TChen có thử vén mùng lên không? Hay là gã sẽ đâm xuyên qua lớp mùng? Sự lo lắng làm ruột gan thắt lại; gã biết rõ tính cương quyết của mình, nhưng giờ phút này gã chỉ có thể nghĩ đến nó một cách ngờ nghệch thôi, vì gã đang bị mê hoặc bởi mớ vải mỏng từ trần nhà buông rũ xuống một thân người còn mờ hơn cả một bóng mờ, và chỉ nhô ra có bàn chân bị giấc ngủ làm nghiêng lệch đi phần nào, một bàn chân dù sao cũng vẫn còn sống động - được làm bằng da thịt người. Ánh sáng duy nhất đổ xuống từ cao ốc bên cạnh: ánh đèn điện mờ nhạt chiếu sáng một khoảng hình chữ nhật rộng lớn, cắt bởi những chấn song cửa sổ; có một chấn song đổ bóng dài đến chiếc giường ngay phía bên dưới bàn chân như cốt để làm tăng thêm khối lượng và sự sống của nó. Bốn năm tiếng còi cùng lúc kêu thét lên. Bị lộ tung tích à? Kháng cự, phải kháng cự với những kẻ thù tấn công lại mình, những kẻ thù đang thức giấc!
Làn sóng ồn ào lắng xuống trở lại: một vài chuyện rắc rối xe cộ gì đó (dưới kia, nơi thế giới loài người, vẫn còn có những chuyện rắc rối xe cộ...). Gã quay lại đối diện với vẻ mềm mại của lớp vải mỏng và của khoảng ánh sáng hình chữ nhật, im lìm vào đêm ấy, vào một đêm mà thời gian ngưng đọng lại.
Gã lặp lại trong đầu rằng người này sẽ phải chết. Rõ đần độn: vì gã biết là chính gã sẽ giết hắn. Có bị bắt giữ hay không, có bị xử tử hay không, không hề gì. Chỉ có bàn chân kia là đáng kể, cũng như con người mà gã phải giết nhưng không để hắn có thể chống cự lại – vì, nếu thế, hắn sẽ kêu cứu.
Mắt nhấp nháy, Tchen khám phá chính mình, đến buồn nôn, rằng gã không giữ vai trò người chiến sĩ hằng mong ước, mà là vai trò một thầy tư tế. Và không chỉ có tế các thần thánh gã đã chọn: dưới sự hiến tế cho cách mạng của gã là một thế giới thâm u mà cạnh đó cái đêm thắc thỏm lo âu này như ngập tràn ánh sáng. “Ám sát không chỉ có nghĩa là giết chết...” Trong túi quần, đôi bàn tay ngập ngừng của gã nắm giữ bên tay mặt một lưỡi dao cạo xếp lại, bên trái là một con dao găm ngắn lưỡi, gã vùi chúng vào túi càng sâu càng hay, như thể đêm tối không đủ để che dậy những cử chỉ của gã. Lưỡi dao cạo thì chắc ăn hơn, nhưng Tchen cảm thấy không bao giờ có thể dùng đến nó; con dao găm khiến gã cảm thấy ít ghê tởm hơn. Gã buông rời lưỡi dao cạo mà bề sống nằm gọn bên trong những ngón tay co quắp của mình; con dao găm đang nằm trần trong túi, không có bao. Tchen chuyển nó sang tay mặt và dán chặt nó vào lớp áo. Gã khẽ giơ cánh tay mặt lên, nghe kinh ngạc vì sự yên lặng đang bắt đầu vây quanh, như thể cử chỉ của gã cần phải gây nên một vài sự đổ vỡ nào đó. Nhưng không, không việc gì xảy ra cả: cũng vẫn chính là gã phải hành động.
Bàn chân ấy sống động như một con vật đang ngủ. Nó có là phần cuối cùng của một thân thể hay không? “Mình trở nên ngu xuẩn rồi sao?” Cần phải ghé mắt nhìn thân thể ấy. Ghé mắt vào đó, vào cái đầu ấy; muốn vậy, cần phải bước vào vùng ánh sáng, làm đổ chiếc bóng mập và lùn của ta xuống mặt giường. Xác thịt sẽ kháng cự như thế nào? Co quắp lại, Tchen ấn mạnh con dao găm lên cánh tay trái. Sư đau đớn (gã không còn có thể nghĩ đó là cánh tay của mình), ý nghĩ về hình phạt không tránh khỏi ấy nếu người nằm ngủ chợt thức giấc đã khiến gã cảm thấy nhẹ nhõm trong giây phút: thà chịu hình phạt còn hơn là thở bầu không khí điên cuồng này. Gã bước đến gần: quả đúng là người gã đã trông thấy, hai tiếng đồng hồ trước đây, ngoài ánh sáng. Bàn chân, gần như chạm vào cái quần dài của Tchen, đột nhiên xoáy vòng giống như một chìa khóa, trở về vị trí của nó trong đêm tối yên tĩnh. Có thể là người nằm ngủ cảm thấy có một sự hiện diện nào đó, nhưng một cách mơ hồ nên hắn không thức giấc... Tchen rùng mình: một côn trùng chạy trên lớp da của gã. Không; đó là máu của chính cánh tay gã chảy từng giọt xuống. Và cũng vẫn cái cảm giác say sóng ấy...
Chỉ có một cử động thôi, và người kia sẽ tắt thở. Giết hắn, không phải là điều đáng kể: chính sự va chạm mới khó lòng thực hiện. Và cần phải đâm cho chính xác. Người ngủ, nằm ngửa, chính giữa chiếc giường đóng theo kiểu Âu châu, chỉ mặc có một cái quằn đùi ngắn, nhưng, dưới lớp da bóng mỡ của hắn, gã không trông thấy rõ mạn sườn. Tchen cần phải lấy những đầu núm vú lờ mờ làm điểm nhắm. Gã biết rằng đâm từ trên xuống dưới sẽ khó khăn nhiều. Thế nên gã giơ con dao găm lên không, nhưng núm vú bên trái cách xa gã nhiều hơn: gã cần phải thẳng cánh tay để đâm xuyên qua lưới mùng, bằng một cử động theo hình cánh cung, giống như khi tung ra một cú móc ngang. Gã trở bộ con đao găm: lưỡi dao nằm theo chiều ngang. Đâm vào thân thể im lìm này cũng khó khăn không khác nào đâm vào một xác chết, có thể cũng vì cũng những lý do giống nhau. Như bị thúc đẩy bởi ý nghĩ chết chóc ấy, một tiếng thở mạnh vang lên.
Tchen không thể nào lủi bước được nữa, tay chân trở thành hoàn toàn mềm nhũn. Nhưng tiếng thở nghe điều hòa: người nằm ngủ không chỉ thở, hắn ngáy. Hắn trở nên sống dộng, dễ bị thương tổn trở lại: và, cùng lúc, Tchen cảm thấy lúng túng. Người nằm ngủ bằng một cử động nhẹ nhàng khẽ nghiêng mình sang bên phải. Hắn sắp sửa thức giấc! Bằng một nhát dao như dùng để đâm thủng một mảnh ván, Tchen chận lại cử động của người nằm ngủ trong một tiếng vải mủng bị xé ra, chen lẫn với một tiếng va chạm không nghe rõ lắm. Gã cảm thấy thân người bị dấy bật trở lên về phía gã bởi lò xo giường bằng kim khí. Gã ghìm chặt cánh tay xuống một cách ngây dại để kềm giữ người nằm ngủ: Đôi chân cũng gấp trở lên ngực, như thể bị cột lại, đột nhiên duỗi dài ra. Ðáng lẽ gã phải đâm thêm một nhát nữa, nhưng làm cách nào để rút con dao găm ra? Thân người nằm ngủ vẫn nghiêng sang một bên, dao động, và, mặc dù sự co quắp vừa mới lay lắc hắn, Tchen vẫn có cảm tưởng là đã ghìm cứng hắn xuống giường bằng con dao ngắn lưỡi mà trọn cả khối người của gã đang đè lên đó. Qua lỗ hổng to rộng của cái mùng, gã trông rất rõ người hắn: mí mắt mở ra - có thể hắn đã thức giấc - đôi mắt trắng dã. Dọc theo con dao găm máu bắt đầu rỉ ra, máu màu đen dưới ánh sáng lờ mờ ấy. Người nằm ngủ trong thân xác sẵn sàng ngã trở lại xuống một bên vẫn còn mong tìm thấy sự sống. Tchen không thể nào buông rời con dao găm. Xuyên qua món vũ khí, cánh tay cứng nhắc và cái vai đau đớn của gã, một niềm lo lắng chạy từ thân người nằm ngủ sang đến người gã, đến tận cùng lồng ngực, con tim thắc thỏm của gã, vật duy nhất còn máy động trong căn phòng. Gã hoàn toàn bất động; máu tiếp tục chảy từ cánh tay trái của gã dưới mắt gã hình như đó là của người nằm ngủ; ngoại trừ một điều gì khác lạ sực xảy đến, gã bỗng dưng tin chắc rằng người này đã chết rồi. Nén hơi thở, gã tiếp tục duy trì bộ nằm ấy của hắn, trong ánh sáng im lìm và mờ đục, trong nỗi quạnh hiu của căn phòng. Không một dấu vết gì cho thấy có cuộc xô xát đã xảy ra, kể cả lằn rách của vải mùng như tách ra làm hai mảnh: chỉ có sự vắng lặng và một niềm ngây dại giày vò nhận chìm gã, tách rời gã khỏi thế giới người sống, và gã bám víu vào con dao găm ấy. Những ngón tay mỗi lúc một siết chặt thêm, nhưng các thớ thịt nơi cánh tay gã buông lơi và nguyên cả cánh tay bắt đầu run bần bật, giống như một sợi dây. Đó không phải là cơn sợ hãi, đó là một sự khiếp đảm vừa đáng tởm vừa trang nghiêm mà gã đã không từng trải qua nữa kể từ ngày thơ ấu: gã đứng một mình với cái chết, một mình ở một nơi không người, bị giày vò bầm dập vì sự ghê tởm cùng lúc với mùi vị của máu. Gã buông được những ngón tay ra. Thân người nằm ngủ từ từ ngã sấp xuống: cán dao xê dịch, trên mặt giường một vết lờ mờ lan ra, lớn dần trông giống như một sinh vật. Và bên cạnh, bóng của hai lỗ tai nhọn hiện ra, cũng lớn dần theo vết máu.
Cửa ra vào gần đó, bao lơn thì xa hơn, nhưng cái bóng thứ hai ấy đổ xuống từ bao lơn. Mặc dù không tin chuyện quỉ thần, Tchen cũng vẫn bị tê cứng cả người không làm sao quay lại. Gã đánh thót lên: một tiếng mèo kêu. Cử động lại được phần nào, gã mới đánh liều nhìn thử. Ðó là một con mèo đã vào bằng ngả cửa sổ với những bước chân lặng lẽ, mắt đăm đăm nhìn gã. Một cơn giận dữ điên cuồng bừng lên trong gã theo với cái bóng mỗi lúc một tiến tới; không có một cái gì thuộc về đời sống được phép chui qua cái vùng tàn bạo nơi mà gã bị ném vào: người nào trông thấy gã cầm con dao ấy sẽ ngăn trở gã ngoi lên lại với thế giới loài người. Gã mở lưỡi dao cạo ra, bước tới một bước: con vật trốn thoát ra bao lơn.
Tchen thấy mình đối diện với thành phố Thượng Hải. Lộng lẫy bởi niềm lo lắng của gã, đêm sôi sục giống như một đám khói đen khổng lồ đầy những đóm sáng; theo với nhịp thở của gã mỗi lúc một vơi bớt sự hổn hển, đêm im lìm trở lại và giữa những lớp mây, các vì sao hiện ra trở lại trong vòng luân hành vô tận của chúng, bao phủ lấy gã với khí trời mát mẻ hơn thổi vào từ bên ngoài. Một hồi còi vang lên, sau đó mất vào sự thanh tĩnh day dứt ấy. Dưới kia, hun hút phía dưới kia, những ánh sáng hắt lên từ mặt đường nhựa ướt át, từ những đường ray mờ nhạt, máy đập nhịp sống của những người không giết hại người khác. Hàng triệu đời sống dưới ấy, và tất cả đều khước từ đời sống của gã; những lời buộc tội thảm thiết ấy có nghĩa gì không bên cạnh cái chết đã buông rời gã, như chảy bên ngoài thân xác gã, giống như máu của người nằm ngủ? Nguyên cả khối bóng mờ im lìm hay lấp lánh ấy chính là đời sống, như dòng sông, như mặt biển vô hình phía xa kia - như mặt biển... Hít lấy khí trời vào tận cùng lồng ngực, gã như cảm thấy bắt lại được với đời sống trong một niềm tri ân không cùng, những giọt nước mắt chực chờ rơi xuống, tâm thần gã rối loạn không kém gì lúc nãy. “Phải chuồn đi...” gã đứng nhìn sự lưu động của những chiếc xe hơi, những người đi bộ phía dưới chân gã trên đường thắp sáng, tựa như người mù được chữa lành đôi mắt đứng ngắm cảnh, như một người đói dùng bữa ăn. Khát khao sự sống, gã muốn chạm vào những vật thể ấy. Bên kia dòng sông, một hồi còi vọng dài theo chân trời: giờ thay phiên của thợ làm đêm, tại xưởng chế tạo vũ khí. Bọn thợ ngu đần cứ việc đến chế tạo vũ khí dùng để giết những người chiến đấu cho giai cấp thợ thuyền! Thành phố thắp sáng này có sẽ vẫn bị chiếm hữu bởi nhà độc tài quân sự đang cai trị nó như thể đó là một cánh đồng hay không, nó có sẽ mãi mãi như một đàn cừu, nằm trong tay những người cầm đầu cuộc chiến tranh và thương mại Tây phương hay không? Hành động giết người của gã đã cướp mất của các xưởng chế tạo vũ khí Trung Hoa một thời gian làm việc lâu dài. Cuộc nổi dậy sắp tới nhằm giành lấy Thượng Hải cho các đoàn quân cách mạng không có được hai trăm khẩu súng. Cuộc nổi dậy cần đến những khẩu súng tay (khoảng ba trăm khẩu) mà người trung gian, kẻ nằm chết kia vừa thương lượng bán cho chính phủ. Trong khi các phần tử nổi dậy, mà hành động đầu tiên là tước của cảnh sát để võ trang cho các đoàn quân của họ, nếu có được số súng này, sẽ dễ dàng thành công hơn. Nhưng, từ mười phút trôi qua, Tchen đã không một lần nghĩ đến. Và gã chưa lấy tờ giấy đã khiến gã giết hắn. Quần áo máng nơi chân giường bên dưới cái mùng. Gã tìm tòi trong các túi. Khăn tay, thuốc điếu... Không thấy cái bóp. Căn phòng vẫn như trước: mùng, tường vôi trắng, khung ánh sáng có hình chữ nhật hẳn hoi; vụ giết người đã như thể không thay đổi gì cả!... Gã luồn bàn tay bên dưới cái gối nằm, mắt nhắm lại. Gã có cảm giác là cái bóp, quá nhỏ, chẳng khác nào một túi tiền. Cái đầu người chết nhẹ bỗng trên gối nằm, càng làm tăng thêm sự lo lắng của gã khiến người chết trông như vừa mới tắt thở. Có phải gã giết hắn thêm một lần nữa không? Nhưng cái nhìn của gã vừa bắt gặp một đôi mắt trắng dã, và máu trên tấm chăn giường. Để lục lạo cái bóp, gã lùi lại phía có ánh sáng; ánh sáng là của một tiệm ăn, đầy những tiếng ồn ào gây nên do các tay chơi mạt chược. Gã tìm thấy tài liệu, giữ lấy cái bóp, băng qua căn phòng bằng những bước chân gần như chạy, khóa hai vòng cửa phòng, bỏ chìa khóa vào trong túi. Ở đầu hành lang khách sạn - gã cố chậm bước lại - không có thang máy. Gã sẽ bấm chuông chăng? Gã xuống cầu thang, ở tầng dưới, nơi dành để khiêu vũ, uống rượu và đánh bi da, khoảng mươi người đang chờ thang máy. Gã nối gót theo họ, “ả vũ nữ mặc áo đỏ trông thật là chì!”, người đứng bên cạnh nói với gã bằng tiếng Anh, hẳn là một người Miên hay Thái gì đó có phần nào quá chén. Gã muốn tát cho hắn im lại vừa đồng thời muốn ôm siết lấy hắn vì đó là một người còn sống. Gã lắp bắp thay vì trả lời; hắn vỗ vai gã với về đồng lõa. “Hắn cho là mình cũng quá chén...”. Nhưng hắn lại mở miệng lần nữa. “Tôi không biết ngoại ngữ”, Tchen nói bằng tiếng Bắc Kinh. Hắn im lại, phân vân đưa mắt nhìn người thanh niên mặc áo thun dài tay bằng loại len tốt, nhưng không có cổ áo. Tchen đối diện với tấm gương của thang máy. Vụ giết người không để lại một dấu vết nào trên khuôn mặt gã. Ðường nét của khuôn mặt gã trông giống người Mông cổ nhiều hơn là Trung Hoa: gò má cao vót, mũi rất thấp, sóng mũi hơi nhô lên, giống như một cái mỏ; không thấy có gì thay đổi, ngoài sự mỏi mệt; không thấy có gì khác lạ đè nặng lên đôi vai vạm vỡ, đôi môi dày của loại người dũng cảm ấy; chỉ duy có cánh tay gã, mỗi lần khép lại, là nghe nhớt và nóng... Thang máy dừng lại. Gã bước ra cũng với đám người.
Một giờ sáng
Gã mua một chai nước suối, và gọi một chiếc tắc xi: một chiếc xe mui kín, để gã lau rửa cánh tay và băng nó lại bằng một chiếc khăn tay. Đường ray hoang vắng và các vũng nước do cơn mưa rào ban chiều lấp lánh một cách yếu ớt. Bầu trời thắp sáng phản chiếu xuống đó. Không hiểu tại sao Tchen lại ngước mắt nhìn: ban nãy, gã cảm thấy gần với nó hơn, lúc mà gã trông thấy những vì sao! Bầu trời càng cao thêm khi niềm lo lắng của gã càng dịu dần, gã càng gần lại thêm với người đồng loại... Phía cuối đường, những chiếc xe có gắn súng máy trông ảm đạm tựa như màu các vũng nước, lưỡi lê lấp lánh trên những bóng mờ lặng lẽ: trạm gác, lằn ranh cuối cùng thuộc tô giới Pháp. Chiếc tắc xi không đi xa hơn. Tchen trưng ra giấy thông hành giả là thợ điện làm việc tại tô giới. Người lính gác nhìn tờ giấy một cách lơ đãng (“Những gì mình mới vừa làm vẫn chưa bị khám phá”) và để gã đi qua. Đại lộ Hai nền Cộng hòa chạy ngang phía trước mặt là ranh giới của thành phố Trung Hoa.
Hoang vắng và yên tịnh. Những làn sóng náo nhiệt gồm bao nhiêu tiếng động của thành phố lớn nhất Trung Hoa mất hút vào đó như ở tận cùng đáy giếng, những âm thanh thoát từ lòng đất: tất cả những tiếng động của chiến tranh và những lay động nôn nóng cuối cùng của một đám đông hỗn tạp không muốn an giấc. Nhưng chính ở phía xa ấy sống những con người; ở đây, chỉ còn lại một đêm này mà Tchen tự nhiên hoà mình vào như vào một tình bạn bất chợt: cái thế giới ban đêm, thắc thỏm ấy, không chống lại hành vi giết người. Thế giới mà con người đã biến mất, thế giới vĩnh cửu; ngày có bao giờ trở lại hay không trên những miếng ngói vụn vỡ, trên khắp những ngõ hẻm này nơi mà ở tận cùng có một ngọn đèn chiếu sáng lên một bức tường không cửa sổ, chằng chịt những đường dây điện thoại? Ở đây có một thế giới của giết chóc, và gã đứng đó như đứng trong sự nóng bức. Không có một đời sống nào, một sự hiện diện nào, không có một tiếng động nào gần gũi, không cả tiếng trẻ rao hàng, không cả những con chó hoang.
