“Tạm giam,” – người lính vệ binh nói.
Kyo biết rằng người ta tống giam anh vào nhà giam dành cho thường phạm.
Ngay lúc bước vào nhà giam, trước khi có thể đưa mắt nhìn, anh đã choáng váng vì một mùi ghê tởm: mùi lò heo, mùi nơi triển lãm chó, mùi phân. Cửa ra vào mà anh vừa bước qua mở ra một hành lang tương tự với nơi mà anh vừa rời bỏ; bên mặt và bên trái, vươn cao lên đến nóc nhà giam, những chấn song to lớn bằng gỗ.
Trong những cái chuồng gỗ, những con người. Chính giữa, người cai tù ngồi trước một cái bàn nhỏ, trên đó có một ngọn roi: cán ngắn, dây da dẹp rộng cỡ bàn tay dày khoảng một ngón tay, - một khí giới.
“Hãy đứng đó, đồ heo sữa” – hắn nói.
Người cai tù, quen với bóng tối, viết bản tướng mạo của anh. Kyo vẫn còn nghe đau nơi đầu, và sự bất động gây cho anh cái cảm giác sắp phải ngất đi, anh tựa lưng vào các chấn song.
“Sao, sao, anh ra sao?” - người ta la lớn phía sau lưng anh.
Giọng nói lơ lớ như giọng một con két, nhưng đó là giọng người.
Ở đây tối om để Kyo có thể phân biệt được một khuôn mặt; anh chỉ trông thấy có những ngón tay to lớn bấu quanh các chấn song - không cách xa lắm với cổ anh. Phía sau, nằm trên một tấm ván hoặc đứng, lao xao những cái bóng quá dài; những con người, trông giống như những con sâu.
- Có thể sẽ khá hơn, - Kyo nói vừa tránh ra.
- Câm mồm, đồ rùa con, nếu mày không muốn hứng lấy cái tát của tao vào mồm, cai tù nói.
Kyo đã nhiều lần nghe thốt lên chữ “tạm giam”, anh biết rằng mình sẽ không ở đây lâu ngày. Anh quyết định bỏ ngoài tai những lời chửi rủa, chịu đựng tất cả những gì có thể chịu đựng nổi; điều quan trọng là rời khỏi nơi đây, chiến đấu trở lại.
Thế nhưng, anh thấm thía đến mức muốn nôn mửa sự sỉ nhục mà mọi người đều cảm thấy trước một người mà mình lệ thuộc: bất lực đối với cái bóng bẩn thỉu cầm roi ấy - bị tước mất bản ngã của mình.
“Sao, sao, anh ra sao?” - giọng nói lại oang oang lên.
Cai tù mở ra một cánh cửa, may mắn thay, nơi dãy phòng giam bên trái: Kyo bước vào chuồng giam. Phía trong cùng, một tấm ván dài trên đó chỉ có một người nằm. Cánh của khép lại.
- Chính trị? – Người tù hỏi.
- Phải. Còn ông?
- Không. Dưới thời Đế chính, tôi là một quan lại...
Kyo bắt đầu quen với bóng tối. Quả thật, đó là một người trọng tuổi, một con mèo trắng già gần như không có mũi, râu mép thưa và tai nhọn.
-... Tôi buôn đàn bà. Khi nào khá, tôi cho tiền Cảnh sát và họ để yên cho tôi. Khi nào không khá, họ tưởng tôi giữ lại tiền và tống cổ tôi vô tù. Nhưng ngay khi công cuộc làm ăn không khá, tôi muốn được nuôi sống trong tù hơn là phải tự do chết đói...
- Ở đây!
- Anh cũng biết, người ta quen đi... Bên ngoài cũng không tốt đẹp gì lắm khi người ta đã lớn tuổi, như tôi, và yếu đuối.
- Tại sao ông không bị giam chung với những người khác?
- Thỉnh thoảng tôi cho tiền người lục sự. Vì vậy, mỗi lần đến đây, tôi được xếp vào loại “tạm giam”.
Người cai tù mang lại thức ăn; hắn đưa qua giữa các chấn song hai cái chén đựng đầy một chất nhầy nhầy màu bùn, có mùi hôi thối như không khí. Hắn múc bằng một cái vá vào trong một cái nồi, trút món ăn đặc sệt vào từng chén một thành một tiếng “phốc” và sau đó trao cho các tù nhân nơi phòng giam kia, từng người một.
- Không cần, - một giọng nói - mai này là đến ngày. (“Hành quyết anh ta”, người quan lại nói với Kyo)
- Tao cũng vậy, - một giọng khác nói. - Vậy mày không thể cho tao gấp đôi phần cám heo ấy sao: tao, nó làm cho tao đói bụng.
- Mày muốn bị đấm vào mồm à? - Cai tù hỏi.
Một người lính đi vào, hỏi hắn một câu. Hắn bước sang phòng giam bên mặt, đập khẽ vào một thân người.
“Nó động đậy, - hắn nói. - Chắc hẳn nó còn sống”.
Người lính dời gót.
Kyo ráng hết mắt để nhìn, cố xem thử những giọng nói cận kề với cái chết đến mức ấy - giống như anh không chừng -, thuộc về những bóng người nào. Không làm sao phân biệt được; những người ấy sẽ chết trước khi là những gì khác hơn những giọng nói đối với anh.
- Anh không ăn sao? - người cùng phòng giam hỏi.
- Không.
- Buổi đầu, bao giờ cũng vậy...
Ông ta lấy cái chén của Kyo. Cai tù đi vào, thẳng tay tát ông ta và trở ra ngoài mang theo cái chén, không nói một lời nào.
- Tại sao chúng không đụng gì đến tôi cả ? - Kyo thấp giọng hỏi.
- Chỉ có mình tôi phạm lỗi, nhưng không phải chuyện ấy; anh là tù chính trị, bị tạm giam, và anh ăn mặc tử tế. Hắn sẽ cố moi tiền anh, hay những người thuộc phe anh. Nhưng điều ấy không ngăn được... Hãy thử chờ xem...
“Tiền bạc theo đuổi mình đến tận cả nơi bẩn thỉu này”. - Kyo thầm nghĩ. Thật phù hợp với các truyền thuyết, sự hèn hạ của cai tù đối với anh như không hoàn toàn có thật; và, cùng lúc, nó có vẻ như là một định mạng nhớp nhúa, như thể quyền hành đủ để biến đổi gần như bất cứ người nào thành loài vật. Những con người vô danh ấy đang lao xao phía sau các chấn song, đáng sợ như loài tôm cua và côn trùng khổng lồ trong các giấc mơ thời thơ ấu, cũng không có vẻ gì người hơn. Nỗi cô đơn và sự khuất phục hoàn toàn. “Coi chừng”, Kyo thầm nghĩ, vì bởi anh đã cảm thấy yếu đuối thêm. Nếu anh đã không làm chủ được cái chết của mình, thì anh sẽ bắt gặp ở đây sự kinh hãi. Anh mở khoen dây nịt ra và chuyền chất cyanura vào trong túi.
- Sao, sao, anh ra sao?
Lại giọng nói ấy.
“Thôi chớ!” - Các tù nhân nơi phòng giam bên kia cũng hét lên. Kyo giờ đây đã quen với bóng tối và con số giọng nói không làm cho anh ngạc nhiên: có hơn mười thân người nằm trên tấm ván, phía sau các chấn song.
- Mày có câm mồm không chớ? - Cai tù la lên.
- Sao, sao, anh ra sao?
Cai tù đứng lên.
- Đùa chơi hay bướng bỉnh đây? Kyo trầm giọng hỏi.
- Không đùa cũng không bướng, người quan lại đáp: - điên.
- Nhưng tại sao...?
Kyo ngừng hỏi: người bên cạnh vừa bịt tai. Một tiếng thét lên khàn khàn, đau đớn vừa kinh hãi, vang khắp bóng tối: trong khi Kyo nhìn người quan lại, cai tù đã đi vào phòng giam bên kia với ngọn roi của hắn. Tiếng dây da đánh trót; và chính giọng la ấy lại cất lên. Kyo không dám bịt tai lại và chờ đợi, tay bấu vào hai chấn song, tiếng la khủng khiếp lại sắp sửa chạy suốt đến các đầu móng tay anh.
- Hãy đánh cho nó bất tỉnh một phen đi, - một giọng người nói, để nó để yên tụi tao.
- Hãy chấm dứt đi chớ, - bốn năm giọng nói, - hãy để cho người ta ngủ chớ!
Người quan lại vẫn bịt tai, nghiêng về phía Kyo:
“Ðây là lần thứ mười một hắn đánh y từ bảy ngày nay, hình như vậy. Tôi, tôi đã ở đây từ hai ngày: đây là lần thứ tư. Và dù sao, người ta cũng phải nghe một phần nào... Tôi không làm sao chợp mắt được, anh cũng thấy: đối với tôi: khi nhìn y, tôi cảm thấy như mình đã đến tiếp cứu y...”
Kyo cũng đưa mắt nhìn, gần như không trông thấy gì cả... “Lòng trắc ẩn hay sự tàn bạo? Anh tự hỏi với niềm ghê tởm. Những gì là thấp hèn và cũng dễ mê hoặc nơi mỗi người đều tụ lại ở đó với sự hống hách man rợ nhất, và Kyo vùng vẫy bằng tất cả ý nghĩ của mình chống lại sự ô nhục của con người: anh nhớ đến sự cố gắng mà bao giờ anh cũng thấy cần thiết để trốn chạy những thân xác bị tử hình trông thấy một cách tình cờ; anh cần phải tách lìa hẳn khỏi nơi này. Việc người ta có thể chứng kiến cảnh đánh đập một người điên không có vẻ gì hung dữ, chắc đã giá rồi đoán theo giọng nói và có thể tán thành sự khổ hình ấy, đã gọi dậy nơi anh cùng một niềm kinh khủng như những lời tâm tình của Tchen, ở Hán Khẩu: “Những con bạch tuộc...” Katow có kể cho anh nghe sinh viên y khoa cần phải cố gắng như thế nào lần đầu tiên khi một cái bụng mở banh ra trước mặt anh ta cho thấy những cơ quan máy động. Cũng chính cùng một niềm hãi hùng tê liệt người đi, thật khác biệt với nỗi sợ hãi, một niềm hãi hùng cực độ trước cả khi tinh thần kịp xét đoán, và càng thảng thốt đến mức Kyo cảm thấy bản thân anh muốn vỡ đi hãi hùng. Và thế nhưng, đôi mắt anh, ít quen thuộc với bóng tối hơn đôi mắt của người cùng phòng, chỉ phân biệt được ánh chớp của cây roi da làm bật lên những tiếng gào thét giống như một cái móc. Ngay cú đánh đầu tiên, anh đã không làm một cử chỉ nào: anh vẫn đứng bấu vào các chấn song, bàn tay ngang tầm với khuôn mặt.
