Vợ chồng Thùy và bé Hiền lếch thếch đi thẳng đến cửa soát vé. Hành khách của chuyến tàu hầu như đã ra hết, gia đình Thùy đi chậm, ra sau cùng, đến bên ngoài đã gần 6.30 tối. Nhà ga Hải Phòng do người Pháp xây theo phong cách châu Âu, to, đẹp, khang trang, nhưng nhỏ hơn nhà ga Hà Nội, ngày 16-6-1902 chính thức hoạt động.
Người đau ê ẩm, mệt mỏi, tê cứng sau một chặng đường dài bốn tiếng ngồi trên ghế gỗ của toa tàu, Thùy còn tâm trạng đâu ngắm nhìn tòa nhà ga to đẹp trước mắt. Bé Hiền cũng thờ ơ không ngó nghiêng gì, chậm chạp lê bước theo mẹ. Thùy nói với Bình:
- Mình vào ngồi nghỉ và ăn tối, sau đó gọi xích lô đi đến nhà trọ anh đang ở.
-Giống như các bến xe, nhà ga khác, nơi đây cũng nhộn nhịp người và xe cộ, thời điểm tan tầm nên con đường thêm tấp nập, ồn ào. Đi ra khỏi nhà ga, phía bên đường đối diện có nhiều cửa hàng ăn. Bình đưa vợ con vào cửa hàng ăn gần nhất. Bà chủ quán dáng người đậm đà, rắn chắc khỏe mạnh, đứng bên cạnh bàn to rộng, tay cầm con dao thái thịt. Trên bàn có cơm trắng, rau muống luộc, canh rau cải, thịt lợn, cá, Thùy và bé Hiền vào trong tìm ghế ngồi, có năm, sáu bàn ăn đều có người đang ăn hoặc ngồi chờ. Bình nhìn các món ăn, suy nghĩ, rồi hỏi Thùy:
- Có cơm trắng và canh rau, thịt kho, cá rán, mẹ con em ăn gì?
Thùy nhìn Hiền, mèo con ngồi yên không nhúc nhích, biết con quá mệt, không hỏi hay thắc mắc như mọi khi, Thùy trả lời ngay:
- Mẹ con em mệt lắm rồi, gọi cơm, bát canh rau ăn cho mát và món ăn mặn là được. Anh thấy thế nào?
Bình gật đầu theo ý vợ, đi ra chỗ bà chủ quán gọi món ăn. Cửa hàng nằm ở vị trí gần nhà ga, thuận lợi và dễ thu hút người qua lại, vì thế sáu bàn ăn không lúc nào vắng khách. Bà chủ bận rộn luôn chân luôn tay, mãi sau mới thấy ông chồng ra phụ giúp. Khách ăn thay nhau vào ra, gia đình Thùy có bữa ăn vừa ý sau một ngày đi lại nhiều nơi trong ngày. Ăn xong tiếp tục đi, Bình vẫy tay gọi xe xích lô đi ngược chiều, rất nhanh một thanh niên trẻ da sạm nâu, khỏe mạnh đạp xe đến trước mặt, cất giọng hỏi:
- Hai bác muốn đi đâu?
Bình đáp gọn lỏn:
- Cho chúng tôi về nhà trọ bà Mập, phố Quang Trung.
Anh xích lô cười thoải mái:
- Dạ, nhà trọ bà Mập em biết. Vậy ba người, túi, va-li bác cho em xin hai đồng.
Bình lạnh nhạt:
- Mới chập tối anh đã muốn chặt chém rồi. Tôi trả một đồng rưỡi, nhưng phải đi cẩn thận vì vợ tôi mang bầu và có con nhỏ, được thì đi, không tôi gọi xe khác.
Anh xích lô im lặng đưa xe đến gần chỗ mẹ con Thùy đứng. Mọi người bước lên xe xích lô đã mấy lần trong ngày. Thùy nghĩ: “Không biết còn bao nhiêu lần phải mất tiền ngồi xích lô nữa đây?”
Ga Hải Phòng lùi dần phía sau, xích lô rẽ phố Cầu Đất, ánh đèn đường, đèn các cửa hàng chiếu sáng, người nhộn nhịp nhiều hơn. Ngay đầu lối rẽ nhìn thấy ngay rạp chiếu bóng Công Nhân, chắc đang có phim mới, bên ngoài hai bên tường treo ảnh vẽ quảng cáo, giới thiệu phim hình diễn viên, cảnh phim hấp dẫn, lôi cuốn người đi đường. Trước cửa rạp, trẻ con rao bán lạc rang húng lìu, ngô rang, hạt dưa. Bé Hiền có vẻ tỉnh táo hơn sau khi ăn cơm, nhưng quang cảnh trước rạp chiếu phim cũng không được bé thích thú nữa. Xích lô chạy rẽ trái rồi đi thẳng đến phố Quang Trung, gần chợ Sắt. Dọc đường thấy có nhiều người trải chiếu nằm trên vỉa hè, dưới gốc cây, Thùy hỏi anh xích lô:
- Chú lái ơi! Sao nhiều người nằm trên vỉa hè vậy? Người xích lô thản nhiên đáp:
- Thời gian này nhiều người chạy về Hải Phòng lắm bác ạ. Họ nằm ngủ ở vườn hoa, nhà thờ, đình chùa, miếu mạo trông khổ lắm.
- Chú có biết tại sao không?
Thùy hỏi tiếp. Chú tài im lặng rồi thở dài:
-Em ở gần mấy gia đình người Hoa bác ạ. Nghe nói chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam vùng biên giới nên người Hoa lo sợ.
Thùy chạnh lòng, nghĩ đến hoàn cảnh của mình, vậy mà nơi mình ở vẫn bọc trong lớp vỏ bình yên, khi khắp nơi đã xảy ra loạn lạc.
