Thân Phận Con Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11
Tháng Tư

❊ ❊ ❊

Gần như chỉ có một mình ông nơi quày rượu của khách sạn nhỏ bé Grosvenor – gỗ hạnh đào bóng láng, những cái chai, cái thanh bằng kền, những lá cờ - Clappique xoay xoay một cái gạt tàn thuốc bằng ngón tay trỏ chìa thẳng. Bá tước Chpilewski, người mà ông ta chờ đợi bước vào, Clappiquee vò một tờ giấy trên đó ông ta vừa vẽ tặng vật tưởng tượng cho từng người bạn một.

“Cái làng nhỏ bé ngập nắng này có giúp công việc làm ăn của ông phát đạt không, ông bạn!”

- Không. Nhưng chúng sẽ phát vào cuối tháng. Tôi bán thực phẩm cho người Âu châu mà thôi, dĩ nhiên.

Cái mũi quặp và mảnh mai của Chpilewski, trán sói, những sợi tóc màu xám phía sau gáy và đôi gò má cao, mặc dầu bộ y phục màu trắng thật giản dị, bao giờ cũng biến đổi ông ta trông có vẻ anh tuấn. Tròng kính một mắt càng làm nổi bật thêm sự phác họa ấy.

- Tất nhiên vấn đề là phải tìm cho ra hai mươi ngàn franc. Với số tiền này, người ta có thể tạo nên một thị trường rất thích đáng cho việc cung cấp thực phẩm.

- Trong vòng tay của tôi, ông bạn ạ! Ông muốn có một thị trường nho nhỏ, một thị trường xứng đáng trong việc cung cấp thực phẩm không ?

Hoan hô...

- Tôi không biết là ông có ngần ấy... những thành kiến.

Clappoque liếc mắt nhìn con người anh tuấn ấy: một cựu vô địch về kiếm thuật tại Cracovie, thuộc phân đội sĩ quan cấp úy.

- Tôi à? Hãy chui lại xuống đất đi! Tôi nổi giận bây giờ. Ông có tưởng tượng rằng, nếu tôi có được số tiền ấy, tôi sẽ dùng nó để bắt chước một công chức cao cấp Hòa Lan tại Sumatra, mỗi năm đều có đi ngang qua bờ biển Ảrập, trên đường trở về ve vuốt các cây uất kim hương của ông ta; ông bạn ạ, khiến cái đầu ông ta (cần phải nói là chuyện xảy ra vào khoảng năm 1860) nảy sinh ý nghĩ đi mò tìm các kho tàng tại La Mecque. Hình như chúng thật đáng kể và vàng rực rỡ, trong những cái hầm rộng lớn tối đen nơi mà từ bao giờ những người hành hương cũng đều ném của cải xuống đó. Tôi thì chính trong cái hầm ấy mà tôi muốn sống... Cuối cùng, nhà trồng uất kim hương của tôi hưởng được một gia tài và sang miền Antilles mộ một đoàn tùy tùng gồm những tên cướp biển để chinh phục La Mecque một cách bất ngờ, với hàng tá vũ khí tối tân, súng hai nòng, lưỡi lê tháo đinh ốc, gì nữa ? Đưa họ lên thuyền – câm miệng lại! – mang họ qua đó.

Ông ta đặt ngón trỏ lên môi, thích thú vì vẻ tò mò của người đàn ông Ba Lan, trông giống như một sự đồng lõa.

“Thế đó! Bọn cướp nổi loạn, cắt cổ ông ta một cách tỉ mỉ và cùng với con tàu lao vào cuộc đời cướp biển không kiểu cọ, trên một vùng biển nào đó. Đó là một câu chuyện có thật; với lại, có tính cách luân lý. Nhưng, tôi đã nói, nếu ông tin cậy nơi tôi để tìm ra hai mươi ngàn franc, thật là điên, tôi nói thật là điên! Ông muốn tôi phải gặp mặt người này người kia, hoặc giả bất cứ công việc gì loại ấy, tôi sẽ làm cho. Mặt khác, vì bởi đối với mỗi cuộc móc nối làm ăn tôi đều phải thù lao cho bọn cảnh sát khả ố của ông, tôi muốn thù lao cho ông hơn là cho một người nào khác. Mấy tên ấy, trong khi các ngôi nhà bốc cháy, thuốc phiện và gái điếm khiến chúng quan tâm đến nhiều hơn.

Ông ta bắt đầu xoay xoay cái gạt tàn thuốc trở lại.

- Tôi nói với ông về chuyện ấy, - Chpilewski nói, - bởi vì, nếu muốn thành công, tất nhiên tôi phải nói về chuyện ấy với từng người. Tôi sẽ phải, ít ra... chờ đợi. Nhưng tôi chỉ muốn giúp ích ông, khi nài ông đến đãi tôi tiệc rượu này (đó là một sự trả giá). Thế này: hãy rời Thượng Hải ngày mai.

- A! a! a! – Clappique nói, cất cao giọng. Tiếng còi của một chiếc xe hơi, ngoài kia, vang lên từng tiếng một, như một âm vang đáp lại. Tại sao ?

- Bởi vì cảnh sát của tôi, đúng như lời ông nói, cũng biết chuyện chớ không phải vô ích. Ông đi đi...”

Clappique biết không thể nài nỉ được. Một giây, ông tự hỏi không hiểu đó có phải là một âm mưu không, để có hai mươi franc ? Ôi thật là điên!

- Và tôi sẽ phải đi chuồn đi mai này sao ?

Ông ta nhìn quán rượu này, những cái bình pha rượu cốc tai, cái thanh bằng kền, như những vật thân thiết lâu đời.

- Muộn nhất. Nhưng ông sẽ không ra đi đâu. Tôi nhận thấy như vậy. Ít ra tôi cũng báo trước với ông như vậy...

Một niềm tri ân ngại ngần (ít vì thái độ dè dặt hơn vì tính cách của lời khuyên bảo dành cho ông, vì sự không biết đến những gì đang đe dọa mình) xâm chiếm lấy Clappique.

- Tôi có nhiều may mắn hơn là tôi tưởng không ?

Người Ba Lan lên tiếng trở lại; ông ta cầm lấy cánh tay của Clappique:

- Ông nên đi đi. Có vụ một con tàu...

- Nhưng tôi có can hệ gì đâu!

- Ông nên đi.

- Ông có thể cho tôi biết ông Gisors có bị nghi ngờ không ?

- Tôi không nghĩ như vậy. Người con thì đúng hơn. Ông nên đi đi. Quả thật người Ba Lan này đã biết rõ tin tức. Clappique đặt bàn tay mình lên bàn tay của người Ba Lan:

- Tôi thật lấy làm tiếc đã không có được số tiền ấy để trả cho cửa hàng tạp hóa của ông, ông bạn ạ: có lẽ ông đã cứu mạng tôi. Nhưng tôi còn một vài tặng vật, hai, ba cái tượng: hãy nhận lấy đi.

- Không...

- Sao vậy?

- Không.

- A!... Câm miệng lại! Được rồi. Tôi muốn biết tại sao ông không muốn nhận lấy những cái tượng của tôi ?

Chpilewski nhìn ông ta.

- Khi đã sống cuộc đời như tôi, làm sao người ta có thể làm chuyện ấy... nghề ấy, nếu người ta... không được đền bù lại một đôi khi...

- Tôi không chắc rằng có nhiều nghề nghiệp không bắt buộc phải được đền bù.

- Phải. Ông không tưởng tượng được những cửa hàng được giữ gìn một cách cẩu thả đến mức nào, chẳng hạn...

Sự tương quan nào đây chứ ? Clappique suýt cất tiếng hỏi. Nhưng kinh nghiệm cho ông ta nhận thấy là những câu nói liên miên như vậy bao giờ cũng quan trọng. Và ông ta muốn tuyệt đối giúp ích người đối thoại, dù chỉ bằng cách để mặc cho ông ta nói. Dù vậy ông ta cũng khó chịu đến mức ghê tởm:

- Ông giữ cửa hàng à ?

Đối với ông ta, cảnh sát là sự pha trộn giữa những cuộc móc nối làm ăn với sự đổi chác, một đoàn thể chuyên lén lút đánh thuế thuốc phiện và các sòng bạc. Những người lính cảnh sát mà ông ta có hợp tác làm ăn (và riêng biệt Chpilewski) bao giờ cũng là những địch thủ đồng lõa một nửa. Nhưng ông ta ghét cay ghét đắng và sợ sự mật cáo. Chpilewski trả lời:

- Giữ cửa hàng à ? Không, hoàn toàn không. Chuyện... Trái lại.

- Kìa! Bù đắp cá nhân sao ?

- Chỉ có một ít đồ chơi thôi, ông cũng biết chứ! Tôi không còn bao nhiều tiền để mua đồ chơi cho con. Thật vô cùng vất vả. Cũng thành thật mà nói, tôi chỉ thương yêu thằng bé khi nào tôi làm cho nó... chuyện... hài lòng. Và tôi không biết làm cho nó hài lòng bằng cách nào khác hơn. Thật là vất vả.

- Nhưng kìa, hãy nhận lấy những cái tượng của tôi. Đừng lấy hết, nếu ông không muốn.

- Tôi van ông, tôi van ông... Như vậy tôi đi vào các cửa hàng, và tôi nói... (ông ta hất đầu ra phía sau,, các thớ thịt trên trán nhăn nhúm lại cũng như trên má trái quanh tròng kính một mắt, không cười cợt): “Tôi là nhà phát mình. Phát minh và sáng chế, tất nhiên. Tôi đến xem các kiểu mẫu của quý vị”. Người ta để cho tôi nhìn ngắm. Tôi chộp lấy một món, không bao giờ lấy hơn. Một đôi khi người ta canh chừng tôi, nhưng hiếm lắm.

- Và nếu ông bị bắt gặp thì sao ?

Ông ta lôi từ túi ra một cái bóp và mở hé nó trước mắt Clappique, trên tấm thẻ cảnh sát viên của ông. Ông ta khép nó lại và bàn tay phác một cử chỉ bâng quơ nhất.

- Một đôi khi tôi có tiền... Tôi cũng có thể bị đuổi... Nhưng mọi việc đều êm xuôi cả...

Rất đỗi ngạc nhiên, Clappique đột nhiên khám phá ra mình là người đứng đắn và có thế giá. Vì không bao giờ ông ta tự cho là có trách nhiệm đối với bản thân, ông ta ngạc nhiên vì thế. “Mình cần phải báo trước cho gã Gisors...” ông ta thầm nghĩ.

Một giờ

Tchen rảo bước sớm, dọc theo bến tàu, một cái cặp dưới cánh tay, chạm mặt với từng người Âu châu mà gã quen mặt; vào giờ này, gần như mọi người đều đi uống rượu, gặp mặt nhau tại quán rượu Thượng Hải Club hoặc nơi các khách sạn gần bên. Một bàn tay đặt nhẹ nhàng lên vai gã phía sau lưng. Gã hết hồn, mò mẫm cái túi bên trong nơi gã giấu khẩu súng lục.

- Đã lâu lắm rồi chúng ta không gặp nhau, Tchen... Con có muốn... Gã quay lại nhìn; đó là mục sư Smithson, người thầy đầu tiên của gã, gã nhận ra ngay khuôn mặt đẹp đẽ của một người Mỹ phảng phất vẽ thổ dân châu Mỹ, giờ đây bị thời gian tàn phá nhiều... Con có muốn chúng ta đi chung với nhau không ?

- Thưa muốn.

Tchen muốn đi chung với một người da trắng, cho được an ninh và trớ trêu hơn: gã có một trái bom trong cặp. Cái áo ngắn chững chạc gã mặc sáng nay khiến gã có cảm tưởng là chính ý nghĩ của gã cũng thấy bỡ ngỡ; sự hiện diện của một người đồng hành làm cho việc cải trang ấy được hoàn toàn, - và, do một sự mê tín khó hiểu, gã không muốn làm thương tổn vị mục sư. Sáng nay gã đã đếm trong một phút đồng hồ, những chiếc xe để xem (chẵn hay lẻ) gã sẽ thành công hay thất bại: kết quả thuận lợi. Gã tự giận lấy mình. Chuyện trò với Smithson, gã tự giải thoát cơn tức giận.

Cơn tức giận này không thoát khỏi mắt vị mục sư, nhưng ông tỏ ra dè dặt.

- Con đang khổ tâm phải không, Tchen?

- Thưa không.

Gã vẫn giữ lòng cảm mến đối với vị thầy, nhưng không phải không để lòng oán hận.

Người mục sư già luồn cánh tay xuống dưới cánh tay gã.

- Ta cầu nguyện cho con mỗi ngày, Tchen. Con đã tìm thấy được điều gì để thay cho đức tin mà con đã rời bỏ không ?

Gã nhìn ông với vẻ cảm mến sâu xa, dù vậy vẫn không để lộ ra một vẻ nhân từ nào, mà lẽ ra gã cần phải tỏ ra như vậy. Tchen ngập ngừng:

- Con không thuộc về số người được hạnh phúc ngó ngàng đến...

- Không phải chỉ suy có hạnh phúc đâu, Tchen, còn có sự yên lành, - và một đôi khi tình yêu.

- Thưa không. Nó không được dành cho con.

- Nó được dành cho mọi người...

Vị mục sư nhắm mắt lại và Tchen có cảm tưởng đang cặp dưới bàn tay của gã cánh tay của một người mù.

- Con không tìm kiếm sự yên lành. Con tìm kiếm... điều trái lại.

Smithson nhìn gã, mà không dừng bước:

- Hãy coi chừng lòng kiêu hãnh.

- Ai nói với cha rằng con không tìm thấy đức tin?

- Đức tin chính trị nào có thể ý thức được nỗi khổ đau của con người?

- Nỗi khổ đau, con muốn giảm bớt nó hơn là ý thức về nó. Giọng nói của cha đượm đầy lòng nhân đạo. Con không thích lòng nhân đạo được làm bằng sự chiêm ngưỡng nỗi khổ tâm.

- Con có chắc là còn lòng nhân đạo nào khác không Tchen?

- Cũng khó giải thích... ít ra, cũng còn một lòng nhân đạo khác không chỉ được làm bằng sự chiêm ngưỡng ấy.

- Đức tin chính trị nào sẽ hủy diệt được cái chết...

Giọng nói của vị mục sư không có tính cách cật vấn; đượm buồn, đúng hơn. Tchen nhớ lại cuộc trò chuyện với ông Gisors, mà gã không gặp lại. Ông Gisors đã đem sự thông minh của ông phục vụ cho chính mình, chớ không cho Chúa.

- Con đã nói với cha là con không tìm kiếm sự yên lành.

- Sự yên lành...

Vị mục sư im lại. Hai người cùng bước.

- Này, đứa con đáng thương của cha, cuối cùng ông ta lên tiếng trở lại, mỗi người trong chúng ta chỉ biết được có nỗi đau của mình!

Cánh tay của ông thắt chặt lấy Tchen.

- Con không tin rằng mỗi cuộc đời thật sự tín ngưỡng đều là một sự cải tâm mỗi ngày sao?

Hai người đều nhìn xuống vỉa hè, như chỉ còn dính líu với nhau có hai cánh tay ấy “...mỗi ngày...”, vị mục sư lặp lại một cách mỏi mệt, như thể những lời nói ấy chỉ là âm vang của một ám ảnh. Tchen không trả lời. Vị mục sư này đang nói về chính mình và nói sự thật. Cũng như gã, ông đang sống ý nghĩ của mình; ông là một cái gì khác hơn sự trống rỗng. Dưới cánh tay trái của Tchen, cái cặp và trái bom; dưới cánh tay mặt, cánh tay thắt chặt ấy: “ ...một sự cải tâm mỗi ngày...” Lời tâm tình bằng giọng nói kín đáo đã mang lại cho vị mục sư một sự thâm trầm bất chợt và thống thiết. Cận kề với việc giết người ngần ấy, Tchen hòa hợp với mọi nỗi lo âu.

- Mỗi đêm, Tchen à, cha sẽ cầu nguyện cho Chúa giải thoát con khỏi lòng kiêu hãnh (Cha cầu nguyện thường nhất về đêm: nó thích hợp cho sự cầu nguyên). Nếu Chúa thừa nhận cho con lòng từ tốn, con sẽ được cứu rỗi. Giờ đây cha tìm thấy và dõi theo cái nhìn của con, mà lúc nãy cha không làm sao bắt gặp được...

Tchen cảm thông vì nỗi khổ đau của ông chớ không vì những lời ông nói; câu nói cuối cùng ấy, câu nói của người câu cá ngỡ rằng đã nhận ra được con cá, khiến một niềm tức giận dâng lên trong gã một cách ngọc nhằn, mà không làm tiêu tan hẳn sự thương hại âm thầm.

- Cha hãy nghe cho rõ, - gã nói. – Trong hai tiếng đồng hồ nữa, con sẽ giết người.

Lần này, gã nhìn đăm đăm vào đôi mắt người đồng hành. Một cách vô cớ, gã giơ lên bàn tay mặt run rẩy của mình, cố quắp nó lại trên mép áo chững chạc của mình:

- Cha vẫn bắt gặp cái nhìn của con chứ?

Không, gã chỉ có một mình. Vẫn còn một mìn. Bàn tay gã rời khỏi mép áo, bấu vào mép áo của vị mục sư như thể muốn lay lắc ông; ông đặt bàn tay lên tay gã. Hai người vẫn đứng như vậy, giữa vỉa hè, bất động, như sẵn sàng giao đấu, một người đi đường dừng lại. Đó là một người da trắng và anh ta tưởng đó là một cuộc đấu khẩu.

- Đó là một lời dối trá đáng tởm, - vị mục sư khẽ nói.

Cánh tay của Tchen rơi xuống lại. Ngay cả đến việc cười gã cũng không làm được.

- Một lời dối trá! – Gã hét to lên với người di đường. Người này nhún vai và bước đi. Tchen quay phắt người lại và gần như là cất bước chạy đi.

Cuối cùng gã tìm thấy hai người đồng sự cách đó hơn một cây số. “Cải trang quá mức” với nón nỉ, quần áo công nhân, khoác vào người để thích hợp với những cái cặp, một cái đựng bom, và cái thứ hai đựng lựu đạn. Souen – mũi quặp, người Trung Hoa giống da đỏ - trầm ngâm, không nhìn cái gì cả; Pei... Khuôn mặt ấy trông mới trẻ măng làm sao! Cặp mắt kiếng tròn bằng đồi mồi có lẽ càng làm hắn trẻ thêm. Họ bước đi dến nơi đại lộ Hai nền Cộng hòa; tất cả tiệm buôn đều mở cửa, sinh hoạt trở lại dưới bầu trời ảm đạm.

Chiếc xe hơi của Tưởng Giới Thạch sẽ chạy vào đại lộ qua một con đường nhỏ hẹp chắn ngang. Nó giảm bớt tốc lực để quẹo cua. Mỗi ngày nó chạy qua vào khoảng một giờ và một giờ mười lăm: vị tướng này dùng bữa theo người Âu. Do đó người canh chừng con đường nhỏ cần phải ra hiệu cho hai người kia, ngay khi trông thấy chiếc xe. Sự hiện diện của một người bán đồ cổ, mà cửa hàng mở đối diện ngay với con đường, sẽ thuận tiện cho anh ta, trừ phi người này thuộc về Cảnh sát. Tchen muốn chính gã canh chừng. Gã cắt đặt Pei ở nơi đại lộ, sát với nơi mà chiếc xe đã quẹo xong cua trước khi lăn bánh trở lại; Souen, cách xa hơn một chút; Tchen, phần gã, sẽ báo hiệu và liệng trái bom đầu tiên. Nếu chiếc xe không dừng lại, dù bị trúng bom hay không, đến lượt hai người kia sẽ liệng những trái bom của họ. Nếu nó dừng lại, họ sẽ tiến về phía nó: con đường quá nhỏ hẹp để chiếc xe có thể quành lại. Sự thất bại có thể xảy ra tại đây: nếu thoát nạn, những người lính cận vệ đứng trên bậc xe sẽ nổ súng để ngăn bất cứ người nào đến gần.

Giờ đây, Tchen và những đồng sự cần phải chia tay nhau.

Chắc chắn là có những thám tử trà trộn vào đám đông, trên suốt lộ trình của chiếc xe. Từ nơi quán rượu Trung Hoa, Pei sẽ canh chừng cử chỉ của Tchen; xa hơn nữa, Souen chờ đợi Pei bước ra khỏi quán. Có lẽ ít ra cũng có một người sẽ bị bắn hạ, có thể là Tchen. Họ không dám nói một lời nào. Họ chia tay mà không bắt tay nhau.

Tchen đi vào hiệu đồ cổ và hỏi mua những tượng đồng dược đào thấy. Người bán hàng lôi ra từ nơi một ngăn kéo một nắm tay đầy ắp những cái hộp nhỏ bé bọc bằng vải láng màu tím, đặt lên bàn tay chơm chớm những hình khối, và bắt đầu xếp chúng lên mặt bàn. Ông ta không phải người Thượng Hải, mà là một người miền Hoa Bắc hay Turkestan: râu mép và râu dưới cằm thưa thớt và phơn phớt, đôi mắt xếch ngược trông giống như một người Hồi giáo hạ cấp, và cả cái miệng quá nhún nhường ấy; nhưng khuôn mặt không góc cạnh của ông, khả ố với cái mũi tẹt ấy trông không giống. Người nào tố cáo được một người trên lộ trình của một vị tướng có mang bom sẽ được lãnh một số tiền lớn và được bọn chúng trọng nể vô cùng. Và người chủ cửa hàng giàu có này có thể là một đảng viên trung thành của Tưởng Giới Thạch.

- Anh ở Thượng Hải đã lâu chưa? – Ông ta hỏi Tchen.

