Thùy

Lượt đọc: 544 | 2 Đánh giá: 9,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Hà Nội

❊ ❊ ❊

Một ngày giữa tháng 4 năm 1979 …

Xe vẫn bon bon trên đường, những dẫy nhà hai bên phố vùn vụt lướt nhanh phía sau, qua thị xã thân quen từ lâu mà sao người Thùy cảm thấy tê cứng, lặng yên không nhúc nhích. Cảm giác hẫng hụt như vừa đánh mất thứ gì quý giá nuối tiếc, ngẩn ngơ. Bé Hiền ngủ say trong lòng Bình, thỉnh thoảng nhìn sang vợ, không yên tâm lo cho sức khỏe của Thùy và đứa con trong bụng. Bình nói với vợ:

-Em tranh thủ chợp mắt đi kẻo mệt, gần đến Hà Nội anh gọi.

- Thùy nhắm mắt trong vô thức. Bao nhiêu hình ảnh, sự việc mấy ngày qua hiện rõ như những thước phim quay chậm trong đầu. Thùy phải bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, phải rời xa cha, anh em ruột thịt, ra đi mà không biết sẽ đi đến đâu, về đâu? Điều gì sẽ xảy ra ở phía trước? Những suy nghĩ xáo trộn, miên man Thùy thiếp vào giấc ngủ chập chờn trong tiếng động cơ xe ô tô chạy đều đều trên con đường vắng buổi sớm mai. Trên xe người ngả đầu mắt nhắm lại, nửa thức nửa ngủ, người há hốc mồm ngáy, say sưa thật vô tư, tay khư khư ôm chặt túi đồ. Hai bố con Hiền ngủ gà ngủ gật, người lái xe nhấn chân phanh từ từ lượn vòng đưa xe vào bến, rồi đạp mạnh, xe dừng hẳn. Tài xế thở phào kết thúc chặng đường dài tập trung căng thẳng, hết giờ làm được về với vợ con. Thùy giật mình tỉnh giấc, vì xe phanh gấp, đánh thức tất cả hành khách. Tiếng phụ xe nói to:

- Xe đến bến Kim Liên, đến Hà Nội rồi. Mời bà con lấy đồ đạc xuống xe.

Trong xe trở nên nhộn nhạo, mất trật tự. Ai cũng muốn xuống trước, xô đẩy, tranh giành lối đi, bước qua mặt nhau. Giây thần kinh xấu hổ bị tắc nghẽn, khi thói quen tật xấu đã thành nếp sống của người Việt nơi công cộng. Thùy mang thai bụng to vượt mặt, bé Hiền ngồi bên cạnh, một bà hơn ba mươi lăm tuổi vẫn cố tình đẩy Thùy sang bên, đưa cái chân như chân voi định trèo qua, tay cầm cái túi to đập cả vào đầu Thùy. Bình đứng bật dậy, tay gạt người đàn bà, miệng quát:

- Này bà kia, không có mắt à?

Người đàn bà vẫn tiếp tục leo qua, miệng lẩm bẩm:

- Làm ơn, làm ơn…

Thùy không muốn xảy ra xô xát to chuyện, né tránh cho bà ta bước qua. Bình bế Hiền xuống theo, một tay đỡ Thùy từ từ đặt chân vào bậc cửa xe bước xuống đường. Ba người đứng yên ngây người ra nhìn quang cảnh lộn xộn, tấp nập xung quanh. Thùy nhắc chồng:

- Nhà cô Đức ở xa không anh?

Bình nhìn xung quanh, miệng trả lời:

- Cũng không xa lắm, nhưng không thể đi bộ được, anh gọi xích lô đi cho tiện.

Không phải tìm đâu xa, ở bến xe, ga tàu nơi kiếm ăn của người đạp xích lô, lượn lờ suốt ngày như giăng lưới. Khách từ trên xe xuống, các chủ xe đã tranh nhau chào mời, lôi kéo đến bực mình. Nhìn thấy vợ chồng Thùy và con nhỏ, một xích lô đạp nhanh đến mời:

- Hai bác đi về đâu, lên xe em bác ơi? Xe em đệm mới, ngồi êm thoải mái.

Bình hỏi:

- Đến Hàng Bài bao nhiêu tiền? Hai người lớn, một trẻ nhỏ. Hành lý một bao tải, một va-li xách tay.

 - Xin bác cho ba đồng.

- Đắt thế. Có một đoạn đường thôi mà.

- Bác gái bụng to em phải đạp cẩn thận chứ. Vậy em xin bác hai đồng rưỡi được không?

- Thôi được. Giữ xe cẩn thận, tôi đưa nhà tôi lên trước.

Người đạp xích lô biết không thể bịp được nên đành xuống giá. Bình dìu vợ bước lên trước, bế Hiền lên sau, xích lô đặt bao tải ngang sàn xe, va-li con để dưới chân. Xong xuôi anh ta nhanh nhẹn nói:

- Các bác xong chưa? Em bắt đầu đi nhé!

Chiếc xích lô từ từ rời bến xe hòa nhập vào dòng người xe đạp trên đường phố tấp nập đi làm. Tiếng chuông xe đạp, xe xích lô, tiếng rao bán quà sáng của các bà, các cô vang lanh lảnh, náo nhiệt thủ đô:

- Ai bánh khúc, bánh dày đỗ đây!

- Ai xôi bắp, xôi lạc, xôi vò thơm ngon, nóng dẻo đây!

- Ai bánh mỳ nóng ròn đây...ây...!

Thùy quay đầu ra phía sau nhìn người xích lô:

- Anh tài ơi, làm ơn dừng xe giúp tôi một chút.

Nhìn sang bên vỉa hè, mấy chị bán xôi đang rao chào mời ríu rít. Thùy vẫy tay gọi một chị:

- Chị ơi, cho tôi mua ba gói xôi đậu xanh.

Thùy móc túi trả tiền, Bình cầm ba gói xôi, đưa cho Hiền trước, rồi đưa cho Thùy. Xích lô tiếp tục đạp, bé Hiền tay cầm xôi, nhưng mắt vẫn nghiêng ngó nhìn khắp nơi, như con chim nhỏ bay lạc vào trong thành phố rộng mênh mông. Người đi bộ, kẻ gồng gánh, bê vác bao tải hàng tấp nập đông vui, đủ các âm thanh pha lẫn vào nhau. Bé Hiền lần đầu đến Hà Nội thấy nhiều điều khác lạ so với quê nhà. Nhìn thấy tàu điện chạy ngang không có tiếng máy ầm ầm nổ, Hiền ngạc nhiên chăm chăm nhìn theo. Tàu đi đến chỗ đông, người lái giật dây chuông rung lên kêu leng keng, báo cho mọi người chú ý có tàu đang đến. Tiếng leng keng tầu điện khuấy động đường phố thêm ồn ào náo nhiệt, Hiền thích lắm cười khanh khách. Thùy âu yếm nhìn con mỉm cười, bất giác nhớ lại mấy năm Thùy học ở Hà Nội, hàng tháng sau khi lĩnh tiền Thùy và các bạn cùng lớp rủ nhau ra chợ Đồng Xuân ăn bún chả, bún ốc, lâu dần thành nghiện. Cũng có lần thách đố nhau nhảy tàu điện trốn vé. Thùy chạy phía sau bám lên thành cửa xe nhảy lên, phải thật nhanh và đúng lúc, không nhanh sẽ bị hụt. Tàu chạy được một đoạn lại thi nhau nhảy xuống, ai lên trước xuống trước là thắng cuộc. Lần đó Thùy được một bữa bún chả miễn phí. Kỳ niệm nghịch ngợm ấy Thùy vẫn nhớ, tự cười khi nghĩ đến khoảng khắc đẹp của thời sinh viên nghèo.

