Thân Phận Con Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
22
Tháng Ba

❊ ❊ ❊

Tình hình không khả quan, Ferral thầm nghĩ. Chiếc xe hơi của ông - chiếc Voisin duy nhất tại Thượng Hải, vì vị Chủ tịch Phòng Thương mại Pháp không thể nào sử dụng một chiếc xe Hoa Kỳ - chạy dọc theo bến tàu. Bên mặt, dưới những lá phướn dựng đứng đầy những chữ: “Chỉ làm việc mỗi ngày mười hai giờ đồng hồ. Trẻ em dưới tám tuổi không phải làm việc”, hàng ngàn thợ dệt đứng, ngồi xổm, nằm trên lề đường trong một sự hỗn độn căng thẳng. Chiếc xe vượt qua một toán đàn bà, tập hợp phía dưới là cờ hiệu: “Thợ đàn bà được quyền ngồi.” Ngay cả xưởng chế tạo vũ khí cũng trống trơn: những người thợ luyện kim đang đình công. Bên trái, hàng ngàn thuyền trưởng sông ngòi mặc quần áo tả tơi màu xanh lơ, không cờ hiệu, chờ đợi, ngồi xổm dọc theo con sông. Đám động biểu tình, phía bến tàu, tràn ngập đến tận cùng những con đường chạy đâm ngang qua; phía dòng sông, đám đông bám vào các cầu tàu; chiếc xe chạy vào đại lộ Hai nền Cộng hòa. Nó chạy tới một cách khó khăn, giờ đây lẫn vào làn sóng người Trung Hoa đổ ra từ khắp các ngả đường đến về phía tô giới Pháp. Như một con ngựa đua vượt qua một con khác một cái đầu, một cái cổ, một cái ức, đám đông “vượt” chầm chậm, đều đặn lên khỏi chiếc xe. Xe cút kít một hình với những cái đầu trẻ nít lắc lư như những cái chén, xe bò Bắc Kinh, xe kéo, những con ngựa con lông xồm, xe tay, xe cam nhông chở sáu mươi người, nệm khổng lồ chở cả một mớ động sản, chơm chớm những chân bàn, những con người to lớn giang thẳng cánh tay lủng lẳng ở đằng đầu một lồng sáo, che chở cho những đàn bà nhỏ thó lưng địu con thơ... Người tài xế cuối cùng quành được xe, chạy vào các con đường vẫn còn đông đúc, nhưng tiếng còi inh ỏi đã xua đuổi đám đông cách vài thước phía nước đầu xe. Ông ta đến trước các dãy nhà rộng lớn của cảnh sát Pháp.

Ferral trèo lên cầu thang vừa chạy.

Mặc dầu những sợi tóc vén về phía sau, y phục màu sắc hỗn tạp, áo sơ mi bằng tơ xám, khuôn mặt của ông giữ được một vài chi tiết của năm 1900, của tuổi trẻ ông.

Ông ta tủm tỉm cười mừng người “cải trang xưởng trường”, như ông ta có thể cải trang thành nhà ngoại giao: ông ta chỉ thiếu có cái kính một mắt. Râu mép rũ xuống, gần như ngả màu xám, trông như kéo dài đường trễ xuống của cái miệng, khiến khuôn mặt ngó nghiêng có vẻ giảo quyệt tàn nhẫn; nét mặt oai quyền nằm trong sự hòa hợp của chiếc mũi cong và cái cằm gần như lẹm, sáng nay được cạo gọt một cách cẩu thả: các nhân viên sở phân phát nước đã đình công, và nước có chất vôi do những người cu li mang đến khiến xà bông tan không hết. Ông ta biến mất giữa những tiếng chào hỏi.

Nơi tận cùng phòng giấy của Martial, vị giám đốc cảnh sát, một điểm chỉ viên người Trung Hoa, lực lưỡng nhưng hiền từ, hỏi:

- Thưa ông giám đốc, còn gì nữa không?

- Cũng phải làm sao cho nghiệp đoàn trở nên rối loạn, - Martial trả lời, lưng quay lại. - Và hãy vui lòng chấm dứt dùm việc làm ngu ngốc ấy. Anh đáng bị tống cổ ra ngoài cửa: phân nửa bọn người của anh hờm sẵn để làm kẻ đống lõa! Tôi không trả lương cho các anh để duy trì những phần tử cách mạng hạng bét đã không dám thẳng thắn cho biết chúng là những người gì: cảnh sát không phải là một nhà máy dùng làm nơi trốn tránh trách nhiệm của mình. Tất cả những nhân viên nào giao thiệp lén lút với Quốc dân đảng, hãy tống cổ chúng ra khỏi cửa và tôi không phải lặp lại câu nói này! Và hãy gắng mà hiểu, thay vì nhìn tôi bằng về ngu ngốc ấy! Nếu lôi không hiểu tâm lý nhân viên của tôi rành hơn là anh đối với bọn các anh, thì sẽ khốn!

- Thưa ông giám...

- Xong rồi. Rõ chớ. Gác lại. Hãy cút đi, và nhanh hơn thế. Chào ông Ferral.

Hắn vừa quay lại: một bộ mặt võ biền, ít lộ liễu hơn đôi vai.

- Chào Ông Martial. Thế nào?

- Để bảo vệ thiết lộ, chính phủ bị bắt buộc “phải làm ngưng hoạt động” cả ngàn người. Người ta không đương đầu nổi với cả khối dân một nước, ông cũng biết rõ, trừ phi có một lực lượng cảnh sát như của chúng ta. Phương tiện duy nhất mà chính phủ có thể đặt tin tưởng, là chiếc xe lửa bọc sắt, với những cố vấn người Bạch Nga. Ðó là điều nghiêm trọng.

- Một thiểu số còn phải cưu mang một đa số đần độn. Dù sao cũng đành vậy.

- Mọi sự đều tùy thuộc nơi tình hình mặt trận. Ở đây, chúng sắp sửa cố gắng nổi loạn. Có lẽ chúng sẽ phải hối hận: vì được võ trang không bao nhiều người.

Ferral không thể ngồi nghe và chờ đợi, đó là điều ông ta ghét nhất trên đời. Những cuộc đàm phán giữa cấp chỉ huy các toán quân Anh Mỹ và Nhật, giữa ông ta và một vài tòa lãnh sự, với các phần tử trung gian đang chật ních trong các khách sạn lớn của tô giới, vẫn không đem lại kết quả. Chiều nay, không chừng...

Thượng Hải vào tay quân đội cách mạng, Quốc dân đảng cẩn phải chọn lựa giữa Dân chủ và Cộng sản. Các nền dân chủ bao giờ cũng là những khách hàng tốt. Và một công ty có thể thu lợi mà không cần phải căn cứ vào các Hiệp ước. Trái lại, một thành phố theo chế độ Xô viết, Tổ hợp Pháp á và, cũng với nó, tất cả nền thương mại của Pháp tại Thượng Hải, - sẽ sụp đổ; Ferral cho rằng các cường quốc sẽ bỏ rơi kiểu dân của họ, giống như nước Anh đã làm tại Hán Khẩu. Mục đích cấp thời của ông là cốt sao cho thành phố không bị chiếm đóng trước khi quân đội đến nơi, cốt sao các phần tử cộng sản không thể hành động được gì một mình một chợ.

- Có bao nhiêu toán quân, Martial, không kể chiếc xe lửa bọc sắt?

- Hai ngàn lính cảnh sát và một lữ đoàn bộ hình, ông Ferral ạ.

- Và các phần tử cách mạng có thể làm được gì khác hơn tán gẫu?

- Chỉ một vài trăm người được võ trang... Những người khác, tôi không nghĩ là đáng được bàn đến. Ở đây vì không có việc thì hành quân địch, họ không biết sử dụng súng, ông nên nhớ điều đó. Những người ấy, hồi tháng hai rồi, ước chừng hai ba ngàn người nếu kể luôn các phần từ Cộng sản... hiện nay hẳn nhiều là chúng có phần nào đông hơn trước.

Nhưng, tháng hai rồi, quân đội chính phủ đã không bị tiêu diệt.

- Bao nhiêu người sẽ theo chúng? - Martial lên tiếng trở lại. - Nhưng tất cả chuyện ấy, ông cũng thấy chớ, ông Ferral, không giúp chúng ta thấy rõ được gì. Cần phải biết tâm lý của những người chỉ huy... Tâm lý của dân chúng, tôi chỉ hơi biết qua thôi. Người Trung Hoa, ông cũng thấy...

Một đôi khi - hiếm hoi lắm - Ferral nhìn vị giám đốc như lúc này; như thế đủ để Martial im lại. Cái nhìn ít biểu lộ sự khinh miệt, giận dữ, hơn là sự phán đoán: Ferral không hỏi, bằng giọng cứng rắn và có phần nào máy móc: “Chuyện ấy sẽ kéo dài lâu không?” nhưng ông ta cho thấy muốn hỏi điều đó. Ông ta không thể chịu đựng việc Martial dành cho sự mẫn tiệp của ông những tin tức thì các điểm chỉ viên của Martial cung cấp.

Nếu cả gan, Martial sẽ trả lời: “Như vậy có hề gì đến ông? “ Ông bị Ferral áp chế, và những mối liên lạc với Ferral thiết lập bằng những mệnh lệnh mà ông chỉ biết có phục tùng; sự chủ nội tâm của Ferral tỏ ra mạnh mẽ hơn của ông; nhưng ông không làm sao chịu được sự dửng dưng xấc xược ấy, phương cách biến ông trở về tình trạng máy móc, phủ nhận ông ngay khi ông muốn lên tiếng với tính cách một cá nhân chớ không muốn chuyển lại những tin tức. Các dân biểu đi công tác có nói với ông về hoạt động của Ferral trước ngày bị hạ bệ, tại các Ủy ban Quốc hội. Những tính chất đã mang lại cho các bài diễn văn của mình sự gãy gọn và chặt chẽ, Ferral đã sử dụng lúc hội thảo thế nào mà các vị đồng viện mỗi niên khoa một thêm thù ghét Ferral. Ferral có tài năng độc nhất vô nhị dùng để từ chối sự hiện hữu của họ. Trong khi một Jaurès, một Briand, dành cho các vị đồng viện đời sống riêng ta mà thường khi họ không có được, tạo cho họ cái ảo mộng đã được hỏi han đến, muốn thuyết phục, lôi kéo họ vào trong một sự đồng tâm hiệp lực nơi mà kinh nghiệm chung về cuộc đời và con người đã kết hợp họ, Ferral lại dựng lên một tòa kiến trúc gồm những sự kiện, và kết thúc bằng câu: “Ðứng trước những điều kiện như vậy, do đó, kính thưa quí vị, thật hoàn toàn hiển nhiên một cách vô lý...” Ferrell ép buộc hoặc mua chuộc. Thói quen đó vẫn không thay đổi, Martial nhận xét.

- Và bên phía Hán Khẩu thì sao? - Farral hỏi.

- Chúng tôi có nhận được tin tức hồi đêm nay. Tại đó có 220.000 người thất nghiệp, con số đủ để thành lập một đoàn hồng quân mới...

Từ nhiều tuần qua, những kiện hàng của ba trong số các công ty do Ferral kiểm soát đã nằm trơ ra đó bên cạnh bến tàu sầm uất: những người cu li từ chối mọi việc chuyên chở.

- Có tin tức nào về các cuộc giao thiệp giữa các phần tử Cộng sản và Tưởng Giới Thạch không? - Ðây là bài diễn văn mới nhất của ông ta, - Martial trả lời. - Còn tôi, ông cũng biết, tôi không mấy tin tưởng nơi các bài diễn văn.

- Tôi thì tôi tin, ít ra nơi các bài diễn văn. Không hề gì.

Có tiếng điện thoại reo lên. Martial cầm lên ống nghe.

- Ðiện thoại gọi ông, ông Ferral.

Ferral ngồi lên bàn.

- Alô, A lô, Vâng.

- ...

- Anh ta chìa ra cho ông một cái sào, để làm ông phải té bất tỉnh sau đó. Chỉ cần tìm hiểu xem nên tấn công anh ta như là một kẻ đồng tính luyến ái hay xác nhận là anh ta bị mua chuộc. Thế thôi.

- ...

- Tất nhiên là anh ta không thuộc về một trong hai hạng người ấy. Lại nữa, tôi không thích một cộng sự viên của tôi tin được rằng tôi có thể công kích một người về một tì vết tình dục mà anh ta cho thấy thực sự. Ông cho tôi là một nhà đạo đức sao? Xin chào.

Martial không dám hỏi Ferral một lời nào cả. Việc Ferral đã không nói cho ông biết các dự tính, không nói cho biết những gì ông ta chờ đợi nơi những cuộc mật nghị với các phần tử tích cực nhất của Phòng Thương mại quốc tế, các vị cầm đầu những hiệp hội quan trọng gồm các thương gia Trung Hoa, đối với ông vừa có vẻ sỉ nhục vừa khinh bạc. Thế nhưng, nếu việc một vị giám đốc cảnh sát không biết được những gì mình làm là một điều đáng phiền, thì việc mất chức càng đáng phiền hơn nữa. Mà, Ferral, được sinh ra trong nền Cộng hòa như trong một buổi họp mặt gia đình, ký ức đầy rẫy các khuôn mặt hào hiệp của những vị lão thành như Renan, Berthelot, Victor Hugo, là con trai của một nhà luật học nổi danh, Thạc sĩ sử học năm hai mươi bảy tuổi, hai mươi chín tuổi là Trưởng ban soạn thảo tập thể bộ sử nước Pháp, dân biểu khi còn rất trẻ (được ưu đãi bởi thời đại mà Poincaré, Barthon là Bộ Trưởng trước năm bốn mươi tuổi), Chủ tịch Tổ hợp Pháp á, Ferral, mặc dầu sự thất bại chính trị của ông, vẫn có được tại Thượng Hải một uy quyền và một uy tin lớn lao hơn là của vị Tổng lãnh sự Pháp, mà Ferral lại còn là một người bạn thân. Vì vậy nên vị Giám đốc tỏ ra kính cẩn ân cần. Ông ta trình ra bài diễn văn:

Tôi đã xài 18 triệu đồng tất cả, và chiếm được sáu tỉnh, trong vòng năm tháng. Các phần tử bất mãn hãy vui lòng tìm kiếm một vị Tổng tư lệnh khác đã xài phí ít như vậy và làm được bao nhiêu việc như tôi...

- Vâng. Nhưng người ta nói là Mạc Tư Khoa đã ra lệnh cho các chính ủy của họ phải cho những toán quân của họ giao chiến trước thành phố Thượng Hải. Thế là cuộc nổi dậy ở đây có thể sẽ kết thúc tai hại...

- Tại sao lại có những lệnh đó?

- Ðể Tưởng Giới Thạch phải ra tay, để tiêu hủy uy tín của ông ta, và thay thế bằng một tướng Cộng sản rước lấy danh dự chiếm đóng Thượng Hải. Gần như chắc chắn là chiến dịch chống lại Thượng Hải đã được phát động không có sự đồng ý của Uỷ ban trung ương tại Hán Khẩu. Chính những nhân viên tình báo ấy xác nhận rằng bộ tham mưu Cộng sản chống lại phương thức này...

Ferral tỏ ra quan tâm, mặc dù bi quan nhưng đọc tiếp bài diễn Văn:

Uỷ ban chấp hành trung ương tại Hán Khẩu, mặc dù đã bị một số lớn các đảng viên rời bỏ hàng ngũ, mặc dầu rất thiếu người, vẫn muốn là uy quyền tối cao của Quốc dân đảng... Tôi biết rằng Tôn Dật Tiên đã chấp nhận các phần tử Cộng sản như là phụ thuộc vào Ðảng. Tôi không làm gì cả để chống lại họ, và tôi thường khen ngợi sự hăng say của họ. Nhưng giờ đây, thay vì bằng lòng với vai trò những kẻ phụ thuộc, họ tự nhiên làm chủ nhân, muốn lãnh đạo Đảng bằng vũ lực và tính ngạo mạn. Tôi cảnh cáo họ là tôi sẽ chống lại những mưu toan quá khích ấy, đã vượt quá những gì được qui định vào dịp gia nhập Đảng của họ...

