Thùy

Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 2
NĂM NĂM SAU

❊ ❊ ❊

-Thùy ơi! Có phải Thùy đấy không?

Đang đi xe đạp, phía sau yên xe một chiếc ghế nhỏ bằng song mây bé Hiền ngồi, nghe tiếng gọi, Thùy phanh xe gấp, một chân để xuống mặt đường giữ thăng bằng, đưa mắt nhìn quanh sang phía bên đường có tiếng gọi vọng ra. Chợt thấy bàn tay vẫy vẫy trước cửa căn nhà xây ngói đỏ tươi, nhận ra Nga, Thùy chầm chậm dắt xe đạp sang đường về phía người phụ nữ đang vẫy tay. Nga nhìn Thùy hỏi:

-Sớm thế này, hai mẹ con đi đâu vội thế? Thùy ngượng ngùng đáp:

-Em đến chị Hà, tranh thủ trước khi chị ấy đi làm, em còn về cho kịp giờ làm.

Nga nhìn Thùy áy náy:

-Vậy chú ấy đâu không để con bé ở nhà, bắt nó đi cùng, tội con bé?

-Bố cháu không có nhà, tuần đi công tác sáu ngày xuống các huyện, Chủ nhật về đem theo đống quần áo bẩn toàn mùi chàm bác ơi.

Ngắm nhìn căn nhà gạch khang trang, Thùy hỏi:

-Nhà chị mới xây à? Nga cười:

-Không đây nhà mẹ chị. Cả nhà về thăm bà ngoại hôm qua.

Biết Thùy vội phải đi, Nga nói:

-Đợi chị một tí nhé.

Nga chạy nhanh vào trong nhà cầm ra một gói bọc lá chuối khô:

-Cầm gói xôi này cho bé. Thùy quay lại nói với con:

-Con cảm ơn bác đi!

Bé Hiền đang ngái ngủ, nghe mẹ gọi, giật mình nói nhanh:

-Dạ, cháu cảm ơn bác nhiều ạ! Nga nhìn Hiền nựng:

-Hiền ngoan quá. Thôi hai mẹ con đi kẻo muộn.

Thùy vừa chào Nga vừa đặt chân lên bàn đạp vội vàng đi. Nhìn theo bóng hai mẹ con Thùy xa dần, trong lòng Nga bao suy nghĩ. Có phải đây là cô bé Thùy ngày nào trên khu sơ tán không nhỉ? Mới năm nào còn là cô bé hay xấu hổ, nhút nhát, mình trêu gọi đùa cô bé còm nhom. Không ngờ cuộc sống mưu sinh bắt buộc và rèn luyện con người phải cố gắng thích nghi với hoàn cảnh. Ai cũng hy vọng cuộc sống sẽ được cơm no, áo ấm khi đất nước hết chiến tranh, Bắc - Nam thống nhất. Sau ngày giải phóng, kế hoạch hóa khôi phục kinh tế xây dựng đất nước giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ đề ra thật hoành tráng, nhưng lực bất tòng tâm, phe XHCN nhất là Liên Xô và Trung Quốc cắt giảm viện trợ vì chiến tranh đã chấm dứt, trong khi đó Mỹ cấm vận và bao vây kinh tế, cộng thêm lời hứa của Nixon đền bù bốn tỷ đô la sau chiến tranh không thực hiện, với lý do, Bắc Việt vi phạm hiệp định Paris xâm lược miền Nam. Sau chiến tranh, kinh tế miền Bắc bên bờ sụp đổ. Nông nghiệp, công nghiệp bị tàn phá nặng nề, không những thế mấy năm liền mất mùa do thiên tai, đồng thời với chính sách ngăn sông cấm chợ cực đoan thời kỳ bao cấp, đời sống người dân miền Bắc đã nghèo lại càng khốn khổ hơn bao giờ hết, mọi người phải ‘thắt lưng buộc bụng’, tự xoay sở, tự cung tự cấp. Lương thực, thực phẩm thiếu trầm trọng, người dân tuy có tem phiếu phân phối nhưng không bao giờ mua được đầy đủ. Vừa đạp xe Thùy vừa nghĩ lan man, lần nào gặp Nga cũng thấy khác, thay đổi nhanh hơn trước. Quang - chồng Nga - nhanh nhẹn tháo vát, công việc của Quang, nhân viên cung ứng của nhà trường có điều kiện xoay sở, vì thế sinh hoạt gia đình Nga sung túc, khá hơn gia đình khác. Thời bấy giờ người ta đều nhắc nhau, ‘thật thà ăn cháo, bố láo ăn cơm’, những người liêm khiết, chân chính như gia đình Thùy hay những gia đình khác trông vào đồng lương ‘ba cọc hai đồng’, xoay ngang xoay dọc đều thiếu. Mỗi lần đi công tác xuống cơ sở huyện, trước khi về, Quang mua gà, thịt hay cá. Để tránh trạm kiểm soát khám xét đánh thuế hay tịch thu, Quang có chiêu rất tuyệt, gà hay thịt luộc trước, cá đem rán hay kho mang về cho vợ con, trạm kiểm soát trơ mắt ếch nhìn, không thể đánh thuế hay tịch thu thực phẩm đã nấu chín.

Thùy đến vừa đúng lúc Hà chuẩn bị ra cửa đi làm. Hai người quen biết nhau sau ngày Thùy đi học về làm ở Ty Văn hóa. Hà làm ở văn phòng Lâm nghiệp tỉnh, quý và quan tâm giúp đỡ tận tình, xin giấy mua củi, mùn cưa giúp Thùy, vì bây giờ không được lên rừng lấy củi như ngày xưa. Hà đưa giấy phép cho Thùy theo tiêu chuẩn một mét khối củi, ba bao mùn cưa trong xưởng gỗ của thị xã. Hà nhắc Thùy:

-Em chú ý đến kiểm tra xưởng khi nào củi về, nhanh đi mua kẻo hết. Em đã đan xong mấy thứ chị đưa chưa?

-Dạ, còn cái áo len tối nay đan, ngày mai em đưa hết cho chị. Chị cộng lại cuối tháng, nói bà chủ thanh toán tiền cho em.

Nói xong, chào Hà, Thùy tất bật lên xe đèo con về cho kịp giờ làm.

                                                                                                    *

Khu tập thể I, nơi gia đình Thùy ở, gồm hai dãy nhà gianh vách đất, mỗi dãy có mười gian. Dãy nhà dành cho gia đình có con, mỗi gian rộng chừng hai mươi mét vuông, phía sau có mảnh đất nhỏ năm, sáu mét vuông trồng rau, nuôi gà hoặc làm chuồng nuôi lợn, cải thiện đời sống. Gia đình Thùy có ba người, như vậy thoải mái so với gia đình đông con. Dãy nhà đối diện, gian nhà nhỏ hơn dành cho người chưa có con. Riêng gian đầu tiên làm nhà trẻ, có ba cô chịu trách nhiệm, trông giữ mười hai cháu từ lọt lòng đến ba tuổi.

Vừa về đến đầu ngõ rẽ vào khu tập thể, Thùy đã nghe thấy tiếng nói ồn ào:

-Ối giời ơi! Bây giờ tôi biết phải làm thế nào?

Tiếng kêu khóc lẫn tiếng bàn tán xôn xao, mỗi người mỗi ý, thể hiện rõ ‘sự quan tâm’ của người trong khu tập thể. Sau mới biết, con lợn của chị cấp dưỡng từ sáng sớm ‘chê cám’ làm chị lo sốt vó. Sống trong khu tập thể hơn hai năm, tính Thùy ít nói, không thích dính dáng vào những chuyện ‘vui buồn’ thường xuyên xảy ra như cơm bữa, vì có thời gian đâu tham gia chuyện ‘bò răng trắng hay đen.’

Người ta kéo đến đông nghịt, nhìn, xem thực hư rồi lo nghĩ đến lợn nhà mình.

-Chị đã cho lợn uống thuốc chưa?

Một chị lên tiếng hỏi. Mọi người lại lao nhao lên, bà to béo nói một câu chắc như đinh đóng cột:

-Lấy một viên cảm sủi, hòa với một nắm cám, trộn thêm thức ăn cho nó thơm thơm là con lợn ăn liền, khỏi ngay.

Chị có lợn than thở:

-Tôi cố nuôi thêm vài tháng cho nó được hơn 80 ký, bán mới đủ món tiền trang trải. Nay giở chứng thế này, bán được bao nhiêu hở giời?

Không biết ai đứng phía sau đám đông, nói to:

-Thuốc nhanh nhất, gọn nhẹ khỏi phải lăn tăn, lo lắng, cho nó một viên ‘Sun-phát-đờ-dao’ là xong, bà con nào có nhu cầu xin mời đến, cả nhà được bữa tươi.

Một ông chừng hơn bốn mươi tuổi tham gia:

-Ôi dào, to cũng như nhỏ, nuôi vất vả, nó lớn từng ngày nhìn cũng thích, nhưng mình đâu có dám ăn. Bán tất tần tận, nhịn mồm nhịn miệng, con cái thèm một miếng thịt ngon cũng không dám giữ lại, nó khóc, dỗ dành mãi chúng mới thôi.

Người cười hưởng ứng, người lắc đầu ngao ngán cho cái cảnh lo ‘ông Lợn’ ốm, còn hơn lo thủ trưởng cơ quan ốm. Bởi lẽ đương nhiên, ‘ông Lợn là tiền, là thu nhập thêm’ của gia đình. Một câu chuyện có thật xảy ra thời kỳ ‘ngăn sông cấm chợ’. Gia đình Giáo sư Văn Như Cương sống trong khu tập thể, vợ ông nuôi lợn, phân lợn nhà ông làm tắc cống. Người ta báo công an phường lập biên bản phạt hành chính. Công an đến làm biên bản ghi ‘gia đình ông Văn Như Cương nuôi lợn mất vệ sinh khu tập thể.’ Giáo sư Văn Như Cương, gãi đầu gãi tai, nói: “Xin đồng chí ghi, lợn nuôi gia đình ông Cương”. Lúc này công an ngây người, mặt nghệt ra không hiểu, sao lại lợn nuôi gia đình ông Cương. Giáo sư Văn Như Cương, chậm rãi giải thích, “Gia đình tôi mọi thứ thu nhập thêm đều trông vào con lợn. Vậy lợn nó nuôi chúng tôi”. Ngẫm nghĩ một lát, ông Cương bảo “Vậy thế này, đồng chí ghi, gia đình ông Cương và lợn nuôi lẫn nhau dễ hiểu hơn”. Chuyện tiếu lâm thời ngăn sông cấm chợ tưởng đùa mà có thật, trong thập niên 1970s và 1980s ở miền Bắc XNCN (Xếp hàng cả ngày).