Thùy hỏi tiếp:
-Vậy chú là người Việt?
-Vâng, em người Việt. Nhưng chỉ biết vậy thôi, im lặng là tốt nhất bác ơi. Em sống ở Hải Phòng biết có gia đình người Việt chạy trốn theo người Hoa đi thuyền bị cảnh sát bắt cho vào nhà tù đấy. Cả gia đình bị theo dõi, kiểm soát khó sống yên ổn sau này.
Bình nhìn sang vợ lắc đầu, ra ý không hỏi nữa, từ đó mọi người không nói chuyện gì. Thùy nhớ lại mấy tháng trước, những gì đã xảy ra với mình, càng bồn chồn, lo lắng. Từ tháng 1 năm 1979 trước chiến tranh một tháng, các cửa khẩu Đồng Đăng, Lào Cai, Móng Cái đóng cửa nên mọi người kéo nhau chạy xuống Hải Phòng. Cũng như các cháu, họ hàng gia đình Bình chạy loạn ghé vào qua nhà Thùy thời gian trước. Người Hoa vùng biên giới phía Bắc đổ về Hải Phòng như chảy hội, vì thế việc tìm thuê nhà trọ là điều khó khăn. Trong khi Hải Phòng rất ít nhà trọ, hotel hầu như không có. Nơi nào có thể rải chiếu được, cho dù gốc cây, vỉa hè, không cần biết sạch hay bẩn, có chỗ ngả lưng cho mẹ già, con nhỏ là được. Có chỗ đặt đôi mông tê cứng xuống ngồi là tốt, nghĩ ngợi miên man nhiều chuyện khiến Thùy mong nhanh đến nhà trọ. Tiếng chú xích lô vang lên:
- Đến nhà trọ bà Mập rồi hai bác!
Xe dừng lại trước dãy nhà gạch lợp lá gianh bình dân, nhìn bên ngoài không biết đây có nhà trọ Bình đã thuê và đang ở từ tuần trước nên không có gì ngạc nhiên, nhìn nét mặt vợ biết đang nghĩ gì, Bình nói ngay:
- Phố Quang Trung rồi em, nhà trọ bà Mập ở trong này.
Người xích lô giữ xe cho Bình xuống, sau đó hai mẹ con Thùy từ từ bước ra khỏi xe. Trước dãy nhà la liệt người nằm, người ngồi, người lớn trẻ em, già, trẻ có đủ, nỗi lo lắng khiến Thùy quên hết đau mệt, trả tiền xe xong, Thùy dắt bé Hiền vội vàng theo Bình vào sâu bên trong. Qua dẫy nhà trước mặt, rẽ trái nhìn thấy miếng gỗ rộng bằng hai gang tay, treo trước nhà, hai chữ ‘Nhà Trọ’ nguệch ngoạc ghi trên miếng gỗ như chữ viết trẻ con học lớp 1, bên cạnh một căn nhà cũ nát có cánh cửa đan bằng tre nứa. Bình lên tiếng gọi:
- Bà Mập ơi, mở cửa cho tôi, Bình đây, bà Mập ơi!
Tiếng dép lê đi loẹt quẹt từ trong nhà ra mở cửa. Một bà to lớn như thùng phi, tuổi khoảng ba mươi lăm, bốn mươi đứng gần kín lối vào, hiện ra khi cánh cửa mở. Bà trố mắt nhìn hai người hỏi:
- Ai đây cậu Bình? Bình vui vẻ đáp lời:
- Vợ tôi, tên Thùy và con gái yêu của tôi, tên Hiền. Bé Hiền khoanh tay, cúi đầu chào khẽ:
- Cháu chào bà ạ!
Bà Mập nét mặt tươi hẳn lên:
- Ái chà, con của bố Bình ngoan quá. Bà chào cháu. Lúc này Thùy lên tiếng:
- Em xin chào bà chủ!
Bà Mập lùi người sang một bên, nói:
- Mọi người vào trong nhà đi.
Bình bước vào cùng túi đồ, Thùy cầm tay bé Hiền bước theo sau. Bà chủ đóng và cài chốt then cửa, bước đi phía sau, nói với lên cho Bình nghe:
- Vậy cậu Bình định cho vợ con ở luôn đây phải không? Nhưng tôi chưa thu xếp được phòng đâu.
Bình tươi cười đáp lời:
- Tôi cũng định nói chuyện với bà về việc này. Bà đã giúp thì giúp cho vợ con tôi được trọ ở đây đến ngày thuyền nhổ neo. Nếu chưa có phòng to hơn, xin bà cái giường to thay cái bây giờ nhỏ quá.
- Được rồi, tôi đổi cho cái giường đôi. Ngày mai có người trả phòng sẽ cho gia đình cậu sang phòng to rộng hơn, nhưng phải thêm tiền, thêm hai người mà.
Bình nghe vậy, nói luôn:
- Tôi sẽ trả thêm cho bà, nhưng phải cho nấu ăn, tắm rửa trong nhà, vợ tôi đang mang thai không thể ngày ngày ra ăn ngoài được. Tôi là khách lâu nay của bà, phải có chút ưu tiên chứ?
- Gớm, cậu này cũng ghê gớm thật. Tôi nể tình với em gái của cậu đấy, không thấy bao nhiêu người phải nằm đường nằm chợ à?
Bình nhớ ra nhắc bà chủ:
- Có thể ngày mai em gái tôi đem hàng xuống cho bà.
Nghe thế, mặt bà ta tươi hẳn lên, yêu cầu gì bà ta cũng ừ. Đời mà:
‘Có lợi ra tiền, cười tươi như hoa nở Không tiền, không lợi, nhăn nhó như khỉ ngửi mắm tôm.’
