Trao Em Mặt Trời

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BẢN GHI CHÉP MAY RỦI
JUDE

❊ ❊ ❊

16 tuổi

Tôi sẽ ao ước bằng đôi tay mình, như thầy Sandy đã nói.

Tôi sẽ dùng Lời Sấm Truyền.

Tôi sẽ ngồi ở bàn học của mình và dùng nó - theo cách truyền thống - để tìm hiểu tất cả những gì có thể về Guillermo Garcia hay còn được biết đến với cái tên Igor Say Xỉn hay Ngôi Sao Nhạc Rock Của Giới Điêu Khắc. Tôi phải tạo ra bức điêu khắc này, nó phải được làm bằng đá và ông là người duy nhất có thể giúp tôi làm được điều đó. Đây là cách để mẹ hiểu được tôi. Tôi biết chắc là như thế.

Nhưng, trước khi tôi làm tất cả những chuyện này, tôi sẽ mút sạch sành sanh quả chanh này - kẻ tử thù không đội trời chung với quả cam kích thích dục tính:

Không thứ gì có thể khiến tình yêu vón lại trong tim

như chanh trên đầu lưỡi

Bởi tôi buộc phải bóp chết nó từ trong trứng nước.

Bà nội toe toe tham gia. “À phải rồi, Anh ấy với chữ A viết hoa và bà không nói đến ngài Gable đâu nhé. Một con sói đặc biệt… to lớn… xấu xa… đến từ Anh quốc?” Bà tận dụng câu chữ từng li từng tí một.

“Cháu chẳng biết ở anh ta có điểm gì,” tôi nói với bà trong đầu. “Ôi chao ôi. Bên cạnh tất tần tật mọi thứ,” tôi nói với bà thành tiếng.

Và rồi tôi không thể kiềm chế nổi. Nhại theo chất giọng Anh giống nhất có thể, tôi nói, “Em đúng là kẻ ba hoa lắm lời, tôi không chen ngang được câu nào đấy.” Nụ cười tôi đã từ chối dành cho anh ta trong nhà thờ giờ choán lấy gương mặt tôi cho tới khi tôi nhe răng cười với bức tường.

Ôi Clark Gable ơi, dừng lại đi.

Tôi nhồi nửa quả chanh vào miệng, đẩy bà nội ra khỏi đầu, tự nhủ rằng gã người Anh thô kệch ấy bị sốt tuyến, lở miệng và sâu răng, ba tác nhân không thể hôn được, như tất cả các chàng trai nóng bỏng khác ở Vịnh Mất Tích.

Lũ rận. Lũ rận khủng khiếp. Lũ rận Anh.

Đầu váng vất vì vị chua và chế độ tẩy chay lũ con trai lại bật hết tốc lực, tôi bật máy tính xách tay lên và gõ vào Lời Sấm Truyền: Guillermo GarciaNghệ thuật tương lai, hy vọng sẽ tìm được bài phỏng vấn của mẹ. Nhưng không may mắn đến thế. Tờ tạp chí không được lưu trữ trên mạng. Tôi nhập tên ông lần nữa và tìm kiếm hình ảnh.

Và một Cuộc Xâm Chiếm Của Những Người Khổng Lồ Đá nổ ra.

Những hình thù bằng đá vĩ đại. Những ngọn núi bước đi. Biểu cảm bùng nổ. Tôi yêu chúng ngay tức thì. Igor bảo tôi rằng ông không ổn. Ờ, các tác phẩm của ông cũng vậy. Tôi bắt đầu đánh dấu các bài đánh giá và các tác phẩm, chọn một tác phẩm khiến trái tim tôi cùng một lúc chìm đắm và bay bổng để đặt làm màn hình chờ mới, rồi lôi quyển sách giáo khoa điêu khắc từ trên giá sách xuống, chắc chắn rằng ông có trong đó. Tác phẩm của ông tuyệt vời đến mức xứng đáng có trong sách.

Đúng là thế thật, và trong khi tôi đang đọc lý lịch chân thật đến điên loạn của ông lần thứ hai, bản lý lịch đáng ra phải nằm trong cuốn kinh của bà nội chứ không phải trong sách giáo khoa, nên tôi đã xé nó ra kẹp vào cuốn sách bọc da dày cộm, thì tôi nghe tiếng mở cửa trước, sau đó là tiếng nói xôn xao và một tràng tiếng bước chân dọc hành lang.

Noah.

Tôi ước mình đã đóng cửa phòng. Chui xuống gầm giường thì sao nhỉ? Trước khi tôi kịp nhúc nhích, chúng đã rầm rầm đi ngang qua, ngó vào nhìn tôi như kiểu tôi là Cô Nàng Mọc Râu. Và đâu đó giữa bầy thiếu niên khỏe khoắn, bình thường đến phi thường đang náo nhiệt vui tươi ấy là em trai tôi.

Tốt nhất là ngồi xuống đi nhé:

Noah đã gia nhập vào đội thể thao ở trường Trung học Roosevelt.

Kể cả đấy là đội chạy việt dã chứ không phải đội bóng bầu dục và Heather cũng ở trong nhóm, nhưng vẫn sốc chứ. Noah là thành viên của một hội.

Đáng ngạc nhiên thay, một lúc sau, nó đi vòng lại và vào phòng tôi, cảm giác như thể mẹ đang đứng trước mặt tôi vậy. Trước giờ vẫn thế, tôi trắng như bố, nó ngăm đen như mẹ, nhưng sự tương đồng giữa nó và mẹ đã trở nên khác thường, và cũng vì vậy: đến thắt cả tim. Trong khi tôi chẳng giống mẹ điểm gì, từ xưa đến nay. Khi mọi người chỉ thấy mẹ và tôi, tôi chắc chắn họ cho rằng tôi là con nuôi.

Thật khác thường, Noah ở trong phòng tôi, và bụng dạ tôi quặn lên. Tôi ghét cái cảm giác hồi hộp khi ở gần nó. Vả lại - còn điều thầy Sandy đã nói hôm nay nữa. Tôi hoàn toàn không biết có ai đã chụp lại những bức phù điêu người phụ nữ chớp nhoáng bằng cát của tôi và gửi chúng đến trường CSA. Chắc chắn là Noah, có nghĩa là: Nó giúp tôi đỗ chỉ để cuối cùng lại phải học ở trường Roosevelt.

Tôi nếm thấy vị tội lỗi át cả vị chanh chua.

“À, này,” nó nói, bước tới bước lui trên đôi giày chạy bám đầy bùn, làm đất bẩn lọt vào tấm thảm nhung lông trắng tinh của tôi càng lúc càng sâu. Tôi chẳng nói gì. Nó có thể cắt tai tôi mà tôi cũng sẽ chẳng nói gì. Trông mặt nó khác hẳn ban nãy lúc bay lượn trên trời. Mặt nó khóa chặt. “Chị biết bố sắp đi vắng cả tuần nhỉ? Bọn em…” Nó hất đầu về phía phòng mình, nơi tiếng nhạc, tiếng cười và sự đơn điệu vang lên. “Bọn em nghĩ tổ chức một bữa tiệc ở đây sẽ rất hay ho. Chị đồng ý không?”

Tôi nhìn nó chằm chằm, van nài lũ người ngoài hành tinh hoặc Clark Gable hay bất cứ ai chịu trách nhiệm bắt cóc linh hồn hãy đem em trai tôi trở lại. Bởi ngoài việc gia nhập mấy hội nguy hiểm và tiệc tùng, Noah này còn đi chơi với lũ con gái, vuốt tóc một cách sống động và gọn gàng, chơi ở Tụ Điểm, xem thể thao với bố. Với tất cả đám con trai mười sáu tuổi khác: ổn thôi. Với Noah, chuyện biểu thị một điều: linh hồn nó đã chết. Cuốn sách viết nhầm chuyện. Em trai tôi, nhà cách mạng lập dị, đã phủ lên người mình chất phụ gia chống cháy, theo như thuật ngữ của nó mà nói. Bố vui phải biết, dĩ nhiên rồi, tưởng Noah và Heather là một đôi - chúng nó có phải đâu. Tôi có vẻ là người duy nhất hiểu rõ tình hình thảm khốc đến nhường nào.

“Ờm, Jude, chị biết là có một quả chanh bọc quanh răng chị đúng không?”

“Dĩ nhiên là chị biết,” tôi nói, mặc dù hiển nhiên là nghe như tiếng ú ớ. À, bóng đèn! Lợi dụng rào cản ngôn ngữ đột ngột này, tôi nhìn thẳng vào nó và nói, “Mày đã làm gì với em trai của tao? Nếu mày thấy nó, bảo nó tao nhớ nó lắm. Bảo nó tao…”

“Này? Chẳng hiểu chị nói gì với cái quả chanh phù phép ấy trong mồm đâu.” Nó lắc đầu thô bạo hệt như bố và tôi biết chắc nó sắp sửa hoạnh họe với tôi rồi. Những thứ tôi quan tâm đến làm nó khó chịu, tôi đoán là huề cả làng cả thôi. “Chị biết đấy, hôm nọ em mượn máy tính xách tay của chị để làm tiểu luận lúc Heather dùng máy của em. Em thấy lịch sử tìm kiếm của chị.” Thôi xong. “Lạy Chúa, Jude. Chị nghĩ trong một đêm chị mắc bao nhiêu thứ bệnh thế? Còn cả cái đống cáo phó chị đọc nữa… như kiểu chị đọc tất tần tật các bản cáo phó ở khắp các hạt trên toàn California ý.” Có vẻ như giờ là lúc để tưởng tượng ra cánh đồng cỏ. Nó chỉ vào cuốn kinh để mở trên đùi tôi. “Và có lẽ chị nên nghỉ cái cuốn sách dở hơi đấy một thời gian đi, và, em không biết nữa, ra ngoài đi. Trò chuyện với ai đó khác ngoài bà nội đã chết của chúng ta. Nghĩ về những chuyện khác ngoài chuyện chết với chóc đi. Kiểu rất là…”

Tôi lấy quả chanh ra. “Sao? Đáng xấu hổ chứ gì?” Tôi nhớ mình đã nói điều này với nó một lần - nói nó thật đáng xấu hổ đến nhuờng nào - và co rúm lại khi nghĩ đến con người cũ của mình. Có khả năng tính cách của chúng tôi đã tráo đổi cơ thể không? Năm lớp Ba, cô Michaels, cô giáo mỹ thuật, bảo chúng tôi phải vẽ CHÂN DUNG TỰ HỌA. Hai đứa chúng tôi ngồi hai góc phòng và chẳng cần liếc nhìn nhau cái nào, tôi vẽ nó, nó vẽ tôi. Giờ, đôi khi, cảm giác cũng hệt vậy.

“Em có định nói đáng xấu hổ đâu,” nó nói, tay vuốt mái tóc bó rạ giờ đã không còn tồn tại. Thay vào đó, nó chạm vào gáy.

“Có đấy chứ.”

“Được rồi, đúng là thế, tại vì đúng là đáng xấu hổ thật. Hôm nay, lúc em định trả tiền bữa trưa thì rút ra cái này.” Nó nhét tay vào túi quần và cho tôi xem một nắm đậu và các loại hạt siêu hộ mệnh mà tôi đã lén nhét vào.

“Chị chỉ đang trông chừng em thôi, Noah, kể cả khi em là một kẻ trịch thượng cứng đầu.”

“Đúng là điên hết cỡ, Jude.”

“Em biết chị nghĩ cái gì mới là điên không? Mở tiệc vào ngày giỗ thứ hai của mẹ.”

Gương mặt nó rạn nứt trong giây lát, rồi cũng hàn gắn lại nhanh hệt vậy. “Chị biết em ở trong đó!” tôi muốn hét lên. Đúng là như thế; tôi biết là thế. Lý do là bởi:

1) Nỗi ám ảnh kỳ quặc với việc nhảy xuống khỏi Vực Quỷ và cái cách nó bay lượn trên bầu trời đầy kỳ vĩ hôm nay.

2) Có những lần khi nó đang ngồi thu lu trên ghế, nằm trên giường, thu mình lại trên đi văng, tôi khua tay ngay trước mặt nó mà nó còn chẳng hề chớp mắt. Như kiểu nó bị mù rồi ý. Nó ở đâu những lúc ấy? Nó đang làm gì trong đó? Bởi lẽ tôi nghi ngờ nó đang vẽ. Tôi nghi ngờ bên trong thành lũy không thể xuyên thủng của sự rập khuôn tầm thường nó đã trở thành, có một viện bảo tàng điên điên dại dại.