Thùy đưa con sang nhà trẻ giao cho các cô bảo mẫu, nhanh chân về kiểm tra chuồng gà, chuồng lợn trước khi dắt xe đạp ra cổng. Vừa đạp xe, Thùy vừa nhẩm tính, nghỉ trưa ghé qua chị Huệ xin cây chuối băm cho lợn, tối nay phải cố đan xong cái áo len ngày mai giao cho chị Hà thanh toán tiền công tháng này. Thùy đến cơ quan vừa đúng giờ, còn sớm hơn mấy người cùng phòng. Có tiếng nói từ ngoài vọng vào:

-Xin thông báo với các vị, cửa hàng lương thực cho xe đi lấy gạo, ngày mai có gạo bán. Nhớ đi xếp hàng sớm kẻo ‘trâu chậm uống nước đục’.

-Anh có biết lần này độn ngô hay bột?

-Độn gì mà không phải mua các bà ơi. Phố bên cạnh nhà tôi mấy ngày trước bán ngô răng ngựa đấy.

-Chị gái em mua về ninh mấy tiếng vẫn cứng, không nhai được. Bà mẹ chồng bị gãy nốt cái răng hàm cuối cùng vì ngô răng ngựa.

Mọi người cười phá lên, nhưng nét mặt ai cũng hiện lên vẻ đau khổ, thông cảm.

Một chị thắc mắc:

-Cô Thùy im lặng thế? Có sáng kiến gì chăng? Đang suy nghĩ, Thùy giật mình đáp:

-Dạ, cũng tùy xem họ bán độn gì rồi mới tính, con bé nhà em nhỏ quá không ăn độn ngô răng ngựa được. Tháng trước em bán độn, mua thêm gạo cho cháu, vợ chồng em ăn độn hạt bo bo.

Ngô răng ngựa, sau khi ‘bung’ vài giờ, ngô chín hạt ngô to gần bằng ngón chân cái, nhìn đã thấy mất ‘cảm tình’, nhai mỏi cả hàm. Hạt bo bo (hạt ý-dĩ, còn có tên hạt cườm, còn nguyên vỏ trấu chưa xay xát) của Trung Quốc viện trợ nuôi gia súc gia cầm, nhưng vì khủng hoảng thiếu, hai lương thực này chính phủ bán phân phối cho nhân dân thay gạo.

Tiêu chuẩn Thùy mười ba kg, chồng mười lăm kg và bé Hiền năm kg một tháng, tính ra không quá khó khăn, vậy mà suốt ngày hôm đó, tin tức cửa hàng có gạo bán, thành chủ đề nóng sốt, quan trọng nhất cho mọi người trong cơ quan bàn tán.

5 giờ chiều, hết giờ làm việc, mọi người trong phòng chuẩn bị ra về, không khí nhộn nhịp, nhanh gọn hơn đầu giờ làm. Đó là quy luật của cán bộ công nhân viên ‘sáng vác ô đi, chiều vác về’ với mức lương bèo bọt so với giá cả thị trường. Từ lương thực, thực phẩm như gạo, mắm, muối đến hàng hóa tiêu dùng vải mặc, xà phòng giặt, kem đánh răng… đều dùng các ô tem phiếu hàng tháng, phân chia theo cấp bậc, chức vụ, mức lương. Có tem phiếu nhưng không có hàng, hết tháng tem phiếu hủy bỏ vì hết hạn sử dụng.

Trong thời kỳ tem phiếu, có nhiều câu chuyện ‘cười ra nước mắt’ không thể tin được ở những nước giàu có, văn minh. Một trưa đi qua cửa hàng bách hóa tổng hợp thị xã, nghe tiếng ồn ào, người xúm đông, Thùy xuống xe đạp tò mò xem chuyện gì. Một bà mặc váy áo dân tộc, hai tay vỗ bành bạch vào hai đùi, vừa vỗ vừa nói to “Giời ơi là giời! L. người ta đẻ ra con cán bộ được mua đường, mua sữa, còn L. tôi đẻ ra con dân, ốm đau không được mua cân đường hộp sữa, bất công quá, giời ơi là giời!” Đám đông có người tủm tỉm cười, có người lắc đầu, có người thì thầm “bà này gan cóc tía, chọc lũ ong bò vẽ, đeo còng số 8, ăn cơm nhà nước, ngủ nhà công chưa biết chừng”, xì xào thế thôi không ai can ngăn. Vỗ chán, gào chán, người đàn bà ấy mệt, thở không ra hơi. Người xem vở ‘dân ca và chèo chế độ tem phiếu’ sợ liên lụy, thưa dần.

Công đoàn – một tổ chức đứng ra bảo vệ quyền lợi cán bộ nhân viên theo tôn chỉ, mục đích đề ra của chính phủ. Từ Trung ương đến tỉnh, thành phố và tất cả các cơ quan, xí nghiệp quốc doanh hay hợp doanh đều có, tất cả cán bộ nhân viên phải tham gia, hàng tháng đóng nguyệt phí 2% lương. Đóng nguyệt phí, nhưng người phụ trách công đoàn từ cơ sở đến tỉnh thành quan tâm, giúp đỡ đoàn viên như thế nào, tiền đó để làm gì, đại hội Công đoàn cơ sở hàng năm không công khai báo cáo.

Năm 1976, Ban chấp hành Công đoàn tỉnh Hòa Bình họp đại hội thường niên do ông Quách Hy làm chủ tịch. Trong buổi giải lao, đại biểu đang cười nói vui vẻ ngay sân hội trường, một ông nhân viên bảo vệ hội trường chừng năm mươi tuổi, cầm cái bát to để lên bàn có thùng đun nước trà Hồng Đào, móc trong túi quần lấy gói nhỏ, mở ra trong có những ô phiếu thực phẩm đã cắt sẵn cho vào bát, ông đưa bát vào vòi thùng nước, mở vòi, nước trà chảy xuống lưng bát, lấy ngón tay trỏ ngoáy đều, cầm bát đưa lên miệng, trước khi uống, ông nói to:

-Tem phiếu không mua được, cắt nhỏ ra, hòa vào nước uống cũng bổ chán.

Nước trong miệng, ông nhai ô tem phiếu, rồi nuốt ực một cái thật to, nhìn mọi người xung quanh, cười:

-Ngon thật đấy các bác, bác nào tem phiếu hàng tháng không mua được cứ làm như em, bổ và tốt lắm.

Tất cả đại biểu ngạc nhiên, mồm chữ O mắt chữ A, riêng Quách Hy mặt tím lại vì không ngờ thấy cảnh chửi xéo thâm độc đến thế.

                                                                                   *

Cũng như những người khác trong hoàn cảnh bấy giờ, Thùy nhanh nhanh đạp xe về vì biết bao nhiêu việc đang chờ, thái cây chuối nấu cám cho ‘ông Lợn’, gọi là cám nghe cho sang, thực ra 1 phần cám 8 phần thân cây chuối băm nát, cộng thức ăn thừa gom nhặt từ các hộ gia đình trong khu thập thể, nấu thành thức ăn cho ‘ông Lợn’. Thùy phải đan xong áo len ngày mai giao, thanh toán lấy tiền công, thu nhập thêm. Về đến cổng đã nghe thấy tiếng con gái khóc gọi mẹ, cộng với tiếng quát mắng của bà giữ trẻ. Bà ta vừa đi vừa nạt nộ, một tay kẹp bé Hiền bên hông cởi truồng, một tay cầm cái quần kéo lê dưới đất theo bước chân:

-Có câm mồm không? Khóc cái gì? Tao cho mày ra ao rửa lần sau chừa ỉa đùn, nhớ phải gọi nghe chưa?

Chứng kiến tận mắt, tai nghe rõ từng câu, Thùy bực lắm, như ai cầm dao cứa vào ruột. Dựng vội xe đạp bên bực cửa, Thùy đi nhanh đón bé Hiền từ tay bà giữ trẻ, chậm rãi nói:

-Ôi, em xin lỗi bác, hai mẹ con em xin lỗi bác, lần sau cháu không dám ‘ý’ ra quần nữa.

Quay sang nói với con:

-Xin lỗi bà đi con.

Hiền mếu máo, nước mắt đang chảy ướt trên má, vẫn phải cố nói trong tiếng nấc:

-Cháu xin lỗi bà ạ.

Loan, nông dân, quê Nam định, em gái ông phó phòng hành chính được đưa lên giữ trẻ ba tháng nay, gần bốn mươi tuổi chưa chồng, tướng mạo như đàn ông, thấy mẹ con Thùy xin lỗi (?) Loan giả vờ vuốt má Hiền nịnh:

-Ừ, ngoan lắm, trời lạnh bà cũng thương lắm chứ, bà có muốn thế đâu. Thôi ngoan về với mẹ, cho bà còn về nghỉ.

Thùy chào Loan bế con về bên nhà, đặt Hiền xuống giường, xuống bếp vo gạo thổi cơm, còn quả đu đu xanh xào, có quả trứng gà nhà nuôi đẻ sáng nay, được bữa ăn tối ngon lành. Thùy lấy nước sôi trong phích Trung Quốc đổ ra chậu men rửa cho con, vừa rửa vừa nhìn kỹ xem có bị bấu véo, cấu ngầm không. Nghĩ đến cảnh con bị quắp kẹp dưới nách không quần, trời lạnh thế đưa ra ao rửa, Thùy xót xa vô cùng, nghĩ thầm, mình phải làm gì đây?

Cho Hiền ăn xong, Thùy đưa con sang hàng xóm gửi, chơi với con chị Lan bên cạnh. Anh chị có ba đứa tuổi bốn, năm, sáu kháu khỉnh, ngoan, sòn sòn sinh năm một, đều thích bé Hiền, hàng xóm chơi quen thành nếp, nhờ vậy Thùy tranh thủ làm được nhiều việc trước khi đi ngủ. Lan làm ở phòng Tài chính, chồng chị, Tuấn - cán bộ Tuyên huấn - đều là người Kinh. Lan đang nấu cám lợn, các gia đình có con đều nuôi lợn, nuôi gà, một hình thức thu nhập thêm. Thùy đi xuống, hỏi:

-Anh chưa về hả chị? Lan thở dài:

-Có bao giờ ông ấy về đúng giờ đâu. Không họp cũng la cà ngồi với nhau tán gẫu. Lạ nhỉ, tưởng chỉ có phụ nữ mới nhiều chuyện buôn dưa lê bán dưa hấu chứ?

Thùy cười, trêu:

-Cho các ông ấy thư giãn một chút chị ạ. Chồng em quanh năm đi công tác suốt tuần, suốt tháng có thấy mặt đâu. Lâu rồi cũng quen, ăn ngủ thế nào, em không biết. Cuối tuần Chủ nhật về, tiền lương không thấy đưa, đưa ngay một đống quần áo bẩn, hôi mùi chàm trên rừng của người dân tộc. Con Hiền hỏi bố suốt, một tuần mới gặp, được bố bế đi chơi một ngày sung sướng rồi chị ơi.

