âu trở về. Ông ta chịu đựng ý nghĩ cái chết dễ dàng hơn cái mùi của nó. Cái chết dẫn dẫn xâm chiếm khung cảnh ấy đang che đậy sự điên cuồng của thiên hạ dưới một lớp khuây khoả muôn đời, và, gió vẫn thổi không gây thành những tiếng nho nhỏ nào, vầng trăng trôi tới nơi cồn máy đối diện và mọi vật rơi trở vào âm u. “Giống như một giấc mơ”. Nhưng cái mùi ghê tởm ném ông trở về lại với đời sống, với cái đêm lo âu, nơi mà những ngọn đèn lồng ban nãy mờ nhạt, giờ đây tỏa những vòng rộng lớn run rẩy xuống vỉa hè mưa đã xóa những bước chân người.

Ði về đâu? Ông do dự. Ông ta sẽ không làm sao quên được Kyo nếu ông ta thử tìm kiếm giấc ngủ. Giờ đây ông đi đọc theo một con đường có những quán rượu nhỏ, những ổ điếm cỏn con với các bảng hiệu viết bằng tiếng của tất cả các quốc gia ven biển. Ông ta bước vào ổ điếm đầu tiên. Ông ngồi xuống gần bên cửa kiếng. Ba người gái điếm - một lai, hai da trắng - ngồi chung với khách, một ả sửa soạn ra đi. Clappique chờ đợi, nhìn ra bên ngoài: không có gì cả, không cả một người thủy thủ.

Xa kia, tiếng súng nổ. Ông ta giật mình, một cách cố ý: một ả tóc vàng rắn chắc, trông phóng khoáng, đến ngồi bên cạnh. “Một bức họa của Rubens[1], ông ta thầm nghĩ, nhưng không toàn hảo, nàng phải là của một bức họa Jordaens mới đúng[2] Không sai vào đâu được...”. Ông ta quay tròn cái nón trên đầu ngón trỏ, thật nhanh, tung nó lên, yểu điệu bắt lại và đặt nó lên gối của ả.

- Hãy giữ gìn cẩn thận, cô em thân mến ạ, cái nón nhỏ bé ấy. Ðó là cái nón độc nhất tại Thượng Hải. Với lại nó được dưỡng dục...

- Mình dùng rượu, hay là lên trên, - ả hỏi.

- Cả hai.

Ả mang lại loại Schiedam: “Ðây là loại đặc biệt tại đây”.

- Thật không ? - Clappique hỏi.

Ả nhún vai.

“Thật hay không thật ăn thua gì em ?”

- Em có chuyện buồn phải không ?

Ả nhìn ông. Với những người ưa giễu cợt, cần phải đề phòng. Thế nhưng người này chỉ có một mình, ông ta không có người nào để đùa cợt; và ông ta thật sự không có vẻ chế giễu ả.

- Anh muốn em có những gì khác đây, với một đời sống như thế này ?

- Em có hút không ?

- Thuốc phiện quá đắt. Người ta có thể chích, dĩ nhiên, nhưng em thấy sợ: với những cái kim dơ đáy của họ, mình sẽ bị nhiễm trùng và nếu bị nhiễm trùng, sẽ bị tống cổ ra ngoài. Có mười người để dành lấy một chỗ. Và kể nữa...

“Người Flandre”[3]. Ông ta cắt lời ả:

- Người ta có thể mua thuốc phiện với giá không đắt quá. Anh mua cái này với giá hai đôla bảy mươi lăm.

- Anh cũng người miền Bắc ?

Ông ta trao cho ả một cái hộp mà không trả lời. ả tỏ vẻ biết ơn ông - được gặp một người đồng hương, và về tặng phẩm ấy.

- Cũng vẫn quá đắt đối với em. Nhưng cái này sẽ không quá tốn kém. Tối nay em sẽ nhai nó.

- Em không thích hút sao ?

- Anh tưởng em có dọc tẩu à? Anh đang tưởng tượng gì đấy?

Ả mỉm cười chua chát, dù vậy vẫn tỏ ra hài lòng. Nhưng sự dè dặt thường lệ phải trở về.

- Tại sao anh cho em ?

- Thôi đừng hỏi nữa... Anh thích như vậy. Anh thuộc về “bọn vô lại”.

Quả thật, ông ta không có vẻ gì là một khách chơi qua đường.

Nhưng chắc chắn ông ta không còn thuộc “bọn vô lại” từ lâu rồi.

(Ðôi lúc ông ta cần bịa ra những tiểu sử đầy đủ, nhưng hiếm lắm). Ả xích lại gần ông, trên cái ghế dài nhỏ.

- Em chỉ cần cốt sao cho ngoan ngoãn, đây là lần cuối cùng anh gần gũi với một người đàn bà...

- Tại sao vậy ?

Ả chậm hiểu, nhưng không ngu độn.

- Anh muốn tự tử sao ?

Đây không phải là người đầu tiên. Ả cầm lấy giữa hai bàn tay mình bàn tay của Clappique đặt trên bàn và hôn lên nó, bằng một cử chỉ vụng về và gần như là của một hiền mẫu...

- Đáng tiếc...

- Em có muốn lên không ?

Ả đã từng nghe nói rằng sự đòi hỏi ấy đôi khi xảy đến cho những người đàn ông, trước khi chết. Nhưng ả không dám đứng lên trước: ả sẽ phải nghĩ rằng mình đã khiến việc tự tử của ông ta cận kề hơn nữa. Ả giữ lấy bàn tay ông giữa đôi bàn tay mình. Khom người trên cái ghế dài nhỏ, chân chéo lại và tay dán chặt vào thân mình giống như một côn trùng rát lạnh, mũi đưa về phía trước, ông ta nhìn ả như từ rất xa, mặc dù hai thân người chạm vào nhau. Mặc dầu chỉ uống vừa thôi, ông ta vẫn nghe say vì sự dối trá ấy, cơn nóng bức ấy, vì cái vũ trụ tưởng tượng mà ông ta đã dựng nên. Khi nói rằng mình sẽ tự tử, ông ta đã không tin như vậy, nhưng vì ả tin, ông ta đi vào một thế giới mà sự thật đã không còn hiện hữu nữa. Không thật, cũng không giả, nhưng là một thế giới mà ông ta đã từng sống. Và bởi vì cái quá khứ mà ông vừa mới bịa đặt nên, cũng như cử chỉ giản dị sắp xảy ra, trên đó an bài mối tương quan với người đàn bà này đã không có thật nên không có gì là còn thật nữa. Thế giới đã thôi đè nặng lên ông. Ðược giải thoát, ông chỉ còn sống trong vũ trụ ảo tưởng ông vừa dựng nên chan chứa tình thân thiết giữa con người động lòng trước cái chết. Cảm giác say sưa đến nỗi bàn tay ông run rẩy. Người đàn bà cảm thấy và ngỡ đó là nỗi lo âu.

- Không có cách nào... dàn xếp chuyện ấy sao?

- Không...

Cái nón, đặt nơi góc bàn, trông như đang nhìn ông, với vẻ trêu chọc. Ông ta bung nó văng xuống chiếc ghế dài nhỏ.

- Một chuyện tình? ả nói tiếp.

Một tràng đạn lách tách phía xa. “Như thể không có bao nhiêu người sẽ chết đêm nay” ả thầm nghĩ. Ông ta đứng lên không trả lời, ả ngỡ rằng câu hỏi của mình đã gợi dậy nơi ông những kỷ niệm. Mặc dầu tò mò, ả lại muốn từ chối, những cảm thấy e ngại. Ả cũng đứng dậy. Hai người đi lên.

Khi ông bước ra ngoài - ông ta không quay nhìn lại, nhưng biết rằng ả dõi mắt theo mình qua lớp kiếng – tinh thần cũng như xác thịt của ông đều không được thoả mãn. Sương mù lan trở lại. Sau một khắc đồng hồ rảo bước (khí trời mát mẻ của đêm tối không trấn tĩnh được ông ta), ông ta cũng bước trước một quán rượu Bồ Ðào Nha. Những tấm kiếng sần sùi. Ngồi tách ra đám khách hàng, một ả tóc nâu gầy ốm với đôi mắt thật to, bàn tay áp lên vú như để che chở cho chúng, ngắm nhìn đêm tối. Clappique nhìn ả không động đậy. “Mình giống như những người đàn bà không biết trước những gì mà một tình nhân mới sẽ rút tỉa nơi họ... Hãy đi tự tử cùng với ả này”.

11 giờ rưỡi

Trong sự huyên náo của Black Cat, Kyo và May chờ đợi. Năm phút cuối cùng. Hai người đáng lẽ đã rời khỏi nơi đây. Clappique không đến làm cho Kyo ngạc nhiên (anh đã gom góp cho ông ta được hai trăm đôla) nhưng không ngạc nhiên tột độ: mỗi lần hành động như vậy, ông ta phù hợp với con người của ông đến mức chỉ làm ngạc nhiên một phần nào thôi những người quen biết với ông. Kyo trước hết xem ông như là một người cuồng vọng khá kỳ thú, nhưng anh mang ơn ông đã báo tin cho mình và dần dầu dành cho ông một cảm tình thật sự. Thế nhưng, anh bắt đầu hoài nghi giá trị của tin tức mà nam tước đã chuyển đến anh, và lần hẹn dở này khiến anh hoài nghi thêm. Mặc dù điệu fox trot chưa chấm dứt, một số người đông đảo đã chuyển động về phía một sĩ quan của Tưởng Giới Thạch vừa bước vào: những cặp người bỏ dở cuộc khiêu vũ, bước về phía ấy, và, mặc dù Kyo không nghe thấy gì cả, anh cũng đoán rằng đã có một biến cố trọng đại. May bước về phía đám người: tại Black Cát, một người đàn bà bị tình nghi mọi điều, vì vậy không bị tình nghi một điều gì cả.