Và đáng kể nhất là: 3) Tôi phát hiện ra (lần mò lịch sử tìm kiếm, có qua có lại cả thôi) rằng Noah, đứa chẳng bao giờ lên mạng và có lẽ là đứa thiếu niên duy nhất trên toàn nước Mỹ bàng quan với thực tế ảo cùng tất cả các thể loại truyền thông xã hội, đã đăng một mẩu tin trên trang mạng MấtKếtNối.com, lúc nào cũng là tin nhắn ấy và tuần nào cũng nhắn.

Tôi kiểm tra - nó chưa bao giờ nhận được hồi đáp. Tôi khá chắc mẩu tin là dành cho Brian, người tôi chưa hề gặp lại kể từ sau đám tang của mẹ, và người mà theo tôi được biết là vẫn chưa hề quay trở lại Vịnh Mất Tích kể từ khi mẹ cậu ta chuyển đi.

Nói cho đúng ra nhé, tôi biết chuyện gì đã xảy ra giữa Brian và Noah kể cả khi chẳng ai biết cả. Cả mùa hè năm ấy, khi Noah về nhà vào buổi tối sau khi sang chơi với cậu ta, nó vẽ những bức tranh hình NoahvàBrian tới khi ngón tay nó trầy da chảy máu và sưng phồng lên đến mức phải đi từ phòng tới cái tủ đá để vùi tay vào khay đá. Nó không hề biết tôi đã đứng ở hành lang để ý nó, cái cách nó gục lên tủ lạnh, trán nó ấn vào cửa tủ băng, mắt nó nhắm nghiền, những ước mơ hiển hiện bên ngoài cơ thể nó.

Nó không biết cái lúc nó ra khỏi nhà vào mỗi sáng cũng là lúc tôi lượt qua cuốn sổ ký họa bí mật nó giấu dưới gầm giường. Cảm giác như nó đã khám phá ra cả một dải sắc màu hoàn toàn mới. Cảm giác như nó đã tìm ra cả một thiên hà của những hình tượng mới. Cảm giác như nó đã thay thế tôi.

Để làm rõ: Hơn tất cả mọi thứ, tôi ước mình đã không vào cái phòng thay đồ ấy với Brian. Nhưng câu chuyện về Noah và Brian vẫn chưa dừng lại đêm đó.

Tôi ước mình đã không làm rất nhiều điều mà tôi đã làm hồi đó.

Tôi ước việc đi vào cái phòng thay đồ ấy với Brian là điều tệ nhất.

Đứa sinh đôi thuận tay phải nói thật, đứa sinh đôi thuận tay trái nói dối

(Cả Noah và tôi đều thuận tay trái.)

Nó đang nhìn xuống chân. Chăm chú. Tôi không biết nó đang nghĩ gì và điều đó tưởng như rút sạch tủy xương trong tôi. Nó ngẩng đầu lên. “Bọn em sẽ không mở tiệc vào ngày giỗ mẹ. Là vào ngày trước đó,” nó nói khe khẽ, đôi mắt tăm tối của nó dịu xuống, trông hệt như mẹ.

Mặc dù tôi không hề muốn một lũ lướt sóng trên Đồi Ấn Náu như Zephyr Ravens ở bất cứ đâu gần mình, tôi nói, “Cứ tổ chức đi.” Tôi nói câu ấy thay cho điều đáng ra tôi sẽ nói nếu vẫn ngậm quả chanh phù phép: Chị xin lỗi. Vì tất cả.

“Chị tham gia không?” Nó ra hiệu về phía tường. “Mặc một cái kia kìa?” Không giống tôi, phòng tôi là cả một luồng gió nữ tính với tất cả những bộ váy tôi may - bồng bềnh và không bồng bềnh - treo khắp tường. Cảm giác như có bạn.

Tôi nhún vai. “Không đến mấy sự kiện xã hội. Không mặc váy.”

“Trước kia chị vẫn làm đấy thôi.”

Tôi không nói, “Và em cũng từng vẽ tranh và thích con trai và nói chuyện với lũ ngựa và kéo mặt trăng qua cửa sổ làm quà sinh nhật tặng chị đấy thôi.”

Có sống lại mẹ cũng không thể chỉ ra bọn tôi từ hàng nghi phạm của cảnh sát.

Kể cả bố, giờ đang hiện ra bên cửa, mẹ cũng sẽ chẳng chỉ ra nổi. Benjamin Sweetwine: Phần kế tiếp có màu và chất da giống đất nung xám. Quần bố lúc nào cũng quá rộng, bố đeo thắt lưng một cách vụng về nên trông chẳng khác nào một con bù nhìn, kiểu nếu ai đó kéo thắt lưng, bố sẽ biến thành đống rơm. Lỗi có lẽ là tại tôi. Bà nội và tôi gần như đã tiếp quản cả căn bếp, dùng cuốn kinh làm sách dạy nấu ăn:

Để đem lại niềm vui tới một gia đình đau buồn,

rắc ba thìa canh vỏ trứng vụn lên mỗi bữa ăn

Giờ có vẻ như lúc nào bố cũng xuất hiện thế này, chẳng có gì báo trước, kiểu như tiếng bước chân chẳng hạn. Mắt tôi di chuyển xuống giày bố, quả thực đang đi trên chân bố, quả thực đang đứng trên mặt đất chĩa về đúng hướng - tốt. À thì, ta bắt đầu tự hỏi ai mới thực sự là bóng ma trong gia đình. Ta bắt đầu tự hỏi tại sao người mẹ đã chết của ta lại hiện diện và oanh tạc hơn cả người bố còn sống. Phần lớn thời gian, tôi chỉ biết bố đang ở nhà khi nghe thấy tiếng giật bồn cầu hoặc tiếng ti vi bật. Bố không còn nghe nhạc jazz hay đi bơi nữa. Bố chỉ nhìn thăm thẳm vào không trung với vẻ mặt xa xôi khó hiểu, như thể đang cố giải một đẳng thức toán học không thể giải đoán vậy.

Và bố đi dạo.

Màn đi dạo bắt đầu một ngày sau đám tang của mẹ, khi tất cả bạn bè và đồng nghiệp của mẹ vẫn chen chúc khắp nhà. “Bố đi dạo,” bố bảo tôi, lẻn đi từ cửa sau, bỏ tôi ở lại (Noah chẳng biết ở đâu) và không trở về nhà cho tới khi mọi người đã đi hết. Ngày hôm sau cũng thế: “Bố đi dạo,” và cả những ngày những tuần những tháng những năm sau đó, mọi người lúc nào cũng bảo tôi là họ thấy bố trên đường Mỏ Cũ, cách đây đến hơn hai mươi tư cây số, hoặc trên bãi biển Kẻ Cướp, còn xa hơn thế. Tôi tưởng tượng bố bị xe đâm, bị những con sóng dữ cuốn đi, bị lũ sư tử núi tấn công. Tôi tưởng tượng bố không quay trở lại. Tôi từng rình lúc bố ra khỏi nhà, hỏi bố liệu tôi có thể đi dạo cùng không, và bố đáp, “Bố cần chút thời gian để nghĩ ngợi, con yêu.”

Trong khi bố suy nghĩ, tôi đợi chờ điện thoại réo chuông báo rằng có một vụ tai nạn đã xảy ra.

Đó là điều người ta bảo bạn: Có một vụ tai nạn.

Mẹ đang trên đường đến gặp bố khi chuyện xảy ra. Bố mẹ đã ly thân được khoảng một tháng và lúc đó bố đang ở khách sạn. Chiều hôm đó, trước khi đi, mẹ đã bảo Noah rằng mẹ sẽ tới bảo bố quay về nhà để chúng tôi lại là một gia đình.

Nhưng thay vào đó, mẹ chết.

Để thay đổi không khí trong tâm trí mình, tôi hỏi, “Bố, có cái bệnh mà da thịt bị can xi hóa cho tới khi người bệnh đau đớn đáng thương mắc kẹt trong chính cơ thể họ như bị cầm tù trong nhà ngục đá phải không ạ? Con khá chắc con đã đọc về căn bệnh ấy trong một tờ tạp chí chuyên đề nào đó của bố.”

Bố và Noah cùng “liếc” tôi một cái. Ôi Clark Gable ơi, tôi rên rỉ.

Bố nói, “Đấy là bệnh FOP và nó cực kỳ hiếm, Jude à. Cực kỳ, cực kỳ hiếm.”

“Ôi, con không nghĩ con bị bệnh đấy hay gì đâu.” Đằng nào thì cũng không phải theo nghĩa đen. Tôi không chia sẻ rằng tôi nghĩ cả ba chúng tôi đều có thể mắc phải căn bệnh ấy theo một cách ẩn dụ. Con người thật của chúng tôi vùi sâu trong con người mạo danh. Những cuốn tạp chí y tế của bố cũng có thể khai sáng hệt như cuốn kinh của bà nội vậy.

“Ralph ở chỗ quái nào thế? Ralph ở chỗ quái nào thế?” Và khoảnh khắc gắn kết gia đình chợt đến! Chúng tôi cùng đồng loạt đảo mắt theo kiểu cách hết sức kịch nghệ của bà nội Sweetwine. Nhưng rồi trán bố nhăn lại. “Con yêu, có lý do nào giải thích được về củ hành tây to tướng trong túi con không?”

Tôi cúi xuống nhìn cái khiên chống bệnh tật đang làm căng phồng miệng túi áo nỉ của mình. Tôi quên béng đi mất. Anh chàng người Anh cũng đã nhìn thấy nó rồi phải không? Ôi chao.

Bố nói, “Jude, con thật…” Nhưng tôi đang chắc mẩm là lại sắp có một bài diễn thuyết cứng đầu nữa về xu hướng cuồng kinh thánh hay mối quan hệ xa xôi cách trở của tôi và bà nội (bố không biết về mẹ) thì bài nói bị cắt ngang vì bố bị bắn bởi một khẩu súng kinh ngạc.

“Bố?” Mặt bố tái mét đi - ờ thì, tái mét hơn. “Bố?” tôi lặp lại, nhìn theo ánh mắt quẫn trí của bố về phía màn hình vi tính. Đó có phải là bức Gia đình những kẻ than khóc không? Đó là bức điêu khắc tôi thích nhất trong số các tác phẩm của Guillermo Garcia mà tôi đã thấy, tuy nó rất sầu não. Ba người khổng lồ đau thương bằng đá khiến tôi nhớ đến chúng tôi, cái cách bố, Noah và tôi có lẽ đã đứng trên phần mộ của mẹ như thể chúng tôi sắp ngã bổ xuống theo mẹ. Chắc hẳn nó cũng khiến bố nhớ lại.

Tôi nhìn Noah và thấy nó cũng trong cùng một trạng thái, cũng chăm chú nhìn màn hình, vẻ mặt khóa chặt đã biến mất. Một cảm xúc đỏ bừng đã choán lấy mặt và cổ, kể cả tay thằng bé. Thật đáng hứa hẹn. Nó đang thực sự phản ứng với nghệ thuật.

“Con biết,” tôi nói với cả bố và Noah. “Một tác phẩm tuyệt vời đến khó tin, phải không ạ?”

Chẳng ai đáp lại tôi. Tôi không chắc liệu có ai nghe thấy tôi nói gì không.

Rồi bố nói cộc lốc, “Bố đi dạo,” và Noah cũng nói cộc lốc không kém, “Bạn em,” rồi họ đi mất.

Vậy tôi là đứa duy nhất gàn dở ở đây à?

Chuyện là: Tôi biết tôi đã sơ suất. Tôi thấy đống nút niếc của tôi vẫn thường nảy ra và bắn tứ tung khắp mọi hướng. Điều khiến tôi lo lắng về bố và Noah là có vẻ họ nghĩ rằng họ bình thường.

Tôi tới bên cửa sổ, đẩy cửa lên, tiếng rên rỉ, quàng quạc kỳ quặc của lũ chim lặn mỏ đen cùng tiếng ầm ầm của sóng biển mùa đông, những ngọn sóng lấp lánh ánh sao, xộc thẳng vào. Trong khoảnh khắc, tôi lại cưỡi trên ván, lướt qua vùng biển lặng, không khí lành lạnh mặn mòi trong phổi tôi - chỉ có điều ngay sau đó, tôi kéo Noah vào bờ và một lần nữa, cái ngày hôm ấy của hai năm về trước tái hiện, cái ngày nó suýt chết đuối và sức nặng của nó kéo cả hai chúng tôi xuống sau mỗi nhịp bơi - không.

