Hai nữ tiếp viên hàng không người Anh mặc đồng phục xanh đen, phía trái ngực chiếc áo vét có hàng chữ British Airway và tên tiếp viên, áo sơ-mi trắng, cổ thắt chiếc khăn nhỏ hai màu đỏ và đen, đầu đội mũ beret xanh đen trẻ trung, xinh đẹp, duyên dáng, nét mặt vui vẻ, tươi cười đứng ngay cửa máy bay chào đón hành khách từ cầu thang bước vào, giơ bàn tay chỉ hướng đi sau khi kiểm tra vé. Bên trong có vài tiếp viên đang bận rộn chỉ dẫn hàng và số ghế cho từng người, giúp hành khách đưa hành lý vào khoang chứa đồ phía trên ghế ngồi. Thùy bước vào trong, không tin được vào mắt mình, khoang máy bay rộng như một tòa nhà, có ba hàng ghế, hàng ghế giữa có bốn, hàng ghế hai bên có ba, tổng số ghế theo chiều ngang mười ghế chạy dọc suốt chiều dài thân máy bay. Gia đình Thùy theo tiếp viên đến dãy thứ mười, ngồi hàng bên phải có ba ghế liền nhau. Sau khi đưa hành lý vào khoang để đồ, Bình ngồi bên ngoài sát lối đi như để bảo vệ, bé Hiền thích thú được ngồi sát cửa sổ nhìn ra ngoài, đứng lên ngó xung quanh. Hơn 20 phút sau, ổn định chỗ ngồi, hai tiếp viên hàng không đứng giữa lối đi hàng ghế trên cùng, một người tay cầm micro nói tiếng Anh, một người làm các thao tác hướng dẫn hành khách cách xử lý không may xảy ra sự cố trong cuộc hành trình. Rất may, đoàn 54 người tỵ nạn Việt nam có Mai Anh phiên dịch viên đứng lên dịch lại những điều người tiếp viên giới thiệu. Thùy và mọi người nhìn nhau, gật gù cười. Bình quay sang thắt dây an toàn cho Hiền:
- Con gái ngoan ngồi yên không được nhòm ngó, sẽ bị ngã, nhớ không.
Hiền ngoan ngoãn gật đầu:
- Dạ, vâng.
Tiếp theo, trên loa phóng thanh tiếng người phi công giới thiệu tổ lái và phi hành đoàn chịu trách nhiệm đưa đoàn khách từ Hồng Kông đến London. Sau khi yêu cầu hành khách thắt dây an toàn, ổn định chỗ ngồi, đèn trong khoang tối lại, nghe tiếng động cơ máy bay ầm ầm rất rõ, bên phải chồng, bên trái bé Hiền, Thùy vẫn không tin đây là sự thật đang được ngồi trên máy bay sang Anh Quốc định cư, một cảm giác vui mừng lâng lâng khó tả. Hiền hai tay bám chặt thành ghế, mắt chăm chú nhìn qua cửa sổ, máy bay từ từ lăn bánh ra đường băng, vài phút sau tiếng động cơ rít lên, tăng tốc, toàn thân rung nhẹ, máy bay cất cánh khỏi đường băng lao lên bầu trời xanh. Hiền vẫn chăm chú nhìn qua cửa sổ vẻ mặt vừa ngạc nhiên vừa thích thú thỉnh thoảng quay sang mẹ, cười.
Vợ chồng Thùy nhìn nhau cười, nụ cười run run hạnh phúc, tràn đầy sung sướng, mắt rơm rớm lệ, không tưởng tượng nổi mình lại được ngồi trên máy bay, giờ phút không bao giờ dám mơ ước đang là sự thực. Cuộc đời tỵ nạn bắt đầu sang trang mới, không biết sẽ như thế nào, nhưng chắc chắn hơn hẳn những tháng ngày đã qua. Thùy nhìn mọi người cùng chuyến bay, những người cùng thuyền mấy tháng trước. Ai cũng mặc quần áo đẹp, lịch sự, tuy khuôn mặt vẫn còn rõ dấu vết mệt mỏi gầy gò, của tháng ngày chạy loạn gian truân vất vả. Đoàn tỵ nạn gồm 54 người trong chuyến bay, tựa như đoàn khách du lịch ngồi tập trung gần nhau trong sáu dãy ghế.
Đang chìm trong niềm vui suy tưởng, đột nhiên đèn bật sáng, Thùy giật mình nhìn thấy các tiếp viên hàng không chuẩn bị bữa ăn sáng cho hành khách. Hai lối đi đều có xe đẩy chở đồ ăn, nước uống từ dưới đuôi máy bay đi lên. Xe đi đến đâu tiếp viên đưa bảng thực đơn cho hành khách lựa chọn món ăn, nước uống. Bảng thực đơn ghi bằng tiếng Anh nhưng có hình ảnh món ăn, Thùy rất ngạc nhiên, máy bay Anh Quốc có món cơm và cá rán rim cà chua, đậu xào của người Việt. Gia đình Thùy nhận ba xuất cơm cá rán, đậu xào. Bữa ăn đầu tiên của cuộc đời trên máy bay sao ngon thế, không bao giờ quên. Thu dọn xong, các tiếp viên lần lượt phục vụ nước uống, cà phê đen, cà phê sữa, trà, nước ngọt. Thùy và Bình uống cà phê sữa, Hiền uống Coca. Gần một tiếng sau, đèn trong khoang mờ tối, chỉ còn nghe thấy rõ âm thanh u....u... của động cơ máy bay. Ánh sáng mờ mờ mát dịu, ru hành khách chìm vào giấc ngủ, vài người đọc sách, uống nước, cà phê. Bé Hiền đã ngủ ngon, Thùy bế con hai cánh tay mỏi rã rời, chuyển cho Bình. Tựa đầu vào thành ghế, Thùy cố gắng nhắm mắt nghỉ ngơi, chìm vào giấc ngủ. Không biết đã bay được bao nhiêu lâu, đèn bật sáng, tiếng cô tiếp viên thông báo máy bay chuẩn bị hạ cánh. Tất cả hành khách bật dậy, thắt dây an toàn, hồi hộp chờ máy bay đáp xuống đường băng. Đột nhiên máy bay rung mạnh, chạy băng băng trên đường rồi giảm tốc độ dần. Máy bay Boeing 747 của hãng hàng không British Airway hạ cánh an toàn xuống sân bay Heathrow London vào 6 giờ sáng giờ London ngày 31- 1-1980.
Tất cả mọi người xuống, đi theo Mai Anh, làm đầy đủ thủ tục nhập cảnh cho cả đoàn nhanh gọn. Lấy hành lý xong, mọi người ra cửa đã thấy nữ nhân viên trại tỵ nạn đứng đón ở sảnh đường. Mai Anh và người ở trại bắt tay nhau, tự giới thiệu:
- Rất hân hạnh, chào mừng tất cả bà con cô bác anh chị, tôi là Ann nhân viên văn phòng thay mặt Trại tỵ nạn Thorney Island đến đón quý vị.
- Tôi là Mai Anh, thông dịch viên, có nhiệm vụ đưa đoàn 54 người từ Hồng Kông đến trại.
Từ giờ phút này đoàn người đi theo cô nhân viên mới. Đến một đất nước xa lạ, gặp người nói tiếng Việt, ai cũng phấn khởi, tin tưởng, nỗi lo sợ tan biến dần. Tiếng bước chân, tiếng kêu của bánh xe va-li lăn đều đều trên hành lang, mọi người lặng lẽ bước theo hai cô gái. Đường hành lang dài dằng dặc, hết đoạn này đến đoạn khác, nối tiếp nhau mãi chưa đến bãi đậu xe. Sân bay quá rộng, sạch sẽ, đèn điện sáng trưng suốt dọc hành lang, Hiền và mấy đứa trẻ thích thú thi nhau chạy, đuổi theo bóng người in dưới mặt đường. Hiền lúc đầu vui mừng chạy, sau mệt đòi bố cõng, Bình một tay kéo va-li, một tay đỡ mông con phía sau, mấy đứa thấy vậy làm theo, đòi bố mẹ cõng.
Sau 15, 20 phút đến khu vực đậu xe, người tài xế xe coach khi thấy đoàn người vội bước xuống, mở khoang chứa hành lý ngang thân xe. Thu xếp xong hành lý, mọi người lần lượt lên xe theo hướng dẫn của phiên dịch viên Ann. Trước khi xe chuyển bánh, Ann đứng cạnh người lái xe tay cầm micro nói:
- Thưa tất cả quý vị đồng hương, trại Thorney Island nơi đón tiếp chúng ta tọa lạc phía Đông nam nước Anh, xe chạy khoảng trên năm giờ đồng hồ mới tới. Tôi biết quý vị rất mệt mỏi sau chuyến bay dài, nhưng phải cố gắng về trại trước khi trời tối, vì đường xa, dọc đường sẽ dừng lại mọi người ăn uống, nghỉ ngơi, đi vệ sinh. Ai có ý kiến hay thắc mắc gì không?
Biết gì đâu thắc mắc, ai cũng im lặng, mong xe chạy cho nhanh đến nơi, Ann nhắc thêm:
- Yêu cầu quý vị thắt dây an toàn, đường cao tốc rất nhiều xe, chạy với tốc độ nhanh, chúng ta chấp hành luật giao thông cũng là đảm bảo tính mạng của bản thân.