Cuối cùng mới thấy một cửa hàng tồi tàn: Lou You Shuen và Hemmelrich, tiệm bán máy hát. Cần phải trở lại với thế giới loài người... gã chờ đợi một vài phút, cuối cùng gã gõ lên cánh cửa. Cửa ra vào mở ra gần như liền sau đó: đó là một cửa hàng đầy những đĩa hát sắp xếp có thứ tự, trông mường tượng như bên trong một thư viện thị xã: kế đó là nhà sau cửa hàng, rộng lớn, không trang hoàng đồ đạc, và bốn người đồng chí chỉ mặc có áo thun. Cánh cửa đóng lại làm chao động ngọn đèn; những khuôn mặt ẩn hiện: bên trái, Lou You Shuen, người tròn quay; cái đầu võ sĩ phì nộn của Hemmelrich, trụi tóc, mũi gãy, đôi vai lõm xuống. Phía sau, trong bóng tối, Katow. Bên mặt Kyo Gisors; ngọn đèn chao động trên đầu anh ta làm rõ thêm mép môi trề xuống của cái miệng theo lối ẩn họa Nhật Bản; khi đang xa, ngọn đèn làm di động những cái bóng, và khuôn mặt lai của Kyo trong gần giống như của người Âu. Ngọn đèn mỗi lúc một chao động chậm lại: hai khuôn mặt của Kyo lần lượt hiện ra, mỗi lúc một ít khác biệt hơn.
Tất cả đều nghệch mặt ra đăm đăm nhìn Tchen, nhưng không nói lời nào; gã nhìn những miếng đá lát lấm tấm những hạt cây quì. Gã có thể kể lại cho những người này những gì đã xảy ra, nhưng không bao giờ gã có thể tự giải thích với chính mình.
Thân người chết cưỡng lại mũi dao ám ảnh gã gấp mấy lần sự kháng cự của chính cánh tay gã. Mình không ngờ gian nan như vậy...
- Xong rồi - Gã nói.
Gã chìa ra phiếu giao hàng. Bản văn thật dài. Kyo đọc:
- Phải, nhưng mà...
Mọi người chờ đợi. Kyo không nôn nóng, cũng không giận giữ; anh ta không động đậy: nét mặt chỉ cau lại. Nhưng tất cả đều biết rằng những gì đã đọc khiến anh ta kinh hãi. Kyo nói tiếp:
- Chưa thanh toán tiền vũ khí. Thanh toán khi giao hàng.
Tchen cảm thấy cơn tức giận chụp xuống gã, như thể gã đã bị đoạt mất một cái gì. Gã tin chắc rằng đó là tờ giấy mà gã tìm kiếm, nhưng đã không có thời giờ để đọc. Với lại, gã cũng không thể nào sửa đổi một điều gì trên tờ giấy đó. Gã lôi từ túi ra cái bóp, trao cho Kyo: những tấm ảnh, biên lai: không còn mảnh nào khác.
- Theo tôi, mình có thể dàn xếp với những người thuộc các phân đội chiến đấu. - Kyo nói.
- Miễn sao chúng ta có thể trèo lên tàu là mọi việc sẽ êm thấm. - Katow nói.
Sự hiện diện của họ tách rời Tchen ra khỏi niềm cô đơn khủng khiếp của gã, một cách nhẹ nhàng, như thể người ta kéo lên khỏi lớp đất một thảo mộc mà những cái rễ mỏng manh nhất của nó đang giữ nó lại. Và cùng lúc, càng đến gần với họ, hình như gã càng khám phá ra họ - giống như đã khám phá ra người chị của gã lần đầu tiên gã trở về từ một nhà chứa. Ở đây có sự căng thẳng của những sòng bạc lúc tàn đêm.
- Công việc cũng êm thấm chớ? - Katow hỏi, đặt xuống cái đĩa của anh và bước vào vùng ánh sáng.
Tchen làm thinh, nhìn cái đầu đáng ghét ấy của tên ngu đần người Nga - mắt nhỏ trông buồn cười và mũi hếch - mà ngay cả mớ ánh sáng này cũng không làm cho trở nên bi thảm, tuy rằng anh ta biết rõ thế nào là cái chết. Gã đứng lên, gã đến nhìn con dế ngủ trong cái lồng nhỏ bé của nó, Tchen có thể có những lý do để im lặng.
Gã nhìn ngắm sự chao động của ánh đèn, khiến gã không phải nghĩ ngợi: tiếng gáy run run của con dế bị đánh thức vì bước chân đi đến của gã lẫn vào những dao động cuối cùng của bóng tối trên các khuôn mặt. Cũng vẫn nỗi ám ảnh ấy về sự cứng rắn của xác thịt; những câu nói chỉ có ích lợi khi nào chúng làm xáo trộn sự quen thuộc với cái chết đã an bài trong trái tim gã.
- Anh rời khỏi khách sạn vào lúc mấy giờ? - Kyo hỏi.
- Cách đây hai mươi phút.
Kyo nhìn đồng hồ tay: một giờ kém mười phút khuya.
- Tốt lắm. Chúng ta hãy chấm dứt tại đây, và chuồn đi.
- Tôi muốn gặp ba anh, Kyo.
- Anh biết là việc ấy sẽ xảy ra vào ngày mai chớ?
- Càng hay.
Mọi người đều biết VIỆC ẤY là gì: các đoàn quân cách mạng đến nơi những trạm xe lửa cuối cùng, và đó là giờ phút quyết định cho cuộc nổi dậy.
“Càng hay”. - Tchen lập lại. Cũng như mọi cảm giác mạnh mẽ khác, cảm giác về sự gian nguy khi rời khỏi gã, đã khiến gã cảm thấy trống rỗng; gã khao khát gặp lại nó.
- Dù sao tôi vẫn có ý muốn gặp mặt ông.
- Cứ đến đó, ba tôi không bao giờ ngủ trước khi rạng sáng.
- Vào khoảng bốn giờ.
Bao giờ cần được thông cảm, Tchen tự dựng hướng về phía ông Gisors. Thái độ ấy khiến Kyo khổ tâm biết bao - càng khổ tâm hơn nữa là ở đó không có sự tự mãn nào len vào - gã biết rõ điều đó, nhưng không thể làm gì được cả: Kyo là một trong số những người tổ chức cuộc nổi dậy, ủy ban trung ương tin cậy nơi anh ta; cả nơi Tchen; nhưng Kyo không bao giờ giết người, ngoại trừ khi lâm trận. Katow gần gũi với gã hơn, anh ta bị kết án năm năm tù vào năm 1905, lúc còn là sinh viên, khi anh ta tham dự vào cuộc tấn công - như trò trẻ con - vào ngục Odessa. Và thế nhưng...
Anh ta nhai những viên kẹo đường nho nhỏ, từng viên một, không ngớt đưa mắt nhìn Tchen; và Tchen đột nhiên hiểu được thế nào là tính tham ăn. Giờ đây gã đã giết người, gã được quyền thèm khát bất cứ cái gì. Được quyền. Dù rằng trẻ con. Gã chìa ra bàn tay vuông vắn. Katow ngỡ rằng gã muốn từ giã nên siết tay gã. Tchen đứng lên. Không chừng như vậy càng hay: gã không có việc gì phải làm ở đây cả; Kyo đã được báo trước, đến lượt anh ta hành động. Và phần Tchen, gã biết rõ những gì gã muốn làm trong hiện tại, gã ra đến cửa, lại quay trở vô.
- Cho tôi vài viên kẹo.
Katow trao cho Tchen túi kẹo. Tchen muốn chia phần kẹo bên trong: không có một tờ giấy nào. Gã trút kẹo vào trong lòng bàn tay, ngậm đầy cả miệng và bước ra ngoài.
- Chắc mọi việc không trơn tru. - Katow nói.
Trốn sang Thụy Sĩ từ năm 1905 đến năm 1912, năm Katow lén lút trở về Nga, anh ta nói tiếng Pháp gần như không có lên giọng xuống giọng, nhưng bằng cách nuốt mất một vài nguyên âm, như thể anh ta muốn bù vào sự thiết yếu phải phát âm một cách rắn rỏi khi nói tiếng Trung Hoa. Giờ đây gần như hiện ra hẳn dưới ánh đèn, khuôn mặt của anh cũng không lấy gì làm sáng lắm. Kyo ưa thích như thế: vẻ ngây thơ trớ trêu mà đôi mắt nhỏ bé và nhất là chiếc mũi hếch (con chim sẻ tỉnh bơ, theo cách nói Hemmelrich) càng tương phản với những nét mặt của anh bao nhiêu, càng nổi bật bấy nhiêu, và thường làm anh ta lúng túng.
- Hãy làm cho xong di, - anh ta nói - Anh có mấy cái đĩa ấy chứ, Lou?
Lou You Shuen cười hớn hở và như sẵn sàng để chiều lụy mọi điều, đặt trên máy hát hai cái đĩa được Katow xem xét. Phải cho hai đĩa hát chạy cùng lúc.
- Một, hai, ba. - Kyo đếm.
Tiếng huýt của đĩa thứ nhất lấp mất tiếng đọc của đĩa thứ hai; đột nhiên tiếng huýt ngừng lại - người ta nghe đọc: gởi đến - Kế tiếng huýt vang lên trở lại. Lại một chữ khác: ba mươi. Lại có tiếng huýt. Kế đến: người. Tiếng huýt.
“Tuyệt hảo”, Kyo nói. Gã ngừng máy và cho đĩa thứ nhất chạy trở lại: tiếng huýt, im lặng, tiếng huýt, Stop. Tốt. Nhãn tên đề đĩa phế thải. Đĩa thứ hai: Bài học thứ ba. Chạy, bước, nhận, gởi, đến, đi. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, hai mươi, ba mươi, năm mươi, sáu mươi, một trăm. Tôi trông thấy một trăm người chạy. Hai mươi người đàn bà ở đây. Ba mươi...
Các đĩa hát giả mạo ấy dùng để dạy ngôn ngữ trông thật tuyệt hảo; nhãn hiệu, được bắt chước một cách tuyệt diệu. Thế nhưng Kyo lại cảm thấy lo âu:
- Phần ghi âm của tôi nghe không rõ sao?
- Rõ lắm, hoàn hảo.
Lou cười hớn hở. Hemmelrich có vẻ hờ hững. Tầng trên, một đứa trẻ kêu lên đau đớn.
Kyo không còn hiểu ra sao nữa:
- Thế sao lại đổi đi?
- Ðâu có đổi, - Lou nói. - Chính đĩa ấy đấy chứ, ít khi mình nhận ra giọng nói của mình khi nghe nó lần đầu...
- Máy hát làm biển đổi giọng nói à?
- Không phải vậy, vì người nào cũng nhận giọng nói của người khác. Nhưng người ta không quen với việc nhận ra mình, như anh đã thấy.
Lou đầy vẻ mừng rỡ tíu tít của một người Trung Hoa được dịp giải thích một điều gì cho một phần tử ưu tú.
- Đối với tiếng nước tôi cũng vậy...
- Được rồi. Đêm nay họ vẫn phải đến để lấy đĩa chớ?
- Rạng sáng mai tàu sẽ nhổ neo đi Hán Khẩu...
Những đĩa có tiếng huýt được gởi trên một con tàu; những đĩa có bản văn trên một con tàu khác. Tàu của người Pháp hoặc người Anh tùy theo hội truyền giáo thuộc Công giáo hay thuộc Tin lành.
“Đúng ngày”, - Kyo nghĩ ngợi. - “Bao nhiêu là sự việc trước cái ngày...”
Anh ta đứng lên:
- Cần có người tình nguyện, cho việc vũ khí. Và một vài người Âu, nếu có thể được.
Hemmelrich bước đến gần Kyo. Trên kia, đứa bé lại hét lên.
- Thằng bé trả lời anh đó, - Hemmellrich nói - Như vậy đủ chưa? Anh làm được cái quái gì với một đứa con nhỏ sắp chết và một bà vợ rên rỉ trên ấy, cũng đừng nên quá ồn chớ, để đừng làm quấy rầy chúng tôi...
Giọng nói nghe chừng như ác cảm ấy rất phù hợp với khuôn mặt có chiếc mũi gãy, đôi mắt trũng sâu mà ánh đèn chiếu thẳng xuống biến chúng thành hai vết màu đen.
- Ai có phận sự nấy, - Kyo trả lời. - Những chiếc đĩa cũng cần thiết nữa... Katow và tôi, được rồi. Hãy ghé qua tìm một vài tay nữa (chúng ta sẽ biết là ngày mai tấn công hay không) và tôi...
- Chúng có thể phát giác ra xác chết tại khách sạn, anh cũng biết chớ. - Katow nói.
- Không trước bình minh đâu. Tchen đã khoá cửa phòng. Chúng không có đi tuần quanh đó.
- Gã làm trung gian biết đâu đã không có một cuộc hẹn nào đó? - Vào giờ này à? Không lấy gì làm chắc. Dù sao điều cần yếu là đổi chỗ bỏ neo của con tàu: Như vậy, nếu chúng muốn tìm đến nó phải mất ít ra cũng ba tiếng đồng hồ. Con tàu nằm tại lằn biên của hải cảng.
- Anh muốn đổi nó sang chỗ nào?
- Vào ngay trong hải cảng. Không vào trong bến, dĩ nhiên. Có hàng trăm con tàu. ít ra cũng phải ba tiếng đồng hồ, ít ra cũng phải vậy.
- Thuyền trưởng sẽ đề phòng...
Vẻ mặt của Katow gần như không lúc nào để lộ tình cảm ra ngoài: nét vui vẻ trớ trêu vẫn không đổi trên khuôn mặt. Chỉ vào lúc này giọng của anh mới càng để lộ rõ thêm sự lo âu.
- Tôi có quen một tay chuyên về buôn bán vũ khí, - Kyo nói. - Với hắn, viên thuyền trưởng sẽ tin cậy. Chúng ta không có nhiều tiền, nhưng chúng ta có thể trả tiền hoa hồng... Tôi nghĩ các bạn cũng đồng ý: chúng ta dùng giấy tờ giả mạo để lên tàu, và sau đó sẽ lo liệu phải không?
Katow nhún vai, như thể đứng trước một việc hiển nhiên. Anh ta khoác vào cái áo ngắn, mà không bao giờ anh ta cài nút cổ, trao cho Kyo cái áo ngoài loại thể thao máng nơi một cái ghế; cả hai đều siết chặt tay Hemmelrich. Sự thương hại chỉ càng làm anh ta thêm xấu hổ. Hai người đi ra ngoài. Họ rời bỏ đại lộ ngay sau đó, đi vào thành phố Trung Hoa.
Những khối mây nặng nề xuống rất thấp, khoét thành từng khoảng không gian, chỉ để lấp lánh những vì sao cuối cùng nơi tận cùng những khoảng không gian ấy. Đời sống ấy của những khối mây làm đổi thay màu đêm tối, lúc thì mờ nhạt và có lúc sẫm màu, như thể có những chiếc bóng khổng lồ đôi lần trờ đến làm thăm thẳm thêm màn đêm Katow mang loại giày thể thao đế cờ rếp, và chỉ nghe tiếng bước khi họ lướt chân trên lớp bùn; phía các tô giới - phía thù nghịch ấy - một ánh sáng lờ mờ viền quanh các mái nhà. Một hồi còi kéo dài nghe lớn dần trong cơn gió mang lại tiếng lao xao gần như tắt hẳn của thành phố đang tình trạng giới nghiêm và tiếng huýt còi của các phụ hạm tháp tùng các chiến hạm, cơn gió thổi qua các ngọn đèn thê thảm thắp sáng nơi tận cùng những ngõ cụt và ngõ hẻm; quanh đó, những bức tường đổ nát vươn lên khỏi bóng đêm hoang vắng, phơi bày dưới ánh sáng không có gì chao động, và như nhô ra từ đó một cảnh tượng muôn đời nhớp nhúa. Nửa triệu người ẩn náu sau các bức tường ấy: những người thợ nhà máy sợi, những kẻ làm việc mười sáu giờ một ngày kể từ ngày thơ ấu, đám quần chúng của các bệnh ung loét, vẹo xương sống, của sự đói khát. Những mảnh kiếng che các ngọn đèn bớt trong sáng đi và, trong một vài phút, cơn mưa to lớn, hung hãn, đột chiếm thành phố.
“Một khu vực thích hợp”, - Kyo nghĩ thầm. - Từ hơn một tháng nay kể từ ngày chuẩn bị cuộc nổi dậy từ Ủy ban này sang Ủy ban khác, anh không ngớt quan sát các đường phố: anh không đi trên bùn nữa, mà trên một kế hoạch. Sự lam lũ của hàng triệu đời sống nhỏ bé mỗi ngày đã biến mất, bị nghiền nát bởi một đời sống khác. Các tô giới, các khu vực giàu có, với những hàng rào gội mưa ở cuối các con đường, chỉ còn hiện diện như những gì đe doạ, những chướng ngại vật. Những dãy tường dài của nhà tù không cửa sổ; những khu vực ghê tởm này. - nơi có nhiều toán xung kích nhất - trái lại, là nơi mà hàng bao nhiêu người đang thắc thỏm run rẩy trong cơn mai phục. Nơi ngã quẹo của một đường hẻm, cái nhìn của anh đột nhiên mất hút vào ánh sáng thăm thẳm của một con đường lớn; mặc dầu bị che phủ bởi con mưa tầm tã, con đường vẫn in trong trí cái tầm xa của nó, vì đó là địa điểm cần phải tấn công trước các họng súng, súng liên thanh khai hỏa từ nơi xa khuất ấy. Sau những cuộc nổi dậy thất bại hồi tháng hai, Ủy ban trung ương Ðảng Cộng sản Trung Hoa giao cho Kyo trọng trách phối hợp các lực lượng nổi dậy. Tại mọi ngã đường lặng lẽ này, nơi mà các hông nhà biến mất dưới cơn mưa rào có mùi khói, con số các phần tử tham gia đã tăng lên gấp đôi. Kyo đề nghị nâng lên từ 2000 đến 5000 người, văn phòng chiến tranh đã đạt được con số ấy trong tháng. Nhưng họ không có được hai trăm khẩu súng. (Trong khi có ba trăm khẩu súng tay trên chiếc ShanTung đang mắt nhắm mắt mở giữa dòng sông bềnh bồng). Kyo đã tổ chức một trăm chín mươi hai toán chiến đấu, khoảng hai mươi lăm người mỗi toán, và chỉ có những người chỉ huy là được võ trang... Anh đưa mắt quan sát khi đi qua một nhà chứa xe bình dân chứa đầy những chiếc cam nhông đã được biến thành xe buýt. Tất cả đều được “ghi số”. Văn phòng chiến tranh có thành lập một ban tham mưu, Ðại hội Đảng đã bầu lên một Ủy ban trung ương; ngay từ lúc đầu của cuộc nổi dậy, cần phải duy trì sự liên lạc giữa họ với các toán quân xung kích. Kyo có tổ chức một chi đội liên lạc gồm một trăm hai mươi người đi xe đạp; ngay những phát súng đầu tiên, tám toán xung kích phải chiếm lấy các nhà chứa xe, đoạt lấy các chiếc xe. Những người chỉ huy các toán quân ấy đã có viếng qua các nhà chứa xe. Từ mười ngày nay, những người chỉ huy khác, mỗi người đều nghiên cứu kỹ khu vực mà họ phải giao tranh. Ngay chính ngày hôm nay đã có bao nhiêu người khách đi vô các tòa nhà quan trọng, hỏi thăm một người bạn mà ở đó không ai quen biết, họ trò chuyện, được mời dùng trà, trước khi ra đi? Có bao nhiêu người thợ vẫn sửa chữa mái nhà mặc dù cơn mưa tầm tã? Mọi vị trí có một vài ưu điểm cho cuộc giao tranh trên đường phố đều được ghi nhận; những địa điểm nổ súng thuận lợi nhất đều được đánh dấu trên các sơ đồ, thường xuyên nằm trong túi các toán xung kích. Những gì Kyo biết về sự sinh hoạt âm thầm của cuộc nổi dậy đã bù vào những gì anh không được biết, một đoàn người vượt xa sự ước lượng của anh; đến từ các vùng ven đô rộng lớn và xác xơ, Tchapéi và Pootung, đầy rẫy những nhà máy và cảnh khốn cùng, để làm vỡ những cái hạch khổng lồ của trung tâm thành phố, một đám đông tưởng như vô hình làm náo động đêm phán xét cuối cùng ấy.
- Ngày mai à? - Kyo hỏi.
Katow ngập ngừng, đong đưa đôi bàn tay to lớn của anh. Không, câu hỏi không dành cho anh. Không dành cho một ai.
Hai người lặng lẽ bước. Cơn mưa rào, dần dần trở thành cơn mưa phùn; tiếng mưa rơi trên mái ngói nhỏ dần, và con đường tối đen chỉ nghe có tiếng suối trôi dứt quãng. Các thớ thịt trên khuôn mặt hai người giãn ra; nhìn thấy con đường y như nó hiện ra dưới mắt - thăm thẳm một màu đen, vô tình, Kyo như thấy lại một cái gì đã qua rồi.
- Theo anh thì Tchen đi đâu? - anh hỏi. - Anh ta nói là sẽ chỉ đến nhà ba tôi vào khoảng bốn giờ. Để ngủ chăng?