Không.

Tôi đóng sập cửa sổ, giật tấm mành xuống.

Nếu một đứa trong cặp song sinh bị đứt tay,

đứa còn lại sẽ chảy máu

Tối hôm đó khi bật máy tính để tìm hiểu thêm về Guillermo Garcia, tôi phát hiện ra những dấu trang tôi lưu lại đều đã bị xóa.

Màn hình chờ Gia đình những kẻ than khóc đã bị đổi thành mỗi một bông hoa tulip tím.

Khi tôi tra hỏi Noah về chuyện đó, nó bảo nó không biết tôi đang nói cái gì, nhưng tôi không tin nó.

Bữa tiệc của Noah cứ điên đảo quay cuồng quanh tôi. Bố sẽ ở hội nghị ký sinh trùng cả tuần. Giáng sinh thì phá sản. Và tôi vừa đề ra một quyết tâm cho năm mới, không, là một cuộc cách mạng cho năm mới, đó là: quay trở lại xưởng của Guillermo Garcia tối nay và đề nghị ông hướng dẫn tôi. Từ khi kỳ nghỉ đông bắt đầu đến giờ, tôi cứ hèn nhát thoái lui. Vì nhỡ ông nói không thì sao? Nhỡ ông nói đồng ý thì sao? Nhỡ ông cầm cái đục phang tôi một phát thì sao? Nhỡ anh chàng người Anh ở đó thì sao? Nhỡ anh ta không ở đó thì sao? Nhỡ anh ta cầm đục phang tôi thì sao? Nhỡ mẹ tôi đập tan đá tảng dễ dàng như đập đất nung thì sao? Nhỡ vết mẩn đỏ trên tay tôi là bệnh hủi thì sao?

Vân vân.

Vài giây trước tôi vừa nhập hết tất cả chỗ câu hỏi ấy vào Lời Sấm Truyền và kết quả đã hoàn toàn xác định. Chưa bao giờ như lúc này, quyết định đã được đưa ra và được hối thúc bởi đám người dự tiệc của Noah - bao gồm cả Zephyr - cứ gõ cánh cửa đã bị chặn cứng nhờ chiếc tủ quần áo kê phía trước. Nên tôi lẻn ra ngoài theo đường cửa sổ, vơ vào túi áo nỉ mười hai cái răng nhím biển đặt trên bậu cửa. Chúng không may mắn như cỏ bốn lá hay sỏi thủy tinh đỏ trên biển, nhưng chúng sẽ phải may mắn như vậy thôi.

Tôi lần theo vạch phản quang màu vàng kẻ giữa đường xuống đồi, lắng tai nghe ngóng phòng xe cộ và lũ giết người hàng loạt. Lại một trận sương trắng nữa. Ám muội thật đấy. Và đây thực sự là một ý tồi. Nhưng tôi đã quyết tâm, vậy nên tôi bắt đầu chạy qua hư vô lạnh lẽo ẩm ướt, cầu xin Clark Gable rằng Guillermo Garcia chỉ điên dạng thường thôi, không phải cái dạng sát hại đàn bà con gái, và cố gắng không tự hỏi liệu anh chàng người Anh có ở đó không. Cố không nghĩ về đôi mắt khác màu của anh ta, về cảm xúc mãnh liệt toát ra từ anh ta, về chuyện anh ta trông quen quen, về cái cách anh ta gọi tôi là một thiên thần sa ngã và nói, “Em chính là cô ấy,” và chẳng bao lâu sau, tất cả cái mớ không nghĩ ngợi gì đó đã đưa tôi đến trước cửa xưởng điêu khắc có ánh sáng lọt qua khe cửa dưới.

Igor Say Xỉn hẳn đang ở bên trong. Đầu óc tôi ngập tràn hình ảnh ông ta với mái tóc nhờn bóng, bộ râu quai nón đen sì thô xoắn và những ngón tay thâm tím chai sạn. Một hình ảnh hết sức ngứa ngáy. Có khi ông có rận. Ý tôi là nếu tôi là một con rận, tôi sẽ chọn ông để chiếm làm thuộc địa. Cái đống tóc ấy. Không có ý xúc phạm đâu, nhưng tởm.

Tôi lùi lại vài bước, thấy một hàng cửa sổ bên sườn nhà, tất cả đều sáng đèn - xưởng điêu khắc chắc hẳn ở phía sau đó. Một ý tưởng bắt đầu được hình thành. Một ý tưởng tuyệt vời. Bởi lẽ có thể đó là cách để dò la trong xưởng điêu khắc của ông mà không bị phát hiện… phải rồi, như từ lối thang thoát hiểm ở đằng sau kia chẳng hạn, tôi nghĩ bụng khi thấy nó. Tôi muốn thấy những người khổng lồ. Tôi cũng muốn thấy Igor Say Xỉn nữa, và quan sát từ sau cửa kính có vẻ là phương thức hoàn hảo. Xuất sắc, thật đấy. Trước cả khi tôi kịp nghĩ, tôi đã trèo qua hàng rào và hối hả chạy dọc con hẻm tối om nơi các cô gái hay bị phang đục vào đầu.

Ngã dập mặt là rất xui xẻo

(Đây là một mục ghi chú chân chất thành thật.

Cuốn kinh của bà nội thật uyên thâm vô biên.)

Tôi tới lối thang thoát hiểm - vẫn còn sống sót - và bắt đầu leo, im như thóc, lên chiếu nghỉ nơi ánh sáng tỏa ra.

Tôi đang làm gì thế?

Dù gì thì tôi cũng đang làm mất rồi. Lên tới chiếu nghỉ, tôi ngồi chồm hỗm và lỉnh như cua bên dưới dãy cửa sổ. Khi đã qua được chỗ cửa sổ, tôi đứng dậy, ôm tường và nhòm vào không gian rộng lớn thắp đèn sáng trưng…

Và họ kia rồi. Những người khổng lồ. Những người khổng lồ khổng lồ. Nhưng khác với những người khổng lồ trong ảnh. Những bức tượng này đều thành đôi thành cặp. Phía bên kia phòng, những hình thù đá vĩ đại đang ôm lấy nhau như trên sàn nhảy, như thể tất cả bọn chúng đều bị đông cứng lại khi đang chuyển động. Không, thực ra thì không phải ôm nhau. Chưa ôm nhau. Cảm giác như từng người “đàn ông” và “đàn bà” đang quăng mình về phía nhau đầy say đắm, đầy tuyệt vọng, và rồi thời gian ngừng trôi trước khi họ kịp sà vào vòng tay nhau.

Adrenalin chảy khắp cơ thể tôi. Bảo sao tạp chí Phỏng vấn chụp ông ấy cầm gậy bóng chày phang bức tượng Nụ hôn của Rodin. Nếu đem ra so sánh thì bức Nụ hôn quá lịch sự, và, đúng ra thì, quá nhàm…

Dòng suy nghĩ của tôi bị cắt ngang bởi Igor Say Xỉn, ràng buộc vào không gian rộng lớn như thể da của ông không thể bao chứa nổi cơn nhồi máu bên trong, nhưng giờ đã hoàn toàn biến đổi. Ông đã cạo râu, gội đầu và mặc một chiếc áo khoác ngoài dính đầy đất sét tung tóe, cả chai nước ông đang kề trên môi cũng đầy đất. Lý lịch của ông chẳng nhắc gì đến chuyện ông tạo tác đất sét cả. Ông tu chai nước ừng ực như vừa lang thang trên sa mạc với Moses, nốc cạn, rồi quăng cái chai vào thùng rác.

Ai đó đã đánh thức ông.

Bằng cách cắm ông vào lò điện hạt nhân.

Thưa quý ông quý bà: Ngôi Sao Nhạc Rock Của Giới Điêu Khắc.

Ông đi về phía tác phẩm đất sét đang được hoàn thành đặt ở chính giữa phòng và khi chỉ cách bức tượng có vài mét, ông ấy bắt đầu chậm rãi đi xung quanh bức tượng như dã thú săn mồi, cất tiếng bằng chất giọng trầm đục khàn khàn tôi có thể nghe thấy qua cửa sổ. Tôi nhìn ra phía cửa, cho rằng ai đó chuẩn bị theo ông đi vào, ai đó chìm đắm trong cuộc hội thoại này cùng ông, như anh chàng người Anh chẳng hạn, tôi nghĩ mà lòng xốn xang, nhưng chẳng có ai ở đó với ông cả. Tôi không thể hiểu đến một từ những gì ông đang nói. Nghe giống tiếng Tây Ban Nha.

Có thể ông cũng có ma theo. Tốt. Có điểm chung rồi.

Đột nhiên, ông giật chộp lấy bức điêu khắc, hành động đột ngột ấy làm tôi hít vào hồi hộp. Ông là một đường dây điện cao thế bị đứt quãng, cái cách ông chuyển động ấy. Chỉ khác là dòng điện đã bị ngắt và ông đang ấn trán vào bụng bức điêu khắc. Không có ý xúc phạm (một lần nữa), nhưng đúng là dở hơi hết biết. Ông đặt hai bàn tay xòe rộng lên hai sườn tác phẩm, và ông cứ đứng như thế, không nhúc nhích, như đang cầu nguyện hay lắng nghe mạch đập hoặc có khi bị động rồ cũng nên. Rồi tôi thấy tay ông từ từ đưa lên rồi đưa xuống trên bề mặt của bức tượng, quệt đất sét xuống, từng mẩu từng mẩu một, ném hàng nắm đất xuống sàn, nhưng trong lúc làm vậy, ông không hề ngẩng đầu lên nhìn đến một lần. Ông đang tù mù điêu khắc. Ôi chao.

Tôi ước Noah có thể thấy điều này. Và mẹ nữa.

Cuối cùng, ông loạng choạng lùi lại như đang kéo mình ra khỏi trạng thái xuất thần, lấy một bao thuốc lá ra khỏi túi áo choàng, châm lửa, tựa vào cái bàn gần đó, hút thuốc và nhìn chằm chằm vào bức điêu khắc, nghiêng đầu từ trái sang phải. Tôi đang nhớ lại bản lý lịch điên loạn của ông. Chuyện ông xuất thân từ một gia đình có truyền thống làm nghề cắt bia mộ ở Colombia và bắt đầu khắc tạc khi mới năm tuổi. Chuyện chưa ai từng thấy bức tượng thiên thần nào lộng lẫy như thiên thần của ông, và những người sống gần nghĩa trang nơi các bức tượng thiên thần của ông trông coi người chết thề rằng họ đã nghe tiếng hát vào ban đêm, thề rằng giọng hát tuyệt trần ấy đã vọng vào nhà, vào giấc ngủ, vào cả những giấc mơ của họ. Và cả lời đồn tiếng thổi rằng cậu bé thợ chạm bị bỏ bùa hay có khi bị ma nhập cũng nên.

Tôi cho là cái thứ hai.

Ông là người mà khi bước vào một căn phòng, cả bốn bức tường đều sẽ đổ sụp xuống.

Đồng ý, mẹ ạ, thế tức là tôi lại quay về điểm xuất phát. Tôi phải làm thế nào để ông đồng ý hướng dẫn tôi? Con người này của ông còn đáng sợ hơn gấp tỷ lần Igor.

Ông gảy điếu thuốc xuống sàn, tu một ngụm nước lớn từ cái cốc trên bàn, nhổ nước từ miệng vào đất sét - eo, tởm! - rồi những ngón tay ông nhào nặn điên cuồng trên phần đất ẩm ướt, đôi mắt ông giờ dán dính vào việc đang làm. Ông lạc lối trong đó, uống và nhổ và nhào nặn, uống và nhổ và nhào nặn, tạo hình như thể ông đang cố gắng kéo thứ ông cần, cần đến tuyệt vọng, ra khỏi khối đất sét. Trong khi thời gian cứ thế trôi và trôi, tôi thấy một người đàn ông và một người phụ nữ bắt đầu hình thành - hai cơ thể xoắn lại với nhau như hai cành cây.

Đây chính là ao ước bằng đôi tay của mình đây.

Không biết đã bao nhiêu thời gian đã trôi qua trong khi tôi và một đám những cặp đôi khổng lồ bằng đá đứng ngắm ông làm việc, ngắm ông luồn những ngón tay bê bết đất sét lên tóc, hết lần này đến lần khác, cho tới khi khó mà dám chắc liệu ông đang tạo ra bức tượng hay bức tượng đang tạo ra ông nữa.