- Cai tù! - Kyo gọi lớn.
- Mày muốn ăn đòn à?
- Tao có chuyện nói với mày.
- Thế hả?
Trong khi cai tù đóng lại chốt sắt một cách giận dữ, những tội nhân mà hắn vừa quay lưng lại, cười vỡ lở lên. Họ ghét các “tù nhân chính trị”.
“Làm đi! Làm đi, cai tù! Cho thiên hạ cười chơi”
Cai tù đối diện với Kyo, thân hình bị cắt dọc theo một chấn song. Vẻ mặt hắn cho thấy sự giận dữ hèn hạ nhất, sự giận dữ của một kẻ ngu xuẩn nghĩ rằng uy quyền hắn bị bài xích; dù vậy các đường nét trên khuôn mặt hắn trông không tệ: đều đặn, như mọi người.
- Này, - Kyo nói.
Hai người nhìn vào mắt nhau, cai tù cao lớn hơn Kyo và hắn trông thấy đôi bàn tay anh ta vẫn bấu vào các chấn song, ở hai bên đầu.
Trước khi Kyo hiểu được những gì xảy đến, bàn tay anh tưởng chừng như bị vỡ ra: ngọn roi, cặp phía sau lưng cai tù, thẳng tay vung xuống. Kyo không ngăn được tiếng hét lên.
“Hay lắm, - các tội nhân phía đối diện gào lên. - Chứ đâu mãi tụi này!”
Ðôi tay Kyo rơi xuống lại theo thân mình, bị xâm chiếm bởi một nỗi lo sợ riêng, mà anh cũng không làm sao nhận biết. “Mày còn gì khác để nói không?” - cai tù hỏi.
Ngọn roi giờ đây nằm giữa hai người.
Kyo nghiến chặt răng, và với cùng một sức cố gắng như khi phải giơ lên một vật thể nặng nề, mắt không rời cai tù, anh hướng đôi bàn tay về phía chấn song lần nữa. Trong khi anh từ từ giơ lên, cai tù khẽ lùi lại, để dọn hộ. Ngọn roi đánh trót lên, lần này vào các chấn song. Sự phản xạ tỏ ra mạnh mẽ hơn Kyo: anh đã rút tay. Nhưng anh đã đưa chúng trở lại, bằng căng thẳng rã rời của đôi vai, và cai tù biết rằng lần này Kyo sẽ không rút tay lại nữa. Hắn nhổ vào mặt anh và từ từ giơ lên ngọn roi.
- Nếu mày... thôi đánh đập người điên ấy, - Kyo nói - khi được thả ra, tao sẽ... cho mày năm mươi đôla.
Cai tù do dự.
“Tốt lắm” - Cuối cùng hắn nói.
Cái nhìn của hắn rời khỏi anh. Kyo được giải thoát khỏi một sự căng thẳng cùng cực đến nỗi anh tưởng sắp ngất. Bàn tay trái đau đớn đến mức anh không làm sao khép lại. Anh giơ nó lên cùng với bàn tay kia ngang với tầm vai, và nó cứ xoè thẳng ra ở đó. Lại có những tiếng cười vang lên.
- Mày chìa tay cho tao à? Cai tù hỏi cũng vừa cười nhạo. Hắn siết lấy nó. Kyo cảm thấy rằng suốt đời anh, anh sẽ không quên được cái siết tay ấy. Anh rút tay về, té ngồi lên tấm ván. Cai tù do dự, gãi đầu bằng cán roi, trở về bàn lại. Người tù điên khùng nức nở.
Nhiều giờ cùng chung một hoàn cảnh ti tiện. Cuối cùng, mấy lính gác đến tìm Kyo để dẫn đến Sở cảnh sát đặc biệt. Có thể anh đang đi đến với cái chết, và dù vậy anh vẫn ra đi bằng một niềm vui mà sức mãnh liệt của nó làm cho anh ngạc nhiên: anh cảm thấy như đã để lại ở đây một phần ti tiện của chính anh.
“Hãy vào!”
Một lính vệ binh người Trung Hoa đẩy vai Kyo, nhưng một cách nhẹ nhàng thôi; ngay khi chúng có phận sự đối với người ngoại quốc (đối với một người Trung Hoa, Kyo là người Nhật hoặc người Âu, nhưng chắc chắn là người ngoại quốc) những lính vệ hình giảm bớt sự tàn bạo mà chúng ngỡ rằng cần phải như vậy. Sau một dấu hiệu của Konig, chúng dừng lại ở bên ngoài. Kyo bước về phía bàn giấy, giấu trong túi bàn tay trái sưng vù, vừa nhìn người đàn ông ấy, chính hắn, cũng đang tìm kiếm đôi mắt của anh; khuôn mặt xương nhẵn nhụi, mũi lệch, tóc hớt cao.
“Một người đang sắp sửa ra lệnh giết người quả thật cũng giống như bất cứ người nào”. Konig chìa tay về phía khẩu súng lục của hắn đặt trên bàn: không, hắn lấy một hộp thuốc điếu. Hắn chìa cho Kyo.
- Cám ơn. Tôi không hút thuốc.
- Cảnh thường thấy nơi nhà tù là sự khả ố, theo đúng cách của nó. Anh có muốn ăn sáng với tôi không?
Trên mặt bàn, cà phê, sữa, đôi tách, những khoanh bánh mì.
“Chỉ bánh mì thôi. Cám ơn.”
Konig mỉm cười.
“Chung một bình cả phê cho tôi và anh, anh biết là...”
Kyo vẫn còn đứng (ở đây không có ghế) trước bàn giấy cắn bánh mì như một đứa trẻ. Sau cái cảnh ti tiện nơi phòng giam, tất cả đối với anh đều khoác lấy một vẻ phù du không tưởng. Anh biết rằng tính mạng của mình bị đe dọa, nhưng ngay việc có thể chết đi cũng là giản tiện. Cũng có thể người này tỏ ra lịch sự vì tính dửng dưng là người da trắng, có lẽ hắn bị đưa đẩy cái nghề này vì ngẫu nhiên, hoặc vì tham dục. Đó là điều mà Kyo mong ước, anh vốn không dành cho hắn một cảm tình nào nhưng anh muốn được thoải mái, được giải thoát khỏi sự căng thẳng tinh thần mà nhà tù đã làm cho anh phải tiều tụy; anh vừa khám phá ra rằng bị bắt buộc chui rúc hoàn toàn vào chính bản ngã của mình thật là hao mòn biết mấy.
Điện thoại reo lên.
- Alô! - Konig nói. - Phải Gisors Kyoshi[1]. Hoàn toàn như vậy. Anh ta hiện ở đây.
“Người ta hỏi không biết anh có còn sống hay không, - hắn nói với Kyo”.
- Tại sao ông cho mang tôi đến đây?
- Tôi nghĩ rằng chúng ta sắp thông cảm với nhau.
Lại có tiếng chuông điện thoại.
“Alô! Không. Tôi đang nói với anh ta chắc chắn chúng tôi sẽ thông cảm với nhau. Xử bắn à? Hãy gọi tôi trở lại.”
Cái nhìn của Konig không rời khỏi Kyo.
- Anh nghĩ sao? – hắn vừa gác ống nghe trở xuống.
- Không nghĩ gì cả.
Konig nhìn xuống, mắt ngước trở lên lại:
- Anh có thiết sống không?
- Cũng tuỳ theo cách sống.
- Người ta cũng có thể có nhiều cách chết.
- Người ta không được quyền chọn lựa...
- Anh tin rằng bao giờ người ta cũng được quyền chọn lựa cách sống sao?
Konig nghĩ về bản thân hắn. Kyo quyết định không nhượng bộ một điều cốt yếu nào cả, nhưng Kyo không mảy may muốn làm hắn tức giận:
- Tôi không biết.
- Người ta có nói với tôi là anh theo Cộng sản vì... sao đây, quên rồi? Vì phẩm cách. Ðúng không?
Kyo thoạt tiên không hiểu. Tinh thần căng thẳng trong sự chờ đợi hồi chuông điện thoại, anh tự hỏi không hiểu cuộc thẩm vấn hiếm có này nhằm vào cái gì. Cuối cùng:
- Ðiều ấy có thật sự quan trọng đối với ông không?
- Nhiều hơn là anh có thể tưởng... Theo anh nhân phẩm nghĩa là gì? Nó không có nghĩa gì cả!
Ðiện thoại reo lên. “Phải chăng đến lượt mình?” - Kyo thầm nghĩ.
Konig không nhắc điện thoại lên.
- Điều tương phản với sự nhục nhã, - Kyo nói.
“Khi người ta đã đến từ nơi mà tôi đã rời khỏi để đến đây thì nó có một cái nghĩa nào đó”.
Chuông điện thoại bỗng reo lên. Konig đặt tay lên máy.
- Vũ khí được cất giấu ở đâu? - Hắn chỉ hỏi có vậy.
- Ông có thể bỏ điện thoại ra. Cuối cùng tôi đã hiểu.
Anh nghĩ rằng tiếng điện thoại chỉ đơn thuần là một màn dàn cảnh.
Kyo cúi nhanh xuống: Konig suýt liệng vô đầu anh một trong số hai khẩu súng lục, nhưng hắn đặt nó trở lại bàn.