Trong câu hỏi của anh nghe có một niềm thán phục đáng ngờ.
- Không biết... Anh ta không hề say sưa...
Hai người đi đến một cửa hàng: Shia, tiệm bán đèn. Như tại mọi nơi, các cánh cửa đều được hạ xuống. Cửa mở. Một người Trung Hoa thấp bé và trông gớm guốc đứng sững trước mặt hai người, ánh đèn phía sau soi không rõ người hắn: mỗi cử động của hắn làm thoáng qua một tia sáng nhờn nhợt trên cái mũi to lốm đốm những hạt mụn, dưới vùng ánh sáng vây phủ quanh đầu hắn. Những mảnh kiếng của hàng trăm ngọn đèn bão treo quanh đó phản chiếu ngọn lửa của hai ngọn đèn dầu thắp nơi quầy hàng và mất hút vào bóng tối, đến tận cùng phía tối om của cửa hàng.
- Thế nào? - Kyo nói.
Shia nhìn anh ta vừa xoa nhẹ đôi tay. Hắn quay trở vào, không nói một lời nào, lục lạo nơi một vài chỗ cất giấu. Tiếng cào của móng tay hắn trên lớp thiếc làm Katow nghiến răng lại; nhưng hắn đã quay trở ra, dây lưng quấn lòng thòng, đong đưa qua lại... Hắn đọc tờ giấy được mang ra, đầu hắn gần như dán vào một ngọn đèn bão, dưới ánh sáng hắt lên từ ngọn đèn dầu. Đó là một tờ báo cáo của tổ chức quân sự có nhiệm vụ liên lạc với các công nhân xe lửa. Quân tiếp viện để bảo vệ Thượng Hải, chống lại các phần tử cách mạng, đến từ Nam Kinh: công nhân xe lửa đã phát động đình công; lính vệ binh và binh sĩ của quân đội chính phủ bắn vào những người từ chối lái các chuyến xe quân sự.
- Một người trong số công nhân bị bắt giữ đã cho trật đường ray chuyến xe do anh ta lái, người Trung Hoa đọc. Đã chết. Ba chiếc xe lửa quân sự khác bị trật đường ray ngày hôm qua, đường ray bị tháo gỡ.
- Hãy tăng cường phá hoại khắp nơi và ghi trên các bản báo cáo ấy phương cách sửa chữa đường xe lửa trong thời hạn ngắn nhất, - Kyo nói. - Còn một điều nữa: Không có xe lửa chở vũ khí à?
- Không có.
- Người ta có biết bao giờ các chuyến xe của chúng ta sẽ đến Tcheng Tchéou[1] không?
- Tôi chưa có những tin tức hồi khuya. Ủy viên nghiệp đoàn cho rằng đêm nay hoặc ngày mai...
Cuộc nổi dậy như vậy sẽ diễn ra vào ngày mốt hoặc một ngày sau đó. Cần phải chờ lệnh của Ủy ban Trung ương. Kyo nghe khát. Hai người bước ra ngoài.
Họ không còn cách xa địa điểm phải chia tay nhau. Một hồi còi tàu lại vang lên ba lần, đứt quãng, kế đó, một hồi còi khác kéo dài. Tiếng còi tàu như tỏa ra trong đêm âm ấp nước; cuối cùng rơi trở lại, như một hỏa tiễn. “Trên chiếc Shan Tung, họ đã bắt đầu lo lắng chưa?” Thật vô lý, vị thuyền trưởng chỉ chờ khách hàng của ông vào lúc 8 giờ. Hai người bước đi trở lại, không ngớt bị ám ảnh vì con tàu ấy bỏ neo ngoài kia trên mặt nước màu xanh lá nhợt nhạt và lạnh lẽo với những thùng chứa súng. Mưa dứt hạt.
- Miễn sao tôi tìm ra được người của tôi, - Kyo nói. - Dù sao tôi cũng yên lòng hơn nếu chiếc Shan Tung thay đổi vị trí bỏ neo.
Hai người không còn đi cùng một đường nữa; họ hẹn gặp lại, và chia tay nhau. Katow đi tìm những người hợp tác.
Kyo cuối cùng tới nơi cửa song sắt ngăn cách các tô giới. Hai lính khố và một viên đội của quân đội thuộc địa đến xem xét giấy tờ của anh ta: anh ta có giấy thông hành do Pháp cấp. Để nhử mỗi lính gác, một người buôn bán Trung Hoa đã treo những khúc chả lụa lên những đầu kẽm gai. (“Tạm thời, đó là phương cách tốt để đầu độc một trạm gác”, Kyo nghĩ thầm). Viên đội trao trả giấy thông hành. Kyo tìm ngay một chiếc tắc xi và bảo chạy đến Black Cat.
Chiếc xe, dưới tốc lực thả ga của người tài xế, bắt gặp một vài lính tuần người Âu châu tình nguyện. “Quân đội tám nước canh giữ nơi đây” - theo tin các báo. Không hề gì: Quốc dân Đảng không có ý định tấn công các tô giới. Ðại lộ hoang vắng, bóng của những người bán hàng rong quảy gánh trên vai... Chiếc xe ngừng trước lối vào một khu vườn nhỏ hẹp, thắp sáng nhờ bảng hiệu Black Cat gắn đèn. Khi đi qua trước phòng để quần áo, Kyo xem đồng hồ: hai giờ sáng. “Cũng may, ở đây ai muốn ăn mặc sao cũng được!” Dưới lớp áo ngắn kiểu thể thao bằng vải xù xì, màu xám đậm, anh mặc một áo thun bằng len. Nhạc jazz inh ỏi. Từ năm giờ sáng trở di, nó duy trì, không phải niềm vui vẻ, mà là một niềm ngất ngây man dại để từng đôi bám vào nhau trong cơn sầu muộn. Đột nhiên điệu nhạc ngừng chơi, và đám đông rời nhau: phía tận cùng là khách, hai bên là những vũ nữ chuyên nghiệp. Gái Trung Hoa trong lớp áo chẽn dệt bằng tơ, gái Nga và những cô gái hai dòng máu; mỗi tích kê cho một bản nhạc, hoặc một lần trò chuyện. Một ông già trông giống một cố đạo người Anh ngơ ngác giữa sàn nhảy dùng khuỷu tay chớp chớp những động tác của loài vịt. Đến năm năm mươi hai tuổi ông ta mới ngủ lang thang lần đầu và bị vợ làm khiếp đảm, ông ta không còn dám trở về nhà. Từ tám tháng nay ông ta sống trong các hộp đêm, không hề biết đến việc giặt quần áo và thay đổi chúng tại các tiệm bán sơ mi người Trung Hoa, giữa hai tấm chắn gió. Những thương gia đang bị phá sản, vũ nữ và gái điếm, những người - hầu hết những người này - mà đời sống đang cảm thấy bị đe dọa đã im sững cái nhìn của họ trên bóng ma ấy, như thế, một mình ông ta đã níu giữ họ lại bên bờ vực hư vô. Họ đi ngủ, phờ phạc, vào lúc rạng động - khi tay đao phủ bắt đầu dạo quanh trở lại trong thành phố Trung Hoa... Vào giờ đó, chỉ có những cái đầu bị chặt đứt đựng trong những cái lồng màu đen, với mớ tóc đầm đìa nước mưa.
- Áo thầy tu người Xiêm, cô bạn thân ạ! Người ta sẽ mặc áo thầy tu người Xiêm cho họ! Giọng nói khôi hài, nhại theo Polichinelle[2], hình như cất lên từ nơi một góc cột. Giọng mũi nhưng nghe chua chát, gợi lên khá đầy đủ không khí của nơi ấy, lẻ loi giữa một sự yên lặng có những tiếng ly lách cách bên trên người cố đạo ngơ ngác: người mà Kyo tìm đã có mặt.
Anh nhận ra ông ta, khi vòng qua cây cột cuối cùng của căn phòng, nơi có bắc những cái bàn không dành cho vũ nữ ở một vài dãy cuối phòng. Bên trên một đám người hỗn độn trơ lưng và cổ họng trong lớp áo bằng tơ bèo nhèo, một tên Polichinelle gầy ốm, không có bướu lưng, nhưng giọng nói giống với giọng nói của nó, đang khôi hài cà kê dê ngỗng với một ả người Nga và một ả lai Phi ngồi nơi bàn. Đứng xếp khuỷu tay vào thân người, ra điệu bộ bằng bàn tay, ông ta nói bằng tất cả thớ thịt trên khuôn mặt giống như mũi nhọn trước đầu xe lửa, bị trở ngại vì mảnh tơ vuông màu đen, che lấy con mắt tay mặt chắc hẳn đã bị hư hại. Dù ăn mặc như thế nào – chiều nay ông ta mặc bộ lễ phục - nam tước Clappique vẫn trông như đã cải trang. Kyo quyết định không bắt chuyện ở đó, chờ cho ông ta ra ngoài.
- Vậy đó, cô bạn thân ạ, hoàn toàn như vậy đó! Tưởng Giới Thạch sẽ vào đây với các phần tử cách mạng của ông ta và hét lên - bằng ngôn ngữ cổ điển, phải, cổ điển! như lúc ông ta chiếm các thành phố: “Hãy mặc áo thầy tu người Xiêm cho các thương gia này, áo rằn ri cho các người lính này (như thể họ đang ngồi trên những cái ghế dài mới sơn)!”. Giống như vị hoàng tử cuối cùng của nhà Lương, hoàn toàn như vậy đó! Cô bạn, hãy trèo lên những chiếc thuyền buồm hoàng gia, ngắm thần dân của tôi ăn mặc theo màu nghề nghiệp của họ, để giải khuây chúng ta, màu xanh lơ, đỏ, xanh lá, với những cái bím và hoa chương, câm miệng lại, cô bạn thân ạ, tôi “yêu cầu cô câm miệng lại”.
Và giọng bí mật:
Loại âm nhạc duy nhất được phép chơi là loại nhạc Tiều[3].
- Và ông, ông sẽ làm gì trong đó? Giọng ai oán, nức nở: “Kìa, cô không đoán được sao, cô bạn thân mến? Tôi sẽ là nhà chiêm tinh tại triều đình, tôi sẽ chết vào chiều say khướt tôi đi với vầng trăng dưới dáy hồ - chiều nay ư?”
Giọng tỉnh táo:
“... giống như thi sĩ Ðỗ Phủ[4], mà tác phẩm chắc chắn làm say mê cô bạn vào những ngày rỗi việc - chắc chắn thế, câm miệng lại! - Lại nữa...”
Tiếng còi của một con tàu chiến vang khắp căn phòng. Tức thời một tiếng phèn la giận dữ chen vào, và cuộc khiêu vũ bắt đầu trở lại. Vị nam tước ngồi xuống. Kyo đi qua những cái bàn và những cặp người để đến một cái bàn trống, hơi khuất về phía sau cái bàn của ông. Tiếng nhạc trùm lấp những tiếng động khác; nhưng giờ đây vì đến gần với Clappique, anh lại nghe thấy giọng nói đùa của ông. Vị nam tước mơn trớn ả người Phi nhưng vẫn tiếp tục nói với khuôn mặt mỏng, mắt thật to, của ả người Nga.
“... điều khổ sở, cô bạn thân ạ, là không còn những gì kiểu cọ nữa. Chỉ thỉnh thoảng...”
Ngón tay trỏ điểm về phía trước:
“... một vị tổng trưởng người Âu gởi về cho vợ một bưu kiện nho nhỏ, bà ta mở ra - câm miệng lại...”
Ngón tay trỏ thu trở về cửa miệng:
“... chính là cái đầu tình nhân của bà”
Rầu rĩ:
“Ba năm sau người ta còn bàn đến! Thảm thương, cô bạn thân mến ạ, thật là thảm thương! Hãy nhìn tôi. Cô trông thấy đầu tôi chớ? Đó là kết quả hai mươi năm phóng túng. Nó giống như bệnh tiêm la - Câm miệng lại!”.
Ðấy quyền uy:
“Bồi đâu! Mang sâm banh lại cho hai bà này, và cho ta...”
Và nói giọng thân tình:
“... một ly nhỏ Martini”.
Nghiêm giọng:
“Rất sec[5]”.
(Với bọn cảnh sát ấy, ví như mọi việc đều tệ hại mình vẫn còn một tiếng đồng hồ nữa, Kyo nghĩ thầm. Dù sao, không hiểu tình trạng có kéo dài như vậy không?)
Ả người Phi cười, hoặc giả vờ như vậy. Ả người Nga mở tròn mắt, cố tìm hiểu. Clappique vẫn không ngừng múa máy, ngón trỏ linh động, đơ lại khi muốn chứng tỏ uy quyền, vẫy gọi sự chú ý những gì bí mật. Nhưng Kyo chỉ ghé tai vào đó một phần nào thôi; sự nóng bức; một mối ưu tư đêm nay lảng vảng theo bước chân anh tỏa ra thành một cơn mỏi mệt mơ hồ; đĩa hát ấy, giọng nói của anh mà anh không nhận ra, ban nãy tại nhà Hemmelrich. Anh nghĩ đến những chuyện đó với cùng nỗi lo âu phức tạp của ngày còn nhỏ đã nhìn những cục thịt dư mà vị bác sĩ giải phẫu vừa mới cắt xong. Nhưng anh không làm sao theo dõi ý nghĩ của mình.
- “... tóm lại, giọng nói của vị nam tước en ét lên vừa nheo mi mắt trụi lông mi và hướng về phía ả người Nga, ông tôi có một lâu đài tại miền Bắc Hunggari”.
- Ông là người Hung à?
- Không một chút gì Hung cả. Tôi là người Pháp. (Với lại, tôi đếch cần, cô bạn thân ạ!) Nhưng mẹ tôi là người Hung.
“Vậy, ông tôi ở trong một lâu đài tại đó, với những căn phòng rộng lớn - bên dưới là những bạn đồng liêu đã chết, chung quanh là những cây thông; rất nhiều cây thông. Ông ta góa vợ. Sống một mình với một còi săn khổng lồ treo nơi lò sưởi. Một gánh xiếc ghé qua. Với một ả cỡi ngựa. Đẹp...”
Giọng đạo mạo:
“Tôi nói: đẹp”.
Lại nheo mắt:
“... Ông ta cuỗm lấy nàng - Không khó. Mang nàng vào một căn phòng rộng lớn...”
Kêu gọi sự chú ý, bàn tay giơ lên:
“Câm miệng lại!... Nàng ta sống ở đó. Tiếp tục sống. Phiền muộn. Em cũng vậy, bé ạ - Ông ta chọc vào nách ả người Phi - nhưng hãy kiên nhẫn nào...”. Với lại, ông ta cũng không cười cợt: ông ta trải qua nữa buổi chiều để cho người thợ cạo râu tỉa móng tay và móng chân (ông ta còn có một thợ cạo râu tại lâu đài), trong khi người thư ký của ông, con trai một người nô lệ nhớp nhúa, to giọng đọc - đọc lại - cuốn gia phả. Công việc thơ mộng, cô bạn thân ạ, đời sống hoàn hảo! Ngoài ra, ông ta cũng thường say sưa - Nàng ta...
- Nàng ta trở nên si tình người thư ký phải không? - Ả người Nga hỏi.
- Tuyệt, cô bé này, thật là t-u-y-ệ-t! Cô bạn thân ạ, cô thật là tuyệt. Thông minh đáng kể!”
Ông ta hôn bàn tay ả.
“... nhưng nàng ăn nằm với tên thợ cắt móng tay, cũng như các cô nàng không đếm xỉa gì những điều phải trái. Ông tôi đánh đập nàng”
Không nói một lời, vô ích: họ trốn đi.
“Vị quyền tước ấy, giận dữ lên, chạy khắp các căn phòng mênh mông của ông (bên dưới vẫn là những người bạn đồng liêu đã chết), cho rằng đã bị nhục mạ bởi hai đứa nói năng thô tục sẽ mê mẩn cuộc đời tại tỉnh lỵ, trong một quán trọ theo kiểu Gogol, với một chậu nước mẻ miệng và những chiếc xe ngựa mui hòm ngoài sân. Ông ta lấy xuống cái còi săn khổng lồ, không làm sao thổi vào đó được vì vậy sai người quản gia triệu tập nông dân lại. (Thời kỳ ấy, ông ta còn quyền hành). Ông ta võ trang cho học năm khẩu súng săn, hai khẩu súng lục. Nhưng, cô bạn thân ạ, chúng đã quá thừa!
“Thế là người ta di chuyển lâu dài: những tên quê mùa lên đường - thử tưởng tượng, thử tướng tượng, tôi đã bảo! -, võ trang gươm cùn, súng hỏa mai, máy quay sợi, gì nữa? Gươm dài và những lưỡi gươm xưa của người Ðức; ông tôi đi đầu, hướng về tỉnh lỵ: sự phục thù theo đuổi tội phạm. Người ta báo cho họ. Người lính phu tuần đi đến, cùng với những người lính cảnh binh. Bức tranh tuyệt hảo!
- Rồi sao?
- Không việc gì cả. Người ta tước khí giới họ. Ông tôi cuối cùng cũng lên đến tỉnh lỵ, nhưng hai kẻ phạm tội đã tức tốc rời khỏi quán trọ Gogol, trong một chiếc xe ngựa mui hòm đầy bụi. Ông ta thay thế ả cỡi ngựa bằng một ả nông dân, người thợ cắt móng chân bằng một người khác, và say sưa tối ngày với người thợ ký. Thỉnh thoảng, ông lo soạn di chúc của ông...
- Ông ta để tiền lại cho ai?
- Câu hỏi không quan trọng, cô bạn thân ạ. Nhưng, ngày ông chết đi, đôi mắt vị nam tước mở lớn:
“... Lúc đó người ta mới biết rõ tất cả những gì ông trù định, bằng cách cho cạo bàn chân và đọc gia phả, tên say rượu quí phái ấy! Người ta tuân theo lời ông: chôn ông dưới nhà lễ bái, trong một hằm mộ khổng lồ, đứng trên lưng ngựa bị giết, như Attila...”
Điệu huyên náo của nhạc Jazz ngừng lại. Clappique tiếp tục nói, bớt điệu bộ Polichinelle hơn, như thể trò hề của ông bị sự yên lặng làm dịu lại.
“Khi Attila chết rồi, người ta dựng ông trên lưng con ngựa nhảy lồng lên của ông, bên trên bờ sông Danube; mặt trời về chiều làm đổ một cái bóng lên cánh đồng lớn cho tới nỗi bọn lính kỵ binh đã cuốn vó, kinh hoàng. ..” Ông mơ màng, chìm đắm trong những giấc mơ ấy, dưới ảnh hưởng của rượu và sự yên lặng bất chợt. Kyo biết những đề nghị nào anh phải khơi chuyện với ông, nhưng không hiểu rõ ông, không biết ba anh có hiểu rõ ông hay không; và anh càng không hiểu rõ ông trong vai trò ấy. Anh nóng ruột nghe ông ta kể chuyện nhưng không hẳn là không tò mò (ngay khi có một cái bàn nào trống, trước mặt vị nam tước, anh sẽ ngồi vào đó và ra dấu cho ông ta ra ngoài; anh không muốn khơi chuyện cũng không muốn công khai gọi ông). Giờ đây đến lượt ả người Nga lên tiếng, bằng một giọng chậm rãi, khàn khàn - có lẽ chếnh choáng vì mất ngủ:
“Ông cố tôi cũng có ruộng đất màu mỡ... Chúng tôi ra đi vì các phần tử cộng sản, không phải sao? Ðể không lẫn vào thiên hạ để được kính trọng; ở đây chúng tôi mỗi bàn hai người, mỗi phòng bốn người! Bốn người mỗi phòng... Và phải trả tiền thuê. Được kính trọng... Phải chi rượu đã không khiến tôi ngấy ngật!...”
Clappique nhìn vào ly ả, ả vừa mới uống một ít. Ả người Phi, trái lại... Lặng lẽ, giống như con mèo ả hâm nóng người bằng cơn say lãng đãng. Không cần phải quan tâm đến ả. Ông ta quay lại ả người Nga:
- Cô không có tiền à?
Ả nhún vai. Ông ta gọi người phụ bàn, trả tiền bằng giấy một trăm đôla. Tiền thối lại, ông ta giữ lấy mười đô, phần còn lại trao cho ả người Nga. Ả nhìn ông bằng một sự chăm chú bơ phờ:
- Ðược rồi, ả đứng lên.
- Không đâu, ông ta nói.
Ông ta có vẻ động lòng như một con chó ngoan.
“Không đâu. Tối nay, chuyện ấy có thể sẽ làm phiền cô em”.
Ông ta cầm lấy bàn tay ả, ả vẫn còn nhìn ông:
- Cám ơn.