Hiền vẫn chăm chú nhìn tàu điện chạy, chỉ tay về đường ray phía trước nói với mẹ:

- Mẹ ơi, nhìn hai con rắn đen đen cũng chạy đuổi theo tàu điện kia mẹ.

Thùy hỏi con:

- Rắn nào? Ở đâu con? Hiền cười trêu mẹ:

- Đó, hai con rắn đó.

- Con yêu của mẹ ơi, cũng khéo nghĩ quá. Hai đường ray bằng sắt giúp cho tàu điện chạy, không trật bánh xe ra ngoài.

Hiền ngượng nghịu:

- Thì trông cũng giống con rắn mà mẹ.

Bánh xe tàu điện bám chạy trên hai đường ray như hai con rắn đen ngoằn nghèo lượn vòng theo con đường đến ga tầu điện sát bờ Hồ Gươm.

Hiền thích thú gọi mẹ:

- Mẹ ơi! Nhìn kìa, có cái nhà be bé ở giữa hồ mẹ ơi!

Có người ở bên trong không mẹ?

Thùy nhìn con, cười:

- Tháp Rùa đấy, không phải nhà, không có người ở, chỉ có bàn thờ con ạ.

Hiền lại kêu:

- Mẹ ơi! Trông kìa, có cái cầu màu đỏ ở đằng kia, đẹp hơn cầu đi về nhà ông ngoại. Cầu gì đấy mẹ?

- Cầu Thê Húc, bằng gỗ, sơn màu đỏ, con nhìn cầu giống con gì nào?

Hiền nheo mắt, nghĩ một lát, bảo:

- Con thấy giống con Rồng đỏ trong truyện cổ tích, rồng đang nằm ngủ.

Thùy xoa xoa đầu con:

- Ôi, con gái tôi như họa sĩ rồi. Nhiều người ví cầu Thê Húc như ‘dải lụa mềm’ màu đỏ vắt ngang góc Hồ Gươm con ạ.

- Con muốn đến cầu Thê Húc chơi. Mẹ đã đến cầu đó chưa?

- Mẹ đến rồi, khi khác mẹ cho con đi lên cầu, bây giờ mình phải đến nhà cô Đức trước.

Thùy nhìn về hướng cầu Thê Húc. Hồ Gươm sáng đầu hè thật bình yên, phẳng lặng, một lớp sương mỏng mờ mờ vẫn còn phủ trên mặt hồ. Hàng liễu mềm mại uyển chuyển, nghiêng mình hai bên bờ soi bóng. Cầu Thê Húc màu đỏ son nối bờ Hồ ra hòn đảo nhỏ xinh xắn, nơi có đền Ngọc Sơn trầm lặng, linh thiêng. Thuở học ở Hà Nội, sắp đến kỳ thi học kỳ, thỉnh thoảng Thùy cùng các chị lớn tuổi trong lớp đến đền Ngọc Sơn cầu may mắn. Nửa tin nửa ngờ, nhưng đi cũng để được ngắm nhìn cảnh đẹp thiên nhiên dịu dàng, tĩnh lặng. Đến tòa nhà tọa lạc tại Đảo Ngọc nằm giữa lòng Hồ Lục Thủy (tên ngày xưa của Hồ Hoàn Kiếm), màu xanh lá cây, màu rêu dong của nước hồ hòa quện bên sắc đỏ của cây cầu, tạo nên vẻ đẹp huyền bí, thơ mộng. Thủy chợt nghĩ: “ngắm nhìn màu xanh Hồ Hoàn Kiếm hôm nay, ngày mai ta lại đi vào thế giới màu xanh của biển… dắt dẫn đi về đâu, chân trời nào?” Thùy miên man ngập chìm trong ký ức và suy nghĩ.

Xích lô vẫn đạp đều dọc bờ hồ. Lác đác vài người tập thể dục, đi bộ, ven bờ hồ có vài quán trà người ngồi cạnh cái bàn nhỏ với mấy chiếc ghế con hợp với những ai thích nhâm nhi chén trà buổi sớm và rít vài hơi thuốc lào thay quà sáng. Vừa nhấp ngụm nước trà mạn nóng, cảm nhận cái vị chan chát đầu lưỡi rồi từ từ thấm dần vị ngọt dịu đưa xuống cổ họng, rít một điếu thuốc lào, tiếng kêu từ lõ điếu nghe ròn tan, ngửng mặt lên trời, nhả làn khói xanh vào không gian, mơ màng, rồi cúi xuống ngắm nhìn mặt nước hồ lặng lẽ, bình thản trước mặt. Hình như họ đang nhớ về quá khứ huy hoàng, vui vẻ, về một nơi xa lắm, quên đi hiện tại cuộc sống khó khăn, bon chen, phức tạp, không nói, thầm lặng mà cảm thấy khoan khoái, dễ chịu hơn ngồi một mình ở nhà. Thùy lại liên tưởng đến bố, nếu sống ở gần, chắc bố cũng sẽ thích ngồi uống trà bên bờ hồ cùng với mấy ông bạn già, không phải lẻ loi một mình thưởng trà mỗi sáng.

Hòa vào dòng người, xích lô chạy bám theo đường phố đông vui, phía trước là cửa hàng Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền, chiếm vị trí rộng, lượn vòng ngã tư đầu phố. Xích lô chạy từ từ, bé Hiền không dời mắt khỏi những hình người gỗ mặc bộ đồ vét sang trọng, cô thiếu nữ xinh đẹp lộng lẫy trong tà áo dài tha thướt, bé gái mặc váy hoa màu đứng sát cửa ra vào. Sau quầy hàng, trong tủ kính bầy nhiều mặt hàng mẫu: những xúc vải màu sặc sỡ khác nhau, đồ dùng gia đình, đèn điện sáng trưng.

Hiền hỏi mẹ:

- Mẹ ơi! Của hàng to lớn, đẹp quá mẹ nhỉ. Chắc bên trong nhiều quần áo đẹp bán, nhiều búp bê đẹp nữa. Mẹ vào trong đó chưa mẹ?

- Mẹ vào vài lần, ngày học ở Hà Nội mẹ nghèo lắm, ăn còn không đủ nói gì mua quần áo đẹp. Cửa hàng này dành cho người có tem phiếu Hà Nội con ạ.

Nghe mẹ nói vậy, bé Hiền tiu nghỉu, hết hào hứng. Thùy nhớ lại cách đây hơn mười năm, thuở còn trẻ mới đi làm, Thùy cũng được theo anh Minh xuống Hà Nội mua sách, đông như kiến, người và xe chen nhau, ngoài cửa hàng sách trung tâm Tràng Tiền còn có nhiều hiệu sách nhỏ trong các quận, các phố, thật vất vả tìm, chọn mua sách đem về thư viện của trường. Ghé vào cửa hàng bách hóa tổng hợp ngắm nhìn, tò mò chứ không dám nghĩ gì mua sắm, quá xa lạ, một khoảng cách vô hình ngăn cách giữa người thủ đô và người dân tỉnh lẻ. Thời gian học ở Hà Nội cũng vậy, vừa bận học, vừa nghèo, nghĩ lại Thùy tự cười thầm, nhớ một chuyện xảy ra mấy năm trước ở cửa hàng Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền này.