“Tôi có nhiều cách hơn, - hắn nói - Về phần cái điện thoại, anh sẽ thấy nó là giả hay thật, anh bạn nhỏ của tôi. Anh có trông thấy cảnh tra tấn chưa?” Kyo thử nắm chặt lại các ngón tay sưng vù của anh đang thọc trong túi. Chất cyanure nằm trong túi bên trái, và anh sợ làm nó rơi xuống nếu cần phải đưa nó lên miệng.
- Ít ra tôi cũng đã từng trông thấy những người bị tra tấn. Tại sao ông lại hỏi tôi chỗ cất giấu vũ khí? Ông đã rõ, hoặc sẽ rõ. Không phải sao?
- Các phần tử Cộng sản bị nghiền nát khắp nơi.
Kyo im lại.
- Họ đã bị nghiền nát. Hãy suy nghĩ cho kỹ, nếu anh phục vụ cho chúng tôi, anh sẽ được giải cứu, và sẽ không có người nào biết được. Tôi sẽ giúp anh trốn thoát...
“Hắn đương nhiên phải bắt đầu bằng luận điệu ấy.” - Kyo thầm nghĩ. - Sự cau có khiến anh có ý khôi hài mặc dầu anh không muốn như vậy.
Nhưng Kyo biết rằng cảnh sát không thích những điều cam kết bấp bênh. Dù vậy, cuộc mặc cả khiến anh ngạc nhiên như thể, vốn là con người qui ước, anh không còn là người có thể mặc cả được.
“Chỉ có mình tôi, - Konig lên tiếng trở lại - là biết được thôi. Cũng đủ...”
Tại sao, Kyo thầm hỏi; có giọng ân cần ấy dành cho hai tiếng: “Cũng đủ...”
- Tôi sẽ không phục vụ cho ông, - anh nói bằng một giọng vô thưởng vô phạt.
- Coi chừng: tôi có thể nhốt anh vào khám tối với một tá người vô tội vừa nói với họ rằng số phận của họ tuỳ thuộc nơi anh, rằng họ sẽ ở lại trong tù nếu anh không cung khai và họ được tư do lựa chọn phương tiện...
- Bọn đao phủ, thì giản tiện hơn...
- Sai lầm. Nhưng lời khẩn cầu xem kẽ với những việc tàn bạo thì tệ lắm. Ðừng nói đến những gì anh không hiểu rõ - ít ra anh cũng chưa hiểu rõ.
- Tôi vừa mới trông thấy một cách đại khái cảnh tra tấn một người điên.
- Anh biết rõ sự liều mình của anh không?
- Tôi biết.
Konig nghĩ rằng, mặc dầu những gì anh đã nói với hắn, anh không hiểu rõ hiểm hoạ đang đè nặng lên anh - “Tuổi trẻ đã trợ lực cho gã”, hắn thầm nghĩ. Trước đây hai giờ, hắn đã thẩm vấn một tù nhân; sau mười phút hắn cảm thấy y tỏ ra thân tình. Đối với cả hai người, thế giới của họ không còn là thế giới của loài người. Nếu Kyo tránh được nỗi sợ hãi vì thiếu óc tưởng tượng – hãy kiên nhẫn vậy...
- Anh không tự hỏi tại sao tôi vẫn chưa liệng khẩu súng này vào mặt anh sao?
- Ông có nói: “Tôi có nhiều cách hơn”.
Konig bấm chuông.
“Có thể đêm nay tôi sẽ đến hỏi xem anh nghĩ gì về nhân phẩm”.
“Ở nơi sân dãy A”, - hắn nói với những người lính vệ binh vừa đi vào.
4 giờ
Clappique trà trộn vào làn sóng náo nhiệt đã đẩy đám đông từ nơi các tô giới về phía hàng rào kẽm gai: trên đại lộ Hai nền Cộng hòa tên đao phủ đi qua, lưỡi gươm cong mang trên vai, theo sau là đám hộ vệ mang súng Mauser. Clappique liền quay trở lại, đi vào tô giới. Kyo bị bắt, sự chống trả của Cộng sản bị nghiền nát, số cảm tình viên bị ám sát ngay trong thành phố người Âu... Konig đã ra hạn cho ông đến chiều: ông sẽ không được che chở lâu hơn. Những tiếng súng nổ gần như vang lên khắp nơi. Ông cảm thấy như chúng nương theo cơn gió đến gần lại với ông và cái chết đi kèm theo những tiếng súng ấy. “Mình không chết, ông ta nói giữa hai hàm răng, mình không muốn chết...” Ông nhận ra mình đang chạy.
Ông ta đến nơi bến tàu.
Không có giấy thông hành, và không còn đủ tiền để mua vé. Ba chiếc thương thuyền mà một thuộc về người Pháp. Clappique ngừng chạy. Trốn vào trong xuồng cứu cấp, phủ bằng vải dầu à? Ông ta phải trèo lên tàu, và người gác nơi cửa tàu sẽ không để ông đi qua. Vả lại, thật là ngu ngốc. Nơi khoang tàu? Ngốc, ngốc, ngốc. Tự ý đi tìm vị thuyền trưởng? Ông đã từng gỡ rối như vậy trong đời ông; nhưng lần này vị thuyền trưởng sẽ tưởng ông là Cộng sản và sẽ từ chối để cho ông lên tàu. Con tàu sẽ nhổ neo trong hai tiếng đồng hồ nữa: không phải là lúc để quấy rầy vị thuyền trưởng. Bị phát giác trốn trên tàu khi con tàu đã ra đến biển, ông ta sẽ điều đình, nhưng cần phải trèo lên tàu đã.
Ông tưởng tượng mình trốn nơi một góc nào đó, ngồi xổm trong một thùng cây; nhưng sự kiểu cách, lần này, không cứu nạn cho ông. Ông ta cảm thấy như tự hiến mình cho những chiếc thương thuyền chơm chởm, vĩ đại ấy, chở những định mạng lãnh đạm đến mức thù hận, giống như hiến mình cho những người cầu hộ một vị thần linh xa lạ. Ông dừng bước trước chiếc thương thuyền người Pháp. Bị mê hoặc bởi cầu tàu, ông nhìn những người lên xuống (mà không một ai nghĩ đến ông, đoán được nỗi lo lắng của ông và vì vậy muốn giết tất cả) giơ ra cái vé đi qua cửa tàu. Làm một vé giả à? Vô lý.
Một con muỗi chích ông. Ông đuổi nó, chạm tay vào má: râu ông bắt đầu mọc. Như thể mọi sự cạo râu đều thuận lợi cho những lần khởi hành, ông quyết định đi cạo râu, nhưng không cách xa nơi con tàu. Bên kia những cái lều, chen giữa các quán rượu và những người bán kỷ vật, ông trông thấy tiệm hớt tóc của một người Trung Hoa. Người chủ cũng có cả một tiệm cà phê thê thảm, và hai nơi mua bán của y được ngăn cách bằng một chiếc chiếu căng thẳng. Chờ đến phiên mình, Clappique ngồi bên cạnh chiếc chiếu và tiếp tục trông chừng cái cửa tàu. Phía bên cạnh, những người đang nói chuyện.
- Đó là người thứ ba, - một giọng đàn ông nói.
- Với thằng bé, sẽ không người nào bắt giữ mình. Nếu mình cũng thử vào một khách sạn giàu có xem sao?
Giọng của một người đàn bà trả lời:
- Ăn mặc như mình à? Gã có mang lon sẽ tống cổ mình ra khỏi cửa trước khi mình chạm tay vào đó.
- Ở đó trẻ nhỏ được quyền la hét... Hãy thử tiếp xem, bất cứ ở đâu.
- Ngay khi những người chủ trông thấy thằng bé, họ sẽ từ chối. Chỉ có những khách sạn Trung Hoa là có thể nhận, nhưng thằng bé sẽ ngã bệnh, vì đồ ăn dơ dáy của họ.
- Nơi một khách sạn người Âu mình nghèo nàn, nếu mình để thằng bé lọt qua được, khi mình đã vào đến bên trong, có lẽ họ sẽ không dám đuổi mình ra ngoài... Dù sao, mình vẫn qua được một đêm. Cần phải gói thằng bé lại, họ sẽ tưởng đó là quần áo.
- Quần áo gì lại biết la khóc.
- Với bình sữa nơi miệng, nó sẽ không la khóc...
- Có thể. Anh dàn xếp với gã ấy, và em đến sau. Em chỉ phải đi ngang quày gã trong một giây thôi.
Im lặng. Clappique nhìn cửa tàu. Tiếng giấy xào xạt.
- Anh không thể tưởng tượng được sự khổ sở mà em cảm thấy khi mang nó như vậy... Em có cảm tưởng như đó là một điềm xấu cho cả cuộc đời nó... Và em sợ mang như vậy sẽ làm đau nó...
Lại im lặng. Họ đã đi rồi sao? Người khách rời khỏi cái ghế dựa của y, người thợ hớt tóc ra dấu cho Clappique đang ngồi đó, mắt vẫn không rời chiếc thương thuyền. Cái thang vắng người, nhưng vừa khi khuôn mặt của Clappique phủ đầy xà bông, một người thủy thủ trèo lên tàu, hai cái thùng mới (có lẽ hắn mới mua xong) trên tay, những cái chổi trên vai. Clappique dõi mắt theo hắn, từng bậc thang và bước đi. Người thủy thủ đi qua trước người đứng nơi cửa tàu mà không nói gì cả.
Clappique trả tiền bằng cách liệng mấy đồng tiền lên bàn rửa mặt, gỡ lột khăn và bước ra, mặt dính đầy xà bông. Ông biết rõ nơi bán đồ cũ. Người ta nhìn ông: sau khi đi được mười bước, ông quay lại, lau mặt, và bước trở ra ngoài.
Ông ta tìm thấy không chút khó khăn những bộ đồ thủy thủ nơi người bán đồ cũ đầu tiên. Ông trở về khách sạn càng nhanh càng hay, để thay đổi quần áo. “Cũng nên có mớ chổi, hay một cái gì đại loại như vậy. Mua lại nơi có những người phụ bàn mớ chổi cũ à? Vô lý: Tại sao một người thủy thủ rong chơi trên bờ với mớ chổi! Để trông đẹp hơn? Thật hoàn toàn ngu ngốc. Nếu ông đi qua cửa tàu với những cây chổi, tức là ông mới mua chúng trên bờ. Vậy chúng cần phải mới... Hãy đi mua...”