Xe từ từ lăn bánh ra khỏi khu vực đậu xe, qua cổng có máy thu tiền, xe rẽ quành về hướng nam. Đường cao tốc có hai chiều chạy ngược nhau, đi và về. Mỗi tuyến đường có ba làn xe, nhóm người ngồi hàng ghế trước chăm chú nhìn con đường rộng dài thẳng tắp, người ngồi hàng ghế sau dán mắt qua khung cửa sổ, xe chạy trong sương mù lúc ẩn, lúc hiện, nhìn thật thú vị nếu ngắm nhìn từ xa.
Buổi sáng vào giờ đi làm hai tuyến đường xe chạy tấp nập, chỉ nghe tiếng gió, tiếng xe vụt qua, tiết trời tháng giêng in đậm nét mùa đông giá lạnh, tuy mặt trời đã lấp ló hé cười, nhưng không xua tan nổi lớp sương mờ vẫn dai dẳng đeo bám lượn lờ phía trước. Hai bên đường sương giá trắng toát phủ kín, những cuốn cỏ khô rất to rải rác trên cánh đồng. Từng đàn cừu thong thả gặm đám cỏ khô. Mọi người chăm chăm ngắm phong cảnh đất nước xa lạ nhưng là nơi sống và làm việc sau này. Miên man trong suy nghĩ, bỗng nhiên chiếc xe coach giảm tốc độ rẽ sang bên trái chạy vòng, một lúc sau nhìn thấy trạm bán xăng dầu và bãi đậu xe, rồi dừng hẳn.
Ann cầm micro nói:
- Thưa bà con cô bác, xe tạm dừng ở đây một giờ giải lao, quý vị tranh thủ đi vệ sinh sau đó tập trung trước hành lang ra vào, tôi đưa quý vị đi ăn trưa, sau đó chúng ta tiếp tục lên đường.
Một bà nhanh nhảu:
- Xin cho tôi hỏi, chúng tôi không có tiền! Ann trả lời ngay:
- Xin quý vị yên tâm, bữa ăn do quỹ trại đài thọ, tôi chịu trách nhiệm chi trả.
Lời nói của Ann xóa hết mọi băn khoăn tất cả mọi người. Thời gian nghỉ ở đây không nhiều, mọi người bảo nhau tranh thủ cho kịp, theo Ann và Mai Anh qua bãi đậu xe vào bên trong trạm nghỉ dọc đường. Đoàn tỵ nạn như lạc vào một thế giới chưa từng thấy. Trạm dừng chân rộng như một trung tâm buôn bán sầm uất, người đi lại tấp nập, nhiều cửa hàng bán đồ khác nhau, ánh đèn màu nhấp nháy thật cuốn hút. Cửa hàng cà phê, bánh ngọt, đồ ăn nhanh ăn tại chỗ hay đem đi, cửa hàng bán đồ kỷ niệm, quần áo các loại mọi lứa tuổi, sách báo, rất tiện lợi cho mọi người khi cần thiết. Đâu phải chỉ trẻ con tỵ nạn ngơ ngác, người lớn cũng đứng túm lại dán mắt vào các quầy hàng, tủ kính bày bánh ngọt, mùi thơm bay ra hấp dẫn.
Thùy nhận thấy rõ sự khác biệt với Việt Nam, nơi mua bán đông người nhưng không ầm ỹ, nhộn nhạo, bình tĩnh xếp hàng thứ tự, không chen lấn, xô đẩy, người mua người bán đều lịch sự nhẹ nhàng. Gia đình Thùy và tất cả đoàn người tập trung xung quanh khu ăn uống chờ Mai Anh và Ann đưa đến một cửa hàng khá rộng đủ chỗ cho mọi người. Ann đưa bảng thực đơn cho từng bàn lựa chọn. Chỉ là trạm dừng chân nên món ăn thường có bánh mỳ kẹp thịt, bánh ngọt, nước uống gồm cà phê, trà và nước hoa quả đóng chai, nước suối. Sau khi lựa chọn món ăn xong, người phục vụ ghi số lượng món ăn, đồ uống từng bàn chuẩn bị.
Mươi phút sau nhân viên cửa hàng bưng từng khay ly cà-phê, chai nước hoa quả và nhiều loại bánh trong đó có bánh cong cong như sừng bò nhỏ, đặt lên bàn, cười mời mọi người xin tự nhiên. Ann giải thích:
- Xin mời quý vị tự nhiên, tôi đã thanh toán cửa hàng, sau 45 phút nữa chúng ta ra xe, tiếp tục về trại theo kế hoạch.
Một bữa trưa nhẹ theo đúng kiểu phương Tây, khác với món ăn bình dân người Việt, thơm mùi bơ sữa, là lạ nhưng vì đói nên gật gù khen ngon. Lũ trẻ hình như biết điều hơn, ngoan ngoãn ngồi ăn, không mè nheo đòi hỏi gì. Người lớn cũng im lặng ăn uống, có lẽ trong đầu ai cũng ngổn ngang bao ý nghĩ về những gì sắp tới.
Đoàn người ra bãi đậu xe, ổn định chỗ ngồi. Được ăn uống lót dạ, yên tâm tiếp tục chuyến đi. Hiền gối đầu lên đùi Bình ngủ say sưa, Thùy ôm con ngủ gà ngủ gật, thằng bé được bú no ngủ suốt dọc đường không một tiếng khóc. Không khí trên xe thật yên tĩnh, một chút ánh nắng yếu ớt chiếu qua cửa kính làm chói mắt người ngồi gần bên cửa, sương đã tan lộ rõ những cánh đồng mênh mông thẳng tắp.
Khoảng 3 giờ chiều xe rẽ vào con đường nhỏ dẫn đến trại Thorney Island. Năm 1979, chính phủ Anh dưới sự
lãnh đạo của Đảng Bảo Thủ do bà Magaret Thatcher làm thủ tướng, chính thức tiếp nhận 19,000 người tỵ nạn Việt Nam trong các trại Hong Kong, Ma Cao, Philippine, Malaysia vào Vương Quốc Anh.
Trại Thorney Island trước đây là doanh trại quân đội. Tháng 8 năm 1979 thành lập trại tỵ nạn, do Hội Đồng Anh bảo trợ quản lý. Năm 1980 phát triển trở thành một trong ba trại tỵ nạn lớn nhất Vương Quốc Anh. Mục đích, trước khi giải quyết tái định cư giúp họ học Anh ngữ, khám sức khỏe, tìm kiếm nhà tái định cư, tìm công ăn việc làm, giúp hòa nhập vào cuộc sống xã hội nơi cư trú.
Từ xa nhìn thấy rõ tòa nhà gạch 4 tầng màu nâu đỏ, sừng sững trên một vùng đất rộng, chiếc coach tắt máy dừng trước sân cửa trại. Trên cao, cửa chính tòa nhà căng một tấm vải rộng 60 cm, dài khoảng 2 mét nằm ngang nổi bật dòng chữ ‘Chào mừng các bạn Việt Nam đến trại Thorney Island’, một nhóm gồm năm, sáu người tay ôm bó hoa đứng chờ cổng ra vào. Thấy khung cảnh được đón tiếp nồng thắm, Thùy cũng như mọi người trên xe, không ngăn được xúc động, dòng chữ Việt màu trắng nổi bật giữa nền vải đỏ căng chính giữa cổng tòa nhà như được trở về quê hương sau bao ngày xa cách, xúc động lắm, mắt ngấn lệ.
Mọi người lần lượt bước xuống xe, tài xế mở cánh cửa bên dưới cạnh xe cho bà con nhận va-li, túi xách, người nào cũng run run không biết vì lạnh hay hồi hộp, xúc động. Nhóm người ôm hoa đến trao cho Mai Anh và-mấy ông bà lớn tuổi. Một ông cao to người Anh hồ hởi bắt tay Mai Anh, đoàn người kéo va-li, đồ đạc đi vào bên trong tòa nhà theo chỉ dẫn vào phòng để đồ đạc, va-li, sau đó tiếp tục đi hơn chục mét đến phòng đón tiếp, xếp mấy dẫy bàn ở giữa, hai bên có hai hàng ghế ngồi. Trên bàn đặt bình hoa tươi nhiều màu sắc. Ông người Anh - chắc trong ban quản lý trại - phát biểu, Ann đứng bên phiên dịch. Tiếp theo vài người khác phát biểu, thủ tục tiếp đón diễn ra nhanh gọn trong bầu không khí thân mật, vui vẻ. Sau cùng cô Ann nhắc:
- Bây giờ quý vị nhận chìa khóa, mỗi hộ gia đình một phòng, trong có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt. Yêu cầu tất cả mọi người 6 giờ chiều nay có mặt tại nhà ăn tập thể ở tầng 1 dùng bữa tối, sẽ có nhân viên của trại và tổ trưởng các tầng lầu hướng dẫn quý vị nhận phòng ở. Hôm nay và ngày mai, mọi người nghỉ ngơi, thu xếp phòng ở, sau đó sẽ thông báo thời gian kiểm tra sức khỏe.
Thấy mọi người ồn ào, Ann vỗ tay ra hiệu yên lặng, nói thêm:
- Trại cung cấp ngày ba bữa ăn, điểm tâm bắt đầu từ 7.30, bữa trưa từ 12, bữa tối từ 5.30 tại nhà ăn tập thể.