Bình minh đang lên và tôi lại lén lút mò lên lối thang thoát hiểm nhà Guillermo Garcia.

Khi lên tới chiếu nghỉ, tôi lại bò dưới bậu cửa sổ đến khi tới được vị trí thuận lợi như tối qua, rồi ngoi lên vừa đủ để nhòm vào xưởng… Ông vẫn ở đó. Không hiểu sao tôi biết ông vẫn sẽ ở đó. Ông đang ngồi trên bục, lưng quay về phía tôi, đầu cúi xuống, toàn thân ủ rũ. Ông vẫn chưa thay quần áo. Ông có ngủ tí nào không vậy? Bức tượng đất sét bên cạnh ông có vẻ đã hoàn thành - chắc ông đã làm việc cả đêm - nhưng trông nó không giống hôm qua khi tôi về nhà tẹo nào. Đôi tình nhân không còn quấn quýt trong vòng tay nhau nữa. Người nam giờ đang nằm ngửa ra và trông như người nữ đã vặn mình ra khỏi người nam, trèo ngay ra khỏi lồng ngực của người nam.

Thật khủng khiếp.

Rồi tôi nhận thấy hai vai Guillermo Garcia đang giật lên giật xuống. Vì ông đang khóc sao? Như bị thẩm thấu, một con sóng cồn của những xúc cảm tăm tối nổi dậy trong tôi. Tôi khó nhọc nuốt khan, hai vai căng cứng. Tôi có khóc bao giờ đâu.

Nên thu thập và uống những giọt nước mắt than khóc

để hàn gắn linh hồn

(Tôi chưa bao giờ khóc vì mẹ cả. Tôi đã phải giả vờ khóc ở đám tang. Tôi liên tục mò vào nhà tắm cấu má và dụi mắt để trông giống khóc. Tôi biết nếu tôi nhỏ lệ, dù chỉ một giọt: TậnthếJude. Noah thì không thế. Hồi đó tôi cảm giác như mình đang sống với đợt gió mùa hàng tháng trời vậy.)

Tôi có thể nghe thấy tiếng nhà điêu khắc qua cửa sổ - tiếng than khóc u ám sâu kín hút cạn không khí trong không trung. Tôi phải đi khỏi đây thôi. Đang chuẩn bị đi thì tôi nhớ ra nắm răng nhím biển may mắn vẫn còn trong túi áo từ tối hôm qua. Ông cần chúng. Tôi đang xếp chúng lên bậu cửa sổ thì để ý thấy một cử động chớp nhoáng thoáng qua ở khóe mắt. Cánh tay ông vung ra sau và đang chuẩn bị văng tới trước…

“Không!” không hề nghĩ ngợi tôi hét lên và đập chính tay mình lên cửa sổ để ngăn cánh tay ông tiếp cận và đẩy đôi tình nhân đau khổ ngã nhào xuống từ giã cuộc đời.

Trước khi lao xuống thang thoát hiểm, tôi thấy ông ngước lên nhìn tôi, vẻ mặt ông chuyển từ sửng sốt sang thịnh nộ.

Tôi đang trèo được nửa đường qua hàng rào thì nghe thấy tiếng cửa cọt kẹt mở ra kiểu phim kinh dị như hôm nọ và thấy tầm vóc vĩ đại của ông xuất hiện ở tầm nhìn ngoại biên của mình. Tôi có hai lựa chọn. Lui vào con hẻm để bị úp sọt hoặc nhảy xuống vỉa hè chạy thục mạng. Còn lựa với chọn gì nữa, tôi nghĩ, khi vừa chạm chân xuống đất - phù - nhưng rồi sẩy chân về phía trước suýt chút nữa thì ngã nhào trong tư thế dập mặt siêu xui xẻo nếu không có một bàn tay to lớn với tới tóm chặt lấy cánh tay tôi, giữ tôi đứng thăng bằng.

“Cảm ơn bác,” tôi nghe mình nói. Cảm ơn? “Ngã quả vừa rồi thì đau phải biết,” tôi giải thích cho chân của ông nghe, nhanh nhảu thêm vào, “Bác không thể tưởng tượng nổi mấy cú ngã gây ra bao nhiêu thương tổn về não đâu, còn nếu tổn thương thùy não trước á, quên đi nhé, bác hôn tạm biệt tính cách của mình đi, đúng là khiến bác tự hỏi con người là gì nếu họ cứ va đầu vào đâu một cái là thành người khác luôn, bác nhỉ?” Phù - đang trên đà thắng thế, cuộc vui mới chỉ bắt đầu, tôi đúng là được sinh ra chỉ để độc thoại với đôi giày to tướng bết đầy đất sét của ông. “Nếu cháu mà là người quyết định,” tôi tiếp tục, bắt đầu nhấn ga lao vào một trạng thái trước đây chưa từng thấy, “mà hiển nhiên là cháu chẳng quyết định cái gì cả, và nếu nó không đặt ra một câu hỏi hóc búa về thời trang, cháu sẽ cho tất cả mọi người đội mũ bảo hiểm titan từ lúc ở trong bụng mẹ đến lúc xuống mồ luôn. Ý cháu là bất cứ thứ gì cũng có thể rơi vào đầu bác bất cứ lúc nào. Bác đã bao giờ nghĩ về chuyện đó chưa? Máy điều hòa chẳng hạn, nó có thể rơi từ cửa sổ tầng hai xuống và đè lên bác trong khi bác đang mải mua bánh vòng ở phố Main.” Tôi hít một hơi, “Hoặc một viên gạch. Đương nhiên còn phải lo đến cả gạch bay nữa.”

“Gạch bay?” Âm sắc giọng ông nghe rất giống tiếng sấm.

“Vâng, gạch bay.”

“Một viên gạch bay?”

Gì thế, ông bị đần à? “Dĩ nhiên rồi. Hoặc một quả dừa, cháu cho là vậy, nếu bác sống ở vùng nhiệt đới.”

“Cô dở hơi à.”

“Bác dở hơi ý,” tôi lí nhí. Tôi vẫn chưa ngẩng đầu lên, cho rằng thế là tốt nhất.

Một tràng tiếng Tây Ban Nha tuôn ra khỏi miệng ông. Tôi nhận ra từ loca* một vài lần. Trên thang điểm cáu tiết, tôi nghĩ ông đang ở mức mười. Ông có mùi rất nồng, không có ý xúc phạm đâu, nhưng chúng ta đang nói đến một con vượn nhễ nhại mồ hôi đấy. Dù vậy, chẳng có hơi rượu nào phả ra từ người ông cả. Igor không có ở đây, lão điên này hoàn toàn là Ngôi Sao Nhạc Rock.

Tôi vẫn trung thành với chiến thuật mắt-nhìn-giày, vậy nên tôi không chắc nhưng tin rằng ông đã thả tay tôi ra để có thể kết hợp một loạt cử chỉ bàn tay vung vẩy với tràng ba hoa tiếng Tây Ban Nha. Chắc vậy, nếu không thì hẳn là lũ chim đang lượn vòng phía trên đầu tôi. Khi những cử động đã ngưng lại và tràng tiếng Tây Ban Nha giận dữ đã đuối dần, tôi thu hết dũng khí ngẩng đầu lên để chiêm ngưỡng thứ tôi đang phải đối mặt ở đây. Không ổn rồi. Ông là một tòa nhà chọc trời, bệ vệ đến khó tin, hai tay khoanh trước ngực trong tư thế chiến đấu, săm soi tôi như kiểu tôi là một thể sống mới. Mà thật tình giống kiểu kẻ cắp gặp bà già, vì chao ôi, đứng gần thế này trông ông như vừa ngoi lên từ hố cát lún ý - một hình thù ngập ngụa. Người ông phủ đầy đất sét ngoại trừ hai vệt nước mắt trên má và đôi mắt xanh lá rực ánh lửa ngục đang xoáy vào tâm can tôi.

“Thế nào?” ông sốt ruột nói, như thể ông vừa hỏi tôi câu gì mà tôi không trả lời.

Tôi nuốt khan. “Cháu xin lỗi,” tôi nói. “Cháu không cố tình…” Ờm, rồi gì nữa? Cháu không cố tình trèo qua hàng rào, leo lên lối thang thoát hiểm và nhìn trộm bác suy sụp.

Tôi thử lại lần nữa. “Cháu đến từ tối qua…”

“Cô ở trên đó nhìn trộm ta cả đêm sao?” ông gầm lên. “Hôm nọ ta đuổi cô đi mà cô lại quay lại nhìn trộm ta cả đêm sao?”

Không chỉ ăn cún con, người đàn ông này còn ăn cả những em bé tươi tắn dễ thương nữa.

“Không. Không phải cả đêm…” tôi nói, và trước cả khi kịp nghĩ, tôi lại tận dụng thời cơ. “Cháu muốn đề nghị bác cố vấn cho cháu, bác biết đấy, cháu sẽ làm thực tập sinh, làm gì cũng được, quét dọn hay gì cũng được, vì cháu phải tạo ra bức tượng này.” Tôi nhìn vào mắt ông. “Cháu buộc phải tạo ra nó và vì nhiều lý do, những lý do mà chắc bác sẽ chẳng tin nổi, nó phải được tạc từ đá, và Sandy thầy giáo của cháu nói bác là người duy nhất còn tạc tượng, kiểu trên cả quả đất này luôn” - có phải ông vừa nở một nụ cười thoáng qua không? - “nhưng lúc cháu tới, trông bác có vẻ… cháu không biết là làm sao nữa, và dĩ nhiên, bác đuổi cháu đi, mà đúng là cháu đã đi thật, nhưng rồi tối qua cháu quay lại nghĩ bụng sẽ hỏi lại bác lần nữa, nhưng hèn nhát rút lui, tại vì, được rồi, bác hơi đáng sợ một chút, ý cháu là thành thật mà nói, ôi - bác đáng sợ khủng khiếp ý…” Đến đó thì lông mày ông nhướng lên, làm nứt lớp đất sét trên trán. “Nhưng tối qua, cái cách bác tù mù nhào nặn tác phẩm ấy, nó rất…” Tôi cố nghĩ xem phải miêu tả thế nào, nhưng không thể nghĩ ra thứ gì nắm bắt được chính xác. “Chỉ là cháu không thể nào tin nổi, không thể nào mà tin nổi ý, xong cháu nghĩ có lẽ bác, cháu không biết nữa, có thể hơi bị thần thông hay gì đó tại vì quyển sách giáo khoa điêu khắc của cháu viết tất tần tật về những bức tượng thiên thần bác từng tạc hồi còn nhỏ, rằng người ta tin là bác bị bỏ bùa hay thậm chí là bị ma ám, không có ý xúc phạm ạ, và bức tượng này, bức tượng mà cháu phải làm ý, cháu cần trợ giúp, trợ giúp kiểu đó đó, vì cháu cho là cháu có thể khiến mọi chuyện trở nên có lý, kiểu nếu cháu tạo ra bức tượng, có lẽ ai đó cuối cùng sẽ hiểu điều gì đó và điều đó rất quan trọng với cháu, rất, rất quan trọng, vì người đó chẳng bao giờ hiểu cháu, không thực sự hiểu, và người đó rất giận vì một chuyện cháu đã làm…” Tôi hít một hơi, rồi nói thêm, “Và cháu cũng rất buồn.” Tôi thở dài. “Cháu cũng không ổn. Không ổn một tí nào. Cháu muốn nói với bác điều đó lần trước cháu tới đây. Thậm chí thầy Sandy còn bắt cháu đến gặp cố vấn của trường, nhưng mà cô ấy cứ bảo cháu tưởng tượng ra cánh đồng…” Tôi nhận ra mình đã nói xong xuôi, vậy nên tôi ngậm miệng lại và đứng đó chờ nhân viên y tế hoặc bất cứ ai đến rước đi với cái áo trói tay chân cho người điên.

Những gì tôi vừa nói còn nhiều hơn tất cả những gì tôi đã mở miệng thốt ra suốt hai năm qua.

Ông đưa tay lên miệng và bắt đầu săm soi tôi giống cái cách ông nhìn bức tượng tối hôm qua, chứ không phải như thể tôi là người ngoài hành tinh. Cuối cùng khi ông cất tiếng, khiến tôi vô cùng ngạc nhiên và nhẹ nhõm, ông không nói, “Ta sẽ gọi giới chức trách,” mà là, “Chúng ta uống một cốc cà phê đi. Được không? Ta có thể nghỉ một lát.”