Lan nhìn Thùy với ánh mắt đồng cảm, an ủi:

-Chị em mình sinh ra chịu thiệt thòi, chịu khổ em ạ. Nhưng bù lại có được bé Hiền xinh xắn, ngoan ngoãn đáng yêu ai cũng thương, cố lên em.

-Vâng, may mắn em còn có anh chị và các cháu là hàng xóm, thương mẹ con em, giúp đỡ nhiều, em biết ơn anh chị và các cháu lắm. Chị cho em gửi cháu, về xem nồi cám lợn và giặt quần áo, ngày mai có thể không mưa.

Thùy đứng dậy chào Lan, nói:

-Em đã cho Hiền ăn cơm rồi. Em quên nhắc chị, cửa hàng lương thực có gạo về rồi đấy, nhớ đi mua kẻo hết, nếu chị mua, mai em xếp chỗ cho hai chị em mình.

-Em đặt giúp chị một chỗ nhé.

-Vâng.

Thùy nói xong, bước nhanh ra cửa về nhà. Làm xong mọi việc đã 9 giờ tối. Hiền đã ngủ say, đắp lại chăn cho con, Thùy lấy kim đan áo len, tối nay phải đan xong, ngày mai giao cho Hà thanh toán tiền, nghe tiếng gõ cửa:

-Thùy ơi, chưa ngủ à? Chị vào được không? Thùy ra mở cửa:

-Chị Thoa! Có chuyện gì chị?

-Chị có việc cho em đây. Chị mới tìm được mối làm ăn mới, vừa nhẹ nhàng, hợp với cảnh của em.

Thoa giở ra tập túi nylon và một túi lạc rang to.

-Đóng lạc rang sẵn vào túi nylon nhỏ, đem trả lại cho chủ, chủ giao cho các cửa hàng, quán nước bán lẻ, em có nhận làm không?

-Nhận chứ, nhận chứ chị, miễn kiếm thêm tiền thu nhập.

-Tối nay có một mình à? Sao giờ này còn sang nhà em?

-Anh ấy đi họp ở Hà Nội mấy ngày, vắng anh, chị không ngủ được và hơi sờ sợ.

-Vậy tối nay ngủ lại đây với mẹ con em cho vui, nhân thể bảo em cách cho lạc vào bao túi thế nào.

Đêm ấy hai người thức khuya gần 12 giờ mới ngủ. Thùy đan xong chiếc áo len và bỏ túi lạc được một đống to, ngày mai Thoa giao cho chủ.

Reng …Reng … chuông đồng hồ báo thức, đang ngủ say, giật mình, nhìn đồng hồ gần 4 giờ sáng, chợt nhớ phải đi đặt chỗ xếp nốt mua gạo, Thùy khe khẽ gọi Thoa:

-Chị Thoa ơi, chị để ý cháu Hiền giúp, em ra cửa hàng lương thực xếp chỗ, chị nhé.

Thoa ừ ừ, giọng ngái ngủ.

*

Thời tiết miền trung du thất thường không dự đoán được, Thùy khoác thêm áo dầy cho ấm. Bốn giờ sáng, trời còn mờ mờ tối, ánh sáng cột đèn hai bên đường dọi xuống, in bóng người gầy, nhỏ bé gồng mình đạp xe bon bon trên con đường nhỏ, xung quanh ruộng trồng rau cải, xà lách, xu hào, cuối con đường cong lượn vòng đến phố chính của thị xã. Thùy đạp xe hướng thẳng phía cửa hàng lương thực. Từ xa đã thấy nhộn nhạo bóng người và tiếng nói, họ đến sớm hơn Thùy, người xếp nốt bắt đầu từ cửa hàng đã dài quá ba mét. Dễ nhận ra ngay nốt xếp hàng, đó là những hòn gạch, đồ vật to nhỏ đủ hình dáng, cái thúng, cái rổ hay bất cứ vật gì thay thế cho người đứng. Có khi chủ đồ vật đứng ngay bên cạnh, đôi khi vắng mặt, nếu ai vô tình đẩy lệch ra ngoài hàng hoặc đưa xuống phía sau, lập tức chủ nhân viên gạch cất tiếng nói to “tưởng gạch, vật không biết nói à, có đấy.”

Nhưng tất nhiên tạm thời đồ vật im lặng đứng thay thế, dù không ghi tên, nhưng đã ‘đánh dấu’, vì thế nên thận trọng.

Thùy vội tìm hai hòn gạch chữ nhật đặt tiếp vào trong hàng ngũ xếp nốt. Tuy được các anh chị truyền kinh nghiệm đánh dấu, vẫn không yên tâm. Nhìn xung quanh, không có ai quen để gửi gắm, Thùy đem theo băng keo màu đỏ dán chéo lên hai viên gạch, trông khác đấy, chắc gì được nằm yên. Tháng trước, vì lo để con ở nhà, xếp chỗ xong chạy về, mười phút sau viên gạch biến mất. Kêu ai, may một ông nhường chỗ, vì không thích mua hạt bo bo, đi về. Hôm nay có Thoa ở nhà với bé Hiền, Thùy nghĩ cách, người đến ngày một đông, tin gạo về truyền nhanh hơn tia chớp, ai cũng mong mỏi chờ. Gạo, nguồn lương thực chính, nỗi băn khoăn trăn trở của mọi người. Cái đói gậm nhấm tâm can con người thời kỳ bao cấp hàng chục năm. Ai cũng phải bảo vệ, giữ gìn sổ gạo gia đình cẩn thận như con ngươi của mắt mình, sơ ý đánh rơi, bị kẻ gian rạch túi lấy mất số gạo, tem phiếu… thì than ôi, mặt cắt không còn giọt máu, ngơ ngơ ngác ngác như kẻ mất hồn. Vì thế, sau này, hễ ai có chuyện không vui, buồn rầu thường được ví ‘buồn như mất sổ gạo’, câu này trở thành thành ngữ.

Đột nhiên có người hỏi bâng quơ:

-Không biết hôm nay gạo có mốc mọt không?

Mọi người bắt đầu lao xao bàn tán, bà có khăn len quấn quanh cổ nói:

-Có mà mua đã tốt. Chịu khó ngồi nhặt con mọt, con sâu chứ biết làm sao.

-Tôi đem bán, thêm tiền mua gạo ngon. Có người nói mỉa:

-Bà nhiều tiền làm vậy, nghèo như chúng tôi, gạo hẩm cũng phải ăn, nhiều tiền tội gì phải xếp hàng, ra chợ đong gạo ngon, có phải không bà con?

Những tiếng cười, lời ra tiếng vào của đám đông xua bớt cái lạnh sáng sớm, giúp thời gian trôi nhanh hơn. Thùy im lặng, nghe mọi người nói chuyện, nghĩ không biết hôm nay gạo gì? Độn gì? Có đủ gạo bán? Tháng trước, ông Mai Xuân Hải, cán bộ nghiên cứu Viện Hán Nôm xếp hàng mua gạo, đến lượt, cô nhân viên cửa hàng mặt lạnh như tiền, tuyên bố một câu xanh rờn:

-Hết gạo rồi.

Mặt ai cũng dài thườn thượt, có người hỏi:

-Vậy bao giờ có gạo về?

-Ngày mai có không?

Hỏi cô bán gạo phải nhẹ nhàng, ngọt ngào, sợ mất lòng, uy quyền của cô lớn lắm. Thời bấy giờ người bán gạo, bán thịt, mắm muối tương cà oai hơn bác sĩ, kỹ sư, thày cô giáo, mặt lúc nào cũng vênh vênh như bánh đa nướng. Thùy lo sợ cảnh đó hôm nay tái diễn, nhưng nóng ruột lo bé Hiền ở nhà. Hai tiếng nữa cửa hàng mới mở cửa, Thùy không thể ngồi chờ, chợt nhìn thấy Kiều,

bên xưởng in, đứng cách gần chục người. Thùy đi đến, Kiều nhận ra, hỏi ngay:

-Em xếp chỗ nào? Đến lâu chưa?

-Em gửi cháu, ra đây lúc 4 giờ, viên gạch xếp nốt của em trên kia có dán băng màu đỏ. Chị chờ họ mở cửa à? Có ai ra thay chị không?

-Chị xin nghỉ sáng nay. Cố mua cho được gạo hôm nay em ạ. Tuần qua, cả nhà ăn sắn thay cơm đến phát ốm em ơi. Cơ quan chị yêu cầu mọi người phải trồng mười gốc sắn phòng chống đói.

-Bên em chưa thấy nói gì. Nếu chị ở đây chờ mở cửa, coi giúp em nốt xếp được không? Em chạy ù về cho con bé ăn, đưa đi nhà trẻ, cho lợn gà ăn, em cũng phải xin nghỉ nửa buổi trừ vào phép năm.

-Để đó chị coi giúp, em về nhanh lên.

Thùy cảm ơn Kiều, vội lấy xe, đạp nhanh, về đến nhà, Thoa đã cho bé Hiền ăn sáng, hai bác cháu đang kiểm tra xem chị gà mái có sinh được quả trứng nào chưa. Trong chuồng ‘ông Lợn’ đang hếch cái mõm to dài kêu rống đòi ăn, đúng đồ lợn, lười biếng, ăn xong nằm ườn thần xác, ấy thế mọi người phải chăm sóc, vỗ về, không được để ‘ông đói’, ‘ông rét’, ‘ông đổ’ bệnh! Vì đó ‘cây tiền’! Người đời có câu ca:

Tiền là tiên là phật Là sức bật lò xo

Là thước đo lòng người

Là tiếng cười tuổi trẻ Là sức khỏe người già Là cái đà danh vọng Là cái lọng che thân Là cán cân công lýTiền vô là hết ý!

-A, mẹ cháu về, bác Thoa ơi.

Nhìn thấy, Hiền reo lên, chạy lại đón mẹ. Thùy dắt xe vào, hỏi:

-Hai bác cháu đang làm gì đấy.

Hiền chạy lại ôm mẹ, sau khi đặt Hiền xuống, Thùy lấy cám cho lợn ăn, lướt nhìn luống rau còn đẫm sương, nhủ thầm, chiều về tưới cũng được.

Nét mặt Hiền vui lắm, không thấy mẹ nói gì, đành gọi to:

-Mẹ ơi, con mặc váy mẹ may có đẹp không? Bác Thoa mặc cho đấy.

Thùy nhìn Hiền nghiêm mặt, nói:

-Mẹ đã nói với con thế nào khi mẹ may xong váy?

Con không nhớ hay sao?

-Con nhớ, nhưng bác Thoa tìm thấy trong va-li, bảo thích con mặc váy này, có phải không bác?