Người khách hàng kỳ dị này có thể là hạng người nào đây? Vẻ lúng túng của y, sự thiếu vẻ hiếu kỳ dành cho các món đồ được bày ra đó khiến ông ta lo ngại. Người thanh niên này có lẽ không quen mặc âu phục. Đôi môi dày của Tchen, mặc dù khuôn mặt nhìn nghiêng nghiêng trông nhọn ấy, khiến y dễ gây cảm tình. Con của một nông dân giàu có tại nội địa? Nhưng các chủ trại thô lỗ không hay sưu tầm tượng đồng cổ. Y mua dùm một người Âu? Y không có vẻ là một tên bồi, cũng không là một người chạy việc vặt, nếu là một người hâm mộ mỹ thuật tại sao y lại nhìn các món đồ ấy một cách không lấy làm say mê: hình như y đang nghĩ đến một chuyện gì khác.

Vì Tchen đã để ý đến con đường. Từ nơi tiệm buôn này gã có thể nhìn xa hai trăm thước. Gã sẽ trông thấy chiếc xe hơi trong thời gian bao lâu? Nhưng làm thế nào ước tính được sự tò mò của ông già ngu xuẩn này? Trước hết, gã cần phải trả lời. Cứ im lặng như nãy giờ thật là dại dột.

- Tôi sống ở nội địa, gã nói. Tôi bị chiến tranh xua đuổi ra khỏi nơi ấy.

- Ông già lại sắp sửa cật vấn gã, Tchen cảm thấy ông ta lo ngại. Người bán hàng giờ đây tự hỏi y có phải là một kẻ cắp đến quan sát cửa hàng ông để ra tay cướp bóc khi xảy ra những cuộc rối loạn sắp tới; thế nhưng, người thanh niên này không muốn xem những món đồ đẹp nhất. Chỉ xem những món đồ đồng hoặc những móc gài áo hình con chồn, và giá phải chăng. Người Nhật ưa thích giống chồn, nhưng người khách hàng này không có vẻ gì là người Nhật. Cần phải tiếp tục cật vấn y một cách khôn khéo.

- Chắc hẳn anh người quê ở Houpé? Đời sống trở nên khó khăn, theo lời đồn đại, tại các tỉnh miền Trung thổ.

Tchen tự hỏi không biết gã có nên đóng vai trò người lãng tai hay không. Gã e sợ, trông có vẻ lạ lùng.

- Tôi không còn ở đó nữa, gã chỉ trả lời như vậy.

Giọng nói của gã, cách cấu kết của câu nói có một cái gì ngắn gọn, ngay cả khi nói bằng tiếng Trung Hoa: gã diễn tả thẳng ý nghĩ của mình, mà không sử dụng những ngữ pháp thông thường. Nhưng gã nghĩ đến việc trả giá.

- Bao nhiêu? Gã vừa hỏi vừa chỉ ngón tay vào một trong số những móc gài áo hình đầu chồn mà người ta tìm thấy rất nhiều trong các phần mộ.

- Mười lăm đôla.

- Theo tôi thì tám đôla cũng là được giá lắm rồi.

- Với một món đồ cổ có phẩm chất như vậy a? Làm sao anh có thể nghĩ được?... Hãy biêt rằng tôi mua nó với mười đôla... Anh hãy tử tính xem tôi lời được bao nhiêu.

- Thay vì trả lời, Tchen đưa mắt nhìn Pei đang ngồi trước một cái bàn nhỏ nơi quán rượu ngoài trời, ánh sáng phản chiếu trên các tròng mắt kiếng; chắc hẳn hắn không trông thấy Tchen, vì tấm kính của tiệm bán đồ cổ. Nhưng hắn sẽ trông thấy gã bước ra ngoài.

- Tôi sẽ không trả quá chín đôla, cuối cùng gã nói như vậy để kết thúc một cuộc nghiệm giá. Tôi phải chắt bóp lắm đấy.

Những câu nói lấy lệ, trên lãnh vực này, đã quá quen thuộc mà gã sử dụng không khó khăn.

- Đây là món mở hàng của tôi hôm nay, người buôn đồ cổ trả lời. Có lẽ tôi phải chịu mất một số tiền nhỏ bé một đôla vì món hàng đầu tiên ngã giá là một điểm hên...

Con đường hoang vắng. Phía xa, một chiếc xe kéo chạy qua. Một chiếc khác. Hai người đàn ông đi ra. Một con chó. Một chiếc xe đạp. Hai người đàn ông quẹo phía tay mặt, chiếc xe kéo chạy qua; con đường trở lại hoang vắng, chỉ có con chó...

- Nhưng mà anh không thể trả chín đô rưỡi sao?

- Ừ, để đáp lại tấm chân tình của ông.

Một con chồn khác, bằng sứ. Lại trả giá. Tchen, từ lúc mua xong món hàng, càng gây thêm sự tin tưởng. Gã được quyền suy nghĩ: tính cái giá tiền sẽ trả, cái giá khít khao với phẩm chất của món đồ, người ta không còn dám quấy rầy sự trầm ngâm khả kính của gã nữa. Chiếc xe hơi, chạy trên con đường ấy, với tốc độ bốn mươi cây số một giờ, như vậy là hơn một cây số mỗi hai phút. Mình sẽ trông thấy nó không đầy một phút nữa. Thật là ngắn. Pei cần phải không được rời mắt khỏi cửa ra vào này... Không một chiếc xe hơi nào chạy qua. Một vài chiếc xe đạp... Trả giá một khoen dây nịt bằng ngọc bích, không ưng thuận giá tiền của người bán hàng, nói cần phải suy tính đã. Một người sai việc mang trà vào. Tchen mua một cái đầu chồn nhỏ bằng thủy tinh, mà người bán hàng chỉ đòi ba đôla. Sự e ngại của ông ta dù vậy vẫn chưa mất hẳn.

- Tôi còn những món khác rất đẹp, rất thật, với những con chồn nhỏ thật là đẹp. Nhưng đó là những món đồ mắc tiền va tôi không cất chúng ở nơi tiệm này. Chúng ta có thể thỏa thuận một buổi gặp mặt nào đó...

Tchen không nói gì.

- ... nếu cần, tôi sẽ sai một người đi tìm chúng...

- Tôi không quan tâm đến những món mắc tiền. Tôi không dược may mắn có nhiều tiền.

Như vậy y không phải là kẻ cắp; y không thèm hỏi gì về chúng. Người bán đồ cổ lại giở ra cái khoen dây nịt bằng ngọc bích, với điệu bộ tinh tế của người ướp xác, nhưng mặc dù những câu nói lần lượt lướt qua giữa đôi môi mơn mởn, mặc dù đôi mắt gợi thèm muốn của ông, người khách hàng vẫn hững hờ, xa vắng. Thế nhưng, chính y đã chọn cái khoen dây nịt này. Sự trả giá là một cuộc hợp tác, giống như tình yêu. Vậy thì người này tại sao lại mua các món đồ vật? Đột nhiên, ông ta phỏng đoán: người này là một trong số những người thanh niên đáng thương hại đã để cho các gái điếm người Nhật tại Tchapei quyến rũ như là những đưa trẻ. Họ rất ưa chuộng những con chồn. Người khách hàng này mua những món đồ ấy để tặng một con sen hay một ca kỹ giả hiệu nào đó, nếu y tỏ ra lơ là như vậy là vì y không mua cho chính mình (Tchen không ngừng hình dung lúc chiếc xe hơi chạy đến, sự nhanh nhẹn và gã cần phải mở cặp, lôi ra trái bom, liệng nó).

Nhưng các nàng ca kỹ không ưa chuộng những món đồ được đào lên... Có thể những con chồn nhỏ là một ngoại lệ? Người thanh niên cũng có mua một món đồ bằng thủy tinh và một bằng sứ...

Dù đóng hay mở, những hột nhỏ nhắn đều được bày ra trên bàn. Hai người sai việc, chống khuỷu tay, đưa mắt nhìn. Một người, trông rất trẻ, chống lên cái cặp của Tchen, vì hắn đứng đong đưa một chân, nên cái cặp bị đẩy ra ngoài mép bàn.

Trái bom nằm phía bên mặt, cách mép bàn ba tấc.

Tchen không sao động đậy. Cuối cùng gã duỗi tay ra, kéo cái cặp về phía mình, không chút khó khăn. Không một người nào cảm nhận được cái chết, cũng như cuộc mưu sát sắp tới; không có gì cả, một cái cặp mà một người sai việc đang đong đưa nó và người chủ thò tay kéo nó gần lại... Và đột nhiên, mọi việc đều hình như dễ dàng lạ thường đối với Tchen. Những sự việc, ngay cả những hành vi đều không có thật; tất cả đều là những giấc mộng ôm siết lấy chúng ta vì chúng ta đã tạo sức mạnh cho chúng, nhưng đồng thời chúng ta cũng có thể chối bỏ. Ngay giữa lúc ấy, gã nghe có tiếng còi xe hơi: Tưởng Giới Thạch.

Gã cầm lấy cái cặp như một món vũ khí, trả tiền, bỏ hai cái gói nhỏ vào trong túi, bước ra ngoài.

Người bán hàng bước theo, tay cầm cái khoen dây nịt mà Tchen từ chối.

- Đây là món ngọc bích mà phụ nữ Nhật đặc biệt ưa thích.

Lão già ngu xuẩn này có cút đi chỗ khác không?

- Tôi sẽ trở lại!

Người bán hàng nào lại không biết câu nói lấy lệ ấy? Chiếc xe hơi hình như đến nhanh hơn thường lệ rất nhiều, Tchen nhận thấy như vậy, đi đầu là chiếc xe Ford của đám cận vệ.

- Tránh ra. Tôi sẽ trở lại.

Lao về phía họ, chiếc xe lay lắc qua các rãnh nước: hai người thám tử bám ở bậc xe. Chiếc xe Ford chạy qua. Tchen, dừng lại, mở cặp, đặt bàn tay lên trái bom được bọc trong một tờ báo. Người bán hàng mỉm cười bỏ cái khoen dây nịt vào trong ngăn trống của cái cặp vừa được mở ra. Cái ngăn ấy cách xa tầm tay ông nhất. Vì vậy cánh tay ông chặn lên hai cánh tay của Tchen.

- Anh sẽ trả theo giá nào cúng được.

- Tránh ra!

Ngạc nhiên vì tiếng la ấy, người bán đồ cổ nhìn Tchen, miệng há ra.

- Anh khó chịu trong người phải không?

Tchen không còn trông thấy gì nữa cả, mềm nhũn như sắp bị ngất đi, khi chiếc xe chạy qua.

Gã không thể kịp thời tránh khỏi cử chỉ của người bán đồ cổ.

“Người khách hàng này sắp ngã bệnh đây”, ông ta thầm nghĩ. Và cố đỡ lấy y. Đột nhiên, Tchen gạt mạnh xuống hai cánh tay đang giơ thẳng trước mặt, và bước về phía trước. Người bán hàng đau điếng, sững lại. Tchen gần như chạy đi.

- Món đồ của tôi! Người bán hàng la lên. Món đồ của tôi!

Nó vẫn nằm trong cái cặp. Tchen không hay biết. Mỗi thớ thịt của gã, sợi thần kinh mong manh nhất của gã đều chờ đợi tiếng nổ vang cả con đường, chìm đắm nặng nề dưới bầu trời xuống thấp. Không có gì cả. Chiếc xe đã quẹo cua, giờ đây chắc hẳn cũng đã vượt qua khỏi cả Souen. Và người bán hàng đần độn ấy vẫn đứng đó. Không có gì nguy hiểm, bởi vì mọi sự đều hỏng cả. Những người kia đã làm gì, Tchen bắt đầu chạy đi. “Ăn cắp!”. Người bán đồ cổ la lên. Những người bán hàng hiện ra. Tchen chợt hiểu. Giận dữ gã muốn trốn chạy với món đồ ấy, ném nó bất cứ nơi nào. Nhưng có những người khác nghêu ngao đến gầnGã ném nó vào mặt người bán đồ cổ và chợt nhận thấy rằng mình đã không đóng cặp lại một cách cẩn thận (gã đã phải đè nó xuống lúc đang chạy). Gã vận dụng tất cả hơi sức để trấn tĩnh tinh thần. Người bán hàng trở về tiệm càng nhanh càng hay. Tchen cất bước chạy trở lại.

- Sao? – Gã hỏi Pei ngay khi vừa bắt kịp hắn.

Hai người nhìn nhau thở hổn hển, người này muốn nghe người kia nói trước. Souen, đang đi đến, trông thấy hai người bị chôn chân như vậy trong bất động đầy vẻ ngập ngừng và manh tâm, khuôn mặt nhìn nghiêng trên bối cảnh lờ mờ của những ngôi nhà; ánh nắng thật dữ dội, mặc dầu những bóng mây, cắt nét khuôn mặt chim ưng hiền từ nhìn nghiêng của Tchen và cái đầu tròn quay của Pei, cắt nét hai người với những bàn tay run rẩy ấy, đứng chôn chân trên những cái bóng ngắn của lúc vừa xế trưa. Ba người đều có mang cặp: tốt hơn là không nên nán lại đây lâu quá. Các quán ăn thì không lấy gì làm yên ổn. Và họ thì đã hiện diện quá lâu trên con đường này. Tại sao? Không có gì đã xảy ra...

- Lại đằng Hemmelrich, - dù vậy Tchen vẫn nói.

Họ đi vào các ngõ hẻm.

- Chuyện gì đã xảy ra vậy? – Souen hỏi.

Tchen giải thích với anh ta. Pei, phần hắn, đã bối rối khi trông thấy Tchen không rời khỏi tiệm bán đồ cổ một mình. Hắn đi đến vị trí của hắn, cách góc đường một vài thước. Tại Thượng Hải, người ta lái xe bên tay trái; chiếc xe thường quẹo khúc nào ngắn nhất và Pei đứng trên lề bên trái, để ném bom cho gần. Chiếc xe lại chạy nhanh lúc ấy không có xe cộ trên đại lộ Hai nền Cộng hòa. Người tài xế đã quẹo cách xa vỉa hè bên trái, vì vậy hắn lái xe dọc theo vỉa hè bên kia và Pei bị ngăn cách bởi một chiếc xe kéo.

- Mặc kệ chiếc xe kéo! – Tchen nói. – Có hàng ngàn người cu li khác chỉ có thể sống nhờ cái chết của Tưởng Giới Thạch.

- Nhưng nếu có liệng tôi có thể cũng đã không thành công.

Souen, phần anh ta, đã không liệng mấy trái lựu đạn vì anh em không ra tay khiến anh đoán rằng Tưởng không có mặt trong xe.

Họ lặng lẽ lê tiến bước giữa các bức tường mà bầu trời vàng nhạt phủ dày sương mù khiến trở nên nhạt nhòa, trong một màu hiu quạnh thê thảm lốm đốm những tàn mạt và những sợi dây thép.

- Mấy trái bom vẫn còn nguyên vẹn, - Tchen khẽ nói. – Lát nữa chúng ta sẽ tái diễn...

Nhưng hai người đồng sự đã rời rã tinh thần; những người đã tự tử hụt ít khi dám thử hủy mình một lần nữa. Sự căng thẳng thần kinh của họ, đã tột cùng, bây giờ xuống quá thấp. Họ càng tiến bước sự bấn loạn của họ càng nhường chỗ cho niềm vô vọng.

- Đó là lỗi tại tôi. – Souen nói.

Pei lặp lại.

- Lỗi tại tôi.

- Thôi đi, - Tchen nói, vẻ bực bội. Gã nghĩ ngợi, vừa tiếp tục những bước chân thê thảm. Không nên tái diễn lại kế hoạch vừa rồi. Kế hoạch ấy tỏ ra vụng về nhưng khó mà nghĩ ra một cách nào khác. Gã đã nghĩ rằng... Họ tới nhà Hemmelrich.

Từ nơi tận cùng của tiệm buôn, Hemmelrich nghe một giọng nói bằng tiếng Trung Hoa, Hai giọng khác đáp lại. Thanh sắc, giọng điệu lo âu của họ khiến anh ta chú ý. “Hôm qua, anh ta thầm nghĩ, mình đã trông thấy lảng vảng ở đây hai người trông như mắc phải bệnh trĩ lâu năm và chắc hẳn không phải lảng vảng ở đây vì thích thú...”. Anh ta khó lòng nghe cho rõ: trên kia, đứa bé không ngớt kêu la. Nhưng giọng nói tắc nghẽn và những cái bóng ngắn, trên vỉa hè, cho thấy ba người đang ở đây. Cảnh sát à?... Hemmelrich đứng lên, nghĩ đến sự thoáng lo ngại mà cái mũi tẹt và đôi vai võ sĩ phì nộn chồm tới trước của anh có thể gây ra nơi những kẻ nào đến tấn công, và bước về phía cửa ra vào. Trước khi bàn tay chạm đến cái túi, anh ta đã nhận ra Tchen: anh ta chìa tay ra cho gã thay vì rút ra khẩu súng lục.

- Hãy đến phía sau tiệm, - Tchen nói.

Cả ba người đi qua trước mặt Hemmelrich. Anh ta quan sát họ. Mỗi người một cái cặp, không phải được xách một cách lơ đễnh, mà là được siết chặt bằng các thớ thịt của cánh tay.

- Này, - Tchen nói ngay khi cửa vừa khép lại – anh có thể cho chúng tôi tá túc một vài giờ không? Ba đứa chúng tôi và những vật trong cặp?

- Bom hả?

- Phải.

- Không được.

Đứa bé trên kia, tiếp tục la hét. Những tiến la hét đau đớn nhất của nó trở thành những tiếng nức nở và một đôi khi như tiếng túc túc, như thể nó đang la hét để đùa cợt – nghe cũng thêm xót xa. Đĩa hát, ghế, con dế, gần như nằm nguyên chỗ cũ, đêm Tchen đến đây sau khi hạ sát Tang Yen Ta, đến nỗi Hemmelrich và anh ta đều nhớ lại đêm ấy. Tchen không nói gì cả nhưng Hemmelrich đoán ra:

- Mấy trái bom? – anh ta lên tiếng trở lại, - hiện tại tôi không làm sao cất giấu được. Nếu chúng bắt gặp ở đây, chúng sẽ giết vợ tôi và thằng bé.

- Thôi được. Chúng ta lại đằng Shia (Shia là người bán đèn mà Kyo đã đến thăm, một ngày trước cuộc nổi dậy). Vào giờ này, chỉ có thằng nhỏ.

- Hãy hiểu dùm tôi, Tchen: Thằng bé đau nặng lắm, và mẹ nó cũng không khỏe mạnh gì...

An ta nhìn Tchen, đôi tay run rẩy:

- Anh không thể nào biết được cái hạnh phúc được tự do!

- Có chớ, tôi có biết.

Ba người Trung Hoa đi ra.

“Trời ơi là trời! Hemmelrich thầm nghĩ, phải chăng mình sẽ không bao giờ ở vào trường hợp của họ?” Anh ta chửi thầm như vậy với chính mình một cách bình thản, như những lời đọc chậm. Và anh ta chầm chậm trèo lên căn phòng. Người vợ Trung Hoa của anh đang ngồi, mắt nhìn đăm đăm vào cái giường và không quay lại.

- Ba ta bữa nay tỏ ra hiền từ - đứa bé nói – bà ta gần như không làm cho con đau đớn.

Bà ta chính là May. Hemmelrich nhớ lại:

“Đau nơi xương chậu... Ông bạn đáng thương của tôi, cần phải bẻ cho gãy xương... Đứa bé này, gần như là một đứa con nít mới đẻ, chỉ sống sót để chịu sự đau đớn mà thôi. Cần phải “cắt nghĩa cho nó”. Cắt nghĩa gì đây? Rằng sẽ có lợi cho nó khi làm gãy những cái xương trên mặt để không phải chết đi, để được đền bù bằng một cuộc đời cũng đáng quý và thanh cao như của cha nó? Tuổi trẻ khốn nạn?” Anh ta đã nói như vậy trong hai mươi năm. Còn phải bao nhiêu năm nữa trước khi nói “tuổi già khốn nạn” và truyền cho đứa nỏ khốn khổ này hai biểu thức tuyệt hảo ấy về cuộc đời? Tháng trước, con mèo bị trẹo cẳng và anh ta phải kềm giữ con mèo để vị thú y người Trung Hoa bó lại xương cho nó, con vật đã kêu la và vùng vẫy; nó có hiểu biết gì đâu, anh ta cảm thấy nó tưởng đã bị làm tình làm tội. Và con mèo không là một đứa bé, nó không biết nói: “Ông ta gần như không làm cho tôi đau đớn”. Anh trở xuống. Cái mùi xác chết mà chắc hẳn mấy con chó đang đổ xô vào đó, trong các ngõ hẻm, ở sát một bên, len lỏi vào cửa hàng cùng với một màu trắng mơ hồ. “Nỗi khổ đau không hề vắng mặt”, anh ta thầm nghĩ.

Anh ta không tha thứ sự từ chối của mình. Giống như một người bị lương tâm giày vò đã tiết lộ những gì cơ mật, anh ta biết mình sẽ vẫn làm như thế, nhưng anh ta không tự tha thứ cho mình. Anh ta đã phản bội tuổi trẻ, những ước muốn và giấc mơ của mình. Làm sao đừng phản bội chúng? “Điều quan trọng là ước muốn những gì mình có thể...”. Anh ta chỉ ước muốn điều mà anh ta không thể làm được: để cho Tchen tá túc và đi ra ngoài cùng với y. Ra ngoài. Đền bù bằng bất cứ bạo lực nào, bất cứ loại bom nào, cuộc đời ghê tởm ấy đã đầu độc anh ta từ lúc mới sanh ra đời, cũng sẽ đầu độc như vậy những đứa con của anh. Nhất là những đứa con của anh. Nỗi khổ đau của anh, anh có thể chấp nhận được: anh đã quen rồi... Của các con anh thì không. “Nó trở nên rất thông minh kể từ khi nó bị bệnh”, May đã nói như vậy. Như là tình cờ...