Bình đưa hai mẹ con Thùy vào bên trong, có ba, bốn phòng ngủ có người thuê. Phòng của Bình đang thuê, một gian nhỏ kê chiếc giường nhỏ hẹp, gọi giường nhưng nhìn kỹ giống cái chõng tre, những thanh tre nhỏ đan xếp thành hàng buộc bằng lạt, lâu đến nỗi nhẵn bóng và đổi sắc thành màu cánh gián nhàn nhạt do mồ hôi hàng trăm người đã ghé lưng, chiếc chiếu hoa cũ kỹ cuốn để đầu giường, tối ngủ trải ra nằm. Góc phòng kê bàn nhỏ rộng 60 cm x 50 cm và hai cái ghế gỗ ọp ẹp. Có vậy mà tính một đồng một tối. Giờ thêm hai mẹ con Thùy và thay chiếc giường to rộng hơn sẽ là hai đồng một ngày, với mụ Mập giá thuê như thế ưu tiên, may mắn. Thực ra trong hoàn cảnh lúc này so với nhiều người, thuê được phòng ở là tốt lắm, Thùy thầm nghĩ. Tất nhiên còn gặp khó khăn, thiếu thốn nhiều thứ, nhưng dù sao vợ chồng và con được bên nhau, không bị chia lìa xa cách.
Một góc nhỏ trong cùng nhà trọ, nơi tắm rửa chung, có vòi nước máy. Thùy lau rửa cho con và vệ sinh cá nhân trong khi chờ đợi bà chủ đổi chiếc giường khác. Sau một ngày dài hành trình, thời tiết nóng bức, dòng nước mát lạnh từ vòi nước máy khiến con người cảm thấy khoan khoái dễ chịu, thoải mái hơn. Bé Hiền cũng tỉnh ngủ, bắt đầu nhận ra sự khác lạ của nơi ở mới. Xong xuôi hai mẹ con về phòng, đến lượt Bình vệ sinh. Chiếc giường thay to rộng, có phần tử tế hơn chiếc chõng tre. Hiền trèo lên giường nằm xuống ngay, phần vì mệt, phần vì cũng không còn chỗ nào để nghỉ. Thùy cũng nằm xuống bên cạnh con, cảm giác như đã lâu lắm chưa được thoải mái thế này bao giờ. Vậy là hết một ngày đầu tiên quãng đời xa quê, xa gia đình, làm người vô gia cư nơi viễn xứ.
Ngày mai Bình đi xem tình hình thuyền, đem theo tiền và giấy tờ nộp cho chủ thuyền. Mọi thủ tục giấy tờ do chủ thuyền chịu trách nhiệm. Nghe Bình nói, người Hoa và gia đình được xét duyệt nhanh chóng, đi công khai do chính sách của nhà nước. Người Việt muốn đi phải lẩn trốn theo nhiều hình thức khác nhau, phụ thuộc điều kiện của từng chủ thuyền.
Vợ chồng Thùy và bé Hiền đêm qua ngủ một giấc say sưa ngon lành, mặc dù chiếc giường không được sạch sẽ, có phần hơi thô cứng. Trong đầu Bình quan tâm duy nhất một điều khi nào thuyền nhổ neo? Mấy ngày về nhà đón vợ con, nhưng luôn nghĩ đến thuyền ở Hải Phòng, mong sao việc ra đi được nhanh gọn, chót lọt, bởi mọi việc có Thùy lo chu đáo, vốn từ xưa vẫn vậy. Khi nhận được điện Thùy gọi về nhà đón, Bình vừa băn khoăn vừa lo lắng: “làm sao đi được bây giờ?” khi trong tay việc ‘đầu tiên’ (tiền đâu) cũng không có. Nhưng nghe lời khuyên của em gái khi nhận được điện tín, Bình bình tĩnh và yên tâm hơn. Trên chuyến tàu đêm về nhà, Bình nghĩ nhiều về câu nói của Đức:
-Anh về đón chị ấy ngay đêm nay. Chắc chị ấy có tiền mới dám gọi anh về.
Bình thoáng ngạc nhiên, rồi nói:
-Cô giục anh về ngay đêm nay? Sao hôm nọ chính cô bảo, “Anh đi một mình, bà ta người Việt, ở lại không chết đâu.” Bây giờ lại …
- Hiện nay thuyền chưa đi được, chị Phượng còn chờ lấy thêm khách, càng nhiều càng tốt. Anh về lấy thêm khách cho Phượng, cũng được tiếng tốt với vợ con, có mất gì đâu.
Bình nghĩ cũng đúng, vốn hiền lành, thật thà, không tự quyết định được việc gì. Biết em gái cư xử quá quắt với vợ mình, nhưng người đời thường nói ‘nghèo thì hèn, đã hèn đi cùng với kém,’ vì thế Bình chỉ im lặng nghe, làm theo lời của Đức.
Sáng hôm sau, Bình hỏi vợ:
- Hôm nay em định làm gì ? Sáng nay, anh đem tiền và giấy tờ gặp chủ thuyền, xem tình hình khi nào thuyền sẽ đi.
Thùy nói với chồng:
- Gia đình mình đã có chỗ ở trong khi chờ thuyền, nhưng thiếu vài thứ. Sáng nay em định ra chợ Sắt mua bếp dầu, thức ăn về nấu, không phải đi ra ngoài ăn tốn tiền và mệt. Anh đi lo cho xong việc thuyền hôm nay.
