Thùy

Lượt đọc: 544 | 2 Đánh giá: 9,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Hồng Kông

❊ ❊ ❊

Cách Hồng Kông hơn hải lý những ánh đèn màu neon nhấp nháy, nhảy múa trên các tòa nhà cao tầng nhìn rất rõ. Tất cả mọi người đều lên sạp thuyền chăm chăm hướng về Hương Cảng, hòn ngọc của thế giới, bàn tán, chuyện trò huyên náo. Sau hơn một tháng ròng rã lênh đênh trên biển, mấy tuần vật vờ lay lắt vất vưởng bờ biển Bắc Hải, mỗi ngày nhà thuyền phát cho bát cháo cầm hơi, cuối cùng những bộ xương biết đi cũng đến được chân trời tự do rạng sáng ngày 1-7-1979.

Đang ồn ào bàn tán, đột nhiên nghe tiếng ca nô cùng ánh đèn pha hướng vào thuyền của Phượng. Tiếng loa phóng thanh nói bằng tiếng Quảng và tiếng Anh rõ ràng, mạch lạc vang lên, yêu cầu thuyền dừng lại, hạ buồm xuống, thả neo tại chỗ. Chiếc ca nô cặp sát, hai sĩ quan cảnh sát sang thuyền yêu cầu gặp chủ thuyền. Phượng và nhóm tài công, thủy thủ ra gặp, sau một hồi trao đổi, ca nô cảnh sát rồ máy hướng về đất liền. Chủ thuyền Phượng thông báo:

- Bà con chú ý, cảnh sát yêu cầu thuyền chúng ta thả neo đậu tại đây, sáng mai có tầu kéo thuyền chúng ta cập bến. Hiện nay trên thuyền còn nhiều gạo và thực phẩm, gia đình nào có yêu cầu chúng tôi sẽ phát.

Bà người Quảng Ninh phụ trách nấu ăn trên thuyền gọi Bình:

 - Cậu Bình ơi, còn nhiều gạo lắm, lấy gạo nấu cơm cho vợ ăn lấy sữa cho con.

Bình cười, lắc đầu:

- Chúng em cảm ơn bác, thuyền cho chúng em ăn đủ rồi. Vợ em mừng quá không biết đói bác ơi.

Giọng phụ nữ phía sau vọng lại:

- Tốt thế, sao không nấu cơm luôn phát cho bà con ăn bây giờ có được không.

- Ối dào! Chúng tôi mừng quá hết đói rồi!

Nhiều người cười phá lên. Mừng quá không biết đói! Lấy gạo nấu thế nào? Nồi không, củi không! Ăn sống à? Đúng bọn lừa đảo, giả dối quen thói “mời cò ăn cơm đĩa! Tử tế tệ! Nhân đức bà chúa Đễ!” Tiếng ai đó bàn ra tán vào phía sau vọng lại. Cả đêm hầu như không ai chợp mắt, thao thức, mong đợi, lo lắng ngày mai sẽ ra sao? Hy vọng điều may mắn đến!

Sáng hôm sau khoảng hơn 7 giờ, xuồng cảnh sát

tiếp cận, quăng dây cáp cho tài công và nhóm thủy thủ buộc lại, kéo thuyền vào bến đỗ. Từ xa đã thấy rất nhiều thuyền to nhỏ, đậu ngang dọc, không theo hàng lối, bập bềnh lắc lư theo sóng nước, toàn thuyền thanh lý, cũ nát của các hợp tác xã đánh cá nhà nước XHCN Việt Nam bán cho các chủ thuyền tham rẻ. Trên bờ hàng trăm người già trẻ gái trai đang tranh nhau vòi nước, đi lại nhộn nhịp, ồn ầo, trông cảnh ấy, Thùy tưởng tượng cảnh sống nơi đây sẽ rất phức tạp gấp nhiều lần, so với bãi biển Bắc Hải. Nhưng đã bước, phải bước tiếp không thể lùi, tất cả vì hai sinh linh bé bỏng, không có sự lựa chọn, cũng như bao nhiêu người khác từ Việt Nam đến đây với nhiều nguyên nhân, lý do khác nhau.

Từ sau ngày 30-4-1975 người Việt Nam đã bắt đầu vượt biên bí mật sau khi chính quyền VNCH sụp đổ bằng đường biển và đường bộ. Cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt cộng với chính sách bài xích, xua đuổi người Việt gốc Hoa, số người vượt biên bằng đường biển công khai tăng chóng mặt.

Từ năm 1979, người vượt biển từ Việt Nam hàng ngày có hàng ngàn người cập bến Hồng Kông, Mã lai, Thái Lan, Philipine, Indonesia được nước chủ nhà đón nhận. Trong khi đó Singapore không mặn mà tiếp nhận người tỵ nạn Việt nam, chỉ nhận thuyền nào được đảm bảo tái định cư nước thứ Ba trong vòng 90 ngày. Theo thống kê không đầy đủ của Liên Hiệp Quốc, số người chết trên biển hàng ngàn do gặp bão, tai nạn, cướp biển, riêng tháng 7-1979 có hơn 60 người chết khi    thuyền trên đường đi vào lãnh hải Philipine va đá ngầm bị vỡ.

Thuyền nhập cảnh Hồng Kông lên bờ mang tên mới theo thứ tự nhập cảnh, từ hôm nay thuyền của Phượng mang số 769, như số tù. Tiếng loa vang lên:

- Thuyền nhân 769 ra xếp hàng ở sân.

Mọi người nhanh chóng theo nhau xếp hàng, ngồi im trước sân xi măng nhìn ra biển, một sĩ quan cảnh sát đọc nội quy của trại:

Nộp tất cả vật dụng nguy hiểm như dao, kéo, súng, chất nổ, chất cháy.

Nghiêm cấm trốn trại.

Cấm gây lộn xộn, đánh chửi nhau.

Ngày 2 buổi được phát cơm do nhà thầu đưa đến.

Có thể điểm danh bất thường kể cả ngày hay đêm.

Cấm sử dụng lửa trong mọi trường hợp.

Những người có con nhỏ gặp khó khăn khi cần nấu cháo, quấy bột cho con, nhưng cảnh sát không cần biết, luật là luật, tất cả phải chấp hành nghiêm chỉnh. Nghe thông báo quy định xong, mọi người đi theo cảnh sát đến nơi được gọi là Kho Đen, nơi đây trước kia là tổng kho gồm 7 nhà kho nằm kế sát bên nhau bằng tôn, sơn đen, mỗi kho rộng chừng 10 mét, sâu khoảng 20 mét. Tổng kho bỏ hoang, chính quyền Hồng Kông sử dụng làm nơi tiếp đón tạm thời thuyền tỵ nạn Việt nam nhập cảnh bất hợp pháp. Thuyền 769 được chỉ định vào kho 2, mái và tường bằng tôn, nền nhà xi măng. Trại phát chiếu theo quy định hai người một chiếc khổ 0.8 m x 1.8 m, hai người một xô nhựa đựng nước, gia đình Thùy bốn người được hai chiếu, hai xô.

Nhận nơi ở, để đồ đạc xong, tất cả mọi người tập trung ra sân xếp hàng làm thủ tục tổng vệ sinh trước khi làm thủ tục nhập cảnh. Có hai nhân viên y tế mặc quần áo phòng hộ che kín từ đầu đến chân, đeo kính bảo hộ, đứng chờ hai bên, lần lượt từng gia đình đến, nhân viên y tế hô nhắm mắt lại, cúi đầu xuống, Thùy bế con cúi đầu che cho bé. Một nhân viên cầm bình xịt dung dịch nước màu trắng từ đầu đến chân, bắt xoa đều kỳ cọ, không biết thuốc sát trùng loại gì mùi cay cay khó chịu, bỏng rát. Bé Hiền giẫm chân nhảy lên như bị đổ nước sôi vào người, Bình ôm giữ, kỳ cọ cho con. Nhân viên y tế như khúc gỗ vừa xịt thuốc vừa lẩm bẩm chửi: “Zịt nàm nhằn, người đầy chấy rận, bẩn thỉu.” Sau vài phút, nhân viên kia cầm vòi nước phun mạnh, xối xả vào người cho thuốc trôi đi. Gia đình nối tiếp gia đình, cuộc tổng vệ sinh kéo dài đến trưa mới xong. Thuyền 769 trở về kho 2 thay quần áo cũng đến giờ phát cơm trưa.