Thoa nhìn Hiền cười khanh khách, con bé lém lỉnh đổ lỗi cho mình:

-Đúng rồi, lỗi tại bác được chưa. Mẹ Hiền không ưng, bác thay quần cho Hiền nhé.

Nghe vậy, Hiền lo lắng nhìn mẹ, thấy con đang vui, không muốn con hẫng hụt, buồn, Thùy dịu giọng:

-Mẹ biết con gái mẹ ngoan, nghe lời mẹ. Lần này có bác Thoa, mẹ cho qua, nhưng không có lần sau nhớ chưa? Hôm nay đi nhà trẻ giữ sạch sẽ, muốn đi tiểu, ‘đi ý’ nhớ gọi các cô không được đùn, xấu lắm, bôi bẩn không có váy đẹp khoe bố đâu.

Hiền cười, vâng rõ to, vòng tay ôm cô Thoa thích thú.

Thùy nói với Thoa:

-Em cảm ơn chị nhiều. Chị giao túi lạc cho chủ, nếu có nhiều việc chị nhận cho em nữa nhé, chiều tối chị em mình gặp nhau.

-Em yên tâm, mấy khi chị được thoải mái thế này. Tối chị lại sang với hai mẹ con, bận việc gì tranh thủ làm ngay đi, tan tầm chị về trước đón bé, cho bé ăn giúp em. Thấy em vất vả quá, có một mình, chị son rỗi chơi với Hiền chị vui hơn nhiều.

-Vâng, chiều em về muộn một chút, chị nhé.

Cho lợn, gà ăn xong, đem quần áo đã giặt ra ngoài sân phơi trên dây. Thoa cũng chuẩn bị đi làm, Thùy đón bé Hiền, vội vàng bước về phía nhà trẻ, rồi đạp nhanh xe đến cửa hàng lương thực, sau khi ghé vào cơ quan xin phép nghỉ buổi sáng. Người ngồi, người đứng, ngủ gà ngủ gật nhiều tư thế khác nhau, trông đến nực cười trong đám người chờ mua gạo. Một tiếng kêu thật to vang lên:

-‘Cửa mình’ mở rồi bà con ơi! Mở cửa rồi. rồi!

Mọi người láo nháo đứng hết dậy khi nghe tiếng hét, cô nhân viên cửa hàng bắt đầu mở cửa sổ, cửa chính, không còn người ngủ gà ngủ gật, tỉnh như sáo sậu. Bây giờ bắt đầu cuộc xô xát tranh đấu về chỗ xếp nốt.

-Tại sao chị này lại ở đây?

-Ối giời ơi, ai đẩy viên gạch của tôi ra ngoài thế này?

-Con nào vứt cái thúng của bà đi đâu?

Bao nhiêu câu hỏi, thắc mắc nhưng không ai trả lời, chỉ có những nét mặt hừng hực khí thế, người vung tay, kẻ lấy ngón tay chỉ vào mặt nhau cãi vã, mặt đỏ phừng phừng xô đẩy nhau, người yếu ngã xuống, kẻ to khỏe hai tay chống nạnh nạt nộ. Thùy và Lan chạy nhanh đến vị trí hai viên gạch có băng keo màu đỏ. Kiều khôn ngoan cho viên gạch của mình chèn vào giữa hai hòn gạch Lan và Thùy, bình tĩnh bảo vệ ba chỗ xếp. Thùy khẽ gật đầu cảm ơn Kiều. Ba người im lặng không tham gia cuộc chiến. Thình lình bà đứng số hai trong hàng kêu to, giọng gần như khóc:

-Trời ơi, bà con ơi! Sổ gạo của tôi đâu rồi?

Bà vừa kêu vừa lục soát túi đang đeo trên vai nhưng không thấy.

-Tôi không biết đâu nhé, mọi người tìm kỹ, giúp xem có rơi đâu không?

-Ôi thôi, đứa nào đã rạch đáy túi của tôi đây này …

-Sao nhanh thế nhỉ? Kẻ nào nhanh thật.

Mọi người càng lo lắng, lộn xộn, ai cũng ôm ghì giữ chặt túi trước ngực. Bên trên người đầu tiên đã mua được gạo đem ra cửa. Lại ồn ào, nhao nhao tiếng hỏi:

-Gạo gì đấy? Có mốc không?

-Độn gì vậy cô ơi?

-Hạt bo bo mọi người ơi!

Xếp hàng từ mờ sáng, cửa hàng bán gì cũng mua, ai ngờ vẫn không yên. Xếp hàng, hình thức văn minh, các nước đều như vậy, nhưng ở xứ sở người đông của thiếu, đôi khi phải dẫm đạp lên cái ‘văn minh’, vì xếp hàng đến lượt không có hàng bán, nỗi lo lắng, hồi hộp buộc con người ta đánh rơi cái ‘văn minh’ ấy. Có sổ, có tem phiếu, đôi khi vì cần tiền trang trải, bán cho con buôn chợ đen, con buôn mua hàng bán cho người cần giá gấp ba, bốn lần so với giá nhà nước. Chính vì thế, thời bấy giờ nẩy sinh một tầng lớp mới trong xã hội, người ta đặt tên ‘bọn phe phẩy’. Nghe độn hạt bo bo, Thùy kiên nhẫn đợi mua, đem bo bo đến nhà Nga nhờ anh chị biết mối bán hộ, rồi nhờ Nga đong gạo không có mọt cho bé Hiền ăn. Hy vọng sáng nay mua được gạo, nghe nói hôm nay cơ quan có buổi gắp thăm mua lốp xe đạp và dép nhựa Tiền Phong, Thùy phải về cơ quan tham gia bốc thăm. Tháng trước đã không may mắn, chiếc xe Thùy đang đi lốp xe mòn nhiều, đã vậy, phải nhớ lên phòng hành chính xin giấy chứng nhận chồng đi công tác không có nhà, cầm thêm giấy ủy quyền của chồng giao chiếc đài Xiomao cho vợ sử dụng mới được mua hai đôi pin đại. Vấn đề thủ tục giấy tờ thật máy móc, quan liêu. Ai thắc mắc, càu nhàu sẽ được ‘giải mà không ai thích’:

-Đã là quy định, nguyên tắc phải chấp hành nghiêm chỉnh.

Thế là hết thắc mắc, âm thầm chịu đựng. Tháng trước công ty chồng Lan được phân phối mấy đôi dép nhựa Tiền Phong, chồng chị gắp thăm được một đôi, nhưng đi không vừa, đem bán chợ đen gấp bốn lần tiền mua, cả nhà được bữa cải thiện. Ông Phùng Nghi Mân, trung tá công an vào Huế công tác, cần tiền phải bán đôi dép nhựa Tiền Phong, được hai mươi đồng mua được cái vé tầu ra Bắc khỏi phải đi xe khách. Hàng hóa phân phối thời bấy giờ quý hiếm, giá trị thật!

Tin cửa hàng có gạo, người này gọi người kia xếp hàng mua bằng được, nếu không được nghỉ, nhờ người nhà giúp, nhưng phần lớn thuê người mang sổ đi mua. Đội ngũ xếp thuê, mua thuê rất đông, gồm các bà không có công ăn việc làm, sẵn sàng ‘giúp’ gia đình neo đơn. Hoàn cảnh những người như Thùy quá khó khăn, gia đình chồng ở xa, gia đình Thùy mẹ mất sớm, bố phải đi làm kiếm sống, anh và các em ‘kiến giải nhất phận’. Nói chung tự thân vận động, không thể trông cậy vào ai, lương không đủ ăn làm sao có thể thuê người giúp việc. Thời kỳ này ước muốn của mọi người đơn giản vô cùng:

-Cơm không độn, gạo không hẩm, không có mọt.

Canh rau có bột ngọt thay cho thịt, cá.

-Có xà phòng giặt quần áo.

-Chiếc xe đạp Thống Nhất làm phương tiện di chuyển.

-Chân có đôi dép nhựa Tiền Phong

-Mùa hè có chiếc quạt tai voi của Liên Xô. Thời xưa có câu ca:

‘Làm trai cho đáng nên trai 

Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng.’

Nhưng thời bấy giờ người ta thực tế với vật chất hơn:

‘Làm trai cho đáng nên trai

Có Fa-vô-rít, có đài đeo hông.’

Ai có quạt ‘Con cóc’ made in Việt Nam cũng sung sướng lắm, mùa hè đàn con đỡ nóng. Khi cánh quạt quay, chân đế không thăng bằng, quạt nhẩy chồm chồm như cóc, vì thế được mệnh danh quạt ‘Con Cóc.’ Nhìn thấy quạt nhảy chồm chồm, bé Hiền vỗ tay cười khanh khách, Thùy sợ con còn dại, không cho Hiền chơi với ‘chú cóc’ một mình.

Gần trưa Thùy, Lan và Kiều mua được gạo và bo bo, Thùy về ngay cơ quan đi làm, hy vọng may ra gắp thăm trúng số mua vật gì đó. Chồng Thùy đi công tác vắng, thiệt thòi mọi bề, biết than với ai!

 

Lâu lắm chưa về thăm bố, Chủ nhật bố Hiền về, cùng nhau đi thăm. Thùy còn nhớ hai tháng trước, ông bà nội Hiền xuống chơi. Hai người phải dậy từ tờ mờ sáng kịp bắt xe khách, quá trưa mới đến được nhà Thùy. Đang ở dưới bếp nghe tiếng gọi:

-Cô Thùy ơi, có người tìm cô!

Chạy ra, thấy hai ông bà vai đeo túi vải, quần áo xộc xệch, mặt mũi phờ phạc, đứng ngoài cổng. Trời ơi, ông bà nội bé Hiền.

-Con chào ông bà! Ông bà đi vào nhà. Đi từ mấy giờ, bây giờ mới đến, chắc đói và mệt lắm.

Hỏi liên tục, hai ông bà không kịp đáp lời, bà mẹ bấy giờ mới chậm rãi nói:

-Giàng ơi! Sao ở xa thế này hở con? ‘Ngổ tày’ (chúng tôi, tiếng Quảng) đi từ sáng, bây giờ cái người đau hết chịu nổi rồi.

Lúc này ông già mới lên tiếng:

-Tôi đem con gà trống thiến của nhà cho các con, chồng bay nó thích ăn lắm. Vậy mà bọn họ ác quá, nó lấy của tôi, bảo không được phép đem con vật từ nơi khác đến.

Bà mẹ nói tiếp:

-Có người mách, trước khi đi đã xin giấy phép của Ủy ban xã rồi đấy, phải khai đi đâu? Thăm ai? Mang theo gì, có đóng dấu, chữ ký của ủy ban, tưởng thế là đủ không bị làm sao. Ai ngờ quên không khai con gà, thế là chúng cướp mất. Từ lúc bị mất con gà, ông ấy tiếc quá, ngơ ngẩn cả người.