Ông bước vào cửa hàng với cái vẻ Clappique thường lệ. Trước cái nhìn rẻ rúng của người Anh bán hàng, ông ta nói lớn:
“Trong tầm tay tôi.” Và đặt những cây chổi lên vai, quay lại vừa làm rơi một ngọn đèn bằng đồng, và bước ra ngoài.
“Trong tầm tay tôi” mặc dù tính cách cuồng vọng cố ý của nó, đã diễn tả những gì ông ta cảm thấy: cho đến giờ, ông đã đóng một màn hài kịch đầy âu lo, vì muốn được yên tâm và vì lo sợ, nhưng không thoát khỏi ý nghĩ không được thú nhận là ông sẽ thất bại; vẻ rẻ rúng của người bán hàng - mặc dù Clappique vì quên bộ y phục của ông đã không có điệu bộ của một người lính thuỷ - cho thấy là ông có thể thành công. Chổi gác trên vai, ông đi về phía chiếc thương thuyền, nhìn vào đôi mắt mọi người khi đi ngang qua để tìm thấy nơi đó sự thừa nhận cái hình dạng mới mẻ của ông. Dừng lại trước cửa tàu, ông kinh ngạc siết bao để cảm thấy định mệnh của ông dưới mắt người khác mới thật vô nghĩa, nó chỉ hiện hữu cho riêng ông mà thôi: những hành khách ban nãy, trèo lên tàu mà không để ý đến người đang đứng dưới bến tàu, có thể để tự tử; giờ đây, những người qua đường nhìn người thuỷ thủ này với vẻ hờ hững; không một người nào rời khỏi đám đông để tỏ ra ngạc nhiên hoặc nhận ra ông; không cả một bộ mặt hoài nghi... Một cuộc đời giả tạo được dựng nên không làm ông phải ngạc nhiên, nhưng lần này nó được áp đặt vào ông, và cuộc đời thật sự của ông có lẽ tuỳ thuộc vào nó. Ông nghe khát. Ông dừng lại trước một quán rượu người Trung Hoa, đặt chổi xuống. Ngay khi nhấp môi vào rượu, ông nhận ra rằng mình đã không hề khát, rằng ông muốn thử thách thêm một lần nữa. Cách thức mà người chủ thối tiền lại ông đủ để cho ông rõ biết. Kể từ lúc ông thay đổi y phục, những cái nhìn, chung quanh ông, không còn giống như trước nữa. Người đối thoại thường lệ với bệnh ưa bịa chuyện hoang đường của ông đã trở thành đám đông.
Cùng lúc - không hiểu vì bản năng tự vệ hay vì vui thích – sự thừa nhận hoàn toàn cái lý lịch mới xâm chiếm lấy người ông. Đột nhiên, ông bắt gặp, một cách tình cờ sự thành công chói lọi nhất của đời ông. Không, con người không có thật, vì bởi chỉ cần một bộ y phục thôi để giải thoát khỏi chính mình, để tìm ra một đời sống khác trong mắt người khác. Nơi thâm tâm ông cảm thấy cùng niềm trơ vơ, cùng nỗi hạnh phúc đã xâm chiếm lấy ông lần đầu tiên ông đi vào đám đông Trung Hoa. “Nói làm lịch sử, bằng tiếng Pháp, có nghĩa là viết nên nó, chớ không sống nó!” Những cây chổi được vác giống như vác súng, ông trèo lên thang tàu, và đi lên đến lối đi dọc ở trên tàu. Ông đi nhanh ra phía mũi tàu, chen giữa những hành khách trên sân tàu, đặt các cây chổi trên cuộn dây thừng. Ông sẽ không liều lĩnh một điều gì cả trước khi tàu cặp bến đầu tiên. Dù vậy ông chưa hẳn được yên ổn. Một người hành khách trên sàn tàu, người Nga với cái đầu như hột đậu, đến gần ông: “Ông ở trên tàu à?”
Và không chờ đợi câu trả lời:
- Đời sống trên tàu dễ chịu không?
- Điếu ấy, cậu bé ạ, cậu có thể tự nghĩ lấy. Người Pháp ưa thích du lịch, đó là một sự kiện: không sai vào đâu được. Các sĩ quan thì khó chịu lắm, nhưng cũng không hơn gì các chủ nhân, và người ta ngủ không thoải mái (mình không thích các chiếc võng: vấn đề sở thích) nhưng được ăn ngon. Và trông thấy nhiều việc. Khi tôi ở Nam Mỹ, những vị cố đạo đã bắt các phần tử rừng rú ấy bị tê liệt vì sự phục tùng. Nhưng khoan đã! Vị cố đạo tiếp tục một mình: những con két trong rừng, cậu bé ạ, chỉ nghe có một mình người cố đạo, bèn hát lên với sự tĩnh tâm... Và hãy tưởng tượng rằng tôi đã trông thấy ngoài khơi đảo Célèbes, cách đây mười năm, những thuyền buôn Ảrập thời xưa bị trôi giạt, được chạm trổ giống như các sọ dừa và đầy những kẻ chết vì bệnh thử dịch với cánh tay buông thõng như thế này dọc theo bao lơn tàu; dưới một bầy hải âu... Hoàn toàn như vậy...
- Ông may mắn quá. Tôi đi du lịch từ bảy năm nay mà không thấy được những cảnh như vậy
- Cần phải đưa vào đời sống các phương tiện của nghệ thuật, cậu bé ạ, không phải để làm nghệ thuật, Chúa ơi! Không đâu! Mà để làm giàu thêm cho cuộc sống.
Ông vỗ vào bụng y và thận trọng quay đi nơi khác: một chiếc xe hơi mà ông quen mắt dừng lại chân cầu tàu: Ferral trở về Pháp.
Một người bồi bắt đầu chạy dọc theo sân tàu hạng nhất vừa tung chuông khởi hành. Một tiếng chuông vang dội vào lồng ngực của Clappique.
“Âu châu, ông thầm nghĩ: tiệc vui đã tàn. Giờ đây, Âu châu”. Ông cảm thấy như nó đến trước mặt ông với cái chuông dồn dập, không phải như hồi chuông giải thoạt, mà là một hồi chuông nơi nhà tù. Nếu không có sự đe dọa của cái chết, ông đã trở lên bờ.
- Quán rượu nơi sân hạng ba đã mở cửa chưa ? Ông ta hỏi người Nga.
- Đã mở cách đây một giờ rồi. Mọi người đều có thể đến đó cho tới lúc tàu ra biển.
Clappique cắp lấy cánh tay y.
“Hãy đến đó say sưa...”
6 giờ
Trong cái phòng rộng hơn – một sân trường có mái lợp trước đây – hai trăm thương binh Cộng sản chờ đợi người ta đến kết liễu đời mình. Tựa trên một khuỷu tay, Katow, thuộc số người vừa được mang lại, đưa mắt nhìn. Tất cả đều nằm dài trên mặt đất.
Nhiều người rên rỉ, một cách đều đặn lạ lùng; một vài người hút thuốc như trước kia tại Trụ sở thường trực, và những nhánh khói vươn cao đến mái lợp, đã sẫm tối mặc dù các cửa sổ rộng lớn theo kiểu Âu châu, buổi chiều và sương mù bên ngoài làm ngả màu u ám. Mái lợp như vươn rất cao, bên trên tất cả những người đang nằm đó. Mặc dầu ngày vẫn chưa tắt, không khí đã là một không khí về đêm. “Phải chăng vì các vết thương, Katow thầm hỏi, hay vì mình và họ đều nằm cả xuống, như nơi một sân ga ? Đây là một sân ga. Mình và họ sẽ không đi về đâu cả, và kìa...”
Bốn lính gác người Trung Hoa đi dọc đi ngang giữa các thương binh, lưỡi lê nơi nòng súng, và các lưỡi lê phản chiếu một các lạ lùng bóng ngày u ám, trông rõ và thẳng đứng bên trên những thân xác dị hình ấy. Ngoài kia, sau lớp sương mù, những ánh sáng vàng nhạt – những đèn khí chắc vậy – hình như cũng trông chừng họ; một tiếng còi vang lên, át mất các tiếng thì thầm và rên rỉ, như vang lên từ nơi có những ánh đèn ấy (bởi vì tiếng còi cũng đến từ phía sau lớp sương mù): tiếng còi của một chiếc xe lửa; họ hiện đang ở sân ga căng thẳng tàn khốc, không phải sự chờ đợi cái chết. Katow rõ được nhờ cổ họng của anh: đó là sự khát nước – và cơn đói. Tựa lưng vào tường, anh nhìn từ trái sang phải: nhiều khuôn mặt quen thuộc, mà một số đông là những chiến sĩ thuộc các toán xung kích. Dọc theo một bên chật hẹp của căn phòng, một khoảng trống, bề ngang rộng ba thước, được dành riêng. “Tại sao các thương binh lại chồng chất lên nhau, anh lớn tiếng hỏi, thay vì đến đó ?” Anh ta thuộc số những người cuối cùng được mang đến. Tựa vào tường, anh đứng lên; mặc dù các vết thương làm đau đớn, anh như cảm thấy có thể đứng thẳng; nhưng anh ngừng lại, vẫn khom lưng: dù không có một tiếng nào được thốt lên anh cảm thấy chung quanh mình một sự kinh hãi rụng rời đến mức anh trở nên bất động. Trong những cái nhìn ? Anh chỉ vừa phân biệt được chúng. Nơi những điệu bộ ? Tất cả trước hết đều là những điệu bộ của thương binh, đang đau đớn vì chính những vết thương của họ. Thế nhưng, dù được truyền đạt bằng cách nào, sự kinh hãi vẫn ở đó – không phải là nỗi sợ hãi mà là sự hãi hùng của người và thú trơ trọi trước sự bất nhân. Katow, không ngớt tựa vào tường, bước qua mình người nằm bên cạnh.
- Anh điên rồi sao? – một giọng nói cất lên sát mặt đất.
- Sao vậy ?