Nàng quay trở lại rất nhanh.

- Một trái bom được liệng vô xe của Tưởng Giới Thạch, - nàng thấp giọng nói với anh. Tưởng không có trong xe.

- Còn thủ phạm ? - Kyo hỏi.

Nàng quay trở lại đám người, trở về theo sau là một người nhất quyết muốn nàng phải khiêu vũ với hắn, nhưng tách ra ngay khi thấy nàng không đi một mình.

- Thoát được, - nàng nói.

- Cũng cầu mong vậy.

Kyo biết rằng những nguồn tin như vậy, gần như bao giờ cũng thiếu xác thực tới mức nào. Nhưng không có gì chắc chắn rằng Tưởng Giới Thạch đã tử thương: cái chết ấy có một tầm mức quan trọng đến độ người sĩ quan này không thể không biết đến. “Chúng ta sẽ biết tin tại Ủy ban quân sự. Kyo nói. Hãy đến đó ngay”. Kyo mong Tchen thoát được tới mức độ không cảm thấy hoài nghi hoàn toàn tin ấy. Tưởng Giới Thạch dù vẫn còn ở tại Thượng Hải hay đã lên đường đi Nam Kinh, cuộc mưu sát hụt vẫn mang lại một sự quan trọng hàng đầu cho buổi họp của Ủy ban quân sự. Thế nhưng chờ đợi gì nơi buổi họp ấy chớ ? Anh đã chuyển nguồn tin của Clappique, hồi xế trưa, cho một Ủy ban trung ương có về hoài nghi tin ấy hay cố tỏ ra như vậy: cú báo động xác nhận những ý kiến của Kyo vì vậy nên sự xác nhân tin này do chính anh mất đi phần nào giá trị. Vả chăng, Ủy ban tán thành sự thống nhất chớ không sự chống đối nhau: trước đây vài ngày, vị lãnh tụ chính trị của Cộng sản và một người trong số các lãnh tụ Quốc dân đảng đã đọc tại Thượng Hải những bài diễn văn cảm động. Và sự thất bại trong việc chiếm đóng tô giới Nhật bởi đám đông quần chúng, tại Hán Khẩu, bắt đầu chứng tỏ rằng các phần tử Cộng sản bị tê liệt ngay cả tại miền Hoa Trung; những đoàn quân Mãn Châu tiến vào Hán Khẩu. Hán Khẩu cần phải giao tranh với các đoàn quân của Tưởng Giới Thạch... Kyo tiến trước trong đám sương mù, May im lặng đi bên cạnh. Nếu các phần tử Cộng sản phải chiến đấu đêm nay, họ chỉ vừa đủ sức để chống trả. Những vũ khí cuối cùng của họ cho dù đã được cung cấp hay không, họ sẽ chiến đấu bằng cách nào đây, một chống lại mười, trong sự bất tuân các chỉ thị của Ðảng Cộng sản Trung Hoa, chống lại một quân đội sẽ dàn ra các quân đoàn gồm những phần tử tư sản tình nguyện võ trang theo lối Âu Châu và đến ủng hộ quân đội cách mạng thống nhất; kẻ độc tài thay mặt cho ngoại bang, thành phố có tinh thần bài ngoại; giai cấp tiểu tư sản vô cùng đông đảo và các phần tử dân chủ, chớ không là Cộng sản; quân đội lần này có mặt ở đây, đang đe dọa, chớ không tháo chạy về Nam Kinh; Tưởng Giới Thạch không phải là tay đao phủ của tháng hai, mà là vị anh hùng quốc gia, ngoại trừ đối với các phần tử Cộng sản. Tất cả đều chống lại Cảnh Sát, tháng rồi; giờ đây các phần tử Cộng sản chống lại quân đội. Thành phố sẽ đứng ngoài cuộc, đúng hơn hậu thuẫn cho vị tướng. Họ chỉ vừa đủ sức để bảo vệ các khu vực thợ thuyền; Chapei, có lẽ? Và sau đó? Nếu Clappique bắt tin sai lầm, nếu sự phản ứng trễ lại một tháng, Ủy ban quân sự, Kyo, Katow sẽ tổ chức hai trăm ngàn người. Những toán xung kích mới, gồm các phần tử Cộng sản kiên quyết sẽ nắm giữ các Hiệp hội; nhưng ít ra cũng phải có được thời gian một tháng để thành lập một tổ chức khá chặt chẽ vận động quần chúng.

Và vấn đề vũ khí vẫn còn được đặt ra. Cần phải biết rõ, không phải việc hai ba ngàn khẩu súng có phải được giao trả hay không, mà là các đám đông sẽ được võ trang bằng cách nào trong trường hợp Tưởng Giới Thạch sử dụng vũ lực. Bao giờ người ta còn bàn cãi bây giờ những người ấy vẫn còn bị giải giới. Và sự việc sẽ ra sao nếu Ủy ban quân sự, bất cứ vì lẽ gì, đòi hỏi cho có được vũ khí, và Ủy ban trung ương, biết rằng các phần tử Trốtkýt chủ trương chống lại sự thống nhất với Quốc dân đảng sẽ kinh hoàng vì bất cứ thái độ nào dù đúng hay sai, có thể được quan niệm như liên kết với thái độ của phe đối lập người Nga.

Kyo bắt đầu trông thấy trong lớp sương mù chưa tan biến – khiến anh phải bước đi trên vỉa hè, sợ xe hơi đụng - ánh sáng mơ hồ của ngôi nhà nơi đặt trụ Sở của Ủy ban quân sự. Sương mù và màn đêm mờ đục: anh phải bật lên hộp quẹt máy để xem giờ. Quyết định bước nhanh, anh cặp cánh tay của May bên dưới của anh; nàng khẽ nép vào anh. Sau một vài bước, anh cảm thấy nơi thân người của May một tiếng nấc và một sự mềm nhũn bàng hoàng. “May!” Kyo vấp chân, té bò xuống vỉa hè, và đúng ngay vào lúc đứng lên, anh nhận lãnh một cú dùi cui thẳng tay nện xuống gáy. Anh ngã nằm dài xuống trở lại, phủ lên người nàng.

Ba cảnh sát bước ra từ một ngôi nhà nối bước theo người vừa ra tay. Một chiếc xe hơi không người đậu hơi xa đó một quãng. Chúng đẩy Kyo lên xe, xe lăn bánh và sau đó mới bắt đầu trói anh lại.

Khi May hồi tỉnh lại (cái mà Kyo tưởng là một tiếng nấc thật ra là một cú dùi cui đánh vào phía dưới mạn sườn) một tốp binh sĩ của Tưởng Giới Thạch đã canh giữ ngõ vào Ủy ban quân sự; vì lớp sương mù, nàng chỉ nhận ra chúng khi đến gần sát một bên. Nàng tiếp tục bước thẳng (nàng thở một cách mệt nhọc và thấm đau vì cú đánh) và trở lại nhà ông Gisors càng nhanh càng hay.

Nửa đêm

Ngay khi hay tin một trái bom được liệng vào Tưởng Giới Thạch, Hemmelrich đã chạy đi dò hỏi tin tức. Người ta cho anh biết là vị tướng đã chết và kẻ sát nhân đang bỏ trốn; nhưng, trước chiếc xe hơi bị lật ngược, nắp đậy bộ máy xe văng ra, anh ta trông thấy xác của Tchen trên vỉa hè - nhỏ bé và đầy máu, ướt đẫm sương mù - được canh giữ bởi một người lính ngồi bên cạnh và anh ta được biết vị tướng không có mặt trên xe. Một cách vô lý, anh cảm thấy như lời từ chối để cho Tchen trú ẩn là một trong những lý do đưa đến cái chết của gã; anh chạy đến Trụ sở thường trực của Cộng sản thuộc khu vực của anh, anh tuyệt vọng, và trải qua một giờ tại đó để bàn cãi một cách vô ích về cuộc mưu sát.

Một đồng chí bước vào.

- Hiệp hội các nhà máy sợi tại Chapei, vừa bị binh sĩ của Tưởng Giới Thạch phong tỏa.

- Các đồng chí đã không chống cự lại sao ?

- Tất cả những người nào phản đối đều bị xử bắn tức khắc. Tại Chapei, người ta xử bắn các cán bộ hoặc phong tỏa các ngôi nhà của họ... Ủy ban hành chánh tại thành phố vừa bị giải tán. Người ta đóng cửa các Hiệp hội.

Không có chỉ thị nào của Ủy ban trung ương. Những đồng chí có gia đình đã rút ngay sau đó, để mang vợ, con đi trốn.