Nhìn hai ông bà thật tội nghiệp, không biết nói sao:

-Thôi con lấy nước nóng cho bố mẹ rửa mặt, rửa tay chân, tí nữa chồng con về, ngày mai Chủ nhật được nghỉ ở nhà.

Hai ông bà nhìn nhau không hiểu, đưa bố mẹ vào nhà, Thùy giải thích thêm:

-Chồng con thường xuyên đi công tác cả tuần, Chủ nhật mới ở nhà, rửa mặt xong bố mẹ nghỉ ngơi. Con đi nấu cơm, tí nữa mẹ con mình nói chuyện sau.

Bà mẹ vội hỏi:

-Cháu của ‘ngổ’ đâu, sao không thấy?

-Dạ, con gửi cháu nhà trẻ, hết giờ đón cháu về.

Thùy nhanh nhẹn chuẩn bị nấu cơm, may quá hôm trước mua được bơ lạc, tí nữa pha nước muối rang mỡ, nhà có trứng gà, có mớ rau mồng tơi nấu canh.

Ông già nằm xuống giường nghỉ, bà mẹ xuống bếp nói khẽ với Thùy:

-Con ơi, mẹ làm được một túi bánh bỏng gạo, bánh khảo đem cho cháu, nhân thể làm quà biếu hàng xóm,

vậy họ cũng tịch thu con ạ. Van lạy, năn nỉ mãi, một cậu trẻ tuổi mới để lại một phần, con bé nhà mình phải ăn ít đi rồi.

-Mẹ ơi, thời buổi bây giờ khó khăn lắm, cắn răng chịu vậy. Chúng con xin lỗi không về thăm, để cha mẹ già phải đi vất vả.

Thùy nghĩ có lỗi với cha mẹ nhà chồng, vẫn biết Bình thường xuyên đi công tác, không có thời gian, ngay gia đình nhỏ Bình cũng vắng bóng liên tục. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp khoa Sử năm 1966, về công tác ở Viện Bảo tàng Việt Bắc, sau chuyển sang công tác Ty Văn hóa, phòng Bảo tồn Bảo tàng. Với tính chất đặc thù của công việc, Bình và anh em trong phòng thường xuyên đi các tỉnh, huyện xa xôi, hẻo lánh để khảo sát, khảo cổ. Sinh ra, lớn lên ở tỉnh biên giới, cha mẹ người Trung Quốc chạy sang Việt Nam, Bình thông thạo tiếng Trung, tiếng thổ dân địa phương nên phù hợp với công việc. Những đợt đi công tác thường phải sống ba cùng với người dân địa phương, có khi hai tuần không về, nếu đến vùng xa xôi, hẻo lánh tàu xe khó khăn. Hàng năm cán bộ công nhân viên tiêu chuẩn phép chỉ có mười hai ngày, quá ít ỏi nên thường kết hợp nghỉ phép vào dịp Tết Nguyên đán về quê thăm cha mẹ. Bình ít nói, ít tâm sự về công việc với Thùy, không biết do quy tắc hay không có thời gian bên nhau, lâu dần thành nếp sống gia đình. Không than vãn, tâm sự, kể với ai, im lặng chịu đựng vì thông cảm công việc của Bình, nay thấy cha mẹ chồng già yếu, đi lại vất vả đến thăm, Thùy rất áy náy.

-Thấy các con đi làm bận lắm, nhưng nhớ cháu quá. Già không trách các con, ở gần mẹ còn giúp được phần nào, con gầy và xanh hơn năm ngoái con về đấy.

Thùy cảm động, nhìn mẹ chồng muốn rơi nước mắt, bà hiền, thật thà. Từ ngày đầu gặp, Thùy đã cảm mến, bà chịu cảnh làm dâu từ năm mười sáu tuổi, nhưng không có cảm tình, sờ sợ bố chồng. Khác xa với bố Thùy, thương yêu tất cả các con, ước gì mẹ chồng ở với mình.

Đứng dậy đưa mẹ vào giường nghỉ, lưng bà còng hơn trước, Thùy xót xa cho thân phận người phụ nữ. Thùy được nghe hàng xóm của mẹ chồng kể. Gia đình bà vay nợ lãi cao nhà ông bố chồng, năm tháng qua mau, lãi mẹ đẻ lãi con, chồng chất không trả được, bà bị gán thay vào món nợ đó làm vợ khi tròn mười sáu tuổi. Tiếng làm vợ, thực chất như người ở không công, làm lụng rất cực nhọc, mấy năm bà chưa mang thai, gia đình chồng mắng nhiếc thậm tệ:

-Cho ăn cũng phí, nuôi lợn một năm còn được mấy lứa, đây là cây điếc không hoa, không quả.

Ít lâu sau bà có thai, nhưng sinh con gái đầu lòng. Lại một trận nhiếc mắng, đay nghiến, mong con trai nối dõi tông đường. Khi mỗi năm đẻ một đứa, mấy con trai liền, bà lại được nghe chửi:

-Người chứ có phải lợn đâu mà đẻ nhiều thế.

Tội nghiệp cho bà! Lỗi của bà đâu, trời có thấu nỗi thống khổ này không hở trời! Ngày làm việc vất vả, đêm đêm bà nằm ôm con nước mắt đầm đìa. Nhớ lại khi sinh bé Hiền, bố và anh em nhà Thùy phấn khởi vui mừng bao nhiêu, bên nhà chồng im lặng bấy nhiêu, không thăm hỏi, ‘vịt giời’ ra đời sẽ bay đi khi lớn. Thùy thương cho bản thân, thương cho con gái, tư tưởng trọng nam khinh nữ từ bao đời nay tồn tại đến bao giờ mới chấm dứt ở nước Việt nam? Chìm trong suy nghĩ những gì đã qua, Thùy và con đã về đến nhà ông ngoại. Mấy tháng nay Thùy chưa về thăm bố, dù chỉ cách có bốn, năm cây số.

*

Nhà ông ngoại bé Hiền ở thị xã, đi lại thăm hỏi không phải xin giấy tờ thủ tục, vậy mà lâu lắm Thùy mới cho con về thăm. Thùy biết mình có lỗi với bố nhiều, nhưng hoàn cảnh không thể làm thế nào tốt hơn được. Từ ngoài cổng Hiền líu lo hát, nhắc đến ông ngoại, nghe tiếng, ông lật đật ra ngoài cổng đón, bé Hiền đã quen và nhớ ông nên nhanh miệng:

-Cháu chào ông ngoại ạ.

-Con chào Bố.

Thùy dắt xe đạp vào trong sân, hỏi:

-Bố đang làm gì đấy. Con mua phở gà cho bố, phở cửa hàng bác Thu đấy, ngon lắm. Bố ăn đi cho nóng.

-Sao mua ở đó, đắt và tốn tiền con ạ. Thế ‘cún con’ của ông có muốn ăn phở cùng ông không nào?

Nói xong ông nhắc bổng Hiền ra khỏi ghế ngồi phía sau xe đạp.

-Ái chà chà, ‘cún con’ hôm nay có váy đẹp thế nhỉ? Cho ông mượn được không?

Hiền khoe ngay:

-Ông ơi, váy mẹ Thùy may cho cháu đấy. Đẹp không ông?

Nghe con nhắc, Thùy nhớ ra, hỏi:

-Bố ơi, trong nhà có thừa những miếng vải vụn nào không? Cho con xin một ít.

Nghe con hỏi, ông nhớ ngay:

-Biết con thích và cần, bố góp nhặt được một túi. Trước khi về, nhớ nhắc, bố đưa cho, nhân tiện cho con hai mét lụa đen, bố gắp thăm được đấy, con may quần.

Thùy cảm ơn bố, chưa giúp được gì, vẫn để bố phải lo cho. Hai ông cháu vừa ăn phở vừa nói cười vui vẻ. Thùy tranh thủ quét dọn trong nhà, dưới bếp, thỉnh thoảng hỏi tình hình các em và gia đình anh cả ra sao.

-Vợ chồng anh Chính có định về quê làm việc và ở với bố không? Con mong anh chị về ở gần, chăm sóc bố.

Ông im lặng, thở dài, không trả lời, biết bố có điều gì khó nói, thương con, nhưng không muốn ép buộc con vì mình, công ty may gần nhà, không phải đi xa. Thùy ra vườn ngắm mấy cây mít năm nay nhiều trái, dẫy cây na cũng tươi tốt nhiều nụ. Ông nghiện uống trà mạn, những cây chè trồng xung quanh làm hàng rào vừa xanh nhìn mát mắt, vừa ích lợi, sáng nào ông cũng tỉa tót chăm sóc. Có lần Thùy còn nghe thấy ông tâm sự với hàng cây chè:

-Ta thương tụi bay nhiều, lớn mau, xanh tốt nghe không. Làm bạn với ta nhé.

Thùy không biết bố nói chuyện với ai mà sớm thế? Trời, hóa ra ông tâm sự với cây chè. Hình như chúng cũng hiểu và chiều lòng, cây nào cũng xanh tươi, lớn nhanh, nhiều búp non mơn mởn. Cây đào trước cửa bắt đầu ra nụ, chắc Tết này ra nhiều bông đẹp. Có hoa, có cây xanh làm bạn, Thùy mong sao bố luôn vui, khỏe mạnh, sống lâu bên con cháu. Không thể ở chơi lâu, Thùy chào bố xin phép đưa bé Hiền về. Thùy muốn tranh thủ xuống ruộng rau muống gần nhà bắt ốc cải thiện. Tuần trước, nửa tiếng thôi, Thùy bắt được một rổ ốc nhồi, ăn hai bữa, tối bỏ lạc vào túi và đan len, hôm qua Hà nhận đợt này đan mũ trẻ em.

Cuộc sống sinh hoạt của Thùy đều đều như một lập trình định sẵn. Vợ chồng Thùy như mặt trời, mặt trăng, thời gian bên nhau quá ít. Đi làm sáu ngày theo giờ hành chính, bận bù đầu với bao nhiêu việc gia đình, lo chăm sóc bé Hiền, Thùy như người mẹ đơn thân, đôi khi quên mình có chồng. Sự hiện diện của chồng hầu như không có đối với cuộc sống của hai mẹ con. Thời kỳ đầu, Thùy không tủi thân, ít suy nghĩ, làm gì có thời gian suy nghĩ, khi con người như cái máy chỉ khác có thịt, có da.