Trời mùa hè, tuy chưa đến 5 giờ đã sáng rõ, không khí mát mẻ, một mùi vị của vùng biển, khác lạ với mùi hương cỏ cây, xen lẫn nồng nồng khen khét của sương mù hòa với bụi nhà máy xi măng phun ra từ ống khói cao vút, mấy chị lao công công ty vệ sinh đã quét dọn sạch sẽ rác rưởi ven đường, hôm qua còn ngập ngụa nước tiểu, phân người, đường cống bị tắc nghẽn do phóng uế bừa bãi. Thùy nhận ra vỉa hè, xung quanh gốc cây rác bẩn cũng được thu dọn sạch sẽ. Cảnh sát nhiều lần đuổi, dọa nạt, nhưng hoàn cảnh chạy loạn vẫn kéo dài khiến cho Hải Phòng nhộn nhạo, lộn xộn, hôi thối.
Đường phố có nhiều cột nước máy, cách nhau hơn 100 mét, người dân trong phố đem thùng xếp hàng lấy nước, người có thời gian chịu khó xếp hàng chờ đợi, đi làm bận rộn suốt ngày phải tranh thủ từ sớm hoặc ban đêm khi vắng người. Xung quanh vòi nước máy luôn luôn có ‘ca nhạc, hát dân ca’ diễn viên gồm các bà, các chị có âm giọng vang khỏe và lá phổi to quát tháo, chửi nhau vì tranh nhau nước, rất may gần nhà trọ Thùy có vòi nước máy ngay bên kia đường, thuận tiện cho việc giặt giũ.
Bình kiểm tra các giấy tờ và tiền chuẩn bị đi, bé Hiền vẫn ngủ ngon giấc, cái tuổi nhỏ không biết lo nghĩ. Thùy định đánh thức bé Hiền, hai mẹ con đi chợ Sắt sớm, bà Mập cho biết chợ bán đủ thứ thượng vàng hạ cám. Thùy ngồi nhìn con ngủ không nỡ đánh thức, trong đầu ngổn ngang bao điều chưa biết? Giấy tờ, tiền đủ không? Có bị gây khó khăn gì không? Khi nào thuyền nhổ neo? Bây giờ tình hình của bố và các em trên đó ra sao? Biết rằng trước mắt sẽ khó khăn vất vả nhưng rồi sẽ đi đến nơi nào? Hai lần sinh con vất vả vì sinh khó, lần này sẽ sao đây khi không có bác sĩ, bệnh viện? Hai mẹ con có thể không được an toàn, bao nhiêu câu hỏi không trả lời được.
Bình ăn lót dạ chiếc bánh mỳ mua từ hôm qua ở ga Hà Nội. Trên đường đến chủ thuyền, đâu cũng nghe xì xào bàn tán chuyện chạy loạn, thì thầm to nhỏ hỏi nhau đi hay ở, đi với ai, thuyền nào? Ai làm chủ thuyền? Mấy tháng nay, đây là vấn để nóng hổi, rầm rộ của Hải Phòng, nơi rất đông người Hoa sinh sống. Phần đông người Việt nghèo không quan tâm, nhưng người buôn bán, móc ngoặc, nhân cơ hội này tìm cách kiếm sống trên đau khổ hoạn nạn của người bất hạnh. Người nọ mách, người kia môi giới, liên kết tạo thành một đường dây buôn người khắp các tỉnh thành. Qua cô em gái giới thiệu Bình là anh ruột đi thuyền của Phượng, bạn thân làm ăn lâu năm của Đức. Phượng người Hải Phòng, cấu kết với bọn thanh lý các thuyền đánh cá cũ nát không sử dụng của các hợp tác xã ngư nghiệp ở Quảng Ninh mua với giá thật rẻ, sửa chữa, mông má sao cho đẹp mắt, thu hút lấy khách giá cao. Bình hy vọng em gái quen biết Phượng sẽ nhận vợ con mình với giá phải chăng. Đến nơi, Phượng đang ăn sáng cùng mấy người, thoáng nhìn biết ngay Phượng, - một người sành sỏi, khôn ngoan-, dáng người rắn rỏi, mái tóc uốn ốp ngang sát gáy, càng tăng thêm vẻ kiêu căng của kẻ hãnh tiến. Trông thấy Bình, Phượng mời rơi một câu:
- Anh Bình vào ăn sáng cho vui. Bình sốt ruột hỏi ngay:
- Cảm ơn cô, tôi ăn rồi. Tình hình thuyền mình thế nào cô?
Phượng vừa nhâm nhi ly cà phê đen, tay cầm điếu thuốc lá, vẩy tàn thuốc xuống đất:
- Chưa xong, ít ngày nữa sẽ lên đường. Anh thế nào?
- Hôm qua tôi đón vợ con xuống, cô cho tôi đăng ký thêm vợ và con gái hơn ba tuổi đi cùng, được không cô Phượng?
Phượng tủm tỉm cười:
- Chuyện nhỏ như con thỏ, anh có đủ giấy tờ và ảnh chụp chưa? Vợ con anh đơn giản, em lo được. Nhưng anh cho em xin hai xuất tiền, nộp đầy đủ ngay hôm nay.
Bình ngập ngừng, khe khẽ:
- Cô thông cảm cho hoàn cảnh của anh, nhà tôi cán bộ nhà nước làm gì có nhiều tiền, lại bụng mang dạ chửa, con bé mới ba tuổi, cô tính một xuất?
- Chị ấy có mang mấy tháng rồi?
- Được tám tháng.
Phượng nhìn Bình chăm chăm ra vẻ suy nghĩ, nói với giọng lạnh nhạt:
- Đúng ra em phải tính cả xuất đứa bé trong bụng nữa. Nhưng nay anh đã có lời vậy, nể tình quen biết Đức, vậy ba mẹ con tổng cộng hai xuất, ưu tiên lắm. Tất cả năm nghìn, anh nộp hôm nay chứ?