Ngay khi bước ra ngoài, anh nghe những tràng đạn nổ, anh không sợ có thể bị nhận diện, nhưng trước hết cần phải mang cả vợ lẫn con đi trốn. Phía trước anh hai chiếc xe bọc sắt và những chiếc cam-nhông chở đầy binh sĩ của Tưởng Giới Thạch chạy qua trong lớp sương mù. Xa kia những tràng súng nổ, những tràng khác ở sát một bên. Không có bóng dáng binh sĩ trên đại lộ Hai nền Cộng Hòa, cũng như trên con đường mà tiệm buôn của anh làm thành một góc đường. Không, không còn bóng dáng binh sĩ. Cửa ra vào tiệm buôn mở rộng. Anh ta chạy đến: khắp nơi, trên mặt đất, những mảnh đĩa hát rải rác những vết máu to lớn. Tiệm buôn đã bị “dọn sạch” bằng lựu đạn, giống như một hầm trú ẩn. Người vợ ngã gục vào quầy hàng, gần như quỳ gối, ngực bị thương. Nơi một góc tiệm, một cánh tay trẻ em; bàn tay rời ra như vậy, có vẻ càng thêm nhỏ bé. “Miễn sao vợ con đều chết cả rồi!”. Hemmelrich thầm nghĩ. Anh ta lo sợ nhất là cơn hấp hối mà anh ta phải chứng kiến, bất lực, chỉ biết có khổ đau, như thường lệ – lo sợ hơn cả khi trông thấy những ngăn tủ kia lốm đốm máu và miếng lựu đạn. Xuyên qua lớp đế giày, anh ta cảm thấy mặt đất nhầy nhụa. “Máu của vợ con”. Anh ta vẫn đứng yên, không có can đảm động đậy, đưa mắt nhìn, đưa mắt nhìn... Anh ta cuối cùng cũng nhận ra được xác của đứa bé, gần bên cánh cửa đã che khuất nó. Xa kia hai trái lựu đạn nổ tung. Hemmelrich thoi thóp thở trong mùi máu tràn lan. Không có vấn đề chôn cất họ... Anh ta khép cánh cửa có khóa lại, vẫn đứng yên trước cửa.

Anh ta biết rằng mình đang khổ đau, nhưng một niềm dửng dưng bao quanh nỗi đau của anh, niềm dửng dưng tiếp sau những cơn bệnh và những cú đập vào đầu. Không có nỗi khổ đau nào khiến anh phải kinh dị; rốt lại, định mệnh lần này đã đánh trúng vào anh một đòn tuyệt diệu hơn cả. Cái chết không làm anh kinh dị; nó cũng bằng như đời sống. Điều duy nhất làm anh phải bàng hoàng là ý nghĩ rằng phía sau cánh cửa ấy có bao nhiêu máu là bao nhiêu sự đau đớn. Thế nhưng, lần này, định mệnh đã tỏ ra vụng về: bằng cách tước mất tất cả những gì anh ta có được, định mệnh đã giải thoát anh. Anh trở vào, khép cửa lại. Mặc dầu tinh thần suy sụp, mặc dầu cảm giác nhận phải cái gập đập vào bên dưới cổ, đôi vai kiệt sức, anh ta vẫn không làm sao xua đuổi, xao lãng niềm vui tàn khốc, nặng nề, sâu xa, của sự giải thoát. Với niềm ghê tởm và sự mãn nguyện, anh cảm nghe sự giải thoát ấy gào thét bên trong anh như thể một dòng sông ngầm đang đến gần; hai xác chết nằm đó, đôi chân dán chặt xuống đất của anh bị dán bằng máu vợ con, không có gì tầm thường hơn sự sát hại ấy – nhất là sát hại đứa bé bệnh hoạn: đối với anh nó càng vô tội hơn người đàn bà đã chết – nhưng giờ đây, anh không còn cảm thấy bất lực nữa. Giờ đây chính anh cũng có thể giết người. Đột nhiên anh phát giác được rằng sự sống không phải là hình thức giao tiếp duy nhất giữa con người, nó cũng không là hình thức tuyệt hảo nhất; rằng anh quen biết họ, yêu thương họ, chiếm hữu được họ trong niềm báo phục nhiều hơn trong sự sống. Anh nhận thấy thêm một lần nữa đế giày của mình dán xuống đất, và lảo đảo; các bắp thịt, phần chúng, không được tư tưởng trợ giúp. Nhưng một niềm phấn khởi tàn khốc làm tinh thần anh bấn loạn, niềm phấn khởi mạnh mẽ nhất mà anh chưa hề biết qua; anh buông thả vào cơn ngất ngây đáng sợ ấy với một sự thừa nhận hoàn toàn. “Người ta có thể giết người với tình thương. Với tình thương. Trời hỡi”. Anh ta lặp lại vừa đập nắm tay vào quầy hàng – chống lại vũ trụ không chừng... Anh ta vội rút bàn tay lại ngay, cổ họng thắt nghẹn, chực chờ bật thành tiếng nức nở: quầy hàng cũng đẫm máu. Anh nhìn dấu vết đã ngã màu nâu lợt trên bàn tay đang run rẩy của mình, như bị lay lắc bởi một cơn khủng hoảng thần kinh: những cái vảy da nhỏ bắt đầu tróc ra. Cười, khóc, thoát khỏi lồng ngực còm cõi, quặn thắt ấy... Không một vật gì động đậy, và sự dửng dưng mênh mông của thế giới cùng với ánh sáng im lìm trải lên các đĩa hát, các xác chết, trên máu người. Câu nói: “Người ta rứt lìa tay chân của tội nhân bằng những cây kềm nung đỏ” lên xuống trong đầu óc anh ta; anh ta trở nên xa lạ với nó kể từ ngày thôi học, nhưng giờ đây anh ta cảm thấy nó mơ hồ ngụ ý rằng anh phải lên đường, chính anh cũng phải trở nên khả dĩ nhưng anh không rõ bằng cách nào. Anh có thể bước ra ngoài, bắt đầu đi trong một cảm giác khoan khoái tiêu trầm bao phủ những vận xoáy hận thù không giới hạn. Cách ba mươi thước, anh dừng lại. “Mình đã để cánh cửa mở trên xác chết của vợ con”. Anh quay bước trở lại. Theo bước chân mỗi lúc mỗi lúc một gần lại, anh cảm thấy những tiếng nức nở đang tựu thành, đang thắt lại trong lồng ngực thấp hơn cổ họng, và cứ mãi ở đó. Anh nhắm mắt, kéo cánh cửa. Ổ khóa lách cách, cửa đã đóng. Anh bước đi trở lại. “Chuyện này chưa chấm dứt đâu,” anh ta vừa lảm nhảm vừa bước. “Chỉ mới bắt đầu, chỉ mới bắt đầu...”. Đôi vai nhô ra đằng trước, anh đi tới giống như người kéo thuyền hướng về một xứ hỗn loạn mà anh chỉ biết rằng ở đó người ta giết nhau, đôi vai và đầu óc anh kéo lê sức nặng của hai người thân yêu với anh đã chết, cuối cùng đã không còn ngăn cản anh tiến bước.

Đôi tay run rẩy, răng đánh vào nhau, bị cuốn theo sự tự do khủng khiếp của mình, anh ta trở lại Trụ sở thường trực trong vòng mười phút. Đó là một ngôi nhà chỉ có một lầu. Phía sau các cửa sổ, những tấm nệm chắc hẳn đã bị gỡ đi: mặc dù không có lá sách cửa, người ta vẫn không trông thấy những khoảng ánh sáng hình chữ nhật trong lớp sương mù, mà chỉ có những đường kẽ sọc xuôi. Sự yên tĩnh của con đường, gần như là một ngỏ hẻm, thật là hoàn toàn, và những tia nắng ấy khoác lấy độ sáng vừa nhỏ nhoi vừa chói chang của những mũi kim bị nung đỏ. Anh ta bấm chuông. Cánh cửa ra vào hé mở: người ta nhận ra anh. Phía sau, bốn người cán bộ, khẩu Mauser nơi tay, nhìn anh đi qua. Giống như các bầy côn trùng, hành lang rộng lớn có một sinh hoạt giăng mắc nhưng sự chuyển động rõ ràng; tất cả đều bắt đầu từ nơi cái hầm; tầng lầu vắng tanh. Hai người thợ bố trí riêng trên đầu cầu thang một khẩu trung liên chong xuống hành lang. Khẩu súng không lấp lánh nhưng nó kêu gọi sự chú ý giống như cây thánh giá trong một giáo đường. Các sinh viên, các người thợ chạy tới chạy lui. Anh đi qua mấy bó kẽm gai (chúng có thể giúp ích được gì không?) lên cầu thang vòng qua khẩu trung liên và đến nơi cầu thang. Katow từ một phòng giấy đi ra, và cũng nhìn anh như thể cật vấn. Không có gì cả, anh ta giơ hai bàn tay đẫm máu.

“Bị thương à? Có băng bó nơi tầng dưới. Đứa bé được giấu kín không?”

Hemmelrich không thể nào cất tiếng. Anh ta cứ một mực giơ hai bàn tay với vẻ ngu động. “Máu vợ con”, anh ta thầm nghĩ. Nhưng điều ấy làm sao nói lên được.

- Tôi có một con dao, cuối cùng anh ta nói. Cho tôi một khẩu súng.

- Không có nhiều súng.

- Lựu đạn vậy.

Katow lưỡng lự.

- Anh cho rằng tôi sợ sao, đồ chó má!

- Xuống đi: lựu đạn ở trong những cái thùng. Không có nhiều... Anh có biết Kyo ở đâu không?

- Không thấy. Tôi có trông thấy Tchen: anh ta đã chết rồi.

- Tôi biết...