Ai cũng mệt mỏi và nóng lòng được nhận phòng ở nên không chú ý lắng nghe. Từng gia đình nhận giấy ghi số phòng, số tầng lầu, hai chìa khóa. Bình tay kéo va-li, tay xách túi du lịch đi cùng ông tổ trưởng Tiến, mẹ con Hiền theo sau. Phòng gia đình Thùy và hai gia đình nữa ở tầng 2. Ông Tiến làm tổ trưởng tầng 2 có hai mươi hộ, hôm nay đón nhận thêm ba gia đình.
Khi cánh cửa phòng mở ra, trước mắt vợ chồng Thùy, một căn phòng vuông vắn, tường sơn màu trắng. Bên trái kê hai chiếc giường hai tầng, bên phải bàn ăn xinh xinh và bốn chiếc ghế. Đôi diện tường bên có chiếc tủ đứng. Tổ trưởng Tiến chỉ tay về phía trong:
- Bên trong có chỗ đun nấu, buồng tắm, nhà vệ sinh. Trại tuy có nhà ăn tập thể phục vụ ba bữa, nhưng ban quản lý trại không ngăn cấm bà con nấu ăn thêm cải thiện sinh hoạt, vì có thể chưa thích nghi với món ăn trong căng tin.
Thùy hỏi ông Tiến:
- Cho tôi hỏi, nhà ăn thường phục vụ món ăn của Việt Nam hay của phương Tây?
Ông Tiến cười nói:
- Mình đang sống ở Anh Quốc, phải tập thích nghi mọi mặt với xã hội bên này. Trước lạ sau quen, thôi tôi phải đi sang gia đình khác, anh chị tìm hiểu thêm sau.
Ông Tiến chào tạm biệt, Bình để va-li vào tủ đứng, cùng Thùy đến phía trong xem buồng tắm. Hai người sững lại, trước mặt một buồng nhỏ gọn gàng có bồn rửa mặt, bể tắm cùng vòi hoa sen, cầu tiêu sạch sẽ, tủ gương xinh xinh gắn vào tường. Một căn phòng nhỏ đầy đủ tiện nghi, sau những tháng ngày gian nan vất vưởng, đói khổ, vợ chồng nhìn nhau không biết nói gì. Bất ngờ Hiền bên cạnh, tay giật giật áo mẹ:
- Mẹ ơi, bố ơi! Cả nhà mình được ở đây mãi à? Đẹp quá, con thích lắm, không phải khổ như ở bên Hồng Kông nữa.
Tiếng gọi của Hiền đưa Thùy trở về với thực tại. Đúng, đây là sự thật, không phải nằm mơ. Thùy đi lại giường nhìn con, Bắc Hải vẫn ngủ ngon, không để ý đến xung quanh. Thùy tranh thủ sắp xếp quần áo cho vào ngăn kéo tủ, quay ra nói với Bình:
- Anh để ý thằng bé, hai mẹ con em tắm trước, đến 6 giờ có mặt ở nhà ăn tập thể ăn cơm tối.
Thùy lấy quần áo, khăn hai mẹ con vào buồng tắm. Bình ngắm nhìn quanh phòng, con vẫn ngủ say, ngả lưng xuống giường bên cạnh, thật thoải mái sau bao nhiêu ngày chưa được nằm trên giường.
Hiền được mẹ tắm xong, mặc chiếc váy vải thun hoa, khoác cái áo len dài tay bên ngoài, trông khác lúc mới vào, xinh hẳn ra. Tìm thấy con búp bê mặc quần áo màu đỏ Hiền thích lắm, ôm chặt búp bê đi ra giường ngồi gần em đang ngủ. Thùy trong buồng tắm đi ra gọi Bình:
- Anh Bình, vào tắm kẻo muộn, mẹ con em xong rồi.
Tắm xong, thật thoải mái dễ chịu, quên hết mệt mỏi sau chuyến bay dài. Bây giờ Thùy mới có tâm trí quan sát xung quanh gian phòng, từ hôm nay sẽ là căn nhà bé nhỏ của gia đình, không còn những ngày tháng nằm trên nền gạch xi măng cứng như đá. Cuộc đời Thùy và các con bước sang trang mới, hoàn toàn khác. Khi rời Việt Nam, Thùy đâu dám nghĩ sẽ được bình an và đến một đất nước xa lạ, khác màu da, tiếng nói. Một đất nước chỉ biết qua trang sách, chưa nhìn thấy, ngay tưởng tượng cũng mờ ảo như sương mù, sao không tránh khỏi lo sợ. Chiều nay chứng kiến cảnh đón tiếp thân mật, ấm áp như người thân lâu ngày mới gặp lại, với Thùy, cuộc đời như đảo lộn.
Nơi ta sinh ra, phải rời xa
Nơi ta sợ hãi, lại đón ta nồng ấm...
Thùy đang chìm đắm miên man bao suy nghĩ, tiếng Hiền gọi mẹ:
- Mẹ ơi! Em bé thức dậy rồi.
Thùy giật mình, nhẹ nhàng bế Bắc Hải lên:
- Ôi, con dậy rồi à? Ngủ ngoan quá. Bây giờ mẹ kiểm tra xem có tè ra không nào. Tè ra chị Hiền cười bêu bêu đấy.
Thằng bé đạp đạp chân cười khanh khách, vừa lúc Bình tắm xong bước ra hỏi:
- Con trai của bố dậy rồi à?
Thùy bế con vào buồng tắm rửa cho con, không quên nhắc Bình xem mấy giờ. Còn 20 phút nữa mới đến 6 giờ, bên ngoài trời đã tối mịt, không nhìn thấy gì. Bình vừa lau tóc cho bé Hiền vừa nói:
- Bố con mình sạch sẽ thơm tho, giờ chỉ còn cu tý bẩn thôi, con gái nhỉ?
Hiền cười, khoe với bố:
- Mẹ con cũng đang rửa cho em bé đấy, em ngoan có khóc đâu, mẹ khen em bé.
Bình gật đầu:
- Ừ, cả nhà ta đều ngoan.
Lau rửa cho con xong, Thùy ra ghế ngồi cho con bú.
Trong đầu nghĩ mấy việc cần làm:
- Thiếu cái chậu to trong buồng tắm.
- Đã có bình đun nước uống hàng ngày, có nồi cơm điện, bộ ấm chén Thùy mua ở Hồng Kông. Nhưng sẽ cần bát ăn cơm, mấy đôi đũa, thìa, muối, mỡ nấu ăn.…
Trước mắt tạm thời mua mấy thứ, tìm hiểu mua các đồ khác sau, Thùy nói với chồng:
- Sau khi ăn tối xong, mình đi vòng quanh trại xem thế nào anh nhé?
Hiền đồng ý ngay:
- Cả nhà mình cùng đi. Bình gật đầu nhất trí:
- Bố con mình xin tuân lệnh mẹ Thùy. Em này không biết mình có gặp ai ở đây không nhỉ?
- Em không biết, nhưng hy vọng nếu có họ đến trước, chắc thông thạo hơn.
Nghe tiếng bước chân bên ngoài hành lang, dép lê quèn quẹt vì không chịu nhấc chân, âm thanh khó chịu chỉ có ở người Hoa và người Việt, báo hiệu đã đến giờ ăn tối. Bình nhìn đồng hồ, giục mẹ con Thùy nhanh chân đi cùng mọi người. Đường cầu thang từ tầng 2 xuống khoảng hai mươi bậc. Nhà ăn tập thể của trại chạy dài suốt nửa tầng 1, nhà bếp phía trong, ngăn cách một dẫy bàn dài, bên ngoài kê nhiều dẫy bàn, hai hàng ghế dài ngồi đối diện. Mọi người xếp hàng gần nhà bếp, lấy khay gỗ và đĩa to đựng thức ăn để sẵn trong khay, đợi được giao phần ăn theo số phòng, xuất ăn của trẻ em ít hơn người lớn, nhân viên nhà bếp lần lượt đưa ra để trên bàn theo số người trong phòng. Nhìn mọi người đến trước, Bình và Thùy đứng vào hàng làm theo.
Tối nay nhà bếp cho ăn khoai tây rán cắt dài bằng ngón tay, cá tẩm lớp bột mỏng rán ròn, thêm một ít hạt đậu xanh hấp chín. Ba thứ gọn trong đĩa to tiêu chuẩn ăn của một người, gia đình Thùy được hai xuất và một xuất trẻ em. Bắc Hải đang bú sữa được phát sữa tươi và hai lọ thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng dành cho trẻ dưới mười hai tháng. Bữa ăn đầu tiên ở trại, món khoai tây và cá rán ròn nhìn hấp dẫn, bốc hơi nghi ngút, thơm lừng, ngoài sự mong đợi. Nhiều người ăn xong ra về, Thùy lúng túng với lọ thức ăn, chị ngồi bên cạnh thấy vậy, nói:
- Không nhất thiết phải cho ăn ngay ở đây, cô đem về phòng, khi nào cháu đói cho ăn. Chắc gia đình cô mới đến trại phải không?
Thùy ngượng ngùng đáp:
- Vâng, nhà em mới đến chiều nay, cứ thế này cho ăn lạnh hả chị?
- Có trẻ ăn được lạnh, có đứa không, cô ngâm vào nước nóng cho đỡ lạnh, không lo đau bụng. Lọ thức ăn này tốt lắm đấy, đầy đủ các chất bổ.
- Em cảm ơn chị. Đúng thật cái gì cũng lạ, bỡ ngỡ.
- Yên tâm, dần dần sẽ biết, sẽ quen thôi. Thôi, tôi ăn xong rồi, các cháu nhà tôi đã về từ lâu.