Sử dụng Tưởng Giới Thạch trở nên khả đĩ. Chính phủ hiện tại, không có giá trị nào khác hơn vũ lực (họ vừa mới đánh mất nó với sự thất bại của quân đội Chính phủ) và sự sợ hãi mà các phần tử cộng sản của quân đội cách mạng gieo rắc nơi giai cấp tư sản. Rất ít người quan tâm đến việc duy trì nó. Sau lưng Tưởng, có một quân đội đắc thắng, và toàn thể giai cấp tiểu tư sản Trung Hoa.

- Không có gì khác nữa sao? - Ferral lớn tiếng hỏi.

- Không có gì cả, thưa ông Ferral.

- Cảm ơn.

Ferral xuống cầu thang, chạm mặt giữa cầu thang một Minerve[1] tóc màu hung ăn mặc y phục thể thao, với vẻ mặt thản nhiên tuyệt diệu. Ðó là một cô nàng người Nga miền Caucase hiện tại được xem là nhân tình của Martial. “Ta muốn biết rõ vẻ mặt ngươi ra sao khi nhà ngươi sướng ngất...”, ông ta thầm nghĩ.

- Xin lỗi bà.

Ông vượt qua nàng vừa nghiêng mình, trèo lên chiếc xe hơi bắt đầu đâm vào đám đông, lần này ngược chiều với làn sóng người. Tiếng còi hoài công rú lên, bất lực trước sức mạnh của cuộc di trú, trước sức sôi sục ngàn năm mà những cuộc xâm lăng đã dấy lên đằng trước mặt. Những người bán hàng nhỏ thó trông giống như những cán cân, với hai mâm cân phất phơ trong không khí và những đòn cân cuống cuồng, những chiếc xe bò, xe cút kít, những kẻ tật nguyền, những cái lồng, Ferral tiến lên ngược chiều với mọi cặp mắt mà sự âu lo khiến họ nhìn vào bên trong xe: Nếu cuộc đời xuống dốc của Ferral cần phải sụp đổ, thì nó hãy sụp đổ trong sự huyên náo này, trong những niềm tuyệt vọng ngơ ngác này đang đến đập phá vào cái kính cửa xe! Cũng như khi bị thương ông suy ngẫm về ý nghĩ cuộc đời, ông ta suy ngẫm về những cuộc kinh doanh của mình một khi bị đe dọa, và ngoài ra sẽ nhận thấy đâu là nhược điểm của mình. Ông miễn cưỡng chọn lựa cuộc thư hùng này; ông bị bắt buộc dấn thân vào các vấn đề Trung Hoa để mở những thị trường mới cho việc sản xuất tại Ðông Dương. ở đây ta chơi ván bài chờ đợi thời cơ: ông nhắm vào nước Pháp. Và không còn có thể chờ đợi lâu dài.

Nhược điểm lớn lao nhất của ông là do thiếu sự tiếp tay của nhà cầm quyền. Việc phát triển những công cuộc lớn lao đến mức này không thể tách rời với các chính phủ. Kể từ thời trai tráng lúc còn là dân biểu tại Quốc hội ông đã là Chủ tịch Công ty điện lực và máy điện, sản xuất dụng cụ điện khí của nước Pháp; sau đó Ông tổ chức xây cất lại hải cảng Buenos Aires - Bao giờ ông cũng làm việc cho chính phủ. Trong khi làm việc như vậy, ông vẫn trong sạch một cách kiêu hãnh, đã từ chối tiền huê hồng để nhận lấy phiếu đặt hàng vì vậy sau khi ông rơi, ông chờ đợi nơi các thuộc địa á châu số tiền mà ông cần dùng: vì ông không muốn gia nhập trở lại vào cuộc chơi, mà muốn thay đổi luật chơi. Cậy vào địa vị riêng của người anh, với chức vụ cao cấp giám đốc tổ hợp các quỹ tiền tệ, đứng đầu một nhóm tài phiệt Pháp có thế lực nhất, Ferral được Chính phủ Đông Dương - ngay cả những địch thủ của ông cũng không lấy làm bất mãn để cung cấp cho ông những phương tiện rời khỏi nước Pháp - chấp nhận sử dụng 400 triệu cho các công tác. Chính phủ Cộng hoà không thể nào từ chối cho người em của một trong số các công chức cao cấp nhất của họ việc thực hiện chương trình khai hoá ấy; đó là một cuộc thực hiện nghiêm ngặt, gây ngạc nhiên tại đây, tại một xứ mà ngay cả việc mưu gian cũng ngự trị một cách ung dung. Ferral biết cách hành động. Một thiện cử không bao giờ mất mát: nhóm người này chuyển sang việc kỹ nghệ hoá Ðông Dương. Dần dần thành hình: hai cơ sở tín dụng (điền địa và nông nghiệp), bốn công ty trồng trọt cao su, loại cây miền nhiệt đới, bông gòn, đường, kiểm soát việc chế biến trực tiếp các nguyên liệu thành sản phẩm; ba công ty hầm mỏ: than đá, phốt phát, mỏ vàng và một chi nhánh “khai thác muối”, năm công ty kỹ nghệ: than, điện, thủy tinh, giấy, nhà in; ba công ty chuyên chở: xà lan, rờ-moọc, xe lửa. Tại miền Trung, Sở Công chánh, nữ hoàng của đám thần dân đang nỗ lực ấy, đám thần dân căm thù và ốm xanh xao, mẹ hay cô mụ đỡ đầu của hầu hết các công ty liên hệ lo sống những cuộc loạn luân có lợi ấy, biết cách thầu được việc xây cất đường xe lửa tại Trung kỳ mà lộ trình - ai có thể ngờ nổi ?. - chạy qua phần lớn các nhượng địa của nhóm Ferral. “Không tệ lắm”, vị phó Chủ tịch hội đồng quản trị nói với Ferral đang nín lặng, bận lo xếp đặt bao nhiêu triệu bạc của ông thành những bậc thang trèo lên và dòm ngó Paris.

Ngay cả với dự án về một công ty Trung Hoa mới trong mỗi túi, ông cũng chỉ nghĩ đến Paris. Trở về Paris khi đủ bề thế để mua lại cơ sở Havas hoặc thương nghị với họ; gia nhập trở lại vào trò chơi chính trị, và, một cách thận trọng đạt tới Chức Tổng trưởng, sau đó đi nước cờ hợp nhất bộ trực thuộc ông vào với sư luận quần chúng bị mua chuộc để chống lại Quốc hội. Quyền hành là đấy. Nhưng ngày nay đó không còn phải là những giấc mơ của ông: sự bành trướng các công cuộc kinh doanh tại Đông Dương đã đẩy trọn cả nhóm Ferral xâm nhập bằng thương mại vào lưu vực sông Dương Tử, Tưởng Giới Thạch đưa quân đội cách mạng vào Thượng Hải, đám đông mỗi lúc một dày đặc thêm dán vào cửa xe của ông. Không một công ty nào do Tổ hợp Pháp á làm chủ hoặc kiểm soát tại Trung Hoa lại không bị phương hại: Công ty đóng tàu tại Hương Cảng, do việc đi lại mất an ninh bằng đường thuỷ; tất cả các công ty khác: công chánh, xây cất, điện lực, bảo hiểm, ngân hàng, do chiến tranh và hiểm họa Cộng sản. Hàng nhập cảng nằm ì trong các kho hàng tại Hương Cảng hoặc Thượng Hải; hàng xuất cảng thì nằm ì tại Hán Khẩu, đôi khi trên bến tàu.

Chiếc xe hơi dừng lại. Sự im lặng - đám đông Trung Hoa thường là một đám đông ồn ào nhất - báo hiệu giờ tận thế. Một phát súng đại bác. Quân đội cách mạng ở gần đến thế sao? Không: đó là tiếng đại bác đơn độc. Đám đông tách ra; chiếc xe không rồ máy. Ferral cầm lấy ống thông thoại. Không có tiếng trả lời: ông không còn tài xế, không cả tôi tớ.

Ông ngồi im, sững sờ, trong chiếc xe hơi bất động mà đám đông đang đè nặng chung quanh. Người chủ tiệm gần nhất bước ra, mang trên vai một tấm cửa khổng lồ; hắn quay người lại, suýt làm bể kính xe, đóng cửa hàng lại. Bên mặt, bên trái, phía trước mặt, những chủ tiệm khác, những người thợ thủ công khác bước ra, tấm cửa viết đầy những chữ vác trên vai: cuộc tổng đình công bắt đầu.

Ðó không còn là cuộc đình công như tại Hương Cảng, được phát động một cách chậm chạp, hùng tráng nhưng thiếu sôi động: đó là một cuộc điều động quân đội. Ở cách xa tầm mắt của ông nhất, cũng không còn một tiệm buôn nào mở cửa. Ông cần phải rời khỏi nơi đây càng sớm càng hay; ông trèo xuống xe, gọi một chiếc xe kéo. Người phu xe không trả lời; ông phóng từng bước dài về phía nhà để xe, giờ đây gần như chỉ có một mình ông trên mặt đường với chiếc xe hơi bị bỏ lại: đám đông vừa tháo lui trở vào lại các ngôi nhà. “Họ sợ súng liên thanh”, Ferral nghĩ thầm. Bọn trẻ, ngừng chơi, phóng nhanh chân chen giữa từng chân người, chạy qua sự sinh hoạt lúc nhúc trên các vỉa hè. Sự yên lặng tràn đầy những đời sống vừa xa xôi vừa thật gần gũi, giống như một cánh rừng đầy dẫy sâu bọ; tiếng còi của một chiếc hạm cất lên kế đó nghe chìm mất. Ferral bước trở về nhà càng mau càng hay, tay thọc vào túi, vai và cằm nhô ra phía trước. Hai hồi còi cùng lúc vang lên trở lại, một tiếng còi vượt cao lên, tiếng của hồi còi vừa dứt, như thể một vài con vật khổng lồ trong cơn yên lặng ấy cũng lên tiếng báo hiệu con tàu đến gần. Cả thành phố đều chờ đợi.

1 giờ trưa

“Kém năm” - Tchen nói.

Những người thuộc toán của gã chờ đợi. Tất cả đều là thợ dệt, mặc đồ vải xanh lơ; gã mặc cùng loại y phục với họ. Người nào cũng cạo gọt nhẵn nhụi, trông gầy ốm - nhưng đều tỏ ra hăng hái: trước khi Tchen làm cuộc tuyển chọn, cái chết đã làm cuộc tuyển chọn của nó. Hai người cặp súng dưới cánh tay, họng súng hướng xuống đất. Bảy người mang súng lục cướp được của tàu Shantung; một người mang lựu đạn; một vài người khác giấu súng trong túi. Ba mươi người cầm dao, dùi, lưỡi lê, tám hoặc mười người, không một vũ khí nào, vẫn ngồi xổm gần bên đống giẻ rách, thùng dầu lửa, cuộn dây sắt. Một thiếu niên xem xét những cái đinh lớn to đầu, giống như những hạt giống, mà nó lôi ra từ nơi một cái túi: “Chắc chắn là cao hơn các móng ngựa...” ở đây có thể xem như là nơi cư ngụ của bọn bất hảo, nhưng dưới sắc phục của hận thù và sự quyết tâm.

Tchen không nằm trong số họ. Mặc dù vụ giết người, mặc dù sự hiện diện của gã. Nếu gã có chết hôm nay, gã có chết một mình. Ðối với họ, mọi chuyện đều giản dị: họ đi chiếm đoạt miếng cơm manh áo và phẩm cách của họ. Với gã... ngoại trừ sự đau khổ của họ và cuộc chiến đấu chung với nhau, gã không biết ngay cả nói với họ những gì. ít ra gã cũng biết rằng sự ràng buộc mật thiết nhất là cuộc chiến đấu. Và cuộc chiến đang ở đây.

Họ đứng lên, lưng đeo túi, thùng dầu lửa trên tay, dây sắt cặp dưới cánh tay. Trời vẫn chưa mưa; khung cảnh buồn bã của con đường hoang vắng ấy trông thăm thẳm không khác nào sự yên lặng; có một con chó vừa phóng hai bước băng qua đường như thể một vài bản năng nào đó báo trước cho nó những gì đang được chuẩn bị. Năm tiếng súng vang lên, nơi một con đường gần đó: ba tiếng súng nổ cùng lúc, một tiếng khác, rồi một tiếng khác nữa. “Đã bắt đầu”, Tchen nói. Sự yên lặng trở lại, nhưng hình như đó không còn là sự yên lặng ấy nữa. Một tiếng vó ngựa lấp đầy sự yên lặng dồn dập, mỗi lúc một thêm gần lại. Và, giống như tiếng sét xẻ dọc xuống sau một hồi sấm động kéo dài, trong khi họ vẫn không trông thấy điều gì cả, một sự náo động đột nhiên tràn ngập con đường, làm bằng những tiếng kêu hỗn độn, tiếng súng nổ, tiếng ngựa hí giận dữ; những tiếng vật rơi xuống; sau đó, trong khi những tiếng la hét rơi xuống tắc nghẽn một cách nặng nề dưới sự yên lặng không thể nào huỷ diệt một tiếng kêu thét lên như của một con chó bị hành quyết: một người bị cắt cổ.

Bằng những bước chân chạy đua; trong vài phút họ tràn đến một con đường quan trọng hơn. Tất cả cửa hàng đều đóng kín. Dưới đất, ba xác người; bên trên, chằng chịt những đây điện thoại, bầu trời vần vũ có những đám khói đen bay qua; phía cuối đường, hai mươi lính kỵ binh (tại Thượng Hải có rất ít lính kỵ binh) quanh đi quanh lại một cách e ngại, không trông thấy những phần tử nổi loạn nép sát vào tường với dụng cụ của họ, mất đăm đăm nhìn cuộc quần ngựa ngại ngần ấy. Tchen không thể nghĩ đến việc tấn công chúng: bọn Tchen võ trang quá sơ sài.

Những người lính kỵ binh vòng sang bên mặt, cuối cùng tới được trạm gác; những người lính canh điềm nhiên đi vào phía sau Tchen.

Những người lính cảnh sát chơi bài, súng trường và súng Mauser treo nơi giá. Viên hạ sĩ quan chỉ huy họ mở ra một cánh cửa sổ, hét lớn vào trong một cái sân tối om:

- Các anh những người đang nghe tôi nói, các anh đã chứng kiến loại bạo lực mà họ đã dành cho chúng ta. Các anh thấy rằng chúng ta đã bị bắt buộc nhượng bộ trước sức mạnh một cách bất công!

Hắn đến kéo lại cửa sổ; Tchen giữ cho nó được mở rộng, nhìn vào sân: không một bóng người. Nhưng thể diện đã được cứu vãn, và câu nói “lặp lại vai tuồng” đã được thốt ra đúng lúc. Tchen hiểu rõ những người đồng hương của gã: vì hắn ta “chấp nhận vai tuồng” hắn sẽ không hành động. Những người nổi dậy ra đi, lần này tất cả đến được võ trang: chiếm đóng các trạm cảnh sát đã bị tước vũ khí không ích lợi gì. Đám cảnh sát do dự. Có ba người đứng lên và muốn đi theo (Biết đâu sẽ có cướp phá...) Tchen phải khó khăn lắm mới tách chúng ra được. Những cảnh sát khác lượm mấy lá bài và bắt đầu chơi trở lại.

- Nếu họ thành công, một cảnh sát nói, không chừng tháng này chúng ta sẽ được trả lương ?

- Không chừng..., - viên hạ sĩ trả lời. – Hắn chia bài.

- Nhưng nếu họ thất bại, biết đâu người ta sẽ không cho là chúng ta đã phản bội.

Chúng nghĩ ngợi, cổ rụt vào giống như chim cồng cộc khổ sở vì những ý nghĩ.