Hemmelrich đi xuống. Cánh tay giơ lên ngang vai, các đồng chí lục soát trong một cái thùng đã mở nắp. Vũ khí tích trữ như vậy là đã cạn. Những người rối rít ấy cử động trong ánh sáng rực rỡ của ngọn đèn – hầm không có cửa sổ – và những khối người vạm vỡ ấy chung quanh cái thùng, hiện ra sau khi Hemmelrich trông thấy những cái bóng lướt qua dưới các ngọn đèn bị che lại nơi hành lang, khiến anh ta ngạc nhiên như thể, trước cái chết, những người này đột nhiên được sống một cuộc đời mãnh liệt hơn những kẻ khác. Anh ta nhét đầy túi, trở lên lại. Những người khác, những cái bóng đã bố trí xong khẩu trung liên và đặt các bó kẽm gai phía sau cửa ra vào, hơi lùi về phía sau để người ta có thể mở cửa: những tiếng chuông bấm mỗi phút một reo lên. Anh ta nhìn qua cái lỗ đục trong cánh cửa; con đường đầy sương mù vẫn yên tĩnh và hoang vắng; các đồng chí đi đến, hình dạng trong lớp sương mù giống như những con cá trong màu nước đục, dưới bóng đổ dài của những mái nhà. Anh ta quay vào để đi tìm lại Katow; hai tiếng chuông hối hả cùng lúc với một tiếng súng nổ và một tiếng thở ngột ngạt, kế, một thân người ngã xuống. “Chúng tới” nhiều người gác cửa cùng lúc la lên. Sự yên lặng rơi phủ xuống hành lang, có tiếng lầm thầm của những giọng nói và tiếng va chạm vũ khí cất lên từ cái hầm. Những người có mặt đến nơi vị trí chiến đấu.

1 giờ rưỡi

Clappique, uống lấy sự dối trá của mình như người khác uống lấy sự say sưa của họ, tiến bước trong hành lang của khách sạn Trung Hoa nơi những người phụ việc, gập người lên một cái bàn tròn bên dưới tấm bảng điểm danh, nhổ vải chung quanh các ống bỏ những hột hướng nhật quỳ. Ông biết rằng mình sẽ không ngủ. Ông buồn bã mở cửa phòng, liệng cái áo ngắn lên quyển sách gối đầu giường Truyện hoang đường của Hoffmann và rót rượu uýt-ky. Có một cái gì thay đổi trong phòng này. Ông cố gắng không nghĩ đến nó: sự thiếu vắng khó giải thích của một vài đồ vật thật đáng lo ngại. Ông đã thoát được gần hết những gì mà trên đó con người gây dựng đời sống của họ: tình yêu, gia đình, việc làm; nhưng không thoát được nỗi lo sợ. Nó nhô lên từ nơi ông, giống như một ý thức nhức nhối về sự cô đơn của mình; để xua đuổi nó, ông thường hay chui vào “Black Cat” ở gần nhất. Đêm nay không thể được: rã rời, chán chê vì sự dối trá và những thân tình tạm bợ... Ông nhìn vào gương, bước tới: “Dù sao, ông bạn ạ, ông nói với Cappique trong gương, tại sao lại phải buồn, nghĩ cho cùng? Tất cả những chuyện này sẽ còn kéo dài trong bao lâu nữa? Ngươi đã có một người vợ: hãy bỏ qua! ô! hãy bỏ qua! Nhân tình, tiền bạc; ngươi lúc nào cũng có thể nghĩ đến những thứ ấy khi nào cần có những bóng ma để mặc kệ bản thân ngươi. Câm miệng lại! Ngươi có những năng khiếu, theo như lời thiên hạ, về sự kiểu cách, mọi đức tính cần thiết để sống đời chùm gởi: người bao giờ cũng có thể thành bồi phòng cho Ferral khi tuổi tác đưa ngươi đến sự tận thiện tận mỹ. Cũng có cả nghề thượng lưu, ngủ bờ, ngủ bụi, cảnh sát và sự tự tử. Ma cô à? Lại thói ham mê những điều cao cả. Còn lại sự tự tử à, ta nói cho ngươi. Nhưng ngươi không muốn chết. Ngươi không muốn chết, thằng khốn! Dù rằng, hãy nhìn xem, ngươi có một bản mặt đẹp đẽ mà người ta thích trồng vào những người chết”.

Ông xáp lại gần thêm nữa, mũi gần như chạm vào tấm gương; ông làm méo mó bộ mặt của mình, miệng há ra, nhăn nhó trông giống như miệng ống xối; và, như thế bộ mặt trả lời ông:

“Không ai được quyền chết sao? Dĩ nhiên: phải cần tất cả để làm thành một thế giới. Ồ, khi ngươi chết, ngươi sẽ lên Thiên đàng. Và như vậy Chúa hào hiệp trên trời sẽ được xem như cùng bọn với một người theo loại nhà ngươi...”

Ông làm biến đổi khuôn mặt, miệng ngậm lại, trề xuống phía dưới cằm, đôi mắt hé mở, theo lối hiệp sĩ giả trang. Và liền sau đó, ông bắt đầu nhăn nhó, biến thành khỉ, thành thằng khờ, kẻ sợ hãi, thành người bị sưng, tất cả những gì kỳ quái mà một khuôn mặt người có thể diễn tả được, như thể nỗi lo âu mà những lời nói không đủ để diễn tả được phô bày trực tiếp bằng tất cả mãnh lực của nó. Sự phô bày ấy đã không còn lấy làm đủ nữa: ông ta dùng đến các ngón tay, kéo chằn khóe mắt, bành rộng cái miệng cho giống với miệng cóc của người đang cười, kéo chằn lỗ tai. Sự lạm dụng cái trò quái dị ấy trong căn phòng lẻ loi với sương mù chồng chất nơi cửa sổ, khoác lấy tính cách khôi hài của sự điên khùng. Ông nghe thấy tiếng cười của mình – một âm thanh duy nhất thuộc giọng người, cùng một âm thanh với má ông; và bất chợt khám phá ra khuôn mặt của mình, ông lùi lại và ngồi xuống, thở hổn hển. Có một tập giấy trắng và một cây viết chì trên ghế tựa.

Ông bắt đầu viết:

“Rốt cuộc, ngươi sẽ lên ngôi thiên tử, lão Tô tô của ta. Thiên tử; sống ấm cúng, nơi một dưỡng trí viện tiện nghi, nhờ ở chứng trúng tửu cuồng, người bạn duy nhất của ngươi, nếu ngươi tiếp tục uống rượu. Nhưng giờ phút này, ngươi có say rượu không?”

Có tiếng gõ cửa.

Ông ta sực tỉnh lại. Được giải thoát nhưng hoảng hốt. Lại có tiếng gõ cửa.

“Cứ vào”

Áo choàng len, mũ nón màu đen, mái tóc bạc: ông Gisors.

- Nhưng... tôi... tôi..., – Clappique ấp úng.

- Kyo vừa bị bắt, – ông Gisors nói. – Ông có quen với Konig, phải không?

- Tôi... Nhưng tôi không có liên quan gì...

“Miễn sao ông ta đừng quá say” ông Gisors thầm nghĩ.

- Ông có quen với Konig phải không? – Ông ta lên tiếng trở lại.

- Có, tôi, tôi... có quen với hắn. Tôi có giúp hắn ta một việc. Việc trọng đại.

- Ông có thể nhờ hắn giúp một việc không?

- Tại sao không? Nhưng việc gì?

- Với vai trò chỉ huy ngành An ninh của Tưởng Giới Thạch, Konig có thể ra lệnh trả tự do cho Kyo. Hay ít ra ngăn chặn nó khỏi phải bị xử bắn: đó là điều khẩn cấp nhất, phải không.

- Đồng... Đồng ý...

Dù vậy ông không mấy tin tưởng đến sự biết ơn của Konig; ông nhận thấy là vô ích và có lẽ thiếu thận trọng nếu đến thăm viếng hắn, cho dù sau khi có những lời chỉ dẫn của Chpilewski.

Ông ngồi trên giường, cúi gằm đầu xuống. Ông không dám lên tiếng. Giọng nói của ông Gisors chứng tỏ ông ta không mảy may nghi ngờ Clappique có trách nhiệm trong việc bắt giữ ấy: ông Gisors nhìn thấy nơi Clappique người bạn đã đến báo tin cho Kyo hồi xế trưa, chứ không là người đánh bạc vào giờ có cuộc hẹn. Nhưng Clappique không thể yên tâm được. Ông ta không dám nhìn Gisors, và không tự trấn tĩnh lại được. Ông Gisors tự hỏi không hiểu Clappique nhô ra từ thảm kịch nào hay từ sự cuồng vọng nào, không đoán được rằng chính sự hiện diện của mình là một trong những nguyên nhân tạo thành hơi thở hổn hển ấy. Clappique xem như ông Gisors buộc tội mình:

- Ông biết không, ông bạn, rằng tôi không... dù sao cũng không điên khùng; tôi, tôi...

Ông ta không thể ngừng ấp úng; đôi khi ông ta xem như ông Gisors là người duy nhất hiểu rõ mình, và đôi khi ông ta cho rằng ông Gisors xem mình như một thằng hề.

Ông Gisors nhìn Clappique không nói gì cả.

“Tôi, ông nghĩ thế nào về tôi?”

Ông Gisors muốn nắm lấy vai của Clappique và đưa đến Konig hơn là trò chuyện với ông ta; nhưng một sự bấn loạn ngần ấy hiện ra dưới cơn say mà ông đã gán cho Clappique khiến ông Gisors không dám từ chối nhập cuộc.

“Có những người cần viết lách, những người cần mơ mộng, những người cần nói chuyện... Cũng đều là những việc giống nhau cả. Sân khấu thì không nghiêm chỉnh, cuộc đua bò mộng mới thật là nghiêm chỉnh; nhưng tiểu thuyết thì không nghiêm chỉnh, sự bịa chuyện hoang đường mới thật là nghiêm chỉnh”.

Clappique đứng lên.

- Ông bị đau nơi cánh tay à? – Ông Gisors hỏi.

- Một sự đau đớn toàn thân. Không sai vào đâu được...

Clappique vừa mới trở cánh tay một cách vụng về để che giấu đồng hồ dưới con mắt nhìn của ông Gisors, như thể cái đồng hồ ấy đã phản bội ông, đã chỉ ngay cái giờ nơi sòng bạc.

- Bao giờ ông sẽ đi gặp Kobig?

