Thùy

Lượt đọc: 544 | 2 Đánh giá: 9,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Bắc Hải

❊ ❊ ❊

Vợ chồng Thùy bước vào bên trong thuyền đã thấy một nhóm người ngồi co ro ở gần cuối khoang, khách đi thuyền Phượng tiếp tục lên. Phần đông người có gia đình, vợ chồng và con. Nhiều tuổi nhất khoảng năm mươi, người có hai, người ba, bốn con. Bên ngoài trời vẫn nắng gay gắt, cảnh sát đang gọi tên người của thuyền tiếp theo.

Quá 2 giờ chiều, thuyền của Phượng làm xong thủ tục xuất cảnh, nhưng phải chờ con nước thuyền mới nhổ neo được. Một sà lan có năm người đến, trong đó ba cảnh sát của Sở Ngoại kiều, họ quăng dây cáp cho chủ thuyền và tài công buộc vào. Khoảng 3 giờ chiều, sà lan cảnh sát kéo thuyền Phượng rời bến Máy Chai ra cửa Đại Việt. Người trên thuyền thì thầm, nhìn nhau hoang mang, lo sợ. Nghe tiếng nước rào rào bên ngoài mạn thuyền, biết đã bắt đầu chạy khỏi bến Máy Chai, từ từ xa dần Việt Nam, cảm giác thật khó tả, mặc dù chưa đến phao số 0 vẫn trong địa phận Hải Phòng. Không gian nặng nề, căng thẳng, không có tiếng nói chuyện, thỉnh thoảng tiếng ho của ai, trẻ con hình như cũng biết sợ, ngủ yên không một tiếng khóc, nghe rõ từng hơi thở của người bên cạnh, im lặng đến rợn người. Cộng với tiết trời mùa hè sang tháng năm nóng bức, ngột ngạt, khó thở trong chiếc thuyền nhỏ ôm gọn 145 mạng người. Hơn một ngày sà lan kéo thuyền chạy qua các đảo Cát Hải, Cát Bà tiến vào Vịnh Hạ Long. Khoảng 6, 7 giờ tối hôm sau, thuyền đến đảo Ngọc, sát phao số 0, biên giới lãnh hải Việt Nam, cảnh sát chuẩn bị cắt dây kéo, đẩy thuyền đi ra biển Đông, hết trách nhiệm. Mọi người đứng trên sạp thuyền nhìn về chiếc sà lan, trước khi cắt dây và quay mũi rẽ sóng hướng về đất liền, tên đại úy Hùng nói to:

Chúc bà con may mắn được ăn nhiều cá!

Nghe sao dã man, ác độc, cũng đầy chua xót, đau đớn. Một giọng nói ồm ồm không biết của ai, nửa Tàu nửa Việt:

Mảu chí, píng cô xực píng cô? (không biết ai ăn ai?)

Mọi người im lặng, Thùy không hiểu câu nói đó có nghĩa gì, nhưng sau đó thấy mọi người thì thầm nhắc nhau cẩn thận, có thể trong số người đi thuyền có “gián điệp” cảnh sát cài vào. Chiếc sà lan chạy xa dần, mờ dần rồi khuất hẳn trong bóng đêm, nhưng mọi người vẫn đứng nhìn theo, mắt hướng về đất liền.

Vĩnh biệt Việt Nam!

Vĩnh biệt mảnh đất sinh ra và lớn lên! Buồn, buồn vô hạn, buồn lắm lắm!

Nỗi buồn sâu lắng, buốt nhói, hiện rõ trong ánh mắt của mỗi người. Thật sự đã xa tất cả, gia đình, họ hàng, người thân, không hy vọng được nhìn thấy ai nữa, hẫng hụt và tuyệt vọng. Không tiếng gào khóc, chỉ nghe tiếng sụt sùi, nức nở, uất nghẹn, nước mắt đang từ từ lăn trên má như những giọt máu đang rỉ ra từ con tim người dân vô tội. Xung quanh toàn màu xanh thẫm của nước, của bầu trời xâm xẩm tối. Biển mênh mông dễ dàng nuốt chửng con thuyền nhỏ bé như chiếc lá mỏng mảnh cô đơn. Trên thuyền, nhiều người sống vùng biển, mưu sinh trên biển, nhưng những người sinh ra và lớn lên vùng đồng bằng, trung và thượng du xa xôi như gia đình Thùy, đây lần đầu tiên nhìn thấy biển, nay lênh đênh trên biển rộng cảm giác thật lo sợ, cô đơn trong nếp nghĩ.

Thẫn thờ, im lặng mọi người trở vào trong chiếc thuyền dài chừng mười tám mét, rộng ba, bốn mét. Khoang thuyền chia làm hai tầng, tầng trên chở người, tầng dưới để lương thực, thực phẩm, củi và than đá. Mấy thanh niên làm ‘thủy thủ bất đắc dĩ’, con gia đình Quảng Ninh làm nghề đánh cá, quen biết chủ thuyền, vợ chồng chạc năm mươi tuổi, có bẩy người con trai khỏe mạnh lớn nhất ba mươi tuổi, nhỏ nhất cũng mười sáu tuổi, gia đình gồm mười người lớn, hai trẻ con dưới năm tuổi nộp mấy trăm đồng cộng thêm một chiếc đồng hồ Liên Xô cũ, thế có lạ không! Giá quá rẻ không tưởng tượng nổi! Trên thuyền phần đông phụ nữ và trẻ em, nam giới chưa

đến 1/3 con số. Mỗi gia đình chiếm một khoảng trong khoang chỉ đủ giải chiếc chiếu một, đủ chỗ để ngồi. Gia đình có ba người, nhưng Bình loăng quăng trên sạp thuyền nên Thùy được ngả lưng nửa nằm nửa ngồi, chân gác lên túi đồ. Đàn ông rải rác trên sạp thuyền tán gẫu hay nằm ngồi vật vã. Cuối thuyền có nhà vệ sinh, gọi là nhà cho oai, thực ra bốn tấm cót dán quây lại thành, một tấm gỗ bắc ngang làm cầu, ngồi ‘thả trực tiếp’ xuống biển cho cá.

Trời chạng vạng tối, thuyền vẫn căng buồm chạy theo chiều gió thổi. Nghe nói tài công đã nhiều lần đi Hồng Kông, chủ thuyền đồng ý cho thuyền tiếp tục đi đêm. Mẹ con Thùy nằm bên cạnh gia đình năm người, vợ chồng, con gái mười tám, con trai mười sáu, chồng Hoa, vợ Việt, bà mẹ khoảng sáu mươi. Người chồng nguyên Phó bí thư Thành Đoàn Thanh niên Lao động Hà Nội, buộc phải thôi việc, vợ công nhân dệt 8 tháng 3 cũng bị nghỉ việc, chính quyền địa phương gây khó dễ, anh đưa mẹ già chạy xuống Hải Phòng ra đi như bao nhiêu người Hoa khác. Trên thuyền, đa số gia đình thuần Hoa, những gia đình này rất đông, bao gồm ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì từ các tỉnh Lạng Sơn, Cao bằng, Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, nhưng chủ yếu vẫn người Quảng Ninh, cùng với vài gia đình chồng Hoa vợ Việt, không quen biết, khác tầng lớp, giai cấp giờ đây cùng trên chiếc thuyền, chung số phận, chung niềm hy vọng đến Hồng Kông an toàn.

Mọi người ngủ gà ngủ gật, im lặng, tiếng ngáy của

ai đó vô tư như con trẻ. Có người nhìn chăm chăm lên vòm mái cong cong của thuyền suy nghĩ. Bất thình lình, thuyền tròng trành, nghiêng ngả như vật gì đó va mạnh sườn thuyền. Tiếng mưa rào rào như thác, gió giật từng cơn, sóng vỗ mạnh hai mạn thuyền, thuyền nghiêng ngả, chồm lên, tụt xuống, đẩy thuyền trôi sang phải, sang trái như xoay tròn. Có tiếng tài công quát to:

- Mấy cậu thanh niên đâu? Cẩn thận cơn giông đang ập tới, giữ chặt dây lèo và cột buồm.

Có người hét lớn:

- Thôi rồi, thuyền dạt trở về phao số 0 chết cả lũ! Người người run sợ, hoảng loạn, trẻ con khóc như ri, mấy bà lớn tuổi chắp tay hai bàn tay trước ngực, miệng lẩm nhẩm niệm Phật. Ai cũng lo thuyền lật, thuyền dạt trở về Phao số 0, vi phạm lãnh hải Việt Nam có thể bị bắn, bị tù. Thùy ôm chặt con gái, toàn thân run bần bật, ngó nghiêng tìm Bình và con cháu nhà chồng, nhưng không thấy. Gần nửa giờ sau, như phép thuật hay Trời Phật thương, Thái Dương Thần Nữ không nỡ ra tay, trời quang, mưa tạnh, thuyền hết tròng trành, lặng yên trong đêm tối mông mênh. Tất cả im lặng, chỉ còn nghe tiếng sóng nhè nhẹ xô vào mạn thuyền, bập bềnh, lên xuống. Tiếng tài công vang lên:

- Bà con yên tâm, cơn giông đã lướt qua rồi. Một bà lớn tiếng:

- Ông tài công có chắc chắn biết đường đi không đấy?

Người đàn ông từ bên ngoài bước vào trong, nói to:

- Bà con yên tâm, chuyện gió to sóng lớn thường xuyên xảy ra trên biển. Thuyền ta đi trong tháng này an toàn, tháng sau mới đáng sợ.

Nghe vậy, biết vậy, nhưng mỗi người theo đuổi suy nghĩ riêng. Tiếng thì thầm to nhỏ, nghe rõ giọng lầu bầu:

- Khi thu tiền lấy giá cao, lý do thuyền sắt, chạy máy, nay thành thuyền gỗ chạy buồm. Treo đầu dê bán thịt chó!

Có người nói thêm:

- Chủ thuyền hứa có tài công giàu kinh nghiệm, thuyền chắc chắn đảm bảo đi đến Hồng Kông an toàn. Vậy các ông các bà yên tâm, mai ngày sẽ rõ.