Ả ngần ngại:
- Dù sao... nếu ông thích chuyện ấy...
- Tôi sẽ thích chuyện ấy nhiều hơn ngày nào tôi hết tiền...
Polichinelle xuất hiện trở lại.
- Cũng không còn lâu đâu...
Ông ta gom lấy hai bàn tay của ả, hôn lên đó nhiều lần.
Kyo đã trả tiền xong, nối gót theo ông ta trong hành lang trống trải:
- Chúng ta cùng ra ngoài chớ?
Clappique nhìn anh, nhận ra:
- Anh ở dây à? Thật khó tin! Nhưng mà...
Giọng be bé ấy bị ngăn lại bằng ngón tay trỏ giơ lên của ông:
“Anh phóng đãng quá, anh bạn trẻ ạ!“
- Thôi đi!
Hai người đã ra đến bên ngoài. Mặc dù mưa đã dứt hạt, nước vẫn còn đầy như khí trời. Hai người bước một vài bước trên lớp cát của khu vườn.
- Tại hải cảng - Kyo nói - có một tàu chở vũ khí...
Clappique dừng bước. Kyo vì bước lố một bước phải quay lại: khuôn mặt của vị nam tước trông không rõ lắm, nhưng con mèo to lớn, sáng chói ấy, bảng hiệu Black Cat, bao phủ người ông như một vùng hào quang:
- Tàu Shantung, - anh nói.
Bóng tối và vị trí của ông quay lưng lại với ánh sáng khiến ông không để lộ một nét nào trên khuôn mặt; và anh không nói thêm lời nào cả.
- Có một đề nghị, của chính phủ, - Kyo cất tiếng trở lại, muốn mua 30 đô mỗi khẩu súng lục. Chưa được trả lời. Tôi chịu trả 35 đô, cộng thêm 3 đô tiền hoa hồng cho ông. Giao hàng ngay, tại hải cảng. Bất cứ nơi nào vị thuyền trưởng muốn, nhưng phải tại hải cảng. Ông ta phải rời khỏi nơi bỏ neo ngay lập tức. Họ sẽ nhận hàng đêm nay, với số tiền. Đã thỏa thuận với người đại diện: đây là tờ hợp đồng.
Kyo chìa cho ông tờ giấy, bật quẹt máy vừa lấy bàn tay che nó lại.
“Anh ta muốn phỗng tay trên người khách hàng kia, Clappique nghĩ thầm vừa nhìn vào tờ hợp đồng... Bộ phận rời... và được 5 đô mỗi khẩu. Thật phân minh. Mình cóc cần: có 3 đô về phần mình.”
- Ðược rồi, - ông ta lớn giọng nói. - Anh để tôi giữ tờ hợp đồng chớ gì?
- Phải. Ông có quen với thuyền trưởng không?
- Ðúng ra, có người tôi quen biết nhiều hơn, nhưng dù sao tôi cũng không phải là người xa lạ với ông ta.
- Ông ta có thể sẽ đề phòng (với lại, càng phải đề phòng nhiều hơn nữa, khi đậu nơi cuối hải cảng như hiện tại). Chính phủ có thể đoạt lấy vũ khí thay vì mua chúng, đúng không?
- Đời nào!
Lại điệu bộ Polichinelle. Nhưng Kyo chờ đợi những gì tiếp theo: vị thuyền trưởng bố trí những gì để ngăn cản các phần tử của anh (thay vì của chính phủ) đoạt lấy vũ khí? Clappique nói tiếp bằng một giọng khó nghe hơn: “Những vật ấy được gởi đến cho một nhà thầu thường xuyên. Tôi có quen biết anh ta.”
Giọng mỉa mai:
“Ðó là một kẻ phản bội...”
Giọng nói nghe dị thường trong bóng tối, khi không có một nét mặt nào hỗ trợ nó. Giọng nói cất cao, như khi gọi một cốc tai:
“Một kẻ phản bội đúng mức, rất là nguy hiểm! Vì tất cả nội vụ này qua tay một tòa Công sứ đã... Câm miệng lại! Tôi sẽ thu xếp việc ấy. Nhưng trước hết tôi phải tốn một số tiền tắc xi khá nặng: Con tàu đậu ở xa... tôi còn...”
Ông ta lục lạo trong túi, lôi ra một tấm giấy bạc duy nhất, quay người lại để tấm bảng rọi sáng nó.
“Ðúng mười đô! Không đủ. Chắc tôi sẽ mua ngay những bức tranh của chú Kama của anh để tặng Ferral, nhưng trong khi chờ đợi...
- Năm mươi, đủ không?
- Dư quá...
Kyo trao cho ông.
“Ông đến báo cho tôi ngay khi xong xuôi mọi việc.”
- Đồng ý.
- Trong một giờ nữa?
- Chắc phải lâu hơn. Nhưng tôi sẽ đến ngay khi xong chuyện.
Và với cùng giọng điệu mà ả người Nga đã nói: “Phải chi rượu không khiến tôi ngầy ngật...“, hầu như cùng một giọng nói, như thể mọi người ở nơi này đều gặp gỡ nhau nơi đáy sâu của một niềm tuyệt vọng chung...”
“Tất cả chuyện này không có gì kỳ lạ...”
Ông ta bước đi, cúi gầm mũi xuống, lưng còng, đầu không đội nón, tay vùi vào túi bộ lễ phục, - giống như những nét vẽ phác chính con người ông.
Kyo gọi một chiếc tắc xi và bảo chạy đến ranh giới các tô giới, ngõ hẻm đầu tiên của thành phố Trung Hoa, nơi gã hẹn với Katow.
Mười phút sau khi chia tay với Kyo, Katow đi qua những hành lang, vượt qua các quầy, tới một căn phòng sơn trắng, trống trơn, được thắp sáng trưng bằng những ngọn đèn bão. Không cửa sổ. Bên dưới cánh tay của người Trung Hoa vừa mở cửa cho anh, năm cái đầu nghiêng xuống mặt bàn nhưng cái nhìn thì ngước lên phía anh, phía bóng dáng cao lớn quen thuộc với mọi toán xung kích: chân dang ra, cánh tay buông thõng, áo ngắn không cài nút phía trên, mũi ngẩng cao, tóc rối bời. Họ tập dượt những trái lựu đạn đủ loại. Đó là một tổ chức chiến đấu của Cộng sản mà Kyo và anh đã lập nên tại Thượng Hải.
- Có bao nhiêu người ghi tên? - anh ta hỏi.
- Một trăm ba mươi tám người, - người Trung Hoa trẻ tuổi nhất trả lời, - đó là một thanh niên đầu nhỏ, yết hầu lồ lộ và đôi vai trề xuống, mặc áo thợ.
- Nhất định phải có cho tôi mười hai người đêm nay.
“Nhất định” là một từ ngữ thông dụng của Katow.
- Bao giờ?
- Bây giờ.
- Ở đây?
- Không, ở trước cầu tàu Yen Tang.
Người thanh niên Trung Hoa ra lệnh: một người ra đi.
- Họ sẽ có mặt ở đó trước ba giờ, - người chỉ huy nói.
Ðôi má hóp, tướng người cao gầy, anh ta có vẻ rất kém sức, nhưng giọng nói quả quyết, những thớ thịt bất động trên khuôn mặt cho thấy một ý chí nương tựa hoàn toàn vào tinh thần.
- Tập dượt à? - Katow hỏi.
- Cho quen với lựu đạn, sẽ thuần thục. Hiện tại, đồng chí nào cũng đều quen với các loại chúng ta sử dụng. Về súng, rồi cũng sẽ thuần thục. Ít ra đối với loại Nagan và Mauser. Tôi tập cho họ với những vỏ đạn rỗng, nhưng ít ra cũng cần phải tập bắn với đạn giả... Tôi không có thời giờ dẫn họ ra ngoài đồng...
Trong mỗi căn phòng thuộc số bốn mươi căn phòng đang chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, cùng một vấn đề được đặt ra.
- Thuốc súng không có dù. Có lẽ sẽ được chở tới sau, hiện tại, hãy gác qua việc đó. Còn súng thì sao?
- Cũng sẽ được dàn xếp. Chính súng liên thanh mới làm tôi lo ngại nhất, nếu không thử tập bắn qua.
Yết hầu của anh lên xuống dưới lớp da, theo từng câu trả lời. Anh ta nói tiếp:
- Ngoài ra, không còn cách nào để có thêm một vài khẩu súng nữa hay sao? Bảy khẩu súng, mười ba súng lục, bốn mươi hai lưu đạn! Cứ hai người thì có một người không có súng.
- Chúng ta sẽ đi cướp súng của những người đang có súng. Không chừng chúng ta sắp có những khẩu súng lục. Nếu việc ấy xảy ra ngày mai, sẽ có bao nhiêu người không biết sử dụng súng, thuộc phân đội của anh? Anh ta ngẫm nghĩ. Sự chủ tâm suy nghĩ khiến anh ta có vẻ xa vắng.
“Một người trí thức” - Katow nghĩ thầm.
- Khi chúng ta tướt đoạt xong súng của cảnh sát phải không?
- Phải.
- Quá nửa.
- Còn lựu đạn? - Người nào cũng biết sử dụng cả, và rất thành thạo.
Tôi có ở đây ba mươi người có họ hàng với những người bị xử tử hồi tháng hai. Tuy nhiên trừ phi...
Anh ngập ngừng, dứt câu bằng một cử chỉ lúng túng. Bàn tay bị méo mó, nhưng trông thanh nhã.
- Trừ phi... sao?
- Bọn khốn nạn ấy dùng đến chiến xa để chống lại chúng ta.
Cả sáu người đều đưa mắt nhìn Katow.
- Không sao, - anh ta trả lời. - Anh lấy những trái lựu đạn, cột thành chùm sáu trái, rồi quăng phía dưới chiến xa. Cùng lắm, anh cũng đào được những cái hồ, ít ra theo một phương hướng nào đó. Anh có dụng cụ không?
- Rất ít. Nhưng tôi biết nơi lấy.
- Hãy ra lệnh cướp lấy những chiếc xe máy: ngay khi khởi sự, mỗi phân đội cần phải có liên lạc viên của mình, ngoài liên lạc viên thuộc trung ương.
- Anh có chắc là chiến xa sẽ bị nổ tung lên không?
- Chắc chắn. Nhưng anh đừng lo ngại; chiến xa sẽ không rời bỏ mặt trận đâu. Anh hãy tự tay lấy ra một gói lựu đạn, trao cho ba hay bốn người nào anh chắc ăn nhất, mỗi người một trái...
Người nào thuộc phân đội này cũng đều biết rằng Katow, bị kết án tù sau vụ Odessa, được giam giữ nơi một nhà tù ít tàn bạo nhất, đã xin tình nguyện đi theo để huấn luyện những người tù khốn khổ bị gởi đến các mỏ chì. Họ tin tưởng nơi anh, nhưng vẫn lo ngại. Họ không sợ súng, cả súng liên thanh, nhưng họ sợ chiến xa: họ xem như bất lực, không có cách nào chống lại chúng. Ngay cả trong căn phòng này, nơi chỉ gồm những người tình nguyện, hầu hết đều có họ hàng với những người bị xử tử, chiến xa vẫn được xem như thừa kế sức mạnh của loài ác quỉ.
- Nếu chiến xa đến dây, các anh cũng đừng lo ngại, chúng tôi sẽ có mặt ở đây, - Katow lặp lại.
Lời nói phiếm ấy có thuyết phục được ai không? Lúc chiều, anh đã quan sát qua mười lăm phân đội, nhưng anh không bắt gặp sự sợ hãi nào. Những người này đều kém can đảm hơn những người khác, nhưng họ tinh xác hơn. Anh biết là sẽ không giải tỏa được sự sợ hãi của họ; trừ các chuyên viên dưới sự chỉ huy của anh, những đội ngũ cách mạng sẽ bỏ chạy trước chiến xa. Chiến xa chắc sẽ không rời bỏ mặt trận; nhưng nếu chúng vô đến thành phố, sẽ không thể nào ngăn chận tất cả bằng những cái hố; trong các khu vực ấy chằng chịt không biết bao nhiêu là ngõ hẻm.
- Chiến xa chắc chắn sẽ không rời bỏ mặt trận, - anh nói.
- Làm thế nào để cột những trái lựu đạn? Người Trung Hoa trẻ tuổi nhất hỏi.
Katow giảng dạy. Không khí trở nên bớt nặng nề hơn, như thế sự vận dụng bàn tay ấy đã bảo đảm cho chiến thắng. Katow thừa dịp để ra đi. Hết nửa số người không biết sử dụng vũ khí. Anh chỉ còn có thể tin cậy nơi những người anh đã đào tạo, những toán chiến đấu có nhiệm vụ cướp vũ khí của cảnh sát.
Ngày mai. Nhưng sau ngày ấy thì sao? Quân đội tiến lên, mỗi giờ một gần hơn, tin tưởng nơi cuộc nổi dậy tại thành phố. Không chừng ga cuối cùng đã được chiếm đóng xong. Khi Kyo trở về, hẳn nhiên họ đã được biết tin ấy rồi, tại một trong số những trung tâm truyền tin. Người bán đèn không được báo tin nào sau 10 giờ. Katow chờ tại ngõ hẻm, không ngừng đi lại; cuối cùng Kyo tới. Người này cho người kia biết những gì họ đã làm. Hai người đều bước trở lại vào đám bùn, trên đôi giày cờ rếp: Kyo nhỏ thó và mềm mại như một con mèo Nhật Bản, Katow đong đưa qua lại đôi vai. Các đoàn quân tiến tới, súng lấp lánh những hột mưa, phía Thượng Hải hồng đỏ nơi tận cùng đêm đen... Cuộc tiến quân phải chăng đã không bị ngăn chận lại?
Ngõ hẻm nơi hai người đang rảo bước, ngõ hẻm đầu tiên của thành phố Trung Hoa, là nơi buôn bán các loài chim vì nó tiếp cận các ngôi nhà cất theo kiểu Âu. Tiệm buôn nào cũng đóng cửa: không một con vật nào ở bên ngoài, và không một tiếng kêu nào khuấy động sự yên lặng, chen giữa những hồi còi là những giọt mưa cuối cùng rơi từ các nóc nhà uốn cong xuống những vũng nước. Các con vật đều yên giấc. Hai người đi vào một tiệm buôn, sau khi gõ cửa: tiệm buôn của một bạn hàng cá tươi. Ánh sáng duy nhất là của một ngọn đèn cầy cắm trong một chụp đèn phản chiếu một cách yếu ớt lên từng cái chậu lấp lánh giống như của Alibba và trong đó ngủ khuất những con cá chép Trung Hoa nổi tiếng là ngon.
- Ngày mai à? - Kyo hỏi.
- Ngày mai vào lúc một giờ.
Cuối gian nhà, phía sau một quầy hàng, một người không rõ hình dung ngồi ngủ đầu vùi vào khuỷu tay khép lại. Anh ta chỉ khẽ ngẩng đầu lên để trả lời. Kho hàng là một trong số tám mươi trụ sở thường trực của Quốc dân đảng, nơi chuyển giao tin tức.
- Tin chính thức?
- Phải. Quân đội hiện ở Tcheng Tchéou. Tổng đình công vào lúc trưa.
Mặc dù không có gì thay đổi trong bóng tối, mặc dù người bạn hàng vẫn thiu thiu ngủ không phác ra một cử chỉ nào, thế nhưng mặt lu lấp lánh bắt đầu khẽ giao động; từng đợt sóng mềm mại màu đen, lặng lẽ tỏa đều ra: tiếng người nói đã đánh thức bầy cá. Một hồi còi lại mất hút phía xa. Hai người trở ra, lại rảo bước. Cũng trên đại lộ Hai nền Cộng hòa.
Tắc xi. Chiếc xe chạy đi bằng tốc độ như trong phim ảnh. Katow ngồi bên trái, chồm tới nhìn chăm chú người tài xế.
- Anh ta nghiện. Tôi nhất định không muốn phải chết trước chiều mai. Bình tĩnh lại nào, cậu bé!
- Clappique sẽ cho tàu chạy đến, - Kyo nói. - Các đồng chí tại kho quân trang của chính phù có thể cung cấp cho chúng ta quần áo cảnh sát...
- Không cần. Tôi có hơn mười lăm bộ tại trụ sở thường trực.
- Hãy lái chiếc phụ hạm với mười hai người của anh.
- Không có anh có lẽ tốt hơn...
Kyo nhìn anh không nói gì cả.
- Không nguy hiểm lắm, nhưng cũng không phải an nhàn gì, anh cũng thấy rõ. Nguy hiểm hơn cái tên tài xế ngu ngốc này đang cho xe chạy nhanh trở lại. Và không phải lúc anh cần ra mặt.
- Anh cũng vậy.
- Tôi nhìn khác. Tôi, người ta có thể thay thế được, hiện tại, anh cũng rõ... Tôi muốn tốt hơn là anh lo canh giữ chiếc cam nhông chờ đợi các cộng sự, và lo việc phân phát vũ khí.
Katow ngập ngừng, vẻ lúng túng, bàn tay đặt lên ngực. “Nên để cho gã tự nhận biết lấy”, anh nghĩ thầm, Kyo không nói gì cả. Chiếc xe tiếp tục chạy qua những vạch ánh sáng phù sương mù. Anh ta hữu dụng hơn là Katow tưởng: Ủy ban Trung ương hiểu rõ chi tiết những gì anh ta tổ chức, nhưng chỉ qua giấy tờ, và anh ta thì biết rõ thành phố từng li từng tí, với những yếu điểm của nó như những vết thương. Không một đồng chí nào có thể phán ứng nhanh nhẹn, và chắc chắn như anh ta.
Ánh sáng mỗi lúc một nhiều hơn... Những chiếc cam nhông bọc sắt của các tô giới lại hiện ra, kế đó, thêm một lần nữa, đến lượt bóng tối.
Chiếc xe dừng lại. Kyo bước xuống.
- Tôi đi lấy quần áo, - Katow nói - Tôi sẽ cho rước anh khi mọi việc đã sẵn sàng.
Kyo ở chung với cha mình trong một căn nhà Trung Hoa không có tầng gác: bốn gian nhà vây quanh một khu vườn. Anh băng qua gian thứ nhất và đi vào đại đình: bên mặt và bên trái, trên những bức tường sơn trắng, là những bức họa đời Tống, những con phượng hoàng màu xanh Chardin[6]; tận cùng, một tượng Thích Ca đời nhà Tùy, gần giống theo lối La tinh. Những trường kỷ bóng láng, một bàn đèn. Sau lưng Kyo, những tấm kính trần trụi như là của một công trường. Cha anh, nghe tiếng đi vào: từ vài năm nay ông bị mất ngủ, chỉ chợp mắt một vài giờ vào lúc rạng sáng, và vui mừng đón tiếp những gì có thể giúp ông trải qua đêm.
- Ba chưa ngủ sao, Tchen sắp đến thăm ba.
- Tốt lắm.
Kyo không có những nét mặt giống cha; hình như dòng máu Nhật Bản của người mẹ ảnh hưởng tới anh nhiều hơn vẻ mặt đạo sĩ khổ hạnh của ông Gisors - vẻ mặt mà một chiếc áo ngủ bằng lông lạc đà, đêm nay, càng tăng thêm nét khắc khổ, để tạo nên khuôn mặt hiệp sĩ Nhật của Kyo.
- Có việc gì xảy đến cho cậu ta sao?
- Thưa phải.
Hai người ngồi xuống. Kyo không buồn ngủ. Anh thuật lại khung cảnh mà Clappique vừa diễn ra trước mắt anh - không nói đến vũ khí. Không phải vì anh đề phòng người cha; nhưng anh muốn tự trách nhiệm lấy đời mình. Mặc dù vị giáo sư già dạy xã hội học tại Viện Đại học Bắc Kinh, bị Tchang Tso Lin trục xuất vì đường lối giảng dạy của ông; dù đã đào tạo thành phần cách mạng lỗi lạc nhất miền Hoa Bắc, ông vẫn không tham gia vào cuộc hoạt động. Do đó ngay khi Kyo bước vào, ý chí của ông biến thành sự sáng suốt, điều mà anh không mấy ưa thích: và ông quan tâm đến con người thay vì quan tâm đến những lực lượng. Vì Kyo nói về Clappique với cha, vốn biết nhiều với ông ta, vị nam tước có vẻ càng khó hiểu hơn ban nãy, khi Kyo nhìn ông ta...
“... ông ta cuối cùng lại vay của con năm mươi đôla...”
- Ông ta không vụ lợi đâu, Kyo...
- Nhưng ông ta vừa tiêu xong một trăm đôla, chính mắt con trông thấy. Chứng bệnh ưa bịa chuyện hoang đường bao giờ cũng là một cái gì đáng lo ngại.