Phòng làm việc có hai người, Thương làm nhiệm vụ phân phối sách, tài liệu cho thư viện các huyện, Thùy đọc và nghiên cứu nội dung, phân loại sách. Nhiều loại mới nhập về, phải đọc, ghi nhận xét nội dung, từ đó phân chia phù hợp, đôi khi mải mê đọc sách mới nhập, quên cả thời gian. Cộng thêm tính tò mò sau khi Nam Bắc thống nhất, lan truyền những phim ảnh, sách truyện, bài hát tiền chiến bị mặc cảm nhạc vàng, ủy mỵ, những tác phẩm văn học xuất bản dưới chế độ VNCH đem ra Bắc bị chụp mũ phản động, đồi trụy, tuy không tự do phổ biến nhưng người ta truyền tay nhau đọc ngấm ngầm. Có lần Thùy mải mê đọc, không biết ông phụ trách đứng ngay sau lưng từ khi nào, đến khi giọng ồm ồm vang lên từ phía sau lưng:

-Cô Thùy chăm chỉ làm việc quá nhỉ, hết giờ không thèm về.

Thùy giật nảy người, bừng tỉnh, ông ta cầm cuốn sách trên tay Thùy lên xem. Cuối tuần, Thùy phải viết kiểm điểm, phê bình trong cơ quan, ‘vi phạm giờ lao động, công tác trong ngành văn hóa, giáo dục lại đọc sách cấm có nội dung không lành mạnh, phản động của nhóm Tự Lực Văn Đoàn thời tiền chiến, sách xuất bản của chế độ VNCH’. Rất may, lần đầu tiên vi phạm, Thùy chỉ bị phê bình, cảnh cáo nội bộ, nếu tái diễn sẽ buộc thôi việc, đuổi ra khỏi ngành văn hóa, giáo dục.

Tháng 7-1954, chính phủ VNDCCH tiếp quản miền Bắc theo hiệp định Genèver về Việt Nam, Đảng và nhà nước tập trung chú trọng xây dựng nền văn hóa giáo dục theo chủ nghĩa cộng sản cực đoan. Văn hóa nghệ thuật chế độ cũ bao gồm sách báo, nhạc phẩm bị tịch thu, cấm lưu hành trong đó có Tự Lực Văn Đoàn, phong trào Thơ Mới, nhạc vàng. Năm 1975 sau khi hai miền thống nhất, văn học nghệ thuật VNCH, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam coi đây là văn hóa đồi trụy, phản động cấm sử dụng, lưu hành.

Cuối thập niên 1980s, khi người lãnh đạo đảng và nhà nước rút ra được bài học xương máu do chính sách cộng sản cực đoan đã kìm hãm sự phát triển xã hội và kinh tế, đời sống nhân dân khốn khổ cùng cực, do đó họ phát động phong trào Đổi Mới và Cởi Mở, từ đó đời sống của người dân dần dần được cải thiện. Nhiều tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn được chuyển thể thành phim như Giông Tố, Số Đỏ, Nửa Chừng Xuân... phát hành rộng rãi toàn quốc, kỷ nguyên mới về nhận thức văn hóa giáo dục hình thành.

*

Chủ nhật tuần trước chồng Thùy không về, tuần này thứ Bẩy đã có mặt ở nhà, đi làm về, rẽ vào nhà trẻ đón con, Loan nói:

-Cô Thùy về nhanh nấu cơm cho bố con Hiền, chú ấy đón con bé từ sớm.

Thùy cười, chào Loan dắt xe đạp đi về nhà, từ ngoài đã nghe tiếng cười khúc khích hai bố con. Thùy dựng xe bên ngoài vào nhà, Hiền vui, khoe với mẹ:

-Mẹ ơi, bố mua cho con búp bê xinh lắm, nó biết mở mắt nhắm mắt đấy mẹ ạ.

Hiền ôm con búp bê Trung Quốc vuốt má, vuốt tóc, nựng:

-Em không được khóc nhè, phải ngoan chị thương nhiều nhé.

Thùy nhìn chồng khẽ hỏi:

-Chủ nhật trước anh không về, mẹ con em mong mãi, muốn hai vợ chồng về thăm ông ngoại. Hai hôm trước, mẹ con em đành về, ông vẫn khỏe, đi làm đều, hỏi thăm anh. Trưởng phòng cho anh nghỉ sớm một ngày à?

-Em này, đi công tác gặp một số người dưới miền xuôi lên, họ nói đi buôn hàng hóa bên Trung Quốc, kiếm cũng kha khá.

-Ý anh định theo họ? Anh không lanh như người ta, buôn với bán sao được. Thật thà như anh, mất cả chì lẫn chài. Chúng mình cán bộ cơ quan nhà nước, không thể vi phạm chính sách, luật pháp được.

Bình im lặng, lát sau nói:

-Đấy là anh nói với em thế, còn xem tình hình mọi người làm ăn sao đã.

Thùy lẳng lặng vào bếp chuẩn bị nấu cơm, thầm nghĩ, chồng mình từ xưa thật thà như đếm, buôn bán phải ma lanh, lừa đảo, có mấy đồng tiết kiệm, đi buôn, chưa biết chừng tiền kiếm không ra, còn bị người ta lừa mất sạch cả vốn. Biết vậy, nghĩ vậy, Thùy sẽ không nhắc, không hỏi gì nữa, cho qua chuyện.

Đi đến đâu, ở đâu cũng nghe người ta bàn tán chuyện buôn bán kiếm thêm thu nhập. Ngay trong cùng cơ quan, công ty cũng ăn lãi của nhau, dù ít ỏi. Đôi lúc Thùy ước, nếu không có chồng con, có thể cũng theo chị em đi buôn, giúp bố không phải đi làm vất vả. Thùy nghe được nhiều, nhìn thấy những bà vợ, họ hàng mấy ông làm trong cơ quan, tuy không đi buôn theo nhóm, theo hội, không buôn hàng chuyến, ấy thế các bà cũng thu nhập thêm bất ngờ. Có lần, cả gia đình người hàng xóm của Thùy bị ‘Tào Tháo đuổi’, nguyên nhân rất đơn giản, mua phải nước mắm ‘đểu’.

Nhập viện, bác sĩ trực hỏi:

- Hôm nay gia đình hai bác ăn những món gì bị ngộ độc thực phẩm?

Người chồng nói:

- Thưa bác sĩ, cũng như mọi ngày, có món gì đặc biệt đâu. Cơm rau muống luộc, cà muối, có thế thôi.

- Lạ nhỉ, hai bác cố nhớ xem có thức ăn gì khác mọi ngày không.

Người vợ thều thào:

- Sáng nay, tôi xếp hàng mua nửa lít nước mắm ở cửa hàng thực phẩm thị xã, lâu lắm mới mua được, mừng quá chấm với rau muống luộc, trộn với cơm.

Bà bệnh nhân nằm giường bên, nói chen vào:

 -Thôi, chết rồi, bà mua phải nước mắm đểu, pha nước rửa tay của mấy bà trong cửa hàng thực phẩm rồi.

-Ối giời ơi! Bà nói sao? Pha với nước rửa tay?

- Vâng, nhiều người nhìn thấy, không phải mình tôi. Nhận nước mắm về, họ ăn cắp vài lít đem về nhà, hàng ngày bán hàng, có chậu nước rửa tay, cuối buổi, họ đổ chậu nước ấy vào chum đựng mắm, bù số lượng đã ăn cắp.

Bác sỹ nghe xong lắc đầu, ghi y lệnh vào bệnh án, bà vợ nặng nhất lưu lại nằm phòng cấp cứu, truyền huyết thanh, thuốc giải độc, theo dõi. Mấy người khác, kê đơn mua thuốc chống ỉa chảy, sinh tố bồi dưỡng cơ thể.

Chuyện ăn cắp của nhân viên các cửa hàng nơi nào cũng có, một thứ bệnh hoạn lây lan rất nhanh. Cô bán gạo cân ‘điêu’ cho khách, một ngày bán phải ăn chặn ít nhất mười kg gạo, bán cho con phe. Người bán thực phẩm ăn cắp nước mắm, cá khô, bột ngọt. Người bán cửa hàng giải khát ăn cắp bia hơi, si-rô đem về cho chồng con. Chỉ cần làm nhân viên các cửa hàng trên, sau sáu tháng họ giàu trông thấy rõ, có hoa tai, dây chuyền vàng, đồng hồ đeo tay. Họ là sâu mọt của xã hội, biết không làm gì được, vì họ là vợ con, thân nhân của các cấp lãnh đạo từ thấp đến cao của chế độ XHCN (xuống hố cả nước).

Từ sau giải phóng miền Nam, kinh tế ngày càng suy sụp, ai cũng tìm cách kiếm thêm nuôi gia đình. Cán bộ công nhân viên trong lòng muốn thêm thu nhập, nhưng sợ dư luận, sợ bị mất việc, buộc người ta phải sống giả dối với xã hội, giả dối ngay chính với bản thân. Sau giờ làm việc, những ngày nghỉ phép, người ta lén lút truyền tay nhau mua đi bán lại hàng hóa đem từ Trung quốc: đài bán dẫn, quần áo, giầy dép, vải, len sợi, pin... Vợ chồng Nga vài lần gợi ý, nhưng Thùy rát lắm, ám ảnh thành phần gia đình ngày xưa vẫn không xóa mờ trong tâm trí. Học xong ra trường, công tác Ty Văn hóa, có chồng con, Thùy không dám buôn bán hay làm gì phi pháp, muốn được bình yên với gia đình bé nhỏ. Chị Mơ cùng Ty Văn hóa, chồng quê gần biên giới Trung Quốc, lần nào về quê cũng đem rất nhiều hàng hóa Trung Quốc: bút máy, dép nhựa, nước hoa, kem bôi mặt, có khi cả thuốc phiện. Vì thế mức sinh hoạt của gia đình khá hơn bao người khác. ‘Tai vách mạch rừng’, có người ghen ghét, báo lãnh đạo và công an. Nghe nói, tuần trước, anh ta bị trạm kiểm soát khám bắt giữ, tịch thu hết hàng buôn lậu, bị kỷ luật đình chỉ công tác.

Đi làm về, sang nhà trẻ đón con, Thùy biếu Loan hai lạng đường, Loan vui lắm:

- Tôi cảm ơn cô, quý hóa quá. Mấy ngày nay người thấy mệt, nay cô cho đường, thật đúng lúc, buồn ngủ gặp chiếu manh. À, cô có biết chồng bà Thi không? Ở cùng dãy nhà cô đấy.

-Em biết, sao bác?

-Chồng vừa vào trong Nam thăm quê hương, họ hàng, mang theo ra nhiều thứ lắm.

-Thế à, vậy mừng cho bà Thi.

-Ông ta khoác hai cái khung xe đạp, đài bán dẫn, con búp bê to đùng, đeo ba-lô to nữa.

-Bác ơi, anh chị ấy có ba đứa con nhỏ, lương thấp vất vả khó khăn, được như thế cũng đỡ phần nào.