- Vâng, cảm ơn chị, gặp nhau sau.
Bình và bé Hiền ăn xong, Bình bế Bắc Hải cho Thùy ăn nốt thức ăn còn trên đĩa. Bé Hiền nhắc mẹ:
- Mẹ ăn hết đi có sữa cho em bú, cá và khoai rán ngon lắm. Con chưa bao giờ được ăn ngon thế này.
Thùy vừa ăn vừa nghĩ, “Thật vậy, bao nhiêu ngày tháng, nay đây mai đó, không nhà ở, đói ăn, thiếu mặc, Hiền đã chịu bao nhiêu cực khổ cùng cha mẹ từ khi mới ba tuổi, nghe con khen ngon, làm mẹ sao không khỏi xót xa”. Người ăn xong ra về, tiếp tục người khác đến, nhà ăn mở cửa đến 7.30. Thùy đem lọ thức ăn của Bắc Hải về phòng. Ra bên ngoài hành lang, một số người đang thong thả đi bộ, Hiền đi trước nhìn ngó xung quanh, Bình bế thằng bé lên cao, nó cũng ngó nhìn khắp nơi, thích thú đưa tay đòi đi theo chị. Sang nửa bên kia tầng 1, nhiều người đi về hướng đó, phòng đầu tiên khá rộng thấy hàng chữ “Mini shop”, Thùy mừng quá, vào xem, Hiền cũng theo vào. Bình thấy vậy nói với Thùy:
- Bố con anh sang phòng bên cạnh, mẹ con em ngắm xem có gì mình cần.
Cửa hàng bầy bán nhiều thứ, từ xà phòng bánh, đến kim chỉ may vá, đồ dùng trong nhà. Thùy đang nhìn xem có chậu to không, nghe tiếng gọi khẽ ở phía sau:
- Chị Thùy phải không?
Thùy quay lại, nhận ra Minh, người cùng quê với Bình, mừng quá:
- Ôi, Minh đấy à? Gia đình em sang bên này khi nào? Chú ấy đâu?
Minh cũng mừng, tay vỗ vỗ vào vai Hiền nói:
- Em đến trại này được hai tuần rồi. Từ ngày đến Tuen Mun gặp chị, em không biết thêm tin tức gì của anh chị. Anh Bình và thằng cu đâu? Bé Hiền hôm nay trông xinh quá.
- Hai bố con ở quanh đây thôi, tôi vào tìm xem muốn mua vài thứ.
Minh nhìn, thông cảm:
- Mua thứ gì thật cần thôi, trước mắt cần gì em có đưa chị dùng. Mỗi tuần có xe coach đưa người đi trung tâm quận, cửa hàng to nhiều đồ bán, rẻ hơn ở đây.
- Ừ, thế mua cái chậu to và bánh xà phòng trước, bát đũa mua ở đâu?
- Chị không lo, mua dần. Bây giờ em đưa chị đến phòng em ở cho biết, mình nói chuyện nhiều, nhưng chị có tiền bảng Anh chưa?
Thùy chợt nhớ ra, không phải ở Hồng Kông, lắc đầu:
- Chị có ít đô la Hồng Kông thôi. Minh cười:
- Em mua giúp chị cái chậu và bánh xà phòng, về phòng em, mình tâm sự.
Mua xong, ra cửa thấy bố con Bình đứng đợi bên ngoài, gặp Minh, Bình vui lắm, nói tiếng địa phương với nhau, sau nhớ ra có mẹ con Thùy đứng đó, nên nói tiếng Việt, Minh bảo:
- Đến phòng tụi em, chồng em gặp anh chắc vui lắm đấy. Hai chị em cũng có nhiều chuyện tâm sự.
Tất cả kéo nhau về phòng vợ chồng Minh, vừa đi lên cầu thang Minh vừa nói:
- Nhà em ở tầng 2, phòng cuối cùng của dẫy. Thùy vui vẻ nói ngay:
- Vậy hai nhà cùng tầng 2, gần nhau rồi. Như chợt nhớ ra, Thùy quay sang Bình:
- Anh Bình, cầm cái chậu và bánh xà phòng Minh mua hộ đem về trước, em và con đến phòng Minh, anh đến sau vậy.
Thật may mắn, hai nhà ở gần nhau. Gia đình Minh có ba con, hai gái, con trai lớn trên mười tuổi, con gái bẩy tuổi và đứa út kém Hiền mấy tháng. Đến gần phòng, Minh đi trước mở cửa, người chồng ngồi ghế đang chăm chú xem giấy tờ, vừa bước vào, Minh gọi chồng:
- Anh Hùng ơi, có nhận ra ai đây không?
Hùng hơi ngạc nhiên, vì Hùng chưa gặp Thùy bao giờ. Thùy tự giới thiệu làm quen:
- Tôi là Thùy, vợ anh Bình, người cùng quê với vợ chồng anh.
Quay ra bảo Hiền:
- Con gái quên hay sao? Hiền khoanh tay chào:
- Cháu chào bác Hùng! Minh nhanh nhảu nói:
- Cháu cô ngoan quá! Chào chú Hùng. Chị Thùy, chúng em ít tuổi hơn anh Bình.
Hùng vui vẻ mời Thùy ngồi, nhắc Minh đun nước pha trà, thật thà nói với Thùy:
- Gia đình em đến trại được hai tuần, nhưng không gặp người quen nào, nay có gia đình anh chị, chúng em mừng lắm, mình cùng quê dễ hiểu và thông cảm hơn.
Thùy ngồi xuống ghế, Bắc Hải đứng nhảy tâng tâng trên đùi mẹ, cười khanh khách. Thùy gật đầu đồng ý với Hùng:
- Tôi cũng nghĩ vậy.
Có tiếng gõ cửa, Hùng đứng dậy ra mở cửa, thấy Bình, cười mừng rỡ:
- Trời ơi, anh Bình, vào đi.
Hai người bắt tay nhau cùng cười lớn, tranh nhau nói, Bắc Hải không hiểu gì càng nhảy mạnh hơn, Hiền đứng bên cầm tay em lắc lắc. Gian phòng vang tiếng nói cười của hai người đàn ông. Thùy bế con đứng dậy nhường ghế cho Bình. Hùng và Bình ngồi xuống, người nói, người hỏi, bao nhiêu chuyện muốn biết trong thời gian qua. Bây giờ Thùy mới thấy Bình cười nhiều, nói nhiều, tất nhiên bằng thổ ngữ vùng quê nơi họ sinh ra. Thùy ngắm nhìn căn phòng, cũng kê hai giường tầng, cũng tủ đứng giống như phòng Thùy. Bếp và buồng tắm bên trong, Minh đun nước pha trà, Thùy hỏi Minh:
- Mấy cháu nhà Minh đi đâu không thấy? Minh thản nhiên đáp:
- Mấy anh em chúng nó tối nào ăn xong cũng xin phép ra ngoài chơi, trong phòng không có gì cũng buồn. Hôm nào có phim thì xem, sau về học bài. Hai đứa lớn học lớp khác với con bé út. Cháu Hiền nhà chị năm nay mấy tuổi?
Thùy nói:
- Mấy tuần nữa đầy bốn tuổi, tụi trẻ con đi học thế nào, Minh?
- Vậy Hiền hơn cháu Xuân mấy tháng, học lớp mẫu giáo, sáng có xe đến đón ở sân trước cửa trại, trưa xe đưa về. Hai đứa lớn buổi sáng học hai tiếng rưỡi, chiều hai tiếng rưỡi, ăn sáng, ăn trưa xong đi học. Có thể cháu Hiền sẽ học cùng lớp với cháu Xuân nhà em.
Thùy muốn hỏi nhiều nhưng ngại, Minh chủ động bảo:
- Chị muốn hỏi gì thêm, em biết em giúp, sao chị phải ngại.
Thùy cười ngượng:
- Người lớn như chị em mình học lớp nào? Ông tổ trưởng nói mình có thể được nấu ăn thêm trong nhà, vậy đồ dùng, thức ăn mua ở đâu? Làm gì có tiền, chị muốn biết nhiều thứ quá, thắc mắc trong lòng không yên tâm.
Minh an ủi:
- Chị yên tâm, lúc đầu em cũng lo như chị. Bây giờ quen rồi, sẽ có một buổi tập trung phổ biến quy định trong trại. Nam giới có gia đình cũng như thanh niên học lớp riêng, chị và em có con nhỏ học nửa buổi sáng hoặc chiều. Cuối tuần có xe đến đón, ai muốn đi ra trung tâm thị xã, ở đó có cửa hàng lớn, hai chị em mình cùng đi.
Nhưng chị phải đổi tiền Anh, còn trả nợ cho em. Minh cười trêu Thùy:
- Cho chị nợ, em tính lãi cao. Minh cười nhìn Thùy:
- Chị không lo, mỗi người được 5 đồng một tuần, em quen mồm, bên này họ gọi bảng Anh, chị a. Nhà em năm người tuần lĩnh 25 bảng, nhà chị bốn người, 20 bảng. Ba bữa ăn, sữa cho trẻ con miễn phí.
Thùy phần nào đã dịu bớt lo, nói khẽ với Minh:
- Minh biết không, chị vẫn không tin, hoàn toàn khác với trại tỵ nạn bên Hồng Kông? Người Tây họ có quát mắng mình không em,
Minh giải thích:
- Không có chị ơi. Nhìn người họ to cao, khác màu da, không phải tóc đen như mình, nhưng gần gũi, thân thiện, lúc đầu em sợ không dám đứng gần.