Câu hỏi vừa là mệnh lệnh. Nhưng không có người nào trả lời. Và một trong số những cai tù, cách đó năm thước, thay vì quật anh xuống đất trở lại, lại nhìn anh với vẻ kinh ngạc.
- Sao vậy? – anh lại hỏi lần nữa, một cách sẵn giọng hơn.
- Anh ta không biết, - một giọng khác nói, vẫn ở sát mặt đất, và đồng thời, một giọng khác, thấp hơn. – “Cũng sẽ biết...”
Anh đã hỏi câu thứ hai rất lớn. Sự do dự của đám đông ấy có một cái gì khủng khiếp, ở bên trong, và cũng vì hầu hết những người này đều có quên biết với anh: hiểm họa treo nơi bức tường ấy đè nặng đồng thời lên mọi người, và riêng biệt lên người anh.
“Nằm xuống trở lại đi.”, - một người trong đám thương binh nói.
Tại sao không có người nào trong số những người này gọi anh bằng tên? Và tại sao cai tù lại không can thiệp? Anh đã trông thấy, ban nãy, hắn đập bằng báng súng cho ngã trở xuống một người thương binh muốn đổi chỗ... Anh đến gần người mới đối thoại vừa rồi, nằm xuống bên cạnh y.
“Người ta dành chỗ đó cho những người sắp bị hành hình”, - người này trầm giọng nói.
Mọi người đều rõ, nhưng đều không dám nói cho anh biết, hoặc là họ sợ nói đến chuyện ấy, hoặc không người nào dám nói với anh chuyện ấy, không dám nói với anh. Có một người đã cho biết: “Cũng sẽ biết”...
Cánh cửa mở ra. Những người lính đi vào với các ngọn đèn lồng, bao quanh những người khiêng băng ca, ném lăn lóc các thương binh giống như những cái gói, sát gần bênh Katow. Đêm đã đến, nó dâng lên từ mặt đất nơi mà những tiếng rên rỉ chen nhau như những con chuột, không cựa quậy được. Cánh cửa đóng lại.
Thời gian trôi qua. Chỉ có tiếng chân của những người lính gác và ánh sáng cuối cùng của các lưỡi lê bên trên hàng ngàn tiếng rên rỉ vì đau đớn. Đột nhiên, như thể bóng tối càng làm sương mù dày thêm, từ phía rất xa, tiếng còi xe lửa vang dội, nghe càng thêm điếc tai. Một người trong số những người vừa mang đến, nằm sấp người, co rút bàn tay ở hai bên tai, và gào lên. Những người khác không hết lên, nhưng một lần nữa sự hãi hùng lại hiện ra ở đây, ở sát mặt đất.
Người ấy ngẩng đầu lên, chống lên hai khuỷu tay, nhỏm dậy. “Đồ lưu manh, - y gào lên, - sát nhân!”
Một trong số những lính gác bước tới, và đá vào mạng sườn cho y lật lại. Y im bặt. Lính gác bỏ đi. Người thương binh bắt đầu lầm bầm. Giờ đây trời quá u ám để Katow có thể phân biệt được cái nhìn của y, nhưng nghe được giọng nói của y, anh ta nhận thấy y sắp sửa nói rõ giọng. Quả nhiên, “... không có bắn họ, chúng quăng sống họ vào nồi súp de xe lửa, y nói. Và giờ đây, chúng huýt còi lên...”. Lính gác trở lại. Im lặng, ngoại trừ cơn đau đớn.
Cánh cửa lại mở ra. Lại những lưỡi lê, giờ đây được chiếu sáng từ trên xuống dưới bởi ngọn đèn hiệu, nhưng không có thương binh. Một sĩ quan Quốc dân đảng đi vào một mình. Mặc dù chỉ còn trông thấy trọn cả khối người mà thôi, Katow vẫn cảm thấy như mỗi người đều cứng đơ người lại. Viên sĩ quan, đằng kia không rõ hình thù, chỉ là một bóng mờ mà ngọn đèn hiệu soi mơ hồ dưới bóng ngày tàn tạ, ra lệnh cho một lính gác. Hắn bước đến, tìm kiếm Katow, nhận ra anh. Không chạm vào người anh, không nói một lời nào cả, với vẻ kính cẩn, hắn chỉ ra hiệu cho anh đứng lên. Anh đứng lên với nỗi nhọc nhằn, quay mặt về phía cửa ra vào, đằng kia, nơi mà viên sĩ quan vẫn tiếp tục ra lệnh. Người lính một tay cầm súng, tay kia xách đèn hiệu, đứng bên trái anh. Phía bên mặt, chỉ có khoảng trống và bức tường màu trắng. Người lính lấy khẩu súng chỉ về phía khoảng trống. Katow mỉm cười chua chát, với một niềm kiêu hãnh tuyệt vọng. Nhưng không có người nào trông thấy vẻ mặt anh: người lính gác, cố ý không nhìn vào Katow, và tất cả những thương binh nào không phải đang chết dần đều tựa lên một chân, một cánh tay, lên cằm để dõi mặt theo cái bóng người chưa lấy gì làm đen sẫm lớn dần trên bức tường dành cho những người bị hành hình.
Người sĩ quan bước ra. Cánh cửa vẫn cứ mở ra đấy. Những lính gác bồng súng lên: một người thường dân đi vào. “Khu A”, một giọng nói lớn từ bên ngoài, sau đó cánh cửa đóng lại. Một người trong số những lính gác đi theo người thường dân về phía bức tường, không ngớt lầm bầm; sát gần lại, Katow, kinh ngạc, nhận ra Kyo. Vì Kyo không bị thương, những lính gác, khi trông thấy anh ta đi đến giữa hai người sĩ quan, đã lầm tưởng anh ta là một trong số những người ngoại quốc cố vấn cho Tưởng Giới Thạch; giờ đây nhận ra sự nhầm lẫn của mình, chúng từ xa chửi mắng Kyo.
Kyo nằm xuống trong bóng tối, bên cạnh Katow.
- Anh có biết những gì đang chờ đợi chúng ta không? – anh ta hỏi.
- Người ta không quên báo cho tôi biết, tôi cóc cần: tôi có mang theo phần cyanure của tôi. Anh có phần của anh đó không ?
- Có.
- Anh bị thương à ?
- Nơi chân. Tôi có thể đi được.
- Anh ở đây lâu chưa ?
- Chưa. Anh bị bắt hồi nào ?
- Chiều hôm qua. Ở đây có cách gì chuồn không ?
- Không có cách gì cả. Hầu hết đều bị thương nặng. Ngoài kia, khắp nơi đều có lính. Anh có thấy khẩu tiểu liên trước cửa ra vào không ?
- Có. Anh bị bắt tại đâu ?
Cả hai đều cần thoát ra khỏi lần chờ đợi bi thảm này, cần chuyện trò, cần chuyện trò; Katow, về sự chiếm đóng Trụ sở thường trực; Kyo, về nhà tù, về cuộc đàm đạo với Konig, về những gì Kyo biết được, kể từ lúc đó; ngay trước khi bị tống vào nhà giam tạm, Kyo đã biết rằng May không bị bắt giữ.
Katow nằm nghiêng, sát một bên, chia cách bằng trọn cả sức đau đớn: miệng hé mở, môi phồng lên dưới cái mũi vui tươi, đôi mắt gần như nhắm lại, nhưng anh ta nối liền vào Kyo bằng tình bạn tuyệt đối, không nói thành lời và không dò xét, mà chỉ có cái chết mang lại: một đời sống bị kết án đã sa lầy bên cạnh đời sống của Kyo trong bóng tối đầy những hiểm nguy và thương tích, chen giữa tất cả anh em “cái bang” của cuộc Cách mạng: mỗi người trong số các anh em ấy đều một cách điên cuồng vồ lấy sự cao cả duy nhất nào mà họ có thể xem như là của mình, khi đi qua.
Những lính vệ binh mang đến ba người Trung Hoa. Tách riêng với đám đông thương binh, nhưng cũng không được sát nhập vào những người nơi bức tường.
Họ bị bắt giữ trước khi xảy ra cuộc giao tranh, bị xét xử một cách lơ mơ, và chờ bị xử bắn.
“Katow” – một người trong số ấy gọi.
Đó là Lou-You-Shuen, người hợp tác làm ăn với Hemmelrich.
“Gì ?”
- Anh có biết người ta xử bắn gần hay xa đây không ?
- Tôi không biết. Dù sao, người ta cũng không nghe tiếng súng.
Một giọng nói, cách xa hơn một chút.
“Hình như, sau đó, kẻ xử bắn mình sẽ gỡ đi những cái răng vàng”.
Và một giọng nói khác.
“Tôi cóc cần: tôi không có bịt răng vàng”.
Ba người Trung Hoa cứ hút thuốc, hết ngụm này đến ngụm khác.
- Anh có nhiều hộp quẹt không ? – Một người thương binh hỏi, cách xa một quãng.
- Có.
- Ném cho tôi một hộp.
Lou ném sang cái hộp quẹt của anh.
“Tôi rất mong có người nói cho con tôi biết rằng tôi đã chết một cách can trường”, - anh ta khẽ nói. Và, giọng nói hạ thấp thêm một chút nữa. “Chết không phải một chuyện dễ dàng”.
Katow khám phá nơi anh một niềm vui thầm: không vợ, không con.
Cánh cửa mở ra.
“Hãy dẫn ra một đứa!” – người lính gác la lên.
Ba người sát vào nhau.
“Sao đây, người lính vệ binh nói, hãy quyết định chớ...”
Hắn không tự tay chọn. Đột nhiên, một trong hai người Trung Hoa lạ mặt tiến lên một bước, bỏ điếu thuốc vừa mới bắt lửa, đốt lên một điếu khác sau khi đã bẻ gãy hai diêm quẹt và bước đi bằng một bước chân vội vã về phía cửa ra vào vừa gài lại tất cả nút áo, từng nút một, trên cái áo ngắn. Cánh cửa đóng lại.
Một người thương binh nhặt lên những khúc diêm rơi xuống đất. Những người gần bên y và y bẻ thành manh mún những diêm quẹt trong cái hộp mà Lou You Shuen đã ném cho, và chơi trò rút que. Không đầy năm phút sau, cánh cửa mở ra trở lại.