- Sáng mai được không?

- Tại sao không ngay bây giờ? Cảnh sát không có nghỉ ban đêm, – ông Gisors chua chát nói, – và mọi việc đều có thể xảy ra...

Clappique không đòi hỏi gì hơn. Không phải vì hối hận; nếu lại có mặt nơi sòng bạc, ông ta lại cũng sẽ nán lại ở đó – mà vì sự đền bù.

“Hãy ba chân bốn cẳng, ông bạn...”

Sự thay đổi mà ông ta đã nhận thấy khi vừa bước vào phòng khiến ông ta lo âu trở lại. Ông ta chăm chú nhìn, kinh ngạc vì đã không trông thấy sớm hơn: một trong số các bức họa theo tinh thần đạo Lão “để ru hồn vào cõi mộng” và hai cái tượng đẹp nhất của ông đã biến mất. Trên mặt bàn, một bức thư: nét chữ của Chpilewski. Ông ta đoán được nội dung nhưng không dám đọc nó. Chpilewski đã báo trước cho ông ta rằng Kyo bị đe dọa: đã khinh xuất nói về anh ta, Chpilewski không thể tự ngăn cấm đừng kể hết mọi chuyện. Ông ta cầm bức thư lên và bỏ vô túi. Khi hai người trở ra ngoài, họ bắt gặp những chiếc xe hơi bọc sắt và các chiếc cam-nhông chở đầy lính.

Clappique không hoàn toàn lấy lại được sự bình tĩnh; để che đậy sự bối rối mà ông ta vẫn chưa bỏ được, ông ta giả điên điên khùng khùng, như thường lệ.

- Tôi muốn làm pháp sư, gởi đến quốc vương một nước Hồi giáo một con kỳ lân – một con kỳ lân, tôi nói với ông – sẽ xuất hiện dưới màu vàng rực rỡ nơi lâu đài, vừa hét lên: “Này, quốc vương, hãy biết rằng nàng chánh hậu đã phản bội ngươi! Câm miệng lại!” Chính tôi, dưới lốt kỳ lân, tôi cũng sẽ cừ khôi, với cái mũi của tôi! Và, dĩ nhiên, sẽ không đúng đâu. Người ta sẽ cho là không một người nào biết được rằng sống dưới mắt người khác một cuộc đời khác hơn cuộc đời mình đang sống thì khoái trá dường nào. Nhất là dưới mắt một người đàn bà...

- Người đàn bà nào lại không tạo ra một cuộc đời không đúng thật ít ra cũng đối với một người đàn ông đã cặp theo họ ngoài đường?

- Ông... tin rằng mọi người đều là những người bịa chuyện hay sao? – Đôi mí mắt của Clappique nhấp nháy một cách nóng nảy; ông ta bước chậm lại.

“Không, – này, ông ta nói, – hãy thẳng thắn cho tôi biết tại sao ông tin rằng họ như vậy?”

Giờ đây ông ta cảm thấy nơi ông một ước muốn lạ lùng, một cách quái gở đối với ông nhưng thật là mãnh liệt, được hỏi xem ông Gisors nghĩ thế nào về sự đánh bạc; và thế nhưng, nếu nói về sự đánh bạc, chắc chắn là ông ta sẽ thú nhận tất cả. Ông ta sẽ nói ra chăng? Sự im lặng hẳn sẽ ép buộc ông ta nói; may thay, ông Gisors trả lời:

- Có lẽ tôi là người ít thành thạo nhất để trả lời ông. Thuốc phiện chỉ dạy có một điều là ngoài sự đau đớn thể xác, không có cái gì thực tế.

- Sự đau đớn, phải... Và... nỗi lo sợ thì sao?

- Nỗi lo sợ à?

- Ông không hề cảm thấy lo sợ trong khi... hút sao?

- Không? Tại sao?

- A!...

Sự thật, ông Gisors nghĩ rằng thế giới không có thật, nhưng con người và ngay cả những người chống đối lại thế giới nhiều nhất, phần họ, lại là một thực tế rất bền vững; Clappique, quả thật là một trong số rất hiếm hoi những người không hề có một thực tế nào. Và ông Gisors cảm thấy như vậy với niềm lo âu, vì đã giao phó tính mạng của Kyo vào đôi tay sương mù ấy. Bên dưới những thái độ của bất kỳ người nào là một đáy sâu người ta có thể chạm tới, và nghĩ đến nỗi đau khổ của họ là có thể dự đoán được tính chất của nỗi đau ấy. Nỗi đau khổ của Clappique độc lập với con người ông, giống như của một đứa trẻ; ông ta không có trách nhiệm về nó; nó có thể hủy diệt ông ta, nó không biến đổi được ông ta. Ông ta có thể ngưng hiện hữu, biến mất vào một thói xấu, vào một tính thiên chấp, ông ta không thể trở thành một người. “Một trái tim vàng, nhưng rỗng”; ông Gisors bắt gặp nơi tâm khảm của Clappique không phải nỗi đau khổ cũng không có niềm cô đơn, mà là sự cảm giác. Ông Gisors đôi khi nhận xét con người bằng cách phỏng đoán tuổi già của họ: Clappique không thể nào già được; tuổi già không đưa ông ta tới sự từng trải của con người mà là đưa tới sự thụ độc – nhục dục hay ma túy – nơi cuối cùng chung dụng tất cả các phương tiện lãng quên cuộc đời của ông. “Có thể, vị nam tước thầm nghĩ, nếu mình kể tất cả, ông ta sẽ cho là hoàn toàn bình thường”. Giờ đây người ta nổ súng khắp nơi trong thành phố Trung Hoa. Clappique van nài ông Gisors hãy tách rời nhau tại lằn ranh tô giới: Konig sẽ không tiếp ông ta. Ông Gisors nhìn cái bóng gầy ốm và quýnh quáng của Clappique biến mất vào lớp sương mù.

Phân đội cảnh sát đặc biệt của Tưởng Giới Thạch trú đóng trong một biệt thự đơn giản được xây cất vào khoảng năm 1920, theo kiểu Bécon-les-Bruyéres, nhưng các cửa sổ được viền quanh bằng những mẫu vật trang hoàng quái dị của Bồ Đào Nha, màu vàng và xanh nhạt. Có hai người lính gác và không có những người lính sai không còn thích hợp nữa: mọi người đều được võ trang; chỉ có vậy. Trên tập phiếu mà một người thư ký đã trao cho ông, Clappique viết “Tô tô”, bỏ trắng lý do cuộc thăm viếng, và chờ đợi. Đây là lần đầu tiên ông ta hiện diện ở một nơi được thắp sáng kể từ lúc ông ta rời khỏi phòng mình: ông ta lấy từ trong túi áo ra bức thư của Chpilewski.

“Ông bạn thân mến.

Tôi thuận theo sự nài nỉ của ông. Những ái ngại của tôi không phải vô căn cứ, nhưng tôi đã suy nghĩ: như vậy ông sẽ cho phép tôi bình thản trở lại, và những lợi tức mà công cuộc làm ăn của tôi đã hứa hẹn, ngay lúc này, tỏ ra quan trọng và bảo đảm đến mức chắc chắn tôi có thể, trước thời hạn một năm, cống hiến cho ông đồ vật cùng loại, và đẹp hơn để cảm tạ. Sự mua bán thực phẩm, tại thành phố này...”

Tiếp theo là bốn trang giải thích.

“Câu chuyện cò mồi không êm thấm, Clappique thầm nghĩ, hoàn toàn không êm thấm...” Nhưng một người lính gác đã đến tìm ông. Konig chờ đợi, ngồi nơi bàn giấy, đối diện với cửa ra vào. Mập mạp, tóc đen, mũi lệch trên khuôn mặt vuông, hắn bước về phía ông, siết tay một cách mau lẹ và mạnh bạo làm họ xa cách với nhau nhiều hơn là gần lại. “Mạnh giỏi. Được rồi. Tôi biết hôm nay tôi sẽ gặp lại ông. Tôi lấy làm sung sướng được đến phiên tôi giúp ông”.

- Ông rất là đáng kể, – Clappique trả lời pha trò một nửa. – Tôi chỉ thắc mắc không hiểu có ngộ nhận không: ông cũng biết tôi không làm chính trị...

- Không có ngộ nhận.

Hắn ta có lối biết ơn cũng niềm nở, Clappique thầm nghĩ.

- Ông có hai ngày để trốn đi. Trước kia ông đã giúp tôi; ngày nay, tôi có cho báo trước với ông.

- Sao? Chính ông đã báo trước với tôi à?

- Ông tin rằng Chpilewski dám cả gan như vậy sao?

- Ông có chuyện rắc rối với sở Công an Trung Hoa, nhưng không còn do chính người Trung Hoa điều khiển nữa. Xong các chuyện nhảm nhí.

Clappique bắt đầu thán phục Chpilewski, nhưng không khỏi phẫn nộ. “Dù sao, ông ta lên tiếng trở lại, ông cũng cho phép tôi được hỏi thăm một chuyện khác vì ông không muốn tỏ ra quên tôi”.

- Chuyện gì?

Clappique không còn nuôi nhiều hy vọng: mỗi câu trả lời của Konig đều chứng tỏ cho ông tình bạn mà ông ta đặt tin tưởng vào đó đã không hề có, hay không còn nữa. Konig đã báo tin trước cho ông, hắn ta không còn nợ nần gì ông nữa. Chính vì để lương tâm được hơn là vì hy vọng mà ông nói.

- Có phải người ta sẽ không giúp đỡ được gì cho gã Gisors? Ông không màng gì đến tất cả chuyện ấy, theo tôi nghĩ...

- Gã thuộc thành phần nào?