- Chúng ta không phải chịu trách nhiệm, - một người nói.

Cả bọn đều tán thành. Dù vậy chúng vẫn đứng lên và đến tiếp tục cuộc chơi trong một tiệm buôn bên cạnh, mà người chủ không dám lên tiếng xua đuổi. Một đống quân phục nằm trơ vơ giữa trạm gác.

Vui mừng và dè chừng, TChen tiến về phía một trạm gác trung ương: “Mọi sự đều êm thấm, gã nghĩ thầm, nhưng những người này hầu hết cũng đều nghèo như chúng mình”. Những người Bạch Nga và những người lính trong chiếc xe lửa bọc sắt đang giao tranh với nhau. Các sĩ quan cũng vậy. Những tiếng nổ xa xa, mơ hồ như thể bầu trời thấp xuống khiến chúng nghe nhỏ dần, lan trong không khí về phía trung tâm thành phố.

Nơi một ngã tư, đoàn người - mọi người giờ đây đều được võ trang, ngay cả những người khiêng thùng dầu lửa - ngập ngừng trong giây lát, đưa mắt kiếm tìm. Các tàu tuần và tàu dò không thể dỡ hàng xuống, tỏa lên những đám khói chênh chếch mà cơn gió mạnh làm tan biến theo hướng chạy của những phần tử nổi dậy, như thể bầu trời cũng tham dự vào cuộc nổi dậy. Trạm gác mới là một khách sạn một tầng lầu lâu đời bằng gạch đỏ; hai người lính gác đứng mỗi người một bên cửa, lưỡi lê cắm vào họng súng. Tchen biết rằng cảnh sát đặc biệt đã được báo động từ ba ngày nay, và những người của gã bị nản lòng vì sự canh phòng thường trực ấy. ở đây có những sĩ quan, năm mười người lính cảnh sát đeo súng Mauser, được lương hậu, và mười binh sĩ. Sống, ít ra cũng sống qua tám ngày sắp tới! Tchen dừng lại nơi góc đường. Vũ khí chắc hẳn được treo nơi các giá súng ở tầng dưới, trong căn phòng bên tay mặt là đội vệ binh, phía trước văn phòng của một vị sĩ quan; Tchen và hai người đồng đội đã nhiều lần vào đó trong tuần này. Gã chọn mười người không đeo súng, ra lệnh giấu súng lục vào trong áo choàng, và tiến lên cùng với họ. Họ vượt qua góc đường, mấy người lính gác nhìn họ tiến đến: vì mãi đề phòng mọi việc, chúng không còn đề phòng việc gì nữa; những phái bộ thường đến trò chuyện với vị sĩ quan, thông thường để mang lại tiền trà nước, một công việc đòi hỏi nhiều bảo đảm và nhiều người.

- Chúng tôi đến thăm Trung uý Shuei Toun, Tchen nói.

Trong khi tám người đi qua, hai người cuối cùng, như bị xô khẽ một cái, len vào giữa hai người lính gác và bức tường. Ngay khi những người đi đầu vào tới bên trong hành lang, hai lính gác cảm thấy hai họng súng lục chĩa vào hông mình. Chúng để cho họ tước khí giới: được trả lương hậu hơn các đồng nghiệp, chúng vẫn thấy chưa đủ để phải liều thân. Bốn người trong toán của Tchen đã không nhập vào toán đầu tiên, và có vẻ như là khách qua đường, áp đầu hai lính gác đi dọc theo bức tường.

Không có điều gì được nhìn thấy từ các cửa sổ.

Từ nơi hành lang, Tchen trông thấy các giá súng đầy những súng. Ðội vệ binh chỉ có sáu cảnh sát được võ trang súng lục tự động, và các khẩu súng ấy hiện ở bên cạnh họ, trong các bao súng được gài lại. Tchen lao về phía các giá súng, khẩu súng lục chĩa về phía trước.

Nếu những cảnh sát tỏ ra can đảm một chút, cuộc tấn công đã thất bại. Mặc dù am tường nơi chốn, Tchen đã không có thời giờ chỉ định cho các người của gã người nào cần phải uy hiếp; một hai cảnh sát có thể nổ súng. Nhưng cả bọn đều giơ tay lên. Bị tước khí giới tức thì. Một toán người khác trong toán của Tchen đi vào. Lại thêm một lần phân phát vũ khí bắt đầu.

“Vào lúc này, - Tchen nghĩ thẫm, - có hai trăm toán hành động như chúng mình, trong thành phố. Nếu họ cũng có ngần ấy sự may mắn...” Ngay khi vừa chạm tới cây súng thứ ba thì gã nghe từ phía cầu thang vọng lại một tiếng chân chạy hối hả: có người chạy lên cầu thang. Gã bước ra. Ngay vào lúc gã vượt qua cánh cửa, một họng súng nổ vang từ tầng lầu thứ nhất. Nhưng không có gì xảy ra nữa cả. Một người trong các số sĩ quan, trong khi đi xuống, trông thấy các phần từ nổi dậy, đã nổ súng từ cầu thang và lui trở lại đầu thang ngay sau đó.

Cuộc giao tranh sắp sửa mở màn.

Một cửa ra vào, ở ngay chính giữa đầu thang của tầng thứ nhất, nhìn xuống những bậc thang. Phải một người đi chiêu dụ, theo lối Á Ðông ư? Tất cả mớ lương tri của một người Trung Hoa tìm thấy nơi gã, Tchen đều thù ghét. Thử tấn công chiếm lấy cầu thang? Những cảnh sát chắc hẳn có lựu đạn trong tay. Những chỉ thị của Ủy ban quân sự, do Kyo chuyển đến tất cả các toán, có dạy, trong trường hợp thất bại từng phần, cần phải, phóng lửa, chiếm các ngôi nhà bên cạnh là cứ điểm và kêu gọi sự ứng tiếp của các toán đặc biệt.

- Đốt lửa.

Những người khuân các thùng dầu cố rải xăng, nhưng những lỗ nhỏ bé chỉ làm tung toé những tia nhỏ trông thật khôi hài. Họ phải cho xăng chảy từ từ, trên các đồ đạc, dọc theo những bức tường. Tchen nhìn qua cửa sổ: phía đối diện, những cửa hàng đóng kín, các cửa sổ chật hẹp nhìn xuống ngõ ra khỏi trạm gác; bên trên, những nóc nhà mục nát và vểnh lên như hai đầu thuyền theo kiểu nhà Trung Hoa và sự vắng lặng vô hạn của bầu trời ảm đạm không còn thấy một đám khói nào, của bầu trời gần gũi và thấp xuống con đường hoang vắng. Mọi cuộc chiến đấu đều phi lý, đối điện với đời sống không có gì hiện hữu; gã trấn tĩnh lại vừa kịp lúc trông thấy những miếng gạch lát vuông và những tấm kiếng cửa đổ ào xuống, trong một tiếng loảng xoảng của thuỷ tinh chen lấn với tiếng nổ của một loạt đạn: người ta bắn vào họ từ phía ngoài.

Một loạt thứ hai. Giờ đây họ kẹt giữa những cảnh sát, sẵn sàng và đang làm chủ tầng lầu, và những kẻ tấn công mới đến mà họ không trông thấy, trong căn phòng này nơi mà dầu xăng đang chảy ròng ròng. Tất cả những người của Tchen đều nằm sấp, các tù binh bị trói nơi một góc phòng. Chỉ cần một trái lựu đạn nổ tung, họ sẽ bị thiêu đốt. Một người trong số những người đang nằm miệng lẩm bẩm, lấy tay chỉ về một phía: một dân quân nằm trên một nóc nhà; và phía tận cùng bên trái của cửa sổ, những dân quân khác cẩn thận nép mình len lỏi vào trong tầm đạn. Ðó là những phần tử nổi dậy, thuộc phe họ.

“Những thằng ngu ngốc này nổ súng trước khi phái đến một thằng trinh sát" Tchen nghĩ thầm. Gã có trong túi lá cờ màu xanh lơ của Quốc dân đảng. Gã lôi ra, bước gấp vào trong hành lang. Ngay lúc gã bước ra, gã nhận phải nơi thắt lưng một cú dữ dội không hiểu từ đâu tới, cùng lúc với một tiếng kinh khủng dội thấu đến bụng. Gã quăng mạnh cánh tay ra phía sau, để giữ lại thăng bằng, và ngã xuống đất, nửa mê nửa tỉnh. Không một tiếng động; kế đó là một vật bằng kim khí rơi xuống và, tức thì, có những tiếng rên rỉ vọng vào hành lang cùng với đám khói. Gã đứng lên lại: không một vết thương nào. Gã loạng choạng khép lại cánh cửa hé ra một nửa do tiếng nổ khó hiểu vừa rồi và chìa lá cờ của gã ra phía ngoài, với cánh tay trái, qua khoảng trống ấy: một viên đạn trúng bàn tay không làm gã phải ngạc nhiên. Nhưng không; người ta hét lên vui mừng. Làn khói từ từ thoát ra qua cửa sỏ ngăn cản mắt gã trông thấy các phần tử nổi dậy phía bên trái; nhưng những người phía mặt kêu gọi gã.

Một tiếng nổ thư hai suýt nữa quật ngã Tchen. Từ các của sổ của tầng lầu thứ nhất, những người lính cảnh sát bị bao vây đã liệng lựu đạn xuống (làm thế nào chúng có thể mở được cửa số mà không bị trúng đạn từ ngoài đường?). Tiếng nổ thứ nhất, tiếng nổ đã ném gã xuống đất, nổ tung trước ngôi nhà, và những mảnh của nó tung văng tứ tán qua của ra vào mở rộng và qua cửa sổ, như thể nó đã nổ ngay tại đội vệ binh; kinh hoàng vì tiếng nổ, những người nào thuộc toán của gã không tử thương đã nhảy ra ngoài, qua màn khói không lấy gì làm dày đặc. Dưới lằn đạn của lính cảnh sát nơi các cửa sổ, hai người ngã quỵ giữa đường, đầu gối xếp vào ngực, như những con thỏ cuốn mình, một người khác, mặt úp lên một vệt màu đỏ, trông như bị chảy máu mũi. Những người dân quân đã nhận ra những người thuộc phe họ; những cử chỉ của những người trong số họ kêu gọi Tchen đã khiến các sĩ quan biết được là có người sắp sửa thoát ra, và chúng đã liệng trái lựu đạn thứ hai. Nó nổ tung ngoài dường, phía bên trái của Tchen: bức tường đã che chở cho gã.

Từ hành lang, gã quan sát đội vệ binh. Làn khói bay trở xuống từ trần nhà, uốn thành một đường cong lặng lờ. Có những thân người nằm dưới đất: những tiếng rên siết vang khắp căn phòng, sát mặt đất, như những tiếng chó con sủa. Trong một góc phòng, một tù binh, một chân bị dứt lìa, hét lên với các đồng bọn của hắn: “Ðừng bắn nữa!” Tiếng la hổn hến của hắn như đục thủng làn khói vẫn tiếp tục uốn thành đường cong hờ hững bên trên cơn đau đớn, như một sự bất hạnh hiện ra trước mắt người. Người đang kêu la ấy, cái chân bị đứt lìa, không nên để tiếp tục bị trói như vậy, không thể được.

Thế nhưng phải chăng trái lựu đạn khác có thể nổ tung bất cứ lúc nào ?

“Hắn không can hệ gì đến mình”, - Tchen thầm nghĩ, - “đó là một kẻ thù.” Nhưng với một cái chân bị đứt lìa, và lại bị trói. Tình cảm hiện tại của gã nghe nặng hơn lòng thương hại: gã chính là người bị trói ấy. “Nếu trái lựu đạn nổ phía ngoài, mình sẽ nằm sấp xuống, nếu nó lăn vào đây, mình cần phải liệng nó trở lại ngay. Không có bao nhiêu may mắn để thoát khỏi. Mình đang làm gì ở đây ? Mình đang làm gì ở đây?” Bị giết chết, không hề gì. Gã chỉ sợ bị thương nơi bụng; dù vậy nỗi lo sợ ấy cũng ít khó chịu hơn sự trông thấy người này bị hành hạ đau đớn và bị trói, cũng như sự bất lực của con người trong cơn đau đớn. Gã bước về phía người ấy, con dao cầm trên tay, để cắt những sợi dây trói hắn. Người tù binh ngỡ rằng gã đến giết hắn; hắn muốn hét to hơn nữa: giọng hắn yếu dần trở thành một tiếng rít lên. Tchen sờ nắn vào người hắn bằng bàn tay trái của gã, nghe lớp quần áo đẫm máu lầy nhầy dán vào tay, cái nhìn dù vậy vẫn không làm sao rời khỏi cửa sổ đã bể nát, từ nơi ấy lựu đạn có thể rơi xuống. Cuối cùng gã nhận ra được những sợi đây trói, luồn con dao phía bên dưới, cắt đứt. Người ấy không còn rít nữa: hắn đã chết hoặc bất tỉnh. Tchen, mắt vẫn nhìn lên cửa sổ xơ xác, trở về lại hành lang. Sự thay đổi mùi vị làm gã ngạc nhiên như thể gã chỉ vừa mới bắt đầu nghe thấy, gã đã biết rằng những tiếng rên siết của những người bị thương cũng trở thành những tiếng la hét, trong phòng những mảnh vụn tẩm xăng, bị lựu đạn bén lửa, bắt đầu cháy lên.

Không có nước. Trước khi trạm gác rơi vào tay các phần tử nổi dậy, những người bị thương (giờ đây các tù binh không còn đáng kể nữa) sẽ bị cháy thành than. Ra ngoài, ra ngoài! Trước hết cần phải suy nghĩ, để sau đó làm càng ít động tác càng hay. Mặc dầu toàn thân run rẩy, tinh thần gã dù bị mê hoặc vì sự trốn chạy vẫn còn giữ được sự sáng suốt: cần phải sang bên trái, nơi có một cửa ngăn che chở cho gã. Gã dùng tay mặt để mở cửa ra vào, tay trái ra dấu hiệu hãy im lặng. Những người lính phe địch, phía bên trên, không thể trông thấy gã; chỉ có điệu bộ của các phần tử nổi đậy mới có thể báo cho chúng biết. Tchen cảm thấy mọi cặp mắt của phe bạn nhìn đăm đăm cánh cửa ra vào mở rộng ấy, dáng người lùn mập của gã, màu xanh lơ trên cái nền sẫm tối của hành lang. Gã bắt đầu nép mình sang bên trái, dán sát vào tường, cánh tay chắp chéo nhau, khẩu súng lục trên bàn tay mặt. Tiến tới từng bước, gã nhìn lên các cửa sổ, bên trên gã; một cửa sổ được che chở bằng một tấm sắt bắt thành mái che. Những phần tử nổi đậy hoài công bắn lên mái che ấy. “Nếu chúng cố liệng, mình phải trông thấy trái lựu đạn và cánh tay hẳn nhiên, Tchen thầm nghĩ và vẫn tiếp tục tiến tới. Nếu trông thấy nó, mình vẫn phải bắt lấy nó như bắt một cái gói, và mình liệng trở lại càng xa càng hay...” gã vẫn không ngừng xoay người đi tới. “Mình sẽ không thể liệng nó xa được; mình sắp nhận lãnh một nấm miểng vào bụng...” gã vẫn tiến tới. Mùi khét lẹt, và khoảng trống đột ngột phía sau (gã không quay người lại) khiến gã biết rằng gã đang đi qua phía trước cửa sổ của tầng dưới. “Nếu mình bắt được trái lựu đạn, mình sẽ liệng vào đội vệ binh trước khi nó nổ tung. Với bề dày của bức tường, bằng cách vượt qua cửa sổ, mình sẽ thoát”. Mặc kệ chúng đang ở đó, mặc kệ luôn người lính mà gã đã cắt đứt dây - và những người của gã đang bị thương. Tchen không trông thấy các phần tử nổi dậy, ngay cả khi nhìn qua những khoảng trống giữa đám khói, vì gã không thể rời mắt khỏi mái hiên: nhưng gã vẫn cảm thấy những cái nhìn đang tìm kiếm gã: mặc dù các lằn đạn bắn lên cửa sổ gây trở ngại cho những người lính cảnh sát, gã mặc nhiên nhận thấy rằng chúng không hay biết chuyện gì đó đang diễn ra. Đột nhiên gã nghĩ rằng họ không có bao nhiêu lựu đạn và họ phải tiết kiệm trước khi liệng; ngay lúc đó, như thể ý nghĩ ấy đã nảy sinh từ bóng tối nào đó, một cái đầu hiện ra dưới mái hiên, - khuất mắt các phần tử nổi dậy, nhưng đối với gã thì không. Gã giận dữ bỏ rơi điệu bộ người nhảy dây, bắn cầm chừng, phóng về phía trước, tới được cái cửa ngăn. Một loạt đạn bắn ra từ các cửa sổ, một trái lựu đạn nổ tung tại nơi mà gã vừa rời bỏ: người lính cảnh sát mà gã bắn hụt, đã do dự trước khi thò bàn tay cầm lựu đạn ra ngoài mái hiên, e ngại một viên đạn khác, Tchen đã lãnh phải một cú nơi cánh tay trái: không khí dồn ép làm động đến vết thương mà gã đã tự gây nên bằng con dao găm, trước khi giết Tang Yen Ta. Nó chảy máu trở lại, nhưng gã không cảm thấy đau đớn. Siết chặt thêm một lớp băng với một cái khăn tay, gã băng mình qua những khoảng sân, nhập vào các phần tử nổi dậy.