Biết không thể nài được nữa với con người tính toán chi ly, lòng dạ sắt đá này, Bình đưa giấy tờ, đếm đủ năm nghìn đồng. Nhận tiền, kiểm tra giấy tờ xong, Phượng bảo:
- Anh yên tâm về nghỉ, ít ngày nữa em sẽ cho người báo ngày giờ thuyền nhổ neo.
Bình chào Phượng lặng lẽ ra về. Lòng rối bời, lo không biết còn phải chờ đợi bao nhiêu ngày nữa đây. Thùy bụng càng ngày càng to, nặng nề, chờ lâu quá nếu như…
Bình về đến nhà trọ, mẹ con Thùy cũng vừa ở chợ về. Không dám xách nặng, Thùy mua tạm một bếp dầu, hai lít dầu ma-zút, lạng thịt lợn và mấy mớ rau cải cúc, gói muối, vịt nước mắm, tạm dùng trong ít ngày ở trọ. Thấy chồng về, Thùy hỏi ngay:
- Tình hình thế nào anh?
Bình biết vợ sốt ruột, lo lắng, bình tĩnh đáp:
- Mọi việc ổn rồi, gặp chủ thuyền, đưa tiền và giấy tờ cho bà ta, thuyền vẫn chưa xong, mình còn ở đây ít ngày nữa.
- Tiền thuyền hết bao nhiêu? Giấy tờ có đủ không anh?
- Còn dư một ít tiền.
Bình đưa tiền cho vợ, giải thích thêm:
- Cái bà Phượng quỷ quyệt nói em mang thai gần ngày sinh, còn định tính tiền thai thêm nữa, con gái mình ba tuổi, nói mãi nó mới chịu ba mẹ con em hai xuất, năm nghìn đồng. Kỳ kèo cũng không giảm một xu, đúng là con mụ nổi tiếng trong giới phe phẩy.
Thùy lúc này mới nói:
- Họ là dân buôn bán, tiền là trên hết làm gì có tình, có nghĩa, cũng mang tiếng là bạn thân em gái anh. Người ta thường nói: ‘Càng quen càng lèn cho đau,’ thật chính xác. Biết mình trong cảnh này, được cơ hội bóp, nó bóp cho chặt, không thương tiếc.
Nơi ở tạm trú đã có, tiền thuyền và giấy tờ nộp xong xuôi, bây giờ chỉ còn chờ đợi. Tiền còn dư chút đỉnh, Thùy nghĩ phải tiết kiệm, chi tiêu dè xẻn vì không biết chờ bao lâu? Đất lạ không anh em họ hàng, biết bấu víu vào ai? Vậy mà đến chiều, cô em gái Bình tìm đến đi cùng với bốn người lớn và bé gái khoảng sáu, bẩy tuổi. Chắc Đức đã nói trước với bà Mập, Thùy thầm nghĩ. Tất cả đi vào trong nhà, bà Mập cũng có mặt, lên tiếng:
- Cô Đức đưa đến tôi phải nhận, năm người thuê thêm một phòng chứ?
Mấy người nhìn nhau, không ai nói gì, Đức nhìn bà Mập, cười:
- Chúng nó đều là con cháu của em, mấy tháng nay chạy loạn từ xa về, làm gì có nhiều tiền mà lấy thêm phòng. Chị thông cảm cho tất cả các cháu vào chung một phòng với anh trai em, kê thêm một giường to nữa cho đàn bà và con trẻ, hai thanh niên kia nằm dưới đất cũng được. Ít ngày nữa thuyền nhổ neo, nhà trọ tha hồ rộng rãi.
Cô ta nói một mạch không ngừng, không cần hỏi vợ chồng Thùy có đồng ý cho ở chung phòng không. Thùy bực lắm nhìn sang Bình, anh ta ngồi im, Thùy thật khó lên tiếng. Không phải Thùy không thông cảm, không thương các cháu, nhưng thái độ của Đức đưa Thùy vào thế bị động. Bé Hiền thấy có thêm một đứa con gái nên đến gần làm quen, hỏi chuyện. Bà Mập nói ngay:
- Vậy cũng được, tôi giảm cho một đồng. Nhưng mấy người phải ra nhà tắm công cộng, không được tắm trong này, chỉ hai mẹ con cô Thùy được tắm rửa trong nhà trọ. Vậy năm người đến sau, nộp cho tôi bốn đồng một ngày, bây giờ chứ? Ai nộp đây?
Đức nhìn có ý hỏi mấy đứa cháu, chúng im lặng cúi đầu, Đức móc túi lấy tiền đưa bà Mập, nhắc đi nhắc lại:
- Bây giờ em đưa tạm chị hai mươi tám đồng cho năm người trong bẩy ngày. Chị viết giấy nhận tiền cho em.
Thùy quan sát, linh cảm thời gian tới sẽ còn chịu nhiều thiệt thòi với lũ họ hàng chưa biết tên, chưa biết chúng dây mơ rễ má thế nào với Bình? Thỏa thuận xong với bà chủ trọ, Đức và mấy đứa cháu cùng nhau đi ra ngoài. Trong phòng còn lại hai vợ chồng, không im lặng được nữa, Thùy hỏi Bình:
-Anh Bình, mấy người đó quan hệ thế nào với anh? Sao cô Đức vô lý thế, tự nhiên đưa mấy đứa cháu đến nhét vào ở chung phòng, không cần hỏi ý kiến ai, anh cũng im lặng, cô ta coi em như người ngoài.
Thùy nói tiếp:
- Không biết bao lâu thuyền mới chạy. Đã nộp hết tiền thuyền, còn chút ít tiền lẻ sao đủ chi tiêu cho đến ngày thuyền nhổ neo?
Bình lạu bạu:
- Anh đâu có biết, bất thình lình cô ấy dẫn của nợ đến.