Ra ngoài với Tchen, cầm lên một trong số những trái bom giấu trong cặp, liệng nó. Đó là lương tri. Và còn là hành động duy nhất có được một ý nghĩa ở cuộc đời hiện tại. Ba mươi bảy tuổi. Còn phải sống thêm ba mươi năm nữa, không chừng. Sống như thế nào? Những đĩa hát tồn trữ này mà anh ta chia sẻ sự sống khổ cùng với Lo Yo Shuen, mà không người nào trong hai người có thể sống nhờ đó và, khi anh ta về già... Ba mươi bảy tuổi; càng nhớ về xưa, như người ta thường nói; sự hồi tưởng của anh không phải nhớ về xưa: từ đầu chí cuối, chỉ là sự khốn cùng.

Học trò dở tại trường: học một ngày nghỉ một ngày – mẹ anh, để được say sưa yên ổn, buộc anh phải làm việc. tại nhà máy: thợ phụ. Một kẻ bất lương; trong quân ngũ, ngồi tù thường trực. Và chiến tranh. Cho ai, vì đâu? Cho xứ sở của anh? Anh ta không là người Bỉ, anh ta là kẻ khốn cùng. Nhưng ngoài mặt trận, người ta được ăn mà không phải làm việc nhiều. Sau đó giải ngũ, đáp tàu sang Đông Dương. “Khí hậu ở đây không mấy thuận tiện cho những nghề thủ công”. Nhưng tiện cho những người nào mang tiếng bất lương. Anh ta thất bại tại Thượng hải. Những trái bom, trời ơi, những trái bom!

Vợ của anh: cuộc đời không dành cho anh ta cái gì khác. Nàng được mua với giá mười đô la. Bị ruồng bỏ bởi người mua nàng mà nàng không còn thỏa mãn nữa, nàng đến với anh ta trong nỗi khiếp đảm để ăn, để ngủ, nhưng buổi đầu nàng không chợp mắt, chờ đợi ở anh sự hung dữ của người Âu mà người ta thường nói: anh ta đối xử tốt với nàng. Dần dần ngoi lên từ sự khiếp đảm của mình, nàng săn sóc anh những khi anh ngã bệnh, làm giúp anh, chịu đựng những cơn khủng hoảng của hận thù, bất lực nơi anh. Nàng bám víu vào anh bằng tình yêu của một con chó bị đày đọa. và giờ đây, đứa bé. Anh có thể làm được gì cho nó? Chỉ vừa đủ nuôi nó qua ngày. Anh cố giữ gìn là cốt để tránh sự đau khổ mà anh có thể gây ra; trên mặt đất này có nhiều nỗi khổ đau hơn những vì sao trên trời, nhưng nỗi khổ đau tàn tệ hơn cả, anh có thể gây ra cho nàng là bỏ lại nàng trên đời. Giống như người Nga đói khát ấy,gần như là bạn láng giềng với anh, trở thành thợ phụ, đã tự tử vào một ngày quá đỗi cùng quẫn, và người vợ điên lên vì giận dữ tát vào xác chết đã bỏ rơi mình, với bốn đứa con nơi bốn góc phòng, một đứa cất tiếng hỏi: “Tại sao má lại đánh?”... Vợ con anh ta, anh ta ngăn cản đừng tự tử. Không có gì cả. Không ra gì cả. Nếu có tiền, nếu có thể để lại tiền cho họ, anh ta sẽ được tự do để hy sinh mạng mình. Cũng như vũ trụ này đã đối xử với anh, trải qua suốt quãng đời ấy, bằng những cú đá vào bụng, anh ta cướp đoạt của vũ trụ phẩm cách duy nhất mà anh ta có được, có thể có đươc – cái chết của mình. Thở bằng sức phẫn nộ của mọi vật sống động, mặc dù đã quen rôi, mùi những xác chết mà từng ngụm gió thổi lướt trên bóng nắng im lìm, anh ta thâm nhập vào sự phẫn nộ ấy bằng một niềm ghê tởm thỏa thích, bị ám ảnh bởi Tchen như bởi một người bạn đang hấp hối, và tìm kiếm – như thể đó là điều quan trọng – những gì là hổ thẹn, là thân ái hay là một mối khát vọng tàn khốc đang ngự trị trong lòng anh.

Tchen và hai người bạn, một lần nữa, lại ra khỏi đại lộ: những cái sân và ngõ hẻm không được canh chừng cẩn mật, chiếc xe của vị tướng không chạy qua đó. “Cần phải thay đổi kế hoạch”. Tchen cúi đầu thầm nghĩ, vừa nhìn xuống đôi giày nặng những ưu tư đang tuần tự bước tới dưới mắt gã. Cho đụng vào chiếc xe hơi của Tưởng Giới Thạch bằng một chiếc xe khác chạy ngược chiều? Nhưng tất cả các loại xe đều có thể đã bị quân đội trưng dụng. Thử dùng đến lá cờ hiệu của một sứ quán để che chở cho chiếc xe mà họ sử dụng tỏ ra bấp bênh, vì cảnh sát biết mặt tài xế của các vị toàn quyền. Chắn ngang con đường bằng một chiếc xe bò? Tưởng Giới Thạch bao giờ cũng được dẫn đầu bằng chiếc xe Ford của đám cận vệ riêng. Trước một chiếc xe ngừng khả nghi, đám cận vệ và cảnh sát đứng trên bậc xe sẽ nổ súng vào bất cứ người nào cố đến gần chiếc xe. Tchen lắng tai: từ vài phút qua, các đồng đội của gã đang trò chuyện.

- Nhiều tướng lãnh sẽ bỏ rơi Tưởng Giới Thạch nếu họ biết họ đang thật sự bị đe doạ ám sát, - Pei nói. – Chỉ có chúng ta mới có đức tin.

- Phải, Souen nói, người ta đào tạo những phần tử khủng bố tài giỏi trong đám con của những người bị tử hình.

- Về phần các tướng lãnh còn lại, - Pei nói thêm, - nếu cần phải dựng nước Trung Hoa chống lại chúng ta, có lẽ họ sẽ làm cho nó vĩ đại, vì họ đã đổ chính xương máu của họ vào đó.

- Không! – Tchen và Souen cùng thốt lên.

Cả hai người đều không biết đã lên đến bao nhiêu con số các phần tử quốc gia trong hàng ngũ Cộng sản, nhất là trong hàng ngũ trí thức. Pei viết trong các tạp chí bị cấm ngay sau khi xuất bản những truyện ngắn bằng một giọng chua cay tự mãn một cách đau đớn, và các bài báo mà bài gần nhất được bắt đầu bằng câu: “Chủ nghĩa đế quốc bị ngăn trở, nước Trung Hoa thêm một lần nữa lại nghĩ cách khấn nguyện sự hảo tâm của nó, và yêu cầu nó thay thé bằng một cái khoen bằng kền cái khoen vàng nó đã đeo vào lỗ mũi của họ...”

Hắn soạn các bài khác theo một ý thức hệ chủ trương khủng bố.

Theo hắn, Cộng sản là phương cách duy nhất làm sống lại Trung Hoa.

“Tôi không muốn kiến tạo nước Trung Hoa, Souen nói, - tôi muốn kiến tạo thành phần của tôi dù có hay không có nước Trung Hoa.

Thành phần nghèo khổ. Vì họ mà tôi chịu chết, chịu giết người. chỉ vì họ mà thôi...”

Chính Tchen lên tiếng trả lời:

- Bao giờ chúng ta còn cố ném bom, sự việc sẽ còn tai hại. Có quá nhiều cơ hội thất bại. Và cần phải kết thúc ngay hôm nay.

- Áp dụng phương cách khác cũng không dễ dàng hơn, - Pei nói.

- Có một cách khác. Và tôi tin rằng chỉ có cách ấy mà thôi: không nên liệng bom, nên ôm nó lao vào phía bên dưới chiếc xe. Họ vẫn tiếp tục bước qua những khoảng sâu hư hại trên đó trẻ con không còn chơi đùa nữa. cả ba người đều nghĩ ngợi.

Họ đến nơi. Người sai việc đưa họ vào phía sau tiệm buôn. Họ vẫn đứng giữa những ngọn đèn, cái cặp dưới cánh tay; cuối cùng họ đặt nó xuống, một cách thận trọng. Souen và Pei ngồi chồm hỗm.

- Sao anh cười, Tchen?

Gã không cười, gã mỉm cười, hoàn toàn không vì sự lo âu của Pei: kinh ngạc, gã khám phá ra cảm giác khoan khoái. Gã biết sự bứt rứt đã làm cho các đồng chí của gã phải khó chịu, mặc dầu lòng can đảm của họ: liệng bom, dù bằng cách nào ít nguy hiểm nhất, cũng là phiêu lưu; sự quyết tâm để chết là một việc khác; có lẽ, trái ngược. Gã bắt đầu đi loanh quanh. Phía sau tiệm buôn chỉ được soi sáng bằng ánh nắng len lỏi qua cửa hàng. Bầu trời màu xám, một ánh sáng màu chì giống như lúc trời sắp nổi cơn giông tố; trong đám sương mù dơ bẩn ấy lấp lánh trên các bầu đèn bão những tác động của ánh sáng, giống như các dấu hỏi đảo ngược và song song. Bóng dọi của Tchen, quá đỗi lờ mờ để là một bóng người, bước tới, phía bên trên những cặp mắt lo âu của hai người đồng chí.

- Kyo có lý: điều mà chúng ta thiếu nhiều nhất, chính là ý nghĩa của cuộc mổ bụng tự sát. Nhưng người Nhật tự huỷ mình có thể trở thành một vị thần, đó là bắt đầu cho sự bỉ ổi. Không, máu cần phải rơi xuống con người và đọng lại trên đó.

- Tôi muốn cố gắng để thành tựu, - Souen nói, - để thành tựu – nhiều cuộc mưu sát hơn là quyết định cố thành tựu một cuộc mưa sát mà thôi và sau đó tôi sẽ không còn nữa.

Thế nhưng, bên dưới những lời nói của Tchen, rung động vì thanh sắc của chúng hơn là vì ý nghĩa, - giọng nói của gã có một cường độ tột cùng, một dòng nhiệt huyết lôi cuốn Souen.

- Tôi cần phải lao mình phía bên dưới chiếc xe, - Tchen trả lời. cố không động đậy, họ đưa mắt nhìn Tchen, trong khi gã đi đi lại lại, mắt không nhìn họ. gã vấp chân lên một ngọn đèn đặt dưới đất, chụp kín vào tường; ngọn đèn đổ xuống, vỡ thành những tiếng leng keng. Cái bóng ngẩng lên lại của gã cắt nét mơ hồ bên trên đầu của hai người trên các dãy đèn cuối cùng; Souen bắt đầu hiểu được những gì mà Tchen chờ đợi nơi mình; thế nhưng, dè dặt với chính mình, hoặc để chống lại những gì mà hắn dự đoán, hắn hỏi:

- Anh muốn gì?

Tchen nhận ra hắn đã không rõ biết. gã cảm thấy như phải chống lại, không phải Souen, mà là ý nghĩ của gã đang thoát khỏi gã. Cuối cùng:

- Tôi muốn rằng cuộc mưu sát ấy không được thất bại.

- Anh muốn là chúng tôi nhận noi gương theo anh? Có phải vậy không?

- Tôi không chờ đợi một lời hứa hẹn. đó là một nhu cầu. những tia phản chiếu mờ xoá trên các ngọn đèn. Ánh nắng sẫm màu trong căn phòng không cửa sổ: những đám mây chắc hẳn đang đồn đại ngoài kia. Tchen nhớ lại câu nói của ông Gisors: “Cận kề cái chết, một sự đam mê như vậy khao khát được truyền giao”. Đột nhiên, gã chợt hiểu. Souen cũng vậy:

- Anh muốn biến khủng bố thành một tôn giáo à?

Những từ ngữ đều nông cạn, phi lý, rất đỗi yếu ớt để diễn tả những gì Tchen muốn nói.

- Không phải là một tôn giáo mà là ý nghĩa cuộc đời. Sự...

Gã co quắp bàn tay lại như để nhồi nặn, và ý nghĩ của gã hình như đang hổn hển như một hơi thở.

- ... sự làm chủ hoàn toàn lấy mình.

Và tay vẫn nhồi nặn:

- Chặt chẽ, chặt chẽ, giống như bàn tay này siết chặt bàn tay kia – (gã tận dụng sức mạnh để siết lấy nó), vẫn đủ giống như... Gã nhặt lên mảnh kính đèn bị vỡ. một mảnh vỡ hình tam giác, lấp lánh. Gã ấn sâu một cái vào bắp chân. Giọng nói đứt quãng của gã nghe có một niềm xác tín man rợ, nhưng rõ rệt là gã làm chủ sự phấn khởi của gã hơn là bị nó chiếm hữu. không có gì là điên cả. hai người kia chỉ còn trông thấy gã một cách mơ hồ, thế nhưng sự hiện diện của gã đầy ngập căn phòng. Souen bắt đầu lo sợ:

- Tôi kém thông minh hơn anh, Tchen ạ, nhưng chiến đấu cho tôi... cho tôi thì không. Tôi đã trông thấy ba tôi bị treo lên bằng tay, quất roi mây vào bụng, để ông chỉ nơi chủ ông cất giấu tiền bạc mà thật ra ông này không có. Tôi chiến đấu cho chúng ta, không cho tôi.

- Cho chúng ta, anh không thể làm gì hơn quyết định chọn lấy cái chết. không có sự hiệu nghiệm của một người đã chọn điều ấy. Nếu đã quyết định như vậy, ban nãy chúng ta đã không để mất cơ hội mưu sát Tưởng Giới Thạch.

- Anh, có thể anh cần điều ấy. tôi không biết... - Souen biện bạch. - Nếu tôi đồng ý với anh, anh cũng biết, tôi nhận thấy hình như mình không được chết cho mọi người, mà...

- Mà sao?...

Gần như tối sẫm lại, ánh nắng nhợt nhạt của buổi chiều vẫn còn đấy, không tàn, cũng không hoàn toàn tắt hẳn.

- Cho anh.

Một mùi dầu lửa nực nồng nhắc cho Tchen nhớ lại các thùng dầu xăng đã đốt cháy trạm gác, ngày đầu tiên của cuộc nổi dậy. nhưng tất cả đều chìm vào quá khứ, cả Souen, vì anh ta không muốn theo gã. Thế nhưng, ý quyết duy nhất mà ý nghĩ hiện tại của Tchen đã biến nó thành hư vô, đó là ý quyết tạo nên những Quan toà bị kết án, cái giống người lo việc báo thù ấy. ý quyết ấy nảy sinh trong gã, vừa làm gã phấn khởi, vừa khiến gã quằn quại, giống như mọi cuộc sanh nở - mà gã không là người chủ động. Gã không còn chịu đựng thêm được bất cứ sự hiện diện nào.

- Anh là người viết văn, - gã nói với Pei, - anh sẽ giải thích...

Pei chùi mắt kiếng. Tchen vén quần lên; băng lại bắp vế bằng một khăn tay mà không lau rửa vết thương – tại sao lại lau rửa? Nó không có thời giờ nhiễm độc – trước khi ra đi. “Người ta bao giờ cũng làm cùng một việc ấy”, gã thầm nói, nghe bối rối, nghĩ đến con dao mà gã đã ấn sâu vào cánh tay.

- Tôi sẽ ra đi một mình. Và chiều nay, mình tôi cũng đủ.

- Dù sao tôi cũng sẽ tổ chức một cái gì đó – Souen trả lời.

- Đã quá trễ rồi!

Trước tiệm buôn Pei nối bước theo Tchen. Gã trông thấy người thanh niên này, tay cầm mắt kiếng – khuôn mặt trẻ con, không mắt kiếng trông càng thêm đầy vẻ nhân đạo – đang lặng lẽ khóc.

- Anh đi đâu đó?

- Tôi đến với anh.

Tchen ngừng bước. Gã vẫn ngỡ rằng hắn làm theo ý kiến của Souen.

Gã chỉ tay về phía anh ta đang đứng trước cửa ra vào.

- Tôi sẽ đi theo anh. – Pei lên tiếng trở lại. – Hắn cố nói càng ít càng hay, giọng nói lạc đi, trái cổ lên xuống vì những cơn nức nở âm thầm.

- Không. Hôm nay, anh hãy chứng kiến.

Gã bấm các ngón tay vào cánh tay của Pei.

- Hãy chứng kiến – gã lặp lại.

Gã bước đi. Pei đứng trên vỉa hè, miệng há ra, vẫn tiếp tục chùi tròng kiếng, trông buồn cười. Hắn không bao giờ tin được rằng con người có thể đơn độc như vậy.

3 giờ

Clappique tưởng sẽ gặp Kyo tại nhà anh ta. Nhưng không: trong căn phòng rộng lớn trải thảm bày la liệt các bức hoạ mà một môn đệ mặc áo kimônô đang nhặt lên, ông Gisors chuyện trò với người anh rể, hoạ sĩ Kama.

- Mạnh giỏi, ông bạn! trong vòng tay của tôi!

Ông Gisors ngồi điềm nhiên.

- Đáng tiếc là con ông không có ở đây.

- Ông có muốn chờ đợi nó không?

- Cũng thử xem. Tôi rất cần gặp anh ta. Cái cây xương rồng nho nhỏ nào lạ vậy, ở dưới bàn đèn kia? Công trình sưu tầm đáng thán phục. Thật mê hồn! Tôi cần phải mua một cây. Ông tìm nó ở đâu vậy?

- Đó là một tặng vật. nó vừa dược gởi đến không đầy một tiếng đồng hồ.

Clappique đọc mấy chữ Hán vạch trên mặt phẳng dùng để đỡ thân cây; chữ lớn: Trung; ba chữ nhỏ là chữ ký: Tchen ta Eul.

- Tchen ta Eun... Tchen không quen. Đáng tiếc. Đây hẳn là một anh chàng sành về loại xương rồng.

Ông ta nhớ rằng, ngày mai, ông ta sẽ phải ra đi. Cần phải tìm cho ra tiền để ra đi, chớ không để mua xương rồng. không thể nào bán các nghệ phẩm một cách mau lẹ trong thành phố đã bị binh sĩ chiếm đóng. Các người bạn của ông đều nghèo. Và Ferral có giao cho ông mua hộ những bức họa màu lợt của Kama, khi nào người họa sĩ Nhật đến dây. Vài chục đôla tiền thuê hoa hồng.

- Kyo phải có mặt ở đây, - ông Gisors nói. – Hôm nay, nó có nhiều cuộc hẹn, phải không...

- Có lẽ tốt hơn là anh ta nên bỏ mấy cuộc hẹn ấy, Clappique lại càu nhàu.

Ông ta ngại không nói thêm một lời nào khác. Ông ta không biết ông Gisors có biết về hoạt động của Kyo không. Nhưng sự thiếu vắng mọi lời hỏi han khiến ông ta cảm thấy như bị lăng nhục!

- Ông cũng biết là rất quan trọng.

- Tất cả những gì liên hệ đến Kyo đều quan trọng đối với tôi.

- Ông có nghĩ ra cách nào để lãnh hoặc kiếm được bốn năm trăm đô la ngay tức khắc không?

Ông Gisors cười buồn. Clappique biết rằng ông Gisors nghèo và các tác phẩm nghệ thuật của ông, cho dù ông có chịu bán chúng...

“Vậy hãy kiếm một vài xu xem nào” – vị Nam Tước thầm nghĩ. Ông ta đến gần, nhìn vào các bức hoạ rải rác trên mặt trường kỷ. Mặc dù khá tinh tế để không nhận xét nghệ thuật cổ truyền Nhật Bản trong mối tương quan với Cézanne hay Picasso ông ta giờ đay cũng đâm ghét nó: cái thú thanh tĩnh nghe mong manh nơi những người bị săn đuổi. Những ánh lửa bạc trong núi, những con đường làng mờ khuất trong mưa, những cánh chim thiệp cầm trên mặt tuyết, tất cả thế giới ấy nơi mà nỗi u sầu chuẩn bị cho hạnh phúc. Clappique tưởng tượng, than ôi! Không mấy khó khăn, những thiên đường mà ông ta phải dừng lại nơi ngõ vô, nhưng ông ta tức giận vì sự hiện hữu của chúng.

- Người đàn bà đẹp nhất thiên hạ, - ông ta nói, - trần truồng, khêu gợi nhưng với một cái đai trinh tiết. Dành cho Ferral, chớ không dành cho tôi. Hãy chui lại xuống đất!

Ông ta chọn bốn bức, đọc địa chỉ cho người môn đệ.

- Ông cần nghĩ đến nghệ thuật của chúng tôi, ông Gisors nói; nghệ thuật này không có cùng một công dụng.

- Tại sao ông vẽ, ông Kama San?

Cũng mặc kimônô giống như người môn đệ của mình, ánh sáng rọi trên đỉnh đầu sợi tóc của ông, vị giáo sư già như Clappique với vẻ tò mò.

Người môn đệ để bức hoạ xuống, dịch nghĩa, đáp:

- Thầy nói: trước hết, dành cho vợ tôi, vì tôi yêu nàng...

- Tôi không có nói cho ai, mà cho điều gì?

- Thầy nói khó lòng giải thích cho ông. Thầy nói: Khi tôi sang Âu châu, tôi có viếng các viện bảo tàng. Các hoạ sĩ của ông càng vẽ những trái táo chừng nào, và ngay cả những đường nét không mô tả sự vật, họ càng thích vẽ chính họ nhiều hơn. Đối với tôi, thế giới bên ngoài mới là đáng kể.

Kama nói thêm một câu nữa, một vẻ dịu dàng thoáng lướt qua khuôn mặt ông trông giống một bà lão nhân từ.