Những người chỉ huy cuộc tấn công tập hợp trong một lối đi tối om.

- Tại sao, các anh không phải lính trinh sát đi trước!

Người chỉ huy tổ chức, một người Trung Hoa cao lớn tóc ngắn với tay áo quá ngắn, nhìn bóng người đang đi gần tới, khẽ nhíu mày, nhẫn nhịn.

- Tôi đã cho điện thoại, - anh ta chỉ nói thế. - Bây giờ chúng tôi đang chờ một chiếc cam nhông bọc sắt.

- Các khu vực khác thì sao?

- Chúng ta đã chiếm được phân nửa số trạm gác.

- Không hơn vậy sao?

- Như vậy đã hay quá rồi.

Những tiếng súng nổ xa xa đều do các phần tử thuộc phe gã đang cùng tiến về hướng nhà ga phía Bắc.

Tchen thổi phù phù, như thể vừa rời khỏi mặt nước giữa cơn gió. Gã tựa lưng vào tường, góc tường che chủ cả bọn, dần dần tìm lại hơi thở, nghĩ đến người tù binh mà gã đã cắt dây trói. “Mình chỉ việc bỏ mặc hắn. Tại sao lại cắt dây trói, có làm thay đổi được điều gì đâu?” Ngay cả giờ phút này, gã có thể bỏ mặc người cảnh sát đang vùng vẫy, bị trói, cái chân đứt ấy không? Vì vết thương của hắn, gã nghĩ đến Tang Yen Ta. Gã thật là ngu độn trong buổi sáng nay! Không có gì giản dị hơn giết người.

Trong trạm gác, những mảnh vụn vẫn tiếp tục cháy, những người bị thương vẫn hét lên trước ngọn lửa đang lan đến gần; tiếng la hét không ngừng, đều đều vọng lên trong lối đi xuống thấp, nghe gần thêm một cách lạ lùng vì những tiếng nổ, những hồi còi, những tiếng giao tranh vẳng lại từ nơi xa xôi ấy và mất vào không gian ảm đạm.

Những âm thanh loảng xoảng nghe gần lại, át mất tiếng động vắng xa: chiếc cam nhông đã tới. Nó được bọc sắt hồi hôm một cách rất sơ sài: các miếng sắt đều hở ra. Tiếng ầm ĩ ngưng lại sau một cú thắng, và người ta lại nghe có những tiếng la hét.

Tchen, vì là người duy nhất đã vào trong trạm gác, mô tả tình hình cho người chỉ huy đội cứu viện. Ðó là một cựu khoá sinh trường Hoàng Phố; Tchen muốn có một toán do Katow chỉ huy hơn là đội của ông này, gồm các thanh niên tư sản. Trước cái chết của những người chiến hữu ấy, nằm giữa đường, đầu gối xếp lên bụng, nếu gã không làm sao hoàn toàn cảm thấy gắn bó với họ, là vì gã biết rằng bao giờ gã cũng thù ghét giai cấp tư sản Trung Hoa; thành phần vô sản ít ra cũng là điểm tựa cho mỗi hy vọng của gã. Vị sĩ quan hiểu rõ công việc của mình. “Chiếc cam nhông không có lợi gì đâu, ông ta nói, nó không có cả mui xe. Chỉ cần chúng liệng vô đó một trái lựu đạn là nổ tung tất cả; nhưng tôi cũng có mang lựu đạn theo.” Những người của Tchen có mang chúng đã kẹt vào trong đội vệ binh - đã chết? - và những người của toán thứ hai không làm sao có được lựu đạn.

Thử liệng từ bên trên xuống.

- Phải đấy, - TChen nói.

Vị sĩ quan nhìn gã với vẻ tức giận: ông ta không có hỏi ý kiến của gã; nhưng không nói gì cả. Cả hai người - ông ta là quân nhân mặc dù mặc thường phục, với mái tóc hớt cao, bộ râu mép ngắn, cái áo thợ ngắn ôm sát lấy thân mình nhờ sợi dây nịt có bao súng, và TChen thì lùn và mập, mặc quần áo màu xanh lơ, quan sát trạm gác.

Phía bên mặt cửa ra vào, đám khói của ngọn lửa đang lan gần đến các đồng chí bị thương của gã thoát ra một cách đều đặn máy móc. Phía bên trái, không có gì cả. Các cửa sổ của tầng thứ nhất đều buông màn. Thỉnh thoảng một người lính xung kích lại bắn lên một khung cửa sổ, và một vài mảnh vụn rơi xuống mặt đường thành một đám bụi cao nghệu gồm gạch vôi vụn vỡ, những mảnh cây manh mún, trên đó những mảnh kiếng lấp lánh mặc dầu sắc trời ảm đạm. Trạm gác chỉ còn nổ súng khi có một phần tử nổi dậy rời khỏi nơi ẩn núp của họ.

- Các khu vực khác thì sao? - Tchen lại hỏi.

- Hầu hết đều được chiếm xong. Khu vực quan trọng nhất chiếm được vào lúc một giờ rưỡi, nhờ yếu tố bất ngờ. Ở đó chúng ta đoạt được tám trăm khẩu súng. Chúng tôi đã có thể gởi quân tăng viện cho những nơi nào còn kháng cự: các anh là đội thứ ba mà chúng tôi đến tiếp cứu. Ðịch không còn nhận được sự tiếp viện nữa; chúng tôi đã phong toả các trại lính, nhà ga phía Nam, xưởng chế tạo vũ khí. Nhưng cần phải dừng lại ở đây; chúng ta cần có càng nhiều người càng hay cho cuộc tấn công. Và còn phải kể đến chiếc xe lửa bọc sắt của chúng.

Ý nghĩ về hai trăm toán người đã hành động giống như toán của gã làm Tchen phấn khởi pha lo ngại. Mặc dầu cơn gió nhẹ mang lại tiếng chạm súng từ khắp thành phố, sức dữ dội của nó khiến gã có cảm giác đó là một hành động đơn độc. Một người lôi ra từ chiếc cam nhông một chiếc xe đạp và ra đi. Tchen nhận ra anh ngay lúc anh ta trèo lên yên: Ma, một tay thành viên khởi nghĩa quan trọng. Anh ta đến Uỷ ban quân sự để báo cáo tình hình. Thợ sắp chữ, tự nguyện từ năm 12 tuổi, thành lập tại khắp nơi các Hiệp hội thợ nhà in, với hy vọng tập hợp tất cả thợ sắp chữ Trung Hoa; bị săn đuổi, bị kết án tử hình, anh ta trốn thoát, và vẫn tiếp tục tổ chức. Những tiếng kêu la mừng rỡ: cùng lúc với Tchen, họ cũng nhận ra anh và hoan hô lên. Gã nhìn họ. Cái thế giới mà họ cùng mưu định đã khiến anh ta cũng như Tchen phải trải qua những cực hình, cũng như thế giới mà kẻ thù của họ đã tạo nên. Anh ta sẽ làm gì trong nhà máy tương lai khi ẩn sau mớ quần áo thợ màu xanh lơ của họ?

Vị sĩ quan phân phát lựu đạn, và mười người trèo lên chiếm vị trí trên các nóc nhà bên trên nóc của trạm gác. Họ định áp dụng, để chống lại những lính cảnh sát, chiến thuật mà chính chúng đã áp dụng, bằng cách liệng chất nổ vô trạm gác qua cửa sổ: các cửa sổ này nhìn xuống đường, nhưng không nhìn lên nóc nhà, và chỉ có một cửa sổ duy nhất là có mái che. Các phần tử nổi dậy tiến tới từng mái nhà một, bóng họ trông mỏng manh trên nền trời. Trạm gác không thay đổi tầm đạn. Như thế chỉ có những người hấp hối là đoán được sự tiến đến gần ấy, những tiếng la đột nhiên thay đổi, trở thành những tiếng rên rỉ. Người ta chỉ còn thoáng nghe thấy mà thôi. Giờ đây những tiếng rên rỉ ấy giống như những tiếng ú ớ của người ngọng. Những bóng người tới được nóc mái nhà nghiêng xuống của trạm gác, đi lần xuống; Tchen trông thấy những bóng ấy sẫm lại khi chúng không còn cắt nét trên nền trời. Một tiếng hét lên từ cổ họng giống tiếng hét của đàn bà sanh nở xuyên thủng những tiếng rên rỉ nghe vang trở lại như một dư âm, kế ngừng lại.

Mặc dù tiếng động, sự im vắng đột ngột của những tiếng la tạo nên cảm tưởng như đó là một sự yên lặng tàn bạo: ngọn lửa có lan tới những người bị thương không? Tchen và vị sĩ quan nhìn nhau, mắt nhắm lại để nghe rõ hơn. Không nghe thấy gì cả. Hai người cùng mở mắt ra người này bất gặp cái nhìn lặng lẽ của người kia.

Một người trong số mười người ấy, bám vào tượng một con quái vật trên mái nhà được phết sơn bên ngoài, đưa cánh tay còn lại ra phía trước bên trên con đường, liệng trái lựu đạn về phía tầng lầu thứ nhất phía mà anh ta đang nghiêng mình xuống. Quá thấp. Trái lựu đạn nổ trên vỉa hè. Anh ta liệng trái thứ hai: nó rơi vào căn phòng có những người bị thương. Những tiếng la vang lên từ nơi cửa sổ bị liệng trúng: không! đó không còn là những tiếng la ban nãy, mà là một tiếng hét đứt quãng sắp mỏi mòn, sự đánh thót lên của một cơn đau đớn chưa tàn lụi. Người ấy liệng trái lựu đạn thứ ba và cũng không trúng cửa sổ.

Ðó là một trong số những người được chiếc cam nhông chở đến. Anh ta khéo léo ngả người về phía sau, sợ trúng phải miếng lựu đạn. Anh ta lại nghiêng mình tới, cánh tay giơ lên định tung trái lựu đạn thứ tư. Phía sau anh một người trong số những người của Tchen đi lần xuống. Cánh tay không hạ xuống: toàn thân như bị đốn ngang bởi một quả cầu to lớn. Một tiếng nổ dữ dội vang lên trên vỉa hè; mặc dầu màn khói, một vệt máu khoảng chừng một thước hiện ra trên tường. Người thứ hai thuộc các phần tử nổi dậy, hụt mất điểm tựa và trọn cả thân người tuột dọc theo mái nhà, đã bám vào người thứ nhất. Cả hai đều ngã lên trái lựu đạn của chính mình, cái chốt đã được rút ra.

Phía bên kia mái nhà, bên tay trái, những người của hai toán - các phần tử tư sản Quốc dân đảng và thợ thuyền Cộng sản - cẩn thận đi tới. Trước sự rơi ngã ấy họ dừng lại: giờ đây, họ bắt đầu đi xuống trở lại thật chậm. Cuộc đàn áp hồi tháng hai diễn ra một cách quá tàn bạo khiến cho cuộc nổi dậy thiếu đi những người quyết tâm. Bên mặt, những người khác tiến đến. “Hãy nắm tay với nhau! “Tchen la lên, từ phía dưới đường. Sát gần với trạm gác, các phần tử nổi dậy lặp lại câu nói. Những người trên kia nắm tay nhau, người ở trên cao nhất vòng chặt cánh tay trái vào tượng một con quái vật to lớn và vững chắc trên nóc nhà. Những trái lựu đạn được liệng trở lại những người bị vây, không làm sao kháng cự lại.

Trong năm phút, ba trái lựu đạn lọt được qua hai cửa sổ được chọn làm mục tiêu; một trái khác nổ tung mái hiên. Chỉ có cửa sổ chính giữa là không bị trúng đích. “Chính giữa!” người sĩ quan Hoàng Phố la lên. Tchen nhìn ông ta. Người đàn ông này cảm thấy hân hoan với việc chỉ huy như khi chơi một môn thể thao tuyệt hảo. Ông ta chỉ phòng thân sơ sơ thôi. Ông ta dũng cảm hẳn nhiên, nhưng không có sự ràng buộc với những người của ông, Tchen thì ràng buộc với những người của mình, nhưng cũng không bao nhiêu.

Không bao nhiêu.

Gã rời vị sĩ quan, băng qua con đường ở ngoài tầm súng của những người bị vây. Gã trèo lên mái nhà. Người đang bấu vào nóc nhà yếu sức dần: gã thay chỗ anh. Cánh tay bị thương của gã gập lại trên thân mình con quái vật bằng xi măng và thạch cao, tay mặt nắm lấy bàn tay của người thứ nhất làm đầu mối dây, gã vẫn không thoát khỏi nỗi cô đơn. Sức nặng của ba người đang trút xuống ấy treo nơi cánh tay của gã, xuyên qua lồng ngực như thể một thanh sắt. Những trái lựu đạn nổ bên trong trạm gác, đã ngừng nổ súng. “Chúng mình được thang gác che chở, Tchen nghĩ thầm, nhưng không còn bao lâu nữa. Mái nhà sẽ nổ tung”. Mặc dầu cái chết sát bên cạnh, mặc dầu sức nặng thân ái ấy đang phân thân gã, gã vẫn không thuộc về họ. “Phải chăng ngay cả đổ máu cũng là hoài công?” Người sĩ quan, phía dưới kia, nhìn gã mà không hiểu được gì cả. Một người, trèo lên phía sau, đề nghị thay thế gã.

- Hay lắm, tôi sẽ tự tay liệng lựu đạn.

Tchen chuyển cho anh sợi dây người ấy. Trong các bắp thịt mệt nhoài của gã, dâng lên một niềm tuyệt vọng vô bờ. Khuôn mặt cú mèo của gã căng thẳng và hoàn toàn bất động; gã cảm thấy với sự kinh ngạc một giọt nước mắt chạy dọc theo mũi. “Bị kích động”, gã thầm nghĩ. Tchen lôi từ trong túi ra một trái lựu đạn, bắt đầu đi xuống bằng cách bám vào cánh tay của những người đang nắm tay. Nhưng sau sự cố gắng tận lực để giữ lấy sợi dây người, hai cánh tay gã nghe như mềm nhũn, không còn tuân theo gã nữa. Sợi dây người dài ra đến bên mép mái nhà thì dừng lại. Từ nơi ấy, gần như không thể nào liệng trúng cửa sổ chính giữa. Xuống đến mép mái nhà, Tchen rời cánh tay của người liệng lựu đạn, bám vào chân anh, tiếp đó vào ống máng, lần theo ống máng chạy xuống đất: cách xa cửa sổ quá để có thể chạm tay vào nó, gã lại khá gần với nó để liệng trái lựu đạn. Những người cùng toán với gã không còn động đậy nữa. Phía bên trên mặt tường, một phần nhô ra của mặt nhà giúp gã dừng lại. Không đau đớn bao nhiêu vì vết thương, làm gã ngạc nhiên. Bàn tay trái nắm lấy một cái khớp của ống máng, gã hàng nâng trái lựu đạn thứ nhất, đã được rút chốt: “Nếu nó rơi xuống đường, phía dưới mình, mình sẽ chết.” Tchen liệng nó, gã liệng nó bằng tất cả sức mạnh cố vận dụng được từ vị trí ấy: nó lọt vào, nổ tung phía bên trong. Dưới kia, cuộc chạm súng tái diễn.