- Anh nói cho em rõ, chúng quan hệ với anh thế nào? Bình bắt đầu giải thich:
- Đứa lớn tên Linh, hai mươi bốn tuổi, con gái đầu của anh Cả, thằng đi cùng tên Tuất, em họ, con dì ruột Linh (con chị con em). Còn kia hai chị em ruột, con chị có đứa con gái sáu, bẩy tuổi, thằng em chưa có vợ. Ba đứa này cháu ruột của chồng cô Đức. Đấy em xem, một bên cháu của mình, bên kia cháu bên chồng cô Đức. Anh bị mắc kẹt, mình là bậc cha chú, em bảo anh làm thế nào?
Nghe chồng nói, Thùy cũng thấy khó nghĩ. Cùng cảnh chạy loạn, con cháu bên chồng, không nỡ bỏ mặc, đâu phải người sống bạc tình, bạc nghĩa. Tuy vậy, Thùy càng thêm lo lắng cho mấy mẹ con, không biết dựa dẫm vào ai. Sự việc này Thùy linh cảm thật sự lẻ loi trong thế giới nhà chồng. Mấy chú cháu đi đến tối mới về nhà trọ, trong phòng bà Mập đã cho kê thêm chiếc giường to, thêm hai cái chiếu một, có chỗ ngả lưng cho hai thanh niên. Bắt đầu từ đêm hôm đó, hai mẹ con Hòa, Hương và Linh, cháu gái Bình, nằm trên giường, Tuấn và em trai Hòa, tên Thịnh, chiếm hai cái chiếu dưới đất. Mấy đứa tuy lớn tuổi nhưng không có nghề nghiệp, dân chạy chợ vùng biên giới phía Bắc, cuộc đời chỉ biết xoay sở kiếm ăn, làm gì được học hành, giáo dục, dạy dỗ tử tế. Sau hai ngày, Thùy hiểu bọn chúng ở đây chỉ thêm gánh nặng, không thể mong sự thông cảm, giúp đỡ của chúng. Hình như mắt chúng có vấn đề nên không nhìn thấy chú nó có con nhỏ, vợ chửa gần kỳ sinh nở. Sáng dẫn nhau đi ra ngoài, chiều tối về người mệt mỏi, quần áo dơ bẩn vứt bừa bãi. Bé Hiền có Hương chơi cùng nên vui lắm, lúc nào cũng bám chị Hương, vì thế Thùy nấu ăn gọi luôn Hương ăn cùng với Hiền. Dần dần Hòa và Thịnh cũng ngồi ăn, tự nhiên hơn ruồi, Thùy phải nhịn ăn nhường cho chúng.
Máy nước lúc nào cũng đông người xếp hàng, Thùy quan sát khi thấy ít người liền tranh thủ sang bên đường giặt. Chạy loạn hai ngày mới thay giặt, bụng to mỗi lần ngồi giặt, cái ghế con bé nhỏ thấp, cực nhọc đối với Thùy. Hòa không biết điều, đã không giúp, đôi khi còn vứt luôn đồ của mẹ con nó vào chung cho Thùy giặt. Bình lúc nào cũng đi với mấy đứa cháu, không quan tâm để ý đến vợ con, Thùy im lặng chịu đựng, không biết than thở, nói với chồng vào lúc nào. Một tuần trôi qua, vẫn chưa có tin tức gì về thuyền, nóng ruột quá, một sáng sớm Thùy hỏi chồng:
- Tình hình thuyền thế nào rồi? Bình lại gắt gỏng:
- Vẫn chưa có tin gì mới. Ngày nào cũng ra đó xem tình hình, cứ lo ở nhà, hỏi gì lắm thế.
Thùy giải thích:
- Em hỏi biết tình hình, ở nhà mù tịt biết gì đâu. Hết tuần rồi, bà Mập hỏi nộp tiền trọ của các cháu anh đấy.
Bình ấp úng:
- Ừ, được rồi, để anh tính. Em có, chi ra giúp chúng nó trước đi.
Thùy không chịu được, nói ngay:
- Anh bảo để anh tính? Rồi nói em chi ra trước. Tiền đâu mà chi? Một tuần nay vợ con anh thế nào? Anh không hề để ý, không biết khổ sở ra sao. Con Hiền còn nhỏ, nuôi thêm một đứa sáu, bẩy tuổi, em bụng ngày càng nặng nề đi lại cũng khó khăn, đã thế còn phục vụ mấy đứa cháu nhà anh, sức còn kiệt, tiền đâu mà có. Chúng thanh niên, lớn tuổi chứ có phải trẻ con đâu.
Bình khó chịu:
- Sao em nói nhiều thế? Thùy tủi thân:
- Anh đi ra ngoài suốt, bây giờ vừa mới nói đã bảo em nói nhiều. Đó là sự thật nhưng anh không chịu nhận.
Không ai quan tâm đến mẹ con em, vậy từ hôm nay, em chỉ có thể chăm sóc lo cho hai mẹ con em thôi. Em không đủ sức lo cho họ được. Sau đừng có trách.
Từ sau khi hỏi chuyện Bình, Thùy biết phải bình tĩnh hơn, kiên cường hơn để tự lo cho bản thân và hai đứa con của mình sau này. ‘Lấy chồng phải theo chồng’ - bố của Thùy đã nói hôm chia tay. Thùy rất nhớ lời của bố ‘không ai thương mình bằng chính bản thân mình.’ Bao năm nay, Thùy đã phải tự bươn chải lo cho gia đình, có chồng nhưng như sống cảnh người mẹ đơn thân, cũng vì lấy chồng người Hoa, khi chiến tranh xảy ra không được sống yên ổn ngay trên mảnh đất của chính nơi mình sinh ra. Nay đem con đi theo chồng, Thùy bị lẻ loi, cô độc ngay trong chính đại gia đình nhà chồng. Thùy không biết quyết định của mình đúng hay không? Đi theo chồng sẽ đi đến đâu?