- Cộng sản, chắc vậy.

- Trước hết tại sao gã là Cộng sản chớ? Tại vì ba gã? Tại vì gã mang hai dòng máu? Hay tại vì không tìm được chỗ làm?

Một người thợ dù là Cộng sản cũng đã ngu xuẩn rồi, nhưng còn gã! Dù sao kể nghe thử.

- Chuyện ấy không thể tóm tắt một cách dễ dàng...

Clappique suy nghĩ.

“Hai dòng máu, có lẽ... nhưng gã có thể dàn xếp: mẹ gã là người Nhật. Gã đã không thử làm”. Ông ta nói một câu hình như là: “do ý chí muốn thành đạt phẩm cách”.

- Vì phẩm cách!

Clappique sững sờ: Konig to tiếng với ông. Ông ta không ngờ chữ ấy có hậu quả như vậy. Mình đã vụng về câu nói ư? Ông ta tự hỏi.

- Trước hết, nó có nghĩa gì chớ? – Konig hỏi, ngón tay trỏ lắc lư như thể hắn tiếp tục nói mà người ta không nghe hắn. – “Vì phẩm cách” – hắn lập lại. Clappique không thể xem thường giọng điệu câu nói của hắn: nó là của sự thù hận. Hắn ngồi bên mặt Clappique, và cái mũi nghiêng lệch của hắn, như vậy trông có vẻ quặp hẳn xuống, càng vót nhọn khuôn mặt.

- Này, ông bạn Tôtô nhỏ bé của tôi, ông tin nơi phẩm cách?

- Nơi người khác...

- Thật à?

Clappique im bặt.

- Ông có biết những gì các phần tử Cộng sản đã dành cho các sĩ quan bị cầm tù không?

Clappique vẫn giữ ý không trả lời. Câu chuyện trở nên nghiêm trang.

Và ông cảm thấy câu nói ấy là một sự chuẩn bị, một trợ lực mà Konig tự dành cho hắn: hắn không chờ câu trả lời.

- Tại Sibérie, tôi làm thông ngôn nơi một trại tù. Tôi rời khỏi được nơi ấy bằng cách phục vụ cho quân Bạch Nga, dưới quyền Semenoff. Đỏ, Trắng, tôi cóc cần; tôi muốn về lại Đức. Tôi bị bọn Đỏ bắt giữ. Tôi gần như chết vì lạnh. Chúng đập những nắm tay vào mặt tôi, vừa gọi tôi bằng Đại úy (khi ấy tôi là Trung úy) cho đến lúc tôi ngã quỵ. Chúng dựng tôi lên.

Hắn ngừng nói: “Hắn có thể từ chối mà không cần phải kể lể ngần ấy câu chuyện”. Clappique thầm nghĩ. Hổn hển, nặng nề, giọng nói ấy hàm chứa một sự thiết yếu mà dù vậy ông ta vẫn tìm cách để hiểu. “Chúng đóng vào một bên vai tôi một cái đinh, xuyên qua mỗi ngôi sao. Dài như một ngón tay. Hãy nghe cho rõ, ông bạn Tôtô bé nhỏ của tôi.”

Hắn nắm lấy cánh tay ông, nhìn đăm đăm vào đôi mắt ông bằng một cái nhìn lờ đờ.

“Tôi đã khóc như đàn bà, như bò con...

Tôi đã khóc trước mặt họ. Ông hiểu không? Hãy dừng lại ở đây.

Không có ai mất mát một điều gì”.

Chắc chắn hắn kể lại chuyện ấy – hay tự kể lại chuyện ấy – mỗi lần hắn có thể giết chóc, như thể chuyện kể ấy có thể cào đến rướm máu mối sỉ nhục vô bờ đã giày vò hắn.

- Ông bạn bé nhỏ của tôi, tốt hơn là nên nói nhiều với tôi về phẩm cách... Phẩm cách của tôi riêng cho tôi, là giết chúng. Ông muốn tôi phải xem nó như thế nào đây chớ, cái nước Trung Hoa! Hừ! Trung Hoa! Tôi không đùa! Tôi ở trong Quốc dân Đảng cốt để có thể ra lệnh giết người. Tôi chỉ sống lại ngày trước, như một người, như bất cứ người nào, như cái tên ngốc hạng bét trong những ngu ngốc vừa đi ngang qua cửa sổ này, khi nào ở đó người ta giết người. Cũng giống như những người nghiện thuốc với cái tẩu dọc của họ. Ông đến để xin tha cho gã à? Ông có cứu mạng tôi ba lần đi chăng nữa...

Hắn nói giữa hai hàm răng, nhưng người không động đậy, bàn tay thọc vào túi, mái tóc hớt cao lay lắc vì những chữ khạc ra.

- Có sự phai mờ... – Clappique khẽ nói.

- Hơn một năm nay, tôi không ăn nằm với một người đàn bà! Như vậy đối với ông đã đủ chưa? Và...

Hắn im bặt, kế cất tiếng trở lại giọng thấp hơn.

- Nhưng mà này, ông bạn Tôtô nhỏ bé của tôi, gã Gisors, gã Gisors... Ông nói đến sự ngộ nhận, ông vẫn có ý muốn biết tại sao ông bị buộc tội phải không? Tôi sẽ nói cho ông rõ. Chính ông đã điều đình việc mua bán số súng trên chiếc Shantung phải không? Ông có biết số súng được dành để giao cho ai không?

- Người ta không hề đặt câu hỏi khi làm nghề này. Không một câu hỏi nào cả.

Ông ta đưa ngón tay trỏ gần lại với cái miệng của mình theo những cựu lệ thuần túy nhất của ông. Hắn liền tỏ vẻ khó chịu ngay.

- Dành cho Cộng sản. Và vì ông đã liều tính mạng của mình cho việc ấy, đáng lẽ người ta phải nói cho ông rõ. Đó là một sự lường gạt. Chúng lợi dụng ông để đốt giai đoạn: cũng chính ngay đêm ấy chúng đã cướp phá con tàu. Nếu không quá lời, chính con người hiện tại ông muốn che chở đã đẩy ông vào nội vụ?

Clappique suýt trả lời: “Dù sao tôi cũng đã lãnh xong phần tiền huê hồng của tôi...”. Nhưng sự phát giác mà người đối thoại vừa dành cho ông đã tạo trên khuôn mặt của hắn một sự thỏa mãn đến nỗi vị nam tước chỉ còn muốn rời khỏi nơi này. Mặc dù Kyo đã giữ tròn lời hứa, gã đã khiến ông liều lĩnh cuộc đời ông mà không nói cho ông biết. Ông có liều lĩnh cuộc đời của mình không. Không. Kyo có lý để xem trọng lý do của gã hơn tính mạng của ông. Ông có lý do để không quan tâm đến Kyo. Càng có lý hơn nữa khi thật ra ông không thể làm được gì cả. Ông ta chỉ rún vai.

- Vậy là tôi còn bốn mươi tám tiếng đồng hồ để chuồn đi phải không?

- Phải. Ông đừng nằn nì. Ông có lý. Xin chào.

“Thường lệ, chắc hắn đã phải tâm tình như vậy với những bậc cầu thang; dù sao quả thật tốt hơn hết là mình nên chuồn đi”. Ông không quên được giọng điệu mà Konig đã nói: “Để sống như một người, như bất cứ người nào...” Ông ta vẫn còn ngây dại vì sự phụ thuộc hoàn toàn ấy, chỉ có máu mới làm khuây khỏa được: hắn đã trông thấy khá nhiều những kẻ trôi giạt từ các cuộc nội chiến tại Trung Hoa và Sibérie để biết được rằng sự sĩ nhục tàn khốc đã kêu gọi con người phủ nhận đến mức nào thế giới loài người; chỉ có máu một mực đổ ra, ma túy và bệnh thần kinh suy nhược mới nuôi dưỡng được những nỗi cô đơn như vậy. Giờ đây ông ta biết rõ tại sao Konig đã yêu mến tập đoàn của hắn và biết rằng, bên cạnh hắn, mọi thực tại mờ nhạt đến mức nào. Ông ta chậm bước, kinh hãi vì trông thấy ông Gisors đang chờ đợi mình bên kia hàng rào kẽm gai. Biết nói gì đây? Đã quá muộn; ông Gisors vừa nhô ra khỏi lớp sương mù, cách ông ta hai thước, bị thúc đẩy vì sự nôn nóng, bước về phía ông ta. Ông Gisors nhìn Clappique bằng đôi mắt trợn trừng dự tợn của người điên. Clappique sợ hãi, dừng bước. Ông Gisors đã nắm lấy cánh tay Clappique.

- Không có cách gì phải không? – Ông Gisors hỏi bằng một giọng buồn bã, nhưng không thay đổi thanh sắc.

Không trả lời, Clappique lắc đầu:

“Đi. Tôi đến nhờ một người bạn khác”.

Khi trông thấy Clappique nhô ra khỏi lớp sương mù, ông Gisors phát giác được sự điên khùng của chính mình. Mọi cuộc đối thoại ông đã hình dung giữa hai người, đều tỏ ra vô lý khi vị nam tước trở lại: Clappique không phải là một người thông ngôn cũng không phải là một sứ giả, ông ta là một lá bài. Lá bài đã đánh xuống – thua, và mặt Clappique đã cho thấy điều ấy – cần phải có một lá bài khác.

Tràn ứ nỗi lo âu, niềm thống khổ, ông Gisors vẫn tỏ ra sáng suốt nơi tận cùng sự thất vọng của mình. Ông Gisors nghĩ đến Ferral, nhưng Ferral sẽ không can thiệp trong một cuộc tranh chấp loại này.

Konig đã gọi một người thư ký.