Qua cửa ra vào vẫn mở rộng, những người lính cảnh sát bị đánh bật ra khỏi căn phòng cuối cùng, bắn vung vãi, lao ra phía ngoài trong một sự chen lấn tựa như những người mù kinh hãi. Từ nơi những mái nhà, những cửa sổ, những cửa ngăn, các phần tử nổi dậy nổ súng. Từng thân người một ngã xuống, đầy rẫy gần cửa ra vào, kế rải rác dần ra phía ngoài.

Tiếng súng im lại. Tchen tụt xuống, vẫn treo đong đưa vào ống máng: gã không trông thấy dưới chân mình, và nhảy xuống một xác người.

Người sĩ quan đi vô trạm gác. Gã bước theo ông, lôi từ trong túi ra trái lựu đạn chưa liệng. Mỗi bước chân cảng làm gã ý thức một cách rõ rệt hơn rằng những tiếng rên xiết của những người bị thương đã ngừng lại. Trong đội vệ binh, chỉ gồm toàn những xác chết. Những người bị thương đã cháy thành than. Nơi tầng lầu thứ nhất, lại những xác chết, một vài người bị thương. Bây giờ đến nhà ga phía Nam, người sĩ quan nói. Tịch thu tất cả các khẩu súng: những toán khác sẽ cần đến chúng.

Vũ khí được mang lên chiếc cam nhông; khi tất cả đều được gom lại, đám người trèo lên xe, đứng sát vào nhau, ngồi trên đầu xe, đứng trên các bậc lên xuống, bám vào phía sau xe. Những người còn lại chạy lúp xúp theo ngõ hẻm. Vết máu to lớn trơ ra đấy, trông có vẻ cổ quái, giữa con đường hoang vắng; chiếc cam nhông, chơm chởm đầu người, khuất vào góc đường, trong tiếng thiếc đập ầm ĩ, hướng về nhà ga phía Nam và các trại lính.

Nó phải dừng bánh ngay sau đó: con đường bị chẽn ngang bởi bốn con ngựa bị giết, và ba xác người đã bị tước vũ khí. Ðó là xác những người lính kỵ binh, mà Tchen trông thấy vào ban sáng: chiếc xe hơi bọc sắt đến vừa đúng lúc. Trên mặt đất, những mảnh kiếng bể, nhưng chỉ có một ông già người Trung Hoa râu để thành chỏm, đang rên rỉ. Ông ta nói rõ tiếng ngay khi Tchen đến gần:

- Thật bất công và đáng buồn vô cùng! Bốn xác. Hỡi ơi! Bốn xác!

- Chỉ có ba thôi, - TChen nói.

- Ôi! Bốn xác.

Tchen lại đưa mắt nhìn: chỉ có ba xác chết một nằm nghiêng như bị ném xuống trong khi đang phi ngựa, hai xác nằm sấp, giữa những ngôi nhà trông cũng tha ma, dưới bầu trời ảm đạm.

- Tôi nói những con ngựa, - ông già nói, với vẻ khinh miệt và sợ hãi. Tchen cầm trên tay khẩu súng lục.

- Tôi, tôi nói đến những người chết. Một trong số những con ngựa này thuộc về ông à?

Người ta chắc hẳn đã trưng dụng chúng hồi sáng nay.

- Không. Nhưng tôi là người đánh xe. Những con vật đó, tôi rành lắm. Bốn con bị giết! Thật là phí!

Người tài xế xen vào:

- Phí à?

- Ðừng để mất thời giờ, - Tchen nói.

Được hai người tiếp tay, gã dời những xác ngựa. Chiếc cam nhông chạy qua. Đến phía cuối con đường, Tchen ngồi trên một bục xe, nhìn lại phía sau: ông già đánh xe vẫn quanh quẩn với những xác ngựa, chắc hẳn ông ta đang rên rỉ, bóng ông đen lại trên con đường u ám.

5 giờ

“Nhà ga phía Nam đã thất thủ”.

Ferral gác điện thoại xuống lại. Trong khi ông cho ghi những giờ hẹn (một số người thuộc Phòng Thương mại chống lại mọi sự can thiệp, nhưng ông ta có trong tay tờ báo lớn nhất tại Thượng Hải), những diễn tiến cuộc nổi dậy lần lượt đến tai ông. Ông muốn điện thoại một mình. Ông trở về văn phòng nơi Martial vừa mới đến thảo luận với phái viên của Tưởng Giới Thạch: Vị tướng này không muốn gặp mặt vị giám đốc Cảnh sát tại Sở mật thám cũng như tại nhà ông. Trước khi mở cánh cửa ra Ferral đã nghe, mặc dù tiếng chạm súng.

- Tôi, ông cũng biết chớ, tôi không là người thay mặt ở đây sao? Thay mặt cho quyền lợi của nước Pháp...

- Nhưng tôi biết phải hứa dành cho các ông sự trợ giúp nào đây? - Người Trung Hoa trả lời bằng một giọng năn nỉ không lấy gì làm thiết yếu. Chính ngài Tổng lãnh sự có nói với tôi là hãy chờ đợi nơi ông những tin tức xác thực. Bởi vì ông biết rất rõ xứ này, và dân chúng tại đây.

Điện thoại nơi văn phòng reo lên.

“Hội đồng thành phố đã thất thủ”, - Martial nói.

Và, thay đổi giọng nói:

- Tôi không nói là tôi không có một số kinh nghiệm nào đó về tâm lý địa phương, và nói chung dân chúng tại đây. Tâm lý và hành động đó là nghề nghiệp của tôi; và căn cứ vào đó...

- Nhưng nếu có những phần tử nào đó tỏ ra cũng nguy hiểm cho nước các ông cũng như cho nước chúng tôi, nguy hiểm cho hoà hình của nền văn minh, lẩn trốn nơi tô giới các ông, như bấy lâu, thì sao? Cảnh sát quốc tế...

“Thì ra thế, Ferral nghĩ thầm vừa bước vào. Người phái viên này muốn biết xem Martial, trong trường hợp đoạn giao với nhau, có sẽ để cho các lãnh tụ cộng sản lẩn trốn tại đây không?”

- ... Có hứa dành cho chúng tôi tất cả hảo ý của họ... Cảnh sát Pháp thì sao ?

- Sẽ dàn xếp sau. Chỉ cần phải lưu ý điều này: không có việc gì xảy ra cho các phụ nữ da trắng, ngoại trừ phụ nữ Nga. Về chuyện này, tôi có những chỉ thị thật nghiêm ngặt. Nhưng tôi nói với ông: Không có gì chính thức. Không có gì chính thức.

Trong văn phòng tân kỳ ấy - trên tường, tranh Picasso thời kỳ hồng, và một bức phác hoạ khiêu dâm của Fragonard - những người đang đối thoại đứng hai bên một bức hoành phi rộng lớn bằng đá đen, thuộc triều đại nhà Thanh, được Clappique khuyên nên mua và Gisors cho là đồ giả. Người Trung Hoa, một vị đại tá trẻ với cái mũi quặp xuống, mặc thường phục, gài nút từ trên xuống dưới, nhìn Martial và mỉm cười, đầu ngả ra phía sau.

- Thay mặt cho Ðảng tôi xin cám ơn ông. Các phần tử Cộng sản đúng là những kẻ phản bội; họ đã phản bội chúng tôi, vốn là những đồng minh trung thành với họ. Họ đã thoả thuận là chúng tôi sẽ hợp tác với nhau, và vấn đề xã hội sẽ được đặt ra khi nào Trung Hoa được thống nhất. Thế mà giờ dây họ đã đặt ra vấn đề ấy. Họ không tôn trọng thoả ước đã ký với nhau. Họ không muốn kiến tạo nước Trung Hoa mà muốn tạo nên các Xô viết. Những người đã bỏ mình trong quân đội không phải để tạo nên các Xô viết mà để kiến tạo nước Trung Hoa. Cộng sản không từ nan bất cứ một điều gì. Vì vậy nên tôi cần phải hỏi thử xem, thưa ông giám đốc, không hiểu Cảnh Sát Pháp có thấy trở ngại nào trong việc nghĩ đến sự bảo vệ cá nhân cho Tưởng Ðại tướng.”

Thật rõ rệt là người này cũng yêu cầu Cảnh sát quốc tế cùng một việc ấy.

- Rất sẵn sàng, - Martial trả lời. - Các ông hãy gởi đến vị chỉ huy trường cảnh sát của các ông. Cũng chính Konig phải không ?

- Ðúng. Thưa ông giám đốc, ông vui lòng cho biết: ông có nghiên cứu lịch sử La Mã không ?

- Dĩ nhiên là có.

“Tại trường học dành cho người mù chữ”, - Ferral nghĩ thầm.

Ðiện thoại lại reo lên. Martial cầm ống nghe lên.

Những cây cầu đã bị chiếm giữ”, - ông ta vừa nói vừa đặt ống nghe xuống. - Trong mười lăm phút nữa, các phần tử nổi dậy sẽ chiếm thành phố Trung Hoa.

- Theo ý kiến của tôi, người Trung Hoa lên tiếng trở lại như thế ông ta không có nghe gì, thì sự bại hoại của các phong tục đã làm sụp đổ Ðế quốc La Mã. Phải chăng các ông tin rằng tổ chức việc mãi dâm sao cho đúng kỹ thuật một tổ chức theo lối Tây phương, như tổ chức cảnh sát, là có thể thắng được những người chỉ huy tại Hán Khẩu, không sánh được với các vị chỉ huy Ðế quốc La Mã?

- Ðó là một ý nghĩ... nhưng tôi không tin có thể áp dụng được. Cần phải suy nghĩ nhiều về chuyện này...

- Người Âu Châu chỉ hiểu được của nước Trung Hoa những gì giống với họ...

Một khoảng im lặng. Ferral thấy thích thú. Người Trung Hoa này khêu gợi tính hiếu kỳ của ông: cái đầu ngả về phía sau ấy, gần như khinh khỉnh, và, đồng thời, sự ngượng ngùng ấy... “Hán Khẩu bị tràn ngập bởi những bầy gái điếm... ông ta thầm nghĩ. Và anh ta hiểu rõ các phần tử Cộng sản chớ? Anh ta có một mớ hiểu biết về kinh tế chính trị, điều đó không thể gạt bỏ được! Thật đáng ngạc nhiên!...” Có thể các Xô viết đang được chuẩn bị tại thành phố, và anh chàng này lại mơ tưởng đến những bài giảng xảo trá về Ðế quốc La Mã. “Gisors có lý, bao giờ họ cũng tìm kiếm những mẹo vặt.”

Ðiện thoại lại reo lên:

Các trại bị phong toả” - Martial nói. - Quân tiếp viện của Chính phủ không còn gởi đến được.

- Nhà ga phía Bắc thì sao ? – Ferral hỏi.

- Vẫn chưa thất thủ.

- Vậy thì Chính phủ có thể triệu hồi các đoàn quân tại mặt trận về.

- Có thể, người Trung Hoa nói, các đoàn quân và chiến xa rút về Nam Kinh. Họ có thể được điều động đến đây. Chiếc xe lửa bọc sắt có thể vẫn còn chiến đấu một cách nghiêm chỉnh.

- Phải, chung quanh chiếc xe lửa và nhà ga, phe Chính phủ đủ sức cầm cự, - Martial lên tiếng trở lại. - Tất cả nơi nào bị chiếm đóng đều được chúng tuần tự tổ chức; cuộc nổi dậy chắc chắn có những phần tử người Nga hoặc người Âu châu; các viên chức cách mạng tại mỗi công sở hướng dẫn các phần tử nổi dậy. Có một Ủy ban quân sự điều khiển mọi mặt. Giờ đây toàn thể lính cảnh sát đã bị giải giới. Các phần tử Cộng sản có những địa điểm tập hợp từ đó phát xuống các toán quân chống lại các trại lính.

- Người Trung Hoa cũng có nhiều khiếu tổ chức, - vị sĩ quan nói.

- Tướng Tưởng Giới Thạch được bảo vệ như thế nào ?

- Chiếc xe của ông bao giờ cũng được dẫn đầu bằng chiếc xe của đám cận vệ. Và chúng tôi cũng có những điểm chỉ viên. Cuối cùng Ferral mới hiểu ra được lý do khiến cái đầu trông có vẻ khinh khỉnh, đang bắt đầu làm ông ta bực dọc (ban đầu, ông ta ngỡ là vị sĩ quan vẫn nhìn lên bức phác hoạ khiêu dâm, bên trên đầu của Martial): một vảy cá nơi con mắt bên tay mặt khiến anh ta phải nhìn từ trên xuống dưới.

- Không đủ đâu, - Martial trả lời. – Cần phải dàn xếp việc ấy. Càng sớm càng tốt. Bây giờ, tôi phải chuồn đây: sẽ có chuyện bầu Ủy ban chấp hành sẽ nắm lấy chánh quyền. Ở đây, tôi có thể làm được một việc gì đó. Cũng bầu Tỉnh trưởng nữa, không phải là vô ích...

Ferral và vị sĩ quan còn lại một mình.

- Vậy là, thưa ông, - người Trung Hoa nói, đầu ngả ra phía sau, chúng tôi có thể bắt đầu từ giờ phút này tin cậy nơi các ông không?

- Lion Ti Yu đang chờ tôi, - ông ta trả lời.

Chủ tịch hiệp hội các chủ ngân hàng Thượng Hải, chủ tịch danh dự của phòng Thương mại Trung Hoa, liên kết với các chủ tịch hội tương tế, người ấy có thể hoạt động tại thành phố này, nơi mà các phần tử nổi dậy chắc hẳn đang bắt đầu chiếm đóng, hoạt động một cách hữu hiệu hơn cả Ferral tại các tô giới. Người sĩ quan nghiêng mình và từ giã. Ferral đi lên tầng lầu thứ nhất. Nơi một góc của phòng giấy tân kỳ trang hoàng khắp nơi với những vật điêu khắc thuộc các thời kỳ xa xưa của Trung Hoa, Lion Ti You, quả nhiên đang chờ đợi, Liou khoác một bộ quần áo bằng vải trắng bên ngoài cái áo thun dài tay màu trắng, mái tóc hớt cao, Liou không có quàng khăn cổ. Cả khuôn mặt nổi bật nhất là cái miệng và quai hàm: một con ếch già đầy khí phách.

Ferral không ngồi xuống:

- Ông đã quyết định dứt khoát với bọn Cộng sản. - Ông ta không cất vấn, mà xác nhận. – “Chúng tôi cũng vậy, thật là minh bạch.” - Ông ta bắt đầu đi tới lui quanh căn phòng, vai nhô ra đàng trước. - “Tưởng Giới Thạch sẵn sàng đoạn giao”.

Ferral chưa hề trông thấy sự nghi ngại nằm trên khuôn mặt của một người Trung Hoa. Người này có tin lời ông ta không? Ông ta chìa cho Liou một hộp thuốc hút. Cái hộp này, kể từ ngày ông ta quyết định không hút nữa, luôn luôn được mở nắp trên bàn giấy của ông, như xác nhận sức mạnh của tâm tính mình..