- Các ông người Quảng Ninh, kiếm ăn trên sông nước quen rồi, không sợ. Chúng tôi dân thị thành, tất nhiên phải lo, phải sợ chứ.

Bàn tán, tranh cãi chẳng đi đến đâu, cuối cùng mọi người yên lặng chìm vào giấc ngủ. Vài người thao thức, tay vắt lên trán suy tư trong lo lắng. Hiền đã ngủ từ lâu, Thùy trằn trọc, nằm nửa người, chân gác lên túi đồ theo một tư thế mãi, không thoải mái, khó trở mình, bụng càng thêm vướng víu. Thuyền vẫn chạy gặp chiều gió nhanh hơn, xung quanh một màu xanh đen, không nhìn thấy bất cứ vật gì, ngoài con thuyền lạc lõng trên biển rộng. Không ai biết thuyền đang ở đâu? Vùng nào trên lãnh hải quốc tế hay Trung Quốc? Tài công cũng không nói gì, im lặng nhìn chiếc la bàn đặt trên tấm bản đồ hàng hải gần một mét vuông, thỉnh thoảng hút điếu thuốc lá cho tỉnh ngủ, ba thủy thủ đứng quanh buồng lái. Mấy ngày đầu, gia đình nào cũng còn lương khô, nước uống đem theo, lâu ngày hết. Chủ thuyền cho ăn ngày hai lần, bữa cơm, bữa cháo, ăn với cá khô nướng, hoặc ca la thầu (củ cải khô), lấy lý do đề phòng thời gian đi kéo dài nên mọi thứ phải hạn chế tối đa, kể cả nước uống đun sôi.

Thời tiết tháng 5 nắng càng gay gắt hơn giữa biển khơi, mặt trời đổ lửa xuống chiếc thuyền nhỏ bé, dọi nắng xuống khiến nước biển hất lên hơi nóng hầm hập. Vài chị bị say sóng, khó chịu, lảo đảo, nôn mửa, ra hết thức ăn, bây giờ chỉ còn thứ nước xanh xanh, vàng vàng từ miệng ói ra. Cái nóng gắt khó chịu cộng thêm mùi hôi, tanh, sản phẩm của các bà nôn ói ra thuyền hòa cùng hơi người không tắm rửa chua chua, nồng nặc. Khoang thuyền chật chội, chen chúc tạo nên bầu không khí khó chịu vô cùng. Cánh đàn ông trên mặt thuyền thoáng mát, hít những làn khí biển trong lành, không biết gì mùi hôi tanh trong khoang thuyền của mẹ già, vợ con, không những thế còn lấy gầu múc nước biển tắm hay rửa mặt. Đêm đêm nhìn lên trời xanh bao la, ngắm nhìn chòm sao Bắc Đẩu, sao Kim và các vì sao sáng lấp lánh. Tiêu chuẩn ăn ai cũng đói, nhưng với trẻ con và người mang thai cảm giác đói nhiều hơn. Mẹ con Thùy may mắn không say sóng, nhưng cái thai trong bụng đạp nhiều hơn, chắc nó đói lắm. Tất nhiên gia đình chủ thuyền và tài công được ăn uống no say, đến cô vợ ‘thủy thủ’ Quảng Ninh luôn miệng gọi chồng đem đồ ăn cho cô. Nghe nói, cô người Việt, mang thai hai, ba tháng không muốn theo chồng, nhưng gia đình chồng đánh lừa, đưa cô đi, nay chồng phải phục vụ chu đáo, no nê, trả nợ đời. Trong khi đó, bé Hiền thường xuyên kêu đói ngay sau khi ăn xong, Thùy cũng đói, mệt rã rời, sáng lưng bát cơm, chiều bát cháo loãng làm sao đủ cho mẹ và thai nhi trong bụng!

Hiền đang nằm yên, nghe bên ngoài có tiếng người đang cắn gì sột sột, ròn ròn, hai hàm răng nhai ngấu nghiến, Hiền nhổm dậy, chạy nhìn ra ngoài, con trai chủ thuyền chín, mười tuổi tay cầm quả mận tím cắn dở một góc. Hiền nhìn mẹ, biết ý con, Thùy lắc đầu. Hiền khe khẽ nói:

- Con đói lắm mẹ.

Vừa nói mắt nhìn chằm chằm vào thằng bé đang ăn, nuốt nước bọt, muốn lắm. Âm thanh phát ra từ miệng khi đưa bé cắn, nhai ròn tan, thôi thúc Hiền thêm liều lĩnh, hỏi:

- Anh ơi, cho em xin một miếng được không? Nó mỉm cười nói như trêu Hiền:

- Không cho! Nhưng mày có gì đổi không? Không suy nghĩ, Hiền đáp:

- Em chỉ có em bé nằm ở trong kia kìa.

Thằng bé cười sặc sụa, láu cá, bảo:

- Em bé mày, tao không đổi.

- Em chỉ cắn một miếng thôi.

Hiền năn nỉ. Nó lắc đầu, nhưng đi đến gần Hiền cười, đưa quả mận đang ăn dở, nói:

- Thôi, cho mày cả đấy.

Hiền cầm lấy quả mận, từ từ cắn một miếng to, rồi đưa trả lại. Thằng bé ngạc nhiên, hỏi:

- Sao không lấy? Chê hả? Hiền nói ngay:

- Em chỉ xin anh một miếng thôi mà, em cảm ơn anh.

Nói xong Hiền đi vào trong ngồi bên mẹ, cúi đầu. Mấy bà ngồi gần đấy chứng kiến từ đầu hai đứa trẻ với quả mận. Người tủm tỉm cười, người lắc đầu, tắc lưỡi. Riêng Thùy thấy buồn, đau xót, xấu hổ vô cùng, cảm thấy thật có lỗi với con, nước mắt từ đâu lăn trên má. Bé Hiền lấy bàn tay nhỏ bé lau lau nước mắt cho mẹ, hỏi:

- Mẹ ơi, sao mẹ khóc? Em bé đạp mẹ đau bụng à? Thùy xoa xoa đầu con gái, cố gắng không khóc nữa, nhẹ nhàng bảo:

- Mẹ xin lỗi, con gái mẹ đói lắm phải không? Chiều nay mẹ cho con ăn cả bát cháo của mẹ nữa.

Hiền lắc đầu:

- Con ăn, em bé sẽ bị đói, mẹ bị đau bụng.

Không hiểu sao, từ sau đó bé Hiền không bao giờ xin ăn của ai nữa.

Con thuyền vẫn tiếp tục lướt trên mặt biển, về hướng Hồng Kông. Mấy người bị nôn, mệt quá nằm lịm đi. Thùy nhắc con nằm xuống ngủ cho đỡ mệt, nằm xuống bên cạnh, bắt đầu bao nhiêu chuyện cũ trở lại, khiến Thùy suy nghĩ mung lung. Nhìn lên vòm mái thuyền cong cong trước mặt, những thanh tre, nứa đan vào nhau, từng hàng, từng lớp tạo thành hình của vòm mái thuyền đã chuyển màu, vài nan gẫy, giống như cuộc đời con người, đâu biết được ngày mai, vạn vật luôn luôn đổi thay, đời người cũng vậy. Không biết gia đình nhỏ của mình có đến được Hồng Kông không? Có an toàn không? Nghĩ đến con gái, đến cái bụng to kềnh, nghĩ đến Bình ở trên sàn thế nào? Sao không ngó nhìn hỏi han đến hai mẹ con, nhớ lại trước lúc đi ra bến Máy Chai, Thùy dặn:

- Anh Bình, đi thuyền vượt biển, em lo nhiều lắm. Hai lần trước sinh con, đều sinh khó, đứa đầu lòng bị mất oan uổng. Lần này trên thuyền không có bác sĩ, không biết sẽ thế nào? Nếu như, em nói nếu như, trở dạ đau bụng trên thuyền không tốt, để tránh gây khó khăn phiền phức cho anh, cho mọi người, anh hãy vứt mẹ con em xuống biển, an toàn tất cả. Anh đem Hiền theo, thay em chăm sóc nuôi con nên người, được thế em mãn nguyện. Anh nhớ giúp em được không?

Bình cau mặt, gắt:

 - Sao lại nói vớ vẩn như vậy. Em sao thế? Thùy nhẹ nhàng:

- Bao năm nay em biết anh là người thế nào, vì thế em nói trước, để anh dễ xử lý khi sự việc xảy ra.

Bình nhìn vợ, không nói, không tỏ thái độ, Thùy khó đoán biết được lòng chồng. Bây giờ, đang trên chiếc thuyền vượt biển đi cùng mọi người, không thấy Bình đâu suốt mấy hôm nay, Thùy chỉ còn biết hy vọng đến nơi được bình an, tốt lành. Đang miên man chìm trong suy nghĩ, trên thuyền nhộn nhạo, xôn xao, mấy cậu thanh niên chạy vào trong khoang thuyền, tụt xuống bên dưới lòng thuyền, nói vọng lên:

- Thuyền bị rò, nước vào trong thuyền, bà con ngồi yên để chúng tôi tát nước, vá chỗ rò rỉ.

Thoáng nghe họ nói chuyện bên dưới, biết thuyền vẫn tiếp tục rò rỉ, vừa thay nhau liên tục tát nước vừa trát sơn xuống khe hở lòng thuyền. Con thuyền cô độc lênh đênh trên biển cả như ông lão lê từng bước chậm chạp giữa xa mạc không định hướng, ai cũng lo lắng, run sợ, người chắp tay, kẻ làm dấu cầu nguyện Đức chúa Jesu, Thái Dương Thần Nữ cứu giúp, bầu không khí nặng nề, căng thẳng trong khoang thuyền. Mới hai tuần trôi qua từ ngày rời Máy Chai thuyền đã bị thủng? Phải chăng chủ thuyền dùng lời nói ngon ngọt, cố tình che giấu sự thật về tình trạng cũ nát chiếc thuyền đánh cá thanh lý mua với giá bèo, dối trá thuyền sắt gắn máy thu giá cao. Cảm nhận tình hình nếu đi tiếp không an toàn, chủ thuyền tuyên bố cho thuyền rẽ vào bờ biển Bắc Hải, Trung Quốc sửa chữa.