Ngày đó Thùy cùng đoàn Ty Văn hóa được cử về Hà Nội công tác, giờ nghỉ trưa rủ nhau vào Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền làm khách ngó, lượn ngắm giải trí mắt, tiêu khiển thời gian. Hai anh bạn trong nhóm kéo nhau ra một góc thì thì thầm thầm, gật đầu cười, nhất trí một việc gì bí ẩn? Anh Vinh, dân tộc Mường, tay chơi guitar giỏi kiêm ca sĩ trong đoàn văn công của tỉnh, lấy chiếc khăn quàng cổ màu chàm quấn lên đầu, kéo ống tay áo thêu màu sắc hoa văn xuống, nhìn biết ngay người tỉnh lẻ. Vinh và Thắng ngó ngó nghiêng nghiêng nhìn các mặt hàng trong tủ kính. Cô nhân viên cửa hàng để ý nhìn, theo dõi người thanh niên nét mặt ngây ngô, thật thà, đầu quấn khăn thổ cẩm chăm chú nhìn vào tủ kính, sau đó đứng trước mặt cô nhìn chằm chằm không nói gì, hễ cô đi đâu Vinh bám sát theo, rẽ trái, rẽ phải cũng theo. Cô ta đứng lại, Vinh cũng đứng, như cái đuôi. Cứ như vậy khiến cô bực mình khó chịu, quay lại hỏi:

- Anh này hay nhỉ, sao cứ đi theo tôi?

Vinh ngớ người, mặt ngây tán tàn, như không hiểu, vẫy tay gọi Thắng có ý hỏi, hai người nói xí xố xị xộ với nhau bằng ngôn ngữ dân tộc. Thắng cười giải thích với cô:

- Xin lỗi chị! Anh ấy không biết nói, không biết nghe tiếng phổ thông đâu?

Cô nhân viên hỏi Thắng:

- Vậy anh ta người gì, ở đâu?

- Ở mãi Hà Giang trên đỉnh núi đá tai mèo, hôm nay được xuống tham quan Hà Nội lần đầu đấy.

Cô nhân viên vui vẻ giới thiệu, nhìn Vinh:

- Vậy anh thích và muốn mua món hàng nào?

Thắng xí xố hỏi, Vinh gật gù chỉ chỏ vào trong quầy tủ. Cô gái nhìn theo hướng tay Vinh, cô chỉ vào bánh xà phòng thơm, hỏi:

- Cái này?

Vinh lắc đầu, Thắng bảo không phải.

Cô gái chỉ vào miếng vải hoa:

- Hay cái này, may áo cho người yêu?

Vinh cũng lắc đầu. Cô giới thiệu, chỉ vào từng thứ trong quầy. Vẫn chưa đúng ý Vinh.

- Vậy cuối cùng anh muốn mua gì?

Thắng lại xí xố xì xộ tràng giang, sau đó nói với cô bán hàng:

- Anh ta thấy cái hộp kia đẹp có hình Điện biên phủ hỏi có mua được không?

Cô nhân viên cười:

-Có thế mà không bảo, cứ nhìn chằm chằm, đi đâu theo đấy, ngượng cả người. Anh hỏi anh ấy muốn mua cái gì.

-Anh ấy muốn mua thuốc lá Điện Biên. Cô nhân viên trả lời dứt khoát:

-Không được, phải có tem phiếu Hà Nội và giấy giới thiệu đặc biệt mới được mua thuốc lá Điện Biên.

-Vậy thì thôi, anh ấy là người dân tộc rẻo cao, nhìn thấy thích muốn mua thôi. Anh ta đâu có nghiện thuốc lá, hút thuốc phiện nhà trồng ấy chứ.

Thắng lại xí xố, rồi đi chỗ khác xem nồi niêu xoong chảo. Vinh không nói gì, vẫn cứ đứng trước mặt và nhìn chằm chằm, khó chịu quá, cô bán hàng gọi:

- Anh gì ơi, giúp tôi một tí được không? Thắng quay lại quầy hàng, cô nhân viên bảo:

- Thôi, ‘đất không chịu giời, giời chịu đất vậy.’ Tôi đồng ý bán cho anh ta một bao, xong rồi đi chỗ khác, không đứng trước mặt tôi nữa, khó chịu lắm.

Lại xí xố xị xộ, Vinh gật đầu. Cô bán hàng lấy một bao thuốc lá Điện Biên đưa cho, Vinh lắc đầu chỉ bao bên cạnh.

- Không được, Điện Biên bao bạc thuộc hàng phân phối cao cấp.

Thắng lại xí xố, Vinh vẫn cứ chỉ vào bao thuốc bao bạc, bực mình vì ‘ông Mưỡng’ này, cô đành lấy bao Điện Biên bao bạc đưa, Vinh lắc đầu, giơ hai ngón tay.

- Không được, một bao quá ưu tiên rồi. Vinh xí xố với Thắng, Thắng nói:

- Không, anh ấy muốn mua hai bao. Anh ấy bảo nó đẹp mua về để chơi thôi, tặng cho vợ nữa. Người thiểu số quý vợ lắm, đi đâu mua gì cũng phải có phần vợ.

Chắc không chiều anh chàng này, nó ám suốt buổi còn bán hàng gì được nữa.

- Thôi được, hai bao thuốc đây, đồng mốt hai bao.

Vinh móc túi lấy ra một nắm tiền đặt lên bàn cho cô tự đếm. Cầm hai bao thuốc lá trong tay, đút vào túi dệt thổ cẩm cẩn thận, cười sung sướng, trước khi ra khỏi cửa, Vinh móc túi dệt thổ cẩm lấy ra một bao thuốc đưa cho Thắng, quay đầu chào bằng tiếng phổ thông:

- Cảm ơn chị bán hàng nhé.

Hai chàng trai lừa cô bán hàng Tràng Tiền với vở kịch câm có một không hai. Chứng kiến cuộc mua bán của bọn họ muốn phì cười mà phải kìm nén trong bụng. Mấy cô nhân viên bán hàng chắc vẫn còn đang cười vì nghĩ hôm nay gặp anh chàng dân tộc cù lần, ngốc nghếch! Khi đã ra bên ngoài phố, đều phá lên cười, Vinh và Thắng ôm nhau cười khoái trí, thành công xuất sắc vở hài kịch tự biên tự diễn, chuyện đã lâu lắm rồi nghĩ lại quá khứ vẫn không nhịn được cười. Ngập chìm trong ký ức thời trẻ, chợt tiếng gọi của Bình cắt đứt dòng suy tư của Thùy:

- Đến nhà cô Đức rồi em ơi!

Thùy giật mình, trở lại thực tại. Xích lô dừng lại ở giữa phố Hàng Bài, đường phố to rộng, hai bên phố dẫy nhà hai tầng xây giống nhau, quét vôi màu vàng. Bình xuống xích lô, lấy túi vải, va-li để xuống vỉa hè, bế bé Hiền đặt đứng bên cạnh túi, đỡ vợ bước xuống. Nhà mặt phố hầu hết đều kinh doanh nho nhỏ, bán nước giải khát, quán nước trà, quầy tạp hóa... bầy chiếm cả một phần vỉa hè để mưu sinh, người trong nhà nhìn ra đường phố vẻ mặt thờ ơ, lãnh đạm. Thùy nhìn xung quanh thấy ớn lạnh, cảm giác ghê sợ cuộc sống đô thị. Bình đưa vợ con đến trước căn nhà cửa sơn màu nâu đã xỉn, nửa khép nửa hở, gõ cửa, gọi:

- Có ai ở nhà không?

Một cái đầu thò ra, vẻ mặt mệt mỏi, giọng ngái ngủ:

- Anh chị xuống rồi à? Vào nhà đi.

Bước vào trong nhà nghe có tiếng loạt soạt, nhìn kỹ thấy người em rể đang thu dọn, đóng gói đồ, vẻ bận rộn, ngẩng lên gật đầu chào, nói câu xã giao:

- Chào anh chị! Anh chị mới xuống?