“Ngày mai, mang gã Gisors đến đây”.

5 giờ sáng

Bên trên những ánh chớp ngắn màu vàng nhạt của những tiếng súng nổ lúc tàn đêm Katow và Hemmelrich trông thấy, từ nơi những cửa sổ của tầng lầu thứ nhất, buổi bình minh làm hiện ra những tia phản chiếu màu chì trên các mái nhà lân cận, cùng lúc những ngôi nhà nhìn nghiêng trở nên rõ rệt. Tóc rũ xuống, sắc mặt nhợt nhạt, mỗi người lại bắt đầu phân biệt khuôn mặt của người khác, và biết rõ người ấy đang nghĩ gì. Ngày cuối cùng. Gần như đã hết sạch đạn. Không một phong trào quần chúng nào đến tiếp cứu họ. Những tràng đạn, phía Chapei; những người đồng chí bị bao vây như họ, Katow đã giải thích cho Hemmelrich rõ tại sao họ thất bại: các binh sĩ của Tưởng Giới Thạch sẽ thừa dịp nào đó để mang đến những khẩu đại bác nòng nhỏ mà vệ binh của họ Tưởng đã sử dụng. Ngay khi một khẩu nào trong số các khẩu đại bác đó có thể mang được vào bên trong ngôi nhà đối diện với Trụ sở thường trực, nệm và tường sẽ rơi như nơi buổi chợ phiên. Khẩu trung liên của các phần tử Cộng sản vẫn còn chong xuống cửa ra vào ngôi nhà này; khi nào hết đạn, nó sẽ thôi không chong xuống đó nữa. Cũng không còn bao lâu nữa. Họ đã bắn một cách điên cuồng, thúc đẩy bởi một niềm báo thù giả tưởng: bị treo án tử, giết hại là ý nghĩa duy nhất mà họ có thể mang lại cho những giờ phút cuối cùng của mình. Nhưng họ cũng đã bắt đầu mệt mỏi vì điều ấy. Kẻ thù, ẩn núp mỗi lúc một thêm kín đáo, chỉ xuất hiện một cách hiếm hoi. Hình như cuộc giao tranh giảm dần theo bóng đêm – và, một cách phi lý, cái ngày đang rạng lên ấy không để lộ một bóng thù nghịch nào, đã mang lại sự giải thoát cho họ, như đêm tối đã mang lại cho họ sự tù hãm. Ánh chiếu của buổi mai, trên các mái nhà, ngã màu xám nhạt; bên trên cuộc giao tranh đã ngưng lại, ánh nắng hình như hút vào nó từng tiếng đêm rộng lớn, chỉ để lại trước các ngôi nhà những khoảng chữ nhật màu đen. Những bóng tối thu ngắn lại dần dần; nhìn vào chúng khiến quên đi những người sắp sửa chết ở đây. Những bóng tối ấy co rút lại như mọi ngày bằng sự chuyển động trường cửa của chúng, một cách trang nghiêm man rợ sáng nay, vì họ sẽ không bao giờ còn trông thấy lại chúng. Đột nhiên, tất cả các cửa sổ đối diện sáng lên, và các viên đạn bay vã vào chung quanh cửa ra vào: một người trong số họ đã trồng một cái áo ngắn lên đầu một cây gậy. Địch hài lòng với nơi ẩn núp của chúng.

- Mười một, mười hai, mười ba, mười bốn, – Hemmelrich nói: Anh ta đếm những cái xác, giờ đây hiện rõ ngoài đường.

- Tất cả những xác ấy đều là trò đùa, – Katow trả lời bằng giọng gần như lầm thầm. – Chúng chỉ có việc chờ đợi. Ban ngày là dành cho chúng.

Chỉ có năm người bị thương nằm trong căn phòng; họ không rên rỉ; hai người hút thuốc, vừa nhìn buổi mai hiện ra giữa bức tường và các tấm nệm. Xa hơn, Souen và một chiến sĩ khác canh giữ cửa sổ thứ nhì. Gần như không còn nghe những tràng đạn nổ. Các đoàn quân của Tchen có chờ đợi ở khắp nơi không? Là kẻ chiến thắng, tháng trước đây, các phần tử Cộng sản đã biết rõ những diễn tiến của họ từng giờ một; hôm nay họ không biết được gì cả, giống như những kẻ chiến bại hồi ấy.

Như để xác nhận lời nói vừa nói của Katow, cửa ra vào của ngôi nhà bên địch mở ra (hai hành lang đối diện nhau); tức thời, tiếng nổ ran của một khẩu trung liên đã tiết lộ vị trí cho các phần tử Cộng sản... “Chúng bắn từ phía mái nhà”. Katow thầm nghĩ.

“Ở đây!”

Chính những xạ thủ trung liên đồng đội đã gọi. Hemmlrich và Katow chạy ra, và chợt hiểu: khẩu trung liên địch, chắc hẳn được che chở bởi một lớp sắt bọc, bắn không ngừng. Không có những phần tử Cộng sản tại hành lang của Trụ sở thường trực, vì họ đang ở dưới làn đạn của chính khẩu trung liên của họ, từ nơi những bậc cao nhất của cầu thang, chong thẳng xuống ngã vào của địch. Những lớp sắt bọc, giờ đây, đã che chở cho chúng. Dù vậy, trước hết, cần phải duy trì hỏa lực. Người lính điều chỉnh ngả sang một bên, chắc đã tử thương; chính người xạ thủ đã la lên. Anh ta bắn từng viên băng đạn được nạp xong. Những viên đạn làm tung lên những mảnh gỗ của các bậc thang, lớp vôi hồ của bức tường, và những âm thanh dằng dặc, giữa những thoáng im lặng không từng quen thuộc, đã chứng tỏ có những viên đạn chui vào da thịt của người sống hoặc đã chết. Hemmelrich và Katow lao đến “Để tôi”, người Bỉ hét lên. Anh ta húc vai vào người điều chỉnh khẩu súng. Giờ đây địch bắn thấp hơn một chút. Chỉ trong khoảnh khắc: “Còn băng đạn nào nữa không?” Hemmelrich hỏi. Thay vì trả lời, người xạ thủ nhắm vào một đầu người nhô tới trước, quét trọn cả cầu thang. Hemmelrich nhận ra rằng người đó không biết sử dụng trung liên.

Anh ta phóng một bước trở lên, cảm thấy bị thương nhẹ nơi mắt và bắp chân. Nơi hành lang, bên trên tầm bắn của địch, anh ta dừng lại: con mắt anh chỉ bị trúng nhẹ bởi một miếng vôi hồ do một viên đạn khác, ngoài da. Anh ta đã vào đến căn phòng nơi Katow, gò lưng, dùng một bàn tay lôi một tấm nệm về phía mình (không phải để che chở mà là để ẩn núp) và tay kia cầm một gói lựu đạn. Chỉ có lựu đạn, nếu nổ tung sát một bên, mới có thể làm hề hấn đến lớp sắt bọc.

Cần phải liệng chúng qua cửa sổ vào hành lang địch. Katow đã đặt một gói khác phía sau anh; Hemmelrich cầm lấy và liệng cùng lúc với Katow qua bên trên tấm nệm. Katow ngả xuống đất trở lại, bị quét bởi một tràng đạn, như thể bởi chính những trái lựu đạn của anh: khi thấy đầu và tay nhô lên khỏi tấm nệm, chúng bắn vào họ từ khắp các cửa sổ – tiếng kêu rắc của diêm quẹt ấy, rất gần, phải chăng không vang lên từ đôi chân của mình? Hemmelrich tự hỏi, sau khi đã hụp xuống kịp thời. Đạn vẫn chui vào, nhưng bức tường che chở cho hai người giờ đây khi họ đã ngả xuống: cửa sổ sổ chỉ mở cách sàn nhà sáu mươi phân. Mặc dầu tiếng súng nổ, Hemmelrich vẫn có cảm tưởng như yên lặng, vì hai khẩu súng trung liên đã im tiếng. Anh ta bò bằng khủy tay về phía Katow đã ngừng động đậy, kéo lấy vai Katow. Ở ngoài tầm súng, hai người lặng lẽ nhìn nhau: mặc dầu tấm nệm và các vật phòng thủ che lấp cửa sổ, ánh sáng giờ đây tràn ngập căn phòng. Katow bất tỉnh, bắp vế lủng một vết màu đỏ lớn ra trên mặt gạch giống như trên một tờ giấy thấm. Hemmelrich còn nghe Souen la lên “Đại bác” kế một tiếng nổ dữ dội và điếc tai, và, ngay lúc anh ta ngẩng đầu lên, một cú va chạm mạnh vào bên dưới lỗ mũi, đến lượt anh ta bất tỉnh.

Hemmelrich hồi tỉnh lại, dần dần, ngoi từ những đáy sâu lên bề mặt yên tĩnh lạ lùng ấy đến nỗi hình như chính nó đã giúp anh ta hồi sinh lại; đại bác không còn bắn nữa. Bức tường bị sụp đổ chênh chếch. Trên mặt đất, Katow và những người khác, bất tỉnh hay đã chết. Anh thấy khát vô cùng, và sốt. Vết thương nơi bắp vế của anh không trầm trọng. Anh bò về phía cửa ra vào, và nơi hành lang anh đứng lên, một cách nặng nề, tựa vào tường. Ngoại trừ cái đầu bị trúng một mảnh xi-măng tô tường, sự đau đáu của anh không có nơi nào rõ rệt; bám vào thang gác, anh lần xuống, không phải men theo cầu thang dẫn ra đường, nơi mà hẳn nhiên địch vẫn còn chờ đợi, mà là cầu thang dẫn xuống sân. Người ta không còn bắn nữa. Các bức tường của hành lang ra vào lốm đốm nhiều lỗ, nơi mà mới đây có bắc mấy cái bàn. Anh ta nép mình bên lỗ đầu tiên và nhìn ra sân.