Bờ biển Bắc Hải nhiều thuyền đang neo đậu chờ sửa chữa. Người đi lại nhộn nhạo trên bến, dọc theo bờ từ xa đã nhìn thấy. Thuyền của Phượng thả neo xếp hàng chờ sửa, mọi người ồn ào xuống thuyền lên bờ, già trẻ, lớn bé, bồng bế, bê vác túi, đồ cá nhân lũ lượt dắt nhau. Thêm 145 con người hòa nhập vào trung tâm người chạy loạn dừng chân bờ biển Bắc Hải. Đâu đâu cũng thấy người nằm la liệt, lố nhố mọc lên rất nhiều túp lều nhỏ dựng bằng vài cọc che mảnh nylon, vỏ chăn cũ, bất cứ vật gì có thể dùng được quây kín che mưa, che nắng. Gia đình nào có thanh niên nhanh nhẹn tìm được chỗ nghỉ ngơi tốt hơn. Thùy chịu thua kém vì cái bụng to, kềnh càng, tay dắt bé Hiền, cuối cùng cũng tìm được khoảng đất rộng hơn mét vuông, tương đối bằng phẳng nhưng nhiều sỏi đá nhỏ lổn nhổn. Rất may, Thùy đem theo tấm vải ka-ki giờ thật có ích, gia đình nhỏ ba người của Thùy đã có chỗ nằm, túi quần áo làm gối, cuốn từ điển Việt - Anh dùng gối đầu suốt trên thuyền nay đã rách tả tơi, bạc màu, nhiều tờ đã bong tuột ra gáy sách. Các gia đình nằm gần nhau, cùng chung bầu trời bao la làm chiếc màn xanh rộng lớn không hình dáng, cảnh màn trời, chiếu đất đâu có sung sướng gì, ấy thế có người còn đùa tếu:

- Mọi người ơi, chúng ta đang ở khách sạn ngàn sao đấy!

Ai nghe cũng bật cười gượng gạo, xót xa thân phận ‘xảy nhà ra nằm đất’. Chủ thuyền thông báo cho mọi người biết sẽ dừng ở nơi này một thời gian dài để sửa thuyền, hàng ngày nhà thuyền phát cho mỗi người một bát cháo ăn với củ cải khô, chống đói qua ngày, ngoài ra mọi người phải tự lo, không có trách nhiệm. Nhìn đâu cũng thấy người, người Hoa, người Việt của các thuyền đậu lại sửa chữa, đồng thời người từ các nông trường của Trung Quốc chạy trốn tìm thuyền đi Hồng Kông. Thuyền đang sửa chữa, không rõ thế nào, nhưng lòng tham vô đáy, chủ thuyền tiếp tục nhận thêm người, lấy lý do cần tiền chi trả sửa chữa, không quan tâm đến sự an toàn, tính mạng con người.

Bắc Hải tập trung quá đông người, không có ai quản lý, kiểm soát, ngăn cấm, rác vứt bừa bãi, hơn nữa tình trạng thiếu nước uống, nước tắm giặt nên luôn xảy ra tranh giành, đánh nhau vì đói khát, thiếu thốn, cùng với lối sống tạm bợ, bừa bộn, bẩn thỉu diễn ra hàng ngày. Nhiều người đi thuyền trước, nay thuyền đều sửa ở Bắc Hải, vô tình tìm thấy nhau, mừng mừng tủi tủi, biết người thân còn sống sót. Một vài thuyền phát gạo cho thuyền nhân, phải tự túc lo liệu nấu ăn trong thời gian chờ đợi. Riêng chủ thuyền Phượng chỉ phát một bát cháo, nên ai cũng đói, cộng thêm thời tiết nóng nực, rừng người trên mảnh đất không một bóng cây xanh, trơ trụi khô cằn, ăn xong bát cháo, mồ hôi chảy ra, thế là hết! Người có tiền ra chợ mua gạo, thực phẩm bán tự do không còn chế độ tem phiếu như trước. Mấy bà chuyên nghề chạy chợ, nhanh nhẹn nghĩ kế, rủ nhau đi vào sâu trong làng tìm cách xin ăn. Thùy tò mò nghe các chị đến trước kể lại cách đi xin ăn. Họ bảo nhau học tiếng Quảng, biết một câu xin ăn là đủ:

- Màu cối, pày ngổ phán xì! (Làm ơn, cho tôi xin củ khoai).

Không biết họ dạy có đúng không, nhưng đói đầu gối phải bò, rủ nhau hai, ba người vào trong làng làm cái bang khất thực. Dân ở đây làm nghề chài lưới, kiếm ăn hàng ngày, vất vả, nghèo không sung túc gì, nhưng thật thà, tốt bụng, nhìn thấy đàn bà, trẻ con xin ăn nói không sõi, họ không xua đuổi còn đưa vào nhà, cho củ khoai lang luộc, bát cơm nguội, mẩu cơm cháy, đã làm nghề cái bang ăn xin đâu dám đòi xôi gấc, cho gì ăn hết, không chê. Cái đói hành hạ quên cả thể diện, lòng tự trọng, dây thần kinh xấu hổ teo lại lúc nào không biết. Nghe chuyện, Thùy nghĩ tìm xem còn cái gì có thể bán lấy tiền mua gạo, đột nhiên sáng sớm hôm sau bụng đau dữ dội, ối đã vỡ nước, ướt quần, biết đã đến ngày sinh con. May chuyện này không ở trên thuyền, nhưng làm thế nào đây? Có người mách, bên kia sông có trạm xá, nhưng phải mất tiền đi đò. Thùy gửi bé Hiền nhờ chị quen người Hà Nội trông giúp, đi đến gần bờ sông, may gặp lái đò, đưa cho anh ta năm hào Nhân dân tệ chở qua sông. Bụng đau từng cơn, lúc âm ỉ, lúc dữ dội, nhìn Thùy đau đớn, người lái đò cố chèo hết sức đưa vợ chồng Thùy đến trạm xá cách đó không xa. Lúc này Bình thể hiện vai trò người chồng biết nói tiếng Hoa, đến trạm xá, hai phụ nữ vội vàng dìu Thùy vào trong. Cả phòng khám trạm xá trơ trọi chiếc giường tre trải chiếu, một bàn, một ghế. Họ bảo Thùy nằm xuống giường để khám, nói đến đâu, Bình dịch cho vợ làm theo, không thắc mắc, lo ngại, có người giúp là may mắn, quá tốt. Giống như hai lần trước, cơn đau kéo dài, liên tục, đứng hay ngồi cũng đau, hai tay chống vào tường, cắn môi đến chảy máu, kìm nén cơn đau khỏi bật tiếng kêu. Mấy chị trong trạm xá xí xố nói với Bình, Thùy không biết nữa, nỗi lo sợ duy nhất, con bị ngạt, vì ối vỡ từ sáng sớm. Không còn biết đau, Thùy cắn môi, thầm cầu nguyện Trời Phật linh thiêng phù hộ, cứu giúp qua cơn nguy kịch. Người xưa có câu:

‘Đàn ông qua sông có bạn 

Đàn bà vượt cạn một mình’

Giờ đây Thùy đang vượt cạn một mình, không dám kêu, dám hỏi, chỉ còn mỗi lo sợ ám ảnh trong đầu, mong mọi sự tốt lành. Trời tối dần, vẫn chưa chuyển dạ, lâu lâu họ vào kiểm tra Thùy, Bình luôn đi theo sát chị y tá. Đêm hôm đó không biết chính xác mấy giờ, thằng con trai bướng bỉnh mới chịu chào đời. Nghe tiếng khóc của con, Thùy mừng rơi nước mắt, nhìn cô y tá, mếu máo nói tiếng Bắc Kinh học lỏm được của chồng:

- Xê xê nỉ. (Cảm ơn chị)

Không biết phát âm có đúng không, nhưng chị nhìn Thùy gật gật đầu cười. Bình vui mừng bảo vợ:

- Em ơi, con trai mình được 8 poòng. (# 3 kg 6)

Thùy cười, yên tâm, con được bình an, tự nhiên nước mắt chảy dàn dụa, khóc trong niềm vui sướng, khôn tả, thầm cảm ơn Trời Phật đã phù hộ cho hai mẹ con, sau đó thiếp đi sau một ngày đau đớn, mệt mỏi. Sáng hôm sau, Thùy thấy đói và khát vô cùng. Bình mua ở đâu một khúc bí xanh luộc đem vào, Thùy ăn ngấu nghiến. Nghĩ đến bé Hiền, Thùy giục Bình hỏi trạm xá thanh toán, ngạc nhiên khi biết họ giúp đỡ không lấy tiền. Lòng tốt của các chị Thùy không bao giờ quên, một trạm xá nhỏ, đơn sơ trong làng chài nghèo khổ, nhưng lòng nhân ái lại bao la đậm tình người. Một giờ sau, vợ chồng Bình xin phép trở về thuyền, cảm ơn chia tay mấy người trong trạm xá. Thùy không biết nói gì, rưng rưng lệ, bịn rịn chào tạm biệt ân nhân. Ôm con trai cùng chồng đi đò qua sông trong niềm vui hạnh phúc dâng trào.

 ***

Hiền suốt ngày ngóng mong bố mẹ, đến tối vẫn chưa thấy về, thắc mắc luôn miệng hỏi:

- Bác ơi, sao mẹ cháu mãi không về thế? Bà Kiều an ủi:

- Mẹ cháu đi đón em bé về, cháu muốn có em bé không?

Hiền vui vẻ đáp:

- Cháu mong có em bé chơi với cháu.

- Vậy phải ngoan, ngày mai mẹ đem em bé về.

Hiền vui lắm, ngoan ngoãn vâng lời bà Kiều. Sáng thức dậy, Hiền đã ra ngoài ngóng chờ mẹ. Gần trưa Hiền nhận ra bóng mẹ từ xa, reo lên mừng rỡ:

- Bác Kiều ơi! Mẹ cháu, mẹ cháu về kìa!