Trong nhà ngổn ngang túi đen, túi xách tay, không có bàn ghế, giường tủ, Thùy không biết đứng ngồi như thế nào. Thấy đứng mãi không tiện và đang mệt mỏi, Thùy lên tiếng:

- Chúng tôi vừa đi xe xuống, rẽ vào thăm cô chú và hỏi xem tình hình thuyền bè thế nào?

Đến lúc này cô em chồng mới nói:

- Chắc anh chị phải xuống Hải Phòng ngay, sợ thuyền lấy đủ khách, họ sẽ nhổ neo sớm. Anh chị đi trước, chúng em còn chờ giải quyết xong nhà cửa, nếu không kịp bọn em đi thuyền sau.

Thấy thái độ vợ chồng cô em chồng lạnh nhạt, không muốn nán lại phút nào nữa, Thùy quay sang chồng, nói ngay:

- Cô chú ấy đang bận, mình ra ga đi tàu về Hải phòng thôi anh.

Từ lúc vào nhà, Bình đứng yên một chỗ quan sát, không lên tiếng, nghe vợ nói thế đồng ý ngay, dắt con đi thẳng ra cửa. Đức theo sau không nói câu nào, khi ba người đã bước ra ngoài, Đức vừa nói với theo vừa đóng sập cửa:

- Anh cố gắng đi ngay cho kịp tàu trưa.

Bé Hiền mệt mỏi và buồn ngủ, mặt buồn buồn. Nhìn nét mặt con, Thùy thương vô cùng. Cứ nghĩ vào nhà cô em chồng sẽ được nghỉ ngơi một chút sau chuyến đi gần 100 cây số, được ăn uống và tham gia bàn bạc chuyện thuyền bè đi như thế nào. Thùy vừa đói vừa khát, cái bụng càng thêm nặng nề, vướng víu, khó chịu nhưng phải cố gắng vừa đi vừa nhìn, tìm xích lô. Bình vẫn im lặng đi bên cạnh, không biết có phải cảm thấy xấu hổ thay cho cô em đối xử lạnh nhạt như người dưng nước lã với chị dâu hay không, nên chầm chậm bước bên cạnh bé Hiền đầu cúi xuống. Chính lúc này Thùy càng nhớ lời nhắc nhở của bố:

- Con ơi, dù bất cứ đi đâu, ở đâu cũng phải nghĩ thương bản thân trước. Không ai thương mình bằng chính bản thân mình đâu con ạ.

Thùy nhớ bố vô cùng, lại nghĩ giá như có em trai đi cùng tốt biết bao. Tiếng chuông xe xích lô trên đường kêu leng keng, Bình vẫy tay, xe xích lô dừng ngay sát vỉa hè:

- Các bác đi về đâu?

- Ga Hàng Cỏ, bao nhiêu?

- Xin bác hai đồng.

Bình gật đầu đồng ý, người xích lô đẩy xe ghé sát sàn xe vào chỗ Thùy đứng, chờ Bình đỡ Thùy lên xe và sắp xếp đồ đạc. Thùy ngạc nhiên sao chồng mình không mặc cả, dễ tính thế? Phải chăng muốn thoát khỏi ngôi nhà không thân thiện càng nhanh càng tốt? Người xích lô trẻ tuổi, xe chạy băng băng, chả mấy chốc xe qua Cửa Nam rẽ sang ga Hàng Cỏ. Bên ngoài nhà ga đã thấy khung cảnh náo nhiệt, hỗn độn, giữa đường hai đoàn tàu điện đang đỗ tránh nhau. Xe xích lô dừng lại, Bình xuống trước, bế bé Hiền xuống, lấy túi và va-li đặt xuống bên cạnh, quay lại đỡ Thùy từ từ bước khỏi xe. Trả tiền xích lô, Thùy nói với chồng:

- Mình tìm xem có quán nước, em khát lắm rồi, chắc anh và con cũng vậy.

Nhà ga Hàng Cỏ do người Pháp xây, khánh thành năm 1902. Chính phủ Pháp xây dựng công trình này nhằm kiến thiết cơ sở hạ tầng ở Đông Dương, phục vụ ý đồ khai thác thuộc địa, năm 1975 chính phủ đổi tên thành ga Hà nội. Nhà ga là tòa nhà hai tầng to, rộng, hoành tráng. Giữa tòa nhà ghi chữ Ga Hà Nội trong khung xi măng, bên trên là chiếc đồng hồ tròn to, đường kính hơn 1 mét cho hành khách xem giờ. Thùy ngước nhìn đồng hồ chỉ 11.32 phút. Xung quanh trước nhà ga tấp nập người đi lại, xe máy, xe đạp, xe xích lô chở hàng, xe ô tô tải … đủ các loại xe chen lấn nhau. Người giàu xúng xính quần áo sang trọng, lịch sự xách va-li căng phồng, người làm thuê ăn mặc lôi thôi, quần áo cũ bạc màu bê vác hàng thuê. Người gồng gánh thúng mủng, lồng gà, vịt, lợn chuẩn bị lên tầu, thỉnh thoảng người ăn xin quần áo rách tả tơi, nhem nhuốc chìa chiếc nón mê, miệng luôn cầu xin “ông đi qua bà đi lại bố thí cho kẻ hèn này dăm xu một hào” tạo nên cảnh hỗn độn, náo nhiệt sôi động không lúc nào ngừng.

Nhìn thấy hàng nước ở góc bên phải sân nhà ga, Thùy dắt bé Hiền, Bình vác túi vải, xách va-li đi lại quán. Bà hàng nước cười niềm nở, tay quạt liên tục mồ hôi vẫn chảy ròng ròng trên mặt:

- Mấy bác chắc từ xa về, muốn đi tàu à? Trông bác gái mệt mỏi quá, gần đến ngày sinh chưa bác?

Thùy gượng cười, nói:

- Vâng, chúng em đi Hải Phòng về quê ngoại để sinh em bé.

Bà hàng nước nhìn thông cảm, gợi ý:

- Xếp hàng mua vé lâu đấy, mua của bọn con phe sẽ nhanh, giá vé lại rẻ.

Bình đáp lời:

- Vâng, cảm ơn bác. Bác cho em mấy cốc nước chè tươi và mấy bánh mỳ kẹp thịt.

Thùy nhớ ra hỏi:

- Bác cho em mua thêm nước chè xanh hay nước đun sôi để nguội, em cho vào bình toong đem theo uống dọc

đường.

- Có ngay, có ngay đây.

Thùy đưa bình toong cho bà rót vào, hỏi:

- Quanh đây có hàng phở không bác?

 -Có đấy, bên kia đường có hai, ba cửa hàng, nhưng đắt lắm.

Thùy cầm bình nước, trả tiền quay sang hỏi Hiền:

-Con gái, con muốn ăn bánh mỳ hay tý nữa đi ăn phở?

Bé Hiền khe khẽ bảo:

- Mẹ ơi con buồn đi tiểu.

Thùy vuốt tóc Hiền thấy trán con ướt đẫm mồ hôi, xót xa thương con vô cùng, từ sáng đến giờ Hiền không kêu than một lời, ngoan ngoãn đi theo bố mẹ, Thùy an ủi con, cũng như tự an ủi mình:

- Con ngoan của mẹ, mẹ biết con mệt và buồn ngủ, phải không? Chịu khó một chút con nhé. Đi vào trong nhà ga, mẹ cho con đi tiểu, lau mặt cho mát, chờ bố xếp hàng mua vé tàu.