Ngày qua ngày, Thùy luôn mang tâm trạng bất an, mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần, không còn sức quan tâm để ý, ngứa mắt với lũ cháu bên nhà chồng nữa. Mấy ngày nay bà Mập không giục trả tiền thuê nhà, không biết ai đã trả, Thùy không quan tâm. Bình và các cháu vẫn thường xuyên sáng đi, chiều tối về. Nhưng họ không còn ăn ở nhà như trước, hàng ngày bé Hiền và Hương chơi với nhau nên Thùy giúp chăm sóc luôn cho con bé bẩy tuổi con của Hòa. Hy vọng mọi việc bình yên cho đến ngày thuyền nhổ neo.
Những lần ra ngoài máy nước ngồi giặt, nghe các bà, các chị bàn tán, Thùy cũng hiểu thêm tình hình Hải
Phòng. Người Hoa vẫn tiếp tục chạy xuống Hải Phòng tìm cách đi ra nước ngoài, trong số đó cũng nhiều gia đình có chồng hoặc vợ người Việt. Thời gian này, nhiều người Việt cũng chạy theo trào lưu mới, chán ngán với cuộc sống o ép, khó khăn, mong muốn cuộc sống đầy đủ sung túc hơn. Họ làm giấy tờ giả, lấy tên người Hoa, móc ngoặc với cán bộ trong Sở Công an Ngoại kiều, kết nối mua thuyền hoặc làm trung gian môi giới khách đi thuyền. Có người đi chót lọt, một số bại lộ, cảnh sát bắt giam giữ, đưa ra tòa kết án tù hai hoặc ba năm. Nhưng họ vẫn không biết sợ, tiếp tục trốn. Thùy nhớ câu thành ngữ: ‘Đất lành, chim đậu’. Vậy, tại sao bao nhiêu người Việt nam sinh ra và lớn lên không muốn sống, hay trụ lại ở mảnh đất của ông cha để lại? Sao họ không biết sợ, vẫn tìm mọi cách chạy trốn, phải chăng mảnh đất này hết lành? Những con chim vô tội phải bay đi…
Một sáng Bình và mấy người đi ra ngoài vội vàng, Thùy không hiểu tại sao, gần chiều tối tất cả quay về nhà trọ. Bình nói với vợ:
- Có tin mới rồi, sáng mai tập trung ở bến Máy Chai để lên thuyền. Em thu xếp các thứ gọn gàng, khoảng 5 giờ sáng ta phải đi đến chỗ tập trung.
Thùy hỏi thêm:
- Mình được đem theo những gì? Linh, cháu của Bình, nói:
- Thím ơi, mình đã nộp đủ tiền, chủ thuyền phải cho mình ăn trong thời gian đi đến Hồng Kông chứ.
Một đứa khác cười:
- Thím hay lo xa, không cần phải mua gì đem theo đâu.
Nghe biết vậy, nhưng Thùy vẫn lo lắm, mình có thai, bụng to, Hiền còn nhỏ, dọc đường có thể đói khát. Chủ thuyền không cho đem theo nhiều đồ đạc, sợ thuyền quá trọng tải, Thùy nhớ mấy chị nói chuyện khi giặt ở ngoài máy nước, họ nói người ta mua can đựng nước ngọt đem theo uống và ít lương khô đề phòng. Thùy chưa đi ra biển bao giờ, chưa tưởng tượng được biển như thế nào, biết mua chuẩn bị gì cho đúng? Bình và mấy người cháu cũng không biết gì hơn, vả lại họ còn trẻ, thanh niên đâu cần lo gì. Tâm trí ai cũng bồn chồn, lâng lâng khó tả vì chuyến đi sắp tới, cảm thấy không yên tâm, Thùy bảo Bình đi ra chợ mua một can năm lít đựng nước uống, vài túi bánh lương khô, rồi nói nhỏ:
- Mình có con bé, đi thuyền không biết thế nào, phòng khi con đói khát còn có cho nó.
Bình vội đi ra ngoài mua mấy thứ Thùy dặn. Tối hôm ấy trong phòng trọ thì thào nói chuyện suốt đêm, không ngủ, ai cũng bồn chồn lo lắng cho ngày mai và sắp tới.
Bốn giờ sáng, Bình gọi mấy xe xích lô đến trước nhà trọ. Trời còn nhá nhem tối chưa rõ mặt người, trả phòng cho bà Mập, mấy chú cháu Bình nhanh tay xách đồ đạc cá nhân đi ra ngoài cửa. Thùy và bé Hương dắt tay Hiền đi sau. Trước dãy nhà trọ ba anh xích lô đang đợi, cả ba anh cùng nói:
- Mấy ông bà đi đâu đây? Bình đáp ngay:
- Các anh cho chúng tôi ra bến Máy Chai, càng nhanh càng tốt.
Một người xích lô, mặt gầy xương xương, vẻ đầu gấu, lạnh nhạt:
- Từ đây đến đó rất xa, chúng tôi lại phải đi sớm, ông bà cho xin mười lăm đồng một xe.
- Anh biết chúng tôi bắt buộc phải đi đến đó, bắt chẹt phải không? Cùng là người Việt trong cảnh hoạn nạn, các anh nỡ lòng nào?
Bình nói nửa khó chịu, nửa cầu xin. Một anh xích lô khác cười, nói:
- Ối dào, các người thừa tiền chạy vượt biên, còn kỳ kèo vài đồng bạc với những người lao động chúng tôi làm gì. Anh nên hiểu từ bến Máy Chai chúng tôi chạy xe không về, ở đấy làm gì có khách.
Bình dứt khoát:
- Thôi được, chúng tôi cũng có cái khổ của chúng tôi, các anh cũng vậy. Để vừa lòng cả hai bên, mỗi xe trả mười hai đồng năm hào được chưa?