“Một đứa khác!”
Lou và người bạn đồng số phận cùng bước tới, tay cặp tay. Lou đọc lớn với giọng không thanh sắc cái chết của vị anh hùng trong một vở tuồng nổi tiếng; nhưng niềm đồng cảm lâu đời giữa những người Trung Hoa đã thật sự bị hủy diệt rồi: không một người nào lắng nghe anh.
“Đứa nào ?” – Người lính hỏi.
Hai người không trả lời.
“Đã xong chưa đây ?”
Hắn tách hai người ra bằng một báng súng. Lou gần với hắn hơn: hắn nắm lấy vai anh.
Lou tránh vai ra, bước tới. Người kia quay trở về chỗ cũ và nằm xuống.
Kyo cảm thấy người này sẽ chết khó khăn hơn những người đã chết trước anh: anh ta còn lại một một mình. Can đảm không kém gì. Lou, vì anh ra đã bước tới cùng với Lou. Nhưng giờ đây bộ điệu nằm ngủ co quắp dưới đất của anh, cánh tay ôm lấy cổ, đã nói lên một cách hùng hồn nỗi sợ hãi. Quả nhiên, khi người lính vệ binh chạm vào người anh, anh ta cuống cuồng lên. Hai người lính nắm lấy tay anh, một người nơi chân, người kia nơi đầu và mang anh đi.
Nằm ngửa lưng, tay thu về trên ngực, Kyo nhắm mắt lại: đó chính thật là bộ điệu của người chết. Anh tưởng tượng mình nằm duỗi dài, bất động, mắt nhắm lại, khuôn mặt khuây khỏa vì sự thanh tĩnh mà cái chết đã khoác lên cho hầu hết những xác chết trong một ngày, như thể nhân phẩm của ngay cả những người nào khốn cùng nhất cũng phải được phô bày ra. Kyo đã trông thấy nhiều cái chết, và, được trợ lực thêm bởi sự giáo dục của người Nhật mà anh đã thừa hưởng, bao giờ anh cũng nghĩ rằng thật là cao đẹp khi được chết cái chết của mình, một cái chết giống với đời sống của mình. Và chết là thụ động, nhưng tự tử là hành động. Ngay khi người ta đến tìm những người đầu tiên thuộc phe anh, anh sẽ tỉnh táo để hủy mình. Kyo nhớ lại – trái tim ngưng đập – những đĩa hát. Thời kỳ mà hy vọng còn giữ được một ý nghĩa! Kyo sẽ không gặp lại May, và niềm đau khổ của nàng, như thể cái chết của anh là một tội lỗi. “Sự hối hận phải chết.”, anh thầm nghĩ với một niềm trớ trêu khó chịu. Không có gì giống với ba anh, bao giờ cũng gây cho anh cái ấn tượng, không phải nhu nhược, mà là đầy khí lực. Từ hơn một năm nay, May đã giải thoát anh khỏi mọi niềm cô đơn, nếu không phải mọi niềm cay đắng. Cuộc trốn chạy nhức nhối vào niềm thân ái của hai thân xác quấn lấy nhau lần đầu hiện lên, ngay khi, tách rời những người còn sống, Kyo nghĩ đến nàng. “Giờ đây nàng cần phải quên mình... Viết ra cho nàng ý nghĩ ấy, càng khiến cho nàng thêm đau đớn và gắn bó thêm vào với anh. Và cũng như bảo nàng hãy yêu một người khác.” Ôi ngục tù, nơi mà thời gian ngưng động – dù ngoài kia thời gian vẫn trôi đều... Không! Chính nơi cái sân có mái lợp bày bị ngăn cách với mọi vật bằng những khẩu trung liên, mà cuộc Cách mạng đã nhận lấy ân huệ cuối cùng, dù số phận của nó như thế nào, dù địa điểm phục sinh của nó là đâu: ở nơi nào con người còn làm việc trong nỗi khổ cực, trong sự phi lý, trong niềm khuất nhục, người ta sợ nghĩ đến những người này giống như những tín đồ cầu nguyện; và thành phố ngoài kia, người ta bắt đầu thương xót những người đang hấp hối ở đây như thể họ không còn nữa trên đời... Giữa tất cả những gì mà cái đêm cuối cùng này trùm phủ trên mặt đất, cái nơi có những tiếng thở nặng nề này chắc hẳn là nơi nặng vì tình yêu hùng tráng nhất. Rên rỉ cùng với đám đông đang nằm, cối kết vào nỗi đau đớn tự nguyện đến tận những lời than vấn âm thầm... Và một tiếng lao xao mơ hồ của nỗi đớn đau: cũng như Hemmelrich, hầu hết những người này đều có con. Thế nhưng, sự bất hạnh mà họ chấp nhận dâng lên cùng với tiếng lầm rầm của những người bị thương như sự yên tĩnh của buổi chiều, khoác lấy vẻ trang nghiêm của điệu Kinh cầu hồn, trùm phủ trên Kyo, mắt anh nhắm lại, đôi tay khoanh trên thân xác đã buông xuôi. Anh đã chiến đấu cho những gì, vào đường của anh, đã chở nặng cái ý nghĩa nào mãnh liệt nhất và niềm hy vọng nào lớn lao nhất, anh sẽ chết giữa những người mà anh muốn chung sống với họ; anh sẽ chết giống như mỗi người trong số những người đang nằm đây, để mang lại cho đời sống một ý nghĩa. Một đời sống mà anh không chấp nhận hy sinh cuộc đời mình cho nó thì còn một giá trị gì chớ? Khi người ta không phải chết một mình, cái chết sẽ trở nên dễ dàng. Cái chết đầy ứ những giọng người run run thân ái ấy nơi tập hợp những kẻ chiến bại mà vô số người sẽ nhận ra ở đó những kẻ tuần giáo của họ, truyền kỳ đẫm máu là suối nguồn cho những truyền kỳ rực rỡ! Đã bị cái chết chọn lựa, làm thế nào không nghe tiếng thầm thì của cuộc tế người đã thét lên với anh rằng con tim hùng tráng của con người là nơi nương náu đợi chờ cái chết không gì tinh thần?
Giờ đây Kyo cầm chất cyanure trong tay. Anh thường tự hỏi không hiểu mình có chết dễ dàng không. Anh biết rằng, nếu quyết định tự tử, anh sẽ tự tử; nhưng, hiểu rõ sự lạnh lùng man rợ mà đời sống đã dùng để lột xuống bao nhiêu mặt nạ của con người, đã không khỏi không cảm thấy lo âu vào lúc cái chết sẽ nghiền nát tư tưởng của anh bằng trọn cả đầu cân ấn hẳn xuống.
Không, chết có thể là một hành động cực điểm, sự biểu lộ tối cao của một đời sống mà cái chết giống với nó dường nào; và cũng là thoát khỏi hai người lính kia đang ngập ngừng bước tới. Kyo nghiền nát chất thuốc độc giữa hai hàm răng theo như lời dặn, tai vẫn còn nghe Katow hỏi thăm và chạm vào người anh, và, ngày vào lúc anh muốn bấu vào người anh ta, anh cảm thấy tức nghẹn và toàn cả sinh lực của anh vượt khỏi anh, vỡ thành muôn mảnh bên ngoài thân xác anh trước một chấn động vô cùng.
Những người lính đến tìm trong đám hai tù nhân không còn đứng lên được nữa. Chắc hẳn việc thiêu sống sẽ dành cho những vinh dự đặc biệt, mặc dầu bị giới hạn: được mang đi trên một băng ca duy nhất, chồng lên nhau hay cũng như vậy, họ bị rút xuống bên trái của Katow; Kyo nằm chết phía bên mặt của anh. Nơi khoảng trống ngăn cách với những người chỉ còn chờ chết, những người lính ngồi xổm bên cạnh ngọn đèn hiệu của chúng. Dần dần những cái đầu và những cái nhìn khuất trở vào đêm tối, thỉnh thoảng mới trở lại với ánh đèn rọi sáng nơi dành cho những người đã bị kết án tử.
Katow, kể từ sau cái chết của Kyo – anh đã thở hổn hển ít nữa cũng trong một phút đồng hồ -, cảm thấy bị ném trở về một nỗi cô đơn càng mãnh liệt và đau đớn hơn nữa khi chung quanh mình có những người đồng đội. Người Trung Hoa đã phải được khiêng đi để hạ sát bị dằn vặt vì cơn điên cuồng, đã ám ảnh anh. Và dù vậy anh ta tìm thấy trong sự phó mặc hoàn toàn này cái cảm giác yên tĩnh, như thể từ nhiều năm nay, anh ta đã chờ đợi cảm giác ấy, niềm yên tĩnh gặp lại, thấy lại, vào những lúc tàn tệ của đời sống. Anh ta đã đọc được đâu đây: “Không phải chính những khám phá, mà chính những nỗi khổ nhọc của các nhà thám hiểm đã khêu gợi sự ham muốn của tôi, đã hấp dẫn tôi...” Như thể để đáp lại ý nghĩ của anh, tiếng còi xa xôi vọng đến căn phòng lần thứ ba. Hai người nằm gần bên toán của anh giựt mình. Đó là hai người người Trung Hoa rất trẻ: một người là Souen, anh ta chỉ quen biết vì đã chiến đấu với nhau tại Trụ sở thường trực; người thứ hai, lạ mặt (không phải Pei). Tại sao họ không được giam chung với người khác ?
- Thuộc tổ chức các toán chiến đầu à? – Kotow hỏi.
- Mưu sát Tưởng Giới Thạch – Souen trả lời.
- Không. Anh ấy muốn liệng bom một mình, họ Tưởng không có mặt trên xe.
- Phần tôi, tôi chờ đợi chiếc xe ở xa hơn. Tôi đã bị bắt với trái bom.
Giọng trả lời cho câu hỏi của anh nghe nghẹn ngào đến nỗi Katow phải nhìn chăm chú vào khuôn mặt: hai người thanh niên này khóc, thật lặng lẽ. “Lời nói không giúp được gì nhiều”, Katow thầm nghĩ. Souen muốn động đậy cái vai và nhăn nhó vì đau đớn. Souen cũng bị thương nơi cánh tay.