Nói rồi, Thùy chào bà hàng nước, đứng dậy dắt Hiền đi vào trong nhà ga. Bình vác túi, cầm va-li đi theo vợ con. Nơi bán vé có ba ô cửa, nhiều người đang đứng xếp hàng trước quầy, Bình đứng vào hàng xếp nốt, trong khi mẹ con Thùy đi vệ sinh. Nhà vệ sinh có nhiều ngăn, may quá bên phụ nữ chỉ có vài người bên trong. Một lúc sau Thùy và bé Hiền đi ra thấy Bình đứng gần đến ô cửa bán vé, cách năm, sáu người đến lượt. Thùy nhìn quanh tìm chỗ ngồi, phòng chờ nhà ga có mấy dẫy ghế gỗ dài, lưng tựa vào nhau. Trên ghế người ngủ ngồi, người nằm gối đầu lên túi, dưới nền nhà cũng nhiều người ngồi bệt xuống sàn, nằm ngang, nằm dọc, vất vưởng. Ngay sát góc tường một chị ngồi bệt cho con bú, bên cạnh một cháu đang hờn khóc inh ỏi, xen lẫn tiếng trò chuyện, cười nói của mấy người đàn ông. Thùy đảo mắt nhìn, trông thấy góc cuối phía sau dẫy ghế hai người vừa đứng lên đi ra cửa, vội đưa Hiền đến ngồi nghỉ. Thùy bây giờ mới được duỗi chân, ngả người vào lưng ghế, hít một hơi như giũ bỏ hết tất cả mệt mỏi. Khoảng 15 phút sau, Bình tay cầm hai vé giơ lên khoe với vợ, đi đến ngồi xuống, nói:

- Anh mua được hai vé đi Hải Phòng, chuyến 2 giờ chiều nay, trẻ con dưới năm tuổi không phải mua vé em ạ.

Thùy cảm thấy dễ chịu, hỏi chồng:

-Giờ vẫn còn sớm, mình ra ngoài tìm quán phở hay cơm, cả nhà ai cũng đói rồi, bánh mỳ đem theo phòng cho bữa tối. Anh thấy thế nào?

Bình gật đầu:

-Anh nghĩ con vừa đói vừa buồn ngủ, chờ anh đi vệ sinh rồi mình đi ăn.

Hiền nghe nói được ăn phở tỉnh táo hẳn lên, tay giữ khư khư cái vali nhỏ mắt nhìn theo hướng Bình. Buổi trưa, trời càng nắng gắt hơn, không có cây xanh, chỉ có không khí nóng khô, bụi bặm, oi bức bị gió thổi hắt vào mặt khiến người ta thêm khó chịu. Nhìn lên đồng hồ nhà ga chỉ con số 12.45 cũng mờ mờ bởi hơi nóng bay vây quanh. Vợ chồng Thùy đưa bé Hiền đến dẫy nhà đối diện nhà ga, có hàng nước, bánh mỳ, bánh ngọt, ba cửa hàng ăn nhiều người ra vào. Đi vào một cửa hàng gần nhất, có mấy bàn ăn, không muốn mất thời gian, tìm ngay bàn không có ai ngồi, Thùy cho con ngồi bên cạnh, giục chồng gọi món ăn. Tờ giấy dán trên tường có nhiều món ăn khác nhau: Cơm bình dân, cơm trắng, thịt lợn kho đậu phụ, canh rau cải, rau xào.… ghi rõ giá tiền từng món. Thùy hỏi con gái thích ăn gì, Hiền trả lời:

- Mẹ ơi, cái gì con cũng thích ăn, nhưng con thích phở gà mẹ ạ. Ăn xôi nhiều con chán lắm.

Thùy bảo Bình:

- Ta sang hàng phở, hàng này không bán phở. Thùy dắt Hiền đứng lên, nói với người phục vụ:

- Xin lỗi, cháu bé muốn ăn phở.

Lại lôi thôi lếch thếch, ba người sang quán kế bên. Quán phở vắng người, ngồi xuống ghế, nhìn danh sách các món phở và giá tiền, Thùy đắn đo hỏi Bình ăn gì mới quyết định. Khi đói món nào cũng thấy ngon nhưng giá như dao cắt cổ. Bình nhìn vợ, nói:

- Tùy em, em gọi ăn món gì, anh ăn món đó, mình tiết kiệm để đi thuyền và còn nhiều khoản chi tiêu em ạ.

- Em hiểu. Thời gian qua mẹ con em chịu khổ, nhịn ăn nhịn mặc nhiều rồi. Họ muốn cắt da thịt cho họ cắt tiếp, xem làm gì được em? Mình thích ăn thì gọi, ăn xong vĩnh biệt nơi này, Thủ đô yêu dấu!

Thùy dứt khoát bảo chồng:

- Anh gọi ba bát phở thịt gà và thịt lợn. Ăn nhanh cho kịp giờ tàu chạy.

Ăn xong đi về nhà ga nhìn đồng hồ đã 1.20, vợ chồng Thùy đi thằng vào trong gần cửa ra tầu, thấy nhiều người đứng xếp hàng nhốn nháo chờ đến giờ mở cửa. Ai cũng nhấp nhỏm đứng không yên, tâm trạng giống nhau mong được lên tàu sớm, có ghế ngồi tốt. Nhưng khác nhau về mục đích lý do: người nghỉ phép về quê thăm gia đình thân nhân, người đi công tác, người có vợ chồng và đàn con, kẻ lẻ loi một mình. Phức tạp nhất vẫn là các bà, các chị đi buôn đem theo túi, bao tải, gồng gánh ở cửa bên cạnh, nhìn họ đã thấy sự khỏe mạnh rắn chắc, nhanh nhẹn, sốc vác hung hăng như thú dữ không kiêng nể một ai, miệng và hành động cùng lúc. Thùy bụng mang thai, tay dắt bé Hiền trông thấy họ tìm cách tránh xa, Bình đứng trước hai mẹ con làm lá chắn bảo vệ. Chỉ còn năm phút đến giờ mở cửa vào ga, nhưng vẫn xô đẩy nhau, cãi lộn, to tiếng tuôn ra lời thô tục, pha trộn các loại âm thanh giọng nói của các vùng miền trong nước, cao thấp, the thé chua ngoa, trọ trẹ xứ Thanh Nghệ Tĩnh, khó nghe, tra tấn cái đầu. Tiếng còi tàu vào ga vang lên như chào đón mọi người, đám đông lại nhúc nhích, xô đẩy. Chợt có tiếng loa thông báo, tất cả tự nhiên im bặt, một giọng đặc biệt của nhà ga vang lên:

- Quý khách đi tàu chú ý! Nhà ga còn hai phút nữa sẽ mở cửa đón quý khách lên tàu. Quý khách chú ý vé cầm sẵn, hành lý xách tay, giấy tờ, tiền bạc không để kẻ gian lợi dụng lấy cắp …

Bé Hiền ngây ngô hỏi mẹ:

- Mẹ ơi! Cô ấy nói gì đấy mẹ? Mình được đi chưa? Thùy nhắc con:

- Im lặng nghe tiếng loa thông báo con.