Kyo muốn biết xem có thể sử dụng Clappique đến mức độ nào. Cha anh, cũng như bao giờ, muốn tìm những gì cốt yếu và đặc dị nơi người này. Nhưng những gì sâu xa nhất nơi một con người ít khi là những gì mà người ta có thể khích động để vì đó hẳn hành động tức thời, và Kyo nghĩ đến những khẩu súng lục:
-Nếu cần tỏ ra mình nhiều tiền, tại sao không thử làm giàu?
- Ông ta là người chơi đồ cổ số một tại Bắc Kinh...
- Tại sao ông ta lại đi tiêu sạch cả số tiền trong một đêm, nếu không phải để tạo ra ảo tưởng mình giàu có?
Ông Gisors nheo mắt, hất về phía sau những sợi tóc bạc khá dài, giọng nói luống tuổi của ông, mặc dầu thanh sắc có yếu đi, vẫn giữ được sự rành rẽ:
“Chứng bệnh ưa bịa chuyện hoang đường của ông ta là một cách thức phủ nhận đời sống, phải không, chớ không nhằm bỏ quên đời sống. Con nên thận trọng mà lý luận đối với những sự việc như vậy...”
Người cha áy náy trải bàn tay ra; những cử chỉ nghiêm ngặt của ông gần như không bao giờ hướng sang phải hoặc trái, nhưng hướng về phía trước mặt: những cử dộng, khi ông kéo dài một câu nói, không có vẻ như xua đẩy một vật gì, mà như bắt lấy nó.
“Mọi sự diễn ra như thể ông ta muốn chứng tỏ rằng, mặc dầu ông đã sống qua hai tiếng đồng hồ như một người giàu có, sự giàu có vẫn không là một cái gì có thật. Vì như vậy, sự nghèo khó cũng là một cái gì không có thật luôn. Đó là điều cốt yếu. Không có gì là có thật: mọi sự đều là hư ảo. Đừng quên nghĩ tới rượu, đã giúp đỡ ông ta...”
Ông Gisors mỉm cười. Nụ cười trên đôi môi với khóe môi vạch xuống, vốn đã mỏng, càng thấy phức tạp hơn những lời nói của ông. Từ hai mươi năm nay ông dùng sự hiểu biết của mình để làm cho con người thương yêu lẫn nhau, bằng cách biện hộ cho con người, và thiên hạ mang ơn ông vì một tấm lòng hào hiệp mà họ không đoán được là nó bắt rễ từ thuốc phiện. Người ta cho là ông có sự nhẫn nhịn của các tin đồ đạo Phật: sự nhẫn nhịn đó là của một người nghiện.
- Không có người nào sống để phù nhận đời sống.- Kyo trả lời.
- Người ta sống không ra một đời sống... ông ta cần phải sống như vậy.
- Ông ta bị bắt buộc?
- Ông ta bất đắc dĩ phải như vậy vì vai trò làm môi giới các món đồ cổ, vì ma túy không chừng, vì nghề buôn lậu vũ khí... Mua chuộc bọn cánh sát mà hẳn nhiên là ông ta không ưa thích, nhưng đã hợp tác vào những việc bần tiện ấy để đổi lấy một số tiền thưởng tương xứng...
Không hề gì: cảnh sát, phần chúng, chúng biết rằng những phần tử Cộng sản không đủ tiền để mua vũ khí của những người nhập cảng lậu.
- Mọi người đều đau khổ giống như ông ta, Kyo nói: điều gì đã làm ông ta đau khổ chớ?
- Sự đau khổ của ông ta không có gì là quan trọng hơn, có ý nghĩa hơn, phải không, đừng đề cập đến những gì thâm trầm hơn sự dối trá và niềm vui của ông ta; ông ta không hề có cái gì gọi là thâm trầm, và có lẽ đó là điểm nổi bật nhất nơi ông ta, vì thật là hiếm. Ông ta làm những gì có thể làm vì điểm ấy, nhưng cũng cần phải có năng khiếu. Khi con không phải ràng buộc vào một người, Kyo ạ, con sẽ nghĩ về hắn để dự đoán những hành vi của hắn. Những hành vi của Clappique...
Ông ta chỉ vào bồn cá trong đó những con cá chép màu đen, mềm mại và có khía giống như những lá cờ phướn lên xuống không chừng.
“Chúng đấy... Ông ta uống rượu, nhưng đúng lý ra ông ta phải là người của thuốc phiện; người ta cũng chọn lầm những thói xấu của mình, nhiều người không bắt gặp được thói xấu sẽ cứu được mình. Đáng tiếc, vì ông ta không phải là một người không có giá trị.
Nhưng con không cần quan tâm tới lãnh vực của ông ta”.
Ðúng vậy. Nếu chiều nay Kyo không nghĩ đến cuộc giao tranh, anh chỉ có thể nghĩ đến chính mình. Dần dần sự nóng bức vây phủ anh, như ban nãy tại tiệm Black Cat. Và thêm lần nữa, mỗi ám ảnh về đĩa hát xâm nhập vào anh giống như hơi ấm thoải mái vây lấy đôi chân anh. Kyo kể lại sự ngạc nhiên trước những đĩa hát, nhưng như thể đó là một trong số những lần thu giọng diễn ra tại những cửa hàng người Anh. Ông Gisors lắng nghe, bàn tay trái mơn man cái cằm lộ xương; nó có những ngón mảnh mai rất đẹp. Ông ta nghiêng đầu về phía trước, và những sợi tóc rơi phủ xuống mắt, mặc dù trán ông trơn trụi. Ông hất đầu cho tóc trở về nếp cũ, nhưng cái nhìn vẫn xa vắng:
“Ba cũng đã có lần đứng bất ngờ trước một tấm gương và không nhận ra mình...”
Ngón tay cái của ông xoa nhẹ lên những ngón khác của bàn tay mặt, như thể ông muốn gạt đi lớp bụi của những kỷ niệm. Ông ta nói cho chính mình, theo đuổi một ý nghĩ đã xoá mờ sự hiện diện của người con.
- Chắc hẳn đó là một vấn đề phương tiện: chúng ta nghe giọng của người khác bằng tai.
- Và giọng của chúng ta?
- Bằng cổ họng vì bịt tai lại, con nghe giọng nói của con. Thuốc phiện cũng là một thế giới mà chúng ta không nghe bằng tai...
Kyo đứng lên. Cha anh chỉ mơ hồ nhận thấy.
- Ðêm nay con phải trở ra ngoài lại.
- Ba có giúp ích được gì cho con bên cạnh Clappique không?
- Thưa không. Cám ơn ba. Con đi đây.
- Ừ, con đi.
★
Nằm xuống để thử giảm bớt sự mệt mỏi, Kyo chờ đợi. Anh không thắp đèn không động đậy. Không phải chính anh đã nghĩ đến cuộc nổi dậy, chính cuộc nổi dậy, sống động trong bao nhiêu đầu óc như giấc ngủ trong bao nhiêu đầu óc khác, đè nặng lên anh đến mức anh chỉ còn là nỗi lo âu và sự chờ đợi. Non bốn trăm khẩu súng tất cả. Chiến thắng - hay là chạm súng, với một sự cải thiện sau đó. Ngày mai. Không lát nữa. Vấn đề mau chậm cướp vũ khí cảnh sát tại mọi nơi và với năm trăm khẩu Mauser, võ trang cho các toán xung kích trước khi binh sĩ trên chiếc xe lửa bọc sắt của chính phủ bắt tay vào hành động. Cuộc nổi dậy phải khởi sự vào lúc một giờ - cuộc tổng đình công, do đó, phải diễn ra vào buổi trưa - và phần lớn các toán quân chiến đấu phải được võ trang trước năm giờ. Phân nửa số lính cảnh sát, khổ vì nghèo đói, hẳn sẽ chạy sang các phần tử nổi đậy. Còn một nửa kia. “Trung Hoa Xô viết”, Kyo nghĩ thầm. Dành lấy ở đây uy thế của nó. Và Cộng hòa liên bang Xô viết sẽ tăng thêm 600 triệu người. Chiến thắng hay chiến bại, vận mạng thế giới, đêm nay, đang thấp thoáng tại đây. Trừ phi Quốc dân đảng, một khi Thượng Hải bị chiếm xong, lại nỗ lực tiêu diệt các đồng minh Cộng sản... Kyo đánh thót lên: cánh cửa ra vào khu vườn mở ra. Sự hồi tưởng làm mất đi nỗi lo lắng: vợ anh à? Kyo lắng tai: cửa vào nhà khép lại. May đi vào áo choàng bằng da màu xanh lơ, cắt gần giống theo kiểu quân phục, làm tăng thêm về khỏe khoắn nơi dáng dấp của nàng và cả trên khuôn mặt nàng, - miệng rộng, mũi ngắn, gò má lộ rõ giống như phụ nữ miền Bắc nước Ðức.
- Mọi sự êm thấm cho lát nữa chớ, Kyo?
- Phải.
Nàng là y sĩ tại một y viện Trung Hoa, nhưng nàng đến từ phân đội gồm những phụ nữ cách mạng mà nàng là người điều khiển y viện bí mật:
“Bao giờ cũng vậy, anh biết không, em vừa mới xong với một cô bé mười tám tuổi đã toan tự tử bằng lưỡi dao cạo ở trong kiệu cưới. Gia đình ép gả cô cho một người thô lỗ có địa vị... Người ta mang cô đến trong lớp áo dài màu đỏ của cô, ướt đẫm máu. Bà mẹ theo sau, một bóng dáng nhỏ thô tiều tụy nức nở, tất nhiên... Khi em cho bà ta hay là cô bé sẽ không chết, bà ta nói với em: “Tội nghiệp con nhỏ! Thế mà nó suýt may mắn được nhắm mắt...” May mắn... Chữ ấy đủ nói lên hoàn cảnh người đàn bà tại đây còn hơn cả những bài diễn thuyết của chúng ta...
Gốc người Ðức nhưng được sanh ra tại Thượng Hải, tốt nghiệp bác sĩ tại Ðại học Heidelberg và Paris, nàng nói tiếng Pháp không có dấu giọng. Nàng liệng cái nón xuống giường. Những sợi tóc quăn được vén về phía sau, cho dễ đội nón hơn. Kyo thèm muốn vuốt ve mái tóc nàng. Vầng trán thật rộng, cũng đượm một vẻ đàn ông, nhưng kể từ lúc ngừng nói nàng trở lại là một phụ nữ - Kyo không rời mắt khỏi nàng - vì ý chí lắng xuống làm dịu dàng thêm nét mặt của hàng, đồng thời sự mỏi mệt cũng làm nét mặt dãn ra, và nàng không có đội nón. Khuôn mặt ấy sống động nhờ cái miệng đầy nhục cảm đôi mắt thật to, trong suốt, và khá sáng để cường độ của cái nhìn chừng như không do nơi con ngươi, mà là do cái bóng của vầng trán trong hai hố mắt dài ra.
Thấy ánh sáng, một con chó xù màu trắng lúp xúp chạy vào: nàng gọi nó bằng một giọng mỏi mệt:
- Chó rậm lông, chó lắm lông, chó nhiều lông!
Nàng tóm lấy nó bằng tay trái, nâng nó lên đến ngang mặt vừa vuốt ve:
- Con thỏ, nàng mỉm cười nói, con thỏ lapinovitch...
- Nó trông giống em quá, - Kyo nói.
- Thật à?
Nàng nhìn vào trong gương cái đầu màu trắng kê sát đầu nàng, bên trên những cái cẳng chụm lại. Sự giống nhau buồn cười ấy là do đôi gò mà cao của phụ nữ người Đức như nàng. Dù nàng chỉ đẹp vừa phải thôi, Kyo vẫn nghĩ đến bằng cách biến đổi câu nói của Othello. “Ồ nàng nữ binh thân mến của tôi...”
Nàng đặt con chó xuống, đứng lên. Áo choàng xốc xếch, nửa thân áo mở ra, giờ đây cho thấy đôi vú vun cao làm nghĩ đến đôi gò má. Kyo thuật lại cho nàng nghe việc làm của anh đêm nay.
“Tại y viện - nàng đáp - chiều nay, có ba mươi phụ nữ trẻ thuộc đội tuyên truyền thoát khỏi toán quân, da trắng... Bị thương. Họ đến mỗi lúc một đông, họ cho biết quân đội hiện đang gần đây. Và có nhiều phụ nữ bị giết...
Và phân nửa số phụ nữ bị thương sẽ chết... Sự đau đớn chỉ có ý nghĩa là khi nào nó không đưa đến cái chết, thế mà gần như lúc nào nó cũng đưa đến đó.”
May nghĩ ngợi:
- Phải - cuối cùng nàng nói - Nhưng đó có lẽ là một ý nghĩ của đàn ông. Ðối với em, đối với một phụ nữ, đau đớn - cũng lạ - càng bắt nghĩ đến sự sống hơn là cái chết... Có lẽ vì những lần sanh nở...
Nàng lại nghĩ ngợi:
- Càng có nhiều người bị thương, càng cận kề hơn với giờ phút nổi loạn, người ta càng ăn nằm nhiều hơn.
- Dĩ nhiên.
- Em cần nói với anh một chuyện có lẽ sẽ khiến anh khó chịu phần nào.
Chống lên khuỷu tay, Kyo đưa mắt hỏi hàng. Nàng thông minh và dũng cảm, nhưng thường vụng về.
- Cuối cùng em đã ăn nằm với Lenglen, hồi xế trưa này.
Kyo nhún vai, như ngụ ý: “Ăn thua gì tới anh”. Cử chỉ của anh, nét mặt căng thẳng ấy, không hòa hợp với về mặt hững hờ. Nàng bơ phờ nhìn anh, đôi gò má càng cao thêm dưới ánh sáng chụp xuống. Anh cũng nhìn đôi mắt không ánh mắt nhìn của nàng, đầy bóng tối, và không nói gì cả. Kyo tự hỏi không hiểu về mặt đầy nhục cảm của nàng có phải do nơi đôi mắt đằm sâu ấy và đôi môi hơi dày của nàng làm tăng thêm một cách mạnh bạo nét đàn bà, tương phản với nét mặt... Nàng ngồi xuống giường, cầm lấy tay anh. Anh muốn rút tay về, nhưng lại thôi. Dù vậy nàng cảm nhận được cử chỉ ấy.
- Anh khổ tâm vì chuyện đó sao?
- Anh có nói là em được tự do... Ðừng đòi hỏi gì nhiều. - Kyo nói thêm với giọng chua chát.
Con chó nhỏ nhảy lên giường. Anh rút tay về, có lẽ để vuốt ve nó.
- Em được tự do, - anh lặp lại. - Ngoài ra, không có gì đáng kể.
- Dù sao, em cũng phải kể lại với anh. Ngay đối với em cũng vậy.
- Phải.
Nàng phải kể lại cho anh nghe, chuyện ấy không thành vấn đề đối với hai người. Bất giác anh muốn ngồi lên nằm như thế này, với nàng ngồi trên giường, khác nào một người bệnh được nàng canh chừng... Nhưng để làm gì chớ? Mọi sự đều hão huyền vô cùng... Dù vậy anh vẫn nhìn nàng, khám phá ra rằng nàng có thể làm anh khổ sở, mặc dầu đã nhiều tháng qua, dù có nhìn nàng hay không, anh vẫn không trông thấy nàng; một vài câu nói, đôi khi,... Mối tình căng thẳng ấy đã nối kết hai người như một đứa trẻ bị bệnh, ý thức chung về nếp sống và cái mất, sự hòa hợp xác thịt giữa hai người, không có cái gì trong tất cả những thứ ấy là có thật đối diện với sự bất hạnh làm phai màu các hình thể đầy ắp trong mắt nhìn của chúng ta. “Mình có yêu nàng ít hơn là mình tưởng không?” - Kyo thầm nghĩ. - Không. Ngay cả lúc này, anh tin chắc rằng nếu nàng chết, anh không còn phục vụ chính nghĩa của anh bằng niềm hy vọng, mà bằng nỗi tuyệt vọng, như một người đã chết rồi. Không có gì, dù vậy, có thể chống lại được sự phai màu của khuôn mặt ấy, một khuôn mặt vùi sâu dưới cuộc chung sống của hai người như vào lớp sương mù, như dưới lòng đất lạnh. Anh nhớ lại một người bạn đã chứng kiến cảnh người vợ mà anh ta thương yêu, trải qua nhiều tháng bị tê liệt, mất hẳn trí khôn; anh chừng như trông thấy May chết như vậy, trông thấy biến mất một cách phi lý, như một áng mây tan biến trên bầu trời ảm đạm, bóng dáng hạnh phúc của mình. Như thể nàng đã hai lần chết, một lần trong thời gian, và lần kia, trong câu chuyện nàng kể lại.
Nàng đứng lên, đi đến cửa sổ. Nàng bước gọn gàng, mặc dù mỏi mệt. Vì lo sợ và vì tình cảm thẹn thùng lẫn lộn, nàng chọn sự im lặng, không còn kể tiếp câu chuyện nàng vừa kể vì Kyo ngậm miệng, muốn trốn chạy câu chuyện mà dù vậy nàng cảm thấy rằng hai người sẽ không làm sao thoát khỏi được, nàng muốn bày tỏ sự âu yếm bằng cách nói bất cứ một chuyện gì, và, tự nhiên, nàng đánh thức cái khuynh hướng vật linh mà Kyo ưa chuộng: đối diện với cửa sổ, là một cây tháng Ba mọc lá trong đêm; ánh sáng của căn phòng soi sáng những chiếc lá còn đang co rúm, khoác một màu xanh dịu dàng trên nền trời u tối.
- Ban ngày nó giấu những chiếc lá vào thân cây, nàng nói, - và đêm nay nó để lá chui ra trong khi người ta không trông thấy.
Nàng như nói với chính nàng, nhưng làm sao Kyo có thể xem thường giọng nói của nàng được?
- Lẽ ra em nên chọn một ngày khác, dù vậy anh vẫn nói giữa hai hàm răng. Kyo cũng nhìn thấy bóng mình trong gương, tựa lên khuỷu tay - giữa những cái chăn giường màu trắng khuôn mặt trông giống người Nhật làm sao. “Phải chi mình không phải là một người hai dòng máu...” Anh cố gắng một cách mạnh mẽ để xua đuổi những ý nghĩ thù hận và hèn kém sẵn sàng để biện hộ và nuôi dưỡng cơn tức giận của anh. Và anh nhìn nàng, đưa mắt nhìn nàng, như thể khuôn mặt ấy cần phải tìm lại cho được tất cả sự sống mà nó đã đánh mất, do nỗi khổ mà nó bắt anh phải chịu.
- Nhưng mà, Kyo ạ, chính ngày hôm nay việc đó mới không là quan trọng... và...
Nàng sắp sửa nói thêm: “Hắn cảm thấy thèm muốn quá... Trước cái chết, việc đó không đáng kể bao nhiêu...” Nhưng nàng chỉ nói:
- ... cả em nữa, ngày mai, em cũng có thể chết đi...
Càng hay. Kyo ray rứt vì sự đau khổ nhục nhã nhất: sự đau khổ mà người ta khinh thường không muốn nhận lấy. Thật sự nàng được tự do ăn nằm với người nàng muốn. Vậy thì do đâu có sự đau khổ ấy mà anh phải tự nhận là mình không có quyền gì, và sự đau khổ thì lại được bao nhiêu là quyền để giày vò anh?
- Bao giờ anh mới biết được là em... yêu quí anh, Kyo, một hôm anh có hỏi em, một cách không được nghiêm chỉnh - hay đúng ra chỉ một phần nào thôi - em có tin rằng em sẽ theo anh vào tù không, và em trả lời là em không biết nữa, - theo em, ở lại trong tù chắc hẳn mới là điều khó... Dù vậy anh vẫn cho rằng em sẽ theo anh, vì anh cũng yêu quí em. Tại sao bây giờ anh không còn tin như vậy nữa?
- Bao giờ cũng chính những người ấy mới vào tù. Katow sẽ vào đó, dù anh ta không thật lòng mong muốn. Anh ta vào đó là do ý nghĩ anh ta có về đời sống, về chính mình... Người ta không vào tù vì một người nào đó.
- Kyo, đó là những ý nghĩ của đàn ông...
Kyo nghĩ ngợi.
- Và dù vậy, - anh nói, - yêu mến những người nào có thể làm được việc đó, hay có thể được họ yêu mến lại, người ta còn muốn chờ đợi gì thêm nơi tình yêu nữa chớ?... Thật là điên rồ biết bao để đòi hỏi họ trang trải những gì khác nữa?... Ngay cả khi họ làm vì... tinh thần của họ...
- Không phải vì tinh thần đâu, - nàng chậm rãi nói. - Vì tinh thần, chắc chắn em sẽ không làm nổi.