“Cần phải giúp đỡ Tưởng Giới Thạch. Ðối với ông đó là một vấn đề chết sống. Không có vấn đề duy trì tình thế hiện tại. Phía sau quân đội, tại nông thôn, bọn Cộng sản bắt đầu tổ chức Hiệp hội nông dân. Nghị định đầu tiên của các Hiệp hội sẽ là quỵt các khoản tiền cho vay (Ferral không nói: các nhà cho vay cắt cổ.) “Phần vốn lớn lao của ông nằm tại nông thôn, phần ký thác rõ rệt nhất tại các ngân hàng của cũng được bảo đảm bằng ruộng, các Xô viết nông dân...

- Bọn Cộng sản sẽ không dám thành lập các Xô viết tại Trung Hoa.

- Ðừng chơi chữ, ông Liou à. Dù Hiệp hội hay là Xô viết, các tổ chức Cộng sản cũng sẽ quốc hữu hoá ruộng đất, và tuyên bố các tín dụng là bất hợp pháp. Hai biện pháp đó huỷ bỏ phần trọng yếu những bảo đảm mà nhờ đó các tín dụng ngoại quốc được chấp thuận cho ông. Hơn một tỉ bạc, tính luôn các người bạn Nhật Bản và Hoa Kỳ của tôi. Không có vấn đề bảo đảm số tiền nẩy bằng một nền thương mại què quặt. Và, ngay cả không nói đến những tín dụng của chúng tôi, các nghị định đó cũng làm nổ tung các ngân hàng Trung Hoa. Hiển nhiên như vậy.

- Quốc dân đảng không để làm như vậy.

- Không có Quốc dân đảng. Chỉ có Cộng sản và không Cộng sản. Cho đến nay họ hợp tác với nhau, một cách không lấy gì làm êm thấm, vì Tưởng Giới Thạch không có tiền. Trung Hoa được chiếm xong - ngày mai, - Tưởng Giới Thạch gần như có đủ tiền trả cho quan thuế để võ trang quân đội của ông. Không đủ trả tất. ông ta tin cậy nơi chúng tôi. Bọn Cộng Sản rao truyền khắp nơi việc chiếm lại ruộng đất. Người ta nói là chúng cố gắng trì hoãn việc ấy: đã quá muộn rồi. Các nông dân đã nghe được những bài diễn văn của chúng và họ không phải là đảng viên của chúng. Nhưng họ sẽ làm những gì họ muốn làm.

- Chỉ có võ lực mới có thể ngăn chặn được nông dân. Tôi đã có nói với ngài tổng lãnh sự nước Anh.

Bắt gặp gần như là giọng nói của mình trong giọng nói của Liou, Ferral có cảm tưởng rằng mình thắng cuộc.

- Họ đã cố gắng chiếm lại ruộng đất. Tưởng Giới Thạch quyết định không để họ tự do hành động. Ông đã ra lệnh không được đụng chạm đến một mảnh đất nào sở hữu của các sĩ quan hoặc bà con của họ. Cần phải...

- Chúng tôi đều có họ hàng với các sĩ quan. – Liou mỉm cười. - Có chăng một mảnh đất nào tại Trung Hoa mà người ta không có họ hàng với sĩ quan?...

Ferral hiểu rõ sự liên hệ họ hàng của người Trung Hoa.

Điện thoại lại reo lên.

- Xưởng chế tạo vũ khí đã bị phong tỏa, - Ferral nói. – Tất cả các cơ sở của chính phủ đều bị chiếm đóng. Quân đội Cách mạng sẽ vào đến Thượng Hải sáng mai. Vấn đề cần phải được giải quyết ngay bây giờ. Ông nên hiểu rõ ý tôi. Tiếp sau cuộc tuyên truyền của Cộng sản, nhiều ruộng đất đã bị tước đoạt khỏi tay các chủ đất; Tưởng Giới Thạch cần phải chấp nhận hoặc ra lệnh bắn bỏ những kẻ nào cướp đoạt ruộng đất. Chính quyền Cộng sản tại Hán Khẩu không thể nào chấp nhận một mệnh lệnh như vậy.

- Ống ấy sẽ trì hoãn.

- Ông biết rõ số phận những cổ phần của các công ty Anh như thế nào sau khi tô giới Anh tại Hán Khẩu bị chiếm đóng. Ông biết rõ số phận của ông sau khi ruộng đất, dù sao, cũng có thể bị truất khỏi tay các chủ đất một cách hợp pháp; Tưởng Giới Thạch đã rõ và cho biết ông ta đành phải đoạn giao bây giờ. Ông có muốn tiếp tay với ông ta không?”

Liou khạc một tiếng, đầu rút vào vai. Liou nhắm mắt kế mở ra lại, nhìn Ferral bằng con mắt nheo lại của người cho vay cắt cổ cố hữu tại bất cứ nơi nào trên mặt đất.

- Bao nhiêu?

- Năm trăm triệu đôla.

Liou lại khạc lên:

- Phần của riêng chúng tôi?

- Phải.

Liou nhắm mắt trở lại. Bên trên tiếng nổ chát chúa của cuộc chạm súng, thỉnh thoảng, có tiếng nổ súng của chiếc xe lửa bọc sắt.

Nếu các người bạn của Liou chịu dứt khoát, thì cũng còn phải tiếp tục chiến đấu; nếu họ không chịu quyết định, Cộng sản hẳn nhiên sẽ chiến thắng tại Trung Hoa. “Ðây là giai đoạn mà vận mạng thế giới xoay chiều...”, Ferral thầm nghĩ với niềm kiêu hành lẫn lộn niềm phấn khởi và hờ hững. Ông không rời mắt khỏi người đối thoại. Liou, mắt nhắm lại, trông như ngủ, nhưng, trên mu bàn tay, những mạch máu xanh lơ, se vào nhau, rung động như các sợi gân: “Cũng cần phải có một lý lẽ cá nhân”, - Ferral nghĩ thầm.

- Tưởng Giới Thạch, - ông ta nói, - không thể để các sĩ quan của ông bị tước sạch tài sản. Và bọn Cộng sản muốn ám sát ông ta. Ông ta biết vậy.

Người ta nói vậy từ vài ngày qua, nhưng Ferral có ý hoài nghi.

- Chúng tôi được đành cho thời bạn bao nhiêu ngày đây ? - Liou hỏi. - Và tức thời, Liou nhắm lại một mắt, một mắt mở ra, vẻ tinh quái bên mắt tay mặt, xấu hổ bên mắt kia:

- Ông nói chắc là ông ấy sẽ thi hành lời hứa khi đã nhận tiền không?

- Cũng có cả tiền của chúng tôi nữa, và đó không phải là những lời hứa. Ông ta không thể làm khác hơn được. Và ông hãy hiểu rõ tôi, không phải chính vì được ông mua chuộc mà ông ấy cần phải tiêu diệt bọn Cộng sản nên ông mới trả tiền tốn phí.

- Tôi đi tập họp nhóm bạn của tôi.

Ferral hiểu rõ tục lệ của Trung Hoa, và ảnh hưởng của người nói.

- Ông sẽ khuyên bảo như thế nào?

- Tưởng Giới Thạch có thể sẽ bị đánh bại bởi các phần tử tại Hán Khẩu. Ở đó có hai trăm ngàn người thất nghiệp.

- Nếu chúng ta không trợ giúp, ông ta chắc chắn sẽ bị đánh bại.

- Năm mươi triệu... Kể cũng nhiều...

Cuối cùng Liou ngó thẳng vào mặt Ferral.

- Nhưng ít hơn cái giá mà ông sẽ phải trả cho một chính quyền Cộng sản.

Ðiện thoại.

- Chiếc xe lửa bọc sắt bị cô lập, Ferral lên tiếng trở lại.

Cho dù chính phủ có muốn triệu hồi các đoàn quân ngoài mặt trận, họ cũng không thể làm gì được nữa.

Ông ta chìa bàn tay ra.

Liou siết lấy nó, rời khỏi căn phòng. Từ nơi cửa sổ rộng lớn đầy những cụm mây, Ferral nhìn chiếc xe hơi xa đi, tiếng động cơ có lúc làm át mất những tràng súng nổ.

Cho dù thắng lợi, tình trạng các cơ sở của ông có lẽ sẽ buộc ông phải yêu cầu sự trợ giúp của chính phủ Pháp, thường hay từ chối một lời yêu cầu như vậy, và vừa mới từ chối Ngân hàng kỹ nghệ Trung Hoa. Nhưng, hôm nay, ông ta thuộc về số người ảnh hưởng đến vận mạng của Thượng Hải. Mọi thế lực kinh tế, hầu hết các toà lãnh sự cũng đều áp dụng cùng một phương cách với ông: Liou sẽ đền bù. Chiếc xe lửa bọc sắt vẫn tiếp tục nổ súng. Phải, đây là lần đầu tiên có một tổ chức của phía bện kia. Những người điều khiển nó, ông ta ước sao được biết họ. Và cũng để ra lệnh xử bắn họ.

Buổi chiều giao tranh đi vào đêm tối. Sát mặt đất, những ánh sáng được thắp lên, và dòng sông vô hình, như từ bao giờ, thu hút về phía nó một ít đời sống còn sót lại trong thành phố. Nó chảy đến từ Hán Khẩu, dòng sông ấy. Liou đã có lý và Ferral biết vậy: ở đó là tai họa. Ở đó hồng quân được thành lập. Ở đó các phần tử Cộng sản thống trị. Kể từ khi các đoàn quân cách mạng, giống như một máy trừ tuyết, đánh bật các phần tử Hoa Bắc, toàn thể các phần tử khuynh tả đều mơ tưởng đến vùng đất hứa ấy: Xứ sở của cuộc cách mạng thấy thấp thoáng phía sau các lò đúc ấy, các kho đạn ấy, trước cả khi chiếm được chúng; giờ đây, chúng đã được chiếm xong và những người bộ hành khốn khổ ấy mất hút vào màn sương mù nhầy nhụa, ánh đèn mỗi lúc một nhiều thêm, đang tiến theo hướng dòng sông, như thể tất cả đều từ Hán Khẩu với khuôn mặt chiến bại, những điềm báo trước bị màn đêm bất tường xua đẩy về phía dòng sông.

Mười một giờ. Kể từ lúc Liou ra đi, trước và sau bữa ăn tối, các chủ tịch hội tương tế, chủ ngân hàng, các Giám đốc Công ty bảo hiểm và chuyên chở đường sông, các nhà nhập cảng, các chủ hãng dệt đều đến đây. Tất cả những người này đều tuỳ thuộc một phần nào đó vào nhóm Ferral hoặc vào một trong số các nhóm người ngoại quốc đã nối kết chính sách của họ với Tổ hợp Pháp á: Ferral không chỉ tin cậy một mình Liou. Trái tim sống động của Trung Hoa, Thượng Hải, máy đập theo sự qua lại của tất cả những gì làm nên sự sống của thành phố; từ mãi tận các miền nông thôn - phần đông các địa chủ tuỳ thuộc vào các ngân hàng - các mạch máu giống như những kinh đào hội chảy về thành phố thủ đô nơi định đoạt vận mạng của Trung Hoa. Cuộc nổ súng vẫn tiếp diễn. Giờ đây, cần phải chờ đợi.

Trong phòng bên, Valérie đã ngủ. Ferral nhớ lại một người trong số bạn bè, tàn tật nhưng thông minh, mà ông đã ganh tị vì số nhân tình của anh. Một hôm ông hỏi Valérie về vấn đề này: “Không có gì dễ cảm hơn nơi một người đàn ông bằng sự phối hợp giữa sức mạnh và sự yếu đuối.”, nàng đã nói với ông như vậy. Mặc dù cho rằng không có người nào biện minh bằng cuộc đời mình, ông ta nhớ lại câu nói ấy hơn tất cả những gì nàng tâm sự với ông về nàng.

Thế nhưng ông biết rằng nàng không dành cho ông sự thân ái. Ông phỏng đoán rằng mình đã vuốt ve được tánh tự mãn của nàng; và nàng chờ đợi những cung phụng quí giá nhất để bù lại việc ông bỏ rơi nàng; và không phỏng đoán được là nàng chờ đợi nhiều nhất sự xuất hiện đột ngột của cái phần tâm tánh trẻ con nơi người đàn ông kiêu ngạo này; rằng nàng là nhân tình của ông để cuối cùng ông cảm thấy yêu nàng. Nàng không biết rằng bản tính của Ferral, và cuộc tranh đấu hiện tại của ông, đã giam giữ ông vào trong nhục dục, chớ không trong tình yêu.

Cô thợ may cao lớn giàu có ấy không tỏ ra vụ lợi (hay ít ra, cũng chưa như vậy). Nàng cho rằng nhục dục của nhiều người đàn bà cốt ở sự cởi truồng trước mặt người đàn ông mình vừa ý, và hoàn toàn phù hợp với nhau chỉ có một lần. Thế nhưng đây là lần thứ ba nàng ăn nằm với ông. Ông ta cảm nhận nơi nàng sự kiêu hãnh giống ông. “Ðàn ông thì có những cuộc du hành, đàn bà thì có những nhân tình”, hôm rồi nàng đã nói như vậy. Ông có làm nàng ưa thích không, giống như nhiều người đàn bà khác, vì sự tương phản giữa tính cứng rắn và những sự ân cần mà ông đã biểu lộ cho nàng? Ông không quên rằng ông đã đưa vào cuộc chơi này tình cảm hung bạo nhất của ông, lòng kiêu hãnh. Không phải là không nguy hiểm với một người bạn gái đã nói: “Không có một người đàn ông nào hiểu rằng mỗi cách hoá trang mới, mỗi kiểu áo dài mới, mỗi nhân tình mới đều đòi hỏi một tâm hồn mới...” - kèm theo nụ cười thiết yếu.

Ông bước vô phòng. Mái tóc trải giữa vòng cung rất tròn của hai cánh tay, nàng nằm đưa mắt nhìn ông vừa mỉm cười.

Nụ cười tạo cho nàng sự sống vừa nồng nhiệt vừa say đắm mà sự khoái lạc mang lại. Bình thường, nét mặt của Valérie đượm một vẻ buồn dịu dàng, và Ferral nhớ lại lần đầu tiên trông thấy nàng ông nói rằng nàng có một khuôn mặt không rạng rỡ - khuôn mặt phù hợp với những gì dịu dàng trong đôi mắt màu xám của nàng. Nhưng chỉ cần sự làm dáng nhập cuộc là nụ cười hé miệng thành cánh cung, xếch lên ở khóe môi nhiều hơn ở giữa miệng, phù hợp một cách bất ngờ với mái tóc cắt ngắn uốn thành lọn lớn và đôi mắt lúc bấy giờ kém đi vẻ dịu dàng, sẽ tạo cho nàng, mặc dầu những nét đoan chính thanh lịch ấy, vẻ phức tạp của con mèo hoang. Ferral ưa thích loài vật giống như bất cứ người nào mà sự kiêu hãnh quá lớn không thích hợp với loài người, nhất là ưa thích loài mèo.

Ông cởi đồ trong phòng tắm. Bóng đèn đã bể, và các đồ vật trên bàn rửa mặt trông như ửng màu đỏ, soi sáng bởi các đám cháy. Ông nhìn qua cửa sổ: trên đại lộ, một đám đông đang chuyển động, hàng triệu con cá dưới làn nước màu đen đang bị chấn động; và bất giác ông có ý nghĩ rằng tâm hồn của đám đông ấy đã rời bỏ họ giống như tư tưởng của những người ngủ đang nằm mơ, và tâm hồn ấy cháy lên bằng một mãnh lực hớn hở trong đảm lửa dày đặc kia đã chiếu sáng những lằn ranh của các ngôi nhà.

Khi ông trở ra, Valérie nằm mơ màng và không còn mỉm cười nữa. Phải chăng ông chỉ muốn được thương yêu bởi người đàn bà có nụ cười ấy mà người đàn bà thiếu vắng nụ cười này đã tách ra khỏi như một người đàn bà xa lạ? Chiếc xe lửa bọc sắt thỉnh thoảng nổ súng, như để mừng một chiến thắng: nó vẫn còn nằm trong tay quân đội chánh phủ với trại lính, xưởng chế tạo võ khí và nhà thờ Nga.