Tiếng của người phát thanh vang lên trong loa lè nhè nghe không được rõ, loại âm thanh này chỉ ở nhà ga. Thùy nghe lơ mơ không hiểu nên suy đoán. Tiếng động của cánh cửa nhà chờ ra tàu chưa kịp mở hết hai cánh, dòng người ùa vào như nước lũ, hai mẹ con Thùy bị cuốn trôi theo vào bên trong sau cổng sắt. Người trẻ, thanh niên chạy nhanh lao lên trước, người già, trẻ nhỏ, người mang vác gồng gánh nặng lùi phía sau. Tàu không có số ghế, ai lên trước chọn được vị trí tốt. Cảnh ngộ gia đình Thùy lên được đã là may mắn. Bình chạy lên tàu trước tìm chỗ ngồi có hai ghế đối diện nhau cạnh cửa sổ, hai mẹ con chậm bước lên sau. Bình để cái túi và va-li ở ghế đối diện xí chỗ. Một ông khoảng ngoài bốn mươi tuổi mặc quân phục bộ đội bạc màu, vai đeo ba lô to nặng, mồ hôi nhễ nhại, đưa mắt tìm ghế ngồi. Nhìn thấy ông ta đừng nghiêng sang một bên, chân kia đứng không vững, Thùy gọi:

- Bác bộ đội ơi! Lại đây giúp em một tay?

Nghe tiếng gọi, ông quay lại, thấy một phụ nữ bụng mang thai vượt mặt vẫy tay gọi mình, ông khập khễng đi lại gần, Thùy chỉ ghế cạnh bé Hiền ngồi, bảo ông:

- Bác chưa có chỗ phải không? Bác ngồi cạnh con bé nhà em.

Ông ta có chút ngần ngại, phân vân, hỏi:

- Nhưng còn chỗ ngồi của các bác? Có đủ không? Bình vui vẻ nói ngay:

- Bác yên tâm, nhà tôi có ba người, đồ đạc tôi cho lên sàn để đồ trên đầu rồi.

Ông ta cảm động bắt tay Bình, nói mãi hai từ cảm ơn, rất ít khi nghe thấy được trong hoàn cảnh tranh giành nhau mọi thứ. Từ đó suốt chặng đường thêm một người bạn đồng hành về Hải Phòng, có người nói chuyện quên đi quãng đường dài, ngay Thùy cũng không biết đâu là đích đến. Lúc đầu còn ngại, giữ kẽ, dần dần hỏi thăm, chuyện trò, mọi người vui vẻ thoải mái hơn. Khuôn mặt xinh xắn đáng yêu của bé Hiền cộng thêm tính hay nói, hay hỏi, nhưng ngoan và lễ phép đã nối kết mấy người lớn với nhau. Nhìn Hiền, ông Tuấn tâm sự với vẻ mặt buồn rầu:

- Tôi được lệnh theo đơn vị đi B cuối năm 1967, lúc đó con gái tôi ba tuổi, chạc tuổi cháu. Sau đợt tổng tấn công Mậu Thân 1968, chuyển đơn vị liên tục, chưa lần nào viết thư được và về thăm gia đình vợ con. Rồi bị thương nằm ở trại thương bệnh binh, một chân gửi lại chiến trường B, giờ được giải ngũ khi thân thể không còn lành lặn. Không biết con gái có nhận ra tôi nữa không sau mười hai năm không gặp.

Ông nhìn ra ngoài cửa sổ, mắt ưu tư, đăm chiêu, khiến Thùy nhớ đến hai đứa em trai hiện trong quân ngũ, giờ đây Thùy ra đi không báo được cho hai đứa em và tình hình của hai đứa ra sao, Thùy lo lắng, buồn lắm. Thông cảm với tâm tư ông Tuấn, Thùy an ủi:

- Bác yên tâm, em tin gia đình, bác gái và cháu sẽ rất mừng khi bác trở về đoàn tụ sau bao năm xa cách không tin tức. Tình thương yêu ruột thịt sẽ bù đắp tất cả cho bác được vui hạnh phúc. Buồn là không biết bao giờ mới hết chiến tranh bác ạ.

Không khí đang trầm lắng do câu chuyện, tiếng bé Hiền reo lên:

- Mẹ ơi, bố ơi! Tàu mình chạy qua sông, đang ở trong cái cầu, thích quá! Mẹ ơi! Sao nước sông nó đỏ thế mẹ?

Ông Tuấn cũng vui theo, tay giữ chặt Hiền sợ bé thích quá thò đầu qua cửa sổ, ông cười nói:

- Tàu mình đang đi trên cầu Long Biên, dưới là sông Hồng cháu ạ.

Hiền quay lại hỏi ngay:

- Sao lại gọi là sông Hồng hở ông?

- Cháu vừa thắc mắc sao nước sông màu đỏ mà. Hiền nhíu đôi lông mày bé nhỏ, hỏi tiếp:

- Sông của nhà ông ngoại cháu nước không đỏ đâu, chắc ai hư đánh đổ mực đỏ xuống sông đấy bác ạ.

Ông Tuấn xoa đầu Hiền:

- Hồng có nghĩa ‘màu đỏ’ gọi như vậy xuất phát từ màu phù xa đỏ, đặc trưng của dòng nước cháu ạ.

- Vậy hả, sông to rộng thế, có dài không ông?

- Sông Hồng dài 1.149 cây số bắt nguồn từ vùng núi Nguyên Sơn, Trung Quốc, nhưng chỉ có 510 cây số chạy trên Việt Nam thôi.

- Sao ông giỏi thế? Ở lớp cô giáo cháu không dạy cháu.

Thùy thấy con gái hỏi nhiều quá, nhắc nhở:

- Ngồi yên con, không được quấy ông Tuấn nhiều, ông mệt.

Ông Tuấn vui vẻ bênh Hiền:

- Không sao, khi lớn cháu sẽ được học nhiều, biết được nhiều, tiếc khi con gái bác bằng tuổi cháu, bác không ở nhà không được chuyện trò, dạy dỗ con gái mình, thiếu vắng tình cảm của người cha.

Nghe Tuấn nói chuyện với Hiền về sông Hồng, Thùy nhớ lại ngày còn đi học, vì chiến tranh sinh viên phải đi sơ tán đến Kim Động, Hưng Yên, năm tháng ở nhờ nhà dân, mấy chị em ra sông Đằng Giang, -nhánh của sông Hồng-, giặt quần áo, chiếc áo trắng bố mới may mặc ngày Tết bị nước sông nhuộm ngả sang màu lòng tôm nham nhở, không mặc được nữa, cũng không dám nói cho bố biết. Tiếc mãi và cũng nhớ mãi cho đến bây giờ.

Con tàu vẫn chạy xình xịch qua cầu Long Biên, sang địa phận huyện Gia Lâm, nhà bà cô, -em gái bố- ở sát Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. Ngày nhỏ năm nào nghỉ hè, ba anh em Thùy được phép về với cô mấy tháng hè. Nay phải đi xa không chào chia tay cô, thôi tạm biệt Gia Lâm, tạm biệt cô, cháu phải ra đi không biết khi nào sẽ gặp lại.

Mọi người trên tàu không còn nói chuyện nhiều nữa, hầu hết đều lim rim ngủ. Mỗi khi sắp đến nhà ga, tàu lại hú lên ba tiếng như báo hiệu chào nhân viên và hành khách trên sân ga. Tàu hú còi xả hơi nóng lên trời, một cột hơi nước trắng bay tỏa phủ lên trên nóc các toa, gió thổi xà xuống cửa sổ những toa phía sau, ai ngó hay thò đầu qua cửa sổ hứng chịu làn hơi nước bắn vào mặt. Trong toa tàu có đứa bé khoảng mười một hay mười hai tuổi cầm ấm nhôm có vòi và vài cái bát sành đi dọc các toa tàu rao bán nước chè xanh. Thời tiết mùa hè nóng bức, trên tàu nhiều người, pha trộn đủ các mùi nên không khí càng ngột ngạt, khó thở, khát nước, chỗ này gọi mua, nơi kia kêu đem đến. Chả mấy chốc ấm nước đã hết, hớn hở hoàn thành công việc mẹ giao cho. Tàu vẫn xình xịch đều đều, bé Hiền ngủ gà ngủ gật, đầu gối lên đùi bác Tuấn. Tiếng còi hú vang chào nhà ga Cẩm Giàng đánh thức Hiền và một số người. Tương Bần xứ này ngon có tiếng, rau muống luộc chấm với tương Bần thì không đủ cơm ăn, mỗi ga xép tàu dừng từ hai đến năm phút, khi nhân viên nhà ga thổi còi, phất cờ báo hiệu tàu chạy từ từ rồi tăng tốc. Nhân viên nhà ga mặc quần áo xanh, mũ cát két xanh, tay phải đeo băng đỏ in chữ trắng NVNG (nhân viên nhà ga), một tay cầm dùi cui sơn xanh trắng, một tay cầm cờ đỏ nho nhỏ hình tam giác, khi nhân viên miệng thổi còi, tay phất cờ vẫy vẫy báo hiệu an toàn, lái tàu hú còi, cho tàu chuyển bánh.