Mấy người xích lô nhìn nhau rồi gật đầu, cho xe sát gần vỉa hè, mọi người nhanh chóng bước lên. Xe bắt đầu chạy về hướng Máy Chai. Trên đường lác đác các chị gồng gánh đem hàng ra chợ bán, nhiều người mặc quần áo xanh công nhân đi làm sớm. Gần đến nơi thuyền đậu thấy nhiều người xách túi, vác đồ, mặt nhớn nhác tìm chủ thuyền. Mọi người bước ra khỏi xích lô gần 7 giờ sáng, mặt trời đã lên cao, chiếu những ánh nắng vàng lắp lánh xuống mặt sông, bóng mấy chiếc thuyền gỗ bập bềnh thả neo ven bờ. Bến Máy Chai trơ trụi không có một cây xanh nào, nắng sớm mùa hè bắt đầu gay gắt, khiến không gian thêm khô cằn, nóng bức với hàng trăm người đang nhộn nhạo túm tụm từng đám đứng đợi. Bình và mấy cháu đã biết rõ nơi thuyền của bà Phượng đậu, đi thẳng đến.
Trước cửa bến, ba người sĩ quan cảnh sát mặc đồng phục màu vàng đã có mặt, một cái bàn hình vuông và hai ghế kê ngay ngắn chắn ngang lối xuống, gần sát chiếc ván cầu lên thuyền, dưới chiếc ô dù to che nắng. Đại úy Hùng ngồi giữa, một thiếu úy ngồi bên cạnh với bản danh sách đặt trên bàn, bút để trước mặt. Thuyền thả neo cách bờ vài mét, một tấm ván gỗ đặt lên đầu thuyền, đầu kia đặt dưới bờ đất gần lối đi làm cầu lên xuống. Một thiếu úy đứng ngay đầu bến, tay cầm danh sách tên người xuất cảnh do chủ thuyền nộp từ trước. Thuyền Phượng được lệnh xuất cảnh đầu tiên, mọi người xếp hàng, tay thiếu úy đọc tên từng chủ hộ, chủ hộ phải nói to: Có tôi. Tất cả người trong gia đình đi theo chủ hộ đến trước mặt tên đại úy Hùng, nộp các giấy tờ: Giấy xuất cảnh, sổ hộ khẩu, sổ gạo, tem thực phẩm, phiếu vải, chứng minh thư. Tên thiếu úy ngồi cạnh Hùng, cầm từng loại giấy tờ, xem xong vứt ngay vào chiếc thúng để dưới đất cạnh chân bàn, như vất đám giấy lộn. Sau đó hai đứa nói nhỏ với nhau, tên đại úy gật đầu ra hiệu cho phép lên thuyền. Chủ hộ cùng mọi người trong gia đình lần lượt bước từng bước lên ván cầu. Đến lượt gia đình Thùy, tiếng thiếu úy cảnh sát gọi:
- Trương Quý Bình. Bình bước lên:
- Có tôi.
Bình đưa giấy tờ cho viên thiếu úy, anh ta hỏi:
- Gia đình anh có mấy người?
Bình quay lại chỉ tay vào mẹ con Thùy đang đứng ở phia sau:
- Gia đình tôi có ba người, tôi chủ hộ, vợ và con gái tôi.
Tay cảnh sát nhìn vào tờ danh sách đọc tên:
- Lê thị Thùy, con gái Trương thị Hiền.
Nghe cảnh sát đọc tên, biết đến lượt nhưng vẫn giật mình, Thùy móc túi lấy hết giấy tờ đưa cho hắn. Cầm chứng minh thư nhân dân trên tay, hắn nhìn Thùy hỏi:
- Chị là Lê thị Thùy? Là người Việt? Là vợ anh này?
- Vâng, trên giấy có ghi rõ.
Hắn nhìn Thùy một lần nữa với ánh mắt sắc lạnh, vứt tờ giấy xuống đất, gí mũi giầy da cảnh sát day day tờ giấy thật mạnh, như muốn nghiền nát nó với tất cả sự tức giận. Tờ giấy rách nát, bẹp gí dưới chân, hắn vẫn chưa ngừng. Thùy thấy tim mình đau nhói, uất ức, nhưng tự nhủ phải gắng nhịn, kìm nén, không được tỏ thái độ gì, Thùy nghĩ: “chắc từ bây giờ không thể nào trở về đây nữa rồi.” Đại úy Hùng vẫy tay nói to:
- Cho qua, nhanh lên.
Tên thiếu úy được lệnh hất đầu ra lệnh cho Thùy đi. Cầm tay con gái bước sau Bình, chậm rãi, cẩn thận lội qua đám bùn nhày nhụa, nặng nề bước lên chiếc cầu ván lên thuyền, đến giữa chiếc cầu ván, Thùy nghe rõ tiếng mấy người xì xào bên dưới:
- Tội nghiệp chị kia, bụng mang dạ chửa, thai to vượt mặt thế kia, chắc gần ngày đẻ, lại còn đem theo con nhỏ, không biết sẽ ra sao?
‘Tay dắt con thơ, bụng thai nghén theo chồng. Chân bước lên thuyền, lệ nhòa cùng nước biển…’
Thùy bước đi trong tiếng bàn tán của mọi người văng vẳng phia sau, mấy đứa cháu của Bình tiếp tục được gọi tên. Bình đi trước vác túi và va-li, Thùy cầm tay con gái bước chân vào bên trong thuyền. Từ giờ phút này, thế là hết, không còn giấy tờ tùy thân, không tên tuổi, không còn là công dân Việt Nam, phải từ bỏ tất cả, phải ra đi, xa mãi mãi mảnh đất hình chữ S này.