Nhà thầu cơm ngày hai lần đem xe tải chuyên chở thùng cơm, thùng thức ăn phát cho từng thuyền. Mỗi thuyền được 2 thùng: thùng cơm, thùng thức ăn, đôi khi có hai thùng thức ăn: 1 thùng thịt nấu với đậu phụ như món kho mặn chát, 1 thùng rau nấu mềm nhiều nước nửa xào nửa như canh. Tiêu chuẩn như vậy nhưng không bao giờ nhà thầu làm đúng quy định, nhiều bữa không đủ chia cho các gia đình. Rất may thuyền 769 thường xuyên do hai thanh niên chịu trách nhiệm chia cơm, họ quen tay nên gia đình nào cũng đủ ăn. Thỉnh thoảng có người bị ốm hoặc bận việc, người khác thay thế, do vậy việc chia cơm không công bằng, người chia cảm tình múc khẩu phần nhiều hơn cho thân nhân. Đến gia đình gần cuối không còn đủ, thiếu cơm, món kho chỉ còn lèo tèo vài miếng đậu phụ, canh toàn nước nổi lên vài cọng rau. Tuy vậy không ai nói gì, im lặng thì thầm với nhau. Đây là ưu điểm của thuyền 769, do đó không bao giờ xảy ra tình trạng tranh giành, cãi nhau vì miếng ăn như một số thuyền khác. Ngày hai bữa, trưa và chiều tối, sáng sớm hôm sau người lớn có thể hít thở không khí, nhưng trẻ con không thể lấy không khí thay cho bữa sáng, nhất là bữa chiều tối hôm trước chia cơm không đều.

Gia đình Thùy ở gần cuối kho, người chia phần cơm bắt đầu từ phía trên, đến cuối hầu như không còn đủ tiêu chuẩn, bé Hiền có đêm khóc không ngủ được vì đói. Sáng hôm sau ngủ dậy, Hiền nhìn sang bên cạnh, thấy túi nylon đựng cơm treo trên tường, ruồi phủ kín. Hiền mếu máo khóc:

- Mẹ ơi, có túi cơm treo ở kia, con ăn được không? Thùy khẽ nói với con gái:

- Cơm đó của người ta, không phải của mình.

Hiền vẫn khóc:

- Nhưng con đói lắm, mẹ xin cho con ăn?

- Con nhìn xem, toàn ruồi bâu kín bẩn lắm. Hiền nhìn sang người bên cạnh, quả quyết:

- Ruồi con cũng ăn được!

Thùy nhìn con ái ngại, thương con vô cùng. Một bà nằm ở chiếu bên cạnh nói to:

- Chắc phải yêu cầu mấy cậu thanh niên hôm nay chia cơm từ dưới này trước cho công bằng, chứ cứ thế này mấy gia đình chúng ta luôn luôn bị thiếu hụt.

Nhiều người lên tiếng đồng ý với bà. Gia đình ở thuyền bên cạnh thấy Hiền đói khóc, đang gọt quả táo đỏ, đưa cho Hiền một miếng, dỗ dành:

- Cháu ngoan, ăn miếng táo này đi, cơm đó có ruồi không ăn được. Cháu khóc em bé cười cho đấy.

Hiền nhìn mẹ, đưa tay cầm miếng táo, nhưng không quên nói:

- Cháu cảm ơn bác.

Lần đầu tiên được ăn miếng táo thơm ngon, Hiền cắn, nhai ngấu nghiến ngon lành. Miếng táo đã giúp Hiền phần nào quên cái đói, không khóc nữa, sau đó lăn ra ngủ. Trẻ con vô tư, dễ ngủ, cho dù thời tiết nóng nực. Trong nhà kho đông đến vài trăm người, tường và mái lợp tôn, mặt trời chiếu xuống mái tôn như nung từ sáng đến tối, nền nhà bằng xi măng dưới bốc hơi lên, trên đổ nóng xuống. Người trong nhà kho như ở trong lò, mồ hôi chảy không ngừng. Nam giới có thể cởi trần, quần đùi, phụ nữ không thể, nên thật bức bối khó chịu vô cùng, mong muốn được tắm rửa.

Hàng ngày cảnh sát cho ra ngoài ba lần: sáng, trưa và chiều, như tù nhân. Mọi người phải tranh thủ, sao cho hợp lý, nhanh gọn. Đến giờ cho phép, Bình đưa Hiền ra ngoài, Thùy bế con đứng gần cửa kho hóng mát và theo dõi, quan sát xung quanh. Ngoài sân có một vòi nước cho tất cả mọi người sử dụng, trung tâm tắm rửa, giặt giũ, thanh niên dễ dàng hơn người già, họ cười nói đùa nghịch, nước bắn tung toé. Nhìn cảnh ấy, Thùy mỉm cười, thoáng nhớ lại thời còn ở nhà với cha mẹ, mấy anh chị em tắm xung quanh cái giếng xinh xinh ở góc sân, cũng chơi trò té nước, chạy đuổi cười nói vui vẻ dưới ánh trăng. Chợt có tiếng gọi từ ngoài cổng:

- Ông Lân có nhà không đấy? Tiếng anh trai hô:

- Ôi! Mau mau chạy ngay vào nhà tụi bay ơi!

Tất cả co cẳng ù té lao nhanh vào trong nhà. Nghĩ đến đây, Thùy nhớ nhà, cảm giác nhói đau trong lòng, không biết làm cách nào báo tin cho bố biết đã đến Hồng Kông an toàn.

Thanh niên vui vẻ như thế, nhìn sang các chị có con nhỏ đang càu nhàu kỳ cọ tắm cho con, chúng đâu có chịu đứng yên, vất vả, lại còn bị ướt sũng. Xa kia có chị đang dắt hai tay kéo hai đứa con đi đến khu vệ sinh. Thùy nhìn cảnh cô con gái dìu người mẹ già chầm chậm từng bước, chưa đến vòi nước người đã ướt. Vây xung quanh vòi nước tiếng người cãi nhau loạn xạ, tranh nhau lấy nước, người cởi trần tắm, người giặt, cảnh sát tay cầm dùi cui đứng canh nét mặt hầm hầm khó chịu, miệng chửi tục. Thùy cảm thấy xấu hổ thay cho những người vô ý thức ở ngoài sân đã tạo ra những ấn tượng không tốt về người tỵ nạn.

Tiếng còi của cai trại rít lên chói tai, báo hiệu hết giờ, dùng roi quất vùn vụt xuống nền xi măng đe dọa, quát tháo. Không may cho ai chậm chân, dây roi có thể quật trúng chân, vào người đau điếng, có người vừa kéo quần vừa chạy, bị vấp ngã, có người chưa kịp mặc quần còn cởi truồng vẫn phải chạy, nhìn cảnh đó không nhịn được cười, nhưng cười mà đau, mà nhục. Khó khăn nhất đối với gia đình có cha già mẹ yếu, nghe tiếng còi, muốn bước nhanh nhưng đôi chân chậm chạp, run rẩy, lo sợ, không may trượt chân người dìu cũng ngã theo. Cảnh sát đâu quan tâm, thông cảm, chúng độc ác, tàn nhẫn, mở vòi nước thật mạnh, cầm ống nước xối xả chĩa thẳng vào mọi người, quần áo có hay không, già hay trẻ con không cần biết, mồm chửi mắng đe dọa phạt, cắt khẩu phần cơm. Trong huyết quản giữa những người cảnh sát này và người tỵ nạn có chung dòng máu Trung Hoa, vì bước đường cùng mới phải ra đi tìm sự sống, sao chúng đối xử vô nhân đạo đến như vậy? Người ta nói, bọn cảnh sát này vốn dĩ những tên cai ngục khét tiếng dã man, nay vì thiếu nên được chuyển sang, trong số hơn mười cảnh sát, kẻ dã man, vô nhân đạo nhất là tên trung úy béo. Nó tên gì không ai biết, chỉ biết nó béo chùn béo chụt, mồm chửi rủa rất tục, tay luôn luôn cầm dùi cui, sẵn sàng đánh, ai cũng ghét, cũng căm thù nó nhưng không làm gì được.

Đầu vào phải có đầu ra, đây là vấn đề nan giải khó khăn nhất cho hơn ngàn người tỵ nạn bị nhốt ở Kho Đen. Nơi đây trước kia kho chứa hàng, làm gì có nơi đi vệ sinh lớn! Cảnh sát dùng các thuyền đã bỏ không làm chỗ đi vệ sinh công cộng. ‘Toilet thuyền’ bập bềnh theo sóng nước, bàn chân không dép bước lên sàn thuyền đầy nước tiểu màu vàng vàng lênh láng, những con rắn nằm cuộn tròn dọc ngang, không hàng lối, xông lên mùi hôi thối nồng nặc. Thỉnh thoảng xuồng máy chạy lướt qua, thuyền chao đảo nhấp nhô theo sóng nước, nghiêng ngả như say rượu, chân không vững có thể ngã xuống đè lên đàn rắn dưới sàn thuyền hay tòm ngay xuống biển. Bé Hiền rất sợ mỗi lần đến ‘toilet thuyền’, sợ đến mức ‘tịt’ lại hết buồn đi luôn. Tuy vậy ‘bí quá’, ‘buồn quá’ phải nhắm mắt nín thở ‘giải quyết’ cho xong. Về trong kho, đề tài này được đưa ra bàn tán sôi nổi:

- Trước khi đến Hồng Kông, dại quá vứt mấy đôi dép xuống biển.