Đang lim rim ngủ, còi tàu hú lên mấy tiếng, Hiền ngó đầu ra nhìn xuống, thấy nhân viên đang vẫy vẫy cờ và thổi còi, hỏi mẹ:

- Mẹ ơi! Đến ga nào rồi mẹ?

Vừa lúc cô mặc quần áo xanh cầm loa đi đến nhắc hành khách:

- Tàu đến ga Hải Dương, đoàn tàu dừng ở ga 30 phút lấy nước và nguyên liệu, quý khách có thể xuống mua thức ăn, nước uống và đi vệ sinh.

Tất cả đứng dậy, lục đục chuẩn bị xuống. Nhộn nhạo, hối hả vì ai cũng muốn tranh thủ xuống trước. Đây là thời điểm thuận lợi nhất cho bọn gian móc túi, lấy trộm đồ, sơ ý hoặc không có người trông giữ trên tàu. Bình hỏi:

- Hai mẹ con muốn xuống ăn uống hay đi vệ sinh không?

Thùy lắc đầu, nhìn Hiền hỏi:

- Con gái có muốn xuống đi vệ sinh không? Bố đưa đi.

Hiền nhăn mặt nói:

- Con không muốn, nhà vệ sinh bẩn lắm.

- Vậy mình ngồi lại trên tàu, mọi người xuống hết đồ đạc sẽ bị đánh cắp.

Thùy nhìn ông Tuấn có ý hỏi, ông Tuấn cũng lắc đầu nói:

- Chân cẳng tôi thế này, bất tiện lắm. Tôi ở đây với mọi người.

Thùy nghĩ như ông Tuấn. Tốt nhất ở trên tàu, muốn ăn gì gọi người bán hàng rong cũng được. Hải Dương có đặc sản bánh đậu xanh Rồng Vàng bột mịn thơm ngon, cho vào lưỡi đã tan, giữ mãi hương vị thơm ngọt trong cổ họng. Có người thích ăn bánh chưng, bánh gai. Bánh gai Hải Dương cũng có tiếng, ngày nhỏ mỗi khi bà nội ở quê lên chơi, lần nào cũng mang theo mấy chục cái bánh gai gói lá chuối khô làm quà cho đàn cháu.

Hiền lại ngó đầu qua cửa sổ nhìn. Mọi người đều chạy nhanh đến nhà vệ sinh, các bé gái khoảng mười hai, mười ba tuổi cắp cái thúng bên cạnh sườn, bên trong có các loại bánh miệng không ngớt mời chào. Hành khách mỗi người một kiểu, mua bán nhộn nhịp xung quanh dọc theo đoàn tàu. Thùy vẫy tay cháu gái đến gần cửa sổ hỏi mua bánh chưng, bé Hiền nhìn thấy hình bánh đậu xanh đẹp, hỏi mẹ:

- Mẹ ơi! Mẹ mua cho con hộp bánh đậu có hình con rồng vàng đẹp kia được không?

Ông Tuấn cũng ngó ra xem, gọi cháu gái:

- Bán cho tôi mấy cái bánh chưng, hai hộp bánh đậu xanh?

Hiền thắc mắc:

- Ông đi có một mình, sao mua nhiều thế? Thùy lườm con, ông Tuấn cười ngượng:

- Không phải cho bác, mua cho gia đình, bao năm chưa về thăm nhà, mua mấy cái bánh gọi là chút quà.

Tàu dừng ở ga ba mươi phút lấy thêm nước và than xong, chuẩn bị chạy tiếp. Có người ngủ say, không biết tàu đã dừng ở ga, tỉnh dậy nhớ ra gọi mua bánh. Nhân viên nhà ga thổi còi báo hiệu cho mọi người nhanh chân lên tàu. Lúc này tàu chuẩn bị nổ máy, người mua người bán vội vã, không để ý sự gian giảo của người bán. Tàu lại hú mấy tiếng còi, chuẩn bị tạm biệt nhà ga, chờ thêm vài phút đợi khách rồi từ từ lăn bánh, nghe tiếng còi thổi, người từ trong nhà vệ sinh chạy ra vội bám vào thành cánh cửa tàu nhảy lên, người mua bánh chưa kịp nhận bánh cũng vội vàng chạy nhảy lên tàu. Qua ô cửa sổ việc mua bán lúc này rất nhanh gọn, nhưng chính là thời điểm người bán hàng rong lợi dụng để gian dối, lừa bịp người mua. Chúng nhận tiền nhưng từ từ mới lấy bánh trong thúng đưa cho người mua ngồi trên tàu, tàu dần dần tăng tốc, họ vờ chạy theo nhưng như thể không chạy kịp đoàn tầu, người mua nhoài người ra khung cửa, người bán đưa bánh còn cách khá xa tầm tay, người mua không lấy được, tầu chạy nhanh người bán đứng lại cầm bánh vẫy vẫy chào người mua, cười! Còn người mua lấy được bánh ngồi ung dung bóc bánh ra ăn, thì ôi thôi, một hòn đất mềm hình vuông nhỏ bằng đúng cái bánh, được bọc trong nhiều lớp lá dong xanh mướt. Vừa trách mình vội vàng trả tiền trước, vừa đói bụng, đành nuốt cục tức vào trong ruột. Ngày trước khi còn đi học xa, mỗi lần nghỉ học kỳ, Thùy đi tàu về thăm gia đình. Có lần mua bánh ăn khi tàu dừng ở ga cũng bị một quả ăn bánh chưng đất. Thùy cười nhưng cũng thấy xấu hổ, xót xa thay cho những con người khốn khổ, cuộc sống quá khó khăn thiếu thốn, dễ sinh ra thói hư tật xấu. Chuyện này xảy ra thường xuyên hàng ngày, nhiều năm, báo và đài phát thanh trung ương và địa phương đăng tải, nhưng chính quyền không thể nào giải quyết được, gỡ tiếng xấu cho người dân địa phương không làm nghề bán hàng rong trên sân ga.

Nhiều cảnh tượng lúc tàu chuẩn bị chạy thật vui mắt, có người khi xuống vội vàng không nhớ toa tàu của mình là toa thứ mấy, khi quay trở lại lên tàu, ngây ngô tìm kiếm. Chợt bé Hiền kêu lên:

- Mẹ ơi! Nhìn bà kia chạy hai tay cầm quần kéo lên nhưng bị tụt xuống hở cả mông rồi, lêu…lêu... xấu quá.