- Thầy nói: Hội hoạ, tại xứ tôi, có thể được xem như là lòng từ bi tại xứ ông.

Một người môn đệ thứ hai, làm đầu bếp, mang lại những chén rượu sakê, đoạn lui ra. Kama lại lên tiếng trở lại.

- Thầy nói nếu không vẽ nữa, thầy như cảm thấy mình trở nên mù loà, và còn hơn cả mù loà: cô độc.

- Khoan đã! – vị nam tước nói, hấp háy mắt. – Nếu một y sĩ nói với ông: “Ông bị một chứng bệnh nan y và ông sẽ chết trong ba tháng nữa, ông có tiếp tục vẽ nữa không?”

- Thầy nói, nếu biết rằng mình sắp chết, thầy nghĩ là mình sẽ vẽ khá hơn, nhưng không vẽ một cách khác.

- Tại sao lại khá hơn? – ông Gisors hỏi.

Ông không ngớt nghĩ đến Kyo. Những gì Clappique nói khi bước vào đây đủ để khiến ông lo âu: hôm nay, sự thanh tĩnh cũng gần như là một lời sỉ nhục.

Kama trả lờ. ông Gisors tự dịch lấy:

- Ông ấy nói: “Có hai nụ cười – một của vợ tôi và một của con gái tôi – mà giờ đây tôi nghĩ rằng không bao tôi còn trông thấy lại, và tôi càng thêm yêu mến nỗi buồn. thế giới giống như chính chữ viết của chúng tôi.

Dấu hiệu đối với đoá hoa như thế nào, chính đoá hoa này (ông ta chỉ vào một cây xương rồng) sẽ đối với một sự vật nào đó như thế ấy, tất cả đều là dấu hiệu. Đi từ dấu hiệu đến vật mang ý nghĩa ấy, tức là đi sâu vào thế giới, là hướng đến Thượng đế... ông ấy cho rằng cái chết gần lại... Khoan dã...

Ông ta hỏi Kama, dịch trở lại.

“Phải. Ông ấy cho rằng cái chết gần lại có thể sẽ giúp khoác vào mọi sự vật khá nhiều lòng nhiệt thành, nỗi ưu sầu, để cho mọi hình thể mà ông ấy vẽ trở thành những dấu hiệu dễ hiểu, để cho những ý nghĩa của chúng, - cả những gì mà chúng che dấu – phát lộ ra”.

Clappique như cảm thấy đau đớn trước một người đã phủ nhận sự đau khổ. Ông ta lắng nghe với vẻ chăm chú, cái nhìn không rời khỏi khuôn mặt khổ hạnh nhân từ của Kama trong khi ông Gisors dịch nghĩa, khuỷu tay áp vào người, bàn tay chắp lại, Clappique, ngay khi nét mặt ông để lộ sự thông minh, trông giống như một con khỉ ưu sầu và rét lạnh.

- Có lẽ ông không đặt thật đúng câu hỏi, - ông Gisors nói.

Ông Gisors nói một câu thật ngắn bằng tiếng Nhật. Kama từ nãy đến giờ đều gần như trả lời ngay khi được hỏi, nghĩ ngợi.

- Ông vừa hỏi ông ấy câu gì vậy? Chapique khẽ hỏi.

- Những gì ông ấy sẽ làm nếu y sĩ bó tay trước căn bệnh của bà nhà.

- Thầy nói rằng thầy sẽ không tin nơi vị y sĩ.

Người môn đệ đầu bếp trở lại và mang đi mấy cái chén trên một cái mâm. Bộ Âu phục của anh, nụ cười, những cử chỉ của anh mà sự vui vẻ khiến trở nên kỳ quái, cho đến vẻ tôn kính của anh, tất cả đều trông khác thường ngay dưới mắt ông Gisors. Kama khẽ nói một câu mà người môn đệ kia không dịch nghĩa.

- Tại Nhật, thanh thiếu niên không bao giờ uống rượu, ông Gisors nói. Ông ấy lấy làm khó chịu vì môn đệ này say rượu.

Cái nhìn của ông trở nên mơ hồ, cánh cửa bên ngoài mở ra. Có tiếng chân bước. nhưng đó không phải là Kyo. Cái nhìn trở lại chính xác, đăm dăm vào đôi mắt Kama:

- Và nếu bà nhà chết đi?

Ông ta có nên tiếp tục cuộc đối thoại này với một người Âu không? Những người hoạ sĩ già thuộc về thế giới khác. Trước khi trả lời, ông ta cười buồn một lúc lâu, không với đôi môi, mà bằng mí mắt:

- Người ta cũng có thể giao cảm cả với cái chết. đó là điều khó nhất, nhưng có lẽ đó là ý nghĩa của cuộc đời...

Ông giã từ, trở về phòng, theo sau là một người môn đệ. Clappique ngồi xuống.

- Câm miệng lại!... Đáng kể, ông bạn ạ, đáng kể! ông ta dời gót như một bóng ma có giáo dục. Ông có biết rằng những bóng ma trẻ đã rất đỗi vô giáo dục và các bóng ma già đã phải khổ nhọc nhiều để dạy cho chúng cách làm cho con người sợ hãi, vì các bóng ma gọi là ma trẻ ấy không biết đến một thứ tiếng nào, và chỉ biết nói Zip. Zip... Những gì mà...

Ông ta ngừng nói: lại có tiếng đập vào cửa. Trong bầu không khí yên lặng, những nốt đàn dây bắt đầu ngân lên, chúng hợp thành ngay sau đó một tiết điệu trầm lặng dần dần toả rộng ra, xuống tận những nốt trầm lăng hơn nữa, ngân dài và cuối cùng chìm mất vào sự thanh tĩnh thiêng liêng.

- Cái gì, nhưng mà cái gì vậy?

- Ông ta chơi Shamisen[1]. Bao giờ cũng vậy, khi nào có một chuyện gì làm ông băn khoăn: ở bên ngoài nước Nhật, cây đàn ấy bảo vệ ông... Ông có nói với tôi, khi từ Âu châu trở về: “Giờ đây tôi biết tôi có thể tìm được sự yên tĩnh nội tâm ở bất cứ nơi nào”.

- Làm bộ ư!

Clappique hỏi một cách lơ đãng: ông ta đang lắng nghe. Vào giờ phút mà sự sống của ông có lẽ đang lâm nguy (mặc dù ít khi ông quan tâm đến bản thân để thực sự cảm thấy bị đe dọa) những nốt nhạc rất đỗi thuần khiết ấy và làm sống lại trong ông, cùng với lòng say mê âm nhạc thời trẻ tuổi, chính tuổi trẻ ấy và tất cả hạnh phúc đã bị huỷ diệt cùng với nó. Lại một lần nữa có tiếng chân bước; Kyo đã vào đến bên trong.

Anh đưa Clappique đến phòng mình. Trường kỷ, ghế ngồi, bàn giấy, những bức tường màu trắng: một sự khổ hạnh cố ý. Trong phòng nghe nóng bức, Kyo liệng cái áo ngắn lên trường kỷ, chỉ mặc áo thun dài tay.

- Đây, thế này, - Clappique nói. – Người ta vừa mới cho tôi hay một nguồn tin nho nhỏ mà anh sẽ lầm lẫn nếu coi thường nó: nếu từ đây cho đến chiều mai, chúng ta không chuồn đi thì sẽ phải bỏ mạng.

- Nguồn tin ấy, từ đâu vậy? Cảnh sát à?

- Hoan hô. Không cần phải nói rằng tôi không thể nào kể dài dòng hơn cho anh nghe tin ấy. Nhưng nghiêm trọng đấy. Câu chuyện con tàu đã bị phát giác. Anh hãy ở yên một chỗ, và hãy chuồn đi trước thời hạn bốn mươi tám tiếng đồng hồ.

Kyo sắp sửa nói: đó không còn là một tội trạng nữa vì chúng tôi đã chiến thắng. Anh im lại. Anh đã quá trông mong cuộc đàn áp phong trào thợ thuyền để phải ngạc nhiên. Nó liên quan đến sự ngoại giao, điều mà Clappique không thể nào đoán được, và nếu ông ta bị tập nã là vì chiếc Shantung đã bị các phần tử Cộng sản cướp vũ khí, người ta ngỡ rằng ông liên can với họ.

- Anh tính làm gì? – Clappique lên tiếng trở lại.

- Suy nghĩ đã.

- Ý nghĩ sâu sắc chưa! Và anh có tiền để chuồn không?

Kyo nhún vai vừa mỉm cười.

- Tôi không có ý chuồn.

- Sự báo tin của ông quan trọng vô cùng cho tôi, anh lên tiếng trở lại một lát sau.

- Không có ý chuồn! Anh thích bị cắt cổ sao?

- Có lẽ. nhưng còn ông, ông có muốn trốn đi không?

- Tại sao tôi phải ở lại?

- Ông cần bao nhiêu.

- Ba bốn trăm...

- Tôi có thể giúp ông một phần. tôi muốn giúp dỡ ông. Đừng nghĩ ông muốn đền bù sự giúp đỡ của tôi bằng cách ấy...

- Clappique mỉm cười buồn bã. Ông ta không hiểu lầm sự tế nhị của Kyo, nhưng ông ta nghe mủi lòng.

- Tối nay hẹn ở đâu? – Kyo lên tiếng trở lại.

- ở đâu tuỳ anh.

- Không, tuỳ ông.

- Vậy thì tại Black Cat. Tôi cần phải kiếm chút ít tiền bằng mọi cách.

- Được rồi, hộp đêm nằm trên phần đất thuộc tô giới, do đó không có cảnh sát Trung Hoa và ở đó việc bắt cóc cũng ít phải lo ngại hơn ở đây: có quá nhiều người...

Tôi sẽ đến đó khoảng mười một giờ rưỡi. nhưng không trễ hơn đâu. Tôi còn một cuộc hẹn sau đó.

Clappique nhìn sang chỗ khác.

- ... mà tôi quyết không dể lỡ. Anh chắc rằng ở Cat sẽ không có đóng cửa không?

- Điên chưa! ở đó sẽ đầy những sĩ quan của Tưởng Giới Thạch; bộ quân phục đắc thắng của chúng sẽ ghì sát vào thân những ả giang hồ trong các điệu vũ. Với những tràng hoa diễm lệ ấy, ông nghe rõ chớ! Vậy tôi sẽ chờ ông đến khoảng mười một giờ rưỡi, vừa chăm chú nhìn ngắm cái khung cảnh cần thiết ấy.

- Ông có tin ông sẽ biết được nhiều tin tức hơn nữa chiều nay không?

- Tôi sẽ cố thử.

- Có lẽ ông sẽ giúp đỡ tôi nhiều việc. Nhiều việc hơn là ông có thể nghĩ. Tôi có bị nêu đích danh không?

- Có.

- Còn ba tôi?

- Không: nếu có, tôi đã báo cho ông ta/ ông không có liên can gì trong vụ Shantung.

Kyo biết không phải chiếc Shantung cần được nghĩ đến, mà là cuộc đàn áp. May? Vai trò của nàng thật không mấy quan trọng dể anh phải dò hỏi Clappique. Về phần những người đồng chí với anh, nếu anh bị đe dọa, cả đám cũng sẽ như vậy.

- Cám ơn.

Hai người cùng trở về. Trong căn phòng treo các bức tranh phượng hoàng, May nói với ông Gisors:

- Thật rất khó xử: nếu Hiệp hội phụ nữ chấp thuận việc ly dị cho những người vợ bị bạc đãi, những người chồng sẽ rời khỏi Hiệp hội cách mạng và nếu chúng con không chấp thuận cho họ việc đó, họ sẽ mất mát tất cả tin tưởng nơi chúng con. Họ không có điều gì quấy...

- Để tổ chức, - Kyo nói, - tôi e rằng đã quá muộn.

Clappique dời gót, không chiếu cố đến câu chuyện.

- Hãy rộng lượng như mọi hôm thử xem, - ông ta nói với ông Gisors, - hãy cho tôi cây xương rồng của ông.

- Tôi rất mến người thanh niên đã gởi tặng tôi... Bất cứ cây nào khác, ông cứ tự tiện...

Đó là một cây xương rồng nhỏ tua tủa gai.

- Cũng không sao,

- Mong gặp lại một ngày gần đây.

- Một ngày gần... Không. Có lẽ. Sẽ gặp lại, ông bạn. Người Thượng Hải duy nhất không có mặt – câm miệng lại! hoàn toàn không có mắt! – xin chào quý vị.

Ông ta bước ra.

May và ông Gisors nhìn Kyo có vẻ lo âu, anh liền giải thích:

- Ông ta có bắt được tin do Cảnh sát đưa ra là con bị theo dõi; ông ta khuyên con hãy ở yên một chỗ kể từ hôm nay, ngoại trừ trốn đi trước thời hạn hai ngày. Mắt khác, cuộc đàn áp sắp sửa xảy ra. Và các đoàn quân của sư đoàn một đã rời khỏi thành phố.

Đó là sư đoàn duy nhất mà các phần tử Cộng sản có thể tin cậy. Tưởng Giới Thạch biết vậy, hắn đã ra lệnh cho vị tướng này theo các đoàn quân ra mặt trận. Vị tướng này đã đề nghị với Ủy ban Trung ương Cộng sản bắt giữ Tưởng Giới Thạch. Ủy ban khuyên ông ta nên chờ đợi thời cơ, hãy giả vờ bị bệnh; ông ta bị đặt tức khắc trước một tối hậu thư. Và không dám liều giao tranh mà không có sự chấp thuận của Đảng. Ông ta đã rời khỏi thành phố, chỉ để lại một vài cánh quân. Đến lượt họ cũng vừa lên đường.

- Họ chưa đi xa, - Kyo lên tiếng trở lại – và ngay cả sư đoàn cũng có thể quay trở lại nếu chúng ta giữ được thành phố khá lâu. – Cánh cửa mở ra, và cái mũi thò vào, một giọng nói mơ hồ cất lên:

“Nam tước Clappique không có mặt”.

Cánh cửa đóng lại.

- Không có tin tức gì từ Hán Khẩu à? – Kyo hỏi.

- Không.

Kể từ ngày trở về, anh lén lút tổ chức các toán xung kích chống lại Tưởng Giới Thạch, giống như các tổ chức chống lại các phần tử Hoa Bắc. Quốc tế III đã bác bỏ mọi khẩu hiệu chống đối, nhưng chấp thuận duy trì các toán xung kích Cộng sản; những toán cán bộ mới, Kyo và các đồng chí của anh muốn biến họ thành các phần tử tổ chức quần chúng hiện tại mỗi ngày đều hướng về các Hiệp hội; nhưng những bài diễn văn chính thức của Đảng Cộng sản Trung Hoa, tất cả công cuộc tuyên truyền bắt tay Quốc dân đảng làm cho họ phải tê liệt. Chỉ có Ủy ban quân sự là đứng về phía họ; tất cả vũ khí đều không được giao trả nhưng Tưởng Giới Thạch đã đòi hỏi ngay ngày hôm nay phải giao trả tất cả số vũ khí còn lại. Một lời kêu gọi cuối cùng của Ủy ban quân sự đã được điện về Hán Khẩu.

Ông Gisors lần này đã rõ chuyện, cảm thấy lo âu. Giống như Kyo, ông tin chắc rằng Tưởng Giới Thạch sẽ cố nghiền nát các phần tử Cộng sản, giống như Kyo, ông cho rằng mưa sá Tưởng Giới Thạch là đánh vào điểm trọng yếu của phe phản động nhất. Nhưng ông ghét tính cách dự mưu nơi hoạt động hiện tại của Cộng sản. Cái chết của Tưởng Giới Thạch, cả việc cướp chính quyền tại Thượng Hải, chỉ đưa đến sự phiêu lưu. Cùng với một vài phần tử của Quốc tế III, ông ta mong ước quân đọi sắt thép và số người Cộng sản nằm trong Quốc dân đảng quay trở lại Quảng Đông: ở đó, nương tựa vào một thành phố cách mạng, một xưởng chế tạo vũ khí hoạt động và được cung cấp đầy đủ, các phần tử cộng sản có thể thiết lập cơ sở và chờ đợi cơ hội chu đáo, thuận tiện cho một chiến dịch mới tại miền Bắc sẽ được chuẩn bị bởi hành vi phản động sắp tới của Tưởng Giới Thạch. Các tướng lãnh tại Hán Khẩu, thèm khát các ruộng đất cần phải chiếm đoạt, sẽ không như vậy tại Hoa Nam nơi mà các Hiệp hội tỏ ra trung thành với những người nào tiêu biểu trong lòng tưởng nhớ Tôn Dật Tiên sẽ buộc họ vào một cuộc chiến tranh du kích trường kỳ và không có lợi mấy. Thay vì phải giao tranh với các phần tử Hoa Bắc, và với Tưởng Giới Thạch, hồng quân như vậy sẽ để cho vị tướng này giao tranh với các phần tử Hoa Bắc; dù địch thủ mà sau đó họ sẽ chạm trán tại Quảng Đông có thuộc phe nào, họ cũng chỉ phải chạm trán với những kẻ đã suy yếu. “Những con lừa thường để bị mê hoặc bởi các củ cà rốt; ông Gisors thường nói về các tướng lãnh, chúng sẽ cắn chúng ta vào lúc này nếu chúng ta không tự đặt mình ở giữa...”

“Nhưng đa số trong Đảng Cộng sản Trung Hoa, và có lẽ cả Mạc Tư Khoa, cho rằng quan điểm ấy, có tính cách... thanh toán”

Kyo nghĩ, giống như ba anh, rằng chính sách hay nhất là quay trở lại Quảng Đông. Thêm nữa anh muốn chuẩn bị một cuộc tuyên truyền tích cực việc lánh nạn ồ ạt đám thợ thuyền – họ không có tài sản nào cả - từ Thượng Hải trở về Quảng Đông. Thật là khó khăn vô cùng, nhưng không hẳn là không thể được; những thị trường tại các tỉnh lỵ miền Nam được bảo đảm, các đám thợ thuyền sẽ mang lại cho Quảng Đông một cuộc kỹ nghệ hóa nhanh chóng. Chiến thuật nguy hiểm cho Thượng hải: các thợ dệt đều thạo nghề không nhiều thì ít, cá đào tạo những người thợ mới là đào tạo các phần tử cách mạng mới, trừ phi có tăng thêm tiền lương, “giả thuyết bị gạt bỏ, Ferral chắc sẽ nói, vì tình trạng hiện tại của kỹ nghệ Trung Hoa”. Bỏ trống Thượng Hải, đổ xô về Quảng Đông giống như Hương Cảng cách Quảng Đông năm giờ đường, và Thượng Hải cách năm ngày; công trình gian nan, có lẽ còn gian nan hơn là để bị giết hại, nhưng ít ngu xuẩn hơn.

Kể từ ngày rời Hán Khẩu trở về, Kyo tin chắc hành vi phản động đang được chuẩn bị; cho dù Clappique không báo trước, anh nhận thấy tình hình tuyệt vọng, trong trường hợp quân đội của Tưởng Giới Thạch tấn công những phần tử Cộng sản, đến nỗi mọi biến cố, ngay cả việc mưu sát họ Tưởng (cho dù kết quả có như thế nào) đều trở nên bát lợi. Còn hiệp hội, nếu được võ trang, có thể cùng lắm cố gắng để chống lại một đội quân hỗn tạp.

Lại có tiếng chuông reo. Kyo chạy ra ngoài cửa: lần này mới tật là người đưa tin mang đến lời phúc đáp của Hán Khẩu, ba anh và May nhìn anh trở vào, không nói gì cả.

- Lệnh chôn giấu vũ khí.

Bản thông tư được sẽ đi, trở thành một nắm giấy trong lòng bàn tay. Kyo xếp lấy trở lại các mảnh giấy, trải chúng trên bàng đèn, áp cho gần lại, nhún vai trước sự trẻ con của mình: đúng là lênh cất hoặc chôn giấu vũ khí.

- Tôi cần phải đến nơi ấy lập tức.

Nơi ấy là Ủy ban Trung ương. Như vậy anh cần phải rời khỏi các tô giới. ông Gisors biết không thể nói gì cả. không chừng con ông đến với cái chết; đây không phải là lần đầu tiên. Ông chỉ biết có cam chịu và im lặng. ông rất trọng những tin tức của Clappique: tại Bắc Kinh, vị nam tước đã cứu mạng người Đức, Konig, hiện nay đang điều khiển ngành cảnh sát của Tưởng Giới Thạch, bằng cách báo cho biết trước đội chí nguyện mà Konig nằm trong đó sắp sửa bị tàn sát. Ông Gisors không quen biết với Chpilewski. Vì cái nhìn của Kyo chạm phải ông, ông găng gượng mỉm cười; Kyo cũng vậy, và cái nhìn của hai người không rời nhau: cả hai đều biết rằng họ dối nhau, và rằng sự dối nhau ấy có lẽ là niềm cảm thông thân tình nhất giữa họ.

Kyo trở về phòng, nơi anh đã để lại áo ngắn. may choàng áo của nàng.

- Em đi đâu?

- Đi với anh, Kyo.

- Để làm gì?

Nàng không trả lời.

- Đi chung với nhau chúng ta dễ bị nhận diện hơn là đi riêng – anh nói.

- Không đâu, tại sao chứ? Nếu anh bị theo dõi, thì cũng thế thôi.

- Em sẽ không giúp ích được gì cả.

- Em sẽ giúp ích được gì, ở đây, vào lúc này? Đàn ông không biết thế nào là chờ đợi...

Kyo bước một vài bước, liền dừng lại, quay về phía nàng.

- Này May: khi sự tự do của em được em sử dụng đến, anh đã thừa nhận nó.

Nàng hiểu anh muốn ám chỉ và lo ngại điều gì: nàng đã quên anh.

- Và em đã biết sử dụng nó. Giờ đây đến lượt anh.

- Nhưng mà, Kyo, có tương quan nào?