Bên ngoài Bình và Hùng chuyện trò không ngừng. Có tiếng gõ cửa, mấy đứa trẻ về, trông thấy Bình và Thùy, mấy anh em cúi đầu, miệng chào. Hùng nói với Bình:
- Ba cháu nhà em đấy, ăn cơm xong mấy anh em đi chơi xung quanh trại.
Đứa con trai lớn lặng lẽ đến giường ngồi, hai con gái chạy vào bên trong với mẹ. Xuân cũng chạc tuổi Hiền, hai đứa liếc nhìn nhau thăm dò, Minh vẫy tay gọi Hiền đến, tay đặt lên vai Thu và Xuân, nói với Hiền:
- Hiền làm quen với chị Thu và em Xuân nhé, con gái của cô. Hiền con gái bác Thùy, hơn tuổi Xuân một chút. Từ nay, Thu là chị lớn, hai nhà ở gần nhau nên ba chị em phải thương nhau, giúp đỡ nhau, nghe lời chị Thu, nhớ không?
Ba đứa miệng vâng dạ, chúng nhìn nhau cười. Trẻ con thật hồn nhiên, phút đầu e ngại, sau như quen biết từ lâu, theo nhau ra phía giường chơi.
Bắc Hải không cười như trước nữa, không ai chơi với nên bắt đầu nhăn nhó. Thùy biết tính con, gọi Bình đã đến lúc phải về. Bình đứng dậy bắt tay Hùng:
- Cảm ơn Hùng và Minh nhiều. Tối nay vui quá gặp được đồng hương, hẹn ngày mai gặp lại.
Thùy gọi Hiền, cảm ơn Minh, Hùng:
- Cảm ơn hai người, giờ đã muộn, thằng bé khóc đòi ăn, xin phép cho cháu về, ngày mai đi ăn sáng chắc gặp nhau.
Minh, Hùng và ba đứa trẻ vui vẻ tạm biệt, chúng phải làm bài ngày hôm sau đi học. Hôm nay Hùng và Minh vui lắm, mang tiếng người cùng quê, nhưng Hùng cũng như Bình đều đi làm xa, ít khi gặp. Nay gặp nhau trên đất lạ quê người, sao không vui mừng và xúc động chứ.
Về đến phòng, Thùy giục bé Hiền đi đánh răng, đi ngủ, đặt ấm đun nước sôi ngâm lọ thức ăn cho Bắc Hải ăn thử. Bình tìm trong tủ thấy mấy chăn dạ, đem ra để mỗi giường một cái, nói với Thùy:
- Bên này mùa đông rét, nhưng trong trại, trong phòng ấm. Ở Hồng Kông nóng gay gắt, sang đây ngược lại rét quá, không biết mùa hè thế nào.
Thùy lấy bát to và thìa nhỏ đem từ Hồng Kông, đổ nước sôi vào ngâm lọ thức ăn, chậm rãi hỏi Bình:
- Anh và Hùng lâu ngày mới gặp chắc hôm nay anh vui lắm khi có cô chú ấy ở cùng trại.
- Ừ, đúng vậy! Hùng lái xe vắng nhà suốt, anh về quê ít khi gặp. Vợ chồng chú hiền lành, tốt tính ở quê ai cũng mến.
Thùy vừa cho con ăn vừa nói chuyện, không quên nhắc Hiền đánh răng cẩn thận, rửa tay rửa mặt sạch sẽ. Bình đi vào buồng tắm kiểm tra, thấy Hiền rửa mặt xong, bảo con:
- Con ra ngoài chờ bố vệ sinh, sẽ cho con ngủ.
Thùy cho Bắc Hải ăn, thằng bé há mồm liên tục, không hề từ chối món ăn Tây, nó no bụng, thấy Bình từ buồng tắm đi ra, Thùy đưa con cho Bình:
- Anh trông con, em đánh răng, rửa mặt rồi cho bé ngủ. Ngày mai sau khi ăn sáng, mình đi tham quan xung quanh trại, anh thấy thế nào?
- Bước đầu như vậy, có gì hỏi Hùng, chú ấy bảo anh lúc ngồi nói chuyện.
Thùy trong buồng tắm đi ra, nhìn con ngồi im trong lòng Bình biết nó buồn ngủ. Hiền nằm yên giường bên cạnh bắt đầu thiếp đi, Thùy nói nhỏ:
- Hai mẹ con em ở hai giường bên dưới, anh nằm giường trên. Tối nay được thoải mái sau bao nhiêu ngày ngủ vật vờ. Hiền ngủ say, em lo con ngã xuống sàn nhà, không có thanh gỗ chắn như giường bên trên, hay tối nay anh nằm cạnh với con được không?
Bình gật đầu:
- Anh cũng lo con lăn ra ngoài, thử tối nay, nếu không thoải mái cho con lên giường trên.
Xong mọi việc cũng gần 9 giờ tối, Bình tắt đèn. Phòng có cửa sổ rộng, ánh sáng bên ngoài hắt vào thuận tiện nếu ban đêm thức dậy. Cho Bắc Hải nằm bên cạnh, Thùy yên tâm ngả lưng xuống, ôi, còn gì dễ chịu hơn những ngày tháng nằm co ro trên thuyền, nền đất gồ ghề đá sỏi ở bãi biển Bắc Hải, nhìn lên bầu trời rộng mênh mông, khi xám xịt, khi xanh ngắt với bao ngôi sao nhấp nháy như trêu đùa những kẻ ăn đường nằm đất, không còn tâm trí đâu ngắm trăng, đếm sao. Cái lưng hình như bị chai sạn, cứng rắn để thích hợp với nền nhà xi măng bỏng rát của trại tỵ nạn Hồng Kông, chỗ nằm không thoải mái, đầu óc tinh thần luôn căng thẳng, thời tiết thay đổi, lúc nắng lúc mưa, gió bão đe dọa. Bao nhiêu khổ cực, gian nan, thiếu thốn, đói khát. Thùy thầm biết ơn Trời Phật thương tình, phù hộ cho gia đình, giúp Thùy vượt qua tất cả chặng đường trên thuyền không bị nôn mửa, đau ốm như nhiều người khác.
Đêm đầu tiên ở Anh Quốc, nằm trên đệm mềm, êm ấm, lưng được thư giãn, duỗi thẳng người thật thoải mái, còn sung sướng gì hơn. Nhìn lên trần nhà quét sơn trắng tinh, những đoạn phim tái hiện từ từ trong đầu, Thùy vẫn chưa tin đây là sự thực, trần nhà lắc lư, nghiêng ngả như đang nằm trên thuyền giữa biển khơi bập bềnh. Giọt lệ hạnh phúc trào ra rơi xuống gối, Thùy chìm dần vào giấc ngủ ngon.
Đêm qua mọi người ngủ say không biết gì, suốt đêm Bắc Hải không hề ọ ọe. Thùy giật mình bừng tỉnh, nhìn qua cửa sổ bên ngoài vẫn tối đen, tiếng ngáy của Bình kêu rít rít, ù ù như kéo gỗ, Hiền vẫn bình thản ngủ ngon bên cạnh. Thùy nhìn đồng hồ của Bình để đầu giường, gần 6 giờ sáng, nghĩ thức dậy sớm không biết làm gì, những ngày qua ai cũng quá mệt mỏi, để bố con Bình ngủ thêm chút nữa. Rửa mặt đánh răng xong, Thùy bước ra từ buồng tắm thấy Bình đã thức, đứng vươn vai, suýt nữa đập đầu vào thành giường trên, nói:
- Ngủ ở tầng dưới này, chắc có ngày bị sưng trán. Đêm qua mẹ con em ngủ ngon không? Anh ngủ say không biết gì. Lâu lắm mới được một đêm ngủ ngon, thoải mái thật.
- Mẹ con em ngủ một mạch, được nằm giường có đệm êm, không thức dậy lần nào, anh gọi Hiền dậy đi.
Bắc Hải cọ quậy đạp chân, giường bên cạnh Hiền đã ngồi dậy dụi mắt gọi mẹ:
- Mẹ ơi, em bé dậy rồi.
Hai đứa trẻ thức giấc, có tiếng nói, tiếng cười của con trẻ không khí trong phòng vui nhộn hẳn, Thùy làm nóng lọ thức ăn cho con, nhắc Hiền đi rửa mặt đánh răng. Bình thu dọn giường xong đi vào buồng vệ sinh, lúc sau gọi con:
- Hiền vào rửa mặt, đánh răng đi con.
Hiền vâng lời bố đi về buồng vệ sinh. Bình đến ngồi ghế gần Thùy đang cho Bắc Hải ăn. Không biết lọ thức ăn này có những gì mà cu cậu ăn ngon lành, không kịp đưa thìa vào miệng, Bình hỏi Thùy:
- Em này, hôm nay em định lấy tiếp cho con giống như hai lọ này hay thay đổi?
- Em cũng chưa biết, nhưng hỏi họ nếu có loại khác mình cũng thay cho con, em đang tò mò bên trong họ nấu những gì thơm lắm.
Bình không cần suy nghĩ:
- Chắc chắn thức ăn ngon, bổ, em không thấy người Tây họ cao to, khỏe mạnh thế.
Cả hai cùng cười, Thùy vỗ nhẹ vào má con, nựng:
- Con bé nhỏ của mẹ đã chịu thiếu thốn, khổ nhiều rồi phải không? Đến đây mới được nếm món ăn Tây, bù lại những ngày trên thuyền không có sữa cho con bú, nhay nhay, mút mút núm da khô làm mẹ đau xót trong lòng.