Phía bên mặt của ngôi nhà trông như bị bỏ hoang (nhưng anh tin chắc rằng nó đã không như vậy), một cái trại lợp tôn; phía xa, một ngôi nhà mái uốn cong và một dãy trụ đèn chạy nhỏ dần về phía đồng quê mà anh sẽ không còn trông thấy lại. Những dây théo gai rối nùi giăng ngang trước cửa ra vào vạch những lằn màu đen lên khung cảnh đã chết và cái ngày ảm đạm ấy, giống như những lằn nứt của một món đồ sành. Một cái bóng hiện ra phía sau, hình dạng một loại gấu: một người mặt hướng về phía anh, lưng còn hẳn xuống; hắn bắt đầu bấu vào các sợi dây kẽm.

Hemmelrich không còn đạn. Anh nhìn cái khối người ấy lách từ sợi kẽm này qua sợi khác trước khi anh kịp đoán được cử động của hắn (những sợi dây hiện rõ trên nền của buổi mai nhưng cảnh vật vẫn mờ mịt). Hắn bấu vào, rơi xuống, lại bấu vào dây kẽm, trông giống như một côn trùng khổng lồ. Rõ ràng là người ấy sắp sửa lọt qua; thế nhưng ngay lúc ấy, bị vướng chân, hắn cố gỡ những sợi kẽm gai móc vào quần áo, với một tiếng càu nhàu lạ tai, và Hemmelrich cảm thấy như loại côn trùng quái dị ấy có thể bám mãi vào đó, to lớn và co rúm, treo trên nền trời ảm đạm. Hai bàn tay mở rộng giơ lên, rõ rệt và màu đen, các ngón tách rời nhau, để nắm lấy một sợi kẽm khác, và thân hình cử động trở lại.

Đó là hồi chung cuộc. Phía sau, con đường và khẩu trung liên. Trên kia, Katow và những người đồng chí nằm trên mặt đất. Ngôi nhà hoang vắng ấy, phía đối diện, chắc chắn là có người, những xạ thủ trung liên, chắc vậy, phần chúng, còn đạn dược. Nếu anh thoát ra ngoài, địch sẽ bắn vào nơi đầu gối, để bắt làm tù binh (anh đột nhiên cảm nhận sự mong manh của những cái xương nhỏ bé ấy, những xương bánh chè). Ít ra anh cũng có thể giết được người này.

Con quái vật được làm bằng hình thù gấu, người và loài nhện, tiếp tục gỡ dây kẽm gai. Bên cạnh khối màu đen của hắn, một lằn ánh sáng vạch theo cạnh sắc của khẩu súng lục gắn đeo trên người. Dưới đáy của một cái lỗ, Hemmelrich cảm thấy ít bị mê hoặc vì con người quá đỗi chậm chạp ấy đang tiến đến gần như chính cái chết, hơn là vì tất cả những gì tiếp sau hắn, tất cả những gì một lần nữa sắp sửa nghiền nát anh như thể một nắp hòm được đóng vít trên một người còn sống; đó là tất cả những gì làm nghẹt thở đời sống hằng ngày của anh, đã trở về đây để nghiền nát anh một lần cho xong. “Chúng đã cướp phá đời mình trong ba mươi bảy năm, và giờ đây chúng sắp sửa giết mình”. Đó không chỉ là sự đau đớn của vợ anh bị mổ bụng, đứa con bệnh hoạn của anh bị sát hại, tất cả đều nhòa tan thành một lớp sương mù của cơn khát, của độ sốt và hận thù. Một lần nữa, không nhìn đến nó, anh vẫn cảm nhận được vết máu nơi bàn tay trái. Không giống như một vết phỏng, không giống như một vết tra khảo: anh chỉ biết rằng nó đang ở đó, và bóng người ấy cuối cùng sắp sửa ra khỏi sợi kẽm gai. Bóng người đầu tiên đã qua lọt, không phải vì tiền mà hắn giết những người đang sống vẩn vơ trên kia, chính vì một lý tưởng, vì một đức tin; cái bóng ấy giờ đây dừng lại trước hàng rào dây kẽm; không phải vì chán chê mà cái giống người hạnh phúc ấy sát hại họ, chúng còn phải tin tưởng rằng chúng có lý. Cái bóng người, thân hình giờ đây đã ngẩng lên lại, vươn thẳng người một cách to lớn phi thường trên cái sân ảm đạm, trên những sợi dây điện thoại đang chạy hun hút vào sự yên tĩnh không cùng của sớm mai mùa trời hay mưa.

Từ nơi một cửa sổ, một tiếng gọi cất lên, người ấy đáp lại; tiếng trả lời của hắn vang khắp hành lang, bao phủ lấy Hemmelrich. Lằn ánh sáng của khẩu súng lục biến mất, vùi vào bao súng và được thay bằng một thanh dẹp, gần như màu trắng trong bóng tối hành lang: người ấy rút ra lưỡi lê. Hắn không còn là một con người nữa, hắn là tất cả những gì đã làm khổ Hemmelrich cho tới ngày nay. Nơi hành lang tối đen này, với các xạ thủ trung liên kia đang mai phục bên cửa ra vào và kẻ thù ấy đang gần lại, người đàn ông Bỉ trở nên điên cuồng vì thù hận, anh ta cảm thấy máu của vợ con không còn là dấu vết ở trên bàn tay, mà nó vẫn còn đang lỏng và nóng. “Chúng đã giết hại cả cuộc đời mình và vợ con mình, nhưng người này sẽ rửa sạch, hắn sẽ rửa sạch thù hận...” Người ấy tiến tới từng bước, lưỡi lê hướng về phía trước. Hemmelrich ngồi xổm và trông thấy ngay cái bóng lớn dần, thân trên nhỏ lại bên trên đôi chân vững chắc như hai cây cọc. Ngay vào lúc lưỡi lê trở tới bên trên đầu anh, anh đứng lên, bấu bàn tay mặt vào cổ của người ấy, siết lại. Dưới sự đột kích ấy, lưỡi lê rơi xuống. Cái cổ ấy quá to lớn đối với một bàn tay duy nhất, ngón cái và những đầu ngón tay co rút sâu vào thịt da hơn là ngăn chặn hơi thở, nhưng bàn tay kia xâm chiếm bởi sự điên cuồng, chà lên khuôn mặt hổn hển với một niềm giận dữ.

“Mày sẽ xóa sạch hận thù, Hemmelrich hét lên. Mày sẽ xóa sạch hận thù.” Người ấy lảo đảo. Hắn bám vào tường theo phản xạ bản năng. Hemmelrich đập đầu hắn vào bức tường bằng tất cả sức mạnh, anh ta cúi đầu xuống trong một giây: người Trung Hoa ấy cảm thấy một vật to lớn xuyên thủng vào người, xét ruột hắn: lưỡi lê. Hắn xòe hai bàn tay, thu về nơi bụng hắn với một tiếng rên xiết chói tai, ngã xuống, vai nhô về phía trước, giữa đôi chân của Hemmelrich, sau đó duỗi phắt người ra; trên bàn tay mở rộng của hắn, một giọt máu rơi xuống từ lưỡi lê, kế một giọt khác. Như thể bàn tay ấy trên đó máu giọt xuống từng giây đã báo thù được cho anh, Hemmelrich cuối cùng mới nhìn vào bàn tay mình, và nhận ra rằng vết máu đã bị xóa mất từ nhiều giờ qua.

Và anh ta chợt nhận thấy có lẽ anh không sắp sửa phải chết. Anh vội vã cởi quần áo gã sĩ quan ra, thấy tức giận vì quần áo không thể tuột khỏi người này nhanh chóng, như thể hắn đã giữ lại. Anh lay lắc thân hình của nạn nhân như thể anh giũ chăn. Cuối cùng, khoác vào người y phục của hắn, anh đi ra cửa sổ phía ngoài đường, khuôn mặt nghiêng nghiêng che bằng lưỡi trai của cái nón. Địch, ở phía đối diện, mở các cửa sổ của chúng vừa reo lên. “Mình cần phải chuồn trước khi chúng vào đây.” Anh ta đi ra theo ngã bên hông con đường, quẹo sang trái theo hướng của người anh đã giết sẽ phải quẹo để đến nhập vào đồng bọn.

“Tù binh à?” – đám người nơi các cửa sổ reo lên.

Anh phác bừa một cử chỉ về phía những người mà anh xem như mình đến nhập bọn. Sự kiện người ta đã không bắn anh đối với anh vừa dại dột vừa tự nhiên. Anh lại quẹo sang trái và hướng về phía các tô giới: chúng được canh phòng, nhưng anh biết rõ tất cả những ngôi nhà có hai ngả vào trên đường Hai nền Cộng hòa.

Từng người một, các phần tử Quốc dân đảng bắt đầu đi ra...

❀ ❀ ❀

[1] Pierre Paul Rubens (1577 – 1640) một danh họa gốc người Flandre.

[2] Jacob Jordaens (1593 – 1678) : một danh họa gốc người Flandre.

[3] Flandre: một miền thuộc nước Bỉ.

m thuốc phiện, bên trên những cây xương rồng nho nhỏ do ông sưu tầm. Bên dưới cái mâm, một tấm ảnh: Kyo. Ông lôi tấm ảnh ra, nhìn ngắm nó không có ý nghĩ nào rõ rệt, chìm đắm một cách chua chát vào trong niềm tin, ở vào chỗ ông, không người
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của André Malraux

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.