- Này cưng, - nàng hỏi, - cưng có gặp lại Clappique không?

Người Pháp nào tại Thượng Hải cũng đều quen biết với Clappique. Valérie đã gặp ông tại một bữa ăn tối hai ngày trước đây; sự kiểu cách của ông khiến nàng thích thú.

- Có. Anh có nhờ ông ta mua dùm vài bức hoạ của Kama.

- Tại các tiệm buôn đồ cổ có bán không ?

- Làm gì có. Nhưng Kama từ Âu châu trở về; trong mười lăm hôm nữa, ông ta sẽ đến đây. Clappique đã mỏi mệt, ông ta chỉ kể có hai câu chuyện thú vị: chuyện một kẻ trộm người Trung Hoa được tha bổng vì đã chui qua một cái lỗ khoét thành hình cây thất huyền cầm trong tiệm cầm đồ nơi mà hắn đến trộm và câu chuyện này: Ðức độ lừng lẫy, từ hai mươi năm nay, có nuôi những con thỏ. Nhà ông ta nằm một bên nha quan thuế nội địa, bên kia là những chuồng thỏ. Các nhân viên quan thuế, một lần nữa lại bị thay thế, đã quên báo trước cho những nhân viên kế vị sự qua lại hàng ngày ấy. Ông ta đi đến, cái giỏ đầy có cặp dưới cánh tay. “Ê kìa! Đưa giỏ đây.” Dưới lớp cỏ, là những đồng hồ, dây chuyền, những bóng đèn điện, máy chụp hình. “Ðây là những thứ mà ông cho thỏ ăn à? Thưa vâng, ông giám đốc nha quan thuế ạ. Và (giọng như đe doạ các con thỏ ấy) nếu chúng không thích những thứ này, chúng sẽ không có thứ gì khác.”

- Ô! Nàng nói, đó là một câu chuyện khoa học; giờ đây em đã hiểu tất cả. Những con thỏ đeo lục lạc, đeo trống anh biết không, tất cả những giống gia súc nho nhỏ xinh xinh ấy sống rất khó chịu trong các phòng trẻ em; em đã rõ chúng từ đâu tới... Ðó cũng là một sự bất công não nề. Câu chuyện buồn thảm ấy của Ðức độ lừng lẫy. Và các tờ báo cách mạng sẽ phản đối dữ dội đấy, theo em nghĩ: vì bởi, sự thật, hãy tin chắc là các con thỏ ấy ăn những thứ ấy.

- Em có đọc chuyện Alice nơi xứ huyền ảo sao, cưng? Giọng nói gần như chế giễu mà ông ta dùng để gọi nàng bằng “cưng” khiến Valérie tức giận.

- Anh không tin là em có đọc sao? Em thuộc nó nằm lòng.

- Nụ cười của em bắt anh nhớ lại con mèo yêu quái không bao giờ hiện thành xương thịt, và người ta chỉ trông thấy có một nụ cười dễ thương làm mê mẩn tâm hồn, phất phơ trong không khí. A! Tại sao trí của đàn bà bao giờ cũng muốn chọn một đối tượng khác hơn là chính họ?

- Chính họ là sao?

- Duyên dáng và thông minh, hiển nhiên là như vậy.

Nàng nghĩ ngợi.

- Cái mà đàn ông gọi như vậy, đó chính là tinh thần phục tùng. Anh chỉ nhận ra nơi một người đàn bà duy có sự thông minh để tán tụng anh. Thật là ổn, ổn biết mấy...

- Đàn bà thì phải hiến dâng, đản ông thì phải chiếm hữu, đó là hai phương cách duy nhất mà con người dùng để tìm hiểu bất cứ điều gì...

Phải chăng cưng đã không tin rằng đàn bà không bao giờ hiến dâng (hay cũng gần như vậy) và đàn ông không chiếm hữu được gì cả? Ðó là một trò đùa: “Tôi tin rằng tôi chiếm hữu được nàng, vậy là nàng tin rằng mình đã bị chiếm hữu.” Thế à? Thật ư? Những gì em sắp nói thật là thậm tệ, nhưng anh có tin rằng đó là câu chuyện cái nút chai cho rằng mình quan trọng hơn cái chai không?

Nơi một người đàn bà, tính tình phóng khoáng quyến rũ Ferral, nhưng tinh thần tự do làm ông ta phẫn nộ. Ông khao khát làm sống lại cái tình cảm hổ thẹn, mà ông tin là nó sẽ giúp ông ảnh hưởng tới người đàn bà: sự hổ thẹn của người tín đồ Thiên chúa giáo, niềm tri ân dành cho sự hổ thẹn phải nhận chịu. Nếu nàng không hiểu thấu được ý định của ông, nàng lại đoán rằng ông ta tách rời khỏi nàng, và, với lại cảm kích vì sự thèm muốn của ông, vui vì ý nghĩ mình có thể tuỳ ý khoá lại sự thèm muốn, nàng nhìn ông, miệng hé ra (vì rằng ông ta sẽ yêu mến nụ cười của nàng) cái nhìn hiến dâng tin chắc rằng, cũng như hầu hết mọi người đàn ông khác, ông ta sẽ xem sự khoái trá mà nàng cảm thấy để quyến rũ ông là sự khoái trá của một lần buông thả.

Ông theo nàng lên giường. Những cái vuốt ve tạo cho Valérie một vẻ mặt ù lì và khép kín mà ông muốn làm biến đổi đi. Ông mong ước một vẻ khác với nhiều nhiệt tình, mong ước khoái lạc làm biến được khuôn mặt Valérie, ông ngỡ rằng đã phá huỷ một mặt nạ, và rằng những gì sâu xa nhất, bí ẩn nhất nơi nàng thiết yếu là những gì ông ta muốn có nơi nàng: trước kia ông chỉ ăn nằm với nàng trong bóng tối. Nhưng vừa khi bàn tay ông nhẹ nhàng tách đôi chân nàng ra là nàng tắt đèn. Ông bật đèn trở lại.

Ông mò mẫm tìm cái bật đèn, và nàng cho đó là một sự bật lầm; nàng lại tắt đèn. Ông bật đèn lên tức thì. Thần kinh căng thẳng, nàng cảm thấy mình cận kề với sự tức cười vừa tức giận; nhưng nàng bắt gặp cái nhìn của ông. Ông đã đẩy cái bật đèn sang một bên, và nàng tin rằng ông ta đang chờ đợi vẻ khoái trá rõ rệt nhất của nàng và sự biển đổi về nhục dục ấy. Nàng biết rằng nàng chỉ thật sự bị chi phối bởi tình dục của nàng vào những giây phút đầu của một cuộc giao tiếp, và vào lúc bất ngờ mà thôi; khi nàng cảm biết nàng không tìm được cái bật đèn sự lạnh nhạt mà nàng quen thuộc xâm chiếm lấy nàng, chạy dọc theo thân trên lên tới đầu núm vú, lên tới đôi môi mà nàng đoán rằng, dưới cái nhìn của Ferral, chúng nở phồng ra một cách vô cảm giác. Nàng chọn sự lạnh nhạt ấy và siết ông vào người nàng.

Valérie nằm ngủ. Hơi thở đều đặn và giấc ngủ khoan khoái làm phồng nhẹ đôi môi, và trông chúng như thất thần sau cơn lạc thú. “Một con người, Ferral thầm nghĩ, một đời sống riêng lẻ, một mình, đơn độc, như cuộc đời mình...” Ông tưởng tượng ông là nàng, nương náu trong tấm thân ấy để cảm nhận cái lạc thú ấy mà ông chỉ có thể xem như là một sự sỉ nhục. “Thật ngu xuẩn, nàng cảm thấy nàng lệ thuộc vào phái của nàng như mình lệ thuộc vào phải của mình, không hơn không kém. Nàng tự cảm thấy giống như một mối dây kết buộc những thèm muốn, nỗi buồn, sự kiêu hãnh, giống như một định mạng... Hiển nhiên như vậy”. Nhưng không phải vào lúc này: giấc ngủ và đôi môi đã buông thả nàng vào một mối nhục dục hoàn toàn, như thể nàng chấp nhận không còn là một con người sống động và tự do, mà là sự biểu lộ thừa nhận một cuộc chinh phục thân xác. Sự yên lặng mênh mông của đêm Trung Hoa, với mùi long não và lá cây, cũng ngủ vùi sâu xuống biển Thái Bình, trùm phủ lên nàng, ngoài thời gian: không một hồi còi tàu, không một tiếng súng. Nàng không lôi kéo theo vào giấc ngủ những kỷ niệm và những hy vọng mà ông ta sẽ không bao giờ chiếm hữu được. Nàng không là gì khác hơn là một cực đoan khác của chính sự khoái lạc của ông. Nàng không bao giờ sống thực: nàng không hề là một cô gái nhỏ.

Tiếng súng đại bác lại vang lên: chiếc xe lửa bọc sắt bắt đầu nổ súng trở lại.

Ngày hôm sau, lúc 4 giờ

Từ nơi cửa tiệm bán đồng hồ được sửa sang thành Trụ sở thường trực, Kyo quan sát chiếc xe lửa bọc sắt. Cách 200 thước phía trước và phía sau xe lửa những phần tử cách mạng đã làm nổ tung đường ray. Chiếc xe lửa đang đậu chắn ngang con đường - im lìm, như chết -, Kyo chỉ trông thấy có hai toa xe, một toa thì kín mít như một toa chở gia súc, toa kia bị đè bẹp dưới pháo tháp của nó, từ đó nhô ra một khẩu đại bác nòng nhỏ. Không một bóng người: không thấy những người bị bao vây núp sau các ghi sê hoàn toàn đóng kín, không cả những người tấn công, núp dài theo các ngôi nhà nhìn xuống đường ray. Sau lưng Kyo, về phía nhà thờ Nga, phía nhà in Thương mại, những tràng súng nổ không ngừng.

Những binh sĩ sẵn sàng trao nộp vũ khí thì không sao cả; những binh sĩ khác thì sắp sửa bị tử hình. Tất cả các khu vực nổi dậy giờ đây đều được võ trang; các đoàn quân chính phủ, mặt trận tan vỡ, trốn chạy về phía Nam Kinh trên những chiếc xe lửa bị phá hoại và qua những lỗ trũng bùn lầy trên các nẻo đường, trong cơn gió sắp mưa. Quân đội Quốc dân đảng sẽ tới Thượng Hải trong vài giờ nữa: những người đưa tin lui tới từng chặp một. Tchen đi vào, vẫn mặc y phục thợ, ngồi xuống bên cạnh Kyo, nhìn chiếc xe lửa. Những người của gã đang canh phòng phía sau một chướng ngại vật, cách đó trăm thước, nhưng không được phép tấn công.

Khẩu đại bác trên xe lửa, nhìn nghiêng, lay động. Giống như những đám máy xuống rất thấp, những cụm khói, dấu vết sống sót cuối cùng của đám cháy đã tắt, lướt qua trước mặt gã.

- Tôi không tin chúng còn nhiều đạn, - Tchen nói.

Khẩu đại bác nhô ra khỏi pháo tháp như một viễn vọng kính nhô ra khỏi một phòng quan sát, và lay động bằng một sự xê dịch thận trọng; mặc dầu lớp sắt bọc, sự di động ngập ngừng ấy khiến nó có vẻ mỏng manh.

- Ngay khi những khẩu đại bác của chúng ta được gởi đến... Kyo nói.

Khẩu đại bác mà hai người đang nhìn ngắm ngừng lay động, và khai hoả. Ðáp lại là một loạt đạn nổ lốp đốp vào lớp sắt bọc. Một khoảng trời ló sáng trên nền trời xám bạch ngay bên trên chiếc xe lửa. Một người đưa tin mang đến Kyo một vài tài liệu.

- Chúng ta không chiếm được đa số tại Uỷ ban. - Người này nói.

Buổi họp các uỷ viên diễn ra một cách lén lút do Quốc dân đảng tổ chức, trước cuộc nổi dậy, đã bầu lên một Uỷ ban Trung ương gồm 26 ủy viên, trong số đó có 15 người Cộng sản; nhưng Uỷ ban này đến lượt nó vừa bầu lên một Uỷ ban chấp hành sắp sửa tổ chức Uỷ ban hành chánh tỉnh. Sự hoạt động có hữu hiệu hay không là do nơi Uỷ ban hành chánh; ở đó, Cộng sản không còn chiếm đa số.

Một người đưa tin thứ hai, mặc quân phục, đi đến, dừng lại nơi khung cửa.

- Xưởng chế tạo vũ khí đã chiếm xong.

- Chiến xa thì sao ? - Kyo hỏi.

- Ðã lên đường đi Nam Kinh.

- Anh từ quân đội đến à?

Đó là một binh sĩ thuộc đệ nhất sư đoàn, sư đoàn gồm nhiều phần tử Cộng sản nhất. Kyo lên tiếng hỏi anh ta. Anh ta tỏ ra cay đắng: người ta không hiểu Hiệp hội lao động quốc tế phục vụ cho ai đây. Tất cả đều được dành cho giai cấp tư sản của Quốc dân đảng; cha mẹ của binh sĩ, nông dân gần như tất cả đều bị bắt buộc phải đóng góp nặng nể vào quĩ chiến tranh, trong khi giai cấp tư sản chỉ bị đánh thuế một cách gia giảm. Nếu họ muốn chiếm ruộng đất, lệnh trên lại ngăn cấm họ. Cuộc chiếm đóng Thượng Hải sắp thay đổi tất cả những chuyện đó, các binh sĩ Cộng sản đã nghĩ như vậy; anh ta, trong vai trò người đưa tin, thì không lấy gì làm chắc chắn. Anh ta đưa ra những lý luận vụng về, nhưng người ta cũng dễ rút ra từ đó những lý luận nào xác đáng nhất. Vệ binh đỏ, Kyo trả lời, các dân quân thợ thuyền sắp được thành lập tại Thượng Hải: tại Hán Khẩu có trên 200.000 người thất nghiệp. Cả hai, từng chặp một, ngừng nói, lắng tai.

- Hán Khẩu, - anh ta nói, - tôi biết còn Hán Khẩu... Giọng nói chói tai của họ nghe như nán lại gần đâu đây, được giữ lại bởi lớp không khí giao động như, chính nó, cũng chờ đợi tiếng súng đại bác. Cả hai đều nghĩ đến Hán Khẩu “thành phố được kỹ nghệ hoá nhất trên toàn cõi nước Trung Hoa”. ở đó, người ta tổ chức một hồng quân mới; ngay vào giờ phút này những khu vực thợ thuyền tại đó cũng đã học cách sử dụng súng...

Ðôi chân bạnh ra, nắm tay đặt trên đầu gối, Tchen há miệng nhìn người đưa tin, và không nói gì cả.

- Mọi sự tùy thuộc nơi Tỉnh trưởng Thượng Hải, - Kyo lặp lại. – Nếu ông ta đứng về phía chúng ta, không cần gì phải chiếm đa số. Nếu ông ta khuynh hữu...

Tchen nhìn đồng hồ. Trong tiệm bán đồng hồ này, có ít ra ba mươi cái đồng hồ treo, được lên giây hay đã ngừng chạy, chỉ những giờ khác nhau. Từng loạt đạn dồn dập tiếp nối nhau như mưa bấc. Tchen lưỡng lự không muốn nhìn ra bên ngoài; gã không làm sao rời mắt khỏi cái thế giới được làm bằng những cử động của đồng hồ thản nhiên trong cuộc cách mạng. Động tác của những người đưa tin đi đã giải thoát gã: cuối cùng gã quyết định nhìn lên đồng hồ tay của mình.

- Bốn giờ. Có thể biết được...

Tchen nhấc máy điện thoại lên, đặt ống nghe xuống lại một cách giận dữ, quay về phía Kyo:

- Tỉnh trưởng đứng về phe hữu.