Nói rồi Hiền cười thích thú. Thùy tự hỏi “Không biết có ai không may mắn bị nhỡ tàu không nhỉ?” Lại nghe thấy tiếng ồn ào trong toa tầu, người kêu mất túi, người kêu mất tiền, tiếng cãi cọ ầm ĩ trong toa. Chợt một bà tuổi trung niên, mặc áo cánh nâu, quần đen kiểu chân què, trông ra người làm ruộng, bước nhanh trên tàu, mắt nhớn nhác tìm kiếm, miệng lẩm bẩm:

- Trời ơi, nhầm toa rồi! Một ông nhanh miệng hỏi:

- Thế ghế ngồi của bác ở đâu?

Bà ta bắt đầu mếu máo như muốn khóc:

- Tôi mót quá nên tàu đỗ, tôi xuống đi vệ sinh ngay không để ý toa thứ mấy, đâu có nhớ toa nào mình ngồi. Giời ơi là giời! Toa tôi ngồi không như thế này, hai dãy ghế dài hai bên cạnh toa, ở giữa rộng là chỗ để bao tải, gánh gồng, đồ đạc của các bà chạy chợ. Tôi có mấy bu gà trong đó có 6, 7 con gà mái to của tôi, bây giờ tôi biết làm sao hở giời?

- Vậy có ai đi cùng bà không?

- Bà có quen hay nhớ ai ngồi cùng không?

Người này hỏi, người kia hỏi, lao xao một góc toa, nhưng cũng không tìm ra cách nào giúp. Một người có vẻ hiểu biết, mách:

- Thôi rồi, bà ngồi ở toa chở hàng. Toa của người đi buôn, lủng củng nhiều hàng, nhiều đồ. Bà phải tìm hỏi nhân viên tầu là toa nào, bà đến đó may ra thấy mấy cái bu gà của bà.

Mọi người cười ồ, tiếng cười phát ra tự nhiên vô ý thức, nhưng làm đau lòng người lạc toa tàu đang lo mất của. Từ nãy bé Hiền đã đứng hẳn trên ghế tay bám vào vai ông Tuấn, chăm chú theo dõi sự việc xảy ra với bà bị lạc toa tàu, hồn nhiên nói với mẹ:

- Mẹ ơi! Bà ấy già thế còn bị lạc mẹ nhỉ. Thùy nhìn con:

- Chuyện người lớn, con không được nói, ngồi xuống ghế đi con.

Bé Hiền ngoan ngoãn ngồi yên, không nói gì nữa. Phía cuối tàu vọng lên tiếng nhị, tiếng ồn ào như ai đang hát? Hiền nhấp nhổm, mắt nhìn mẹ, ý hỏi. Tiếng hát đến gần hơn, hai mẹ con người hát xẩm. Bà mẹ chạc ngoài bốn mươi tuổi, đeo kính râm. Nhìn kỹ đôi mắt chỉ còn hai vết sẹo dài nằm dưới đôi lông mày, tay kéo chiếc đàn cò, đi cùng thằng bé chừng tám, chín tuổi quần áo rách tả tơi, ống quần bên thấp bên cao, xộc xệch, một tay nắm cánh tay áo bà mẹ, một tay cầm chiếc nón mê chìa ra trước mặt, miệng mấp máy xin tiền. Người mẹ mù vừa kéo đàn vừa cất tiếng hát nỉ non, thở than:

Từ ngày anh bước chân xa

Con anh, anh để…ở nhà cho em

Con anh…. bụng đói dạ thèm

Cùng trời …cuối đất, dắt em ăn mày 

Hỏi ông…ông hỡi có hay

Hỏi bà…có biết lòng này…. xót xa 

Anh đi chiến đấu phương xa

Để cha mẹ già phó mặc em trông

Năm qua... tháng đến. em mong

Cha mẹ... khuất núi... mà không tin người….

Tiếng hát chậm rãi, ai oán, than cho kiếp phận mù lòa, mẹ góa con côi đói khổ, mẹ con dắt nhau lưu lạc khắp nơi, cầu xin các ông, các bà nhón tay làm phúc. Thùy cúi tìm trong túi mấy đồng tiền lẻ bỏ vào trong chiếc nón đứa bé. Ông Tuấn mắt ngấn lệ cũng móc túi áo ngực lấy tiền bỏ vào chiếc nón lá rách. Đứa bé mặt mũi nhơ bẩn, nhem nhuốc, mở to đôi mắt biết ơn nhìn Thùy và ông Tuấn, miệng nói:

- Con xin, mẹ con con đội ơn ông, đội ơn bà.

Nó dắt mẹ chầm chậm đi dần sang toa khác, người mẹ tay kéo nhị, miệng than thở cuộc đời tối tăm đói nghèo, đi qua hàng ghế có người bỏ quả chuối, bánh gai vào trong nón, tiếng hát và hình bóng hai mẹ con đi xa dần sang toa sau.

Con tầu vẫn xình xịch, âm thanh đều đều ru hành khách ngủ sau những nhộn nhạo xảy ra. Chạy qua ga Thượng Lý sắp đến ga Hải Phòng, tầu bắt đầu giảm tốc độ, chạy chậm dần bắt từ phố Cát Dài, trước khi cắt qua ngang phố Cầu Đất, nhân viên nhà ga quan sát, thổi còi vẫy cờ ra hiệu yêu cầu mọi người dừng lại, kéo hàng rào ngăn không cho người, xe qua lại đường tầu chạy ngang qua con phố. Chạy đến gần phố Cầu Đất, còi tầu hú lên ba tiếng báo cho người đi bộ biết, qua Cầu Đất vào sân ga, một lần nữa kéo còi chào nhà ga Hải Phòng. Nhân viên trong sân ga thổi còi, phất cờ ra hiệu, tàu dừng hẳn.

Hải Phòng! Hải Phòng! Thành phố Hoa phượng đỏ! Ga cuối cùng của tuyến đường sắt số 5 từ Hà Nội xuống. Hành khách bắt đầu lao nhao, hối hả lấy đồ đạc ngay từ khi tầu qua phố Cầu Đất. Đi cũng như đến, hành khách trên tầu đều chen lấn, tranh chấp, xô đẩy, một thói quen khó thay đổi của người Việt. Bình đứng dậy với tay lấy túi đồ ở sàn hành lý trên đầu, đón bé Hiền về ngồi cạnh Thùy, nhìn nhau báo hiệu phải ngồi yên, không thể đi theo mọi người được. Ông Tuấn cũng ngồi yên, khoang ghế bốn người đều bình tĩnh chờ mọi người đi trước. Ông Tuấn chào tạm biệt, xoa đầu Hiền, nói:

- Tạm biệt cô bạn nhỏ, hẹn có dịp gặp lại mọi người.

Chúc cả nhà mạnh khỏe, bình an.

Thùy mỉm cười chúc lại, Bình và ông Tuấn đứng dậy bắt tay nhau tạm biệt trước khi xuống tàu.

Ông Tuấn lùi lại phía sau, nhường Bình xuống trước cùng đồ đạc, Thùy dắt con ra bậc cửa đợi chồng đón Hiền, một tay cầm thanh sắt của cửa toa, một tay cầm tay Bình, từ từ đặt chân xuống bậc cửa tàu, bước xuống.

Ông Tuấn và gia đình có mấy con nhỏ xuống sau cùng. Nhìn xung quanh, đoàn người hối hả ra cửa soát vé, ra đến phố Ga, mọi người tản mát rẽ đi nhiều hướng. Một cảm giác lạ ập đến khi Thùy đặt chân xuống ga Hải Phòng, khác hẳn những lần đi tầu về quê, Thùy hiểu, bắt đầu từ đây, từ giờ phút này, con đường mới đầy gian nan, vất vả không biết những gì sẽ đến đang chờ ở phía trước.

Tác giả Vietnamthuquan.eu - NXB: Nhân Ảnh 2025
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.