- Tôi cũng vậy, nghe nói đồ vật của Trung Quốc, có chữ Trung Quốc phải vứt bỏ hết, đem theo sẽ không được tiếp nhận.

- Bởi vậy, đi chân không mỗi khi đi vệ sinh thật kinh sợ, rùng mình.

- Các bà biết không? Hôm nay suýt tí nữa tôi bị roi quất vào người vì đi vệ sinh bước ra chậm.

Biết vậy nên Thùy bây giờ cẩn thận hơn khi đưa con đi vệ sinh. Thùy đem theo cái chậu, cho con ngồi gần bên ngoài, đi nhanh chóng rồi lấy chậu múc nước biển dội trôi ngay đi cho sạch. Bé Hiền ra ngoài sân nhìn thấy lão cảnh sát Trung úy béo, co rúm người lại, mấy lần nhìn thấy lão béo đánh người không nương tay. Hiền nói thầm với mẹ:

- Mẹ ơi, con ghét ông béo kia lắm. Sao ông ta ác thế, mẹ?

Sinh hoạt ban ngày phức tạp, hoảng loạn, ban đêm đâu yên tĩnh. Thời tiết mùa hè tháng 7, Kho Đen không bóng cây xanh, nắng suốt ngày dội cái nóng như thiêu đốt, cuộc sống căng thẳng, lo sợ, đêm đến cái nóng chưa hết vẫn tra tấn, khó ngủ, ngột ngạt trong ‘lò kho người’.

Bà con xì xào nói chuyện nhà kho ở phía cuối, sát hàng rào, có cửa sổ, bọn buôn lậu tuôn hàng vào trong bán hoặc trao đổi bằng vàng, biết tỵ nạn ở bên trong nhà kho thiếu thốn, thèm đủ thứ, chúng đổi với giá cắt cổ. Một chỉ vàng chỉ đổi được mười gói mỳ ăn liền, buộc phải đổi vì đàn con đói, biết với giá cắt cổ đành chịu. Do đó khuấy lên lòng tham, một số tìm cách trốn ra ngoài đi buôn, gây lộn xộn ảnh hưởng đến người xung quanh. Vì thế nhiều đêm cảnh sát bất thình lình thổi còi khua cả kho dậy, ra sân xếp hàng điểm danh. Nóng nực nằm mãi mới chợp mắt, đang ngủ ngon, bị tiếng còi, tiếng quát tháo chửi mắng của cảnh sát bật dậy, ngơ ngác, nhiều đêm xảy ra ai cũng ngao ngán, mệt mỏi, im lặng chịu đựng.

Có nhiều ngày nắng nhạt, thỉnh thoảng gió biển thổi lùa vào trong kho, mấy bà rủ nhau ra ngồi sát cửa ra vào, chải tóc, bắt chấy, trò chuyện. Tuy đã được phun thuốc sát trùng diệt chấy rận, nhưng hoàn cảnh điều kiện sống như vậy, chấy vẫn đeo bám, sinh con đẻ trứng. Để tránh chấy lây sang con, Thùy cắn răng cắt bỏ mái tóc dài đen mượt, nét đẹp thời con gái. Một lần cho con bú, cu cậu mút chùn chụt, ngừng một tí, lại nuốt ừng ực, nhìn mẹ nhoẻn miệng cười vì nhiều sữa. Thùy âu yếm, nhè nhẹ gật đầu nói chuyện với con, cu cậu mới hai tháng tuổi, tóc lưa thưa, ấy thế lũ chấy cũng không tha. Thùy phát hiện ‘tên chấy’ chậm chạp bò từ từ trên đầu chui vào tóc cu cậu, vội kêu to, gọi mấy chị ngồi gần:

- Các chị ơi, thằng bé nhà em cũng có chấy đây này.

- Chấy của cô nhảy xuống đầu bé đấy. Mẹ Thùy bẩn quá!

Mọi người cười phá lên trong nỗi lo của Thùy, con còn bé xíu, sao hôm nay mới nhìn thấy, nó đã hút bao nhiêu máu của con? Thùy tự trách bản thân, thương con vô cùng, hôm đó Thùy tóm hết mấy tên ‘lưu manh’ đã hút máu con mình.

Những ngày sống ở Kho Đen là chuỗi ngày nặng nề, căng thẳng. Cảnh sát Kho Đen quản thúc, đàn áp, người tỵ nạn bị đối xử như những tội phạm trong trại cấm, không ai muốn kéo dài cuộc sống như vậy. Khi nghe tin được gọi phỏng vấn, ai cũng hồi hộp, hy vọng sẽ có tiến triển tốt. Nhưng gọi thế nghe cho oai, thực ra lên để kê khai bản sơ yếu lý lịch, họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, nghề nghiệp cũ.

Một phòng nhỏ khoảng bốn mét vuông, chính giữa kê bàn chữ nhật, có ba người ngồi, cô gái trẻ thông dịch viên ngồi ghế góc bên, phía trước có chiếc ghế dài đối diện. Từng gia đình được gọi vào trong phòng, nghe cô gái gọi tên, Bình dắt Hiền, Thùy bế Bắc Hải bước vào trong phòng với tâm lý hồi hộp. Ba người đàn ông da trắng mỉm cười khi gia đình bước vào, Thùy thấy yên tâm hơn, tuy không biết họ sẽ hỏi gì. Cô phiên dịch vui vẻ giải thích:

- Mời anh chị ngồi. Xin giới thiệu ba người này nhân viên của phái đoàn Liên hợp quốc. Buổi gặp mặt hôm nay chủ yếu kiểm tra lại đầy đủ, chính xác với giấy tờ đã kê khai khi nhập cảnh.

Người đàn ông ngồi ở giữa hỏi từng người, Bình chủ hộ trước, đến Thùy, quan hệ vợ Bình. Những câu hỏi như hình thức kê khai Sơ yếu lý lịch gồm: Họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, dân tộc, lý do ra đi, đi từ đâu. Vợ chồng Thùy có sao khai vậy, không gian dối. Thái độ vui vẻ, nhẹ nhàng của ba người, thông dịch viên nhanh nhẹn, tạo bầu không khí dễ chịu, không còn hồi hộp như lúc đầu, trả lời sau mỗi câu hỏi qua thông dịch viên. Hiền núp sau lưng mẹ, dần dần đứng sát cạnh Thùy. Cô gái nhìn hai người hỏi:

- Sau một thời gian ở trại tỵ nạn Hồng Kông, anh chị cho biết nguyện vọng muốn định cư ở nước nào, có ba nước để lựa chọn.

Bình hỏi lại:

- Làm ơn cho biết, chúng tôi được phép đăng ký theo ý thích? Hay bị bắt buộc theo sắp xếp của các ông?

Người đàn ông cười, nói với thông dịch viên.

- Gia đình yên tâm, anh chị ghi tên ba nước lựa chọn, sau đó phụ thuộc vào số lượng đăng ký, tùy theo yêu cầu, tiêu chuẩn của nước chấp nhận tỵ nạn. Chúng tôi xem xét, sắp xếp, thông báo sau. Đây mới là bước đầu, sẽ còn nhiều buổi hẹn gặp.

Vợ chồng nhìn nhau, suy nghĩ. Quá bất ngờ nên chưa có dự tính kỹ. Tuy nhiên được ghi tên ba nơi tự chọn, Bình nói với vợ:

- Được lựa chọn, vậy ý em chọn ba nước nào? Thùy không suy nghĩ nhiều, nói với chồng:

- Mình có con nhỏ, sức khỏe không tốt, mấy nước khí hậu rét lạnh không thích hợp rồi.

Thùy quay sang hỏi thông dịch viên:

- Cô cho tôi hỏi, những nước nào chúng tôi được đăng ký?

- Những nước chấp nhận tỵ nạn bao gồm: Vương quốc Anh, Cộng Hòa Liên bang Đức, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Canada, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Pháp, Bỉ, Bồ Đào Nha, Do Thái, Trung Quốc...

Bình nhìn vợ nói:

- Họ còn gặp nhiều lần, mình ghi tên ba nước rồi tính sau.

Ba người đàn ông không hiểu hai vợ chồng nói gì, nghĩ vợ chồng đang bàn, họ gật gù nhìn nhau cười.

Một lúc sau Bình quyết định:

- Chúng tôi đăng ký ba nước: Trước tiên Vương quốc Anh, thứ hai Cộng Hòa Liên Bang Đức và Úc Đại Lợi.