- Thừa nhận sự tự do của người khác, là giành cho người ấy cái quyền gieo khổ đau cho chính mình, kinh nghiệm dạy cho anh như vậy.

- Em có là “một người khác” không, Kyo?

Anh lại im lặng một lần nữa. Phải, vào lúc này, nàng là một người khác.

Giữa họ có một cái gì đã thay đổi.

- Thế là, nàng lên tiếng trở lại, bởi vì em đã... à, thì ra chính vì vậy mà chúng ta không còn có thể chia sẻ gian nguy chung với nhau? Hãy nghĩ lại, Kyo à: người ta gần như có thể cho là anh muốn trả thù...

- Không còn được quyền ấy, và tìm kiếm nó khi đã không còn lợi ích gì nữa, đó là hai việc khác nhau.

- Nhưng nếu anh hận em đến mức áy, anh chỉ có việc kiếm một cô nhân tình... Và hơn nữa, không! Tại sao em lại nói câu ấy, không đúng với sự thật, em không có bắt lấy một nhân tình! Và anh biết rõ rằng anh có thể ăn nằm với người nào anh muốn...

- Em đã đủ cho anh rồi, - Kyo chua chát trả lời.

Cái nhìn của anh làm cho May ngạc nhiên: tất cả những tình cảm trộn lẫn trong đó. Và tình cảm đáng ngại hơn cả trên khuôn mặt anh, chính là sự biểu lồ đáng ngại của một niềm khoái lạc mà chính anh không nhận biết.

- Vào lúc này, anh lên tiếng trở lại, không phải chính sự ăn nằm là điều anh thèm khát. Anh không nói rằng em đã sai quấy, anh nói là anh muốn đi một mình. Sự tự do mà em thừa nhận nơi anh, chính là sự tự do của em! Sự tự do được làm những gì em ưa thích. Tự do không phải là cuộc đổi chác, tự do là tự do.

- Đó là một sự phó mặc.

Yên lặng

- Tại sao những người yêu nhau đối diện với cái chết, Kyo, nếu không phải cùng sống chết có nhau?

Nàng đoán rằng anh sắp dời gót mà không bàn cãi, và nàng đến đứng trước cửa ra vào.

- Không nên cho em sự tự do ấy, - nàng nói, - nếu giờ đây nó phải chia cách chúng ta.

- Em không có đòi hỏi anh sự tự do ấy.

- Anh đã trước tiên thừa nhận cho em...

- “Đừng tin nơi mình”, - anh thầm nghĩ. – Đúng đấy, bao giờ anh cũng thừa nhận quyền hạn ấy cho nàng. Nhưng lúc này nàng lại bàn cãi về quyền hạn khiến anh càng thêm ngăn cách với nàng.

- Có những quyền hạn người ta ban phát, nàng nói một cách chua chát, chỉ để không được sử dụng đến.

- Cho dù anh có thừa nhận chúng cốt để hiện tại em có thẻ bám vào, sự thừa nhận ấy không là quá tệ...

- Giây phút ấy ngăn cách hai người còn hơn cả cái chết: mí mắt, miệng, màng tang, tất cả những niềm âu yếm đều hiện rõ trên khuôn mặt một người đàn bà đã chết và dôi gò má cao, đôi mi mắt dài chỉ còn thuộc về thế giới xa lạ.

- Nhưng vết thương của mói tình đậm đà nhất đủ để tạo nên một niềm oán hận khác sâu đậm

- Cận kề cái chết đến mức ấy, trên ngưỡng cửa của thế giới thù hận ấy mà nàng đã nhận ra được, nàng có sẽ lùi bước không? Nàng nói:

- Em không bám vào điều gì cả, Kyo à, hãy cho rằng em sai quấy, em đã sai quấy, như anh muốn, nhưng hiện thời, vào lúc này, ngay vào lúc này, em muốn đi cùng với anh. Em yêu cầu được như vậy...

- Kyo im lặng.

- Nếu anh không yêu em, - nàng lên tiếng trở lại, có cho em đi cùng với anh thì cũng không hề gì đến anh. Không phải sao? Tại sao lại làm chúng ta phải đau khổ?

- “Như thể đây là lúc phải làm vậy”, - nàng nói tiếp với vẻ mệt mỏi.

- Kyo cảm thấy xôn xao trong anh vài bóng ác ma quen thuộc có phần nào nhờm tởm anh. Anh thèm muốn làm thương tổn nàng, và nơi chính tình yêu của nàng. Nàng đã nói đúng: nếu anh không yêu nàng, dầu nàng có chết thì ăn thua gì tới anh? Có lẽ chính vì nàng bắt buộc anh phải thấu hiểu điều ấy, vào lúc này đã khiến anh thêm đối nghịch với nàng.

- Phải chăng nàng muốn khóc? Nàng khép mắt lại và sự run rẩy của đôi vai, một cách đều đặn, lặng lẽ hình như tương phản lại với bộ mặt im lìm của nàng, cũng chính là sự biểu lộ niềm thống khổ của con người. Không phải chỉ có ý chí của anh đã tách biệt hai người, mà là nỗi đau khổ. Và khung cảnh đau khổ khiến họ gần lại cũng bằng như nỗi đau khổ cách chia, anh lại lao về phía nàng lần nữa vì khuôn mặt ấy và đôi lông mày cứ cao dần – như khi nàng lấy làm kinh dị... Bên trên đôi mắt nhắm lại, vầng trán ngừng động đậy và khuôn mặt căng thẳng ấy với đôi mi mắt vẫn khép lại đột nhiên trở thành một khuôn mặt của người dàn bà đã chết.

- Phần lớn những nét mặt của May đã quá quen thuộc để anh phải xúc động. Nhưng anh chưa bao giờ trông thấy bộ mặt chét chóc ấy, - vẻ khổ đau, chớ không là giấc ngủ, trên đôi mắt nhắm lại, - và cái chết cận kề đến nỗi ảo giác ấy khoác lấy mãnh lực của một điều bất thường. Nàng mở mắt trở lại mà không nhìn anh: cái nhìn của nàng vẫn treo trên bức tường màu trắng của văn phòng, không một thớ thịt nào trên người nàng động đậy, một giọt nước mắt chảy dọc theo mũi nàng, đọng lại bên mép miệng; không phù hợp với bộ mặt trông cũng vô tình, cũng chết chóc không kém gì lúc nãy, vì đời sóng âm thầm, thống thiết của giọt nước mắt, giống như nỗi đau đớn của loài thú.

- Hãy mở mắt ra.

Nàng nhìn anh.

- Mắt em vẫn mở...

- Anh có cảm tưởng là em đã chết rồi.

- Thì sao?

Nàng nhún vai và nói tiếp, bằng một giọng mệt mỏi và buồn bã nhất:

- Em, nếu em chết, em nhận thấy là anh có thể chết...

Giờ đây anh hiểu rõ tình cảm đích thực nào đã thúc đẩy anh; anh muốn an ủi nàng. Nhưng anh chỉ có thể an ủi nàng bằng cách chấp nhận cho nàng đi theo. Nàng đã nhắm mắt lại. Anh ôm nàng vào vòng tay, hôn lên mi mắt nàng. Khi hai người rời nhau:

- Chúng ta đi chớ? – Nàng hỏi.

- Không.

Quá thành thực để che đậy bản năng của mình, nàng trở lại những ham muốn của nàng với một sự ương ngạnh của loài mèo, thường khiến Kyo bực bội. Nàng đứng tránh sang một bên cửa, nhưng anh nhận thấy anh chỉ muốn bước qua cửa khi nào anh biết chắc mình sẽ không bước qua khỏi.

- May, chúng ta có nên chia tay nhau một cách bất ngờ không?

- Em có sống như một người đàn bà nương bóng tùng quân không...

Hai người vẫn đứng đối diện với nhau, không còn biết nói gì thêm và không chấp nhận sự im lặng, cả hai đều biết rằng giây phút này, một trong những giây phút nghiêm trọng nhất của đời họ, họ ung thối vì thời khắc trôi qua: nơi chốn của Kyo không phải ở đây, mà ở tại Ủy ban và sự nôn nóng mai phục bên dưới tất cả những gì anh nghĩ ngợi.

Nàng hất mặt về phía cửa.

Anh nhìn nàng, đưa hai tay ôm lấy đầu nàng, siết nhẹ nhàng mà không hôn lên đó, như thể anh có thể đặt vào lần ôm siết khuôn mặt ấy tất cả những gì dịu dàng lẫn mạnh bạo mà bao nhiêu cử chỉ hùng tráng của tình yêu đã có được. Cuối cùng đôi bàn tay anh rời ra.

Hai cánh cửa khép lại. may tiếp tục lắng nghe, như thể nàng chờ đợi đến lượt cánh cửa thứ ba vốn không hề có khép lại – miệng hé ra và mềm nhũn, khắc khoải vì phiền muộn, nàng khám phá ra rằng, nếu nàng ra hiệu cho anh đi một mình, là vì nàng nghĩ như vậy nàng đã làm cử chỉ cuối cùng, cử chỉ duy nhất, có thể khiến anh quyết định mang nàng đi theo.

Vừa đi được độ trăm bước Kyo gặp Katow.

- Tchen không có đấy sao?

Anh ta chỉ về phía nhà Kyo.

- Không.

- Anh hoàn toàn không biết anh ta ở đâu sao?

- Không. Sao vậy?

Katow tỏ ra bình tĩnh, nhưng cái khuôn mặt thiểu não ấy...

- Có nhiều xe hộ tốn Tưởng Giới Thạch. Tchen không biết được điều đó. Hoặc là cảnh sát đã được báo trước hoặc là chúng đề phòng. Nếu không biết, anh ta sẽ bị tóm và bom sẽ bị liệng một cách vô ích. Tôi kiếm anh ta từ lâu. Bom phải được liệng từ lúc một giờ. Không có gì xảy ra: nếu có chúng ta biết ngay.

- Anh ta phải đi qua đại lộ Hai nền Cộng hòa. Tốt hơn hết là đến nhà Hemmerich.

Katow liền đi đến đó.

- Anh có mang cyanure theo không? – Kyo vào lúc anh ta quay lại.

- Có.

Cả hai và nhiều nhân vật cách mạng đầu não khác, đều có mang chất cyanure trong cái khoen dẹp của sợi dây nịt, mở ra như một cái hộp.

Sự chia tay không giải thoát được Kyo. Trái lại chấp nhận sự chia tay, hình ảnh của May càng đậm nét hơn trên con đường hoang vắng này, càng ám ảnh anh nặng nề hơn lúc nàng đối diện với anh, chống đói lại anh. Kyo đi vào thành phố Trung Hoa, không phải là không nhận ra nó, nhưng với sự hờ hững. “Em có sống như một người đàn bà nương bóng tùng quân không?...” Anh lấy quyền gì để sử dụng đến sự che chở vì thương hại người đàn bà đã chấp nhận ngay cả việc anh ra đi? Anh nhân danh điều gì để rời khỏi nàng? Anh có chắc rằng đó không phải là sự trả thù? Chắc hẳn May vẫn còn ngồi trên giường, bị giày vò bởi nỗi khổ “cóc cần” tâm lý học...

Anh trở lại vừa chạy. căn phòng treo những bức tranh phượng hoàng trống vắng: Ba anh đã ra ngoài, May vẫn còn ở trong phòng anh. Trước khi mở cửa anh dừng lại, bị giày vò vì niềm thân ái của sự chết, khám phá ra rằng, trước sự cảm thông ấy, xác thịt mới vô nghĩa làm sao mặc dầu sự khích động của nó. Giờ đây anh mới chợt hiểu rằng chấp thuận lôi kéo người mình yêu vào cái chết có lẽ là hình thức hoàn toàn nhất của tình yêu, hình thức không làm sao vượt bỏ được.

Anh mở cửa. Nàng choàng vội cái áo lên vai và bước theo anh không nói một lời nào.

3 giờ rưỡi

Từ nãy giờ đã lâu, Hemmelrich nhìn những đĩa hát không có người mua. Có tiếng gõ cửa theo ám hiệu riêng. Anh ta mở cửa. Katow.

- Anh có gặp Tchen không?

- Những giày vò vớ vẩn! – Hemmelrich càu nhàu.

- Cái gì?

- Không gì cả. có lần tôi có gặp anh ta. Vào lúc một hai giờ. Có dính dáng đến anh không?

- Tôi rất cần gặp anh ta. Anh ta đã nói gì?

Từ nơi một căn phòng khác, một tiếng trẻ vọng đến họ, tiếp sau là những lời nói mơ hồ của người mẹ cố trấn tĩnh nó.

- Anh ta đến đây với hai người bạn. một người là Souen. Người kia, tôi không quen. Một gã đeo kiếng, giống như mọi người. Vẻ sang trọng. Những cái cặp bên dưới cánh tay: anh có biết rõ không?

- Chính vì vậy mà tôi đi tìm anh ta.

- Anh ta hỏi xin tôi ở lại đây ba tiếng đồng hồ.

- A hay lắm! Anh ta đâu?

- Im nào! Hãy nghe nói đây. Anh ta hỏi tôi ở lại đây. Tôi không chịu. Anh nghe rõ không?

Yên lặng.

- Tôi nói với anh là là tôi từ chối.

- Anh ta có thể đi đâu đây?

- Anh ta không có nói. Cũng như anh. Hôm nay sự im lặng lan tràn...

Hemmelrich đứng giữa căn phòng, thu hình lại, cái nhìn gần như oán hận.

Katow điềm nhiên nói mà không nhìn anh:

- Anh chửi mắng nhiều quá. Sao, anh tìm cách mắng chửi để có thể tự bênh vực à?

- Anh biết được gì? Và anh thì đếm xỉa gì đến chuyện ấy? Đừng nhìn tôi như vậy với chỏm tóc mồng gà con và bàn tay mở rộng của anh, giống như Chúa cứu thế, để người ta đóng đinh vào đó.

Không khép bàn tay lại, Katow đặt nó lên vai Kemmelrich.

- Trên ấy, vẫn không có gì khả quan à?

- Cũng đỡ. Nhưng như vậy cũng đủ. Tội nghiệp thằng bé!... Với thân hình ốm nhom và cái đầu to lớn của nó, trông nó giống như một con thỏ bị lột da... Hãy mặc.

Người Bỉ gạt mạnh tay Katow, dừng lại, kế hướng về cuối căn phòng bằng một cử động trẻ con trông quái gở, như thể anh ta giận dỗi.

- Và điều tệ hại, - anh ta nói, vẫn chưa phải là thế. Không, đừng ra vẻ một người bị ngứa ngáy, bị giày vò với những điệu bộ lúng túng. Tchen, tôi không có điểm chỉ anh ta cho Cảnh sát. Được rồi, ít ra cũng chưa...

Katow nhún vai với vẻ buồn bã.

- Tốt hơn là anh nên giải thích.

- Tôi muốn ra đi với anh ta.

- Với Tchen?

Katow biết chắc chắn rằng, giờ đây, anh ta không còn tìm đâu cho ra Tchen nữa. Anh ta nói bằng giọng bình thản và mệt mỏi của những người thua cuộc. Tưởng Giới Thạch chỉ trở về vào ban đêm, và từ đây đến đó Tchen không thể liều lĩnh một hành động nào cả. Hemmelrich chỉ bằng ngón tay cái, phía bên trên vai anh, cái hướng mà từ đó có tiếng trẻ vọng sang.

- Và thế đấy. Thế đấy. Anh muốn tôi làm cái gì đây?

- Chờ đợi...

- Bởi vì thằng bé sẽ chết, phải không? Hãy nghe cho rõ hết nửa ngày, tôi ước mong như vậy. Và nếu cái chết trở đến, tôi sẽ ước mong thằng bé được sống, nó đừng nên chết dù bịnh hoạn, tật nguyền.

- Tôi biết...

- Cái gì? – Bị cướp lời, Hemmelrich hỏi. – Anh biết cái gì? Anh chưa có vợ mà.

- Tôi đã có vợ!

- Tôi muốn xem thử. Với dáng điệu của anh. Không dành cho chúng ta đây mấy trò lăng nhăng phất phơ ngoài phố ấy...

Anh ta nhận thấy Katow nghĩ đến người đàn bà đang căn bệnh cho đứa bé, trên ấy.

- Sự tận tụy, phải. Và tất cả những gì nàng có thể làm được. Phần còn lại, những gì nàng không có được, thì đúng là được giành cho người giàu. Khi tôi trông thấy người ta có vẻ yêu thương nhau, tôi muốn đấm vỡ mặt họ.

- Sự tận tụy, như vậy cũng đã quá nhiều... Điều cần thiết duy nhất chính là đừng nên chỉ có một mình.

Và chính vì vậy mà anh ở lại đây, phải không? Để giúp dỡ tôi?

- Phải.

- Vì thương hại?

- Không vì thương hại. Vì...

Nhưng Katow không tìm ra chữ. Và có lẽ chữ ấy không có. Anh ta cố giải thích một cách gián tiếp:

- Tôi có biết qua điều ấy, hay cũng gần như vậy. Và cả... cơn giận dữ của anh... người ta hiểu được mọi việc bằng cách nào khác hơn nhờ vào những kỷ niệm? Chính vì vậy mà anh không làm cho tôi “nổi sùng” anh.

Anh ta bước tới gần và nói, đầu rụt giữa đôi vai, bằng giọng nói nuốt mất vần, liếc mắt nhìn Hemmelrich; cả hai, như thế, đều cúi đầu trông như đang chuẩn bị một cuộc giao đấu ở giữa các đĩa hát. Nhưng Katow biết rằng anh ta khỏe hơn, mà không rõ ràng bằng cách nào. Có lẽ chính giọng nói, sự bình tĩnh, kể cả mối thân tình của anh đã gây ảnh hưởng chăng?

Một người bất cần mọi sự, nếu gặp phải thật sự lòng tận tụy, sự hy sinh, một cái gì đại loại như vậy, thì người ấy kể như là hỏng rồi.

- Thật không! Thế hắn sẽ làm gì?

- Việc bạo dâm, - Katow đáp, điềm nhiên nhìn Hemmelrich.

Tiếng dế. Những bước chân ngoài đường, chìm mất dần.

- Bạo dâm kèm theo các lễ vật, - anh ta lên tiếng trở lại, - thì hiếm lắm, kèm theo lời nói, càng hiếm hơn nữa. Nhưng nếu người vợ chấp nhận hoàn toàn, nếu nàng có đi đến cõi chết... Tôi có quen với một gã đã lấy đem đánh bạc số tiền người vợ đã dành dụm trong nhiều năm để vào an dưỡng viện. Vấn đề sinh tử. Gã đánh thua. (Trong những trường hợp như vậy bao giờ người ta cũng đánh thua). Đã trở về xơ xác, hoàn toàn bị bầm dập như anh hiện tại. Người vợ nhìn gã bước tới bên giường. Nàng hiểu ngay, anh cũng thấy. Và sau đó, gì nữa? Nàng cố an ủi gã...

- An ủi một người khác, - Hemmelrich chậm rãi nói, - dễ hơn là an ủi chính mình... Và, dột nhiên, ngước mắt nhìn lên.

- Gã ấy là anh, có phải không?

- Thôi đi!... – Katow đập nắm tay lên quầy. – “Nếu là tôi, tôi đã nói: tôi, và không nói ai khác”. Nhưng cơn giận của anh lắng xuống ngay sau đó. Tôi không có đi đến mức ấy và cũng không phải đi đến mức ấy... Nếu người ta không tin tưởng điều gì cả, nhất là bởi vì đã không tin tưởng một điều gì cả, người ta càng bắt buộc phải tin nơi những đức tính của tâm hồn khi bắt gặp chúng, tất nhiên. Và đó là những gì anh đang làm. Không có người vợ và thằng bé anh sẽ ra đi, tôi tin chắc như vậy. Không phải sao?

- Và vì người ta chỉ sống cho những đức tính của con tin, chúng sẽ làm cho người ta to phồng lên. Bởi vì bao giờ người ta cũng phải to phồng lên, chúng càng... Nhưng tất cả chuyện ấy đều là những chuyện nhảm nhí. Không cần phải tỏ ra hữu lý. Tôi khổ sở đã tống khứ Tchen ra khỏi cửa, và tôi không thể nào chịu đựng được việc giữ anh ta ở lại.

- Chỉ nên đòi hỏi nơi các người bạn những gì họ có thể làm. Tôi muốn có những người bạn chớ không những vị thánh. Không tin tưởng nơi các vị thánh...

- Có đúng là anh đã tình nguyện đi theo họ xuống các mỏ chì không?

- Tôi ở nơi trại, - Katow nói vẻ lúng túng – hầm mỏ và trại, cũng không khác gì nhau...

- Cũng không khác gì nhau à! Không đúng.

- Anh biết được gì?

- Không đúng? Và anh sẽ giữ Tchen lại.

- Tôi không có con...

- Hình như đói với tôi chuyện ấy sẽ ít... khó khăn hơn, ngay cả ý nghĩ người ta sẽ giết tôi nếu thằng bé không bị bệnh... Tôi, tôi thật ngu đần. Đúng là tôi ngu đần. Và có lẽ tôi cũng không là người lao động. Và sau đó? Tôi tự tạo ra một trở ngại bất ngờ để những gì là tự do trên đời này đến đái lên đó.