- Bị cháy, - Souen nói. – Bị cháy. Cả đôi mắt nữa, đôi mắt, anh biết không.. .
Người bạn của Souen giờ đây nức nở.
- Người ta cũng có thể bị như vậy vì tai nạn, - Katow nói.
Họ có vẻ không phải chuyện trò với nhau, người này với người kia, mà là với một người thứ ba vô hình.
- Không giống nhau đâu.
- Không: ít đẹp hơn.
- Cả đôi mắt nữa, - Souen lặp lại bằng một giọng nói càng thấp hơn nữa, - cả đôi mắt nữa... Từng ngón tay, và cái bụng, cái bụng...
- Im đi! – Người kia nói không rõ tiếng.
Y muốn la lên nhưng không còn đủ sức. Y co quắp bàn tay sát gần bên các vết thương của Souen, mà các thớ thịt co rút lại.
“Phẩm cách của con người”, - Katow thầm thì, nghĩ đến cuộc đàm đạo của Kyo với Konig. Không có một tội nhân nào còn trò chuyện nữa. Phía bên kia ngọn đèn hiệu, giờ đây trong bóng tối hoàn toàn, vẫn là tiếng xôn cao của các vết thương. Anh đến gần thêm nữa với Souen và người bạn. Một trong số những lính vệ binh kể cho những người kia một câu chuyện: đầu chụm lại, chúng ở giữa ngọn đèn hiệu và các tội nhân. Mặc dầu, tiếng xôn xao, mặc dầu tất cả những người ấy đã chiến đấu giống như anh, Katow vẫn chỉ có một mình, một mình giữa xác người bạn đã chết và hai người nằm bên cạnh đang kinh hãi, một mình giữa bức tường này với tiếng còi kia đã chìm mất vào đêm tối. Nhưng một người có thể cảm thấy mình mạnh mẽ hơn sự cô đơn ấy và, có lẽ, hơn cả tiếng còi tàn khốc ấy: nỗi lo sở ở trong lòng đang chống lại sự cám dỗ khủng khiếp nhất của đời anh. Đến lượt anh mở khoen dây nịt. Cuối cùng:
- Ê này! – Anh nói bằng giọng rất thấp. Souen, hãy đặt tay lên ngực tôi, và cầm lấy khi tôi chạm đến, tôi sắp trao cho anh phần cyanure của tôi. Chỉ đủ cho hai người mà thôi.
Anh đã không muốn thốt lên một lời nào cả, ngoại trừ câu nói chỉ đủ cho hai người mà thôi. Nằm nghiêng một bên, anh bẻ phần cyanure ra làm hai. Những lính vệ binh, che khuất ánh sáng, đã phủ quanh chúng một vùng ánh sáng mơ hồ; nhưng liệu chúng có sắp sửa động đậy không ? Không thể trông thấy bất cứ một vật gì, tặng phẩm ấy còn hơn cả cuộc đời anh, anh không dành nó cho những thân xác cũng không cho những giọng nói. Bàn tay co quắp lại giống như một con vật, rớt khỏi người anh ngay sau đó. Anh chờ đợi, toàn thân căng thẳng và đột nhiên, anh nghe một giọng nói:
“Mất rồi. Rớt mất rồi”.
Giọng nói chỉ bị biến đổi phần nào bởi niềm lo lắng, như thế một thảm họa như vậy khó bề xảy ra, như thể mọi việc đều phải được chuẩn bị. Đối với Katow cũng vậy, thật khó thể ngờ được. Một niềm giận dữ vô bờ dâng lên trong anh nhưng lại lắng xuống trở lại, bị áp chế bởi sự không thể ngờ ấy. Và thế nhưng! Chính anh trao chất ấy để cho kẻ ngu độn ấy đánh mất nó!
- Bao giờ vậy? – Anh hỏi.
- Trước khi tới tôi. Không thể cầm được khi Souen trao nó cho tôi: tôi cũng bị thương ở bàn tay.
- Anh ta làm mất cả hai, - Souen nói.
Chắc họ đang tìm kiếm giữa chỗ nằm của họ. Sau đó giữa chỗ của Katow và Souen, mà người kia chắc hẳn đã gần như nằm chồng lên, vì bởi Katow, không trông thấy gì cả, cảm thấy cái khối gồm hai thân người ấy gần bên úp bàn tay xuống, cách khoảng từng tấc một, nơi nào mà anh có thể vươn tới. Bàn tay của hộ pháp lên của anh. Và đột nhiên một trong số hai bàn tay ấy nắm lấy nó, siết chặt, giữ nó lại.
“Cho dù chúng ta không tìm thấy gì cả”, một giọng nói thốt lên.
Katow, cũng vậy, cũng siết lấy bàn tay, suýt chảy nước mắt, bị xâm chiếm vì sự thân ái âm thầm đáng thương ấy, gần như không hiện rõ thành lời (mọi lời thì thầm đều nghe giống nhau) đã dành cho anh trong bóng tối này đền bù lại tặng phẩm lớn lao nhất mà anh chưa từng dành tặng, và có lẽ một cách hoài công. Mặc dù Souen tiếp tục tìm kiếm, hai bàn tay vẫn dính vào nhau. Cái siết tay ấy bỗng dưng co quắp lại.
“Đây rồi”.
Ôi, phút hồi sinh! Nhưng:
- Anh có chắc đó không phải là viên sỏi không, người kia hỏi.
Có nhiều miếng vôi hồ trên mặt đất.
“Đưa đây!” – Katow nói.
Anh nhận ra hình thể của chúng bằng đầu ngón tay.
Anh trao lại – trao trả lại – siết chặt thêm bàn tay đang tìm kiếm bàn tay anh lần nữa, và chờ đợi, đôi vai run rẩy, răng đánh lập cập. “Miễn sao chất cyanure không bị phân giải, mặc dù lớp giấy bạc”, anh thầm nghĩ. Bàn tay mà anh đang nắm giữ đột nhiên lắm lấy bàn tay anh, và, như thể qua nó anh đồng cảm được với thân người nằm khuất trong bóng tối, anh cảm thấy thân người ấy căng thẳng ra. Anh thèm muốn sự ngộp hơi co giật ấy. Gần như cùng lúc, người kia: một tiếng kêu thắt nghẹn mà không một người nào kịp đề phòng. Sau đó, không có gì nữa cả. Katow cảm thấy bị bỏ rơi. Anh nằm sấp người lại và chờ đợi. Đôi vai không ngừng run rẩy.
Giữa đêm, viên sĩ quan trở lại. Trong tiếng loảng xoảng của vũ khí chạm vào nhau, sáu người lính tiến lại gần các tội nhân.
Tất cả các tù nhân đều thức giấc. Ngọn đèn hiệu lần này, cũng vậy, vẫn chỉ cho thấy có những hình thể dài mơ hổ - đã giống với những phần mộ trong lớp đất đã được lấp lại – và một vài tia phản chiếu trên ánh mắt. Katow đã đứng dậy xông lên. Người chỉ huy đoán áp giải tù nhân nắm lấy cánh tay của Kyo, cảm thấy nó cứng đơ, liền bấu vào người Souen: người này cũng cứng đơ. Một tiếng lao xao truyền từ các tù nhân hàng đầu đến các tù nhân phía cuối cùng. Chỉ huy toán áp giải nắm lấy bàn chân của người thứ nhất, kế của người thứ hai: chúng rơi xuống lại, cứng đơ. Hắn gọi người sĩ quan. Người này cũng làm cùng những cử chỉ ấy. Tiếng lao xao nghe lớn dần, trong đám tù nhân. Người sĩ quan nhìn Katow:
“Chúng đã chết rồi à ?”
Tại sao lại trả lời ?
“Hãy cô lập sáu tù nhân gần nhất!”
- Vô ích, - Katow trả lời – chính tôi đã cho họ chất cyanure. Viên sĩ quan do dự:
- Còn anh ? – cuối cùng hắn hỏi.
- Chỉ có đủ cho hai người. – Katow trả lời với một niềm vui sâu xa.
“Mình sắp lãnh một báng súng vào mặt”, anh nghĩ thầm.
Tiếng lao xao của các tù nhân trở thành gần như là tiếng la hét.
“Đi”, người sĩ quan chỉ nói có thế.
Katow không quên rằng anh đã từng bị kết án tử hình, đã từng trông thấy cái khẩu trung liên chong vào mình, đã từng nghe chúng nhả đạn. “Ngay khi ra đến ngoài, mình sẽ cố bóp cổ một chàng và siết lại khá lâu để bắt buộc chúng phải giết mình. Chúng sẽ thiêu mình, nhưng không còn là thiêu sống.” Cũng ngay vào lúc ấy, một lính khác thúc hai bàn tay ra sau lưng và trói lại. “Những thằng này cũng may cho chúng, anh ta thầm nghĩ. Thôi! hãy tưởng chừng mình đã chết trong một cơn hỏa hoạn”. Anh bắt đầu bước. Sự yên lặng rơi xuống lại, giống như một bẫy sập, mặc dù những tiếng rên rỉ. Giống như mới đây trên bức tường màu trắng, ngọn đèn hiệu giờ đây rọi cái bóng tối đen của Katow lên các cửa sổ đêm to lớn; anh bước nặng nề, từng bước một, bị hãm lại bởi các vết thương; khi thân người lắc lư của anh gần lại với ngọn đèn hiệu, bóng của cái đầu mất nơi trần nhà. Cả bóng tối của căn phòng đều sống động và dõi mắt theo từng bước chân. Sự yên lặng đã đến mức mà mặt đất nghe vang dội mỗi lần anh đặt bước chân nặng nề xuống; tất cả những cái đầu, đều gật gù dõi theo nhịp bước của anh với tình thương, niềm sợ hãi, với sự cam chịu” như thể, mặc dầu các cử động giống nhau, mỗi người tự nhận ra chính mình khi dõi theo những bước chân khập khiễng ấy. Tất cả đều ngẩng đầu ra: cảnh cửa khép lại.