Vậy là kết thúc buổi phỏng vấn lần đầu, gia đình khác vào tiếp, cuộc phỏng vấn kéo dài mấy ngày liền. Bây giờ những buổi phỏng vấn là đề tài nóng hổi trong kho của các gia đình, hỏi nhau, bàn tán, mỗi người mỗi ý. Không quen biết, không có họ hàng nên Thùy không tham gia nhiều. Ngày hôm sau nghe Bình kể, mấy người cháu ruột không đăng ký Vương quốc Anh. Cùng sống trong một kho nhưng từ khi rời Việt Nam, Thùy cảm thấy như không có mấy người cháu đó, không hề nhìn thấy mặt chúng. Nay cũng không hỏi chú thím, bàn tính xem nên đi nước nào. Còn Bình gặp cháu lúc nào, cũng không nói, Thùy không biết. Những người cháu này không quan tâm, không gặp Hiền, Bắc Hải hai người con của chú ruột, mặc dù ở cùng kho 2 từ ngày đến. Thùy nghĩ nhiều khi biết chúng không đăng ký đi Anh Quốc, nhận thấy ba mẹ con bị cô đơn, cảm giác buốt nhói trong lòng, buồn, đau, khó hiểu về họ mạc gia đình chồng.

Bình kể, Linh và đứa em trai Tuất đăng ký đi Mỹ. Chúng nghĩ, nước Mỹ giàu nhất thế giới, sang đó dễ kiếm được nhiều tiền. Thùy hỏi chồng:

- Linh, Tuất có hỏi ý anh trước khi đăng ký không? Bình lắc đầu:

- Linh đăng ký rồi mới cho anh biết.

- Thế hai mẹ con Hòa, thằng em Thịnh chúng đi đâu? Bình chậm rãi nói:

- Hai mẹ con Hòa đăng ký đi Đức, thằng em chưa quyết định đi đâu.

Ngày qua ngày, mọi người sống trong Kho Đen bàn tán, hỏi nhau đăng ký đi đâu? Tại sao? Ai cũng có lý do, nguyện vọng, mục đích riêng. Mấy ngày sau, phái đoàn Liên Hiệp Quốc gọi gia đình Thùy lên văn phòng lần thứ 2, lần này họ trả lời:

- Xét nguyện vọng của gia đình ông bà, quy định tiêu chuẩn tiếp nhận tỵ nạn của ba nước Anh, Đức và Úc. Hoàn cảnh gia đình anh chị có hai con nhỏ, không phù hợp với tiêu chuẩn nước Đức, chỉ nhận thanh niên không có con nhỏ. Nước Anh mở cửa tiếp nhận tỵ nạn với số lượng cao. Vậy ý muốn gia đình ông bà thế nào?

Đã bàn với nhau từ trước, Thùy trả lời ngay:

-Chúng tôi đã suy nghĩ kỹ. Từ Việt Nam ra đi vì chiến tranh, chúng tôi đâu có hiểu biết gì về nơi mình sẽ đến, quốc gia nào chấp nhận. Khi đã phải rời bỏ nơi sinh ra lớn lên, từ bỏ tất cả, chỉ hy vọng nước nào đón nhận, chúng tôi sẽ đến. Ai cũng cần một mái nhà, nơi để sinh sống. Anh Quốc vẫn là lựa chọn số 1 của gia đình tôi.

Từ sau ngày quyết định, không thấy phái đoàn gọi gia đình Thùy nữa. Người cùng thuyền, một số gia đình vẫn phân vân, lưỡng lự, chưa biết chọn định cư ở đâu. Nhưng Thùy đã quyết, biết hoàn cảnh, vợ chồng không quen lao động chân tay, hai con bé còn quá nhỏ. Không bao giờ nghĩ định cư ở Mỹ, khi vừa trải qua những năm tháng chiến tranh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, sang đó có được sống yên ổn, an toàn không? Mặc dù nước Anh chỉ biết qua sách báo, với mệnh danh ‘Quốc đảo sương mù quanh năm bao phủ’, nhưng chắc chắn là nước giàu mạnh, vì trong hai cuộc thế chiến, người ta thường nhắc đến Anh-Pháp-Mỹ, có nghĩa đây là ba cường quốc về mọi mặt. Cô thông dịch nói, hiện nay nước Anh đang tiếp nhận nhiều tỵ nạn, do đó vợ chồng Thùy không bị phân tâm, thay đổi nguyện vọng.

Mấy tuần sau, gia đình Thùy cùng một số gia đình thuyền 769 được thông báo chuyển trại.

Nhận được thông báo chuyển sang trại khác, chưa biết đi trại nào nhưng ai cũng nôn nóng, hồi hộp. Sống trong Kho Đen như cái ‘lò nung’ thuyền nhân số 769, nơi đây nhà tù không ra nhà tù, trại tỵ nạn cũng không đúng, cảnh sát đối xử như tội phạm quốc tế. Vì thế không ai muốn kéo dài cảnh sống khốn khổ như vậy, tin được chuyển trại là tia sáng hy vọng cho mọi người.

Khoảng 7 giờ sáng, viên sĩ quan cảnh sát thổi còi yêu cầu mọi người trong kho 2 ra sân xếp hàng. Viên cảnh sát thứ hai cầm dùi cui đứng canh gác, viên cảnh sát thứ ba cầm danh sách ghi tên người. Không phải tất cả người trong thuyền 769 được chuyển trại, chỉ có gần chục gia đình trong đó có gia đình Bình:

- Hoàng văn Quang.

 - Có tôi!

- Trương Quý Bình, Lê thị Thùy và Trương thị Hiền, Trương Bắc Hải.

- Có chúng tôi!

Gọi tên từng người trong danh sách xong, những gia đình không có tên quay trở lại kho 2. Thùy nhận ra người cùng thuyền có gần chục gia đình trong số gia đình được chuyển trại xếp hàng chờ lệnh. Viên sĩ quan giục đoàn người ra đi, cách cổng Kho đen mấy chục mét có vài chiếc xe tải màu đen, bạt cuốn lên, hai hàng ghế dài sát hai bên thành xe đang đợi. Tiếng còi lại rít lên, cảnh sát yêu cầu mọi người lên xe. Người lên trước được ngồi, lên sau không đủ chỗ đứng hay ngồi xuống sàn xe cùng đồ đạc chỉ là những túi đen, va-ly cũ, rách bẩn thỉu.

Mọi người lên hết, viên sĩ quan thổi còi ra lệnh xuất phát. Xe nổ máy, từ từ rời Kho Đen qua nhiều con phố, nhiều dãy nhà cao tầng hiện ra trước mặt, người đi lại tấp nập, đông đúc. Hai bên đường toàn những cửa hàng với biển quảng cáo bằng ánh đèn màu neon nhấp nháy, bầy bán la liệt đủ các mặt hàng, quầy hàng bày cam, táo, lê chất cao như núi, nhìn sướng con mắt. Ai cũng chăm chú ngắm những đường phố đi qua, trẻ con há hốc mồm nhìn không chớp mắt, nuốt nước bọt thèm khát. Không ai quan tâm xe đưa đi đâu, tất cả tập trung ngắm Hương Cảng, hòn ngọc của thế giới, như đàn chim lạc vào rừng hoa muôn màu xa lạ.

Xe đỗ lại trước khu đất có toà nhà đang xây, mọi người hoang mang lo ngại, nhìn nhau tự hỏi “đây là đâu.” Viên sĩ quan cảnh sát yêu cầu tất cả xuống xe, tuyên bố:

- Từ hôm nay mọi người sẽ sống ở đây, tất cả theo tôi vào trong tòa nhà 21 tầng này.

Người bê túi, kẻ xách đồ, bồng bế dắt con nhỏ đi theo người cảnh sát. Gia đình Thùy cùng một số người lên tầng 11, trống rỗng không giường chiếu, rộng thênh thang, hai bên tường có nhiều cửa sổ, thoáng mát, ánh nắng ghé thăm thường xuyên. Các gia đình thuyền 769 ở cùng tầng, Thùy thấy thoải mái sống gần người quen cũ. Trại phát chiếu, hai người một chiếc chiếu đôi, nằm dưới sàn như Kho Đen, nhưng rộng rãi, gia đình Thùy hai chiếc chiếu. Cuối tầng nhà có khu vệ sinh, nhà tắm nam nữ riêng, sạch sẽ.

Cao ốc này đang xây chưa hoàn thành, không có buồng riêng biệt, ranh giới thay buồng riêng là những tấm bìa giấy cứng, những hộp các tông tạo phần ngăn cách giữa các gia đình với nhau. Thùy ngồi cho con bú, bé Hiền ngồi bên cạnh, Bình xếp bìa các tông làm ‘hàng rào’ ranh giới. Trong khi cho con bú, Thùy quan sát nét mặt, thái độ các gia đình xung quanh ai cũng vui, phấn khởi, khác hẳn sống ở Kho Đen.