Anh ta lại hất cái mặt trẹt chỉ lên gác, vì đứa bé lại hét lên. Katow ngại không dám nói: “Cái chết sẽ giải thoát cho nó”. Kể từ lúc Hemmelrich bắt đầu nói, kỷ niệm về người vợ của anh chen lẫn giữa họ. Trở về từ Sibérie trong niềm tuyệt vọng, rã rời, việc theo học về y khoa tan vỡ, anh trở thành thợ nhà máy và tin chắc sẽ chết trước khi trông thấy một cuộc cách mạng, anh sống quãng đời còn lại bằng cách hành hạ một cô thợ nghèo hèn đã yêu anh. Nhưng nàng vừa kịp chấp nhận những nỗi đau đớn mà anh gieo cho nàng thì anh động lòng; anh chỉ còn sống cho riêng nàng, tiếp tục cách mạng vì thói quen, nhưng đã mang vào đó mối ám ảnh vì sự trìu mến vô bờ chôn giấu nơi trái tim của người đàn bà viển vông ngu xuẩn ấy; anh vuốt tóc nàng hàng giờ, và họ ngủ chung với nhau cả ngày. Nàng đã chết rồi, và từ ngày ấy... Chuyện ấy, dù vậy, cũng nằm lưng chừng giữ Hemmelrich và anh ta. Không hẳn thế!

Bằng lời nói, gần như không thể làm được gì cả; nhưng bên ngoài lời nói còn có những gì mà những cử chỉ, những cái nhìn, sự hiện diện duy nhất cũng đã diễn tả nên lời. Kinh nghiệm dạy cho anh biết rằng nỗi khổ đau tệ hại nhất nằm trong sự cô đơn đi kèm. Diễn tả nó một cách vụng về, hoặc dối trá, sẽ khiến cho Hemmelrich có một niềm hăm hở mới để tự khinh miệt lấy mình: anh ta đau khổ vì chính bản thân nhiều nhất. Katow buồn bã nhìn anh, mắt không chăm chú – kinh ngạc thêm lần nữa vì nhận thấy những cử chỉ biểu lộ cảm tình của người đàn ông mới ít ỏi và vụng về làm sao.

- Anh không cần phải hiểu mà không cần tôi nói gì cả, anh ta nói. Không có gì để nói.

- Hemmelrich giơ bàn tay lên, buông nó rơi xuống trở lại một cách nặng nề làm như anh ta không thể chọn lựa giữa nỗi thống khổ và sự phi lý của đời sống. nhưng anh ta vẫn đứng đối diện với Katow, sững sờ.

“Trong chốc lát, mình có thể đi tìm Tchen trở lại” – Katow thầm nghĩ.

6 giờ

“Tiền đã được giao ngày hôm qua, - Ferral nói với vị đại tá, lần này mặc Âu phục. – Chúng ta tới đâu rồi?”

Vị thống đốc quân sự đã gửi cho tướng Tưởng Giới Thạch một văn thơ dài để hỏi ông ta phải làm gì trong trường hợp có nổi loạn.

- Ông ta muốn được bảo vệ à?

Vị đại tá nhìn Ferral, chỉ đáp: “Đây là bản dịch”.

Ferral đọc bản văn.

- “Tôi cũng có lời phúc đáp” – vị đại tá nói. Ông chìa ra một tấm ảnh: bên trên chữ ký của Tưởng Giới Thạch, có hai chữ.

- Nghĩa gì?

- Xử bắn.

Ferral nhìn bản đồ Thượng Hải treo trên tường, với những dấu chấm đỏ rộng lớn chỉ các đám đông thợ thuyền và những người nghèo khó – cũng vẫn những người ấy... Ba ngàn vệ binh thuộc nghiệp đoàn, ông ta thầm nghĩ, có thể có ba trăm ngàn người đứng phía sau; nhưng họ có dám hành động không? Phía bên kia, Tưởng Giới Thạch và quân đội...

- Ông ta bắt đầu cho xử bắn các phần tử Cộng sản đầu não trước mỗi cuộc nổi loạn à? – Ferral hỏi.

Chắc chắn như vậy. Sẽ không có nổi loạn: các phần tử Cộng sản đều bị giải giới gần hết và Tưởng Giới Thạch có những đoàn quân của ông. Sư đoàn một hiện đang ở ngoài mặt trận: đó là mối nguy hiểm duy nhất.

- Cám ơn. Sẽ gặp lại.

Permi đến nhà Valérie. Một người phụ việc chờ đợi ông bên cạnh người tài xế, một con sáo trong cái lồng sơn vàng đặt trên đầu gối của hắn. Valérie nài nỉ Perral dành cho nàng tặng vật này. Ngay khi chiếc xe lăn bánh, ông ta lôi từ trong túi ra một bức thư và đọc. Những gì ông ta e ngại từ một tháng nay đã xảy ra: những khoản tín dụng Hoa Kỳ dành cho ông sắp sửa bị cắt. Những mối đặt hàng của Toàn quyền Đông Dương không đủ cho sinh hoạt của các nhà máy, được thành lập dành cho một thị trường cần được mở rộng mỗi tháng nhưng lại bị thu hẹp mỗi ngày: các cơ sở kỹ nghệ của Tổ hợp bị thất thu. Giá cổ phần, được giữ nguyên mức tại Paris do các ngân hàng của Ferra1 và các nhóm tài phiệt Pháp liên hệ và nhất là do sự lạm phát, kể từ ngày đổng franc được ổn định, đã không ngớt giảm sút. Nhưng các ngân hàng Tố hợp chỉ vững mạnh là nhờ nơi lợi tức của các đồn điền - phần chính yếu, nhờ nơi các công ty cao su.

Kế hoạch Stevenson[2] đã nâng giá cao su từ 16 lên 112 xu. Ferral, nhà sản xuất cao su tại Đông Dương, đã hưởng lợi nhờ sự tăng giá ấy mà không phải hạn chế sản xuất, vì công cuộc làm ăn của ông không thuộc người Anh. Vì vậy các ngân hàng Hoa Kỳ - kinh nghiệm đã dạy cho họ biết rằng kế hoạch ấy làm thiệt thòi đến mức nào cho Hoa Kỳ, quốc gia tiêu thụ quan trọng nhất - đã sẵn sàng mở các khoản tín dụng được bảo đảm bằng đồn điền. Nhưng việc sản xuất bản xứ tại Indonesia, mối đe dọa đối với các đồn điền Hoa Kỳ tại Philipin, tại Braxin, tại Libéria, đưa đến sự sụp đổ của thời giá cao su; các ngân hàng Hoa Kỳ vì vậy đã định chỉ các khoản tín dụng vì cùng những lý do mà họ đã chấp thuận các khoản tín dụng này. Perral bị thiệt hại vì sự phá sản tài chánh của nguyên liệu duy nhất nâng đỡ ông ta - ông ta hưởng các khoản tín dụng để đầu cơ, không phải căn cứ trên giá trị sản xuất mà ngay trên giá trị các đồn điền do ông ta làm chủ, - đồng thời vì sự ổn định của đồng franc làm sụt giá tất cả các chứng khoán của ông (mà một số thuộc về các ngân hàng của ông đã quyết định kiểm soát thị trường) và vì sự huỷ bỏ các khoản tin dụng của Hoa Kỳ. Và Ông ta không quên rằng, ngay khi sự huỷ bỏ này được công bố, tất cả các gian thương tại Paris và New York sẽ đầu cơ các chứng khoán của ông - chắc chắn như vậy; ông ta chỉ có thể được cứu vì những lý đo tinh thần; tức là, bởi duy có chính phủ Pháp.

Sự phá sản cận kề đã mang lại cho các nhóm tài phiệt một ý thức mãnh liệt về quốc gia mà họ tuỳ thuộc.

Ðã quen mắt với việc “vét sạch quốc khố”, các chính phủ không muốn nhìn thấy quốc khố bị tước mất cả hy vọng: một quốc khổ nghĩ rằng sẽ tìm lại được số tiền mất mát của nó, một ngày nào đó bằng niềm hy vọng dai dẳng của con bạc, đó là một quốc khố được an ủi một nửa. Vĩ vậy nước Pháp khó mà bỏ rơi Tổ hợp, sau Ngân hàng kỹ nghệ Trung Hoa. Nhưng để Perral có thể yêu cẩu sự trợ giúp của nước Pháp, cần phải làm sao cho sự trợ giúp này không tỏ ra vô vọng, trước hết cẩn phải làm sao cho Cộng sản bị nghiền nát tại Trung Hoa. Tưởng Giới Thạch làm chủ các tỉnh lỵ có nghĩa là cuộc xây đắp Trung Hoa được thành hình, số tiền dự trù cho vay là ba triệu franc tiền vàng, tức là nhiều triệu franc tiền giấy. Thật ra, không phải chỉ có một mình ông ta được yêu cẩu cung cấp vật liệu, cũng như hiện nay không chỉ có một mình ông ta bênh vực Tưởng Giới Thạch; những ông ta sẽ có mặt trong cuộc. Ngoài ra, các ngân hàng Hoa Kỳ cũng e ngại sự thắng lợi của Cộng sản Trung Hoa; Tưởng Giới Thạch bị lật để sẽ làm biến đổi chính sách của họ. Là người Pháp, Ferral hưởng được những đặc quyền tại Trung Hoa; - không có vấn để Tổ hợp không tham gia vào việc xây đắp thiết lộ... Ðể cầm cự, ông ta quyết định kêu gọi chính phủ trợ giúp, mà họ muốn như vậy hơn là một sự phá sản tài chánh mới; nếu các khoản tín dụng của ông do Hoa Kỳ thì các tổn khoản và cổ phần của ông thuộc ngân hàng Pháp. Các lá bài của ông không thể nào đến đánh thẳng cả vào một giai đoạn khủng hoảng dữ dội của Trung Hoa; nhưng cũng như kế hoạch Stevenson trước kia đã bảo đảm cho sinh mạng của Tổ hợp, sự thắng lợi của Quốc dân đảng giờ đây cũng phải bảo đảm cho sinh mạng này. Sự ổn định của franc làm hại cho ông, sự sụp đổ của Cộng sản sẽ thuận lợi cho ông...

Phải chăng cả dời ông, ông chỉ chờ đợi cơ hội để lợi dụng động lực của những lần bộc phát của nền kinh tế thế giới, bắt đầu bằng lễ vật và kết thúc bằng những cú cụng đầu vào bụng? Ðêm nay, dù trong sự kháng cự, chiến thắng hay chiến bại, ông ta vẫn cảm thấy lệ thuộc vào tất cả những mãnh lực của thế giới loài người. Nhưng có người đàn bà ấy mà ông ta không tuỳ thuộc, lát nữa đây sẽ tuỳ thuộc ông: sự thừa nhận phục tùng của khuôn mặt say đắm ấy, giống như một bàn tay áp chặt vào đôi mắt ông, sẽ che lấp những ràng buộc rối bời trên đó cuộc đời ông được an bài. Ông đã gặp lại nàng tại một vài phòng triển lãm (nàng chỉ mới từ Kyoto về từ ba ngày nay), mỗi lần ông ta đều chú ý và tức giận vì sự làm dáng hỗn hào một cách dịu dàng mà nàng dùng để kích thích ông; nàng ưng thuận tiếp ông đêm nay. Trong nhu cầu vô hạn được trọng vọng của ông - người ta ngưỡng mộ dễ dàng hơn, hoàn toàn hơn đối với người khác phái - nếu sự ngưỡng mộ trở thành không chắc chắn, ông ta sẽ kêu gọi đến nhục dục để khêu gợi sự ngưỡng mộ ấy. Và những gì nơi nàng cưỡng lại ông càng kích thích thêm nhục cảm của ông. Tất cả điều ấy mơ hồ vì ông cần phải hình dung mình đang ở vào địa vị của nàng ngay khi ông ta bắt đầu chạm đến thân xác của hàng để rút ra cái cảm giác khốc liệt của sự chiếm hữu. Nhưng một thân xác bị chinh phục đối với ông để có nhiều thú vị hơn là một thân xác dâng hiến - nhiều thú vị hơn bất cứ thân xác nào khác.

Ông ta rời chiếc xe và đi vào nhà hàng Astor, theo sau là người phụ việc xách nơi tay cái lồng sáo của ông một cách trang trọng. Trên mặt đất này có hàng triệu bóng người: những người đàn bà mà tình yêu của họ không làm ông quan tâm - và một địch thủ sống động: người đàn bà mà ông muốn được nàng yêu. Sự kiêu hãnh của ông ta kêu gọi một sự kiêu hành thù nghịch giống như một đấu thủ hăng say kêu gọi một đấu thủ khác để tranh hùng, chớ không kêu gọi sự yên lành ít ra cục diện chiều nay cũng có nhiều hứa hẹn, vì trước tiên họ sẽ ăn nằm với nhau.

Ngay nơi đại đình một người làm công người Âu đã tiến về phía ông.

- Bà Serge có nhắn lời lại ông Ferral tối nay bà không về, và ông ấy sẽ giải thích dùm.

Ferral sững sờ, nhìn “ông ấy”, ngồi xoay lưng lại, bên cạnh tấm chắn gió. Người đàn ông quay lại: vị giám đốc của một trong số các ngân hàng Anh, đã tán tỉnh Valérie từ một tháng nay. Bên cạnh, phía sau một tấm chắn gió, một người phụ việc cầm trên tay một cái lồng sáo, trịnh trọng không kém gì người phụ việc của Ferral.

Người Anh đứng lên, bỡ ngỡ, siết tay Ferral vừa nói:

- Ông hãy giải thích dùm tôi, ông...

Hai người đến hiểu rằng mình đã bị phỉnh gạt. Họ nhìn nhau, giữa những nụ cười che giấu của hai người phụ việc và sự trang nghiêm quá mức để còn vẻ tự nhiên của những người làm công da trắng.

Đó là giờ dùng cốc tai và giới thượng lưu Thượng Hải đến có mặt tại đây Ferral cảm thấy mình trông lố bịch nhất: người Anh gần như là một thanh niên.

Một niềm khinh miệt cũng khốc liệt không kém gì cơn tức giận đang bừng lên trong ông, đã tức thời bù trừ sự thua kém đã áp đặt lên người ông. Ông ta cảm thấy bị bao phủ bởi sự ngu dại đích thực của con người, sự ngu dại đang dán chặt đè nặng lên đôi vai: những người đang nhìn ông là những đứa ngu si đáng ghét nhất trên cõi đời. Thế nhưng, không biết họ biết được những gì, ông ta phỏng đoán là họ đã tận tưởng mọi sự và, trước vẻ chế giễu của họ, ông ta cảm thấy bị đè bẹp bởi một sức tê liệt căng ứ thù hận.

- Ðể dự một cuộc thi à ? Người phụ việc của ông hỏi người kia.

- Không biết.

- Con tôi là con trống.

- Con tôi là con mái.

- Chắc là dành để dự thi.

Người Anh nghiêng mình trước Ferral, bước về phía người gác cửa.

Người này trao cho anh ta một bức thư, anh ta đọc nó, gọi người phụ việc, lôi ra từ bóp một cái thiệp, gắn nó vào cái lồng, nói với người giữ cửa: “Dành tặng bà Serge” và bước ra.

Perral gắng gượng suy ngẫm để tự bênh vực cho mình. Nàng đã chạm đến cái điểm yếu nhất của ông. Như thể nàng đã móc mắt ông giữa giấc ngủ: nàng phủ nhận ông.

Những gì ông ta có thể suy nghĩ, hành động, ước muốn đều không có thật. Khung cảnh lố bịch này thì có thật, không có gì làm cho nó không có thật. Chỉ có ông là hiện hữu trong một thế giới ma quái, và, quả thật, chính ông là người bị cười chế giễu. Và, hơn nữa - vì ông không nghĩ đến kết quả, mà lại nghĩ đến những lần thất bại tiếp nối, như thể cơn giận dữ đã khiến ông trở nên người thích chịu khổ hình - hơn nữa, ông sẽ không được ăn nằm với nàng. Càng lúc càng khao trút sự thù hận lên tấm thân cắc cớ ấy, ông vẫn đứng đó một mình, đối diện với những kẻ đần độn kia và người phụ việc thờ ơ của ông, đang cầm cái lồng trên tay. Con sáo ấy là một sự sỉ nhục thường trực. Nhưng trước hết, ông ta cần phải nán lại. Ông ta gọi một cốc tai và đốt một điếu thuốc. Kế ngồi im lại, chăm chú bẻ gãy diêm quẹt giữa những ngón tay đút trong túi áo ngắn của ông. Cái nhìn của ông bắt gặp một đôi nam nữ. Người đàn ông có vẻ phong lưu do sự hòa hợp giữa mái tóc màu xám và một khuôn mặt trẻ trung; người đàn bà, trông hiền lành, có phần loè loẹt, nhìn người đàn ông với vẻ tri ân được làm bằng sự dịu đàng hoặc bằng nhục cảm. “Nàng ta yêu người ấy”, Ferral thầm nghĩ với niềm ao ước. Và chắc chắn đó là một kẻ đần độn vớ vẩn nào đó, không chừng lệ thuộc vào một trong số các vụ làm ăn của ông. Ông ta cho gọi người gác cửa.

- Anh có bức thư nào dành cho tôi không. Đưa cho tôi. Người giữ cửa, ngạc nhiên nhưng vẫn giữ vẻ nghiêm chính, trao bức thư.

Anh có biết, cưng ạ, những người đàn bà Ba Tư, khi nào nổi cơn tức giận sẽ đánh đập người chồng bằng đôi giày có đóng đinh của họ? Họ vô trách nhiệm. Và với lại, sau đó họ quay trở về với đời sống thường lệ, đời sống mà việc khóc lóc với một người đàn ông không có gì cám dỗ, những sự ăn nằm với họ sẽ khiến mình buông thả vào đó - anh có tin không? - đời sống mà người ta “có được” những người đàn bà. Em không là người đàn bà mà người ta có một, một thân xác ngu độn bên cạnh nó anh tìm thấy sự khoái lạc của mình bằng cách lừa dối nhưng với những người trẻ và người bệnh. Anh biết rất nhiều chuyện, cưng ạ, nhưng có thể anh sẽ chết đi mà không biết được rằng một người đàn bà cũng là một con người. Em vẫn luôn gặp những người đàn ông đã thấy nơi em sự dễ thương duyên dáng (có lẽ bao giờ em cũng chỉ gặp được những người đàn ông ấy, nhưng mặc kệ, anh không thể hiểu em bất cần đến mức nào!) những người này đã khổ nhọc đáng thương để phụng sự những ham mê của em, nhưng sau đó họ lại chia sẻ với bạn bè họ khi liên quan đến những vấn đề con người (ngoại trừ trường hợp họ muốn được an ủi, tất nhiên). Những phóng túng của em, em cần như vậy không những để làm cho anh hài lòng, mà còn làm cho anh phải nghe khi em nói; sự ham mê dễ thương của em, hãy biết rõ giá trị của nó; nó giống như sự âu yếm của anh. Nếu sự đau khổ có thể nảy sinh từ ý muốn chiếm đoạt của anh nhằm vào em, anh cũng không nhận ra nó...

Em đã gặp gỡ khá nhiều đàn ông để biết rõ phải nghĩ gì về những mối tình qua đường; không có điều gì là không quan trọng đối với một người đàn ông ngay khi họ ném sự kiêu hãnh vào đó, và khoái lạc là một chữ giúp cho họ thỏa thích nhanh chóng và thông thường hơn. Em từ chối làm một thân xác cũng bằng như anh một tập ngân phiếu. Anh hành động đối với em giống như những con điếm đã đối với anh. “Cứ nói, nhưng hãy trả tiền...” Em cũng là thân xác mà anh muốn rằng em chỉ có vậy mà thôi. Được, cũng được...

Em vẫn luôn luôn thấy khó chống lại ý nghĩ mà người ta có về em. Sự hiện diện của anh đem em gần lại với thân xác của mình bằng sự phẫn nộ, giống như mùa xuân đem em gần lại với nó bằng niềm vui. Nói về mùa xuân, anh hãy vui chơi thỏa thích với những con chim. Và dù sao, lần tới anh hãy để mấy cái bật đèn yên.

Ông ta tự nhủ mình đã xây đắp những con đường, biến đổi một xứ sở, lôi ra từ những ngôi nhà lá tại đông ruộng hàng ngàn người nông dân chen chúc trong những cái lều lợp tôn chung quanh các nhà máy của ông – giống như những phần tử phong kiến, những ủy viên tại thuộc địa đế quốc; trong cái lồng, con sáo có vẻ như cười cợt. Thế lực Ferral, sự minh mẫn của ông, mức liều lĩnh đã biến Đông Dương và bức thư từ Mỹ gởi sang khiến ông cảm thấy nhận được sự đè bẹp của những dòng thư, tất cả những điều vừa kể đưa tới con chim lố bịch này không khác gì toàn cả vũ trụ và bức thư rõ ràng tỏ ra bất cần ông. “Ngần ấy mức quan trọng dành cho một người đàn bà”. Đó không phải là người đàn bà. Nàng chỉ là một dải bịt mắt đã bị vứt xuống: ông ta tận dụng tất cả sức lực để phá vỡ các giới hạn ý chí của nàng. Sự kích thích nhục dục trở nên hoài công nơi ông đã nuôi dưỡng cơn tức giận, ném ông ta vào sự thôi miên ngạc thở nơi mà sự lố bịch kêu gọi đến máu. Người ta chỉ phục thù nhanh chóng trên những thân xác. Clappique có kể cho ông nghe câu chuyện dã man của một thủ lĩnh người Apganistan mà người vợ đã bị cưỡng hiếp bởi vị thủ lãnh gần bên, trả về với bức thư: “Ta trả lại vợ ngươi. Ả không quá hay ho như người ta đồn”, sau khi bắt được kẻ cưỡng hiếp vợ mình, vị thủ lãnh đã trói hắn lại trước mắt người vợ trần truồng để móc mắt hắn, vừa nói: “Ngươi đã nhìn thấy và khinh miệt vợ ta, nhưng ngươi có thể tin chắc sẽ không bao giờ còn nhìn thấy nàng được nữa”. Ông ta tưởng tượng đang ở trong phòng của Valérie, nàng bị trói trên giường, hét lên đến mức trở thành những tiếng nức nở rất gần gũi với những tiếng kêu khoái lạc, nàng bị buộc chặt, oằn oại vì đau đớn, vì nàng đã không tìm kiếm cơn khoái lạc ở bên dưới một sự đau đớn khác... Người gác cửa chờ đợi. “Cần phải tỏ ra trơ trơ như tên ngu ngốc ấy, mà dù vậy mình vẫn muốn tát cho hắn hai cái tát.” Tên ngu ngốc ấy không hề hé răng cười. Chắc hắn dành để sau này, Ferral nói: “Tôi sẽ trở lại trong giây lát” không trả tiền cốc tai, để nón lại và bước ra ngoài.