Nói xong, Thùy bế con về ngay, không muốn nghe Loan nói nữa. Tắm rửa cho con, vẫn nghe thấy những tiếng nói, chuyện trò râm ran cuối dẫy nhà. Đúng là khu tập thể, hình như không còn gì của riêng, mọi người quan tâm, chú ý quá mức khiến con người thêm phiền phức. Thùy bắt đầu có cảm giác khó chịu, tưởng tượng những hành động, đi lại đã bị con mắt Loan theo dõi bấy lâu nay.

‘Ông Lợn’ đang kêu rống đòi ăn, không biết khi vắng, ‘ông Lợn’ kêu hay ngủ, nhưng thoáng thấy bóng Thùy, ông ta lên tiếng, người ra bảo ngu như lợn, không đúng tí nào. Tối nay có mưa, không tưới rau nữa, nhìn cũng thấy vui vui vì những cây rau cải ngày một cao, lá to hơn. Sắp được ‘thu hoạch’ trong lòng nao nao, quên hết mọi chuyện. Tối trời mưa sẽ ra vườn bắt ốc sên, nấu nồi cám ngon cải thiện cho ‘ông Lợn’. Thùy biết, có thêm ốc sên, ‘ông Lợn’ ăn ngấu nghiến, thật đúng ‘tham ăn như lợn’ các cụ ví von đâu có sai.

Người miền Nam tập kết về thăm quê ngày một nhiều, phần đông mang ra đồ dùng, hàng hóa khan hiếm ở miền Bắc, trong khi ở miền Nam bày bán la liệt trên vỉa hè, chợ giời. Người không có họ hàng ‘té nước theo mưa’, vào Nam mua đem ra bán kiếm lời. Mong muốn và lòng tham của con người không sao đo lường được. Thiên hạ có, mình phải có, hãnh diện với hàng xóm, bạn bè. Ông chú rể Thùy có chút tiền, vào Nam đem ra chiếc xe máy Honda, đi lượn vòng quanh thị xã khoe mẽ, còn có ý định chuyển gia đình vào Nam sinh sống. Người vào Nam khi ra Bắc, ngoài hàng hóa còn đem theo nhiều tin tức, nghe loáng thoáng một số người vượt biên bằng đường biển, nhưng Thùy chưa biết chắc chắn.

Cơ quan Thùy mới điều về một phó tiến sỹ học ở Liên xô. Thời đó, du học là ước mơ của hàng vạn thanh niên, học sinh, sinh viên, nhưng ước mơ chỉ dành cho con ông cháu cha, chắt bà cụ các gia đình Đỏ, mục đích đào tạo cán bộ kế cận ‘tre già măng mọc’ cho cách mạng. Con người thật phức tạp, mâu thuẫn ngay chính bản thân. Được du học, học hỏi kiến thức tân tiến về phục vụ đất nước, nhưng do hoàn cảnh mức sinh hoạt người thân trong nước khó khăn đã biến con em thành kẻ buôn hợp pháp. Đúng như lời cố Thủ tướng Phạm văn Đồng nói với đoàn du học sinh tại sân ga Hàng Cỏ Hà nội hè 1972 “Chào các du học sinh, các nhà buôn hợp pháp, có tiền và có đồ đã trở về.”

Sau nhiều năm du học, tiếp thu khoa học kỹ thuật, kiến thức ở nước ngoài ra sao không ai biết, nhưng từng thùng hàng hóa vận chuyển trên đoàn tầu liên vận đầy ắp các toa ai cũng nhìn thấy. Xe máy Simson, xe đạp Mifa của CHDC Đức, xe đạp Favorit của Tiệp Khắc, radio điện tử Rigonda, bàn là, quạt tai voi của Nga, nhưng hầu như không thấy thùng sách nào. Bố mẹ, anh em ra sân ga đón, mặt mày rạng rỡ, khi nhìn thấy nhiều thùng hàng chất kín từng góc sân nhà ga.

Xã hội như một vườn hoa muôn sắc muôn màu, phong phú, đa dạng. Trong chiến tranh, gia đình nào cũng có chồng con nhập ngũ. Chiến tranh kết thúc, hàng triệu người lính nằm lại chiến trường, hàng vạn thương bệnh binh và những người lính may mắn trở về với gia đình. Chiến tranh là chiến tranh, không phải do anh, do tôi gây ra, -những người lính trên chiến trường- do những thế lực siêu hình gây chiến. Sau chiến tranh, chính phủ hai phe đều chiến thắng, kẻ chiến bại duy nhất là người dân!

Hàng xóm Thùy, bà Hương, chồng nhập ngũ trước Tết Mậu thân (1967), hơn mười năm không nhận được thư, người ta đồn đã hy sinh, có tin ông đầu hàng VNCH, đột nhiên cuối năm 1977 lưng đeo ba lô nặng trĩu kèm theo con búp bê to, vai trái vác khung xe đạp, vai phải đeo chiếc đài bán dẫn kêu oang oang xồng xộc vào nhà.

Bố mẹ, vợ con mừng rơi nước mắt.

Chồng bà Tính trong quân ngũ hơn hai mươi năm, không có tin tức gì của ông, nghe đồn bị mất tích, người bảo đã hy sinh trong chiến trận, bà không tin, vẫn mong chờ và hy vọng. Trưa hôm ấy ông trở về, vai đeo ba lô ‘người lính chiến’, vợ con mừng rơi nước mắt. Mọi người kéo đến chia vui, mừng ông còn sống trở về. Trong ba lô của ông vẻn vẹn vài gói kẹo, đủ chia cho bọn trẻ đang vây quanh. Ông kể, bị thương nặng, chuyển qua nhiều bệnh viện, nay vết thương phục hồi được xuất ngũ, có giấy chứng nhận thương binh, chờ giải quyết chế độ. Gia đình bà Tính thêm một nhân khẩu, nhưng không có thêm tiền. Ngày qua ngày, tháng qua tháng, tuổi ông ngoài tứ tuần, không bằng cấp, không nghề nghiệp, chỉ có nhiều vết thương trong cơ thể, bà Tính bây giờ không biết tính sao? Mấy người bạn xuất ngũ, rủ ông góp vốn đi buôn ở biên giới.

Một buổi tối, hai mẹ con Thùy đang ngồi ăn cơm, Hiền khoe với mẹ:

-Mẹ ơi, hôm nay con và các anh chị con bác Lan sang nhà bác Toàn chơi mẹ à.

-Vậy sao, hai bác có khỏe không? Con chơi có ngoan không?

-Tụi con ngoan lắm, nên bác Toàn cho uống sữa đấy. Các anh ấy bảo, ở trường học, trong sách vở có nói về các món ăn, có chữ Sữa, chữ Phô mai, cô giáo bảo phải tập viết, nhưng chưa bao giờ được uống sữa.

Xót xa tội nghiệp cho trẻ thơ, ăn không no, nói gì đến bơ sữa. Ở lớp học phải nắn nót viết cho đẹp chữ sữa, nhưng chúng chưa được uống sữa, chưa biết mùi vị sữa như thế nào?

Mấy hôm trước Hằng tâm sự:

-Cậu biết không, hôm qua gia đình mình ai cũng vui. Thùy cười, nhìn bạn hỏi ngay:

-Tin gì vui thế?

-Một người bạn của cậu em trai mình đến nhà báo tin, hai đứa cùng được giải ngũ đợt này, chúng là bạn thân, rủ nhau nhập ngũ, nhận giấy xuất ngũ cậu ta về nhà ngay.

-Thế còn cậu em của Hằng?

-Trời, nó bảo còn ở lại tạm biệt mọi người về sau. Khi nghe tin báo, chưa nhìn thấy con, cha mẹ mình vui quá đã khóc rồi.

Thời chiến, người lính chiến đấu vật lộn giữa sự sống và cái chết, tránh sao khỏi thương tích, mất mát hy sinh. Người ở hậu phương không kém phần gian khổ, vất vả, âm thầm chịu đựng mong chờ hy vọng con cháu, người thân trở về bình an. Tin vui như liều thuốc bổ, an thần đối với cha mẹ và gia đình Hằng. Nhưng ai ngờ, ngày hôm sau, tuần sau, tháng sau vẫn không thấy về. Sau này mới biết, ngay hôm sau có lệnh điều tất cả tiểu đoàn sang chiến trường Campuchia làm nhiệm vụ mới. Hai năm sau, người mẹ ngày già yếu, hai chị đi lấy chồng, người bạn cùng quân ngũ năm nào trở thành con rể. Cậu ta là đảng viên, có huân huy chương, dũng sĩ diệt Mỹ, nhanh chóng lọt vào hàng ngũ lãnh đạo của một công ty xây dựng. Mọi người trong gia đình mong chờ, ngóng đợi tin của cậu em trai. Một ngày hè oi ả, nóng bức, gia đình Hằng nhận được giấy báo tử, em trai hy sinh trên chiến trường Campuchia.

Quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc trở nên bất thường từ cuối năm 1977. Trung Quốc ngừng mọi hoạt động giúp đỡ, viện trợ, ngăn cản hàng hóa quá cảnh bằng đường sắt từ Liên Xô, các nước cộng sản Đông Âu đến Việt Nam. Ban Việt ngữ của Đài phát thanh Bắc Kinh liên tục tuyên truyền (vào buổi 6 và 8 giờ tối) với luận điệu xuyên tạc, chia rẽ, xúi giục người Việt gốc Hoa sinh sống ở Việt nam. Ngoài ra, qua miệng những người đi buôn vùng biên giới gây hoang mang, lo sợ, phá rối, đảo lộn cuộc sống người Hoa địa phương vùng biên giới thật thà, chân chất. Trong khi chính phủ Việt Nam chưa có thông báo, quyết định chính thức về chính sách đối với người Việt gốc Hoa. Tin đồn thất thiệt nhanh hơn cơn lốc, người này loan tin cho người khác, khiến nhiều người cả tin bán nhà chạy sang Trung Quốc. Nhưng đa số người dân địa phương sống trong thấp thỏm, nghe ngóng, chờ xem tình thế ra sao mới quyết định đi hay ở lại.

Tình hình biên giới Campuchia và Việt Nam phía tây

nam cũng bất ổn, chính quyền Pol Pot thường xuyên xâm phạm tỉnh Tây Ninh và một số nơi vùng biên giới hai nước Việt - Campuchia từ cuối năm 1975. Trong nước, Pol Pot bắt người dân lao động khổ sai, sau vài năm hơn ba triệu người dân Khmer vô tội chết thảm thương dưới bàn tay quỷ dữ. Ngày 1-12-1978 Việt nam chính thức đem quân sang Campuchia, chỉ trong hai tuần quân Pol Pot tháo chạy, thành lập Chính phủ Campuchia dân chủ dưới sự bảo trợ của chính phủ cộng sản Việt Nam.