•••

Tôi theo chân Guillermo Garcia đi dọc một hành lang tối tăm bụi bặm với rất nhiều cánh cửa đóng chặt dẫn vào những căn phòng nơi lũ học sinh nghệ thuật mười sáu tuổi bị xích lại. Tôi chợt nhận ra rằng chẳng ai biết tôi ở đây cả. Đột nhiên toàn bộ câu chuyện về người cắt bia mộ kia có vẻ không giống một điểm cộng nữa.

Để trở nên dũng cảm, gọi tên mình ba lần vào bàn tay bụm lại

(Thay vào đó, dùng bình xịt hơi cay thì sao nhỉ, bà nội?)

Tôi gọi tên mình ba lần vào bàn tay bụm lại. Sáu lần. Chín lần và vẫn đang đếm tiếp…

Ông quay lại, mỉm cười, chỉ tay lên trời. “Không ai pha cà phê ngon bằng Guillermo Garcia.”

Tôi cười đáp lại. Có vẻ không giống sát nhân cho lắm, nhưng có thể ông chỉ đang cố trấn tĩnh tôi, dụ dỗ tôi vào trong sào huyệt của ông như mụ phù thủy trong truyện Hansel và Gretel.

Cảnh báo Sức khỏe: Một chiếc mặt nạ phòng độc là hết sức phù hợp. Cả một nền văn minh bụi bặm bay lơ lửng giữa những vệt nắng dày rọi xuống từ hai ô cửa sổ trên cao. Tôi nhìn xuống sàn, Chúa ơi, nó bụi bặm kinh khủng, đến nỗi tôi đang để lại dấu chân. Tôi ước mình có thể lướt như bà nội để không khuấy động chỗ bụi lên. Và bóng tối này - chắc chắn phải có cả đống mầm mốc đen độc hại loang lổ khắp các bức tường bê tông.

Chúng tôi bước vào một khu rộng hơn.

“Phòng thư tín,” Guillermo nói.

Ông không đùa. Thư suốt hàng tháng, có khi cả hàng năm trời chất đầy khắp bàn, ghế, đi văng, thư chất thành từng núi, tất cả đều chưa được mở, rơi xuống sàn thành từng chồng. Bên phải tôi là khu bếp chứa đầy vi khuẩn ngộ độc thịt và một cánh cửa đóng khác, chắc bên trong là những con tin bị trói bịt miệng, cùng một lối cầu thang dẫn lên khu gác xép - tôi có thể thấy giường vẫn chưa dọn - và phía bên trái tôi, ôi Clark Gable ơi, thế chứ, có một thứ khiến tôi vô cùng hạnh phúc, chính là nó: một thiên thần bằng đá với kích thước người thật trông như đã sống bên ngoài một thời gian rất lâu trước khi được chuyển vào đây.

Nó là một trong số chúng. Nhất định là vậy. Trúng số rồi! Bản lý lịch về ông có đề cập rằng cho đến ngày nay, ở Colombia, người ta đi tới từ khắp mọi nơi để thì thầm ước muốn của họ vào đôi tai đá lạnh của những thiên thần do Guillermo Garcia tạo ra. Bức tượng này trông thật hoành tráng, cao bằng tôi, với mái tóc buông dài sau lưng thành từng lọn mềm mại trông như được làm bằng lụa chứ không phải đá. Gương mặt trái xoan rộng của nàng được tạc cúi xuống như thể nàng đang trìu mến nhìn xuống một đứa trẻ, và đôi cánh dang lên từ sau lưng nàng như thể tự do. Nàng trông giống hệt như bức David trong phòng làm việc của thầy Sandy, chỉ chực chờ hít thở sống dậy. Tôi muốn ôm lấy nàng hoặc ré lên nhưng thay vào đó, tôi bình thản hỏi, “Ban đêm nàng có hát cho bác nghe không?”

“Ta e là những thiên thần không hát cho ta nghe,” ông nói.

“Phải, họ cũng không hát cháu nghe,” tôi nói, không hiểu sao câu nói ấy khiến ông quay lại cười với tôi.

Khi ông lại quay lưng về phía tôi, tôi ngoặt trái và rón rén nhón chân băng qua căn phòng. Tôi không kìm nổi mình. Tôi buộc phải thì thầm điều ước của mình vào tai nàng thiên thần ngay lập tức.

Ông vẫy một tay vào không trung. “Phải rồi, phải rồi, ai cũng làm thế. Kể mà hiệu nghiệm thật.”

Tôi tảng lờ lòng nghi hoặc của ông và ước trọn cả trái tim mình vào đôi tai hình vỏ sò hoàn hảo ấy của nàng thiên thần - Tốt hơn hết là hãy đặt cược vào tất cả lũ ngựa, cháu yêu. Ước xong, tôi nhận ra bức tường đằng sau nàng thiên thần đầy những phác họa, phần lớn là vẽ cơ thể, những cặp tình nhân, những người đàn ông đàn bà với gương mặt trống rỗng ôm lấy nhau hoặc nổ tung trong vòng tay nhau. Chắc là bản nghiên cứu để tạc nên những người khổng lồ ở phòng kế bên chăng? Tôi nhìn khắp phòng thư tín một lần nữa, nhận thấy mọi bức tường đều được vẽ kín tương tự. Điểm gián đoạn duy nhất trong cái hang nghệ thuật này là bức vẽ lớn được treo lên mà không lồng khung. Đó là bức vẽ một người phụ nữ và một người đàn ông hôn nhau trên một vực đá bên biển trong khi cả thế giới xung quanh họ quay cuồng thành cơn cuồng phong của màu sắc - bảng màu rất đậm nét và rực rỡ như tác phẩm của Kandinsky hay Franz Marc, họa sĩ yêu thích của mẹ tôi.

Tôi không biết là ông còn vẽ nữa.

Tôi bước tới chỗ bức vẽ, hoặc có lẽ là ngược lại, bức vẽ tiến về phía tôi. Một số bức tranh chỉ tĩnh tại trên tường; không phải bức này. Màu sắc của bức vẽ ứ tràn ra khỏi không gian hai chiều, vậy nên tôi đập tay vào giữa bức tranh, đập tay vào giữa nụ hôn có thể khiến một cô gái không tẩy chay con trai tự hỏi một anh chàng người Anh cụ thể có thể đang ở đâu…

“Đỡ phí giấy,” Guillermo Garcia nói. Tôi không nhận ra mình đã bắt đầu lần tay theo một hình phác họa trên tường ngay cạnh bức tranh. Ông đang tựa vào một cái bồn rửa công nghiệp to tướng nhìn tôi. “Ta rất yêu cây cối.”

“Cây cối rất tuyệt,” tôi lơ đãng nói, có chút choáng ngợp vì tất cả những cơ thể khỏa thân, tất cả tình yêu và khao khát khắp nơi xung quanh tôi. “Nhưng chúng là của em trai cháu, không phải của cháu,” tôi thêm vào mà không buồn nghĩ. Tôi liếc nhìn tay ông để tìm một chiếc nhẫn cưới. Chẳng có cái nào. Và cảm giác như chẳng có người phụ nữ nào ở đây cả thập kỷ rồi cũng nên. Nhưng còn cặp đôi người khổng lồ thì sao? Và người phụ nữ vặn mình ra khỏi người đàn ông trong bức tượng ông làm tối qua thì sao? Và bức vẽ nụ hôn này thì sao? Và tất cả những bức vẽ tường đầy khao khát này nữa? Và Igor Say Xỉn? Và màn khóc thút thít tôi đã chứng kiến? Thầy Sandy nói có chuyện gì đó đã xảy ra với ông - chuyện gì đã xảy ra? Chuyện gì xảy ra vậy? Cảm giác như có một chuyện kinh khủng khiếp chắc chắn đã xảy ra.

Mảng đất sét trên trán Guillermo gấp nếp lại đầy bối rối. Tôi chợt nhận ra điều mình vừa nói về cây cối. “À, hồi nhỏ chị em cháu chia thế giới cho nhau,” tôi bảo ông. “Cháu đã phải cho thằng bé cây cối, mặt trời và vài thứ nữa để đổi lấy một bức chân dung lập thể khó tin nó vẽ mà cháu muốn có.”

Tàn tích của bức chân dung vẫn còn nguyên trong cái túi ni lông dưới gầm giường tôi. Tối hôm đó khi trở về nhà sau bữa tiệc chia tay Brian, tôi phát hiện ra Noah đã xé tan bức vẽ và rải khắp phòng ngủ của tôi. Tôi đã nghĩ: Phải rồi, tôi không xứng đáng có một câu chuyện tình. Không còn xứng đáng nữa. Chuyện tình không dành cho những đứa con gái có thể làm chuyện mà tôi vừa gây ra với em trai mình, những đứa con gái với trái tim đen tối.

Nhưng tôi vẫn nhặt nhạnh từng mẩu vụn của anh ta. Rất nhiều lần tôi đã cố ghép anh ta lại thành một mảnh, nhưng bất khả thi. Giờ tôi còn không thể nhớ nổi anh ta trông như thế nào, nhưng tôi sẽ không bao giờ quên phản ứng của mình khi thấy anh ta lần đầu tiên trong tập vẽ của Noah. Tôi phải có được anh ta. Tôi sẵn sàng cho đi cả vầng mặt trời thật, huống hồ chỉ cho đi mặt trời tưởng tượng.

“Ta hiểu rồi,” Guillermo Garcia nói. “Vậy mấy cuộc thương lượng này diễn ra trong bao lâu? Thương lượng chia thế giới ý?”

“Vẫn đang diễn ra ạ.”

Ông khoanh tay, lại đứng trong tư thế chiến đấu ban nãy. Có vẻ như đó là tư thế yêu thích của ông. “Hai đứa rất quyền năng đấy, cháu và em trai cháu. Như những vị thần,” ông nói. “Nhưng thực tình mà nói, ta không nghĩ cháu đã đổi đúng.” Ông lắc đầu. “Cháu nói cháu rất buồn, chắc đấy là lý do. Không mặt trời. Không cây cối.”

“Cháu mất cả những vì sao và đại dương nữa,” tôi bảo ông.

“Tệ thật đấy,” ông nói, đôi mắt ông mở to dưới lớp mặt nạ đất sét. “Cháu đúng là một nhà thương lượng tồi. Lần sau cháu cần thuê luật sư đi.” Giọng ông có chút thích thú.

Tôi cười với ông. “Cháu được giữ những bông hoa.” “Cảm ơn Chúa,” ông bảo.

Một điều gì đó thực sự kỳ lạ đang diễn ra, kỳ lạ đến mức tôi không thể tin nổi. Tôi cảm thấy thoải mái. Ngay ở đây chứ không phải nơi nào khác, bên cạnh ông.

Than ôi, đang nghĩ về điều đó thì tôi thấy con mèo, con mèo đen. Guillermo cúi xuống, bế cả cái cục đen sì xui xẻo ấy vào lòng. Ông rúc đầu vào cổ con mèo, thì thầm với nó bằng tiếng Tây Ban Nha. Phần lớn những kẻ giết người hàng loạt đều yêu động vật, có lần tôi đã đọc được như thế.

“Đây là Frida Kahlo.” Ông quay lại. “Cháu biết Kahlo chứ?”

“Dĩ nhiên rồi ạ.” Quyển sách viết về bà ấy và Diego Rivera* của mẹ có tên Đếm các cách. Tôi đã đọc hết từ đầu đến cuối.

“Một họa sĩ tuyệt vời… quá đau khổ.” Ông giơ con mèo lên đối mặt với mình. “Như mày vậy,” ông nói với con mèo, rồi đặt nó xuống sàn. Nó lẻn lại gần ông ngay lập tức, dụi vào chân ông, hoàn toàn mù tịt rằng nó đang lấp đầy cuộc đời chúng tôi bằng những năm tháng xui xẻo.

“Bác có biết phân mèo truyền ký sinh trùng toxoplasma và Campylobacter cho người không?” tôi hỏi Guillermo.

Ông nhíu mày lại, khiến lớp đất sét trên trán nứt thành từng rãnh. “Không, ta không biết. Và ta không muốn biết điều đó.” Ông đang xoay cái ấm trên không trung bằng hai tay. “Ta đã xóa nó khỏi đầu luôn rồi. Xong. Phù. Cháu cũng nên làm vậy. Mấy viên gạch bay xong bây giờ lại đến cái này. Ta còn chưa bao giờ nghe đến mấy thứ đó.”