Bà Kiều và mấy chị nghe tiếng Hiền kêu to, đổ xô ra nhìn về phía tay chỉ của bé Hiền. Bình đi bên cạnh, Thùy ôm gọn con trai quấn trong khăn bông bước chậm rãi đến gần mọi người. Hiền chạy nhanh ra ôm chân mẹ, kéo tay Thùy hỏi:

- Mẹ cho con nhìn em bé của con đi mẹ?

Mọi người vây quanh, ai cũng vui, hỏi thăm ríu rít, chúc mừng hai mẹ con được bình an, mẹ tròn con vuông. Bà Kiều nói to:

- Mong các bà các chị tránh cho Thùy đi vào trong lán trước, trời đang nắng như thế, mẹ con nó bị cháy nắng bây giờ.

Lúc đó mọi người mới tản ra, Kiều đón đứa bé từ tay Thùy, Bình vào trong kéo lại tấm vải che ngay ngắn, dìu vợ ngồi xuống. Bên ngoài tiếng nói chuyện, bàn tán, dĩ nhiên bây giờ hai mẹ con Thùy là đề tài của họ. Hiền vui lắm, ngồi gần sát ngắm nhìn em bé, tò mò chạm vào ngón tay nhỏ xíu xinh xinh, cái mũi bé tý ngộ nghĩnh, hỏi mẹ:

- Mẹ ơi, em bé có tên không? Con gọi em là gì?

Kiều cũng hỏi Thùy:

- Em đặt tên thằng bé là gì? Đêm qua có ngủ được không? Em đã ăn gì chưa?

Thùy mệt mỏi trả lời:

- Em không biết sinh cháu lúc mấy giờ? Chỉ biết trời tối lâu lắm thằng bé mới chịu ra. Sau đó em ngủ thiếp đi vì quá mệt.

Thùy chép miệng nói tiếp:

- Sinh con xong, em lo cháu Hiền ở với bác đêm qua thế nào? Tình hình thuyền sửa đã xong chưa? Còn bao ngày nằm chờ ở bãi này? Mẹ con em sẽ ra sao, em lo lắm các chị.

Mấy người cùng thuyền ngồi xung quanh động viên:

- Ối dào, em vừa sinh con không nên suy nghĩ nhiều, đến đâu hay đến đó, đã có chú Bình lo cho mẹ con em.

- Nghe nói thuyền vẫn chưa xong, không ai biết khi nào thuyền chạy tiếp? Chủ thuyền vẫn cho bà con ăn cháo. Em phải ăn mới có sữa cho con bú Thùy à. Em cần gì cứ nói, các chị sẽ giúp em.

Nghe mọi người an ủi, dù chỉ một câu nói, nhưng trong hoàn cảnh chạy loạn, không người thân bên cạnh, Thùy thật sự cảm động, thấy ấm lòng. Nhìn quanh không có bóng người cháu nào của Bình, Thùy không muốn hỏi. Chị Xoài người Việt đi theo chồng, tuổi ngoài 25, nhìn thằng bé nói:

- Nhìn cu cậu ngủ ngon quá, nhà em cũng đang mong trời cho một đứa, nhưng loạn lạc thế này, em bảo từ từ cũng được. Chị đặt tên bé là gì?

Bình ở bên ngoài ngó vào nói:

- Cục vàng của tôi đấy. Kỷ niệm đi biển, sinh cháu ở Bắc Hải, vợ tôi muốn đặt tên cháu Bắc Hải, cũng có nghĩa là biển.

Mấy chị cười vui:

- Vậy phải nhớ chăm sóc, tẩm bổ cho mẹ con cục vàng chu đáo nhé. Chú Bình mau nấu cơm cho cô ấy ăn.

Có thêm nhân vật mới, bầu không khí mấy lều lán xung quanh nhộn nhịp, vui hẳn lên. Mọi người ra về, Thùy đặt thằng bé nằm trên cái va-li nhỏ đựng quần áo tã lót, Hiền tranh nằm bên cạnh em. Thùy lấy hộp sữa ‘Ông Thọ’ pha cốc sữa cho hai mẹ con uống. Đem theo từ Hải phòng được 10 hộp sữa đặc có đường, đã dùng hết 5. Bây giờ thật quý hiếm đối với Thùy, không biết còn ăn đợi nằm chờ ở đây bao nhiêu lâu, Thùy gọi Bình vào bàn với chồng:

- Em đã nhờ chị Kiều nấu cơm cho mẹ con em hôm nay. Em nghĩ mình có mấy thứ, ngày mai anh đem đi bán lấy tiền mua gạo, thịt, thức ăn, củi đun, nhà thuyền phát cho ngày có bát cháo sao đủ.

Trước khi đi Thùy đã mua, may tã lót, quần áo cho Hiền và em bé, nay phải nằm chờ, cần có tiền chi tiêu, không thể giữ đem theo được nữa. Thùy tìm áo khoác bằng vải xi pha nylon bố may cho, mấy cái áo len, đồng hồ đeo tay, cái võng ka-ki bộ đội... những gì có thể bán được để có tiền sẽ phải bán. Ngày hôm sau Bình đi từ sớm, nhiều thuyền xuất cảnh từ miền Bắc đều ghé vào Bắc Hải sửa thuyền, hầu hết thuyền đánh cá của các hợp tác xã thanh lý, không an toàn, chủ thuyền tham rẻ, mua về tu sửa cho đẹp, làm phương tiện chở người, công an Ngoại kiều biết nhưng làm ngơ, lờ đi vì chủ thuyền đã lót tay.

Bắc Hải nơi tập trung các thuyền miền Bắc, đông đúc, có thời kỳ lên đến hơn ngàn người, nằm vật vạ, nắng mưa thất thường, sống tạm bợ, không giữ vệ sinh nên sinh ra đau ốm, bệnh tật. Sinh con xong, trở về chui vào cái lều nhỏ bé, nằm trên mảnh đất đầy đá sỏi gồ ghề, lưng đau ê ẩm. Ban ngày trời đổ lửa xuống bỏng rát, người ngứa ngáy khó chịu. Có ngày lộng gió cát bụi mù mịt, rác bay tứ tung vào lều. Nằm dưới đất sao sạch sẽ được, nhất là với phụ nữ mới sinh con. Hôm sau Bình lấy được một thùng nước ngọt to về nấu ăn, không chịu được nóng bức, càng cảm thấy khó chịu, Thùy mừng quá, lấy thùng nước ra tắm, dội ào ào. Dòng nước mát lạnh tưới xuống cơ thể lâu ngày không tắm rửa, đến đâu dễ chịu đến đó. Cảm giác như vừa trút một gánh nặng không nghĩ ngợi gì, không biết lo sợ. Mấy bà lớn tuổi thấy vậy kêu ầm lên:

- Trời ơi, sao liều thế. Vừa sinh con xong phải kiêng cữ chứ. Tắm nước lạnh thế này mai kia già cả sẽ đau xương, đau khớp cô Thùy ơi là cô Thùy!

Ối dào, ăn ở khổ sở như thế này kiêng gì, cữ gì cơ chứ. Cảnh chạy loạn phải chấp nhận biết làm sao, còn hơn để người nóng nực, bẩn thỉu khó chịu. Biết đây là kiểu bào chữa lý sự cùn của kẻ chạy nạn, Thùy tự nghĩ, tự cười bản thân. Một hôm Bình ở ngoài về báo tin vui với vợ, cách đây không xa có xưởng gỗ, xếp nhiều tấm gỗ chồng chất lên nhau, xung quanh trống không, trên có mái gianh che kín tử tế. Bình đưa mẹ con Thùy đến đó làm nơi trú tạm thời tránh sương gió. Hai gia đình bên cạnh cũng tháo lều đi theo, Thùy bế con, Hiền cầm vạt áo mẹ đi bên cạnh, Bình tháo lều, túm tất cả lại cầm theo, mấy gia đình lôi thôi lếch thếch dẫn nhau đến chỗ xưởng gỗ.

Xưởng gỗ trông như bỏ hoang, nhiều tấm gỗ xẻ to, bằng phẳng xếp chồng lên nhau, nét mặt ai cũng hớn hở. Mấy người đàn ông khiêng gỗ xuống, kê thành chiếc giường lý tưởng, cao ráo, không bị gió bụi ngoài bờ biển thổi vào, có mái nhà che nắng mưa ban ngày, chống sương lạnh ban đêm. Hiền ngồi xuống tấm gỗ nhún nhún người lên xuống cười thích thú, Thùy tranh thủ ngả lưng, thằng Bắc Hải vẫn nằm trên va-li xinh xinh, chiếc giường đặc biệt, cu cậu ngủ ngon lành. Đã lâu lắm bây giờ mới được nằm duỗi thẳng người, thẳng chân, cái lưng sau bao ngày bị tra tấn ê ẩm trên nền đá sỏi cồm cộm gồ ghề bãi biển, nay thoải mái biết bao. Thùy vươn vai, hít thở không khí của gió biển, thoang thoảng mùi gỗ thơm thơm nhè nhẹ. Niềm vui chưa được đầy gang, đột nhiên ánh sáng đèn pin chói lòa từ đâu chiếu vào chỗ Thùy nằm, dọi vào mặt, tia sáng lên xuống soi mói khắp xưởng gỗ, giọng đàn ông ầm ầm quát tháo xì xà xì xồ tiếng địa phương. Tất cả giật mình, run rẩy, Bình và hai thanh niên biết tiếng Quảng đứng ra nài nỉ xin cho nằm lại nốt đêm nay. Một bên van xin, năn nỉ, một bên nét mặt hầm hầm cau có, lắc đầu nhất định không đồng ý. Bắt buộc tất cả phải chuyển ngay lập tức, họ soi đèn pin vào mặt từng người, xô đẩy, đạp đạp chân các tấm gỗ không cho ngồi lên, mọi người lại thu dọn, bồng bế nhau rời bỏ vị trí vừa tìm được, luyến tiếc một giấc mơ đẹp. Trong Thùy nỗi buồn tủi, uất ức xen lẫn hoang mang lo sợ, chiến tranh xảy ra, những người dân vô tội, thành người vô gia cư, không nơi trú ngụ. Việt Nam không được ở bị đuổi đi, Trung Quốc cũng không cho nằm ngồi! Những con chim lạc loài sẽ bay vất vưởng đi đâu, về đâu, đâu là bến đỗ, đâu là nơi an toàn?