- Trước hết phải mở rộng cuộc cách mạng, và sau đó gây ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng... Kyo đáp, nghe như đó là một câu hỏi hơn là một câu trả lời. Hiệp hội lao động quốc tế ở đây hình như chủ trương trao quyền cho giai cấp tư sản. Tạm thời... Chúng ta sẽ bị cướp công. Tôi có gặp mấy người đưa tin ngoài mặt trận: mọi phong trào thợ thuyền tại hậu phương đều bị cấm đoán. Tưởng Giới Thạch đã ra lệnh bắn vào những người biểu tình trong khi yêu cầu tránh gây nhiều thiệt hại.

Một tia nắng rọi vào. Trên kia, khoảng trời xanh lơ lan rộng ra. Ðường phố ngập nắng. Mặc dù những loạt đạn chiếc xe lửa bọc sắt, dưới ánh nắng, trông như bị vứt bỏ đấy. Nó nổ súng lần nữa. Kyo và Tchen giờ đây bớt chú ý quan sát nó: có lẽ quân địch đang ở gần với hai người hơn, nơi chỗ họ đang núp. Kyo lo ngại vô cùng, mơ hồ nhìn ra vỉa hè, chói sáng dưới ánh mặt trời thoáng qua ấy. Một cái bóng đổ dài. Anh ngẩng đầu lên: Katow.

- Trước mười lăm hôm nữa, anh ta lên tiếng trở lại, chính quyền Quốc dân đảng sẽ ngăn cấm các phân đội xung kích của chúng ta. Tôi vừa mới đến gặp các sĩ quan của chúng, được phái về từ mặt trận để thăm dò chúng ta, nói bóng gió một cách xảo quyệt rằng vũ khí của chúng tối tân hơn của chúng ta. Giải giới đám dân quân thợ thuyền: chúng sẽ có cảnh sát, uỷ ban, tỉnh trưởng, quân đội và vũ khí. Và chúng ta đã nổi dậy để đi tới tình trạng ấy. Chúng ta cần phải tách khỏi Quốc dân đảng, để đảng Cộng sản đứng riêng, và nếu có thể dành quyền hành cho Đảng. Đó không phải là một ván cờ, mà là sự lưu tâm đến thành phần vô sản một cách nghiêm chỉnh, trong tất cả công cuộc này. Chúng ta khuyên họ những gì đây ?

Tchen nhìn đôi bản chân nhỏ thỏ và dơ dáy của gã, để trần trong đôi guốc.

- Những người thợ có lý khi họ đình công. Chúng ta lại ra thêm lệnh chấm dứt đình công. Nông dân muốn chiếm hữu ruộng đất. Họ có lý khi hành động như vậy. Chúng ta ngăn cấm họ.

Giọng nói của anh không nhấn mạnh những chữ nào dài nhất.

- Những khẩu hiệu của chúng ta là do Quốc dân đảng đưa ra, Kyo lên tiếng trở lại, cộng thêm một vài lời hứa hẹn. Nhưng Quốc dân đảng dành cho giai cấp tư sản những gì chúng hứa hẹn, và chúng ta không dành cho thợ thuyền những gì chúng ta hứa hẹn với họ.

- Thôi đủ rồi, Tchen nói mà không ngước mắt lên. Trước tiên, cần phải giết Tưởng Giới Thạch.

Katow im lặng lắng nghe.

- Ðó là việc tương lai, cuối cùng anh lên tiếng. Hiện tại, chúng đang giết hại người của chúng ta. Phải. Và thế nhưng, này Kyo, tôi không chắc rằng tôi chia sẻ ý kiến của anh, anh cũng thấy rõ. Buổi đầu của cuộc cách mạng khi tôi còn là phần tử xã hội chủ nghĩa cách mạng, chúng tôi đã chống lại chiến thuật của Lénine tại Ukraine. Antonov, chính uỷ tại đó, đã bắt giữ các chủ hầm mỏ và gán cho họ mười năm khổ sai vì tội phá hoại. Không xét xử. Với uy quyền chính uỷ tại Tchéka, Lénine đã khen tặng hắn; chúng tôi đến phản đối. Các chủ hầm mỏ là những nhà khai thác đích thực, anh cũng biết, và nhiều người trong số chúng tôi đi xuống hầm mỏ, như thể những người bị kết án; vì vậy chúng tôi đã nghĩ là cần phải đặc biệt tỏ ra công bằng đối với họ, để làm gương. Thế nhưng, nếu chúng ta trả tự do cho họ, thành phần vô sản sẽ không hiểu gì cả. Lénine đã có lý. Sự công bằng ở về phía chúng tôi, nhưng Lénine đã có lý. Và chúng tôi cũng chống lại các quyền hành đặc biệt của Tchéka. Cần phải lưu ý. Khẩu hiệu hiện tại tốt lắm: mở rộng cuộc Cách mạng, và sau đó gây ảnh hưởng sâu trong quần chúng. Lénine không có nói liền sau đó: “Mọi quyền hành đều tập trung vào các Xô viết.”

- Nhưng ông ta không bao giờ nói: Quyền hành cho các người mensơvich! Không có một tình thế nào có thể bất buộc chúng ta giao trả vũ khí cho Quốc dân đảng. Không đời nào! Vì nếu vậy, cuộc cách mạng bị xem như đã thất bại, và chỉ còn có việc...

Một sĩ quan Quốc dân đảng đi vào, người nhỏ bé, cũng nhác, mường tượng như người Nhật. Họ chào nhau.

- Quân đội sẽ đến đây trong nửa giờ nữa, người sĩ quan nói. Chúng tôi thiếu vũ khí. Các ông có thể giao lại cho chúng tôi chừng bao nhiêu?

Tchen đi loanh quanh trong phòng. Katow chờ đợi.

- Các dân quân thợ thuyền cần phải giữ lại vũ khí cho họ, - Kyo nói:

- Lời yêu cầu của tôi được sự chấp thuận của nhà cầm quyền tại Hán Khẩu, - người sĩ quan trả lời.

Kyo và Tchen mỉm cười.

- Tôi yêu cầu các ông hãy hỏi lại xem, - người sĩ quan lên tiếng trở lại.

Kyo quay điện thoại.

- Cho dù là lệnh..., - Tchen bắt đầu càu nhàu.

- Ðược rồi! - Kyo nói lớn lên.

Kyo lắng nghe. Katow cầm lên ống nghe thứ hai. Hai người gác máy trở lại.

- Tốt lắm, - Kyo nói. - Nhưng những người của chúng tôi còn đang giao tranh.

- Pháo binh sẽ đến đây trong chốc lát, người sĩ quan nói. Chúng tôi sẽ dẹp xong những thứ ấy...

Người sĩ quan chỉ tay về chiếc xe lửa bọc sắt, đang nằm im dưới ánh mặt trời.

- ... tự tay chúng tôi. Các ông có thể giao trả vũ khí cho các toán quân vào chiều mai không? Chúng tôi rất cần. Chúng tôi tiếp tục tiến về Nam Kinh.

- Tôi không tin có thể thu về quá nửa số vũ khí.

- Tại sao?

- Tất cả những phần tử Cộng sản sẽ không chấp thuận giao trả vũ khí.

- Dù Hán Khẩu đã ra lệnh?

- Dù Mạc Tư Khoa đã ra lệnh cũng vậy. ít ra, cũng không giao trả lập tức.

Họ cảm thấy người sĩ quan tức giận, mặc dầu không để lộ ra ngoài.

- Ðể xem các ông có thể làm được gì, người sĩ quan nói. Tôi sẽ phái người đến vào khoảng 7 giờ.

Người sĩ quan bước ra.

- Anh có đồng ý giao trả vũ khí không? – Kyo hỏi Katow.

- Tôi sẽ cố tìm hiểu. Trước hết, cần phải đến Hán Khẩu, anh cũng thấy rõ chớ. Hiệp hội lao động quốc tế muốn gì đây? Trước tiên phục vụ cho quân đội Quốc dân đảng để thống nhất Trung Hoa. Sau đó, bằng đường lối tuyên truyền và những đường lối khác, phát triển cuộc Cách mạng tự nó biến đổi từ Cách mạng dân chủ trở thành Cách mạng xã hội chủ nghĩa.

- Cần phải giết Tưởng Giới Thạch, - Tchen nói.

- Tưởng Giới Thạch sẽ không để chúng ta giết ông ta đâu. - Kyo trả lời. - Ông ta không thể để như vậy. Ở đây ông ta chỉ có thể duy trì địa vị bằng cách nương tựa vào quan thuế và sự đóng góp của giai cấp tư sản, và giai cấp này không đài thọ không cho ông ta: ông ta sẽ phải hoàn trả lại bằng cách cắt cổ những phần tử Cộng sản.

- Anh nói mà như không nói gì cả. - Tchen vội lên tiếng.

- Cho tôi xin hai chữ bình an, - Katow nói. – Anh không nghĩ rằng âm mưu giết Tưởng Giới Thạch sẽ không được sự đồng ý của Uỷ ban Trung ương, hoặc ít ra của Uỷ viên hiệp hội lao động quốc tế sao?

Một tiếng ồn ào xa xôi dần dần lấp đầy sự yên lặng.

- Anh đi Hán Khẩu à? - Tchen hỏi Kyo.

- Tất nhiên.

Tchen đi loanh quanh trong phòng bên dưới các quả lắc của đồng hồ reo và các con chim gáy đang tiếp tục đánh nhịp.

- Những gì tôi nói rất giản dị, - cuối cùng gã lên tiếng trở lại. Ðó là những gì cốt yếu duy nhất cần phải làm. Hãy báo trước cho họ.

- Anh sẽ chờ lệnh?

Kyo biết rằng nếu Tchen ngập ngừng, thay vì trả lời, thì đó không phải vì Katow đã thuyết phục được y. Mà là vì không có một mệnh lệnh hiện tại nào của Hiệp hội lao động quốc tế làm thoả mãn được sự đam mê sâu xa đã biến gã thành phần tử cách mạng; nếu vì kỷ luật, gã có thừa nhận những mệnh lệnh đó, thì gã cũng sẽ không còn có thể hoạt động được nữa. Kyo đưa mắt nhìn, phía dưới những đồng hồ, tấm thân thù nghịch ấy đã hy sinh cho cách mạng cuộc đời mình và cuộc đời những kẻ khác, và cuộc cách mạng có thể sẽ ném gã trở lại nỗi cô đơn, cùng với những kỷ niệm giết người. Là người đồng đẳng với gã vừa chống lại gã, Kyo không còn làm sao gần lại với Tchen cũng như tách rời khỏi gã. Dưới tình thân ái giữa những người chiến sĩ, anh cảm thấy sự đoạn tuyệt có thể xảy ra như thể nhận thấy được triệu chứng khủng hoảng nơi một người bạn bị tâm bịnh hoặc bị bệnh điên khùng, vào những lúc gã tỏ ra sáng suốt nhất.

Tchen tiếp tục đi loanh quanh trở lại; gã lắc đầu như để phản đối, cuối cùng mới lên tiếng: “Tốt lắm”, vừa nhún vai, như thể gã trả lời như vậy để làm thoả mãn một vài ước muốn trẻ con của Kyo.

Tiếng ồn ào trở lại, mạnh mẽ hơn, nhưng cũng mơ hồ đến nỗi họ phải thật chú ý lắng tai mới phân biệt nó gồm những tiếng gì.

Hình như tiếng ồn ào cất lên từ lòng đất.

- Không, - Kyo nói, - đó là những tiếng kêu la.

Những tiếng kêu la đến gần lại, và trở nên rõ ràng hơn.

- Họ sẽ chiếm nhà thờ Nga chăng? - Katow hỏi.

Nhiều phần tử chính phủ đã trốn lánh ở đó. Nhưng những tiếng kêu la đến gần lại như thể chúng từ ngoại ô đổ về trung tâm thành phố. Mỗi lúc một thêm mạnh mẽ. Không thể nào phân biệt các lời nói. Katow liếc mắt về phía chiếc xe lửa bọc sắt.

- Chúng sẽ được tiếp viện chăng?

Những tiếng kêu la, vẫn không để phân biệt một lời nói nào, trở nên mỗi lúc một gần thêm, như thể có một vài tin tức trọng đại được chuyển từ đám đông này sang đám đông khác. Một tiếng động khác, tranh tiếng cùng những tiếng kêu la nghe lớn dần, cuối cùng trở nên rõ rệt: tiếng đất chuyển động dưới bước chân người.

- Quân đội, - Katow nói. - Thuộc phe chúng ta.

Không còn nghi ngờ gì nữa. Những tiếng kêu la ấy là những tiếng hoan hô. Vẫn chưa làm sao phân biệt được với những tiếng la hét vì sợ hãi; Kyo đã từng nghe những tiếng la hét như vậy của đám đông bị cơn lụt đuổi theo. Tiếng chân thình thịch trở thành tiếng sóng vỗ bập bềnh, kế vang lên thình thịch trở lại: các binh sĩ dừng bước và đổi sang một hướng khác.

- Họ đã được báo trước là chiếc xe lửa bọc sắt đang ở đây, - Kyo nói.

Những người trên chiếc xe lửa hẳn nhiên đã nghe những tiếng kêu la ấy không rõ rệt bằng họ, nhưng tiếng chân thình thịch vang dội vào lớp sắt bọc ấy lại nghe rõ hơn.

Một tiếng ầm ĩ khủng khiếp làm cả ba người kinh ngạc: chiếc xe lửa nổ súng, súng liên thanh, súng đại bác, súng trường đua nhau nhả đạn. Katow từng đi trên một chiếc xe lửa bọc sắt tại Sibérie; trí tưởng tượng bắt anh phải theo dõi sự hấp hối của chiếc xe lửa bọc sắt này. Các sĩ quan đã ra lệnh mặc tình nổ súng. Trong tháp pháo của chúng, chúng có thể làm được những gì đây, trên một tay là máy điện thoại, khẩu súng lục trên tay kia? Mỗi binh sĩ hẳn nhiên đã đoán ra được những tiếng chân thình thịch ấy. Chúng chuẩn bị để chết chung với nhau, hay sẽ nhảy xổ vào nhau trong con tàu ngầm khổng lồ không bao giờ còn trồi lên mặt nước trở lại?

Cả chiếc xe lửa cũng run lên giận dữ. Nhả đạn tứ phía, bị lay lắc vì chính sự giận dữ của nó, chiếc xe lửa như muốn bứng khỏi đường ray, như thể sự điên cuồng tuyệt vọng của những người ở bên trong nó đã được truyền sang bộ áo giáp tù túng ấy và chính nó cũng đang giãy giụa. Những gì trong cơn cuồng động ấy đã mê hoặc Katow không phải chính là cơn say chết người đã nhận chìm những người bên trong xe lửa, mà là sự run rẩy của một cái áo bó chặt một người trọng tội: anh ta phác một cử động tay về phía trước để chứng tỏ rằng anh ta không bị tê liệt. Ba mươi giây trôi qua, tiếng nổ rầm rầm ngưng lại. Bên trên tiếng rung chuyển dằng dặc của những bước chân và tiếng tích tắc của tất cả đồng hồ trong tiệm là một tiếng gầm vang của loại sắt nặng nề: trọng pháo của quân đội cách mạng.

Đằng sau lớp sắt bọc, một người trên chiếc xe lửa lắng nghe tiếng động ấy như đó chính là tiếng gọi của tử thần.

❀ ❀ ❀

[1] Minerve: nữ thần của nghệ thuật, theo thần thoại Hy Lạp.

m thuốc phiện, bên trên những cây xương rồng nho nhỏ do ông sưu tầm. Bên dưới cái mâm, một tấm ảnh: Kyo. Ông lôi tấm ảnh ra, nhìn ngắm nó không có ý nghĩ nào rõ rệt, chìm đắm một cách chua chát vào trong niềm tin, ở vào chỗ ông, không người
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của André Malraux

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.