Thời gian ấy, chính quyền trong tỉnh Thùy làm việc, ra lệnh phải cảnh giác cao độ, chiến tranh có thể xảy ra. Quy định mỗi người đào một hầm trú ẩn cá nhân theo kích thước quy định. Thùy tranh thủ đào hầm trong giờ nghỉ trưa, thời gian này Thùy mang thai kỳ thứ hai được sáu tháng, người mệt mỏi hơn trước, luôn thèm ăn ốc, ăn quả mắc-coọc, càng khó khăn vất vả thêm. Nhưng cuộc sống của Thùy cũng như mọi người trong tỉnh vẫn bình thường, nhìn bên ngoài ai cũng bình tĩnh, im lặng chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chính sách của Đảng.

Tết Nguyên đán 1979 Thùy mua gạo nếp, đậu xanh, lá dong hy vọng về nhà bố gói và luộc bánh chưng đón tết. Sau mấy năm mẹ Thùy qua đời, con gái lấy chồng, con trai út nhập ngũ, nhà có một mình, bố Thùy tục huyền với người cùng phố, bà đưa cậu con riêng về ở chung. Thật không ngờ, đây là cái Tết cuối cùng ở Việt Nam của mẹ con Thùy. Chồng Thùy về quê ăn Tết với gia đình gần biên giới, sau ngày phép, trở về nét mặt buồn rầu, nói với Thùy:

-Em à, tình hình trên quê căng lắm. Ăn Tết xong mẹ và các anh chị sẽ chạy sang Trung Quốc vào nông trường ở em ạ.

-Chạy sang bên đó có an toàn không?

-Một số chạy trước nhắn về, bên đó có nông trường đón nhận người từ Việt Nam chạy sang.

-Ông già có đi cùng không? Bình lắc đầu:

-Ông không chịu đi, tiếc không muốn bỏ nhà cửa, vườn đất.

Ông còn nói:

-Tôi không đi, các anh chị không phải lo cho tôi. Nghe chồng nói chuyện gia đình trên Lạng Sơn,

Thùy thêm bối rối, lo lắng.

Một ngày đang giờ họp, cô nhân viên phòng mượn sách lên gọi:

-Chị Thùy ơi, có mấy người hỏi thăm chị ở bên ngoài.

Thùy xin phép đi xuống xem ai. Nhìn thấy hai người lớn và hai trẻ con mặc quần áo dân tộc Tày. Người đàn ông vai đeo túi vải, tay bế con nhỏ, đứa bé khoảng sáu, bẩy tuổi túm áo đứng núp sau mẹ. Ai cũng mệt mỏi, lo lắng. Thùy không biết họ là ai, chưa gặp bao giờ, bước đến gần, người nam giới (chắc là chồng) lên tiếng:

-Chào thím ba!

Thùy ngạc nhiên, chưa biết nói gì, sao gọi mình là thím? Người vợ nói tiếp:

-Chúng cháu ở trên quê của “Xám xúc” (chú ba), bà cho địa chỉ chú thím, bảo chúng cháu vào nhà nghỉ qua đêm.

-Vậy à, chờ tôi xin phép cơ quan, tôi đưa về nhà.

Mấy người làm trong cơ quan ngó nhìn tò mò hay thắc mắc? Xin phép trường phòng, lấy xe đạp, Thùy đưa mọi người về nhà. Trên đường Thùy hỏi chuyện mới vỡ lẽ biết được tình hình trên quê bố mẹ chồng. Trước đã nghe chồng nói qua nhưng không ngờ biến chuyển nhanh và sợ như vậy.

-Thế sao anh chị không đi cùng?

-Dạ, bà đi theo gia đình bác Cả, bác Hai sang đường phía Bắc. Chúng cháu muốn về quê bên vợ ở Phổ Yên thím ạ.

Tối hôm đó ngồi bên nhau trên chiếc chiếu, cơm độn sắn khô, canh rau cải Thùy trồng nấu với muối, trứng gà của nhà luộc, không có thịt, cá vậy mà ai ăn cũng ngon miệng, như đã lâu chưa được ăn. Nhìn hai đứa nhỏ ăn ngấu nghiến, đưa lưỡi liếm mép liên tục. Thùy thương lắm, tuy không quen biết nhưng trong lòng Thùy có niềm thương cảm cho cảnh phải bỏ nhà, bỏ cửa chạy lánh nạn. Chạy đi đâu? Đến đâu sẽ được bình yên, những đứa trẻ vô tội kia? Người vợ nhìn hai đứa nhỏ nói:

-Ăn từ từ thôi kẻo nghẹn. Cô nhìn Thùy xấu hổ:

-Cháu đem theo được vài củ khoai lang, mấy cái bánh nếp ăn hết sáng qua rồi, hai ngày chưa được ăn cơm nên hai đứa trẻ đói thím ạ.

Thùy lo lắng hỏi:

-Ngày mai về nhà ông bà ngoại định thế nào? Ở đó hay còn đi đâu nữa?

-Dạ, chúng cháu cũng chưa biết tính thế nào? Về dưới đó nếu yên ổn ở đó làm ăn, nếu không được chạy tiếp.

Nhìn cảnh vợ chồng với hai con nhỏ, Thùy ái ngại nhưng biết nói sao đây.

-Trên quê nhà khác lắm thím ơi. Gia đình nào không có con nhỏ đều chạy sang Trung Quốc vào nông trường làm, có con nhỏ chạy đi nhiều nơi khác nhau, người có tiền, người không có tiền. Nhà cửa đồ đạc bỏ lại không bán kịp, lấy đâu ra tiền. Hỗn loạn lắm, họ gồng gánh, kéo xe bò chở đồ đạc đem theo về Trung Quốc.

-Dưới này vẫn yên ổn, chưa có động tĩnh gì, nghỉ ngơi đêm nay, sáng mai ra bến xe về quê cháu ạ.

Nói chuyện đến khuya người lớn mới đi ngủ. Bé Hiền và hai đứa trẻ ngủ từ sớm, vô tư đâu biết gì. Thùy trằn trọc không ngủ được, bé Hiền bên cạnh ngủ cười trong mơ. Nhìn sang, hai mẹ con nằm bên thấy trở mình liên tục. Dưới nền nhà, nghe rõ tiếng ngáy của người chồng, chắc mệt sau mấy ngày đi đường, nay được bình tĩnh ngủ yên. Bốn giờ sáng Thùy khe khẽ dậy nấu nồi cám lợn, đặt nồi cháo cho mọi người ăn sáng. Khoảng 5 giờ ăn cháo xong, Thùy tiễn họ một đoạn, chia tay, Thùy đưa tiền cho người vợ:

-Thím không có nhiều, vài đồng lẻ cho hai đứa nhỏ mua bánh ăn đi đường.

Ai cũng bùi ngùi chia tay trong lo lắng. Sau ngày hôm đó, thỉnh thoảng lại có người từ Lạng sơn tìm vào nhà Thùy nghỉ qua đêm, khi hai, ba khi bốn, năm người cả gia đình. Từ sau Tết Nguyên đán (1979) tình hình căng thẳng hơn. Thám báo Trung Quốc cải trang người Việt gốc Hoa vùng biên đột nhập, thông qua người buôn lậu dẫn đường, trà trộn vào bản, gây hoang mang, quậy phá. Cán bộ địa phương chủ quan mất cảnh giác, tình thế càng hỗn loạn. Một số có chức vụ, dân quân địa phương nhân cơ hội thù ghét, hiềm khích cá nhân đã lộng quyền bắt người, giam giữ trái phép. Người Hoa bị truy lùng tìm kiếm, đánh chém, bắn giết trong đó có anh em chồng Thùy.

-Truy tìm bắt bằng được thằng Cát Thống và Cát Thoòng chúng là người Hoa.

Bố chồng Thùy không được yên, sợ quá trốn nhà người quen. Ông gửi điện tín cho Bình, “về ngay đón bố!”

Nhận được điện tín, anh đi xe khách đón, hai ngày sau đưa ông về ở với gia đình Thùy, tiếp tục đi công tác như thường lệ. Ngay ngày đầu đến nhà, ông nói thẳng với vợ chồng Thùy:

-Hàng ngày phải đủ ba bữa cơm không có độn, phải có thịt, tôi không ăn cá, phải có nước nóng tắm rửa.

Hàng xóm nhòm ngó, để ý từ khi nhà Thùy luôn luôn có người trên quê xuống ngủ qua đêm. Nay có ông bố chồng tạm trú, Thùy đã báo cáo xin phép cơ quan, nhưng mọi động tĩnh bị giám sát, theo dõi chặt chẽ. Về nhà Thùy phải vui vẻ, lễ phép chăm sóc bố chồng chu đáo theo yêu cầu, im lặng, ngoan hiền làm tròn bổn phận người con dâu, không suy nghĩ, thắc mắc. Công việc hàng ngày như trước, đi làm ngày tám tiếng, lo cho con, chăm lợn gà, trồng rau, lo sao có thịt trong bữa ăn, cơm không độn. Tiêu chuẩn gạo gia đình trước thoải mái, nay thêm người, nhường cơm không độn cho bố chồng và con, Thùy thường xuyên ăn khoai, sắn thay cơm.

Thai ngày một lớn, bụng bầu to dần, công việc cũng nhiều lên. Khó khăn nhất nước sử dụng hàng ngày, trước xách hai thùng nước nhẹ nhàng, cây củi to dùng búa để bổ không khó, nhưng nay mang thai, không ai giúp, làm thay. Chủ nhật chồng về, lấy được ang nước to chỉ đủ dùng hai ngày. Bố chồng suốt ngày nằm, không giúp bất cứ việc gì kể cả chơi với cháu, Thùy vẫn phải gửi con bên hàng xóm. Buổi sáng, sau khi cho lợn ăn, Thùy phải bê chậu nước nóng cho bố chồng rửa mặt, lo bữa cơm sáng với thịt. Nghỉ trưa phải nhanh chân lo cơm cho ông và Hiền, rồi đi làm đến chiều, tan giờ làm, về nhà tưới rau, nấu cơm, cho lợn ăn. Ông còn yêu cầu hai ngày một lần tắm nước nóng. Xong xuôi tất cả việc gần 9 giờ tối, Thùy lại ngồi đan.

Một Chủ nhật bố Thùy thăm con và cháu, hai thông gia nói chuyện trong nhà, nhìn thấy Thùy tưới rau, băm cây chuối cho lợn, đầu tắt mặt tối, luôn chân luôn tay, ông xót xa, bảo Thùy:

-Con ơi, cứ như thế này mãi chịu sao nổi, đẻ xong về nhà với bố, bố nấu nướng chăm sóc cho con.

Ngày 17/2/79 Trung Quốc mở mặt trận tấn công toàn vùng biên giới Việt Nam. Chiến tranh Trung – Việt chính thức xảy ra.

 

Tác giả Vietnamthuquan.eu - NXB: Nhân Ảnh 2025
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.