“Bác có thể bị mù hoặc thậm chí tệ hơn đấy. Chuyện đó vẫn hay xảy ra. Mọi người không hề biết nuôi thú nuôi nguy hiểm đến mức nào.”

“Cháu nghĩ thế à? Rằng nuôi một con mèo con bé tí rất nguy hiểm ư?”

“Chắc chắn rồi ạ. Đặc biệt là một con mèo đen, nhưng chuyện đấy lại là một đống điên khùng khác.”

“Được rồi,” ông bảo. “Đó là điều cháu nghĩ. Cháu biết ta nghĩ gì không? Ta nghĩ cháu điên rồi.” Ông ngửa đầu ra và bật cười ha hả. Nụ cười sưởi ấm cả thế giới. “Loca phải biết.” Ông quay lại và bắt đầu nói tiếng Tây Ban Nha, nói cái gì Clark Gable mới biết được, vừa nói cởi áo choàng ra treo lên móc. Bên trong, ông mặc quần jean áo phông đen như một người đàn ông bình thường. Ông lôi một quyển sổ ra từ túi trước áo choàng và nhét vào túi sau quần jean. Tôi tự hỏi liệu đó có phải sổ ý tưởng không. Ở CSA, chúng tôi được khuyến khích mang một quyển sổ ý tưởng theo người mọi lúc mọi nơi. Quyển của tôi trắng trơn. Ông vặn hết cỡ cả hai vòi nước, giơ tay này rồi cả tay kia ra, kì cọ cả hai bằng cục xà phòng công nghiệp. Từng dòng nước nâu sẫm đục ngầu chảy xuống từ tay ông. Kế đó, ông cúi cả đầu xuống vòi nước. Chắc phải đợi lâu đây.

Tôi cúi xuống kết bạn với Frida xui xẻo vẫn đang đi vòng quanh chân Guillermo. Hãy giữ kẻ thù ở gần, như người ta hay nói. Lạ một điều là kể cả khi có Frida và ký sinh trùng toxoplasma, cùng người đàn ông vì nhiều lý do đáng ra phải khiến tôi vô cùng khiếp sợ này, tôi lại thấy thân thuộc với nơi đây hơn bất cứ đâu suốt bao lâu nay. Tôi cào cào ngón tay xuống đất, cố thu hút sự chú ý của con mèo. “Frida,” tôi khẽ khàng gọi.

Tựa đề cuốn sách mẹ viết về Kahlo và Rivera, Đếm các cách, là một dòng trong bài thơ yêu thích của mẹ do Elizabeth Barrett Browning sáng tác. “Mẹ có thuộc bài thơ đấy không?” tôi từng hỏi mẹ một ngày nọ khi chúng tôi đi dạo trong rừng với nhau, chỉ mình mẹ và tôi, một dịp hiếm có.

“Dĩ nhiên là mẹ thuộc rồi.” Mẹ hí hửng nhảy chân sáo một cái và kéo tôi lại gần mẹ khiến từng xăng ti mét trên cơ thể tôi đều cảm thấy hạnh phúc và muốn nhún nhảy. “‘Mẹ yêu con nhường nào?’” mẹ nói, đôi mắt lớn sâu thẳm của mẹ nhìn tôi, tóc bay phấp phới quanh đầu chúng tôi, hòa trộn và rối vào nhau trong gió. Tôi biết đó là một bài thơ lãng mạn, nhưng vào ngày hôm đó, tôi có cảm giác như bài thơ viết về chúng tôi, tình cảm riêng tư giữa mẹ và con gái. “‘Để mẹ đếm các cách,’” mẹ hát lên… đợi đã, đúng là mẹ đang hát lên! “‘Mẹ yêu con đến sâu tận cùng, rộng vô biên, cao vời vợi nơi linh hồn mẹ với tới…’”

Đó là mẹ, ngay tại đây, ngay lúc này - giọng nói thô trầm của mẹ đang đọc lại bài thơ cho tôi!

“‘Mẹ yêu con bằng từng hơi thở, nước mắt, nụ cười cả cuộc đời mẹ; và nếu Chúa trời chọn lựa, mẹ sẽ còn yêu con nhiều hơn sau khi chết.’”

“Mẹ?” tôi thì thầm. “Con nghe thấy mẹ rồi.”

Đêm nào cũng thế, trước khi đi ngủ, tôi đọc bài thơ lên thành tiếng cho mẹ nghe, ước mong sẽ nghe thấy tiếng mẹ.

“Đằng đó ổn chứ?” tôi ngẩng lên nhìn gương mặt không còn lấm lem của Guillermo Garcia, giờ trông ông như vừa từ dưới biển lên, mái tóc đen của ông hất ngược về đằng sau và ướt nhẹp, vai ông quàng một cái khăn.

“Cháu ổn,” tôi nói với ông, nhưng tôi còn lâu mới ổn. Hồn ma của mẹ đã nói chuyện với tôi. Mẹ đọc lại bài thơ cho tôi nghe. Mẹ nói mẹ yêu tôi. vẫn yêu tôi.

Tôi đứng dậy. Ban nãy trông tôi thế nào nhỉ? Ngồi xổm trên sàn, chẳng có con mèo nào xung quanh, hoàn toàn mê man, thì thầm với người mẹ đã chết của mình.

Khuôn mặt Guillermo lúc này trông giống như trong những bức ảnh tôi thấy trên mạng. Đường nét nào trên khuôn mặt ấy trông cũng kịch tính, nhưng khi gộp tất cả chúng lại với nhau, một cuộc tranh chấp lãnh thổ nổ ra, một cuộc ẩu đả giành địa bàn, mũi đấu với miệng đấu lại đôi mắt sáng bừng. Tôi không xác định nổi trông ông kỳ cục hay đẹp trai nữa.

Ông cũng đang ngắm nghía tôi.

“Khung xương của cháu,” - ông đưa tay lên má - “rất tinh tế. Cháu có bộ xương của chim.” Ánh mắt ông hướng xuống dưới, lướt quá ngực tôi, dừng lại đầy bối rối đâu đó giữa thân tôi. Tôi cúi xuống nhìn, chắc mẩm sẽ thấy củ hành tây hay thứ đồ cầu may gì đó khác mà tôi quên mất mình đã mang theo hôm nay, nhưng không phải. Bên trong lớp áo nỉ không cài khóa, áo phông của tôi co hết lên và ông đang nhìn chằm chằm vào cơ hoành để hở của tôi, hình xăm của tôi. Chẳng buồn hỏi, ông tiến lại gần kéo áo tôi lên để nhìn được hết hình xăm. Ôi trời. Ôitrờiôitrời. Tay ông đang kéo lớp vải lên. Tôi cảm nhận được hơi ấm từ đầu ngón tay ông trên bụng mình. Tim tôi loạn nhịp. Thế này là không đứng đắn, phải không? Ý tôi là ông già rồi. Già bằng tuổi bố ấy chứ. Chỉ trừ chuyện trông ông có vẻ không giống một ông bố.

Rồi từ vẻ mặt của ông, tôi nhận ra rằng với ông thì bụng tôi cũng thú vị như tấm vải căng để vẽ tranh vậy. Ông bị mê hoặc bởi hình xăm của tôi chứ không phải tôi. Không chắc liệu tôi cảm thấy nhẹ nhõm hay bị xúc phạm.

Ông nhìn vào mắt tôi, gật đầu đồng tình. “Một bức Raphael trên bụng,” ông nói. “Rất đẹp.” Tôi không thể kìm nổi nụ cười. Ông cũng vậy. Một tuần trước khi mẹ mất, tôi tiêu hết từng đồng xu lẻ dành dụm được để xăm nó. Zephyr biết một anh sẵn sàng xăm cho mấy đứa chưa đủ tuổi. Tôi chọn hai tiểu thiên sứ của Raphael vì chúng khiến tôi nhớ đến NoahvàJude - như một hơn là hai. Hơn nữa, chúng có thể bay. Giờ thì tôi nghĩ mình xăm chỉ để chọc tức mẹ là chính, nhưng tôi còn chưa kịp cho mẹ thấy… Sao người ta lại có thể chết khi ta đang gây gổ với họ cơ chứ? Khi ta đang ghét họ dở dang? Khi giữa hai người chẳng có một chuyện gì ổn thỏa?

Để làm hòa với một thành viên trong gia đình,

hứng một bát dưới mưa đến khi đầy, rồi uống nước mưa

ngay giây phút đầu tiên mặt trời tỏa sáng trở lại

(Vài tháng trước khi mẹ mất, mẹ và tôi dành một ngày mẹ-con vào thành phố để xem liệu chúng tôi có thể cải thiện mối quan hệ hay không. Đến bữa trưa, mẹ bảo tôi mẹ có cảm giác như mẹ luôn luôn tìm kiếm trong tâm trí người mẹ đã bỏ rơi mình. Tôi đã muốn nói với mẹ rằng: Vâng, con cũng thế.)

Guillermo ra hiệu để tôi đi theo ông, rồi đứng lại trước lối vào không gian xưởng điêu khắc chính sáng sủa và khá ngăn nắp, khác với tất cả những phần còn lại ở nơi này. Ông giơ tay về phía căn phòng chứa đầy những người khổng lồ. “Đá của ta, mặc dù ta cho là cháu đã gặp họ rồi.”

Tôi cũng cho là tôi đã gặp họ rồi, nhưng không phải như thế này, cao ngất ngưởng như những người khổng lồ trước mặt chúng tôi.

“Cháu thấy nhỏ bé quá,” tôi nói.

“Ta cũng vậy,” ông bảo. “Như lũ kiến.”

“Nhưng bác là người đã tạo ra họ mà.”

“Có thể,” ông bảo. “Ta không biết. Ai mà biết được…” Ông lẩm bẩm điều gì đó tôi không nghe rõ và chỉ huy một bản nhạc giao hưởng bằng hai tay trong khi bước ra xa về phía cái quầy có bếp đun và ấm nước trên đó.

“Ô, có khi bác bị Hội chứng Alice ở Xứ sở Thần tiên đấy!” tôi gọi với theo ông, ý tưởng ấy choán lấy tâm trí tôi. Ông quay lại. “Đấy là trạng thái thần kinh cực kỳ hay ho, khi kích thước của mọi vật bị bóp méo trong tâm trí. Người mắc hội chứng này thường thấy mọi vật bé tí bé tẹo - những con người thu nhỏ đi quanh trên những chiếc ô tô to bằng bao diêm, kiểu kiểu như thế - nhưng nó cũng có thể xảy ra kiểu này.” Tôi dang hai tay ra khắp phòng như cung cấp bằng chứng cho lời chẩn bệnh của mình.

Có vẻ ông không nghĩ mình bị Hội chứng Alice ở Xứ sở Thần tiên. Tôi biết thế vì cái tràng loca tiếng Tây Ban Nha lại bắt đầu trong khi ông đập rầm rầm khắp các ngăn tủ. Trong khi ông pha cà phê và diễn thuyết, lần này thì một cách hiền hậu, tôi tin là vậy - chắc tôi làm ông thấy buồn cười - tôi đi xung quanh đôi tình nhân ở gần mình nhất, quệt từng đầu ngón tay lên da thịt đầy sạn mạt của họ, rồi bước vào giữa họ và với tay lên, tôi muốn trèo lên hai cơ thể khổng lồ sầu muộn vì tình của họ.

Xét cho cùng thì có lẽ ông mắc phải một hội chứng khác. Có vẻ như là bệnh tương tư, nếu mô típ cứ lặp đi lặp lại quanh đây có ám chỉ điều gì.

Tôi giữ bí mật lời chẩn bệnh mới cho riêng mình khi tới quầy với ông. Ông đang rót nước qua hai tấm lọc đặt thăng bằng trên hai chiếc cốc và đã bắt đầu hát một mình bằng tiếng Tây Ban Nha. Tôi chợt nhận ra cảm giác khác lạ đang choán lấy tôi là gì: hạnh phúc. Cảm giác thoải mái đã đơm hoa kết trái thành hạnh phúc tột cùng. Có lẽ ông cũng đang cảm thấy hạnh phúc, chứ không thì hát hò các thứ làm gì.

Có lẽ tôi sẽ chuyển đến đây sống? Tôi sẽ mang theo máy khâu và chỉ máy khâu thôi. Tôi chỉ cần né anh chàng người Anh… có thể là con trai của Guillermo… một đứa con hoang ông không hề biết mình có cho đến gần đây, đứa con lớn lên ở Anh. Đúng rồi!

Và… tìm quả chanh nào.