- Nhưng - Kyo cũng nói một cách chậm rãi - tình yêu đó không ngăn cản em ăn nằm với anh ta, trong khi em nghĩ là - như em vừa mới nói - như vậy khiến anh... bực bội?
- Kyo, em sẽ nói cho anh nghe một điều kỳ dị, và dù vậy nó vẫn đúng thật... năm phút trước đây, em ngỡ như; anh sẽ bất cần về chuyện ấy. Có thể tưởng như vậy sẽ tiện cho em hơn... Có những tiếng kêu gọi, nhất là một khi người ta ở gần với cái chết đến mức ấy (cái chết của những người khác mà em quen trông thấy, Kyo ạ), không mảy may liên hệ đến tình yêu...
Thế nhưng, sự ghen tuông vẫn có, càng làm rối lòng hơn sự đòi hỏi xác thịt mà nàng gợi lên bằng sự dịu dàng âu yếm. Mắt nhắm lại, vẫn chống lên khuỷu tay, Kyo cố thông cảm lời nàng - một cái trò không lấy gì làm vui. Anh chỉ nghe có hơi thở mệt nhọc của May, và tiếng các móng chân của con chó nhỏ. Vết thương lòng của anh, trước hết (than ôi! sẽ còn được kể tiếp bằng những vết thương khác sau này), là do nơi những gì anh gán cho người đàn ông mới ăn nằm với May (Dù vậy mình vẫn không thể gọi đó là tình nhân của nàng.), do nơi sự khinh miệt dành cho nàng. Ðó là một trong số những người bạn lâu đời của May, Kyo chỉ quen sơ với hắn. Nhưng anh biết rõ tính tình đàn bà trong thâm tâm của hầu hết những người đàn ông. “Ý nghĩ mà hắn có thể dành cho hàng, sau khi tin được ăn nằm với nàng là: “Con nhỏ đĩ” khiến mình muốn đập chết hắn. Phải chăng bao giờ người ta cũng ghen tuông vì những gì người ta phỏng đoán rằng người khác đã nghĩ? Buồn thay cho con người...” Với May không hề có vấn đề tình dục. Hắn cần phải biết điều đó. Hắn ăn nằm với nàng, phải, nhưng đừng tưởng là chiếm hữu được nàng. “Mình trở nên não nề...” Nhưng Kyo không thể nào khác hơn được, và đó không phải là điều cốt yếu, anh cũng biết vậy. Điều cốt yếu, làm rối lòng anh đến mức khiến anh phải xao xuyến, chính là việc đột nhiên anh tách rời nàng, không phải vì thù hận - dù rằng sự thù hận vẫn có trong lòng - không phải vì ghen tuông (hay phải chăng đó chính là sự ghen tuông?); vì một tình cảm không có tên gọi, có sức hủy diệt không kém gì thời gian và cái chết: anh không nhận ra nàng. Anh đã mở mắt trở lại; thân thể quen thuộc có dáng dấp thể thao ấy là của người nào đây, khuôn mặt nhìn nghiêng ấy: một con mắt dài, bắt đầu từ thái dương, vùi sâu vào giữa vầng trán trơn tru và gò má. Người đàn bà vừa ăn nằm đó à? Nhưng phải chăng nàng không vừa là người đàn bà đã từng chịu đựng những yếu đuối khổ đau, những cơn tức giận của Kyo, đã từng cùng anh chăm sóc các đồng chí bị thương, canh chừng những người bạn của anh đã chết. Giọng nói ngọt ngào của nàng vẫn còn phảng phất trong không khí... người ta không quên được những gì người ta yêu mến. Thế nhưng thân thể ấy đã khoác lại về khó hiểu thương tâm của một người quen đột nhiên thay hình đổi dạng, vẻ khó hiểu thương tâm của người câm, người mù, của người điên.
Và đó là người đàn bà. Không phải một loại đàn ông. Một cái gì khác...
Nàng hoàn toàn thoát khỏi gã. Và, có lẽ vì vậy mà tiếng kêu gọi điên cuồng một sự tiếp xúc kịch liệt với nàng làm cho anh mờ cả mắt, dù nó có như thế nào, dù nó có là sự kinh hoàng, những tiếng kêu, những cú đấm. Kyo đứng lên, bước về phía nàng. Anh biết rằng anh đang ở trong một trạng thái khủng hoảng, rằng ngày mai có thể anh không còn biết gì nữa cả về những gì mình đã cảm thấy, nhưng anh đối diện với nàng như đối diện với một cơn hấp hối, và như thế hướng về cơn hấp hối, bản năng ném anh về phía nàng: chạm vào, sờ mó, giữ lấy những gì rời bỏ mình, bám chặt lấy... Nàng nhìn anh, dừng lại trước mặt nàng hai bước, với một nỗi lo lắng làm sao... Sự phát lộ những gì anh ước muốn cuối cùng rơi phủ xuống anh; ăn nằm với nàng, trốn lánh vào nàng chống lại cơn hôn mê đã khiến anh hoàn toàn đánh mất nàng; hai người không cần phải tìm hiểu nhau khi họ đã dùng tất cả sức mạnh của mình để siết chặt cánh tay vào thân thể của nhau.
Nàng đột nhiên quay lại: có tiếng người vừa bấm chuông. Thật quá sớm nếu là Katow. Cuộc nổi dậy đã bị bại lộ rồi sao? Những gì hai người đã nói, đã cảm thấy, đã yêu, đã ghét đều sụp đổ một cách tàn nhẫn. Lại có tiếng bấm chuông. Anh lấy khẩu súng lục cất dưới gối nằm, băng qua khu vườn, ra mở cửa trong lớp áo ngủ: không phải Katow, mà là Clappique, vẫn mặc bộ lễ phục. Hai người đứng lại trong khu vườn.
- Mọi việc ra sao?
- Trước hết, tôi cần phải trả lại cho anh hồ sơ: đây này. Mọi việc đều tốt đẹp. Con tàu nhổ neo. Nó sẽ đến bỏ neo ngang mặt tòa lãnh sự Pháp, gần như nằm hẳn phía bên kia bờ sông.
- Có gì trở ngại không?
- Hoàn toàn không. Chỗ tin cậy lâu đời: nếu không, không biết phải làm sao. Những vụ như thế này, anh bạn trẻ ạ, sự tin cậy cần thiết hơn bất cứ vào một dịp nào khác... ám chỉ ư?
Clappique đốt một điếu thuốc. Kyo chỉ trông thấy có mảnh tơ màu đen trên khuôn mặt mơ hồ. Kyo đi tìm bóp của anh - May chờ đợi - trở ra, trả tiền hoa hồng đã thỏa thuận. Vị nam tước nhét những tờ giấy bạc cuốn tròn vào trong túi, không đếm qua.
- Lòng tốt đem lại hạnh phúc, - ông ta nói. - Ðúng ra, câu chuyện đêm nay của tôi là một câu chuyện luân lý rất là đáng kể: nó bắt đầu bằng sự bố thí, và kết thúc bằng vận may. Hoàn toàn như vậy!
Ngón tay trỏ giơ lên, ông ta ghé vào tai Kyo:
- Fantomas xin chào! quay lưng và bước đi. Kyo như ngại trở vào, đứng nhìn ông ta bỏ đi, bộ lễ phục lay lắc dọc theo bức tường sơn trắng. “Khá giống Fantomas, quả thật, với bộ lễ phục đó. Ông ta đoán ra, hoặc phỏng đoán, hay là...”. Sự kỳ thú gián đoạn: Kyo nghe một tiếng người ho và nhận ra nó ngay vì anh ta đang chờ đợi: Katow. Mọi người đều vội vã, đêm nay.
Kyo đoán ra cái áo ngắn nhiều hơn là trông thấy nó; bên trên, trong bóng tối, một cái mũi ngẩng cao... anh cảm thấy rõ nhất là đôi bàn tay đong đưa. Kyo bước về phía anh ta.
- Mọi việc ra sao? - Kyo hỏi, như đã hỏi Clappique.
- Xong rồi. Con tàu thì sao?
- Đậu ngang toà lãnh sự Pháp. Cách xa bến. Trong nửa giờ nữa.
- Chiếc phụ hạm và nhân sự cách đó bốn trăm thước.
Đi thôi.
- Quần áo thì ra sao?
- Yên chí. Họ tuyệt đối sẵn sàng.
Kyo trở vào, mặc quần áo trong giây lát: quần dài, áo thun dài tay. Giày vải đế gai (có thể sẽ phải leo trèo). Anh đã sẵn sàng. May chìa môi về phía anh. Kyo lòng thì muốn hôn nàng, miệng thì không - như thể, mình nó, cái miệng vẫn còn oán hận. Cuối cùng anh hôn nàng một cách vụng về. Nàng buồn rầu nhìn anh, mí mắt trĩu xuống; đôi mắt đầy bóng tối của nàng liền trở nên chứa chan tình tứ, ngay khi các thớ thịt để lộ những nét tình tứ ấy. Anh ra đi.
Anh lại đi bên cạnh Katow, thêm một lần nữa. Dù vậy anh vẫn chưa thoát khỏi ám ảnh về nàng. “Ban nãy, nàng có vẻ như một người điên hay là mù. Mình không nhận ra nàng. Mình chỉ nhận ra nàng trong giới hạn tình yêu mình dành cho nàng, trong ý nghĩa của tình yêu. Người ta chỉ chiếm hữu được nơi một người những gì mà mình thay đổi nơi người đó, cha mình đã nói như vậy...Và sau đó?” Kyo chìm sâu vào nội tâm như đi sâu vào ngỏ hẻm này mỗi lúc một thêm đen tối, mà ngay chính những máy điện báo cũng không còn lóe sáng trên nền trời. Ở đây gã bắt gặp lại nỗi lo lắng và nhớ lại chuyện đĩa hát: “Người ta nghe giọng nói người khác bằng tai, nghe giọng nói của mình bằng cổ họng.” Phải. Đời sống cũng vậy, người ta nghe thấy nó bằng cổ họng, và đời của những người khác thì sao? Trước hết là sợ cô đơn, sự cô đơn không hề thay đổi đằng sau cái đêm đen kịt và ẩm thấp này mà phía dưới đó thành phố hoang vắng, đầy hy vọng và hận thù kia đang rình rập. “Nhưng còn mình đối với chính mình, đối với cổ họng, mình là gì chớ? Một lời khẳng định tuyệt đối, lời khẳng định điên khùng: mình là một sức mạnh lớn lao hơn tất cả những người còn lại. Ðối với kẻ khác, mình chính là hành động của mình”. Riêng đối với May, anh không là những gì anh đã làm, riêng đối với anh, nàng hoàn toàn khác với tiểu sử của nàng. Sự ràng buộc mà tình yêu dành để kết chặt người này vào người khác chống lại sự cô đơn, không dành cho người đàn ông; chỉ có người điên, chỉ có loài quái vật vô song, đáng quí hơn cả, mới cho rằng mỗi người đàn ông sống cho riêng mình và tình riêng riêng biệt. Kể từ ngày mẹ anh chết đi, May là người duy nhất quan niệm anh không là Kyo Girsor, mà là sự thông đồng mật thiết nhất. “Một sự thông đồng được thừa nhận, chinh phục, được chọn lựa”, Kyo nghĩ thầm, hòa hợp một cách khác thường với đêm tối, như thể ý nghĩ của anh không còn dành cho ánh sáng. “Những người đàn ông không là những người đồng loại với mình, họ là những người nhìn và phán xét mình; đồng loại với mình là những người nào yêu thương mình và không nhìn mình, yêu thương mình trước mọi điều, trước sự sa ngã, sự hèn kém, trước sự phản bội, yêu thương mình chớ không phải những gì mình đã làm hay sẽ làm, yêu thương mình như chính mình tự yêu thương lấy - kể cả tự tử vì mình... Chỉ với nàng mình mới có chung một tình yêu đoạn trường hoặc không, giống như những người khác có chung những đứa con đau ốm và có thể chết đi...”. Quả thật đó không phải là hạnh phúc, đó là một cái gì nguyên thủy phù hợp với địa ngục và dâng lên từ trong Kyo một mối nhiệt tình kết liễu trong một vòng tay ôm bất động, như thể một lần má kề bên má - đó là những gì duy nhất trong anh tỏ ra mãnh liệt không kém gì cái chết.
Trên các mái nhà, đã có những bóng người nơi vị trí canh phòng của họ.
4 giờ sáng
Ông Gisors vò mảnh giấy xé vội trên đó, Tchen viết tên gã bằng viết chì, và bỏ vào trong túi áo ngủ. Ông nôn nóng gặp mặt lại người học trò cũ. Cái nhìn của ông trở về người đang trò chuyện, một người Trung Hoa già nua, cái đầu trông như đầu quan lại, thuộc Công ty Ấn Độ, mặc áo dài, đang bước chầm chậm về phía cửa ra vào, ngón trỏ giơ lên, và nói bằng tiếng Anh: “Tốt hơn là nên có sự phục tùng tuyệt đối của người đàn bà, việc lấy vợ lẽ và định chế gái điếm. Tôi sẽ tiếp tục cho đăng loạt bài của tôi. Chính vì tổ tiên của chúng ta đã nghĩ như vậy mới có những bức tranh đẹp đẽ này (ông ta liếc mắt nhìn con phượng hoàng xanh lơ, không động đậy khuôn mặt, như thể liếc mắt đưa tình), mà ông lấy làm hãnh diện, và mi cũng vậy. Ðàn bà phục tùng đàn ông như đàn ông phục vụ Quốc gia; và phục tùng đàn ông ít khổ cực bằng phục vụ Quốc gia. Chúng ta sống cho chúng ta sao? Chúng ta có nghĩ gì đâu. Chúng ta sống cho Quốc gia ở cuộc đời hiện tại, sống theo mệnh lệnh những người đã chết trải qua bao nhiêu thế kỷ...”
Ông ta cuối cùng có chịu ra về không? Ông già vẫn ôm khư khư lấy dĩ vãng ấy, ngay ở hiện tại (những hồi còi tàu chiến không đủ để lấp đầy đêm tối sao?...), dù đối diện với Trung Hoa đang đẫm máu, ông ta vẫn ngâm nga những lời lẽ của một vài người điên. Mệnh lệnh! Hàng bao nhiêu bộ xương người khoác áo dài thêu, mất hút vào nơi thăm thẳm của thời gian thành từng đám im lìm: đối diện là Tchen và hai trăm ngàn thợ dệt, đám đông công nhân như sóng vỗ nước tràn. Sự phục tùng của người vợ à? Mỗi chiều, May đều có kể lại những vụ tự tử của các vị hôn thê... Ông ta dời gót: “Mệnh lệnh, ông Gisors ạ!...” Sau một cái vái chào cuối cùng, đầu và vai nhún nhảy theo nhịp chân bước.
Ngay khi nghe cánh cửa khép lại, ông Gisors cất tiếng gọi Tchen và cùng gã trở lại căn phòng có treo những bức tranh phượng hoàng.
Ông Gisors ngồi nơi một trường kỷ, và nhớ lại một bức tượng Ai Cập bằng đồng tạc hình một con chim ưng mà Kyo đã giữ bức ảnh do lòng cảm mến Tchen, “vì sự giống nhau ấy”. Quả đúng như vậy, mặc dầu đôi môi dày dường như biểu lộ lòng hào hiệp. “Tóm lại, một con chim ưng được Francois d’ Assies[7] cải giáo.”, ông ta nghĩ thầm. Tchen dừng bước trước mặt ông:
“Chính tôi đã hạ sát Tang Yen Ta”, - gã nói.
Gã trông thấy trong ánh mắt ông Gisors một cái gì gần như là sự trìu mến. Gã khinh miệt sự trìu mến, và nhất là sợ hãi nó. Ðầu rụt sâu vào giữa đôi vai và bước đi nghiêng về phía trước, sống mũi cong của gã, càng khiến gã thêm giống con chim ưng, mặc dù thân hình gã lùn và mập; và ngay cả đôi mắt của gã gần như trụi cả lông mi, cũng bắt nghĩ đến một con chim.
“Anh muốn nói với tôi về chuyện đó phải không?
- Thưa phải.
- Kyo có biết chuyện đó không?
- Thưa có.”
Gisors nghĩ ngợi. Vì không muốn trả lời bằng những thành kiến, ông chỉ có thể tán đồng. Dù vậy ông cảm thấy khổ sở phần nào vì thái độ này của ông. “Mình già rồi”, ông thầm nghĩ.
Tchen không tiếp tục bước nữa.
“Tôi thật vô cùng cô đơn”, - gã nói, cuối cùng nhìn thẳng vào mặt Gisors.
Ông ta bối rối. Tchen phải bám víu vào ông, không làm cho ông ngạc nhiên: trải qua nhiều năm ông là vị thầy của gã theo nghĩa Trung Hoa của chữ này - hơi kém quan trọng hơn cha gã, nhưng quan trọng hơn người mẹ; kể từ ngày cha mẹ gã chết đi, ông Gisors hẳn nhiên là người duy nhất mà Tchen cảm thấy cần. Ðiều khó hiểu đối với ông, là tại sao Tchen, chắc hẳn đêm nay có gặp mặt các đồng chí của gã, vì gã mới vừa gặp mặt Kyo, lại có vẻ như cách biệt với họ ngần ấy.
“Nhưng còn những người kia?” - ông hỏi.
Tchen như trông thấy lại họ, nơi sau hiệu buôn của người bán đĩa hát, chìm trong bóng tối hay nhô ra từ đó tuỳ theo sự dao động của ngọn đèn, trong khi con dế gáy lên.
- Họ không biết.
- Là chính anh?
- Họ có biết là chính tôi: không hề gì cả.
Gã lại im lặng. Ông Gisors tự giữ đừng hỏi câu nào nữa. Cuối cùng Tchen lên tiếng trở lại.
“... Họ không biết rằng đó là lần đầu tiên.”
Ông Gisors đột nhiên có cảm tưởng như đã hiểu; Tchen nhận ra được điều đó:
“Không. Thầy không hiểu được đâu.”
Gã nói tiếng Pháp bằng cách gằn giọng trong cổ họng khi phát âm những tiếng chỉ có một vần đọc bằng giọng mũi, pha trộn với một vài thổ ngữ học được của Kyo là lạ tai người nghe. Cánh tay mặt của gã, tự dưng, duỗi dài theo bên hông; gã cảm thấy thêm lần nữa thân người bị đâm bật ngược lại với lưỡi dao bởi những lò xo giường bằng kim khí. Việc đó không có nghĩa gì cả. Gã sẽ tái diễn lại. Nhưng, trong khi chờ đợi, gã mong ước một chỗ nương náu. Tình thương sâu đậm không cần một lời nào để giãi bày ấy, ông Gisors chỉ dành cho Kyo. Tchen biết vậy! Làm sao giải thích đây? “Thầy chưa bao giờ giết chết một người nào, phải không thầy?”
Ðiều đó dường như là hiển nhiên đối với Tchen, nhưng, giờ đây, gã ngờ vực những gì hiển nhiên như vậy. Tuy nhiên, gã như bất giác cảm thấy có một cái gì thiếu sót nơi ông Gisors. Gã ngước mắt nhìn lên. Ông ta nhìn gã từ chân trở lên đầu, mái tóc bạc trắng của ông trông như dài thêm vì ông ngả đầu ra phía sau, băn khoăn vì không thấy có những cử động nào. Sự bất động ấy là do nơi vết thương của gã, mà gã không nói gì cả với ông; không phải vì vết thương làm gã đau đớn (một người bạn y tá đã tẩy trùng và băng nó lại) nhưng vì nó ngăn trở cử động. Cũng như trong tất cả những lần nghĩ ngợi, ông Gisors đến se giữa những ngón tay một điếu thuốc vô hình:
- Có thể là...
Ông ngừng nói, đôi mắt sáng quắc trên khuôn mặt buồn tẻ. Tchen chờ đợi. Ông Gisors cất tiếng trở lại, gần như đột ngột:
“Tôi không tin rằng chỉ cần nhớ lại một vụ giết người là anh phải bối rối như vậy.”
Người ta thấy rõ là ông không hiểu thấu những gì ông nói, Tchen cố gượng nghĩ thầm; nhưng ông Gisors đã nói trúng.
- Thưa không, gã nói, tôi cũng vậy, tôi cũng không tin rằng chỉ cần nhớ lại là đủ. Còn một cái gì khác, một cái gì cốt yếu. Tôi muốn biết đó là cái gì.
Có phải để biết được đó là cái gì nên gã mới đến đây?
- Người đàn bà đầu tiên mà anh ăn nằm là một con điếm, đương nhiên là vậy phải không? - Ông Gisors dịu dàng hỏi.