- Chạy đến nơi nào có bán nhiều chim nhất, ông với người tài xế. Cửa hàng ở sát một bên. Ðã đóng cửa.

- Tại thành phố Trung Hoa, người tài xế nói, có con đường dành cho những người bán chim.

- Đến đó.

Trong khi chiếc xe hơi chạy tới, trong đầu óc của Perral lảng vảng lời tự thú, đọc thấy trong quyển sách y học nào đó, của một người đàn bà cuống cuồng vì thèm được đánh bằng roi, có thư hẹn với một người lạ mặt và nhận ra với sự kinh hãi rằng nàng muốn trốn chạy ngay vào lúc mà, nằm trên giường khách sạn, người đàn ông với cây roi cằm tay đã làm đôi cánh tay nàng hoàn toàn tê liệt bên dưới lớp váy đã vén lên. Khuôn mặt vô hình, nhưng là của Valérie. Dừng lại nơi nhà chứa Trung Hoa nằm hiện ra trước tiên ư? Không, không có một xác thịt nào sẽ giải thoát ông ta khỏi mối kiêu hãnh về tình dục bĩ bạc đang tàn phá ông.

Chiếc xe hơi phải dừng lại trước các hàng rào kẽm gai. Phía đối diện, thành phố Trung Hoa rất tối tăm, không lấy gì làm an ninh. Càng hay, Ferral rời khỏi chiếc xe chuyển khẩu súng lục vào túi áo ngắn, hy vọng có một cuộc tấn công nào đó; người ta giết những gì có thể giết.

Con đường dành cho những người bán chim chìm trong giấc ngủ; một cách điềm nhiên, người phụ việc gõ lên tấm cửa mặt hàng, vừa lớn tiếng “Có khách hàng”; những người bán e ngại các binh sĩ. Năm phút sau người ta mở cửa; trong bóng tối màu đỏ hoe rực rỡ của các tiệm buôn Trung Hoa, chung quanh một ngọn đèn, một vài cái nhảy nhẹ nhàng của những con mèo hay khỉ, kế đó những tiếng đập cánh báo hiện sự thức giấc của các con vật. Trong bóng tối có những đốm kéo dài ra, một màu hường xám: những con két được buộc vào các thanh gỗ nhỏ.

- Giá bao nhiêu trọn cả số chim này ?

- Chim thôi à? Tám trăm đôla.

Ðây là một tiệm bán chim nhỏ, không có chim quí. Ferral lấy ra tập ngân phiếu, ngần ngừ; người bán chim muốn trả hàng tiền mặt. Người phụ việc hiểu ý “Ðây là ông Ferral, hắn nói, xe đậu ngoài kia”. Người bán chim bước ra, trông thấy những ngọn đèn xe hơi, bị những dây kẽm gai quấn vào.

“Ðược rồi”.

Sự tin cậy ấy bằng chứng cho uy quyền của ông, khiến Ferral thêm bực tức; thế lực của ông, hiển nhiên đến mức người bán chim cũng biết đến tên ông, tỏ ra phi lý vì ông ta không thể kêu gọi đến nó. Thế nhưng sự kiêu hãnh, được trợ lực bằng hành động mà ông ta đã dấn thân và bằng khí trời lạnh về đêm, trở lại hỗ trợ cho ông: cơn tức giận và những hình ảnh bạo dâm tan rã thành một nôi ngao ngán, mặc dầu ông ta biết rằng ông không ngừng bị ám ảnh vì chúng.

- Tôi cũng có một con chuột túi - người bán chim nói.

Ferral nhún vai. Nhưng một đứa nhỏ, vừa nghe thấy đã mang đến chuột túi trên cánh tay. Ðó là một con vật hình thù rất nhỏ đầy lông lá, nhìn Ferral bằng đôi mắt kinh hãi của con hươu cái.

- Được lắm.

Một ngân phiếu khác.

Ferral chậm chạp quay trở ra xe. Trước hết cần phải cốt sao cho Valérie, nếu có kể lại chuyện những cái lồng - nàng sẽ không quên việc đó đâu - sẽ phải kể lại phần cuối của câu chuyện để khỏi lố bịch. Người bán chim, đứa nhỏ, người phụ việc mang ra những cái lồng nhỏ, xếp đặt chúng lên xe, trở lại tìm những cái lồng khác; cuối cùng, con chuột túi và những con két, được mang ra trong cái lồng tròn nhỏ. Bên kia thành phố Trung Hoa, một vài tiếng súng nổ. Hay: người ta càng đánh nhau, chuyện này càng đáng kể. Chiếc xe chạy đi, dưới đôi mắt ngạc nhiên của những người lính gác.

Tại Astor, Ferral cho gọi vị giám đốc.

- Hãy vui lòng theo tôi lên căn phòng của bà Serge. Bà ta vắng mặt và tôi muốn dành cho bà ta một sự ngạc nhiên.

Vị giám đốc che giấu vẻ ngạc nhiên và càng nhiều hơn nữa về phản đối của mình: Astor lệ thuộc nơi Tổ hợp. Chỉ cần sự hiện diện của một người da trắng, người mà Ferral đang trò chuyện, cũng đủ giúp ông thoát ra khỏi vũ trụ đã đánh mất thể diện của ông, giúp ông trở lại như “bao nhiêu người khác”; người Trung Hoa bán chim và bóng đêm đã để mặc ông trong mối ám ảnh của ông: hiện tại ông ta chưa hoàn toàn được giải thoát, nhưng ít ra mối ám ảnh cũng không còn mình nó chế ngự ông.

Năm phút sau, ông ta sắp xếp các chiếc lồng trong phòng. Mọi vật quí giá đều được xếp vào tủ đứng, một cái tủ không khoá. Ông ta nhặt lên khỏi giường, để ném vào trong tủ, một bộ để ngủ được dở ra đó, nhưng vừa khi chạm đến lớp tơ ấm áp ông ta cảm thấy như sự ấm áp ấy, xuyên qua cánh tay của ông, truyền sang khắp thân thể và lớp tơ mà ông đang siết chặt ấy như phủ trọn lấy thân người ông: những cái áo dài, áo ngủ treo nơi tủ hé, giữ lại chúng một cái gì có thể gợi dục hơn chính thân xác của Valérie. Ông ta toan xé các bộ đồ còn đầy ắp sự hiện diện ấy. Nếu có thể mang đi bộ áo ngủ, ông ta đã mang nó đi. Cuối cùng ông ta vứt nó vào cái tủ, người phụ việc khép cửa lại. Ngay vào lúc bộ đồ ngủ rời khỏi tay, câu Chuyện hoang đường về Hercule[3] và Omphale[4] đột ngột xâm chiếm lấy tư tưởng của ông

- Hercule mặc y phục đàn bà bằng loại vải có thể nhàu nát và ấm áp như loại vải này, bị nhục mạ và thoả mãn vì mối nhục ấy. Một cách hoài công ông ta gợi lên những khung cảnh bạo dâm ban này đã áp chế ông: người đàn ông bị đánh đập bởi Omphale và Déjanire đè nặng lên trọn vẹn ý nghĩ của ông nhận chìm nó vào một lạc thú nhục nhã. Một tiếng chân bước gần lại. Ông ta chạm tay vào khẩu súng lục cất trong túi. Tiếng chân bước nghe nhỏ dần bên ngoài cửa ra vào, bàn tay của Perral thay đổi túi và rút ra cái khăn tay một cách nóng nảy. Ông ta cho thả những con két ra, nhưng chúng sợ hãi trốn vào các góc phòng và những tấm màn. Con chuột túi nhảy lên giường và ở luôn trên đó. Ferral tắt ngọn đèn chính, chỉ chong có ngọn đèn ngủ: màu hường, màu trắng, với những cái đập rực rỡ của những đôi cánh con và trau chuốt giống như cánh chim phượng hoàng nơi huy hiệu của Công ty ấn Độ, những con két bắt đầu bay, trong một tiếng vỗ cánh vụng về và e ngại.

Những cái hộp nhốt đầy chim nhỏ đang động đậy, nằm vứt vãi trên mọi thứ đồ đạc, dưới đất, trên lò sưởi, khiến ông ta khó chịu. Ông ta tìm hiểu xem đã khó chịu vì đâu, nhưng không đoán ra được. Ði ra. Ði vào. Ông ta liền nhận ra ngay: căn phòng có vẻ như đã bị tàn phá. Đêm nay ông ta có sẽ thoát khỏi tình trạng ngu độn không ? Trái với ý muốn, ông ta đã để lại ở đây hình ảnh rực rỡ của cơn giận dữ nơi ông.

- Mở cửa lồng - ông ta nói với người phụ việc.

- Căn phòng sẽ trở nên dơ dáy, thưa ông Ferral - vị giám đốc nói.

- Bà Serge sẽ dọn đẹp. Ông nhớ gởi cho tôi bản tính tiền.

- Có cần hoa không, thưa ông Ferral ?

- Chỉ loài chim mà thôi. Và không một người nào được vô đây, kể cả những người giúp việc.

Cửa sổ được che bằng một tấm lưới bằng kim khí để ngăn chặn muỗi. Các con chim sẽ không bay thoát ra ngoài. Vị giám đốc mở của sổ bằng kiếng để “căn phòng không ngửi thấy mùi súc vật”. Giờ đây, bên trên những đồ đạc và những tấm màn, nơi bốn góc trần nhà, những con chim hải đảo bay chập chững, trông lờ mờ trong màn ánh sáng yếu ớt giống như những con chim trên các bức họa Trung Hoa. Ông ta đã tặng Valérie do lòng oán hận món tặng vật đẹp đẽ nhất của ông... Ông ta tắt đèn, thắp lên lại. Ông ta làm như vậy với cái bật đèn ở đầu giường. Ông nhớ lại đêm cuối cùng trải qua tại nhà ông cùng Valérie. Ông ta toan bứt đi cái bật đèn để không bao giờ nàng có thể dùng đến, - với bất cứ người nào. Nhưng ông ta không muốn để lại đây một dấu vết giận dữ nào cả.

- Hãy đi lấy các chiếc lồng trống, ông ta nói với người phụ việc. Hãy thiêu huỷ chúng.

- Nếu bà Serge hỏi xem ai đã gởi chim đến - vị giám đốc nhìn Ferral với vẻ trầm trồ vừa hỏi, - có nên nói với bà không ?

- Bà ta sẽ không hỏi đâu. Bà sẽ biết. - Ông ta bước ra.

Ông cần phải ăn nằm với một người đàn bà đêm nay. Thế nhưng, ông ta không muốn đi ngay đến một tiệm ăn người Trung Hoa. Ðược yên tâm rằng có nhiều thân xác đang sẵn sàng để ông ta sử dụng đối với ông như vậy cũng đủ rồi - tạm thời.

Thường thường, mỗi lần bị một cơn ác mộng đột ngột đánh thức đậy, ông ta cảm thấy bị xâm chiếm bởi sự thèm muốn được ngủ lại mặc dù cơn ác mộng trải qua, và, cùng lúc, bởi ý muốn thoát khỏi nó bằng cách thức giấc hẳn; giấc ngủ, chính là cơn ác mộng, nhưng đó là ông; sự thức giấc là niềm yên ổn, nhưng nó là thế giới chung quanh. Tình dục, đêm nay, là cơn ác mộng. Cuối cùng ông ta quyết định không ngủ, và cho lái xe đến câu lạc bộ Pháp, trò chuyện, tái lập những mối liên hệ của một cuộc đàm đạo, cũng là sự tỉnh ngủ bảo đảm nhất.

Quán rượu chật nứt: thời buổi nhiễu nhương. Sát gần bên cửa hé mở, cái áo choàng ngắn bằng len màu xám nâu trên vai, ông Gisors ngồi một mình và gần như lẻ loi, trước một cốc tai nhẹ; Kyo có điện thoại cho biết mọi sự đều tốt đẹp và ông đến quán rượu này để dò nghe những tin đồn đại trong ngày, thường khi vô lý nhưng đôi khi cũng có ý nghĩa: hôm nay những tin đồn đã không được như vậy. Perral tiến về phía ông giữa những tiếng chào. Ông ta biết rõ tính cách những bài giảng của ông Gisors nhưng không lấy đó làm điều quan trọng; và ông ta không biết rằng Kyo hiện đang có mặt tại Thượng Hải. Ông ta xem là hạ sách việc dò hỏi nơi Martial những nhân vật này nọ, và vai trò của Kyo không có một tính cách công chúng nào cả.

Tất cả những kẻ ngu xuẩn kia đang nhìn ông đều thoáng một vẻ bài xích, ngỡ rằng ông liên hệ với ông Gisors là do thuốc phiện. Sai lầm. Perral giả vờ hút - một hai điếu, bao giờ cũng ít hơn mức cần thiết để cảm thấy tác động của thuốc phiện - tại vì ông tìm thấy nơi không khí tiệm hút, nơi ông dọc tẩu chuyển từ miệng người này sang người khác, một phương cách tác động lên người đàn bà. Vốn ghê tởm sự tán tỉnh cần phải có, ghê tởm sự trao đổi ở đó ông ta trả cho người đàn bà những gì người ấy đã đành cho ông trong cuộc khoái lạc ông ta lao vào tất cả những gì khiến ông khỏi phải như vậy.

Ðó là do một sở thích phức tạp đã một đôi lần thúc đẩy ông đến ngả lưng lên tấm phản của ông Gisors, dạo sau này, tại Bắc Kinh. Thích thú vì tai tiếng rùm beng, trước hết. Thứ đến, ông ta không muốn chỉ là vị chủ tịch của Tổ hợp mà thôi, ông ta muốn phân biệt với hoạt động của ông, - một phương cách để tự cho là vượt lên trên hoạt động ấy. Sở thích gần như hung hãn của ông về nghệ thuật, tư tưởng, về mớ hào nhoáng trí thức mà ông gọi là sự minh mẫn, là một cách tự vệ: Ferral không xuất thân từ các “gia đình” làm chủ những cơ sở tín dụng lớn lao, cũng không từ Tổ hợp các quỹ tiền tệ, hay từ Sở Thanh tra Tài chính. Triều đại Ferra1 quá gắn liền với lịch sử nền Cộng Hòa nên người ta có thể xem ông như là một kẻ hoạt đầu; nhưng ông vẫn không đánh mất cốt cách tài tử, dù uy quyền của ông có như thế nào. Quá quỉ quyệt để lấp bằng cái hố bao quanh ông, ông làm cho nó rộng thêm. Mức uyên bác của ông Gisors, sự thông minh bao giờ cũng sẵn giúp ích cho người đối thoại, thái độ xem thường các qui ước, những “quan điểm” gần như bao giờ cũng độc đáo của ông, mà Ferral không quên lấy làm của mình sau khi chia tay ông, đã khiến hai người gần nhau hơn tất cả những gì còn lại đã chia cách họ; với Perral, ông Ferral chỉ nói đến chính trị trên bình diện triết học. Ferral nói ông cần sự thông minh và một khi sự thông minh đó không chạm đến ông, thì kể như ông nói thật.

Ông ta nhìn quanh: ngay vào lúc ông ta ngồi xuống, gần như mọi cặp mắt đều quay nhìn nơi khác. Đêm nay, ông ta sẵn sàng ăn nằm với ả đầu bếp của ông, cốt để cho đám đông ấy phát khiếp lên.

Những kẻ ngu xuẩn ấy sẽ phê phán hành động của ông, khiến ông càng thêm tức giận; càng ít trông thấy họ càng dễ chịu hơn; ông đề nghị với ông Gisors lên dùng rượu nơi sân thượng, phía trước vườn hoa. Mặc dù khí trời mát mẻ, những người phụ việc vẫn mang một vài cái bản đặt ở bên ngoài.

- “Ông có cho rằng người ta có thể hiểu được – hiểu được một người không ?” - ông ta hỏi. Hai người ngồi bên cạnh một ngọn đèn nhỏ mà ánh sáng tỏa mất vào bóng đêm mỗi lúc một đầy sương mù.

Ông Gisors nhìn Ferral. “Ông ta có thể không mấy sành về tâm lý mặc dù đã cưỡng chế được người khác theo ý muốn của mình”, ông Gisors thầm nghĩ.

- Một người đàn bà ? - ông hỏi.

- Bất cứ.

- Tư tưởng đành để làm sáng tỏ một người đàn bà có một cái gì thuộc về nhục dục... Muốn tìm hiểu người đàn bà, phải không, bao giờ đó cũng là một cách để chiếm hữu hoặc trả thù họ...

Một cô gái giang hồ, ngồi nơi bàn bên cạnh, nói với một có gái khác! "Người ta không dễ phỉnh được tôi dễ đến mức ấy. Tôi nói cho cô biết: đó là một người đàn bà ganh tị với con chó của tôi”.

- Tôi cho rằng - ông Gisors lên tiếng trở lại - sự cầu viện đến tinh thần là cốt để bù vào điều này: sự hiểu biết về một người đàn bà là một tình cảm tiêu cực; tình cảm tích cực, cái thực tế chính là nỗi lo âu bao giờ cũng cảm thấy xa lạ với người mình yêu.

- Có bao giờ người ta yêu không ?

- Thời gian đôi khi làm biến mất mối lo âu ấy, chỉ có thời gian. Người ta không bao giờ hiểu được một người, nhưng đôi khi người ta không còn cảm thấy đã từng biết đến người ấy (mình nghĩ đến con trai của mình phải không, và đồng thời đến... một người con trai khác). Tìm hiểu bằng trí thông minh, đó là cố gắng một cách vô ích để không phải đếm xỉa đến thời gian...

- Vai trò của trí thông minh không phải để bỏ qua sự vật.

Ông Gisors nhìn Ferral:

- Ông nghĩ thế nào về: trí thông minh ?

- Một cách tổng quát à ?

- Phải.

Ferral nghỉ ngợi.

- Sự sở hữu các phương tiện để cưỡng bức sự vật và con người.

Ông ta thoáng cười. Mỗi lần ông ta đặt câu hỏi ấy, người đối thoại với ông ta dù là loại người nào, cũng đều trả lời bằng cái chân dung mà họ ước muốn hoặc bằng hình ảnh họ tự tạo nên.

Nhưng cái nhìn của Ferral đột nhiên trở thành khốc liệt hơn.

- Ông có biết hình phạt nào dành cho người đàn bà đã lăng nhục người chồng, tại xứ này, dưới tác động các triều hoàng đế đầu tiên không ? - Ông ta hỏi.

- Thật ra có rất nhiều hình phạt. Hình phạt quan trọng nhất hình như cột họ trên chiếc bè, bàn tay và cổ tay của họ bị chặt đứt, mắc bị móc tròng, hình như vậy, và thả họ...

Vừa hỏi, ông Gisors vừa để ý đến vẻ chăm chú mỗi lúc một gia tăng và, có lẽ sự thỏa mãn mà Ferral đã để tai vào câu chuyện.

- ... thả họ xuôi các dòng sông bất tận cho đến lúc họ chết vì đói hoặc vì kiệt sức, người tình nhân của họ bị cột bên cạnh trên cùng chiếc bè...

- Tình nhân của họ à ?

Làm thế nào một chuyện để giải khuây như vậy có thể hòa hợp được với vẻ chăm chú ấy, cái nhìn ấy! Ông Gisors không thể nào đoán được rằng, trong đầu óc Ferral không có hình ảnh người tình nhân, nhưng ông đã cất tiếng trở lại.

- Điều quái gở nhất, ông ta nói, là những luật lệ tàn bạo ấy, cho đến thế kỷ thứ tư, hình như được soạn thảo bởi những bậc hiền sĩ, nhân đạo và lương thiện, theo những gì chúng tôi biết được về đời tư của các vị ấy...

Ông Gisors nhìn vào khuôn mặt nhọn với đôi mắt nhắm lại ấy, được soi sáng phần dưới bằng ngọn đèn nhỏ, một ánh đèn hắt lên các chòm râu. Những tiếng súng nổ phía xa. Bao nhiêu đời sống được định đoạt trong làn sương mù buổi tối ? Ông nhìn vào khuôn mặt căng thẳng khốc liệt vì một vụ nhục nào đó dâng lên từ nơi tận cùng của tinh thần và thể xác, nhưng đã chống lại vụ nhục này bằng sức mạnh tầm thường ấy, tức là lòng thù hận của con người; lòng thù hận giữa những người khác phái nằm trên vụ nhục ấy như thể, từ nơi dòng máu đang tiếp tục chảy trên mặt đất vốn đã tràn đầy những máu, những mối thù hận lâu đời nhất phải được phát sinh.

Những tiếng súng khác, lần này nghe rất gần, làm rung rinh mấy cái ly trên mặt bàn.

Ông Gisors đã quen với những tiếng súng nổ ấy mỗi ngày vọng sang từ nơi thành phố Trung Hoa. Mặc dù cú điện thoại của Kyo, những tiếng súng ấy, đột nhiên, vẫn khiến ông lo ngại.

Ông không biết tầm mức của vai trò chính trị mà Ferral đang nắm giữ, những vai trò này chỉ có thể giúp ích cho Tưởng Giới Thạch mà thôi. Ông cho là tự nhiên việc ngồi bên cạnh Ferral - ông không hề thấy rằng mình đã “thoả hiệp” dù ngay cả đối với ông - nhưng ông không còn ước muốn giúp đỡ Ferral nữa. Những tiếng súng lại nổ nghe xa hơn.

- Chuyện gì vậy ? - Ông hỏi.