“Như đã hứa, rượu tiên của các vị thần,” ông nói, đặt hai cốc nghi ngút khói lên bàn. Tôi ngồi xuống chiếc ghế xô pha đỏ cạnh bàn. “Giờ, chúng ta nói chuyện, phải không?” Ông, cùng mùi hương vượn-người của ông, ngồi xuống cùng tôi. Nhưng tôi còn không quan tâm. Tôi còn không quan tâm đến việc mặt trời sẽ cháy rụi chỉ sau vài năm, kết thúc sự sống trên Trái Đất, thực ra thì, năm tỷ năm, nhưng đoán mà xem? Tôi không quan tâm. Hạnh phúc là một cảm giác tuyệt vời.

Ông cầm hộp đường trên bàn lên và bắt đầu đổ cả tấn đường vào cốc của mình, làm vãi ra ngoài cả tấn nữa.

“Thế may mắn lắm đấy ạ,” tôi nói.

“Gì may mắn cơ?”

“Làm vãi đường. Làm vãi muối thì xui, còn đường…”

“Ta đã nghe về chuyện đó rồi.” Ông cười, rồi quệt mu bàn tay, gạt cái hộp xuống sàn làm đường đổ tung tóe. “Đó.”

Tôi cảm nhận được niềm vui thích dâng trào trong mình. “Cháu không biết cố tình có tính không.”

“Dĩ nhiên là có tính rồi,” ông nói, rút từ bao thuốc bị vò nát đặt cạnh một quyển sổ nữa trên bàn lấy một điếu thuốc ra. Ông ngả người ra sau, châm điếu thuốc, hít một hơi thật sâu. Khói thuốc cuộn tròn trong không trung giữa chúng tôi. Ông lại đang dò xét tôi. “Ta muốn cháu biết ta nghe những gì cháu nói ngoài kia rồi. Về chuyện này.” Ông đặt tay lên ngực. “Cháu thành thật với ta, vậy nên ta sẽ thành thật với cháu.” Ông đang nhìn vào mắt tôi. Thật chóng mặt. “Hôm nọ khi cháu tới, tâm thế ta không được tốt cho lắm. Đôi khi tâm thế ta không được tốt cho lắm… Ta biết ta đã đuổi cháu đi. Ta không biết ta còn nói điều gì với cháu nữa. Ta không nhớ rõ… tuần lễ đó lắm.” Ông khua khua điếu thuốc trong không trung. “Nhưng ta nói cháu nghe, ta quyết định không dạy học nữa cũng có lý do của nó. Ta không có điều cháu muốn. Chỉ đơn giản là ta không có.” Ông rít một hơi thuốc thật sâu, thở ra luồng khói xám thật dài, rồi ra hiệu về phía những người khổng lồ. “Ta giống họ. Mỗi ngày ta lại tự nhủ chuyện đó sẽ xảy ra, cuối cùng ta sẽ trở thành bức tượng đá ta tạc.”

“Cháu cũng thế,” tôi buột miệng. “Cháu cũng làm bằng đá. Hôm nọ cháu cũng nghĩ hệt như thế. Cháu nghĩ cả gia đình cháu đều làm bằng đá. Có một căn bệnh gọi là FOP…”

“Không, không, không, cháu không làm bằng đá,” ông cắt ngang. “Cháu không mắc bệnh FOP. Hay bất cứ căn bệnh nào.” Ông dịu dàng chạm những ngón tay chai sạn lên má tôi, giữ chúng ở đó. “Tin ta đi,” ông nói. “Nếu có ai biết thì chính là ta đây.”

Đôi mắt ông đã trở nên hiền hòa. Tôi đắm chìm trong đôi mắt ấy.

Trong tôi, mọi thứ đột nhiên thật yên lặng.

Tôi gật đầu và ông mỉm cười, hạ tay xuống. Tôi đưa tay lên má mình nơi ông vừa chạm vào, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Tại sao tôi muốn tay ông đặt lại lên má mình nhiều đến thế. Tất cả những gì tôi muốn là ông đặt tay lên má tôi như vậy và nói đi nói lại với tôi rằng tôi ổn cho tới khi tôi thực sự ổn.

Ông dập điếu thuốc. “Tuy nhiên, ta lại là một chuyện khác. Ta không dạy dỗ gì hàng năm nay rồi. Ta sẽ không dạy. Có lẽ là không bao giờ. Nên…”

Ôi. Tôi tự vòng tay ôm lấy mình. Tôi đã sai lầm trầm trọng. Tôi tưởng khi ông mời tôi vào uống cà phê là ông đang đồng ý. Tôi tưởng ông sẽ giúp tôi. Cảm giác như phổi tôi đang siết lại.

“Giờ ta chỉ muốn tạc tượng thôi.” Một cái bóng bắt đầu che khuất khuôn mặt ông. “Đó là tất cả những gì ta có. Đó là tất cả những gì ta có thể làm để…” Ông không nói hết câu, chỉ chăm chú nhìn về phía những người khổng lồ. “Chúng là những thứ duy nhất ta muốn nghĩ về và quan tâm, hiểu chứ? Vậy thôi.” Giọng ông trở nên nghiêm nghị, nặng nề.

Tôi cúi xuống nhìn chằm chằm hai tay mình, nỗi thất vọng đào xới trong tôi, nỗi thất vọng tăm tối, dày đặc và tuyệt vọng.

“Nên là,” ông tiếp tục. “Ta nghĩ thế này, ta cho là cháu đang học ở CSA vì cháu vừa nhắc đến Sandy, phải không?” Tôi gật đầu. “Có một thầy ở đó, không phải sao? Ivan gì đó, ông ấy thuộc khoa tạc tượng, chắc chắn ông ấy có thể giúp cháu hoàn thành tác phẩm này chứ nhỉ?”

“Thầy ấy đi Ý rồi ạ,” tôi nói, giọng lạc đi. Ôi không. Sao lại thế này cơ chứ? Đúng lúc này cơ chứ? Ôi, không phải bây giờ, xin đấy. Nhưng đúng là lúc này đây. Lần đầu tiên trong hai năm, nước mắt đang lăn dài trên hai má tôi. Tôi quệt đi thật nhanh, quệt đi quệt lại. “Cháu hiểu rồi ạ,” tôi đứng dậy, nói. “Thật đấy ạ. Không sao. Chỉ là một ý tưởng ngu ngốc thôi ạ. Cảm ơn bác vì cốc cà phê.” Tôi phải đi khỏi đây. Tôi phải nín ngay lại. Tiếng nức nở đang tích tụ lại trong tôi ngày một lớn, ngày một mạnh mẽ, nó sẽ bẻ gãy hết bộ xương chim của tôi mất. TậnthếJude đây rồi. Tôi vòng hai tay ôm chặt lấy sườn trong khi buộc đôi chân run rẩy của mình bước ngang khu xưởng sáng sủa ngập tràn nắng, qua phòng thư tín, dọc hành lang tối tăm mốc meo, sự tương phản làm mờ mịt đôi mắt, thì bỗng giọng nam trung của ông khiến tôi dừng lại.

“Cháu nhất quyết phải tạo ra bức tượng này đến mức phải khóc lóc thế sao?”

Tôi quay lại. Ông đang tựa lưng vào tường, cạnh bức vẽ nụ hôn, hai tay khoanh lại.

“Vâng ạ,” tôi hổn hển nói, rồi bình tĩnh hơn bảo, “Vâng ạ.” Ông đang đổi ý sao? Tiếng nức nở bắt đầu lui đi.

Ông đang vuốt cằm. Biểu cảm của ông trở nên mềm yếu. “Cháu nhất quyết phải tạo ra bức tượng này đến mức cháu sẵn sàng mạo hiểm cuộc đời trẻ trung của mình sống cùng một con mèo mang bệnh à?”

“Vâng. Chắc chắn, vâng ạ. Xin bác.”

“Cháu chắc chắn muốn từ bỏ hơi ấm đượm ẩm của đất sét để đổi lấy sự vĩnh hằng lạnh lùng, hà khắc của đá tảng chứ.”

“Cháu chắc chắn.” Bất kể thế có nghĩa là gì.

“Chiều mai quay lại đây. Mang hồ sơ năng lực và một quyển sổ ký họa. Và bảo em trai cháu trả lại mặt trời, cây cối, những vì sao, tất cả các thứ cho cháu đi. Ta nghĩ cháu sẽ cần đến.”

“Bác đang nói đồng ý phải không ạ?”

“Đúng. Ta không hiểu tại sao nhưng đúng thế.”

Tôi chuẩn bị nhảy cẫng tới và ôm lấy ông.

“Ôi không.” Ông lắc lắc ngón tay với tôi. “Đừng có vui như thế. Ta nói trước cho mà nghe. Tất cả học viên của ta đều khinh miệt ta.”

Tôi đóng cạch cửa trước nhà Guillermo lại, dựa lưng lên cửa, không chắc chuyện gì vừa xảy ra với mình trong đó. Tôi cảm thấy mất phương hướng như vừa xem một bộ phim, hay vừa tỉnh dậy từ một giấc mơ. Tôi cảm tạ rồi lại cảm tạ nàng thiên thần đá xinh đẹp trong kia vì đã biến điều ước của tôi thành sự thật. Vấn đề là hồ sơ năng lực của tôi toàn bát vỡ với cục vấu. Vấn đề nữa là ông bảo mang theo một quyển sổ ký họa mà tôi lại không thể phác họa. Năm ngoái tôi bị điểm C môn vẽ hình thể. Vẽ vời là sở trường của Noah.

Chẳng quan trọng. Ông đã đồng ý.

Tôi nhìn quanh, ngắm nghía con phố Day rộng lớn và rậm rạp cây cối hai bên vệ đường, kết hợp với những ngôi nhà ọp ẹp xây theo lối kiến trúc Victoria nơi sinh viên đại học sinh sống, những nhà kho cùng một vài cửa hàng và ngôi nhà thờ ấy. Tôi đang để ánh nắng đầu tiên của mùa đông này ngấm vào xương tủy thì nghe tiếng xe mô tô rít lên. Tôi quan sát tay lái xe vui tươi phấn khích ấy, kẻ nghĩ mình đang thi đấu giải Indy 500, cua một khúc gập mạo hiểm đến mài cả sườn xe xuống đường. Chúa ơi, không có ý xúc phạm đâu, nhưng đúng là thằng đần độn hấp tấp.

Nghệ sĩ trình diễn mô tô mạo hiểm Evel Knievel lại rít xe lên lần nữa, nhưng lần này là để phanh lại, không quá nơi tôi đứng năm mét, và cởi mũ bảo hiểm ra.

Ồ.

Dĩ nhiên rồi.

Lại còn đeo kính râm nữa. Ai đó gọi đội cấp cứu di động đi.

“Ồ, chào đằng ấy,” anh ta nói, “Thiên thần sa ngã đã trở lại.”

Anh ta không nói, anh ta hát du dương, từng từ cất cánh bay lượn như chim khắp không trung. Mà tại sao giọng người Anh nghe thông minh hơn tất cả chúng tôi vậy? Như kiểu họ đáng được trao giải Nobel vì một hai câu chào hỏi đơn giản thôi ý?

Tôi kéo khóa áo nỉ lên tận cổ.

Nhưng có vẻ không bật tấm chắn con trai lên được.

Vẫn là một tên đần độn hấp tấp thôi, nhưng quỷ tha ma bắt, trông anh ta ngồi trên cái xe mô tô đó giữa một ngày mùa đông đầy nắng như hôm nay thật quá bảnh. Những anh chàng như anh ta đáng ra không được phép đi mô tô. Những anh chàng như anh ta đáng ra chỉ được nhảy quanh trên bật lò xo mà thôi, hoặc tốt hơn hết: trên bóng nảy Hippity Hop. Và không một anh chàng nóng bỏng nào được phép nói giọng Anh quốc lái xe mô tô.

Chưa kể lại còn mặc áo khoác da và trưng cặp kính râm ngầu hết sảy. Mấy anh chàng nóng bỏng đáng ra phải bị bắt mặc áo ngủ liền quần.

Đúng rồi, đúng rồi, tẩy chay con trai, tẩy chay con trai.

Nhưng mà, lần này tôi muốn nói gì đó để anh ta không nghĩ rằng tôi bị câm.

“Ồ, chào đằng ấy,” tôi cất lời, nhại lại y hệt anh ta, từ chất giọng Anh đến từng lời từng chữ! Ôi không. Tôi thấy mặt mình nóng bừng lên. Bỏ ngay cái giọng Anh đi, tôi nhanh nhảu thêm vào, “Khúc cua ban nãy được đấy.”