- Tôi là người Trung Hoa, Tchen trả lời bằng giọng hờn giận. “Không đúng”, ông Gisors thầm nghĩ. Ngoại trừ, có lẽ, về phương diện tình dục, Tchen không là người Trung Hoa. Những người dân tứ xứ tràn vào Thượng Hải đã cho ông Gisors nhìn thấy người ta tách rời đến mức nào với tổ quốc của mình mà không phản lại nó, nhưng Tchen không còn thuộc về Trung Hoa nữa, thì với cách thức mà gã tách rời khỏi Trung Hoa: một sự tự do hoàn toàn, gần như phi nhân loại, đã hoàn toàn thả gã vào sự không tưởng.
- Anh cảm thấy như thế nào? - Ông Gisors hỏi.
Tchen co những ngón tay lại.
- Kiêu hãnh.
- Tỏ ra là một người đàn ông?
- Tỏ ra không phải là một người đàn bà.
Giọng nói của gã không còn để lộ sự giận hờn, mà là một sự khinh miệt phức tạp.
- Tôi nghĩ rằng thầy muốn nói là, - Tchen nói tiếp, - tôi phải cảm thấy... cách biệt?
Ông Gisors giữ ý không trả lời.
- ...Phải. Thật là khủng khiếp. Và thầy có lý khi nói đến đàn bà. Người ta có thể nặng lòng khinh miệt người nào đã bị giết chết. Nhưng còn nhẹ hơn là khinh những người khác.
Ông Gisors ngẫm nghĩ, không chắc rằng đã hiểu câu nói:
- Hơn là những người không giết hại ai phải không?
- Hơn là những người không giết hại ai: những kẻ chưa biết đàn bà.
Tchen bước đi trở lại. Những tiếng nói cuối cùng rơi xuống như một gánh nặng được vứt xuống đất, và sự yên lặng trải rộng quanh hai người; ông Gisors bắt đầu cảm nhận, một cách buồn rầu, sự cách biệt mà Tchen nói đến. Nhưng ông tự hỏi không hiểu nơi Tchen có phần nào là kịch hay không - hay ít ra có một chút gì khẩn thiết. Ông không hề quên những gì ghê gớm mà những màn kịch như vậy có thể mang lại. Đột nhiên ông nhớ lại rằng Tchen có nói với ông là gã ghê tởm sự săn bắn.
“Anh không thấy ghê tởm vì máu sao?
- Thưa có. Nhưng không chỉ ghê tởm mà thôi?”
Tchen đột ngột quay lại, và nhìn chăm chú vào con chim phượng hoàng, nhưng như thể gã nhìn thẳng vào đôi mắt của ông Gisors, gã hỏi:
“Thì sao? Ðàn bà. Tôi biết cách người ta đối xử với đàn bà như thế nào, khi đàn bà muốn tiếp tục chiếm hữu mình: mình chung sống với họ. Nhưng cái chết, thì sao?”
Giọng nói càng thêm phần chua chát, nhưng mắt vẫn không ngừng nhìn con phượng hoàng.
“Một hôn nhân không lễ cưới, phải không thầy?”
Sự thông minh của ông Gisors bao giờ cũng nghiêng xuống giải tỏa thắc mắc cho những người đối thoại; và ông có cảm tình với Tchen. Nhưng ông bắt đầu trông rõ vấn đề: sự hoạt động trong các toán xung kích không còn thoả mãn người thanh niên nữa, sự khủng bố trở thành một sức mê hoặc. Tay vẫn vần điếu thuốc tưởng tượng, đầu ông nghiêng hẳn về phía trước như cốt để nhìn tấm thảm, chùm tóc bạc phe phẩy trước mũi ông, ông ta nói, cố tạo giọng nói cho được ung dung:
“Anh cho là anh sẽ không còn thoát khỏi sự lo lắng đó... và chính để chống lại sự lo lắng đó nên anh mới đến bên tôi để... tự biện hộ.”
Yên lặng.
- Một sự lo lắng, không, cuối cùng Tchen mới nói giữa hai hàm răng. Phải chăng đó là một điều bất hạnh?
Yên lặng trở lại. Ông Gisors cảm thấy không thể bày tỏ một cử chỉ nào, ông không thể cầm lấy bàn tay gã như trước kia. Ðến lượt ông quyết định, ông nói với vẻ chán nản, như thể đột nhiên ông mắc phải cái thói quen hay lo lắng:
- Vậy thì, cần phải nghĩ đến nó, và đẩy đến cũng cực ý nghĩ đó. Và nếu anh muốn chung sống với nó...
- Tội sẽ bị giết chết tức khắc.
“Phải chăng đó không phải là điều mà gã mong muốn nhất? - ông Gisors tự hỏi. - Gã không khao khát một sự vinh quang, một hạnh phúc nào”.
Có khả năng để chiến thắng nhưng không đủ khả năng để sống trong chiến thắng. Gã có thể kêu gọi điều gì đây, nếu không phải cái chết? Gã hẳn muốn gán cho cái chết ý nghĩa mà người khác dành cho sự sống. Chết càng cao thượng càng hay. Tâm hồn đầy tham vọng, khá sáng suốt, khá cách biệt với người khác hay khá bệnh hoạn để khinh miệt tất cả các đối tượng tham vọng của gã và ngay cả lòng tham vọng đó?
- Nếu anh muốn sống với điều bất hạnh đó, chỉ có mỗi một cách: truyền giao nó.
- Ai sẽ là người xứng đáng đây? - TChen hỏi, vẫn giữa hai hàm răng.
Bầu không khí mỗi lúc một trở nên nặng nề thêm như thể tất cả những gì là giết chóc mà hai người đã đề cập đến đều có ở đây. Ông Gisors không còn có thể nói gì khác nữa: mỗi chữ đều có một âm thanh sai lạc, tầm phào, ngu độn.
- Cám ơn thầy, - Tchen nói.
Gã nghiêng mình trước ông, trọn cả thân trên theo lối chào của người Trung Hoa (mà gã không bao giờ chào như vậy) như thể gã không muốn chạm vào người ông và lui bước.
Gisors trở lại chỗ ngồi, bắt đầu se lại điếu thuốc của ông. Lần đầu tiên, ông ta đối diện không phải với cuộc chiến đấu mà là với máu. Và, cũng như bao giờ, ông ta nghĩ đến Kyo. Kyo phải thấy là khó thở cái vũ trụ nơi mà Tchen đang lưu động... Có chắc chắn như vậy không? Tchen cũng đang không ưa việc săn bắn, Tchen cũng ghê tởm vì máu – trước kia. Nơi mức sâu thẳm ấy của tâm hồn con ông, ông biết được gì về nó? Khi tình thương của ông không giữ được vai trò nào cả, khi ông không còn có thể trở về với bao nhiêu kỷ niệm, ông biết rằng ông đã không còn hiểu được gì về Kyo. Một sự khao khát được gặp lại con làm rối lòng ông - sự khao khát mà người ta cảm thấy khi muốn nhìn lại lần cuối cùng những người thân đã chết. Ông biết là anh đã đi rồi.
Ði đâu? Sự hiện diện của Tchen vẫn còn làm sống động căn phòng. Người thanh niên ấy đã lao mình vào thế giới của giết chóc, và sẽ không còn thoát ra được nữa: với sự hăm hở ấy, gã đã di vào đời sống khủng bổ như đi vào nhà tù. Không đầy mười năm nữa, gã sẽ bị bắt giữ - tra tấn hay bị giết; cho đến ngày đó, gã sống như một kẻ bị ám ảnh hẳn hoi, trong thế giới của sự quyết tâm và của cái chết. Gã sống bằng những ý nghĩ của gã, giờ đây, những nghĩ đó sắp sửa kết liễu đời gã.
Kyo có ra lệnh giết thì đó cũng là do vai trò của gã. Và nếu không, cũng không hề gì: những gì Kyo làm đến mỹ mãn. Nhưng ông Gisors kinh hoàng vì cảm giác bất chợt này, vì niềm tin rằng giết người là một cái không thể tránh, niềm tin có sự đầu độc còn khủng khiếp hơn sự tự đầu độc của ông. Ông tự cảm thấy đã thiếu sót dường nào trong sự giúp đã mà Tchen kêu gọi nơi ông, việc giết người mới đơn độc làm sao - và, vì nỗi lo lắng ấy, Kyo đã xa cách với ông dường nào. Lần đầu tiên, câu nói mà ông thường lặp lại: “Không có sự hiểu biết về con người”, bám vào khuôn mặt con ông trong đầu óc của ông.
Tchen, ông có hiểu được gã không? Ông không mấy tin rằng những kỷ niệm có thể giúp hiểu được con người. Sự giáo dục đầu tiên mà Tchen thừa hưởng có tính cách tôn giáo; ngày ông Gisors bắt đầu quan tâm đến người thanh niên mồ côi ấy - cha mẹ gã bỏ mình trong vụ cướp phá Kalgan - là ngày mà Tchen, một học trò hỗn xược một cách âm thầm, rời khỏi trường trung học theo đạo Luther[8], nơi mà gã là học trò của một nhà trí thức bị bệnh lao phổi được sắc phong mục sư muộn màng, đã cố gắng một cách kiên nhẫn, vào tuổi năm mươi, lấy lòng bác ái để chiến thắng một niềm băn khoăn tôn giáo mãnh liệt. Bị ám ảnh vì sự hổ thẹn về thân xác đã giày vò thánh Augustin[9], về thân xác sa đọa mà trong đó con người phải chung sống với Chúa cứu thế - vì mối ghê tởm nền văn minh lễ nghi của Trung Hoa đã vây bọc và càng khiến khẩn thiết thêm lời kêu gọi một đời sống tôn giáo đích thực, - vị mục sư ấy đã đồng hóa những băn khoăn của ông với hình ảnh của Luther mà đôi lần ông có nói chuyện với ông Gisors: “Chỉ nơi Thiên Chúa mới có sự sống; nhưng con người, vì tội ác, đã sa đọa, đã nhớp nhúa vô phương gột rửa, đến nỗi vươn lên tới Thiên chúa là một điều phạm thượng. Vì vậy mới có Chúa cứu thế, mới có sự khổ hình muôn đời.” Còn lại Thiên sủng, tức là tình yêu không giới hạn hay là sự khủng bố tùy theo sự mạnh mẽ hay yếu đuối của niềm hy vọng; và sự khủng bố này là một tội ác mới. Cũng còn lại lòng bác ái; nhưng lòng bác ái không đủ để luôn luôn làm tiêu tan được những băn khoăn. Vị mục sư chăm chú vào Tchen. Ông không ngờ rằng người chủ bao bọc Tchen chỉ gởi gã đến các thầy dòng cốt để gã học tiếng Anh và tiếng Pháp, và thì khuyến cáo gã về sự giảng dạy của họ, chống lại nhất là ý tưởng về địa ngục, mà người chủ theo đạo Khổng ấy lấy làm e dè. Đứa trẻ, bắt gặp Chúa cứu thế chứ không phải ác quỉ hay Thiên chúa - kinh nghiệm của vị mục sư đã dạy cho nó biết rằng con người bao giờ cũng chỉ cải giá theo các nhà truyền đạo - đã phó mình cho tình thương với sự nghiêm khắc mà nó dám cho mọi người thấy - điều duy nhất mà Trung Hoa đã tạc sâu vào gã - để gã bắt gặp, mặc dù tình thương được giảng dạy ấy, niềm xao xuyến của vị mục sư và một địa ngục hiện ra trước gã càng khủng khiếp và xác thực hơn đối với cái địa ngục mà người ta muốn tránh cho gã.
Người chủ trở về. Kinh hoàng vì đứa cháu mà ông tìm thăm lại, ông bày tỏ một sự hài lòng tế nhị, gởi những cây nho nhỏ bằng ngọc bích và thủy tinh đến giám đốc trường, vị mục sư, một vài người khác; tám ngày sau, ông gọi Tchen về nhà và tuần lễ sau đó, gởi gã đến Viện Ðại học Bắc Kinh.
Ông Gisors vẫn se thuốc giữa hai đầu gối, miệng hé mở, cố nhớ loại người thanh niên thời đó. Làm thế nào tách rời, cô lập gã với mẫu người mà gã đã trở thành? “Mình nghĩ đến tinh thần mộ đạo của gã vì Kyo không bao giờ có được nó, và vào lúc này mọi khác biệt sâu xa giữa hai đứa sẽ giải thoát mình... Tại sao mình có cảm tưởng hiểu rõ gã nhiều hơn là con mình?” Vì ông trông thấy rõ hơn ông đã biến đổi gã thành loại người nào: sự biến đổi chủ yếu đó, công trình của ông, thật phân minh, có thể hạn định được, và ông hiểu rõ, nơi mỗi người, những gì ông đem lại cho họ. Ngay khi quan sát Tchen, ông đã hiểu ra là người thanh niên này không thể nào sống chết cho một ý thức hệ đã không tức khắc biến thành hành động. Vì gã thiếu lòng bác ái, đời sống tín ngưỡng chỉ có thể đưa gã đến với sự trầm mặc hay đời sống nội tâm; nhưng gã thù ghét sự trầm mặc, và chỉ mơ tưởng đến một sự truyền đạo, mà vì thiếu mất lòng bác ái gã sẽ bị khước từ hẳn hoi. Ðể sống, trước hết gã cần phải thoát ra khỏi đạo Thiên chúa của gã (nửa kín nửa hở, ông biết hình như sự quen biết với gái điếm và các sinh viên khác có thể đã làm biến mất thói thủ dâm, tội lỗi duy nhất bao giờ cũng tỏ ra mạnh hơn ý chỉ của Tchen và cùng với nó, một tình cảm không ngớt niềm xao xuyến và sa đoạ.) Khi người thầy mới của gã đem đối chọi lại với đạo Thiên chúa không phải bằng những lý lẽ, mà bằng những hình thức cao cả khác, đức tin đã trôi tuột giữa các ngón tay của Tchen, dần dần, mà không tạo ra khủng hoảng. Ðức tin tách rời gã ra khỏi Trung Hoa, làm quen với sự sống cách biệt với thế giới loài người thay vì phụ thuộc vào nó, nhờ ông Gisors, gã nhận chân được rằng mọi việc đều diễn ra như thể quãng đời ấy của gã chỉ là một cách làm quen với ý nghĩa hào hùng; một tâm hồn làm được gì, nếu không có Thiên Chúa, không có Chúa cứu thế?
Ở đây ông Gisors bắt gặp lại người con ông, hờ hững đối với đạo Thiên Chúa nhưng sự giáo dục theo người Nhật (Kyo đã sống tại Nhật từ năm tám tuổi cho đến năm mười bảy) cũng đã gieo vào Kyo niềm xác tin rằng tin tưởng không phải chỉ để tin tưởng, mà phải sống với nó. Kyo đã chọn lựa hành động, một cách nghiêm chính và cố ý, như những người khác chọn vũ khí hay biển cả: nó rời khỏi cha, đến sống tại Canton, tại Tientsin, làm nghề thợ phụ và kéo xe, để tổ chức các nghiệp đoàn. Tchen - mà người chủ bị bắt làm con tin và vì không có tiền chuộc, nên bị xử tử ngày Swatéou thất thủ - trở nên không một xu dính túi, với những mảnh bằng tốt nghiệp không giá trị, đương đối diện với tuổi hai mươi bốn của mình và với nước Trung Hoa. Tài xế cam nhông những ngày các đường mòn miền Bắc còn nguy hiểm, kế làm phụ tá hóa học, sau đó thất nghiệp. Mọi sự đến thúc giục gã lao vào hoạt động chính trị: mối hy vọng về một thế giới khác hơn, sự khả dĩ đủ ăn mặc dù một cách khốn khổ (tất nhiên là y sống một cách khắc khổ, có lẽ vì lòng kiêu hãnh), sự thỏa mãn những hận thù, tư tưởng, tính tình của gã. Nó khoác cho sự cô đơn của gã một ý nghĩa. Nhưng, nơi Kyo, mọi sự đến giản dị hơn. ý nghĩa hào hùng nơi con ông được xem như là một kỹ thuật, chớ không như là một sự biện minh cho đời sống. Kyo không lo âu. Ðời sống của nó có một ý nghĩa, và Kyo biết rõ ý nghĩa này: đem tới cho những người đang đói khát sự tự chủ lấy phẩm cách của họ. Kyo nằm trong số bọn họ: họ có những kẻ thù chung. Mang hai dòng máu, không thuộc giai cấp nào, bị khinh miệt bởi người da trắng và càng nặng hơn nữa bởi những người đàn bà da trắng, Kyo không cố thử làm xiêu lòng họ: nó tìm kiếm những người của nó và đã bắt gặp. “Không thể nào có được phẩm cách, có được một cuộc đời thật sự đối với một người làm việc mười hai giờ mỗi ngày mà không hiểu vì đâu hắn phải làm”. Việc làm đó cần phải có một ý nghĩa, trở thành một tổ quốc. Những vấn đề cá nhân chỉ được đặt ra cho Kyo trong đời sống riêng tư của nó mà thôi.
Thế nhưng, nếu Kyo bước vào và nói với mình, giống như Tchen lúc này: “Chính con đã giết Tang-Yeng-Ta”, nếu nó nói vậy mình sẽ đáp là: “Ba biết”. Tất cả những gì có thể có nơi nó âm vang nơi mình mạnh mẽ biết bao để mình sẽ nghĩ là: “Ba biết”, dù nó có nói gì với mình. Ông nhìn ra bên ngoài cửa sổ bóng đêm im lìm và hờ hững. “Nhưng nếu thật sự mình biết, chứ không một cách mơ hồ và kinh tởm như vầy, mình sẽ cứu nó.” Sự khẳng định đau đớn, mà ông không lấy gì làm tin.
Ngay khi Kyo rời khỏi gia đình, tư tưởng của ông chỉ dùng để biện minh cho hành động của người con, hành động nhỏ nhoi ấy lúc bấy giờ bắt đầu ở một nơi nào đó (thường khi, trải qua ba tháng, ông không biết ngay cả nơi nào) tại miền Trung thổ hay tại các tỉnh miền Nam. Nếu những sinh viên mang nhiều âu lo cảm thấy rằng sự thông minh đó đã đến giúp đỡ họ với bao nhiêu nhiệt tình và sự thấu triệt, thì đó không phải vì ông muốn giải khuây bằng cách tác động những mẫu đời mà tuổi tác của ông đã xa cách, theo như ý nghĩ của các bộ óc mẫn tiệp ở Bắc Kinh; mà đó là vì, trong mọi thảm kịch nào tương tự ông đầu bắt gặp thảm kịch của con ông. Khi ông chứng minh cho các sinh viên của ông, hầu hết đều thuộc giai cấp tiểu tư sản, rằng họ bắt buộc phải liên kết với hoặc các lãnh tụ quân sự, hoặc thành phần vô sản, khi ông nói với những sinh viên nào đã chọn lựa rằng: “Mác xít không phải là một chủ nghĩa, nó là một ý chí, đối với thành phần vô sản và bằng hữu của họ - là các anh - ý chí tự giác, cảm thấy mình như thế ấy, chiến thắng như thế ấy; các anh không nên mác xít để tỏ ra hữu lý, mà là để chiến thắng mà không phản bội lại mình.”, những khi ấy ông như nói với Kyo, biện hộ cho anh. Và, nếu ông biết rằng không phải chính tâm hồn quyết liệt của Kyo đã đáp lời ông khi sau giờ dạy, ông tìm thấy, theo phong tục Trung Hoa, căn phòng ông đầy những đóa hoa trắng thì các sinh viên mang lại, thì ít ra ông cũng biết rằng những bàn tay đang chuẩn bị giết người khi mang lại ông những đóa hoa sơn trà sẽ ngày mai siết lấy bàn tay con ông, đang cần đến những bàn tay ấy. Vì vậy cho nên sức mạnh của tâm tính mới lôi cuốn ông đến mức đó, cho nên ông mới gắn bó với Tchen. Nhưng một khi gắn bó với gã, ông có dự đoán được hay không sẽ có đêm mưa tầm tã người thanh niên đó đến nói với ông: “Tôi không chỉ ghê tởm...” khi đề cập đến máu người vừa đọng lại?
Ông đứng lên, mở ngăn kéo của cái bàn chân thấp nơi ông cất mâm thuốc phiện, bên trên những cây xương rồng nho nhỏ do ông sưu tầm. Bên dưới cái mâm, một tấm ảnh: Kyo. Ông lôi tấm ảnh ra, nhìn ngắm nó không có ý nghĩ nào rõ rệt, chìm đắm một cách chua chát vào trong niềm tin, ở vào chỗ ông, không người nào còn hiểu được người nào - và rằng ngay cả sự hiện diện của Kyo, mà vừa rồi ông đã mong ước bao nhiêu, cũng sẽ không thay đổi được điều gì, chỉ càng làm tuyệt vọng thêm sự cách biệt giữa hai người, giống như sự cách biệt với những người bạn mà mình ôm siết trong giấc mơ, đã chết từ bao năm rồi. Ông cầm giữ tấm ảnh giữa những ngón tay: nó ấm áp như thể một bàn tay. Ông để nó rơi lại xuống ngăn kéo, lôi ra cái mâm, tất điện và châm lửa ngọn đèn dầu.