Cu cậu cười toe toét đâu có hiểu gì, Hiền đứng bên cạnh trêu em:
- Tưởng mẹ khen nên em cười đấy. Em hư lắm, làm mẹ đau.
Thùy kéo Hiền ôm hai chị em sát vào lòng, nhẹ nhàng nói:
- Mẹ xin lỗi hai con, để các con phải chịu vất vả, tất cả đã qua rồi. Hy vọng từ nay cuộc đời của mẹ con mình sẽ đổi khác.
Bình nhìn đồng hồ, gần 7.30 sáng, mặt trời đã lên, vài tia nắng xuyên qua cửa sổ chiếu xuống nền nhà, giúp không gian trở nên ấm áp hơn, giục vợ con đến giờ ăn sáng. Thùy đứng dậy cùng nhau đi ra, Bình ra sau khóa cửa, vừa lúc gia đình Hùng - Minh và ba đứa trẻ đi đến. Hùng nhanh miệng:
- Em chào anh chị, đang định đi qua gõ cửa mọi người đi ăn cùng nhau cho vui.
Xuống dưới tầng 1, gặp ông Tiến tổ trưởng, ông nói luôn:
- May quá, tôi định tí nữa báo cho anh chị biết. 10 giờ sáng mời gia đình đến phòng họp, nghe ông phụ trách trại nói chuyện, thông báo lịch sinh hoạt.
- Vâng, cảm ơn bác, ta đi ăn sáng một thể. Ông Tiến cười:
- Vâng, tôi lên gọi bà nhà tôi và các con xuống.
Mọi người cùng nhau cười vui vẻ. Trong nhà ăn nhiều người đến sớm xếp thành một hàng dài, Thùy nhìn góc phía xa bên trong cũng có người xếp hàng, đang chia phát đồ gì, hỏi Minh, được biết trong đó phát cho các bà mẹ có con nhỏ dưới hai tuổi. Minh bảo Thùy ra đó xếp hàng lĩnh phần ăn cho Bắc Hải, Bình và Hiền xếp hàng bên này. Thùy bế con đi về phía trong, đứng vào hàng. Nhà bếp đưa ra nhiều loại lọ thức ăn khác nhau, có cả sữa hộp bằng giấy, những bát súp nữa. Các bà mẹ có quyền lựa chọn món ăn cho con. Đến lượt Thùy, chưa biết rõ có những gì bên trong để chọn, Thùy hỏi cậu thanh niên nhà bếp:
-Chú cho tôi hỏi, những lọ này có khác nhau không?
- Mùi vị khác nhau một chút, lọ thịt gà, lọ thịt bò, lọ cà rốt, khoai tây, chị thích loại nào cũng được. Mỗi bữa được hai lọ, một hộp sữa tươi.
- Con tôi bốn tuổi có được sữa không?
- Dưới năm tuổi mỗi ngày tiêu chuẩn được hai hộp, chị nói số phòng, số tầng để ghi vào danh sách.
Thùy chọn hai lọ khác lần trước cho Bắc Hải tập ăn thay đổi khẩu vị cho quen. Một bữa tiêu chuẩn Bắc Hải được: hai lọ hoặc một bát súp đặc, một hộp sữa tươi. Thùy lĩnh tiêu chuẩn của Hiền được hai hộp sữa vào bữa sáng. Lấy xong vừa lúc bố con Hiền bê khay thức ăn ra bàn. Gia đình Hùng - Minh và mấy con bắt đầu ngồi ăn. Hai gia đình ngồi gần nhau vui vẻ, thỉnh thoảng nhắc đến ngày còn ở quê cùng nhau cười thật sảng khoái. Thùy chợt nhớ đến quần áo hôm qua thay ra, hỏi Minh:
- Minh ơi, gia đình em quần áo giặt và phơi ở đâu? Minh nói:
-Khu nhà bên kia cách tòa nhà này hai mươi mét bên đó có hai nhà giặt không mất tiền, mỗi nhà có năm, sáu cái máy giặt to lắm, mình cho xà phòng bột vào ngăn, quần áo bỏ vào trong máy, cắm điện, máy tự giặt, xả nước sạch sẽ, sau đó sấy khô, thế là xong, vừa sạch sẽ, vừa khô ráo thơm tho, lấy ra đem về.
- Thật à? Sướng quá nhỉ. Vậy từ hôm qua cứ lo mãi giặt giũ phơi ở đâu?
Hùng cười, nhìn Bình pha trò:
- Anh Bình thấy đấy, các bà hay lo nghĩ xa xôi, không như cánh đàn ông mình.
Thùy không chịu thua:
- Đúng là việc phụ nữ phải lo nghĩ, mong các ông lo nghĩ việc đại sự cánh đàn ông, chị em chúng tôi được nhờ.
Tất cả phá lên cười, Bình đỏ mặt, im lặng từ đó không nói gì nữa.
Ăn xong, mấy người hỏi nhau tí nữa đi đâu, muốn thế nào? Gia đình Thùy mới đến nên chưa biết, Hùng lên tiếng:
- Vợ chồng em phải đi học tiếng Anh, ba cháu cũng đi học sau khi ăn sáng, 8.30 xe đến đón cháu Xuân ở sân trước của trại. Bây giờ chúng em về phòng chuẩn bị, gặp anh chị sau.
Gia đình Thùy đi dọc về phía bên kia tầng 1, cạnh cửa hàng tạp hóa thấy một gian phòng kê hai bàn đánh bóng bàn, kế tiếp một phòng rộng kê nhiều ghế dài có tựa sát liền nhau, Thùy nhớ, thấy giống phòng hôm qua khi mới đến trại ngồi nghe ông Tây phát biểu, có thể 10 giờ họp ở đây. Đối diện dãy bên kia, trong phòng có nhiều ghế ngồi, phía trước một máy vô tuyến truyền hình to để trên bàn, Bình nói với Thùy:
- Hôm qua anh bế con qua phòng này, thấy nhiều người ngồi chăm chú nhìn trên màn hình như đang xem phim.
Đi tiếp thấy nhiều phòng đóng cửa kín mít, bảo nhau quay lại đi ra phía cửa chính, Bình cầm tay Hiền đi trước, hành lang nhiều người đi lại rầm rập. Mọi người ăn sáng xong ra khỏi nhà ăn gần hết, người lớn tay cầm sách vở, từ cầu thang trên tầng lầu lần lượt đi xuống, lớp nhỏ tuổi đi cùng bố mẹ, lớp bẩy, tám tuổi trở lên tay cầm sách vở, người lớn trẻ em đều bận rộn đi về hướng cách xa trại hơn 100 mét. Thùy nhớ lời Hùng nói, nghĩ ‘đến giờ mọi người đi học.’
Một xe coach đậu ở giữa sân trại đón trẻ con đi mẫu giáo, ăn trưa ở trường, chiều xe đưa về lúc 3 giờ. Xung quanh tòa nhà đất rộng mênh mông, có nhiều cây to, trụi hết lá. Phía xa hơn vài trăm mét lác đác nhà dân ở, khu vực này như miền quê thanh bình, khác xa thành phố. Nếu không có mấy trăm người tỵ nạn có lẽ vùng này vắng vẻ lắm.
Loanh quanh cũng gần 10 giờ, cả nhà đi vào bên trong đến phòng tập trung theo thông báo. Đã có vài người ngồi đó, Thùy tìm ghế ngồi sát bên dưới. Đúng 10 giờ ông người Anh và cô Ann đi vào. Ann giới thiệu ông trong ban lãnh đạo đến nói chuyện về hoạt động của trại. Sau mỗi phần, cô Ann dịch sang tiếng Việt, mấy chục người mới đến hiểu được tổ chức và hoạt động của trại, điều mọi người quan tâm nhất vẫn là những vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày:
- Trại là trung tâm giải quyết vấn đề tái định cư cho người tỵ nạn Việt Nam từ các nước sang.
- Trại bố trí nơi ở tạm thời với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt.
- Ngày ba bữa miễn phí tại nhà ăn tập thể, trẻ con dưới năm tuổi có thêm tiêu chuẩn sữa tươi.
- Chương trình giáo dục cho người lớn và trẻ em học Anh ngữ, ngôn ngữ thứ hai để hòa nhập vào cộng đồng trong tương lai.
- Trại có phòng y tế chăm sóc sức khỏe, có cơ sở thể dục thể thao như bóng đá, bóng bàn, cầu lông.
- Tôn trọng tự do tôn giáo, tín ngưỡng.
- Tuyệt đối cấm đánh cãi nhau, gây mất trật tự trong trại, giữ gìn vệ sinh chung.
Nhiều vấn đề nêu ra và giải thích cho mọi người. Bước đầu cũng giải tỏa nỗi lo lắng, thắc mắc phần đông đối với người mới đến. Từ một đất nước nghèo nàn lạc hậu, đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán hoàn toàn khác biệt, đồng thời vừa trải qua bao khó khăn, trắc trở, từ các trại tỵ nạn Hồng Kông đâu dễ hòa nhập ngay được. Bao khó khăn, bỡ ngỡ đối với người tỵ nạn, đồng thời đối với Ban quản lý trại, nhân viên, giáo viên đến làm việc.