Mấy gia đình lại thất thểu đưa nhau trở về khoảnh đất trước đó, đóng cọc, dựng lại túp lều như cũ, may chưa bị mất chỗ. Chợt nghe có người gọi:

- Bình phải không? Có đúng Bình đấy không?

Hai vợ chồng nhìn về phía có tiếng gọi, Thùy nhận ra bạn của Bình, nói với chồng:

- Anh Bình, anh Vinh bạn anh kìa.

Bình cũng nhận ra người bạn cũ học Trung học Trung hoa ở Hà Nội:

- Ôi, Vinh đấy à? Lâu rồi không gặp. Đi thuyền nào đấy?

Hai người mừng vì quá bất ngờ, nghẹn lời. Vinh lên tiếng trước:

- Thuyền mình đang sửa chữa, bị rò nước, đến đây một tuần rồi. Vợ cậu sinh em bé? Lâu chưa?

Thùy lúc này mới nói:

- Em chào anh Vinh, anh còn nhớ em? Em sinh cháu cách đây mấy ngày.

Vinh nhìn Thùy to vẻ ái ngại:

- Quên làm sao được, tụi anh vẫn nói, thằng bạn anh may mắn lắm mới lấy được em.

Bình cười:

- Vẫn cái tính khỉ gió ấy. Thế có đi được cả nhà không?

Ông bà già có đi không?

- Đi tất, kéo cả cụm, đi hết. Thôi, Thùy vào trong lều nghỉ đi em, ngoài này gió lắm.

Vinh khẽ nói với Bình:

- Ngày mai mình đưa cho cậu con sâm Triều Tiên, vợ cậu mới sinh trông yếu lắm, mua thêm gà, rượu bồi dưỡng cho vợ, ông tướng ạ.

Vinh tạm biệt hai vợ chồng, vội đi có việc. Thêm một đêm nằm dưới sương gió, đêm nay trăng tròn treo lơ lửng trên bầu trời cao xa thăm thẳm, phải chăng chị Hằng đem chút ánh sáng trong lành giúp những con người khốn khổ dịu đi phần nào tăm tối trong cảnh ‘màn trời chiếu đất.’

Thuyền chưa sửa xong, chủ thuyền vẫn tiếp tục nhận thêm người chạy trốn từ nông trường. Hàng ngày mọi người thay nhau hỏi xem tình hình thuyền chữa ra sao. Sau khi sinh Bắc Hải được mười ngày, Phượng thông báo thuyền chuẩn bị nhổ neo, nhưng không chấp nhận mẹ con Thùy lên thuyền với lý do:

- Theo luật lệ ngư dân làm nghề chài lưới, không cho đàn bà mới đẻ lên thuyền, rất kiêng kỵ, sợ đem rủi ro, không may mắn, không an toàn cho người trên thuyền.

Thùy không tin vào lý do mê tín, dị đoan ấy, nhưng biết làm sao? Thân cô thế cô, bị bắt nạt, chèn ép, phải chi gia đình đông anh em họ hàng đi cùng, ai dám làm gì? Lôi thôi sẽ kháng cự, chống lại, đâu chịu thua. Mang tiếng có mấy người cháu thanh niên đi cùng nhưng chúng làm ngơ, hay nó có phép thuật tàng hình, biến mất từ khi thuyền đến Bắc Hải. Thùy nhớ ra cô em gái Bình, bạn thân Phượng – chủ thuyền – bảo chồng. Nhìn chồng đứng yên như khúc gỗ, Thùy chán nản, lắc đầu.

Người choáng váng khó chịu, sinh con mới được mươi ngày, máu vẫn ra nhiều, mệt mỏi, thời tiết nóng bức, ăn ở sinh hoạt bẩn thỉu, tinh thần không thoải mái. Nay sinh ra việc rắc rối của bọn chủ thuyền, khiến Thùy thêm căng thẳng. Sữa không có đủ cho bé bú, chủ thuyền nhất định không chịu trả lại tiền, dù một nửa. Thùy thực sự thấy tủi thân, đơn độc, nhìn sự bất lực của chồng nghẹn uất lên tận cổ họng.

Chị Kiều và nhóm người xung quanh cũng bất bình với bọn chủ thuyền. Một lũ buôn người sống vì tiền, coi tiền trên hết, định cướp trắng số tiền của mẹ con Thùy hay sao? Người xì xào oán trách:

- Tình cảnh của cô chú ấy như thế, nó nỡ lòng nào không cho người ta lên thuyền. Ăn ở thất đức, bất nhân, không sợ ông Trời quả báo.

Nhưng than ôi, chúng làm gì có đức mà mất. Nghĩ lại những ngày đã qua, quá tin tưởng vào quan hệ bạn bè, làm ăn của cô em chồng, suy cho cùng, chúng một giuộc như nhau, loại buôn gian bán lận, nếu có điều kiện nó bán được tổ tiên, đất nước chắc cũng không từ. Ngon ngọt tưởng được đi thuyền sắt, có máy, chắc chắn an toàn, chỗ thân quen, không lo lạc lõng bơ vơ. Ai ngờ? Càng quen càng lèn cho đau!

Người chung cảnh ngộ thương cảm, nhưng không có quyền quyết định. Đang lo lắng, chưa tìm ra cách giải quyết. Trời Phật trên cao nhìn thấu đã ra tay cứu giúp mẹ con Thùy. Gia đình chủ thuyền có chuyện buồn!

Nghe mọi người xôn xao bên ngoài lều, nhìn quanh không thấy Bình, Thùy bảo con gái:

- Em bé đang ngủ, con ở đây với em, mẹ ra xem các bác có chuyện gì ồn ào nghe nói đến tên của mẹ.

Thùy ra khỏi lều thấy bốn, năm người đang túm tụm lại thì thầm to nhỏ, thấy Thùy bước ra, một chị nhanh miệng gọi:

- Cô Thùy ơi, lại đây mau lên, có tin mới. Thùy nóng lòng muốn biết, nói ngay:

- Em nghe các bác nhắc đến tên em, không yên tâm, sợ có điều gì không phải khiến các bác giận, nên em nghe đây.

- Chúng tôi biết việc gia đình cô, chủ thuyền không cho mẹ con cô lên thuyền, nhưng cô có biết thuyền chưa đi được không?

Thùy ngạc nhiên:

- Em tưởng họ sắp nhổ neo rồi. Em đòi lại tiền, họ không trả, họ nói đưa gia đình em đến đây rồi, có thể vào Trung Quốc sinh sống. Mẹ con em đã nộp tiền đi Hồng Kông.

- Cô chưa biết gì à, đêm qua bà mẹ chủ thuyền chết rồi. Nghe đâu ăn uống tẩm bố quá, sâm, nhung nhiều lắm nên ra đi.…

Tin gia đình có người chết sao lại mừng, Thùy hỏi lại:

- Vậy thuyền chưa đi được các chị mừng cho em? Một bà to béo, nói tiếng Việt không sõi, giải thích:

- Mừng cho cô, tụi tui mừng cho cô đấy.

- Tại sao?

- Luật bù trừ nhà thuyền! Trên thuyền có người mất đi, sẽ có người được vào thay thế. Tức là mẹ con cô được lên thuyền. Đó, tin vui chỗ ấy. Quả báo quân chúng nó! Trời rất gần, đâu có xa!

Thùy chưa tin lắm, sao có chuyện mê tín như thế, nhưng nếu đó sự thật, còn gì vui hơn! Còn trẻ, ít va chạm trường đời, nhất là những việc liên quan đến nghề chài lưới, đi biển. Nghe biết vậy, mong sao đúng như vậy! Mấy bà khác cũng gật đầu tỏ vẻ tin tưởng, Thùy nghe có người nói nhỏ với nhau:

- Không cho cô Thùy lên thuyền, vất vưởng ở đây mãi sao được, con nhỏ lại mới đẻ, tiền không, họ mạc cũng không, biết đi đâu, sống thế nào?

Mọi người giải tán dần, vẫn không thấy Bình về. Đến trưa Bình vừa bước vào lán, Thùy hỏi ngay:

- Có tin gì không anh?

Mặt đỏ bừng, mồ hôi nhễ nhại, Bình báo tin:

- Em ơi, hôm nay anh định to tiếng với Phượng về chuyện nhà ta, nhưng đến nơi thấy có nhiều người ra vào lán của nó, hỏi ra mới biết mẹ nó chết đêm qua.

- Các chị quanh đây cũng biết tin này, vừa nói chuyện bàn tán đấy. Anh có nghe thêm được tin gì không?

- Mỗi người mỗi ý, phỏng đoán này nọ, chưa biết thế nào?

Thùy gợi ý:

- Thuyền chưa đi được đâu, sáng mai anh đến hỏi cho rõ. Em nghe các chị nói, nếu có người mất, phải cho thêm người mới đẻ lên thuyền đấy, luật lệ nghề sông nước.

- Biết vậy, ngày mai hỏi. Hôm nay họ đang có chuyện buồn.

Không có tin tức gì thêm về thuyền của Phượng, vài thuyền đến trước đã nhổ neo rời Bắc Hải, thuyền khác tiếp tục đến. Người đi, người đến liên tục hàng ngày, Bắc Hải ngày càng lộn xộn, phức tạp. Đã vào dừng ở đây các thuyền đều phải sửa chữa vì toàn thuyền thanh lý, đồng thời chủ thuyền lấy cớ trả công sửa chữa nhận thêm người mới. Thuyền ít nhất lưu lại hai tuần trở lên, ai cũng mong được đi tiếp. Tình cảnh của Thùy càng mong muốn nhanh hơn nữa, cuộc sống tạm bợ, bừa bãi, mất vệ sinh, không ai chịu trách nhiệm, kiểm soát, tiền cũng cạn, lo chạy từng ngày. Không biết phía trước ra sao nhưng hiện tại không thể kéo dài mãi như vậy. Sáng hôm sau, Bình quyết định phải có thái độ dứt khoát với bọn chủ thuyền. Nhưng không như dự định, Phượng nói với Bình bằng thái độ khác mấy lần trước:

- Anh Bình, thông cảm hoàn cảnh của chị. Gia đình anh tiếp tục đi cùng thuyền nhưng…

Phượng ngừng một lát, nói tiếp:

- Nhưng để đảm bảo an toàn cho mọi người, yêu cầu anh phải tìm thầy cúng làm một cái lễ xua đuổi tà ma, trừ mọi xui xẻo cho thuyền.