Một chị đang xếp đồ đạc và đặt các bìa cứng vây quanh cạnh gia đình Thùy, ngẩng lên nhìn, cười hỏi:

- Mấy mẹ con cô khỏe không?

Nhìn người hàng xóm mới, Thùy trả lời:

- Cảm ơn chị, mấy mẹ con em vẫn bình thường. Người kia nói tiếp:

- Chúng mình cùng thuyền từ Hải phòng, nhưng chưa có dịp làm quen.

Thùy lịch sự hỏi thêm:

- Vâng, nay ở cạnh nhau, thành hàng xóm, nhưng em chưa biết tên chị.

Chị kia cười rất vô tư:

- Quên, chưa giới thiệu, tôi là Thu, vợ chồng tôi người Quảng Ninh, chưa có con. Thuyền đông người nên không biết hết được, nhưng tôi nhớ mãi hôm ở Bắc Hải mẹ con cô phải chịu cái lễ của ông thầy cúng mới được lên thuyền.

Thùy cười chua chát:

- Biết làm sao được, hoàn cảnh bị bắt bí phải chịu, mặc dù rất vô lý. Bây giờ đến được Hồng Kông an toàn, may mắn lắm rồi.

Trại Tuen Mun, do quỹ hỗ trợ Liên Hiệp Quốc tài trợ cho người tỵ nạn, ngày phát thức ăn ba bữa thay đổi: cơm, mỳ gói, cá hộp, thịt hộp, bánh mỳ, tùy theo số người trong gia đình. Gia đình Thùy bốn người, dù Bắc Hải mấy tháng tuổi cũng lĩnh một xuất, vì thế trại này ăn uống đầy đủ, nhiều gia đình ăn không hết, dư thừa nhiều đồ hộp.

Ở gần nhau, bức vách là bìa các tông, cuộc sống không thể kín đáo, các bà lớn tuổi thầm thì bàn tán những chuyện trong tầng nhà. Thu và Thùy là hàng xóm, ‘thứ nhất cận thân, thứ nhì cận lân’ nên hai người chuyện trò vui vẻ. Sau một tuần, người phụ trách khu nhà thông báo mọi người sống trong cao ốc được tự do đi lại trong các tầng nhà. Nghe tin này, ai cũng phấn khởi. Đây là dịp thuận lợi cho mọi người đi tìm, hỏi thăm tin tức người thân ở các tầng khác. Thùy không có bà con nên không tìm kiếm. Đa số các gia đình có anh em, họ hàng nay được tự do đi các tầng nhà tìm kiếm hỏi han tin tức. Bà Hưng chiều nay đi về cười vui vẻ, khoe với Thùy:

- Tôi mừng quá cô Thùy ơi, hôm nay tôi gặp được gia đình cô em ở tầng 7.

Ông Tân người Hà Nội, phấn khởi nói với người xung quanh. Ông vốn dĩ ít nói, tưởng khó tính, nay vui vẻ gặp được người quen báo tin gặp gia đình người em trai chạy thoát từ Lào Cai xuống Hải Phòng đang chờ thuyền nhổ neo. Không khí tầng 11 đượm sắc tươi vui, không u ám như những ngày trong Kho Đen. Người nhận được thư đưa tay, người biết được tin về anh em, gia đình ruột thịt đang sống trong nông trường Trung Quốc bình yên vô sự. Ai gặp được người thân ở cùng tòa nhà này còn vui nhiều hơn. Vợ chồng Thu cũng như Thùy, không tìm ai nhưng cũng mừng, vui chung với người may mắn.

Phía bên trái Thùy có gia đình bốn người Lào Cai, người mẹ khoảng hơn bốn mươi tuổi và ba con trai. Lớn nhất chạc hai mươi, nhỏ nhất có lẽ mười hai, mười ba tuổi, người mẹ hiền lành, ba người con trai ngoan, ít nói, đặc biệt rất nghe lời mẹ. Bốn người này sống lặng lẽ, ít tiếp xúc chuyện trò. Thỉnh thoảng bắt gặp ánh mắt bà ta nhìn mẹ con Thùy thật dịu dàng, gần gũi, Thùy suy nghĩ tự hỏi, có nên làm quen không. Nghe thông báo được tự do đi lại, bà ta vẫn bình thản, nhưng ba người con thường đi từ sớm gần chiều tối mới về, thì thầm nói chuyện.

Có lần Hiền trông em đang ngủ, Thùy đi vệ sinh, về thấy bà ta đang bế bé, Hiền ngồi yên bên cạnh. Nhìn bà ôm con mình rung rung ru bé ngủ. Thùy hiểu, bà là người mẹ hiền, thương yêu con nhiều lắm, thực sự cảm động, vội vàng ngồi xuống bên cạnh đón con từ tay bà:

- Dạ, em xin bác, cảm ơn bác nhiều, làm phiền bác,rồi.

Hiền nhanh nhảu mách mẹ:

- Mẹ ơi, mẹ vừa đi em bé khóc, hư lắm, khóc to làm bà không ngủ được đấy.

Thùy vội nói:

- Xin lỗi bác, em đã cho cháu bú no, tranh thủ đi, vậy mà cũng không yên.

Bà hàng xóm đáp lời:

- Có gì đâu ơn với huệ, tôi nằm nghỉ chứ không ngủ. Tôi họ Lê, cứ gọi Lê cho dễ. Tôi thấy cảnh mẹ con cô khiến tôi nhớ đến đời tôi, tôi hiểu, thông cảm. Tôi ở sát bên cô, ba thằng con đi vắng suốt, cũng buồn. Cô cần gì cứ nói, không nên ngại, cùng cảnh chạy loạn với nhau.

Thùy thấy như có một mối duyên gì đó đã đưa bà Lê đến Thùy, coi như người thân, Thùy nói:

- Thật có duyên, em cũng họ Lê. Vậy em và bác cùng họ đấy.

Bà Lê cười vui vẻ. Từ ngày rời Việt nam ra đi, lâu lắm Thùy mới có cảm giác thoải mái, tuy không phải người thân, nhưng cảnh chạy loạn đơn độc, gặp được người tốt thật hiếm và may mắn. Được tự do đi lại, biết thêm nhiều tin tức bên ngoài, ba con trai bà Lê tìm được việc làm, bà Lê vui lắm khoe với Thùy:

- Cô Thùy ơi, mấy đứa con tôi có việc làm rồi.

- Vậy hả, chúc mừng bác.

Thùy cười chia vui, bà Lê chậm rãi nói tiếp:

- Bốn mẹ con tôi trốn khỏi nông trường ở Trung Quốc chạy ra Bắc Hải, bao nhiêu tiền dành dụm nộp thuyền hết rồi. Tuy họ phát đồ ăn đủ, nhưng ba đứa đang tuổi ăn, tuổi lớn, sống mãi thế này sao được.

Thùy nghĩ, bà này cũng nghĩ như mình, nên tiếp lời:

- Không biết họ sẽ cho mình đi định cư ở nước nào, nhưng phải có vài đồng để chi tiêu lặt vặt. Hai đứa con em bé quá, em rất muốn đi làm.

Lê thắc mắc:

- Cô cứ chăm lo hai con nhỏ chu đáo, đã có chú ấy đi làm, lo gì.

Thùy im lặng, biết nói thế nào với người ngoài. Hiện tại Thùy bận rộn, hết lòng chăm lo con, những lần đi giặt nghe mọi người nói chuyện, không bận con nhỏ tìm việc dễ dàng. Một số người thu mua, gom đồ hộp, mỳ gói dư thừa gia đình các tầng, đem ra chợ bán kiếm lời. Thùy muốn được tự do, muốn ra ngoài đi làm, hoặc ít nhất cũng tìm cách kiếm thêm tiền, nhưng có con nhỏ đành chịu. Hy vọng Bình, người Hoa, biết tiếng biết chữ dễ kiếm việc, chăm lo gia đình. Mấy người cháu của Bình cũng đã có việc làm, Linh khoe với Thùy:

- Thím à, cháu xin được việc làm trong xưởng búp bê, công việc nhẹ, dễ lắm, lương 50 đô-la Hồng Kông một ngày, họ chỉ nhận phụ nữ và con gái nên xin việc dễ lắm.

Nghe Linh nói, Thùy thèm muốn được đi làm kiếm

tiền mua sắm cho con, khi gợi ý, Bình gạt ngay, còn bực bội:

- Em đi làm ai trông con, ai cho nó bú? Con Hiền mới ba tuổi.

Thùy nhắc chồng:

- Xung quanh ai cũng đi xin việc làm từ khi được tự do đi lại. Anh biết tiếng, biết đọc biết viết chữ Trung, xin việc dễ hơn em sao không đi kiếm việc. Trong hai người phải có một người đi làm, không thể ở nhà ăn chực nằm chờ người ta phát chẩn. Chỗ con Linh làm, vẫn nhận phụ nữ, một ngày được 50 đô-la Hồng Kông, tiếc lắm.