Ông hút hai điếu. Trước kia, ngay khi cơn ghiền đã được thỏa mãn, ông nhìn con người với hảo ý, và thế giới như những khả năng vô lượng. Giờ đây, nơi tận cùng sâu thẳm của chính ông, những khả năng không tìm thấy chỗ đứng: ông đã sáu mươi tuổi, và những kỷ niệm của ông đầy rẫy những nhà mồ. Quan niệm rất thuần túy của ông và nghệ thuật Trung Hoa, về những bức tranh xanh lơ nhàn nhạt mà ngọn đèn soi vừa chỉ sáng, về trọn cả nền văn minh khải thị mà Trung Hoa đã vây bọc lấy ông, và, ba mươi năm trước đây, ông đã biết khai thác nó một cách tinh vi - quan niệm của ông về hạnh phúc - chỉ còn là một cái màn mỏng manh mà bên dưới thức dậy niềm xao xuyến và nỗi ám ảnh về cái chết, giống những con chó bồn chồn động đậy khi sắp sửa thức giấc.
Thế nhưng tư tưởng của ông vẫn lảng vảng chung quanh con người, với một sức đam mê khốc liệt mà tuổi tác của ông đã không làm cho lịm tắt. Từ lâu rồi, ông tin chắc rằng nơi mỗi người, và trước tiên nơi ông, đều có một chứng điên loạn. Ông đã ngỡ, trước kia - thời ấy đã qua rồi... - rằng mình mơ ước làm anh hùng. Không. Mãnh lực đó, trí tưởng tượng dữ dội ngấm ngầm đó nơi ông (mình có trở nên điên cuồng chăng nữa, ông thầm nghĩ, vẫn chỉ có mãnh lực ấy là thuộc về mình...) Sẵn sàng khoác lấy mọi hình dáng, như thể ánh sáng. Giống như Kyo, và gần như cũng vì chính những lý do đó, ông nghĩ đến những cái đĩa mà anh đã nói; với một cách gần giống như Kyo đã nghĩ, vì những cách suy nghĩ của Kyo là do ông mà có. Giống như Kyo đã không nhận ra giọng nói của mình vì đã nghe nó bằng cổ họng, mớ ý thức mà ông Gisors có về chính ông hắn nhiên không thể nào giản lược được vào ý thức mà ông có về một người khác, vì nó không đạt được bằng những phương cách giống nhau. Nó không mảy may do giác quan mà có. Ông tự cảm thấy mình đi vào, với mớ ý thức ngoại nhập ấy, một lãnh vực nào khác, cảm thấy ông sở hữu, với niềm xao xuyến, một nơi cô đơn đến độ sững sờ, không hề có một người nào nối bước theo Ông. Trong một giây, ông có cảm giác rằng chính ý thức ấy cần thoát khỏi cái chết... Ðôi tay ông, đang sửa soạn một viên thuốc khác, khẽ run lên. Nỗi cô đơn hoàn toàn ấy, ngay chính tình thương mà ông dành cho Kyo cũng không giải thoát ông được. Nhưng nếu đã không biết trốn chạy vào một người khác, ông lại biết tự giải thoát lấy mình: có thuốc phiện.
Năm điếu thuốc: từ nhiều năm nay ông dừng lại mức ấy, không phải là không khó nhọc, đôi khi bị dằn vặt. Ông nạo cái nồi dọc tẩu; bóng của bàn tay ông vạch từ tường lên trần nhà. Ông đẩy ngọn đèn xê ra một vài phân; những viền bóng không còn nữa. Những đồ vật cũng vậy: không thay đổi hình dáng, chúng không còn phân biệt với ông nữa, chúng bắt nối vào ông ở tận cùng của một thế giới quen thuộc, nơi mà một sự dửng dưng đầy hảo ý phối hợp mọi vật vào nhau - một thế giới thật hơn là thế giới kia, tương tự với ông nhiều hơn; vững bền như một tình bạn, bao giờ cũng độ lượng và bao giờ cũng được thấy lại: hình dáng, kỷ niệm, những ý nghĩ, tất cả đều lặn chìm dẫn đần xuống một vũ trụ đã được giải thoát. Ông nhớ lại một buổi chiều vào tháng chín, màu xám tuyền của nến trời khiến màu nước của mặt hồ ngả màu sữa, nơi những cánh đồng hoa sen bát ngát; từ nơi mái uốn cũng bị mọt đục của cái đỉnh hoang phế cho đến chân trời tuyệt đẹp và quạnh hiu chỉ còn vọng đến ông một thế giới bị xâm chiếm bởi một nỗi sầu muộn trang nghiêm. Không lúc lắc cái lục lạc, một vị sư tựa vào lan can đình, phó mặc chánh điện của mình cho bụi hậm, cho mùi hương trầm đang cháy; những người nông dân hái gương sen chèo thuyền qua đó, không gây một âm thanh nào; gần những đóa hoa cuối cùng, hai lằn nước gợn từ bánh lái thuyền đi thờ ơ mất vào màu nước xám. Giờ đây, chúng mất vào trong ông, khép vào trong cánh quạt của chúng tất cả sự phiền muộn của cõi đời, một sự phiện muộn không đắng cay, được thuốc phiện đưa đường đầu lối đến một sự thanh khiết tối cao. Mắt nhắm lại, được nâng lên bằng đôi cánh rộng im lìm, ông Gisors chiêm nghiệm nỗi cô đơn của mình: một niềm sầu khổ bắt gặp một cái gì linh thiêng cùng lúc với sự thanh tĩnh tỏa rộng ra đến vô hạn và nhẹ nhàng phủ lên những đáy sâu của cái chết.
4 giờ rưỡi sáng
Ðã mặc xong quần áo giống như lính của Chính phủ, áo mưa bằng vải đầu trên lưng, từng người một trèo xuống chiếc phụ hạm đang đong đưa theo lớp sóng của dòng sông Dương Tử.
“Hai người trong đám thuỷ thủ là những người của đảng. Cần phải hỏi họ xem: chắc họ biết vũ khí được cất chỗ nào”, Kyo nói với Katow. Ngoại trừ đôi giày cổ cao, bộ quân phục không biến đổi dáng dấp Katow bao nhiêu.
Cái áo lính của anh cũng được gài nút sơ sài như cái áo kia. Nhưng cái nón, còn mới và trông lạ mắt đối với anh, được đội một cách đường hoàng trên đỉnh đầu, khiến anh có vẻ đần độn. “Một phối hợp kỳ quái giữa cái nón sĩ quan Trung Hoa với một cái mũi như vậy!” Kyo thầm nghĩ.
Trời tối đen.
- Ðội cái nón của anh lên đi, dù vậy Kyo vẫn nói.
Chiếc phụ hạm tách khỏi bến, cuối cùng lao đi trong màn đêm. Nó khuất dạng ngay sau đó sau một chiếc thuyền buồm. Từ trên các tàu tuần, những chùm đèn rọi bị đột ngột thu trở về trên bến cảng hỗn độn, giao nhau như những đường gươm.
Phía trước, Katow không rời mắt khỏi chiếc Shantung như từ từ chạy tới. Cùng lúc với mùi nước ứ động, mùi cá và mùi khói của hải cảng tràn ngập lấy anh thay thế dần dần mùi than của bến tàu, kỷ niệm được gợi lên trong anh mỗi lần sắp sửa có giao tranh lại một lần nữa xâm chiếm tinh thần anh.
Trên mặt trận Lithuania, đại đội của anh đã bị bọn Bạch vệ bắt giữ. Những người bị tước khi giới đứng xếp hàng trên cánh đống tuyết mênh mông hiện ra là mờ sát gần với buổi bình minh phơn phớt màu xanh lá. - “Các phần tử Cộng sản hãy bước ra khỏi hàng!” Chết, họ biết vậy. Hai phần ba đại đội bước tới. “Cởi áo ra, đào hố”. Họ đào hố. Một cách chậm chạp, vì mặt đất đông giá. Đám Bạch vệ, mỗi tay một khẩu súng (cái xuổng có thể trở thành vũ khí), lo lắng và nôn nóng, chờ đợi bên mặt và bên trái, - chính giữa không có người vì những khẩu súng liên thanh hướng về phía các tù nhân. Sự yên lặng không giới bạn, cũng bao la như thể màu tuyết ngút mắt ấy. Chỉ có những mảnh tuyết động giá rơi xuống lại thành một tiếng khô khan mỗi lúc một thêm dồn dập: mặc dầu cái chết, họ vẫn hối hả, để cho ám người lại. Nhiều người bắt đầu hắt hơi. - “Ðược rồi. Ngừng tay!” Họ quay người lại. Phía sau, đứng tách ra khỏi các đồng chí của họ, những người đàn bà, con trẻ: và những người già cả trong làng chen chúc nhau, ăn mặc qua loa, phủ bên ngoài bằng những tấm chăn giường, họ bị tập trung lại để chứng kiến cuộc xử bắn làm gương, họ lắc đầu như cố gắng để đừng phải nhìn, nhưng họ bị mê hoặc vì nỗi lo sợ. - “Cởi quần ra!” Vì những bộ binh phục thường hiếm. Những người bị kết án ngần ngại, vì có mặt đàn bà. - “Cởi quần ra!” Những vết thương hiện ra, từng vết một, được băng bằng những mảnh vải rách: súng liên thanh đã bắn rất thấp và bắn hết đến bị thương ở chân. Nhiều người xếp lại cái quần, mặc dầu họ vứt đi áo tơi của họ. Họ lại xếp hàng trở lại, lần này ở bên mép hố, đối diện với các khẩu súng liên thanh, sáng ửng trên lớp tuyết: thịt da và áo sơ mi.
Họ hắt hơi không ngừng vì lạnh, hết người này đến người kia, và những cái hắt hơi ấy đượm tình người trong buổi bình minh của cuộc hành hình ấy, đến nỗi những người xạ thủ súng liên thanh, thay vì khai hỏa, đã chờ đợi - chờ đợi cho sự sống ít lộ liễu hơn. Cuối cùng họ mới hành động. Hai ngày sau vào buổi chiều, lính Hồng quân chiếm lại ngôi làng: mười bảy người bị bắn không tử thương, trong số đó có Katow, đã được cứu thoát. Những bóng sáng ấy trên mặt tuyết phơn phớt màu xanh lá của buổi bình minh, trong suốt, đã bị lay lắc vì những cơn hắt hơi co giật tay chân trước họng súng liên thanh, hiện đang ở đây trong cơn mưa và trong đêm Trung Hoa, đối diện với bóng chiếc Shantung.
Chiếc phụ hạm vẫn tiến tới: mặt nước bồng bềnh khá dữ dội khiến cái bóng thấp và mơ hồ của con tàu chạy bằng hơi nước trông như đong đưa nhẹ nhàng trên dòng sông; con tàu dưới ánh đèn thấp khiêm nhường chỉ được phân biệt nhà cái khối của nó sậm màu hơn nền trời âm u. Chiếc Shantung chắc chắn đang được canh phòng. Ánh đèn của một tàu tuần rọi đến chiếc phụ hạm, theo sau nó trong giây lát, kế tách đi. Chiếc phụ hạm vạch thành một đường cong và đến phía sau con tàu chạy bằng hơi nước, hơi giạt sang bên mặt, như thể nó tiến đến con tàu bên cạnh. Mọi người đầu khoác áo mưa bằng vải dầu của thủy thủ, mủ bẻ cóp trên bộ quân phục. Theo lệnh của văn phòng hải cảng, tất cả những thang tàu đều được thòng xuống. Katow nhìn cái thang của chiếc Shantung qua lỗ ống dòm giấu trong áo mưa; cái thang của nó cách mặt nước một thước, được thắp sáng một cách khiêm nhường bằng ba bóng đèn. Nếu vị thuyền trưởng hỏi đến số tiền, mà họ không có, trước khi cho phép họ trèo lên tàu, họ phải nhảy sang từng người một từ chiếc phụ hạm; sẽ khó mà giữ cho nó ở nguyên vị trí bên dưới cái thang. Nếu trên con tàu chạy bằng hơi nước, người ta cố gắng kéo cái thang lên, Katow có thể bắn vào những người kéo dây thừng: phía dưới những ròng rọc, không có cái gì che chở cho chúng. Nhưng con tàu sẽ đặt trong tình trạng phòng thủ.
Chiếc phụ hạm quẹo một vòng 90 độ, đến bên chiếc Slimming. Dòng nước, chảy mạnh vào lúc ấy, cuốn theo con tàu nằm ngang với chiều nước; con tàu chạy bằng hơi nước giờ đây trông rất cao (họ đang ở phía dưới hông của nó) như xả hết tốc lực trong đêm tối giống như một con tàu ma. Người lái mở hết máy của chiếc phụ hạm: chiếc Shantung hình như chậm lại, im lìm lùi về phía sau. Họ đến gần cái thang. Katow vớ lấy nó khi chiếc phụ hạm chạy qua; rướn người lên anh ta đã đứng trên thanh sắt.
- Tài liệu đâu? - người đứng trên thang hỏi.
Katow trao cho hắn. Hắn chuyển nó đi, vẫn đứng yên một chỗ, tay cầm khẩu súng lục. Cần phải làm sao để vị thuyền trường nhận ra chính tài liệu của mình; có thể lắm, vì ông ta đã nhận ra khi Clappique liên lạc với ông. Thế nhưng... Bên dưới cái thang, chiếc phụ hạm sẫm màu nhồi lên nhồi xuống theo với dòng sông.
Người đưa tin trở lại: “Các anh có thể lên tàu”. Katow không động dậy; một người trong bọn của anh mang cấp bậc Trung úy (người duy nhất nói tiếng Anh), rời chiếc phụ hạm, trèo lên và đi theo người thủy thủ đưa tin, dẫn anh ta đến vị thuyền trưởng.
Thuyền trường, một người Na uy đầu trọc, gò má sần sùi, chờ đợi anh trong phòng phía sau bàn giấy của ông. Người truyền tin bước ra ngoài.
- Chúng tôi đến lấy vũ khí. - Vị Trung úy nói bằng tiếng Anh.
Vị thuyền trường, kinh ngạc, nhìn anh ta không trả lời. Các tướng lãnh bao giờ cũng trả tiền vũ khí; việc bán các vũ khí này được điều định một cách lén lút, cho đến ngày người môi giới tên Tang Yen Ta, được tùy viên một tòa lãnh sự phái đến, và đề nghị một số tiền xứng đáng. Nếu họ không còn giữ những cam kết với các nhà nhập cảng lậu, ai sẽ tiếp tế cho họ? Nhưng, vì chỉ đương đầu với Chính phủ Thượng Hải, ông ta cố bảo toàn các vũ khí của mình.
- Ðược rồi! Chìa khóa đây.
Ông ta lục lạo trong cái túi bên trong áo ngắn, một cách điềm tĩnh, rút ra một khẩu súng lục - ngang tầm ngực của người Trung úy, chỉ cách ông có cái bàn. Cùng lúc, ông ta nghe phía sau lưng: “Giơ tay lên!” Katow, qua của sổ mở dọc bên hông tàu, nhắm vào ông ta. Vị thuyền trưởng không còn hiểu sao nữa, vì anh ta là một người da trắng, nhưng lúc này ông không phải chủ tâm tìm hiểu. Những thùng vũ khí không sánh bằng sinh mạng của ông. “Một chuyến đi phó mặc cho lời lỗ.” Ông sẽ xem có thể thử làm được điều gì với đám tùy tùng của mình. Ông đặt khẩu súng lục xuống, và vị Trung úy cầm lấy.
Katow bước vô và lục lạo người ông: không có vũ khí nào khác.
- “Thật hoàn toàn mất công toi; có bao nhiêu khẩu súng trên tàu mà chỉ mang trên người có một khẩu”, anh ta nói bằng tiếng Anh. Sáu người trong bọn họ đi vào phía sau anh, từng người một cách âm thầm. Dáng dấp nặng nề, vẻ lực lưỡng, mũi hếch lên của Katow, mái tóc vàng tươi là của một người Nga. Tô Cách Lan ư? Nhưng giọng nói ấy...
- Anh không phải là người của Chính phủ, phải không?
- Can gì mi.
Người ta mang vào người thứ hai, bị cột chặt bằng dây trên đầu và dưới chân, bị đánh thức bất ngờ trong giấc ngủ. Bọn người trói vị thuyền trường lại. Hai người trong bọn ở lại để canh chừng ông. Những người khác xuống theo với Katow. Những thủy thủ nằm trong Ðảng chỉ cho họ vũ khí cất giấu chỗ nào; sự thận trọng duy nhất của các nhà nhập cảng Macao là đã viết “Những bộ phận rời” trên các thùng vũ khí. Việc dọn để bắt đầu. Cái thang hạ xuống, cũng dễ dàng, vì những cái thùng đều nhỏ bé. Chuyến xong thùng cuối cùng xuống chiếc phụ hạm, Katow phá hủy máy vô tuyến điện kế đi sang nơi vị thuyền trưởng.
- Nếu ông quá hấp tấp đặt chân xuống đất tôi báo cho ông biết là ông sẽ bị bắn hạ ở ngã quẹo đầu tiên.
Chào.
Chỉ là những lời khoác lác, những những sợi dây cột cánh tay các từ hình vào nhau đã làm tăng thêm hiệu lực.
Những người lính cách mạng, kèm theo hai người của thủy thủ đoàn đã cung cấp tin cho họ, trở về chiếc phụ hạm: con tàu tách khỏi cái thang, lần này phóng thẳng về hướng bến tàu. Con tàu bồng bềnh dồn dập, đám người thay đổi quần áo, lấy làm hài lòng những lo ngại: không có gì chắc chắn, trước khi đến bờ. Ở đó có một chiếc cam nhông đang chờ đợi, Kyo ngồi bên cạnh người tài xế.
- Thế nào?
- Không hề gì cả. Một công việc dễ dàng.
Vũ khí chuyển xong, chiếc cam nhông lăn bánh, mang theo Kyo, Katow và bốn người khác, trong số có một số người vẫn còn mặc quân phục. Những người khác tản mất.
Xe chạy qua các con đường của thành phố Trung Hoa gây thành một tiếng ầm ĩ át mất bởi một tiếng ầm ầm của lớp thiếc mỗi lần xe nhồi lên: hai bên hông xe, gần những tấm lưới sắt, là những thùng dầu lửa. Xe ngừng trước mỗi địa điểm quan trọng: cửa hàng, căn hầm, những tòa nhà nhiều phòng. Một thùng vũ khí được khuân xuống; bên hông có một phiếu đánh số của Kyo chỉ định sự phân phát vũ khí, một vài thùng cần phải được chuyển giao cho các tổ chức chiến đấu thứ yếu. Chiếc cam nhông chỉ dừng lại khoảng năm phút. Nhưng nó phải ghé qua hơn hai mươi địa điểm thường trực.
Họ chỉ lo sợ có sự phản bội: chiếc cam nhông ầm ĩ ấy, do một tài xế mặc sắc phục của quân đội Chính phủ, không làm cho người nghi ngại. Họ bắt gặp một toán tuần tiễu. “Mình trở thành người bán sữa đi giao hàng.” Kyo thầm nghĩ.
Trời càng lúc càng sáng thêm.
❀ ❀ ❀
[1] Ga cuối cùng trước khi vào Thượng Hải.
[2] Polichinelle: nhân vật trong các màn hoạt kê được trình diễn lại thành Naples trước kia. Ở đây, nó ám chỉ người hay làm trò khôi hài.
[3] Chapeau chinois: chập chã, một nhạc cụ bằng đồng trông giống như cái nón.
[4] Thuo Fou theo nguyên tác. Ở đây, chắc hẳn Malraux đã nhầm lẫn, hoặc cố ý nhầm lẫn. Nhà thơ Trung Hoa đã tìm cái chết khi muốn vớt vầng trăng dưới đáy hồ là Lý Bạch.
[5] Đậm, đặc.
[6] Jean Baptiste Siméon Chardin (1699 - 1779). Họa sĩ người Pháp chuyên vẽ tĩnh vật và chân dung.
[7] Francos d’ Assies (1182 - 1226): vị thánh đã lập ra dòng tu Franciscain.
[8] Luther: tu sĩ dòng Augustin, nhà cải cách tôn giáo tại Ðức.
[9] Thánh Augustin: người dung hợp triết học Platon với giáo điều Thiên Chúa Giáo.