Bình khó chịu hỏi lại:

- Tại sao phải cúng lễ? Tà ma ở đâu mà xua đuổi?

Bằng giọng ngon ngọt, như dỗ dành vốn có của con buôn, Phượng giải thich:

- Đây là kinh nghiệm của người già, người đi trước mách bảo. Từ xưa ngư dân đã tin như vậy. Con đường phía trước còn dài, vì vậy anh, tôi và mọi người ai cũng mong muốn mọi sự tốt lành phải không?

Vốn là người hiền lành, nghe Phượng nói cũng có lý, không thể làm căng được, trong hoàn cảnh của hai vợ chồng lúc này, làm theo ý của chủ thuyền thích hợp nhất. Bình vặn hỏi:

- Tìm thầy cúng ở đâu bây giờ?

Phượng nói ngay, như đoán trước được câu hỏi của Bình:

- Tôi biết thuyền mình có một ông làm thầy cúng khi ở Việt Nam. Anh đồng ý, tôi nói giúp, đưa cho ông ta ít tiền là thu xếp ổn thỏa.

Tiền! Cuối cùng vẫn là tiền. Bình trả lời:

- Tôi về bàn với vợ tôi, cô tìm thầy cúng, khi nào thuyền nhổ neo?

Phượng thản nhiên đáp:

- Làm xong thủ tục cho vợ con anh thuyền sẽ nhổ neo. Anh về bàn với chị thu xếp cho nhanh.

Bình vội vã về lều, trên đường gặp một số người đi cùng thuyền hỏi thăm tình hình. Trông thấy Bình từ xa, Vinh:

- Bình, cậu có việc gì mà vội vàng thế?

Bình đứng lại kể cho Vinh sự tình, Vinh cười khểnh, nói với bạn:

- Đúng một lũ thú đội lốt người, mượn gió bẻ măng. Theo tớ nghĩ, tên thầy cúng người của bọn chúng, tìm cách moi tiền nhà cậu.

Bình không nói gì, chào Vinh nhanh chân bước về gặp Thùy. Gần đến lều, chị Kiều và mấy người lều bên cạnh xúm lại hỏi thăm, Bình vội hỏi:

- Chị ơi, nhà em có trong lều không?

Mọi người vừa đi theo Bình vừa tíu tít hỏi. Bình bước vào trong lều thấy Thùy đang cho con bú, Hiền ngồi bên cạnh. Thùy ngẩng lên hỏi chồng:

- Tình hình thế nào anh?

Bình ngồi xuống cạnh vợ, mấy bà mấy chị vây xung quanh ngóng chờ. Bình nói:

- Chủ thuyền đồng ý cho mẹ con em lên thuyền, nhưng phải có thầy cúng làm cho mình một cái lễ xua đuổi tà ma, trừ xui xẻo, cầu mong tốt lành cho thuyền đi gặp may mắn.

Mỗi người một câu, ý kiến đủ kiểu. Thùy lo lắng hỏi chồng:

- Thầy cúng ở đâu? Chắc phải mất tiền cho thầy. Bình khẽ nói:

- Bà Phượng bảo thuyền mình có ông thầy cúng, bà ấy tìm giúp cho.

- Rõ lắm chuyện, người của chúng nó thôi.

- Không muốn trả lại tiền, giờ tìm cách móc thêm.

- Chúng cầm chuôi dao, muốn đi phải nghe theo chúng.

Nghe mọi người xôn xao, biết họ quan tâm nên thế, nhưng không giải quyết được gì, đầu Thùy như muốn vỡ tung, biết bao nhiêu tiền cho vừa lòng thầy cúng? Thùy nhẩm tính trong đầu, Bình ngồi im lặng suy nghĩ.

Một góc trên sạp thuyền của Phượng, Thùy bế con trai ngồi khoanh chân, cúi đầu lặng yên nghe thầy cúng miệng lẩm nhẩm, khấn vái. Ông ta mặc chiếc áo nửa xám xịt, nửa nâu nâu, rúm ró như bị vò cuốn lại, vứt xó xỉnh nào bỏ quên từ lâu không dùng đến. Đầu quấn mảnh vải đen bạc màu, đeo đôi kính râm, gọng mắt kính to bự, có dây buộc đeo vào vành tai chắc chắn, tay cầm bát nước. Ông ta vừa lẩm bẩm những gì không rõ tiếng, chốc chốc lại nhấp ngụm nước từ cái bát, phun nước trong mồm ra phì phì lên người hai mẹ con Thùy trông ghê ghê, mất vệ sinh. Xung quanh bên dưới thuyền, Bình và bé Hiền cùng nhiều người đứng nhìn, theo dõi phép bùa diệt trừ ma quỷ của thầy cúng. Thùy cúi người che nắng cho con, ngăn những tia nước từ trong mồm ‘thầy’ phun ra, không biết ông ta khấn vái gì, hai chân tê cứng vì ngồi lâu, lưng bỏng rát vì nắng, đầu Thùy như quay vòng, choáng váng. Nhưng bản năng của người mẹ, Thùy vẫn ôm giữ chặt con trong lòng, ngồi yên bất động suốt thời gian tế lễ. Không nhớ kéo dài bao lâu, bất chợt như có những hạt mưa rơi xuống, ‘thầy’ dùng tay vẩy hết cả chỗ bát nước còn lại lên khắp người mẹ con Thùy. Thế là xong! Tà ma đã bay đi! Thuyền an toàn vô sự! Thùy mệt mỏi quá không biết gì nữa, cho đến khi Bình và mấy bà chạy lên sạp thuyền đỡ hai mẹ con đứng dậy. Thùy được phép bước vào bên trong. Mọi người lần lượt đi lên thuyền, hôm nay thuyền của Phượng nhổ neo rời Bắc Hải. Thùy đang ngồi bên cạnh Bình và bé Hiền, thấy dễ chịu hơn. Tưởng được yên chờ đợi giờ xuất phát. Có người vào gọi Bình chuyển lời của chủ thuyền:

- Anh phải cho hai mẹ con chị Thùy xuống khoang bên dưới. Bà đẻ không được ngồi ở khoang trên, kiêng lắm.

Ai dám chống cự? Thuyền sắp đi rồi, Bình bắt buộc phải để Thùy và con trai xuống khoang dưới, Bình và bé Hiền ngồi khoang trên cùng mọi người. Xung quanh Thùy những bao gạo, thực phẩm: cá khô, củ cải khô, bí xanh, muối, than đá, mấy thùng phi nước ngọt. Đưa thêm vàng nộp cho ‘thầy’ làm lễ theo yêu cầu của họ, vậy nay được lên thuyền phải ngồi khoang dưới cùng ở với  lương thực, thực phẩm. Còn gì uất ức hơn không? Họ đâu coi mình là người? Ép buộc, bắt nạt đủ kiểu. Bạn cánh hẩu? Bạn thân cùng làm ăn buôn bán với em chồng? Thùy kinh tởm, ghê sợ lũ người này. Bé Hiền ngồi bên trên vẫn khóc gọi mẹ, đòi cho em bé lên trên. Nhiều người lắc đầu, nhưng đều im lặng. Nhiều bộ mặt mới xuất hiện trên thuyền, phần đông thanh niên, đi thành nhóm hai, ba người, có mấy cặp vợ chồng trẻ chưa có con. Những nhân vật mới lạ trông bụi đời, mặt mày dữ tợn, nghênh ngang, chạy trốn từ nông trường. Khác với lớp người già nua, mỏi mệt đi từ Hải phòng, sau ba tuần sống vất vưởng, tạm bợ ở Bắc Hải đã hao mòn, hút cạn tinh thần của mọi người. Khác hẳn với người đi thuyền, nhóm chủ thuyền, thủy thủ ăn uống đầy đủ, tối tối còn nhâm nhi rượu bia, nâng cốc chúc mừng nhau ầm ĩ. Vì thế họ bước lên thuyền nét mặt hồ hởi, đầy tự tin hoan hỷ. Khi kiểm tra danh sách tất cả đã lên thuyền, khoảng 3 giờ chiều thuyền nhổ neo rời Bắc Hải.

Nắng chiều yếu ớt dần, buồm thuận gió con thuyền nhẹ nhàng lướt sóng, không biết bao nhiêu mạng người trên thuyền, nhưng ai cũng biết chủ thuyền nhận thêm hơn hai chục người mới từ nông trường chạy trốn. Tuy đã được sửa chữa, hàn gắn những chỗ thủng, rò rỉ, nhưng diện tích thuyền không thay đổi, thêm người, trọng tải cũng thêm. Con thuyền lúc đầu chạy êm ả, sau tròng trành, ì ạch, nghe rõ tiếng cót két, cọt kẹt đều đều như rên rỉ, than vãn vì tải quá sức. Cánh đàn ông bên ngoài loanh quanh trên sạp thuyền, đôi vợ chồng trẻ từ Bắc Hải mới lên chiếm luôn vị trí trên vòm cong của mái thuyền nằm hóng mát, nam giới ngồi, nằm rải rác xung quanh. Bên ngoài đã vậy, bên trong đâu rộng rãi gì, có chỗ ngồi là may mắn. Chợt nghe tiếng kêu:

- Ba ơi! Cứu con!