- Tôi không biết. Những người cầm đầu Quốc dân đảng và Cộng sản đã long trọng tuyên bố sự hợp nhất giữa họ. Mọi việc có vẻ đang được dàn xếp.

“Ông ta nói dối, ông Gisors thầm nghĩ: Ông ta ít ra cũng rõ biết tin tức không kém gì mình”.

- Quốc dân đảng hay Cộng sản gì, thì cu li vẫn là cu li; trừ phi chúng chết đi. Phải chăng đó là một sự ngu độn tiêu biểu nhất của con người, sự kiện một người chỉ có một đời sống lại có thể vì một tin tưởng nào đó mà đánh mất nó ?

- Rất ít khi một người có thể chịu đựng được, tôi phải nói sao đây, cái thân phận làm người của mình...

Ông nhớ lại một ý nghĩ của Kyo: tất cả những gì mà vì đó con người chịu hy sinh tính mạng của mình, vượt ra ngoài quyền lợi, đều một cách mơ hồ không ít thì nhiều nhằm chứng minh cái thân phận ấy bằng cách làm cho nó xứng đáng; Thiên Chúa giáo đối với thân phận nô lệ, tổ quốc đối với công dân, Cộng sản đối với người lao động. Nhưng ông không muốn bàn cãi với Ferral những ý nghĩ của Kyo. Ông trở lại với Perral.

- Bao giờ cũng cần phải nghiện cái gì đó: tại xứ này có thuốc phiện, Hồi giáo có thuốc say, Tây phương có đàn bà... Tình yêu có thể trước hết là phương tiện mà người Tây phương dùng để thoát khỏi thân phận làm người của mình...

Bên dưới những lời nói của ông, chạy lướt qua một dòng nghịch lưu lẫn lộn và khỏa lấp những khuôn mặt: Tchen và sự giết người, Clappique và sự điên rồ của ông ta, Katow và cách mạng, May và tình yêu, ông và thuốc phiện... chỉ có mình Kyo, theo ông, là cưỡng lại những lãnh vực ấy.

- Rất ít đàn bà chịu nằm xuống, - Ferral trả lời, - nếu họ có thể trong tư thế đứng, thu hái được những câu trầm trồ cần thiết, những trầm trồ đòi hỏi phải có những cái giường.

- Và có bao nhiêu người đàn ông ?

- Nhưng người đàn ông có thể và cần phải phủ nhận đàn bà; hành vi, chỉ có hành vi mới chứng minh cho đời sống và thoả mãn người da trắng. Chúng ta sẽ nghĩ sao đây nếu người ta nói với chúng ta về một nhà danh họa đã không về một bức tranh nào? Con người là tổng số các hành vi của nó, những gì nó đã làm, có thể làm... được rút ra từ cuộc đời của tôi để đúc thanh gương mẫu do một sự gặp gỡ nào đó với một người đàn ông hay đàn bà, tôi dõi theo những con đường do tôi, những...

- Cần là những con đường ấy đã được đắp xong.

Sau những tiếng súng nổ vừa rồi, ông Gísors đã quyết định không đóng vai trò hiện giải nữa.

- Nếu không do ông, phải không, thì do một người khác. Cũng thế như một vị tướng đã nói: Với binh sĩ của tôi, tôi có thể ria đạn vào thành phố. Nhưng nếu ông ta có thể ria đạn vào thành phố, có thể ông ta sẽ không là vị tướng... Với lại, có lẽ con người không mấy thiết tha với quyền hành... Những gì mê hoặc họ trong ý nghĩ ấy, ông thấy không, đó không phải là quyền hành thật sự, đó là ảo tưởng của sự chuyên đoán. Quyền hành của nhà vua, là cai trị phải không ? Nhưng con người không ước muốn cai trị; nó muốn cưỡng chế, như lời ông đã nói. Tỏ ra quá hơn một con người, trong một thế giới loài người. Thoát khỏi thân phận làm người, như tôi đã nói với ông. Không phải như người có quyền thế: như một thượng đế. Chứng bệnh mơ tưởng hão, mà ý chí hùng mạnh chỉ là sự biện minh trí thức, đó là ý chí có chứa đựng thần tính: mọi người đều mơ thành thần linh.

Những gì ông Gisors nói làm cho Perral băn khoăn, nhưng tâm trí ông ta không chuẩn bị để đón nhận. Nếu ông Gisors không làm sáng tỏ những lời ông nói, Ferral sẽ không còn thoát ra khỏi mối ám ảnh của mình:

- Theo ông, tại sao thần linh lại chỉ làm chủ được những sinh vật dưới hình thức con người và súc vật ?

Ferral đã đứng lên.

- Ông cần phải nhập cuộc bằng những gì cốt yếu nơi ông để cảm thấy mãnh liệt hơn sự hiện hữu của mình, ông Gisors nói mà Ferral không đoán được rằng sự thấu triệt của ông Gisors là do ông nhận ra nơi người đối thoại những mảnh vỡ từ chính con người ông, và người ta có thể dựng thành chân dung tinh tế nhất của ông bằng cách ghép lại những mảnh sáng suốt ấy.

- Một thần linh có thể chiếm hữu, ông Gisors nói tiếp với nụ cười thừa nhận, nhưng không thể chinh phục. Lý tưởng của một thần linh là trở thành người, biết rằng mình sẽ tìm lại được uy quyền của mình, phải không, và giấc mơ của con người là trở thành thần linh, mà không đánh mất bản ngã của mình...

Nhất định phải ăn nằm với một người đàn bà. Ferral dời gót.

“Một trường hợp bịp bợm chắp vá quái gở, ông Gisors thầm nghĩ: tối nay, về mặt tình dục, người ta có thể cho là ông ta quan niệm như một người tiểu tư sản lãng mạn”. Không bao lâu sau ngày chiến tranh chấm dứt, khi đã tiếp xúc với các thế lực kinh tế tại Thượng Hải, ông Gisors đã không kém ngạc nhiên nhận thấy rằng ý nghĩ mà ông có về người tư bản đã không trùng hợp với một điều gì cả. Gần như tất cả những người ông đã tiếp xúc vào lúc ấy đều đã an bài đời sống tình cảm của họ dưới một hình thức này hoặc hình thức khác, - và gần như bao giờ cũng dưới hình thức hôn nhân; mối ám ảnh làm nên nhà doanh nghiệp có thế lực, khi nào người này không phải là một người thừa kế có thể thay đổi được, không thích hợp mấy với sự phung phí tình dục. Nền tư bản hiện nay, ông giải thích với các sinh viên của ông, là ý chí tổ chức nhiều hơn là ý chí uy dũng...

Perral, ngồi trong xe, nghĩ rằng những mối liên hệ giữa ông với đàn bà bao giờ cũng giống nhau và phi lý.

Trước kia có lần ông ta đã yêu. Trước kia. Nhà tâm lý say mèm nào đã bày đặt gọi là tình yêu loại tình cảm giờ đây đang đầu độc cuộc đời ông ? Tình yêu là một sự ám ảnh làm phấn khởi; những người đàn bà quen biết đã ám ảnh ông ta, phải - giống như một ước muốn trả thù. Ông sắp để cho đàn bà phán đoán ông, một kẻ đã không chấp nhận một sự phán đoán nào cả. Người đàn bà đã phải thán phục ông trong khi tự hiến dâng, người đàn bà mà ông phải khắc phục, không hiện hữu đối với ông. Đành phải tìm đến với những ả đỏng đảnh hay những gái điếm ở đó có những thân xác. May thay. Nếu không... “Anh sẽ chết đi, cưng à, mà không ngờ một người đàn bà cũng là một con người...” Ðối với nàng, có lẽ; với ông thì không. Một người đàn bà, một con người sao! Đó là một sự nghĩ ngơi, một chuyến du hành, một kẻ thù.

Ông ta ghé qua một ngôi nhà trên Ðại lộ Nam Kinh chọn một ả đào người Trung Hoa: một có gái có khuôn mặt duyên dáng và dịu hiền. Ngồi bên cạnh ông trong chiếc xe, hai bàn tay ngoan ngoãn đặt lên cây đàn lục huyền, nàng trông giống như một bức tượng đời nhà Thanh. Cuối cũng hai người về đến nhà. Ông ta trèo các bậc thang trước nàng, bước chân của ông trở nên nặng nề. “Hãy cùng đi ngủ”, ông ta thầm nghĩ... Giấc ngủ chính là sự yên lành. Ông ta đã sống, đã chiến đấu, đã khai sáng; dưới tất cả cái vỏ bên ngoài ấy, nơi sâu cùng, ông ta tìm thấy lại thực tại duy nhất kia, niềm vui được tự do buông thà, bỏ mặc trên bãi cát, giống như thân xác của một người đồng hành bị chết đuối, sinh vật ấy, chính bản thân ông mà mỗi ngày ông ta cần phải tái tạo lại sự sống. “Ngủ chính là điều duy nhất mà bao giờ thâm tâm mình cũng mong ước, từ bao năm nay...”

Chờ đợi gì hơn là một liều thuốc ngủ mới người con gái mà đôi giày sau lưng ông, đang gõ nhịp theo từng chân bước trên mỗi bậc cầu thang ? Hai người đi vào phòng hút: một căn phòng nhỏ với những trường kỷ phủ bằng các tấm thảm Mông Cổ, đành cho sự nhục cảm nhiều hơn là sự mơ màng. Trên tường, một bức họa màu nhạt của Kama, một lá phướn Tây Tạng. Nàng ả đào đặt cây đàn lên một trường kỷ. Trên cái mâm, những dụng cụ lâu đời cán bằng ngọc bích được chạm trổ và ít dùng đến. Nàng chìa tay về phía chúng: ông phác một cử chỉ ngăn lại. Một tiếng súng xa xôi làm rung rinh những cái kim trên mâm.

- Ông có muốn nghe em ca không ?

- Bây giờ thì không.

Ông ta nhìn thân hình của nàng nữa kín nữa hở dưới cái áo chẽn bằng tơ màu hoa cà nàng đang mặc. Ông ta biết nàng ngạc nhiên: không thường có chuyện một người khách ăn nằm với một ả đào mà nàng không phải hát, chuyện trò, dọn ăn hoặc tiêm thuốc phiện. Nếu không như vậy, tại sao không gọi gái điếm ?

- Ông cũng không muốn hút ?

- Không, cởi đồ ra đi.

Ông ta muốn bắt buộc hàng cởi bỏ tất cả quần áo, nhưng chắc hẳn nàng sẽ từ chối. Ông ta chỉ thắp có ngọn đèn ngủ.

“Nhục dục, ông ta thầm nghĩ, là sự khuất nhục nơi bản thân hoặc nơi người khác, có thể nơi cả hai người. Một ý nghĩ, thật là hiển nhiên...”. Với lại như vậy trông nàng cũng khêu gợi, với cái áo xẩm dính sát vào người; nhưng ông ta không bị kích thích quá mức, hay nếu có thì là do sự tùng phục của thân xác ấy đang chờ đợi ông, trong khi ông ta không động đậy. Niềm khoái lạc của ông nảy sinh từ sự kiện ông ta đặt mình vào nơi người khác, thật rõ rệt: người khác bị ép buộc; ép buộc bởi ông. Tóm lại ông ta cũng chỉ ăn nằm với chính mình, nhưng ông ta chỉ có thể đạt tới điều ấy với điều kiện ông ta không chỉ có một mình. Giờ đây ông ta biết rõ những gì mà ông Gisors chỉ hơi ngờ mà thôi: phải, cái ý chí uy dũng ông không bao giờ đạt tới một đối tượng, chỉ sống bằng cách đổi mới đối tượng; nhưng, cuộc đời ông nếu đã không làm chủ được, sẽ chiếm hữu được qua người con gái Trung Hoa này đang chờ đợi ông, thứ duy nhất mà ông thèm khát: bản thân ông. Ông ta cần phải có những đôi mắt người khác để nhìn thấy mình, giác quan của một người con gái khác để cảm nhận ra mình. Ông ta nhìn bức tranh Tây Tạng: bên trên một thế giới nhàn nhạt và sự lang thang của những khách du hành, hai bộ xương người giống hệt nhau đang run rẩy ôm siết nhau.

Ông ta bước về phía nàng ả đào.

10 giờ rưỡi

“Miễn sao chiếc xe không đến trễ nữa”. Tchen thầm nghĩ. Trong bóng tối hoàn toàn, chưa lúc nào vững tin nơi sự ra tay của mình bằng lúc này, và những ngọn đèn lồng cuối cùng cũng sắp sửa tắt. Bóng đêm hoang tàn của Trung Hoa đồng ruộng và ao hồ đã lan đến đại lộ gần như hoang vắng. Những ánh sáng mơ hồ của thành phố sương mù lọt qua khe hở của những cánh cửa sổ hé mở, lọc qua các tấm kiếng kín bưng, tắt dần từng ánh một; những tia phản chiếu cuối cũng bám vào những đường ray ẩm ướt; mấy chốc Tchen chỉ còn trông thấy những tia phản chiếu ấy trên các bản quảng cáo dựng đứng viết đầy những chữ rực rỡ.

Ðêm sương mù này là đêm cuối cùng của gã và gã cảm thấy mãn nguyện. Gã sắp nổ tung cũng với chiếc xe, trong một ánh chớp cuộn tròn làm sáng lên trong một giây đại lộ gớm ghiếc và sẽ vất lên tường một vết máu tua tủa.

Câu chuyên hoang đường lâu đời nhất của Trung Hoa đè nặng lên tâm trí gã: con người là sâu mọt của trái đất.

Sự khủng bố cần phải trở nên một khoa thần bí. Nỗi đơn độc trước tiên: kẻ khủng bố cần phải quyết định một mình, hành động một mình: tất cả sức mạnh của cảnh sát nằm trong sự cáo giác, kẻ sát nhân hành động một mình sẽ không liều lĩnh tự để lộ tung tích.

Nỗi đơn độc cuối cùng, vì cũng khó cho một người sống ngoài lề xã hội loài người mà không tìm lại những người đồng loại. Tchen biết rõ những lời phản đối chống lại sự khủng bố: sự đàn áp của cảnh sát dành cho thợ thuyền, lời kêu gọi đến chủ nghĩa phát xít.

Sự đàn áp, không làm sao tàn bạo hơn; chủ nghĩa phát xít tàn bạo càng hiển nhiên hơn. Và có lẽ Kyo và gã đã không nghĩ thay cho những người có đồng một thân phận với nhau. Để giải thoát những người ưu tú trong số những người bị chà đạp khỏi giai cấp của họ, điều cần không phải là chôn chân nơi giai cấp, mà mang lại một ý nghĩa cho chính sự chà đạp mà họ phải chịu đựng: mỗi người hãy tự trách nhiệm và phán xét về đời sống của một chủ nhân. Gán một ý nghĩa tức thời cho cá nhân vô vọng và gia tăng các cuộc mưu sát; không bằng một tổ chức, mà bằng một ý tưởng: làm sống lại những người tuần giáo. Pei, kẻ cầm bút, sẽ được người ta nghe theo vì gã, Tchen, sắp sửa chết; gã biết rõ máu đổ ra vì một ý tưởng có một ảnh hưởng nặng nề như thế nào đè lên ý tưởng ấy. Tất cả những gì không phải cử chỉ dứt khoát của gã đều tan rã trong bóng đêm phía sau đó là chiếc xe hơi gã đang nằm mai phục sẽ chạy đến không bao lâu nữa. Sương mù, no đầy khói tàu, dần dần phủ kín các vỉa hè ở cuối đại lộ vẫn còn ngươi qua lại những người bộ hành bận rộn nối đuôi nhau, ít khi qua mặt nhau. Như thể chiến tranh đã ép buộc thành phố theo một mệnh lênh đầy uy quyền. Sự im lặng bao trùm những bước chân khiến động tác của họ gần như quái dị. Họ không mang gói, rổ, không đẩy những chiếc xe nhỏ; đêm nay, hình như sự hoạt động của họ không nhằm một mục đích nào. Tchen nhìn tất cả những cái bóng ấy đang trôi lặng lẽ về phía sông bằng một sức chuyển động quái gở và đều đặn; phải chăng đó không là chính định mệnh, sức mạnh ấy đã xua đẩy họ về phía cuối đại lộ, nơi mà cái vòng cung được thắp sáng bằng những bảng hiệu không lấy gì làm rõ lắm trước màu âm u của dòng sông hình như cũng là những cái cửa của địa ngục? Lùi sâu thành những viễn ảnh mơ hồ, các chữ mất vào thế giới bi thảm và mờ nhạt ấy như mất vào hàng bao thế kỷ; và cũng vậy, tiếng còi nhà binh của chiếc xe chở Tướng Giới Thạch nghe như không vọng lên từ nơi bộ tham mưu mà là từ những thời xa xưa và bắt đầu vang dội dằng dặc phía tận cùng của mặt đường gần như hoang vắng. Tchen siết lấy trái bom dưới cánh tay gã với niềm biết ơn. Chỉ có những ánh đèn pha thoát ra khỏi lớp sương mù. Gần như liền sau đó, trọn cả chiếc xe nhô ra, đi đầu là chiếc xe Ford của đám cận vệ; một lần nữa Tchen cảm thấy như nó tiến tới nhanh chóng lạ thường. Ba chiếc xe kéo đột nhiên bít lối con đường, và hai chiếc xe hơi chạy chậm lại. Gã cố gắng kiểm soát lại hơi thở. Sự kẹt xe đã được giải tỏa. Chiếc Ford chạy qua, chiếc xe hơi theo sau: một chiếc xe Hoa Kỳ to lớn, hai bên hông có hai người lính cảnh sát đứng trên bậc xe; nó gây nên một ấn tượng hùng hậu đến mức Tchen cảm thấy, nếu gã không tiến lên, nếu gã chờ đợi, gã sẽ tránh xa nó trái với lòng gã. Gã cầm lấy trái bom nơi cái quay của nó như một chai sữa. Chiếc xe chở vị tướng cách năm thước, trông khổng lồ. Gã chạy về phía nó với một niềm vui xuất thần, lao vào nó mắt nhắm lại.

Vài giây sau gã hồi tỉnh lại; gã không cảm thấy cũng không nghe thấy tiếng xương rạn vỡ và gã chờ đợi, gã đã chìm đắm vào một bầu rực rỡ. Không còn cái áo ngoài. Bàn tay mặt của gã cầm một mảnh của cái nắp đậy bộ máy xe hơi vấy đầy bùn hoặc máu. Cách đó một vài thước một đống vụn vỡ màu đỏ, những mảnh kiếng bể nát phủ một khoảng mặt đường lấp lánh phản chiếu những... Tchen đã không còn phân biệt được gì nữa: gã cảm nhận được sự đau đớn, vượt ra ngoài ý thức của gã trong khoảng không đầy một giây. Gã không còn trông thấy rõ nữa. Dù vậy, gã cũng cảm thấy được rằng chỗ ấy vẫn còn vắng người, phải chăng những người lính cảnh sát e ngại một trái bom thứ hai? Gã đau đớn đến tận xương tủy, một sự đau đớn không làm sao định rõ được chỗ nào; Tchen chỉ còn là sự đau đớn mà thôi. Có tiếng người đến gần. Tchen nhớ là cần phải lấy ra khẩu súng lục. Gã cố gắng cho tay vào tận túi quần. Không còn túi, không còn quần, không còn chân; chỉ có mớ thịt nát vụn. Khẩu súng lục kia, trong túi áo sơ mi. Nút áo đã văng mất. Gã nắm lấy nòng súng, quay nó lại mà không rõ bằng cách nào, lấy ngón tay cái tự dưng kéo khớp an toàn. Cuối cũng gã mở mắt ra. Mọi vật đều quay tròn, một cách chậm chạp và không có gì ngăn cản lại được, theo một vòng tròn, rất rộng, và thế nhưng chỉ có sự đau đớn là có thật. Một người lính cảnh sát ở sát bên cạnh. Tchen muốn hỏi xem Tưởng Giới Thạch có tử thương không, nhưng gã mong muốn điều ấy nơi một thế giới khác; nơi thế giới này, ngay cả cái chết của Tưởng Giới Thạch cũng không quan hệ gì đến gã.

Người lính cảnh sát lấy hết sức đá vào mạn sườn cho gã lật lại. Tchen hét lên, bắn bừa về phía trước, và sự chấn động ấy càng làm mãnh liệt thêm sự đau đớn mà gã ngỡ rằng không cùng. Tchen thực hiện sự cố gắng khủng khiếp nhất đời gã, đưa lọt được nòng súng vô trong miệng. Thấy trước sự chấn động thứ hai, càng đau đớn hơn sự chấn động vừa rồi, gã không động đậy nữa. Một cú đá gót dữ dội của một người lính cảnh sát khác làm co rúm tất cả các thớ thịt của gã. Gã bấm cò mà không hay biết.

❀ ❀ ❀

[1] Một loại đàn ba dây của người Nhật

[2] Hạn chế sản xuất cao su trên toàn cõi Đế quốc Anh (nước sản xuất cao su quan trọng của thế giới), nhằm nâng cao giá cao su, đã sụt xuống thấp hơn giá vốn.

[3] Hai nhân vật của thần thoại Hy Lạp, ở đây sự đề cập đến họ nhằm nhấn mạnh đến sự kiện người đàn bà ngự trị người đàn ông.

[4] Hai nhân vật của thần thoại Hy Lạp, ở đây sự đề cập đến họ nhằm nhấn mạnh đến sự kiện người đàn bà ngự trị người đàn ông.

m thuốc phiện, bên trên những cây xương rồng nho nhỏ do ông sưu tầm. Bên dưới cái mâm, một tấm ảnh: Kyo. Ông lôi tấm ảnh ra, nhìn ngắm nó không có ý nghĩ nào rõ rệt, chìm đắm một cách chua chát vào trong niềm tin, ở vào chỗ ông, không người
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của André Malraux

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.