Ngày nào Thùy cũng nói, học cả cách ghi ký tên bằng chữ Trung, nhưng Bình nhất định không cho đi làm. Ngày qua ngày, nhìn mọi người xung quanh trong tầng 11 tập nập sáng đi làm, tối về, Thùy ao ước và hy vọng. Ba người con bà Lê bận đi làm, ban ngày trong tầng thật vắng vẻ, chỉ thấy người già, trẻ nhỏ và người có con nhỏ bú sữa mẹ ở lại. Thùy loanh quanh lo cho con ăn ngủ, giặt giũ cũng bù đầu, phải tranh thủ, nhanh gọn khi thằng bé ngủ say mới làm được những việc vặt.

Hồng Kông, thương cảng thế giới, buôn bán sầm uất, nhiều công xưởng sản xuất hàng tiêu dùng, rất cần lao động phổ thông. Sáng sớm, tầng trệt của tòa nhà, các chủ xưởng điện tử, đồng hồ, búp bê, may quần áo... cho đốc công đến tuyển, nhận người xin việc, phần đông thanh niên, năng động được nhận ngay. Sau đó giới thiệu, đưa họ hàng, bạn đến, không biết tiếng Quảng cũng nhận.

Lao động phổ thông, không đòi hỏi trình độ, kỹ thuật, chủ yếu chăm chỉ, cần cù, nhanh nhẹn. Cháu của Bình đi làm ngay từ tuần đầu tiên, nó nhờ Thùy nấu cơm và giặt quần áo. Mỗi tuần chỉ góp cho Thùy 1 túi gạo 5 kg, rủ Thùy đi làm nhưng Bình không cho, chỉ trông vào đồ ăn phát hàng ngày. Ăn không hết, Thùy đem bán kiếm vài đồng mua thêm rau thịt cho con. Một tháng sau Bình xin việc làm xưởng thuốc lá, nhưng xa trại, ăn ngủ luôn ở xưởng, Chủ nhật mới về. Nghe Bình nói, phải chi trả tốn kém nên thỉnh thoảng mới mua quần áo cho Bắc Hải, váy cho Hiền, lương tháng bao nhiêu Thùy không biết, vì Bình không nói. Nghiện thuốc lá từ nhỏ, nay làm trong xưởng thuốc lá, ăn ngủ tại xưởng, vợ con đã có đồ ăn được phát chẩn, Thùy trông mong gì ở Bình? Xung quanh gia đình nào cũng có người đi làm, sau thời gian ngắn, sắm quần áo đẹp, giầy dép, ngày nghỉ đưa nhau đi ăn nhà hàng, dạo chơi phố phường, xem phim, điều mẹ con Thùy không bao giờ dám mơ ước. Trại Tuen Mun rất đặc biệt, phát đồ ăn hàng ngày dù đi làm hay không, vì thế nhiều gia đình không ăn, tất cả cá hộp, thịt hộp thừa đem bán, kiếm thêm một số tiền, mua đài cát-xét, tơ lụa, quần bò… đóng thùng gửi về Việt Nam cho gia đình.

Người lớn buồn vui có thể giữ kín, trẻ con người ta nghĩ chúng vô tư hồn nhiên, nếu ai chịu khó quan sát thật kỹ sẽ hiểu. Đôi khi Thùy nhìn con gái muốn rơi nước mắt, chiều tối mọi người đi làm về chuyện trò ríu rít, mua lê táo, quần áo mới mặc thử, khoe nhau ầm ỹ, cười đùa. Hiền ngồi mắt mở to nhìn chằm chằm thèm thuồng, nuốt nước bọt, nhưng không nói gì, giả vờ cúi xuống nói chuyện với Bắc Hải. Không biết Hiền nói gì với em, nhưng Thùy buồn, thương con nhiều lắm. Thấy mình thật vô dụng không cho con được đầy đủ sung sướng, biết trách ai, giận ai bây giờ? Thùy tự an ủi “được ở trong nhà không phải nằm dưới trời mưa sương gió như ở Bắc Hải, ngày ăn ba bữa no đủ, không phải bát cháo loãng cầm hơi, có quần áo thay đổi, so với những ngày đi thuyền, thoát chết trên biển quá tốt rồi.” Thùy càng thương con nhiều khi bé Hiền không vòi vĩnh, không đòi hỏi, thắc mắc gì, nhưng cảm thấy con có phần thay đổi khác ngày ở Việt Nam, ít nói hơn, ngoan hơn, ra vẻ người chị, từ khi có thêm em. Phải chăng tuy còn nhỏ nhưng do hoàn cảnh, thời gian đã tạo nên một bé Hiền khôn trước tuổi, biết chấp nhận thực tại.

Gần bên gia đình Thùy có gia đình anh chị Kiều Tân, nhà năm người lớn đi làm hết. Bà mẹ trên năm mươi tuổi may mắn xin được chân giữ trẻ một gia đình giàu có, ăn ngủ nhà gia chủ. Họ sắm quần áo đẹp cho bà, lương 30 đô la Hồng Kông một ngày. Hai tuần bà về trại thăm con cháu, đem theo bao tải to đầy quần áo cũ người lớn, trẻ con. Đồ cũ gia chủ cho, tuy vậy vẫn còn mới, đẹp lắm. Bé Hiền nhìn bà giơ lên ngắm, kiểm tra, nó thích lắm nhưng không dám hỏi. Thỉnh thoảng Bình về mua chiếc váy hoa vải thun, Hiền mặc đi khoe với mấy gia đình bên cạnh. Một lần Hiền nói với Bình:

- Bố ơi, bao giờ có tiền lương bố cho con và mẹ đi xem phim được không?

Bình gật đầu đồng ý, từ hôm đó ngày nào Hiền cũng nhắc, mong bố về cho đi xem phim. Tội nghiệp, mong mãi, mong mãi mấy tuần sau, ngày Chủ nhật, nắng đẹp, không mưa, Bình về, Hiền nhảy lên mừng rỡ:

- A, bố về rồi. Hôm nay được đi chơi, mẹ ơi! Bình giục vợ:

- Em nhanh lên, tranh thủ anh đưa ba mẹ con đi xem phim, hứa với Hiền rồi.

Trong lòng Thùy cũng vui, hồi hộp không kém Hiền, mấy tháng ở trong trại đâu có được ra ngoài tòa nhà, quanh quẩn bên con, tầng 11 mà thôi. Thùy chưa hình dung quang cảnh bên ngoài thành phố thế nào. Lê cũng mừng cho mẹ con Thùy:

- Cô Thùy đi chơi vui vẻ, yên tâm, tôi trông đồ cho.

- Vâng, em cảm ơn bác.

Gần 10 giờ sáng, lần đầu tiên từ ngày đến trại, ba mẹ con Thùy ra khỏi tòa nhà 21 tầng. Hiền chạy tung tăng phía trước, miệng hỏi đủ thứ. Thùy địu con trước ngực (rất may vẫn giữ cái địu thêu thổ cẩm từ Việt Nam), như con chim rừng bay lạc vào đô thị đông đúc tàu xe, người đi lại tấp nập. Ngắm những tòa nhà cao chót vót, những cửa hàng ánh đèn neon màu nhấp nháy xanh đỏ, trưng bày bao nhiêu hàng quần áo, giày dép nhìn không biết chán. Thành phố náo nhiệt, ồn ào, trời nắng phản chiếu từ các tầng nhà bê tông khiến không gian thêm ngột ngạt khó chịu. Thằng bé không chịu ngủ trong địu, cựa quậy suốt dọc đường, Thùy mệt mỏi. Đến gần rạp chiếu phim, đã thấy nhiều người vây xung quanh cửa rạp, ngày nghỉ nơi đây càng thêm nhộn nhịp. Nhiều xe hàng rong bán nước giải khát, đồ ăn vặt, người xúm lại nhìn quảng cáo phim mới, phim người lớn, phim dành cho trẻ em, ảnh diễn viên xinh đẹp, Hiền chăm chú nhìn. Bình mua vé, bên trong rạp ít người xem, khoảng nửa số ghế không có người. Thùy không quan tâm phim gì, được thay đổi không khí vui rồi. Vào ghế ngồi, nhưng Hiền đâu chịu ngồi im, đứng nhìn xung quanh, quan sát mọi thứ, Bình nhắc con:

- Sắp đến giờ chiếu phim, con phải ngồi xuống, giữ im lặng.

Đèn trong rạp tắt hết, tối om, giờ chiếu phim bắt đầu! Hiền ngồi ngoan ngoãn bên cạnh ghế Bình, Thùy tranh thủ tháo địu cho con bú. Xem chưa được 15 phút, Bắc Hải ‘trêu chọc’ mọi người, cu cậu không được xem nên tức quá ‘thả ra’ một bãi to nghe rõ âm thanh, Thùy biết, nói khẽ với Bình:

- Anh Bình, thằng cu nó... em phải ra ngoài thay cho con.