Tiếng gọi, tiếng kêu cứu ầm ĩ, nhìn thấy thằng bé đang vùng vẫy dưới biển, người cha lao nhanh như mũi tên nhảy xuống chộp được tay đứa con trai, may mắn anh chồng to khỏe, bơi giỏi đã cứu sống đứa con. Sau này nghe chị vợ kể lại, vợ chồng cùng hai con trai từ Lào cai, xuống Hải phòng nộp tiền thuyền như bao gia đình khác, vì thuyền quá chật chội, cộng thêm tính hiếu động con trẻ, thằng bé bất ngờ ngã xuống biển. May mắn con thuyền nặng nề chạy chậm nên kịp cứu vớt đứa bé. Không hiểu do trời Phật phù hộ hay bản năng tất yếu của kẻ lúc khốn cùng nên người nằm bên trên nóc thuyền không ai bị rơi ngã, như có lực gì dính chặt họ vào chỗ ngồi không biết sợ hãi.

Nhà thuyền vẫn cho mọi người ăn ngày bát cháo. Ngồi trong khoang dưới, ẩm thấp, u ám, phảng phất mùi tanh của cá khô, mùi mốc của thực phẩm, pha lẫn các loại mồ hôi người ngồi bên trên, xen lẫn hơi nóng từ nước biển, tiếng ho sù sụ, khạc nhổ, trẻ con mè nheo, kêu khóc, tất cả lùa xuống khoang dưới hai mẹ con Thùy hứng chịu. Một bát cháo cho trẻ con còn không đủ no, Thùy lấy sữa đâu cho con bú? Hai lần trước sinh con sau hai tuần sạch sẽ, lần này trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn trăm bề, máu vẫn ri rỉ không ngừng, ăn uống thiếu thốn khiến người Thùy mỏi mệt, rã rời. Suốt ngày đêm ngồi tựa lưng vào thành thuyền, làm gì có chỗ nằm mà thư với giãn? Ôm con trong lòng nhìn thằng bé ngày càng nhỏ so với lúc chào đời, gầy gò da nhăn nheo, Thùy xót xa lắm. Mấy cậu ‘thủy thủ’ xuống khoang dưới lấy thực phẩm ngó nhìn, lắc đầu ái ngại, thì thầm với nhau:

- Con trai chị Thùy gầy yếu quá, mỏng như tàu lá, thằng bé thiếu sữa. Tội nghiệp hai mẹ con.

Ngày qua ngày, con thuyền vẫn lặng lẽ trên biển khơi, khi nhanh khi chậm phụ thuộc vào chiều gió. Bỗng nhiên thuyền chao đảo, va bởi vật gì. Tiếng quát tháo từ bên ngoài vọng vào trong thuyền, không hiểu họ nói gì, xì xà xì xồ tiếng địa phương. Thuyền ngừng hẳn, hai, ba người đàn ông to lớn bước vào trong thuyền, tay cầm súng AK, mặt đỏ sần sủi trông hung như quỷ dữ. Họ chĩa súng vào mặt từng người, ai nấy run rẩy, ngơ ngác khiếp sợ, co rúm người ngồi im, trẻ con núp sau lưng người lớn, lấm lét nhìn. Mấy bà già miệng lẩm nhẩm làm dấu cầu khấn. Thùy ở khoang dưới, ngồi im ôm con thật chặt từ lúc nghe tiếng quát to của bọn chúng. Chủ thuyền đi cùng mấy thanh niên ra gặp chúng. Họ đưa nhau ra phía đầu thuyền trao đổi, mươi phút sau nhà thuyền thông báo cho mọi người biết:

- Bà con chú ý, sau khi thỏa thuận với bọn cướp biển, họ đồng ý cho thuyền ta đi nhưng phải nộp tiền, vàng, tư trang hiện có. Nếu không… nếu không... chúng ta khó lòng thoát khỏi.

Từng được nghe nhiều vụ cướp xảy ra trên biển của nhiều thuyền đi trước, vì thế ai ai cũng răm rắp làm theo yêu cầu của bọn chúng. Hai ‘thủy thủ’ bắt đầu công việc, chia làm hai hàng theo dọc từ đầu thuyền kèm giấy ghi tên từng gia đình, tên người nộp loại gì: đồng hồ, nhẫn vàng, dây chuyền vàng, khuyên tai, bắt buộc ai cũng phải nộp. Hai bố con Hiền không có gì nộp, tên ‘thủy thủ’ không nghe, gọi Thùy lên khoang, lúc này Thùy mới được phép lên khoang trên. Từ nơi thiếu ánh sáng, trèo hai bực lên khoang trên, đầu Thùy choáng váng, Bình đón thằng bé, cầm tay vợ đưa vào chỗ ngồi. Thùy chưa kịp trấn tĩnh, người thanh niên đã chỉ vào tai Thùy nói ngay:

- Gia đình nộp đôi khuyên tai là đủ.

Không thể chối từ, Thùy phải tháo đôi khuyên tai - hai chỉ vàng - tài sản duy nhất còn lại phòng khi túng thiếu. Nhưng biết làm sao lúc này, tên cướp tay cầm súng đứng nhìn chằm chằm, theo dõi từ khi bắt đầu thu nộp. Ghi tên gia đình Thùy vào giấy, đến người bên cạnh, lần lượt tiếp theo cho đến cuối thuyền, trong khoang, ra bên ngoài. Hai thanh niên cầm hai túi tất cả đồ thu nhận đưa cho chủ thuyền. Họ ra ngoài nói chuyện, vung tay vung chân.

‘Cò kè bớt một thêm hai

Giờ lâu ngã giá, chúng rời, thuyền đi.’

Bọn cướp nhận hai túi đồ vừa cướp được, nghênh ngang bước huỳnh huỵch coi trời bằng vung, còn cố tình ngoảnh lại nhìn lần cuối trước khi nhảy sang thuyền của chúng neo sát bên cạnh. Nghe tiếng máy nổ xình xịch, biết chắc chúng đã đi thật, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm. Bắt đầu xì xào bàn tán, bọn cướp là người nào? Dân đánh cá Trung Quốc hay cảnh sát biển? Ai cũng vậy, đều là cướp biển! Chúng đã cướp của người già, đàn bà trẻ con khi trên người chỉ còn cái khố rách, khốn khổ tận cùng cũng không tha!

Thuyền tiếp tục chạy, sau vụ cướp biển trấn lột, bao ấm ức, xì xào của mọi người cũng nguôi dần. Phần đông chìm vào giấc ngủ, mệt mỏi vì nóng nực, bát cháo một ngày, ai cũng đói, đói quá biết làm gì ngoài ngủ? Mẹ con Thùy phải trở về vị trí ban đầu, ôm con ngồi khoang dưới. Nhìn đứa con gầy nhom, yếu ớt, Thùy không cầm được nước mắt, thằng bé thèm khát sữa nhưng không có, bầu ngực xẹp xuống với lớp da nhăn nheo, miệng cu cậu vẫn mút chùn chụt bầu ngực không sữa, Thùy gắng sức mong muốn truyền cho đứa con bé nhỏ của mình tất cả tình thương yêu từ trái tim của người mẹ, nhưng sức đã cạn, nước mắt tuôn rơi.

‘Giot lệ mẹ rơi giỏ xuống đôi môi

 Con ngỡ sữa mẹ con cười…’

Tội nghiệp cho đứa con trai bé bỏng của mẹ! Thùy nghĩ, lo lắng vô cùng. Bao nhiêu tã lót, vải quấn cho con cũng mất dần. Không có nước sạch, không có xà phòng giặt, Bình ngồi bên cạnh mép thuyền tay cầm đồ bẩn thay ra của hai mẹ con thả xuống nước, những đồ bẩn cuốn trôi theo nước biển. Cũng nhiều khi sơ ý, tuột tay, thế là mất. Ngày qua ngày, chỉ còn vài tã lót cho thằng bé. Nơi hai mẹ con ngồi, nước ở đâu ngấm vào, ngày nhiều hơn, Thùy kêu to:

- Mọi người ơi! Thuyền thủng hay sao có nước… nhiều nước vào lắm…

Lại nhộn nhạo gọi tài công, thủy thủ, thanh niên liên tục xuống kiểm tra, tát nước, nhà thuyền lúc bấy giờ đồng ý cho mẹ con Thùy lên trên khoang ngồi cùng với bố con Hiền.

Thuyền đã sửa chữa ở Bắc Hải, mẹ con Thùy đã làm lễ trừ tà ma, cầu may mắn tốt lành, vậy sao thuyền vẫn bị thủng, nước rò rỉ ngấm vào? Thanh niên, tất cả đàn ông phải thay nhau tát nước. Người lớn run sợ, lo lắng, trẻ con mè nheo vừa đói, vừa khó chịu kêu khóc. Con dâu tài công được ăn uống đầy đủ nên đứa con gái 5, 6 tháng của cô được bú no nê, không một tiếng khóc, nhiều sữa quá chảy ướt ngực áo cô mặc. Từ lúc Thùy lên ngồi ở khoang trên, cô nhìn thấy cảnh mẹ con Thùy gầy gò, đói lả, mủi lòng đón Bắc Hải từ tay Thùy ngỏ ý muốn cho thằng bé bú sữa. Thùy cảm động run run trao con cho cô với tất cả sự tin tưởng và lòng biết ơn sâu sắc. Thằng bé đói khát lâu ngày, hồn nhiên bú chùn chụt, nghe rõ tiếng nuốt ừng ực liên tục. Bắc Hải vừa bú vừa nhoẻn miệng cười với ‘người mẹ mới’ thật vô tư. Mọi người xung quanh ai cũng mừng, vui lây cho cu cậu. Từ đó, ngày ngày Nghĩa - con dâu ông tài công -, lại đón thằng bé từ tay Thùy, cho bú như một người mẹ. Thùy tự nhủ trong lòng không bao giờ quên ân tình này.

Chiếc thuyền như tàu lá mỏng mảnh bập bềnh trôi trên biển rộng dưới nắng hè gay gắt, số phận của những kẻ lạc loài sẽ đi đến đâu. Tiếng kêu to của người bên ngoài:

- Kìa, có một tàu to đang tiến dần đến thuyền mình.