Những tiếng thở dài sâu, giống như trong giấc ngủ bắt đầu cất lên từ mặt đất; thở bằng mũi, quai hàm dán chặt vì lo âu, giờ đây, đã bất động, tất cả những người nào còn sống đều chờ đợi tiếng còi xe lửa.
Hôm sau
Từ hơn năm phút qua, ông Gisors nhìn cái dọc tấu của mình. Trước mặt ông, ngọn đèn được thắp sáng, “vật kia không mang lại sự an ủi nào”, cái hộp nhỏ đựng thuốc phiện mở nắp, những cây tiêm được chùi sạch sẽ. Ngoài kia, đêm tối; trong căn phòng, ánh sáng của ngọn đèn nhỏ và một khoảng sáng hình chữ nhật, cánh cửa mở của căn phòng bên cạnh nơi người ta đã mang về cái xác của Kyo. Sân lợp được dọn trống cho nhiều tội nhân mới đến, và không có người nào chống lại việc những cái xác bị vứt bỏ bên ngoài được mang đi. May đã mang về xác của Kyo, với những thận trọng dành cho một người bị thương rất nặng, Kyo nằm đó, thân xác duỗi ra, không có vẻ thanh thản, - như Kyo, trước khi tự sát, đã nghĩ rằng mình sẽ được như vậy, - mà nó bị co quắp vì ngạt thở, đã là một cái gì khác hơn một con người. May chải tóc cho anh trước khi xác được tắm rửa lần cuối , nói thầm với sự hiện diện cuối cùng của khuôn mặt ấy bằng những tiếng nói tình tự mà nàng không dám thốt lên sợ rằng sẽ phải nghe chúng.
“Tình yêu của em”, nàng thầm thì, như nàng đã nói “xác thịt của em”, biết rõ rằng có một gì của chính nàng, chớ không phải những gì xa lạ, đã bị rứt lìa khỏi nàng; “cuộc đời em...”. Nàng nhận ra rằng nàng đã nói điều ấy với một người đã chết. Nhưng từ nãy giờ nàng không còn khóc nữa.
“Mọi nỗi khổ đau nào đã không giúp ích cho một người đều phi lý”, Ông Gisors thầm nghĩ, bị mê hoặc vì ngọn đèn của ông, trốn lẫn vào sự mê hoặc ấy. “Sự bình yên.” Nhưng ông ta không dám giơ bàn tay ra trước. Ông không tin nơi bất cứ sự tồn tại nào sau cái chết, không dành cho những người đã chết sự tôn kính nào, nhưng ông không dám đưa tới trước bàn tay của mình.
Nàng bước đến gần ông. Đôi môi mất hẳn sinh khí, mím lại trên khuôn mặt với cái nhìn thất lạc ấy... Nàng khẽ đặt các ngón tay lên cổ của ông.
“Đến đây, nàng nói bằng một giọng lo lắng, gần như khe khẽ. Hình như anh ấy nghe có phần ấm trở lại...”
Ông ta tìm kiếm đôi mắt của khuôn mặt vô cùng đau đớn ấy, nhưng hoàn toàn không có vẻ gì thất lạc. Nàng bình thản nhìn ông với ít hy vọng hơn là khẩn nguyện. Những hiệu quả của thuốc độc bao giờ cũng không có gì chắc chắn; và nàng là y sĩ. Ông Gisors đứng lên, bước theo nàng, tự ngăn mình đừng nuôi một hy vọng quá mãnh liệt đến nỗi ông cảm thấy như, nếu tự ông buông thả vào đó, ông sẽ không thể chịu đựng được một khi niềm hy vọng bị rút mất, Ông rờ lên vầng trán xanh nhạt của Kyo, vầng trán sẽ không bao giờ có một nếp nhăn ấy; nó nghe lạnh, cái lạnh của sự chết chóc không còn gì để nghi ngờ. Ông không dám rút lại các ngón tay, tìm kiếm lại cái nhìn của May, và ông giữ cái nhìn của mình dán chặt lên bàn tay mở rộng của Kyo, trên đó các đường chỉ tay bắt đầu mờ xóa...
“Không” ông nói, trở về lại với sự thống khổ. Ông không rời niềm thống khổ ấy. Ông ta nhận thấy mình không tin lời May.
- Mặc... nàng chỉ nói vậy.
Nàng nhìn ông đi sang căn phòng bên cạnh, dáng ngập ngừng. Ông đang nghĩ gì đây? Bao giờ xác của Kyo vẫn còn nằm đây, mọi ý nghĩ đều xuất phát do nơi Kyo. Cái chết ấy chờ đợi nơi nàng một điều gì đó, một câu trả lời nàng không được biết nhưng không phải vì vậy mà không có. Ôi cơ hội ti tiện cho những người còn sống, với những lời kinh cầu của họ, những tràng hoa tang! Một câu trả lời vượt ngoài nỗi xao xuyến đã tước đoạt của đôi tay nàng những cái vuốt ve hiền mẫu mà không một đứa trẻ nào đã hưởng được từ nơi nàng, vượt khỏi lời kêu gọi đáng sợ hãy chuyện trò với người chết bằng những hình thức dịu dàng nhất của sự sống. Cái miệng mà hôm qua đây đã nói với nàng “Anh ngỡ rằng em đã chết” sẽ không bao giờ nói nữa; người ta cần phải đi vào sự cảm thông không phải với những gì còn lại ở đây của đời sống tầm thường, một thân xác, mà với chính ngay cái chết. Nàng vẫn ngồi đó, im lìm, moi ra từ nơi ký ức của nàng bao nhiêu cơn hấp hối được chứng kiến bằng niềm cam chịu, ngạo mạn mà nàng đã một cách tàn nhẫn dành cho sự xuất hiện của hư vô.
Ông Gisors nằm dài trở lại lên trường kỷ. “Và, sáng mai, mình sẽ phải thức giấc...”. Mỗi sớm mai cái chết ấy sẽ mang lại cho ông những đều mới lạ trong bao lâu ? Dọc tẩu đang nằm đó: sự bình yên. Giơ bàn tay ra trước, sửa soạn tiêm thuốc: sau một khắc đồng hồ, nghĩ đến ngay chính cái chết với một niềm bao dung vô bờ, giống như nghĩ đến người bán què nào đó đã muốn hại ông: cái chết đã không còn có thể làm tổn hại đến ông, nó đã mất hết mọi ảnh hưởng và chui êm vào sự thanh tĩnh của vũ trụ. Sự giải thoát đang ở sát một bên. Không có một sự giúp đỡ nào có thể dành cho những người đã chết. Tại sao lại phải nhọc lòng thêm nữa? Cái chết là một hiến vật dành cho tình yêu, hay cho nỗi lo sợ?... Ông ta vẫn không dám chạm tay vào mâm, và niềm xao xuyến làm cổ họng ông nghẹn lại cùng lúc với sự thèm muốn và những tiếng nức nở bị dồn nén. Một cách lững lờ, ông cầm lên một tập giấy hiện ra đầu tiên trước tay ông (ông ta không hề chạm đến quyển sách của Kyo, nhưng biết rằng con ông không còn đọc tập giấy này). Đó là một số báo Chính trị Bắc Kinh đã rơi xuống đó lúc người ta mang về xác của Kyo và trong đó có đăng bài diễn văn đã khiến ông Gisors bị trục xuất khỏi Viện đại học. Bên cạnh, nét chữ của Kyo: “Bài diễn văn này là của Ba tôi”. Không bao giờ nó nói với ông cho dù nó tán thành. Gisors xếp tập báo lại một cách nhẹ nhàng và nhìn mối hy vọng của ông đang nằm chết đó.
Ông mở cửa, liệng thuốc phiện ra ngoài và trở vào ngồi xuống lại, đôi vai buông rũ, chờ đợi bình minh, chờ đợi nỗi đau khổ của ông được thu trở về sự yên lặng vì ông đã hao mòn trong sự đối thoại với nỗi khổ ấy. Mặc dầu sự khổ đau đã làm miệng ông hé mở, đã biến bộ mặt nghiêm trang của ông thành khuôn mặt ngơ ngác, ông vẫn không đánh mất tất cả sự tự chế. Đêm nay, cuộc đời ông sẽ thay đổi: sức mạnh của tư tưởng không đủ để đương đầu với sự biến đổi mà cái chết có thể ép buộc một người. từ nay ông bị ném trở về lại chính mình. Thế giới đã không còn ý nghĩa, đã không còn hiện hữu: sự bất động vĩnh viễn, ở đây, bên cạnh cái xác ấy đã nối ông vào với vũ trụ, giống như cuộc tự sát của Chúa. Ông đã không chờ đợi nơi Kyo, sự thành công, cũng như hạnh phúc, nhưng mà một thế giới không có Kyo tồn tại thì... “Mình bị ném ra khỏi thời gian”; đứa con là sự tùng phúc trước thời gian, trước dòng trôi của sự vật, ông thầm nghĩ; chắc hẳn, nơi cùng tận đáy lòng, ông Gisors cảm thấy hy vọng, cũng như xao xuyến, niềm hy vọng trống rỗng, sự chờ đợi, và tình thương của ông cần phải bị nghiền nát để ông khám phá ra được điều ấy. Và thế nhưng! Tất cả những gì đã hủy diệt ông đều bắt gặp nơi ông một sự tiếp đón háo hức. “Có một cái gì hay đẹp nơi cái chết”, ông thầm nghĩ. Ông cảm thấy run rẩy nơi ông sự đau khổ tận căn, không phải sự đau khổ đến từ sự vật ,à là sự đau khổ rỉ ra từ nơi chính con người, mà đời sống cố gắng giải thoát con người ra khỏi đấy; ông có thể thoát khỏi nó nhưng chỉ bằng cách không nghĩ đến nó; và ông chìm đắm vào đó mỗi lúc một sâu thêm, như thể sự chiêm ngưỡng hãi hùng ấy là giọng nói duy nhất mà cái chết có thể nghe được như thể sự đau khổ được làm người mà ông thấm thía đến tận cùng tâm khảm là bài điếu văn mà người con đã chết của ông có thể nghe được.
❀ ❀ ❀
[1] Kyo là tên gọi tắt.