Bình kéo Hiền đi theo, thế là mất toi buổi xem phim. Suốt dọc đường về, Hiền không nói gì mặt buồn thiu, biết ý, Bình mua cho con que kem, vừa đi vừa dỗ dành an ủi. Trước khi về trại, Thùy ghé vào cửa hàng mua cam, táo, lê và một ít thức ăn để dành.

Một ngày Chủ nhật, được ra ngoài đi chơi thế là hết với mẹ con Thùy. Sáng hôm sau Bình đi làm như mọi khi. Ba mẹ con tiếp tục nếp sinh hoạt hàng ngày như cái máy, không bị đói như ngày trên thuyền, sữa về nhiều, Bắc Hải bú no, có da có thịt, Hiền ngoan, thương em, trông em cho mẹ đi giặt, nấu cơm. Bà Lê, người hàng xóm hiền lành tốt bụng thường xuyên giúp đỡ mẹ con Thùy. Bây giờ Thùy không dám mơ ước đòi hỏi gì cao sang, may mắn thoát chết sau một chặng đường dài đầy gian khổ thiếu thốn, thầm cảm ơn Trời Phật đã che chở cho gia đình đến Hồng Kông bình an. Biết rằng cuộc sống trong trại tỵ nạn chỉ tạm thời, phải định cư ở một nước nào khác ổn định cuộc sống, tương lai của hai con sẽ ra sao? Thùy hồi hộp, chờ đợi gọi đi Anh Quốc như đã đăng ký.

Mấy tháng sau, gia đình Thùy và một số gia đình khác nhận thông báo chuyển sang trại khác, trại Khải Đức Đông.

Trại Khải Đức Đông nằm sát sân bay Khải Đức, từ xa đã nhìn thấy rõ máy bay lên xuống, nếu ở gần chắc sẽ bị tra tấn bởi tiếng động cơ ầm ầm suốt ngày đêm. Sân bay Khải Đức, sân bay duy nhất của Hương Cảng nằm khu vực Cửu Long, thành lập 1925, đóng cửa 1998, thay thế bằng Sân bay Quốc tế Hồng Kông, chính thức hoạt động ngày 6-7-1998 trên đảo lấn biển Check Lap Kok. Do tình hình thời cuộc, chính phủ Hồng Kông đã nhường hẳn một phần của sân bay lập trại thu nhận người tỵ nạn vượt biển từ Việt Nam.

Gia đình Thùy và một số gia đình được chuyển đến trại Khải Đức sau gần bốn tháng trong trại Tuen Mun. Mấy cháu của Bình không biết chuyển đi trại nào, mẹ con bà Lê không đi đợt này. Trại có nhiều dãy nhà đánh số thứ tự A1, A2... to lớn và rộng rãi, tất cả bằng tôn, mái tôn, bốn bức tường xung quanh cũng bằng tôn, trần nhà có nhiều quạt máy, hai cửa ra vào đối diện. Nhưng ở đây không phải nằm đất, chiều ngang nhà kê hai dãy giường tầng, để khoảng trống 2 mét ở giữa làm lối đi lại. Mỗi bên kê dãy giường 3 tầng, một nửa kê giường 2 tầng. Dãy giường 2 tầng phần lớn dành cho gia đình có con nhỏ. Gia đình Thùy bốn người ở giường 2 tầng, nhưng Hiền còn nhỏ việc trèo lên trèo xuống từ tầng 2 rất bất tiện, nên ba mẹ con Thùy ở giường tầng 1. Khu vực giường 3 tầng phần đông nam giới, thanh niên, vợ chồng son trẻ. Những cô gái chưa chồng ở tầng 3, tìm dây, vải che quây xung quanh giường cho kín đáo, ngăn chặn những con mắt tò mò, trêu ghẹo của lũ con trai ở các giường bên. Ai ở tầng 2 là may mắn, an toàn nhất, vừa kín đáo, vừa không lo trộm cắp.

Trại Khải Đức có khu nhà tắm, nhà vệ sinh nam, nữ riêng biệt. Trại lập một phòng y tế khám bệnh, phát thuốc cảm, sốt, đau bụng, những bệnh thông thường, cho phép người tỵ nạn được tự do nấu ăn trong khu vực quy định.

Gia đình Thùy ở giường tầng 1, gần cửa ra vào nhà A, luôn ồn ào, tập nập người ra vào, suốt ngày nghe tiếng cãi nhau, la hét, tranh nhau chỗ nấu ăn. Mấy bà to mồm mắng chửi con cái thậm tệ, vợ chồng gây lộn, bực tức văng những lời thô tục Thùy chưa bao giờ nghe thấy. Chỉ tội cho bé Hiền và những trẻ ngây thơ phải nghe, bị rót vào tai những lời thô bẩn. Đã thế còn phải chứng kiến tận mắt những trận xô xát đánh vợ dã man của chồng ham mê cờ bạc, vũ phu. Người kêu mất quần áo mới mua, kẻ kêu mất cái nồi, cái chảo vừa để ở chỗ nấu ăn. Trại Khải Đức chỉ trợ cấp người tỵ nạn hai tuần sau đó tìm việc làm kiếm sống, trừ trường hợp người già, người có con nhỏ không thể đi làm và được cấp thẻ ra vào. Gia đình nào cũng có người đi làm, buổi sáng xung quanh và trước cổng trại ồn ào, nhộn nhịp mọi người hối hả mua quà sáng trước khi đi làm. Mấy bà, mấy chị sẵn có nghề bán hàng quà ở Việt Nam, bây giờ có điều kiện kiếm tiền ngay trong trại. Dễ nhất và tiện nhất, các buổi sáng rất nhiều dãy hàng quà: xôi đậu xanh, xôi lạc, xôi vò, các loại bánh rán tẩm đường, bánh rán nhân đậu xanh, cháo thịt lợn băm nhỏ, cháo gà, các loại chè ngọt, nước giải khát... rất đắt hàng phù hợp với khí hậu mùa hè Hồng Kông, không những thế hàng ăn sáng tiện lợi cho những ai có tiền, có con nhỏ không muốn vất vả nấu ăn.

Bình xin được việc làm ở xưởng cá mắm cũng xa trại, ăn ngủ luôn trong xưởng, Chủ nhật mới về. Hiền mong ngày bố về, có tiền mua bánh rán hoặc xôi, nhưng chờ hoài không thấy. Sáng nào cũng ăn cơm nguội, mỳ gói Hiền chán lắm. Thùy bận con nhỏ phải trông cậy vào chồng, đi làm đưa số tiền ít ỏi chỉ đủ mua gạo và thức ăn nấu hai bữa cơm cho ba mẹ con. Tuy  không được sung túc như các gia đình khác, nhưng đủ  no, đủ chất nên có nhiều sữa, thằng bé bú no chơi ngoan với chị, ngủ ngon không quấy khóc. Hiền chơi với em, tha thẩn cùng mấy đứa trẻ trong trại, Thùy luôn nhắc bé Hiền:

- Con nhớ không bao giờ được đi ra khỏi khu nhà mình ở, dễ bị lạc, có khi bị người xấu bắt cóc, chơi quanh gần đây khi mẹ cần gọi có ngay, nhớ nghe con!

Nghe lời mẹ, Hiền không bao giờ đi chơi xa, tình hình trong trại thường xảy ra trộm cắp, đánh nhau, không biết đâu mà lường. Vì thế Thùy rất lo cho con gái, nơi đông người phức tạp, trẻ con mải chơi, ham vui người xấu dễ lợi dụng.

Không bao giờ quên, hôm ấy Hiền ngồi trên giường, Thùy đang thay tã cho con, bất thình lình một thanh niên lao nhanh vào cửa ngã gục xuống giường chú Zin, - người Lào Cai -, máu trên lưng chảy ướt hết áo. Thùy nhìn rõ vết thương như bị dao chém dài khoảng 10 cm. May hôm ấy chú Zin không đi làm, thấy vậy, vội lấy lọ thuốc bột Trung Quốc rắc vào vết thương, cho người đó uống một viên màu đỏ bằng hạt đỗ tương trong lọ thuốc bột đó. Thật diệu kỳ, sau mươi phút máu ngừng chảy, người bị thương nằm bất động. Thùy hỏi Zin:

- Chú quen biết người này hay sao? Nhỡ họ thù oán nhau lại kéo vào gây lộn với chú thì sao?

Zin cười thản nhiên:

- Chị trông em thế này, em đâu có sợ ai. Em không quen người này, nhưng nhìn họ nguy kịch thế phải cứu người trước.