Cuối buổi nói chuyện, trại nhắc mọi người không được đi ra khỏi trại trong hai tuần đầu tổng kiểm tra sức khỏe, sẽ thông báo từng gia đình lịch trình khám, lấy máu, thử phân, nước tiểu.…
Ngày đầu mới đến trại Thorney Island, ai cũng ngạc nhiên, bỡ ngỡ. Trước lạ sau quen, Thùy thích nghi dần với sinh hoạt trong trại. Bình hàng ngày đi học tiếng Anh lớp người lớn, Hiền học lớp mẫu giáo với Xuân, có xe của trại đưa đón. Lớp học dành cho các bà mẹ có con nhỏ không có duyên với Bắc Hải. Nhiều khi trong lớp học đang hăng say chăm chú nghe cô giáo giảng bài, cu cậu khóc ầm lên Thùy phải xin lỗi mọi người đưa con ra ngoài. Lớp luôn có tiếng cười vui, người mẹ vừa bế con vừa viết, chưa nhìn rõ trên bảng viết gì đã bị đứa nhỏ phá, chân đạp đạp vào tay mẹ, người vừa cho con bú vừa đọc theo lời cô giáo như con vẹt. Mang danh đi học, nhưng ra khỏi lớp không còn giữ được chữ nào trong đầu. Thời tiết xứ lạnh không hợp với sức khỏe và thân thể gầy yếu của Thùy, có hôm bị cảm lạnh, hôm Bắc Hải sốt nóng, đau bụng đi ngoài, đôi khi Hiền ốm không đi học, Thùy phải ở nhà trông con. Thỉnh thoảng trại tổ chức nói chuyện cho các bà mẹ đang cho con bú, giải thích, hướng dẫn cách chăm sóc, mặc quần áo, ngay cả việc quấn tã thế nào cho bé.
Chiều chiều Thùy thường cho con ra ngoài, đi bộ dọc hành lang, một hôm Thùy gặp gia đình người quen của Bình, chồng tên Thiện, vợ tên Mai. Họ đến trại này được hai tháng bây giờ mới gặp, sau mới rõ, họ ở khu nhà bên đường, vợ chồng trẻ chưa có con không bận bịu, gò bó. Gặp Thùy, Thiện ngạc nhiên hỏi thăm:
- Chú thím khỏe không? Đến trại khi nào? Một lúc sau, nhận ra Thiện, Thùy trả lời:
- Khỏe, cả nhà chúng tôi đều khỏe, anh chị đến trại lâu chắc thông thạo và hiểu biết nhiều.
Mai bất ngờ hỏi:
- Chị có nhận được tin tức gia đình ở Việt Nam không? Bây giờ mình sang Anh Quốc, được tự do rồi, chị đã viết thư báo tin cho gia đình biết chưa?
- Viết thư?
Thùy hỏi. Thiện cười:
- Vậy chú thím vẫn chưa liên lạc với gia đình ở Việt Nam?
- Chưa. Hôm nào hai người đến chơi gặp chú Bình, hai chú cháu nói chuyện. Giờ tôi cho hai em đi lòng vòng, về buồng không có gì chơi chúng buồn.
Thiện, Mai tạm biệt mẹ con Thùy đi về khu nhà của họ. Ba mẹ con Thùy đến phòng giải trí, nhiều người đang ngồi xem truyền hình. Chiều ý con, Thùy dắt Hiền vào xem, ti vi đưa tin tức, có hôm chiếu phim cao bồi, cưỡi ngựa, bắn súng ‘pằng pằng’ hấp dẫn lắm, nhưng có hiểu gì đâu. Mọi người thích lắm, trẻ con há hốc mồm khi thấy ngựa phi qua đầu. Chăm chú theo dõi đến khi nhìn thấy hai chữ The End, nhiều người kêu..ôi...ôi...tiếc nuối.
Hôm sau, bữa trưa, gặp Thiện và Mai xếp hàng ăn xong cùng vợ chồng Thùy đi lên phòng. Mới quen nên Thùy và Mai không có nhiều chuyện nói, hỏi nhau vài câu xã giao, nhưng Bình và Thiện rôm rả lắm, chuyện đi thuyền, ở Hồng Kông… chán rồi cũng quay trở về hiện tại. Bình hỏi Thiện có tin tức gì của ông cậu chưa? - cậu của Thiện là chồng Đức -. Thùy loáng thoáng biết vậy, không để ý. Thiện nhớ ra hỏi Bình:
- Nghe thím nói chưa viết thư về Việt Nam, vậy sao chú thím không viết, mua tem gửi về, cháu đã gửi và liên lạc được với gia đình ở Trung Quốc.
Bình ái ngại:
- Không biết tình hình có thay đổi không? Trước khi chạy căng lắm.
Thiện cười ra vẻ hiểu biết:
- Bây giờ khác rồi, mình đang ở một nước phương Tây, tự do sợ gì. Lạ lắm, chú biết không, bên này không cần dùng cơm nguội dán tem, dán phong bì nữa. Chú lè lưỡi ra liếm phong bì và tem rồi dán lại, vừa nhanh vừa tiện, lạ không?
Bình, Thùy ngạc nhiên:
- Thật thế à, nhưng chú chưa mua phong bì và tem.
- Ngày mai cháu đưa cho chú tem và phong bì, thím gửi thư về cho gia đình yên tâm.
Mai cũng nói theo:
- Phải đấy, ngày mai có phong bì và tem, anh chị viết thư gửi ngay đi.
Nghe Mai gọi anh chị, chồng Mai gọi chú thím, nhưng Thùy không quan tâm, họ chẳng có họ hàng thân thuộc gì với mình, gọi kiểu gì cũng vậy.
Từ khi Thiện nói gửi thư về Việt Nam, Thùy suy nghĩ nhiều, hồi hộp, lo lắng cho bố ở Việt Nam không biết như thế nào, nhưng chắc chắn phải gửi thư báo tin cho gia đình yên tâm. Đêm hôm đó Thùy trằn trọc khó ngủ. Không phải Thùy không nhớ, không lo, nhưng sợ thư không đến tay hoặc sẽ bị liên lụy, chính quyền địa phương gây khó dễ, nay nghe Thiện nói, giúp Thùy thêm nghị lực, tin tưởng hơn.
Hai tuần sau, gia đình Thùy được lĩnh tiền trợ cấp sau khi trừ tất cả các khoản chi phí nhà ở, tiền ăn, sách vở, đi học... mỗi người được 5 bảng Anh một tuần. Nhà Thùy bốn người 20 bảng, sau hai tuần được 40 bảng. Có tiền, Thùy trả tiền vay, Minh hỏi luôn:
- Thứ Bẩy này có xe đưa ra thị xã, chị có muốn đi với em không?
Thùy mừng quá:
- Có chứ, đợi khi có tiền đi mua thêm mấy thứ, Minh thường mua gì ở đó?
- Đến nơi chị sẽ biết, toàn bán đồ của Tây. Em đi mua gói mỳ sợi trắng dài, cà chua, mỡ lợn về nấu ăn thay đổi món cho đỡ ngán. Ăn mãi khoai tây chán lắm.
Thùy vui, mong đến ngày mai thứ Bẩy được đi ra thị xã xem thế nào. Hai phụ nữ đi chợ, Hùng và Bình chịu trách nhiệm quản lý đàn con. Ở Hồng Kông không được ra ngoài, sang Anh Quốc, đất nước định cư, Thùy muốn đi, muốn biết về sinh hoạt, cuộc sống của người dân địa phương. Thùy nghĩ đến bố, anh chị em đang ở Việt Nam, tuy đã gửi thư, nhưng không biết khi nào mới nhận được? Chắc bố buồn và lo nghĩ nhiều, nếu nhận được thư mừng lắm, hai đứa em trai chúng có được bình an trở về không? Xa nhà từ khi chưa tròn 16 tuổi, bao nhiêu năm tưởng chai sạn, vậy sao bây giờ Thùy vẫn thấy lạc lõng biết bao. Sang sống một nơi xa ngàn dặm, xứ lạ quê người, Thùy đâu muốn như thế này. Đã làm mẹ, trong hoàn cảnh chiến tranh, trách nhiệm bảo vệ mạng sống các con khiến Thùy không có lựa chọn.
Thùy mong đợi ngày mai theo xe ra thị xã. Bình thấy bình thường, không để ý đến niềm vui của vợ, ra thị xã có gì vui đâu? Lớp học người lớn mấy tiếng một ngày, học trong lớp kết hợp đi ra ngoài thực hành thường xuyên, giáo viên đưa đi thăm nhiều nơi khác nhau như các cửa hàng bán điện tử, đồ dùng gia đình, quần áo, bưu điện, văn phòng tìm kiếm việc làm, nghe giảng về luật pháp, trật tự trị an, chế độ bảo hiểm xã hội, lớp học của Thùy không được như vậy, các bà mẹ có con nhỏ thời gian trên lớp ít ỏi, không trọn vẹn giờ học, không có thực hành đi tham quan.
Sáng hôm sau, 9 giờ Thùy với Minh ra tập trung chờ xe đến đón. Những người ở trại thời gian dài thấy bình thường, Thùy và người mới đến, lần đầu tiên theo xe rất háo hức, dọc đường chăm chú ngắm nhìn qua cửa kính. Vài bà nói chuyện liên miên không chán, ngồi trong xe mong được yên tĩnh cũng khó. Thùy muốn được yên tĩnh, thư giãn tinh thần, ngắm nhìn thiên nhiên, không phải lo toan suy nghĩ quá nhiều khi chỉ có một mình. Minh ngồi bên cạnh thiu thiu ngủ, Thùy không dám hỏi nhiều sợ làm mất giấc ngủ. Thùy kém Minh một tuổi nhưng gọi theo chồng nên Thùy được lên vai ‘chị’. Nghe Minh kể, gia đình ở sát biên giới, khi chiến tranh Trung
- Việt xảy ra, anh trai Minh bị dân quân địa phương bắn chết mặc dù không có lệnh cấp trên, sợ quá, gia đình buộc phải đưa nhau chạy trốn.