Mọi người đổ xô ra nhìn. Tiếng loa vọng đến, nói tiếng Quảng Đông, Trung Quốc. Người hiểu nghe được truyền lại cho nhau:

- Thuyền đang đi vào lãnh hải Macau... yêu cầu dừng lại…

Không ai sợ hãi, niềm vui bất ngờ đến. Thuyền thủng, nước vẫn vào, biết sẽ ra sao? Chết trên biển hay bị cảnh sát Macau giam giữ? Người thắc mắc, người mừng vui, hỏi nhau… tàu cảnh sát Macau tiến đến bắt dừng lại. Họ kèm sát đưa thuyền đậu cầu tầu. Tiếng chủ thuyền nói với mọi người:

- Cảnh sát Macau yêu cầu chúng ta xuống thuyền lên bờ cho họ kiểm tra, không đem theo bất cứ đồ vật gì.

Có tiếng thì thầm bảo nhau:

- Mình phải ở lại đây?

- Đất này của bọn ăn chơi cờ bạc, khó kiếm việc làm, không hợp với tỵ nạn mình.

- Tôi không ở lại đây đâu! Tôi phải đi đến Hồng Kông.

Xì xào bên tai nhiều ý kiến, nghe không biết thế nào, lên bờ sẽ biết. Gìa trẻ, lớn bé nối tiếp nhau bước xuống thuyền bằng chiếc cầu gỗ to rộng có bậc bước đi dễ dàng. Bên dưới cảnh sát đứng theo dõi, tất cả tay cầm súng, mặc quân phục màu xanh nhạt, đội mũ cùng màu, trông nghiêm trang, lịch sự. Mọi người xếp thành hai hàng, phụ nữ, trẻ em đứng một bên, nam giới một bên. Một cảnh sát tay cầm gậy chỉ vào vai từng người đếm, không ai dám nhìn thẳng vào mắt họ. Lúc này Thùy có dịp nhìn kỹ tất cả mọi khuôn mặt, người nào cũng hốc hác, mệt mỏi, tóc dính bết lại vì lâu ngày không được tắm gội, nhếch nhác, dơ bẩn, mùi hôi tỏa ra xung quanh, xông ra từ người bên cạnh. Nam giới râu ria mọc lởm chởm, trên người không còn gọi là quần áo tử tế nữa, đó là những mảnh vải rách nát đủ che khuất nơi cần thiết của cơ thể. Bé Hiền cũng vậy, mặt mũi nhem nhuốc, co người núp sau lưng Bình, hai má phúng phính đã xẹp xuống để lại khuôn mặt tròn với hai con mắt lấm lét nhìn người cảnh sát. Thùy nhìn sang mấy chị cùng hàng, đâu có khác gì bên nam giới. Cảnh sát nhìn mọi người từ đầu xuống chân với con mắt kinh ngạc, thái độ lạnh lùng như nhìn thấy vật lạ, ghê sợ.

Sau khi kiểm tra đủ số lượng người trong danh sách, cảnh sát dẫn mọi người vào bên trong, lần lượt từng người uống một bát nước màu trắng đục như nước vôi. Không biết đó là gì, nhưng không sợ, ai cũng uống, có lẽ vì khát nước quá. Họ xếp chỗ ở, một dẫy nhà cho nam giới, một dẫy khác cho phụ nữ và các bé gái. Trong nhà kê giường hai tầng, bên trong có buồng tắm, nhà vệ sinh. Đến lúc này ai cũng cười, phấn khởi vì có chỗ ở, có giường nằm, được thoải mái tắm gội, sạch sẽ trút bỏ hết mọi dơ bẩn của những ngày đã qua. Bên khu nhà nam, vang tiếng cười nói vui vẻ, họ được phát thuốc lá hút. Không tin đây là sự thật, họ rút điếu thuốc đầu tiên ra khỏi bao, nhìn kỹ rồi chia nhau mỗi người một điếu đưa lên mũi hít cho bõ cơn thèm bấy lâu nay, châm lửa rít một hơi, nuốt sâu vào phổi, ngửng mặt lên nhả từng vòng khói thuốc xoáy hình tròn bay lên, nhìn nhau cười hả hê, như những đứa trẻ vừa được ăn kẹo. Một chị ở giường bên cạnh đi qua chứng kiến cảnh tượng của nam giới, vào trong nhà, chị ta cười nói với mẹ con Thùy:

- Hiền không sang nhà bên xem bố cháu đang cười khi được hút thuốc lá.

Thùy bảo:

- Nghe nhà bên cười to, em không biết có chuyện gì? Chị kia tiếp tục:

- Bao nhiêu ngày phải nhịn hút, vật vã khổ sở, nên các ông ấy vui mừng quá, y như ‘lũ mọi từ rừng ra thành phố’, thật tội nghiệp.

Đúng vậy, thiếu ăn, đói khát, lênh đênh trên biển, nay có nhà ở, giường nằm tử tế, ăn ngày hai bữa có rau, có thịt, no nê. Thùy cũng vậy, được ăn ngon đầy đủ, hai bầu sữa căng tròn. Thằng Bắc Hải thoải mái bú sữa mẹ, không phải xin bú nhờ cô Nghĩa, cu cậu bú no, ngủ ngoan đánh một giấc dài, không hề khóc. Mấy cậu thanh niên bây giờ mới thú thật với Thùy:

- Chị Thùy có biết không? Xin lỗi chị, khi ở trên thuyền chúng em đã nghĩ không biết thằng bé có qua nổi không? Vì khi đó nhìn cu cậu nằm bẹp như tàu lá héo.

Thùy làm sao quên được những giờ phút cho con bú, sữa không về, không có nổi một bên, nhìn miệng con tóp tép mút chút da khô héo cạn sạch không còn sữa, đã bao nhiêu lần Thùy khóc thầm. Ở Macau mấy bà, mấy chị muốn đun nước sôi uống, đi gặp cảnh sát hỏi ấm đun nước. Người cảnh sát chạc ngoài hai mươi, cười trả lời:

- Mọi người muốn uống nước có thể uống trực tiếp từ vòi nước lạnh, nước đã được khử trùng, đảm bảo vệ sinh sạch sẽ.

Ai cũng nhìn nhau ngạc nhiên, một điều lạ đến đây mới được biết.

Một tuần ở Macau, thời gian này như một giấc mơ chợt đến, chợt đi. Cảnh sát Macau báo thuyền phải tiếp tục đi Hồng Kông, nơi có trại ty nạn do Liên hiệp quốc tổ chức, đón nhận thuyền nhân. Tất cả chia ra thành hai thuyền khác nhau:

Một bên toàn phụ nữ và con nhỏ cùng các cháu gái.

Nhóm người này lên tàu cảnh sát, cao rộng lớn.

Một bên gồm nam giới, các bé trai lên thuyền của Phượng.

Mọi người hoang mang, chưa biết tại sao lại tách ra như vậy. Khi cảnh sát dẫn phụ nữ và bé gái đi trước, nam giới đứng yên phía sau. Nhiều cháu khóc đòi bố đi cùng, Bình cũng bị giữ lại trong nhóm nam giới. Thùy bế con, Hiền túm áo mẹ ngoái đầu lại gọi: “Bố ơi! Bố ơi!” vừa đi theo mẹ vừa khóc. Các bà vợ lo lắng thì thầm:

- Họ đưa các ông ấy đi đâu nhỉ?

- Hay đàn ông bị bắt đi đâu? Sao không được đi cùng gia đình?

Ai cũng sợ hãi, nghĩ đây là cuộc ly tán, bên vợ nhìn bên chồng phải ở lại, mắt cay cay, lưu luyến trong lo lắng. Cảnh sát cho phụ nữ lên con tàu to, truyền nhau bế nhắc các bé gái vào trong. Các bà mẹ nhìn xuống dưới thấy hai cảnh sát đang yêu cầu nhóm nam giới đến thuyền của Phượng. Cánh đàn ông bước lên thuyền, vậy cuộc chia ly từ đây hay sao? Trẻ con gào khóc kêu gọi bố, các bà vợ sụt sùi.

Họ buộc dây kéo nối thuyền Phượng vào sau tàu to. Một giờ sau, con tầu chở phụ nữ trẻ em nhổ neo rời Macau, kéo theo chiếc thuyền của Phượng chở nam giới, nhằm hướng Hồng Kông. Đến lúc này, nhìn thấy thuyền mình đang theo sát phía sau, ai nấy thở phào nhẹ nhõm, yên tâm. Được ngồi trên con tàu rộng rãi to lớn, không tròng trành, lướt sóng lao nhanh trên biển, thoải mái ung dung, nghĩ lại thời gian ngồi trong khoang dưới của thuyền vừa qua, Thùy rùng mình ghê sợ. Mọi người ngồi, nằm thoải mái, ngủ ngon, ngày được phát cơm ăn hai lần, ăn xong lại ngủ, có nơi đi vệ sinh sạch sẽ.

Cách Hồng Kông không xa đã nhìn thấy ánh đèn màu nê-ông rực sáng. Tàu ngừng lại, cắt dây kéo, tất cả phụ nữ trẻ em trên tàu chuyển sang chiếc thuyền của Phượng, trở về chiếc thuyền cũ như trước. Con tầu to lớn quay đầu hướng về Macau. Chiếc thuyền nhỏ bé tiếp tục chạy, đã nhìn thấy Hồng Kông nên mọi người lạc quan, hy vọng nhiều hơn.

Đang mơ màng nửa tỉnh nửa mê, một người bên ngoài kêu to:

- Đến Hồng Kông rồi! Mình sống rồi, đến nơi rồi…

- Dậy đi, thức dậy đi! Ra mà nhìn, sống thật rồi!

Không có vui nào vui hơn lúc này, mọi người đi ra ngoài nhìn. trước mặt những tòa nhà cao ngất rực sáng ánh đèn màu lấp lánh, nhảy múa. Nhiều người vui quá nhảy lên như trẻ con, nét mặt tươi tỉnh, rạng rỡ, có người lấy tay gạt nước mắt, những giọt nước mắt sung sướng, cảm động. Hòn Ngọc của thế giới, trước mắt mình hay sao? Thùy chưa tin vào sự thật, cái tên chỉ được đọc trong sách vở. Thùy ôm chặt con vào lòng, Bình bế Hiền lên chỉ chỉ chỏ chỏ cười nói với con. Gia đình Thùy đã sống, đến được Hồng Kông bình yên cùng mọi người.

 

Tác giả Vietnamthuquan.eu - NXB: Nhân Ảnh 2025
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.