Nghe chú Zin nói vậy, chính mắt chứng kiến sự việc, Thùy không còn sợ chú hàng xóm nữa. Vợ chồng Zin có hai đứa con trai, đứa bé bốn tuổi, chồng cao to vạm vỡ, tay chạm trổ rồng rắn, mặt đen sạm, sần sùi, dữ tướng. Ngày đầu gia đình Zin ở giường bên cạnh, cách nhau hơn một mét, Thùy sợ, không dám nhìn thẳng vào mặt. Người cùng thuyền nhưng khi đến trại này mới biết, rất ít khi trò chuyện. Ngày ngày hai vợ chồng đi làm vắng, hai con trai ở trại nhờ Thùy để mắt giúp. Hiền và hai đứa nhỏ chơi với nhau, con gái nên được hai đứa trai chiều chuộng và mến, thỉnh thoảng vợ Zin mua hộ Thùy rau thịt, thức ăn, hai nhà cũng gần gũi nhau hơn. Sau sự việc xảy ra, Thùy nghĩ, nhận xét người qua hình dáng bên ngoài chưa chắc đã đúng, nhưng rồi Thùy tự biện minh: “chồng đi vắng, hai con còn nhỏ, sống gần người trông hung dữ, ai không sợ.”

Hàng ngày tan tầm, người đi làm rầm rộ kéo nhau về trại. Chuyện chém người bị thương chảy máu buổi trưa là đề tài mới cho mọi người bàn tán. Sự yên tĩnh ban ngày thật ngắn ngủi, chiều tối các loại âm thanh bắt đầu vang lên, tiếng người, tiếng máy, tiếng nhạc, tiếng hát ầm ỹ, trong cái nóng oi bức, hầm hập của mùa hè Hồng Kông trong khu nhà tôn. Thời tiết khắc nghiệt nên nhà tắm, nhà vệ sinh chen chúc, nơi giúp người ta bỏ hết bụi bẩn, mệt nhọc sau một ngày làm việc. Cảnh sát trại Khải

Đức thân thiện, vui vẻ, không mắng chửi, không đánh người tỵ nạn như ở Kho đen, mọi người thấy thoải mái, tự do hơn. Tuy có khu nhà tắm riêng nam nữ, nhưng số người quá đông, thời tiết nắng nóng, trong trại bằng tôn như đổ lửa xuống đầu càng thêm nóng, ngoài sân cũng nóng, vì thế buổi tối xung quanh trại ồn ào, ầm ỹ. Cộng thêm tiếng động cơ máy bay lên xuống, tất cả tạo nên âm thanh phức tạp như chợ họp ban đêm.

Gần trại có nhiều chợ bán đủ các mặt hàng, có người nói còn có ‘Chợ con gái’, Thùy tò mò muốn đến xem thế nào. Ngày Chủ nhật Bình về, Thùy để hai con ở nhà với chồng, đi cùng với bốn mẹ con người Hà Nội, quen Bình từ Việt Nam. Người chồng họ Lao, mọi người gọi anh chị Lao. Em trai chị học cùng trường với Bình ở Hà Nội, đã đến dự cưới Thùy. Mỗi khi nhìn thấy Bình, chị Lao nhớ và thương em trai - Cường - làm phiên dịch Bộ Nông nghiệp, có người yêu, dự định tổ chức trong năm 1979. Nhưng chiến tranh Trung - Việt xảy ra, gia đình người yêu hủy hôn ước, lý do Cường - người Hoa -, ảnh hưởng đến công ăn việc làm, cuộc sống nếu lấy nhau. Bị người yêu bỏ, mất việc, Cường buồn chán, đau ốm, không kịp vượt biên cùng gia đình người chị, bây giờ không có tin tức.

Hôm nay Chủ nhật, Thùy vui lắm, đi theo mẹ con chị Lao xem chợ ở Hồng Kông như thế nào. Đi được nửa tiếng, gần đến chợ đã thấy không khí nhộn nhịp, rất nhiều quầy hàng căng vải bạt che nắng, bày nhiều loại hàng nhiều màu sắc, nhiều món ăn thơm lừng, hấp dẫn và muốn được ăn thử. Thùy ước giá bé Hiền đi cùng, nếm thử chắc con gái vui thích. Đang mải mê ngắm nhìn, Thùy thấy người lành lạnh, ươn ướt, nhìn xuống biết sữa đang về, chảy ròng ròng ướt ngực áo. Vừa lạnh vừa xấu hổ, không biết lấy gì che, chị Lao thấy vậy, dừng lại nói với ba cô con gái:

- Mấy con ở lại mua sắm, mẹ đưa cô Thùy về trại ngay, không thể để thế này được, thằng bé ở nhà đói khóc, sữa chảy, cô Thùy bị ướt lạnh, dễ bị cảm.

Vậy mất buổi đi chơi chợ! Lần thứ hai được ra ngoài không thành! Lần đầu xem phim phải bỏ dở giữa chừng! Từ sau đó Thùy không đi ra ngoài lần nào nữa.

Thùy âm thầm chịu đựng, chấp nhận cảnh ngộ, trong khi xung quanh người ta thi nhau tìm mọi cách kiếm tiền thật nhiều, sức hút của đồng tiền mạnh hơn nguyên tử, khiến nhiều người không muốn rời Hồng Kông, chưa muốn đi định cư. Một số bỏ trại, thuê nhà riêng, có người cho con gái kết hôn với người Hồng Kông, dừng chân, hy vọng định cư Hồng Kông. Thùy khác họ, trước sau vẫn chờ được gọi đi định cư Anh Quốc. Thỉnh thoảng có chuyến viếng thăm trại Khải Đức của đại diện Cao ủy Liên Hiệp Quốc, kiểm tra tình hình, nghe ý kiến phản ánh của người tỵ nạn, thấy vậy gia đình anh chị Lao và Thùy hy vọng, tin tưởng mong ngày được gọi đi định cư.

Ngày đó cũng đến, trại thông báo danh sách người, ngày tập trung khám sức khỏe trước khi đi. Bình từ chỗ làm về cùng vợ con hồi hộp chuẩn bị. Gia đình anh chị Lao sáu người lớn đi làm suốt mấy tháng nên mua sắm rất nhiều thứ. Gia đình Thùy kém nhất, Bình đi làm lương thấp chỉ đủ chi tiêu cho bản thân, Thùy không đi làm, cũng chưa một ngày trọn vẹn ngắm nhìn Hồng Kông như thế nào! Hai lần đi ra phố, cả hai lần đều dở dang, ba mẹ con suốt mấy tháng như tù nhân bị giam lỏng trong trại tỵ nạn, sinh hoạt phụ thuộc vào trại, chưa bao giờ được một bữa ăn có tôm to, cá lớn. Suốt thời gian chạy loạn thiếu thốn, khổ cực trăm bề, Thùy không để ý đến bản thân, húng hắng ho, cảm thấy không được khỏe, đến ngày cả nhà đi kiểm tra sức khỏe trước khi tập trung, bác sĩ nghi phổi Thùy có vấn đề, có thể không được đi chuyến này. Thùy lo cho mình ít, thương con gái nhiều, vì Thùy và con trai đi sau. Mấy ngày sau đầu óc Thùy căng thẳng, lo nghĩ, mọi người khuyên Bình mua đồ ăn ngon bồi dưỡng cho vợ. Nhưng bồi dưỡng trong mấy ngày sao cho kịp, khi sức khỏe và tinh thần bị bào mòn bao nhiêu tháng nay, Thùy nguyện cầu xin Trời Phật phù hộ giúp mẹ con Thùy tai qua nạn khỏi. Nghĩ đến con, đến những ngày tháng qua như một cơn ác mộng, hy vọng, mong ước một tương lai tốt đẹp cho hai con. Thùy phải sống, phải khỏe để cùng con đi đến nơi mình mong muốn, đã mất, đã bỏ tất cả ra đi, không thể hy sinh một cách vô ích được.

Buổi kiểm tra lần cuối, Thùy không còn ho nữa, người thoải mái tràn đầy hy vọng, sau khi chụp X-quang, khám tim phổi, bác sĩ kết luận đủ sức khỏe đi Anh quốc. Đó là ngày vui nhất của gia đình, của riêng Thùy, cùng một số gia đình lên xe đến trại A Kai Lâu Cai, nơi tập trung cuối cùng trước khi lên máy bay.

Ngày 30/1/1980 gia đình Thùy lần đầu tiên lên máy bay, bước chân lên cầu thang, Thùy chợt thấy xót xa nhớ lại chiếc cầu gỗ bến Máy Chai Hải Phòng, khi đặt bàn chân bước lên, nó bồng bênh, run rẩy, như đẩy Thùy bước nhanh chui vào trong khoang thuyền. Cầu thang lên máy bay to, rộng, vững chắc, một tay ôm con, một tay cầm hành lang cầu bước đi trong niềm vui, tự tin vào bước chân và con đường mình đã chọn.

 

Tác giả Vietnamthuquan.eu - NXB: Nhân Ảnh 2025
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.