Xe dừng lại nơi quy định, mọi người xuống, tài xế cho biết sau hai tiếng sẽ đón ở bãi đậu xe này. Mỗi người đi một ngả, Minh đi đâu Thùy theo đó. Hôm nay xe đưa đến thị xã Emsworth, quận Havant, tỉnh Hampshire phía Nam nước Anh, nơi đây có khoảng mười ngàn dân. Đường phố Emsworth nhỏ hẹp, hai dẫy nhà bên đường xây giống nhau, gạch màu nâu vững chắc, đường nhỏ tỏa đi các hướng khác nhau, người đi lại mua sắm không tấp nập, vẻ trầm lặng, thanh bình vùng quê. Trung tâm thị xã có nhiều cửa hàng bán nguyên vật liệu, đồ dùng gia đình, sách báo, hiệu thuốc tây, cắt tóc, nhà bảo tàng, nhưng nơi nhiều người ra vào nhiều nhất vẫn là cửa hàng cafe, bán thức ăn nhanh, món ăn phổ biến vùng bờ biển ‘cá tẩm bột rán và khoai tây rán’, món ăn hàng ngày của trại. Giữa trung tâm một vườn hoa tô điểm cho thị xã, nhưng đang mùa đông rất ít hoa, duy có loài hoa búp nhỏ màu vàng chớm nở cho vườn hoa nhỏ thêm sức sống. Phía Bắc thị xã, xưa kia có làng đánh cá, khu vực đóng sửa thuyền và bến cảng nhỏ.
Thùy theo Minh đến cửa hàng rau-củ-quả, nhiều loại rau xanh giống rau mùa đông bên Việt Nam: bắp cải, xúp lơ trắng, xúp lơ xanh, cà rốt, cà chua, khoai tây, cam, táo, chuối, nho xanh, nho đỏ xếp từng ngăn gọn gàng đẹp mắt. Không có đồ ăn của người Việt, trên giá xếp nhiều chai sữa, sữa hộp, súc xích trông giống lạp xường Việt Nam, rất nhiều loại bánh mỳ, gạo, bột. Minh mua mấy gói mỳ thanh dài mỏng, cân cà chua, mớ hành hoa và gói bọc giấy hình chữ nhật ghi Lard, Minh nói, đây là mỡ lợn để nấu ăn. Thùy mua giống Minh nhưng ít hơn, mua thêm mấy quả táo, chùm nho cải thiện. Vậy không mua được đũa, bát, tuy cửa hàng có bán bát đĩa men sứ đẹp, nhưng rất đắt, tiền Thùy có hạn. Về trại, Minh sẽ đưa cho mấy đôi đũa mang từ Hồng Kông dùng tạm, Thùy hơi thất vọng với chuyến đi hôm nay.
Mua thêm được vài thứ, buổi sáng Thùy bắt đầu nấu mỳ với cà chua, thay đổi khẩu vị cho gia đình. Hầu như ngày nào nhà bếp cũng cho ăn cá rán, ăn nhiều cũng ngán, Thùy đem cá về phòng làm ruốc, ai cũng khen ngon, thấy vậy, Minh cũng làm ruốc cá.
Khi bố con Hiền đi học, Thùy bế Bắc Hải, đem túi quần áo sang bên khu nhà máy giặt, trong chờ đợi, Bắc Hải ngủ, Thùy lấy quyển vở học của Bình ra xem, tranh thủ và tập trung học, ngày qua ngày cũng nhặt được ít chữ. Trong trại có phòng chứa đồ từ thiện, hàng tuần người dân địa phương, nhà thờ mang quần áo, đồ dùng quyên góp phát trong trại, giúp đỡ gia đình túng thiếu, tuy đồ đã qua sử dụng, nhưng còn tốt, sạch sẽ, rất nhiều thứ phù hợp hoàn cảnh nhiều người. Mẹ con Thùy thỉnh thoảng vào xem, chọn được vài đồ chơi cho Bắc Hải, váy, áo len cho Hiền trông mới và đẹp, còn có cả kim đan len. Thùy chọn mấy cuốn len màu xanh lam, ngày ngày đan cho Bắc Hải được hai chiếc quần liền áo thay đổi, vừa đẹp vừa tiết kiệm tiền. Những đôi giầy trẻ con còn mới, có khi còn trong hộp, Hiền nhìn ngắm rất thích đôi giày màu nâu đỏ, Bắc Hải chập chững tập đi, Hiền chọn cho em đôi giầy vải mềm, êm chân. Hai đứa có giày, Hiền khoe ngay với bố. Thùy nhìn con, nghĩ mức sống của người dân Anh thật đầy đủ sung sướng. Đối với Thùy, tuy chỉ một cái váy, một đôi giày, vật nhỏ bé nhưng thể hiện lòng bao dung, nhân từ, chia xẻ giúp đỡ người gặp hoạn nạn, khó khăn. Có người chê đồ cũ không lấy, nhưng Thùy nghĩ khác, hợp với hoàn cảnh của mình, người xưa thường có câu ca: ‘Một miếng khi đói, bằng một gói khi no’.
Nhiều chiếc bát to, đĩa tráng men bóng đẹp, trông sáng sủa, chắc của các nhà quyền quý ngày xưa quyên góp, Thùy tìm được hai cái đĩa, hai bát to, nếu đem so với cửa hàng thị xã không thua kém. Vì thế, Thùy không bao giờ quên, luôn nhớ, biết ơn những nhà hảo tâm, Mạnh Thường Quân, mỗi khi đem sử dụng.
Trại vẫn tiếp tục đón nhận thêm người mới từ Hồng Kông sang, đồng thời tìm được nhà ở cho nhiều gia đình ra định cư. Thông thường thời gian ở trại được thu xếp ra định cư là sáu tháng, nhiều trường hợp lâu hơn. Ngày tháng trôi đi, thấm thoát Bắc Hải đã biết đi, bây giờ Hiền ra dáng chị cả, dắt tay em đi trước, không phải bế con, Thùy đỡ mệt, hai cánh tay đỡ đau nhiều.
Đông qua, Xuân hết, Hè sang, trại gần biển khí hậu thoáng mát, không khí trong lành. Trại vẫn chưa tìm được nhà cho gia đình Thùy, một lần văn phòng gọi lên nói tìm được nhà ở Devon, có ba buồng ngủ, nhưng phải ở và làm việc ngay trong trang trại nuôi ngựa của một ông chủ người Trung Quốc. Nghe nói làm thuê cho chủ người Trung Quốc, Bình và Thùy từ chối. Từ sau lần đó, trại chưa tìm được nhà cho gia đình Thùy.
Giáng Sinh đang đến gần, đây là lễ Giáng Sinh đầu
tiên trên quốc đảo Vương Quốc Anh. Người Việt Nam coi trọng tết Nguyên đán, phương Tây lễ Giáng Sinh và tết Dương lịch trang trọng, vui nhất, các công sở, xí nghiệp cơ quan, đoàn thể nghỉ lễ, mọi người sắm tết, hân hoan đón chào Chúa Giáng Sinh và đón năm mới. Trong trại trang trí cây Noel, những giấy trang kim nhiều màu và đèn màu mừng Chúa nhấp nháy ngày đêm, ai cũng phấn khởi, vui mừng hòa chung không khí rộn ràng trên đất lạ xứ người. Đêm Noel, nhà bếp nấu bữa ăn truyền thống đón Giáng Sinh, thịt gà Tây, khoai tây bỏ lò, bắp cải viên tròn nhỏ như quả cau, cà rốt, thịt xông khói, nhiều loại bánh bằng bột mỳ khác nhau. Tết Việt Nam có bánh chưng truyền thống, ở đây có Christmas pudding. Thùy lấy một tí ăn thử, nhưng không quen, Bình và nhiều người ăn cảm thấy ngon lành.
Lễ Giáng Sinh và tết Dương lịch qua đi, Tết cổ truyền của người Việt đến. Trại tổ chức đón Tết Nguyên đán vào đêm giao thừa theo âm lịch, có bánh kẹo, văn nghệ, thanh niên nam nữ đăng ký tham gia, không khí đón Tết đơn sơ nhưng vui, đầm ấm, khiến người tỵ nạn trong trại nhớ người thân còn ở Việt Nam. Tuy không nói ra, nhưng khi những chùm pháo hoa nhiều màu sắc nổ tung trên trời, Thùy không kìm được nước mắt, nỗi nhớ da diết cào xé trong lòng.
Sau những ngày lễ tết vui vẻ đầu tiên ấy, gia đình Thùy được phân căn nhà chung cư, ba buồng ngủ ở London. Sau 11 tháng sống trong trại tỵ nạn, gia đình Minh-Hùng cũng nhận được nhà, nhưng cách nhà Thùy 32 dặm phía Đông Bắc. Hai gia đình bịn rịn chia tay sau những ngày tháng sống chung một trại.
Sáng ngày 5/1/1981, gia đình Thùy chính thức ra định cư