“À, phải rồi,” anh ta cụt hứng nói. “Tôi có vấn đề với việc kiềm chế cơn bốc đồng. Ít nhất thì tôi hay bị bảo vậy.”

Tuyệt. Cả vận rủi cao một mét tám mươi và vấn đề kiềm chế cơn bốc đồng. Tôi khoanh hai tay lại giống Guillermo. “Chắc thùy não trước của anh bị kém phát triển. Khả năng tự chủ là từ đấy mà ra.”

Anh ta bật cười. Gương mặt anh ta lệch đi khắp mọi hướng cùng một lúc. “Ồ, cảm ơn em về quan điểm y học. Rất trân trọng.”

Tôi thích thú vì đã khiến anh ta bật cười. Một nụ cười tuyệt vời, thoải mái và thân thiện, thậm chí đáng yêu, không phải tôi để ý đâu nhé. Thật tình mà nói, tôi tin rằng chính tôi cũng gặp phải vấn đề về kiềm chế cơn bốc đồng, ừ thì, từng gặp phải. Giờ tôi hoàn toàn có thể kiểm soát mọi thứ. “Thế anh không thể kiểm soát được cơn bốc đồng kiểu gì?”

“Tôi e là không phải một loại bốc đồng thôi đâu,” anh ta nói. “Đó mới là vấn đề.”

Đó mới chính là vấn đề. Anh ta như được thiết kế để tra tấn người khác. Tôi cá rằng anh ta ít nhất cũng phải mười tám tuổi, rằng anh ta đứng dựa lưng vào tường một mình trong các buổi tiệc tùng, nốc hàng chén rượu mạnh trong khi cả đám gái chân dài mặc váy ngắn cũn cỡn màu đỏ như xe chữa cháy vơ vẩn xung quanh. Công nhận là dạo gần đây tôi không tiệc tùng nhiều cho lắm, nhưng tôi đã xem bao nhiêu phim rồi và anh ta chính là chàng trai đó: chàng trai phá luật, cô độc với trái tim mãnh liệt, kẻ ngang tàng đập phá, rong ruổi khắp các thị trấn, khắp những cô nàng, khắp cuộc đời bi kịch bị hiểu lầm của chính mình. Một gã trai hư thực sự, không như lũ giả tạo ở trường nghệ thuật của tôi, cái lũ với mấy hình xăm, lỗ khuyên, quỹ ủy thác rồi thuốc lá Pháp.

Tôi cá anh ta vừa ra tù.

Tôi quyết định theo đuổi “tình trạng” của anh ta theo diện nghiên cứu y học, không phải vì tôi hứng thú hay tán tỉnh anh ta hoặc gì đó giống thế. Tôi nói, “Nghĩa là nếu anh ở cùng một phòng với Cái Nút, anh biết đấy, nút kích hoạt bom nguyên tử tận thế, chỉ có anh và nó, người đàn ông và cái nút, anh sẽ bấm nó chứ? Kiểu như thế đấy.”

Anh ta lại bật cười cái điệu cười tuyệt vời, thoải mái ấy. “Bùm,” anh ta nói, minh họa vụ nổ bằng hai tay.

Bùm là đúng rồi.

Tôi quan sát anh ta khóa mũ bảo hiểm vào sau xe, rồi tháo túi máy ảnh ra khỏi tay lái. Cái máy ảnh. Ngay lập tức, tôi như có phản xạ có điều kiện với nó, nhớ lại cảm giác khi đang ngồi trong nhà thờ và anh ta nhìn tôi qua ống kính. Tôi nhìn chằm chằm xuống đất, ước sao làn da nhợt nhạt của mình không đỏ bừng lên dễ dàng đến thế.

“Vậy em có việc gì với Ngôi Sao Nhạc Rock thế?” anh ta hỏi. “Để tôi đoán nhé. Em muốn ông ấy làm cố vấn cho em, giống như bao nữ sinh nghệ thuật khác ở Học viện.”

Được rồi, hơi bị cạnh khóe đấy nhé. Mà anh ta nghĩ tôi là nữ sinh Học viện trong thành phố à? Rằng tôi là sinh viên đại học?

“Ông ấy đồng ý hướng dẫn tôi rồi nhé,” tôi đắc ý đáp, không đề cao câu nói bóng gió ban nãy cho lắm. Không một học viên nghệ thuật nào, cả nữ lẫn nam, cần ông giúp đỡ để làm hòa với người mẹ đã chết của họ như tôi. Đây là một tình huống hết sức đặc biệt.

“Vậy à?” Anh ta có vẻ hết sức hài lòng. “Giỏi lắm.” Anh ta lại đổ dồn ánh mắt nhìn tôi, khiến tôi cảm thấy chóng mặt hệt như lúc trong nhà thờ. “Tôi thật không thể tin nổi. Em giỏi lắm. Ông ấy không nhận học viên từ lâu lẩu lầu lâu, lâu lắm rồi.” Điều này khiến tôi hồi hộp. Và anh ta cũng vậy. Bùm, chéo, uỳnh. Đến lúc phải đi rồi. Mà đi thì phải di chuyển cái chân. Nhúc nhích cái chân đi, Jude.

“Gặp may thôi,” tôi nói, cố không vấp phải chính chân mình khi tôi đi ngang qua anh ta, hai tay thọc sâu trong túi áo nỉ, một tay nắm củ hành tây, tay kia nắm lấy túi thảo mộc hứa hẹn sẽ bảo vệ tôi. Tôi nói, “Anh nên đổi cái đó lấy một quả Hippity Hop. An toàn hơn nhiều.” Cho nữ giới, nhưng tôi không thêm điều đó vào.

“Hippity Hop là cái gì?” anh ta nói với cái lưng đang lui đi của tôi. Tôi không nhận ra cái cách mà từ Hippity Hop tuôn ra khỏi miệng anh ta bằng chất giọng ấy dễ thương khủng khiếp đến nhường nào.

Tôi đáp mà không quay đầu lại, “Một con thú cao su lớn, tròn tròn mà anh ngồi lên để nẩy quanh. Anh bám vào tai nó.”

“À, dĩ nhiên rồi, ra là bóng Space Hopper.” Anh ta bật cười. “Bên Anh bọn tôi gọi là Space Hopper. Tôi có một quả màu xanh,” anh ta hét với lên sau tôi. “Hình con khủng long, tôi đặt tên là Godzilla. Tôi từng suy nghĩ rất sáng tạo.” Quả bóng của tôi có hình con ngựa tím và tôi đặt tên nó là Pony. Tôi cũng từng suy nghĩ rất sáng tạo. “Ờ, rất vui được gặp lại em, bất kể em là ai. Mấy bức ảnh chụp em đẹp tuyệt vời. Tôi có ghé vào nhà thờ tìm em vài lần. Tôi nghĩ em có thể sẽ muốn thấy chúng.”

Anh ta đã đi tìm tôi à?

Tôi không quay đầu lại; hai má tôi đang cháy bừng. Vài lần sao? Bình tĩnh. Giữ bình tĩnh nào. Tôi hít vào một hơi và trong khi lưng vẫn quay về phía anh ta, tôi giơ tay lên và vẫy tạm biệt hệt như anh ta đã làm hôm ở nhà thờ. Anh ta lại bật cười. Ôi Clark Gable ơi. Rồi tôi nghe tiếng anh ta bảo. “Này, đợi đã.”

Tôi định lờ đi, nhưng không thể chống lại cơn bốc đồng (thấy chưa?) nên đành quay lại.

“Vừa nhận ra là tôi có dư một quả,” anh ta nói, lôi một quả cam ra từ túi áo khoác da. Anh ta ném quả cam cho tôi.

Anh ta hẳn là đang đùa. Chuyện này đang thực sự xảy ra đấy à? Quả cam! Quả cam theo nghĩa đối nghịch với quả chanh ý:

Nếu một chàng trai tặng cô gái một quả cam,

tình yêu của cô gái ấy dành cho chàng trai sẽ nhân lên gấp bội

Tôi đỡ lấy quả cam bằng lòng bàn tay.

“Ôi không, đừng làm thế,” tôi nói, ném nó trả lại anh ta.

“Đáp lại kỳ cục quá nhỉ,” anh ta nói, tay đỡ quả cam. “Hiển nhiên là kỳ cục. Chắc tôi sẽ thử lại. Em có muốn ăn cam không? Tôi có dư một quả này.”

“Thực ra thì tôi muốn cho anh quả cam ý.”

Một bên lông mày anh ta nhướng lên. “À, ừ, cũng được thôi, em rất tốt bụng, nhưng quả cam có phải của em đâu mà cho.” Anh ta giơ nó lên, mỉm cười. “Đây là quả cam của tôi.”

Có khả năng tôi đã tìm ra hai con người duy nhất ở cái Vịnh Mất Tích này thấy tôi giống thú tiêu khiển hơn là nỗi quấy rầy chăng?

“Hay thế này nhé,” tôi nói. “Anh cho tôi quả cam rồi tôi cho lại anh. Nghe ổn không?”

Và phải, tôi đang tán tỉnh, nhưng đây là điều cần làm. Và ôi chao, giống như đạp xe vậy.

“Thôi được rồi.” Anh ta lại gần tôi, gần, gần đến mức tôi có thể với tay lên và lần ngón tay theo hai vết sẹo của anh ta nếu tôi muốn. Hai vết sẹo trông như hai đường khâu vội. Và tôi thấy bên mắt nâu của anh ta có một mảng màu xanh lá và bên mắt xanh lá có một mảng màu nâu. Như thể Cézanne đã vẽ chúng vậy. Đôi mắt theo trường phái ấn tượng. Và lông mi anh ta đen sậm như phủ bồ hóng, tuyệt tác. Anh ta đứng gần đến mức tôi có thể luồn ngón tay vào mái tóc nâu bóng, rối bù của anh ta, vuốt xuống dọc theo những nếp nhăn mờ mờ loằng ngoằng trải ra hai bên thái dương anh ta, dọc cái bóng tăm tối sầu muộn bên dưới. Dọc đôi môi đỏ mượt như xa tanh. Tôi không nghĩ đôi môi của những anh chàng khác có thể đỏ thế này. Và tôi biết gương mặt họ không đầy màu sắc, sống động, từng trải, không theo một trật tự nào và đầy ắp những tiếng nhạc âu sầu, không thể dự đoán trước như thế này.

KHÔNG PHẢI LÀ TÔI ĐỂ Ý ĐÂU NHÉ.

Cũng không phải là anh ta đang ngắm nghía gương mặt tôi đầy mãnh liệt như tôi ngắm nghía gương mặt anh ta. Chúng tôi là hai bức tranh chăm chú nhìn nhau từ hai góc phòng. Một bức tranh mà tôi chắc chắn rằng trước kia tôi đã từng trông thấy. Nhưng ở đâu và khi nào? Nếu đã từng gặp anh chàng này thì tôi đã nhớ rồi. Có lẽ anh ta trông giống một nam diễn viên tôi từng thấy trong phim? Hay một nhạc sĩ? Anh ta chắc chắn có mái tóc gợi cảm của nhạc sĩ. Mái tóc của nghệ sĩ chơi guitar bass.

Nói cho đúng ra nhé, hít thở được đánh giá quá cao. Não bộ có thể hoạt động trong sáu phút mà không cần đến ôxy. Tôi đang ở phút thứ ba không có ôxy lên não thì anh ta nói, “Vậy thì. Vấn đề cần xử lý bây giờ.” Anh ta giơ quả cam lên. “Em có muốn một quả cam không, bất kể em là ai?”

“Vâng, cảm ơn anh,” tôi đáp, nhận lấy nó, rồi nói, “Và giờ tôi muốn cho anh một quả cam, bất kể anh là ai.”

“Không, cảm ơn em,” anh ta nói, nhét tay vào túi. “Tôi còn quả nữa.” Cả địa ngục thánh thần đều vỡ tan trên gương mặt ấy khi anh ta nở một nụ cười và nhoáng một cái, anh ta đã đi dọc con đường, lên bậc thang và vào khu xưởng.

Không nhanh thế đâu, anh bạn.

Tôi tới chỗ xe mô tô của anh ta, nhét quả cam vào mũ bảo hiểm.

Rồi tôi kìm nén tự chủ hết mức để không gân cổ lên hát - anh ta ghé vào nhà thờ để tìm tôi! Vài lần liền! Chắc để giải thích cho tôi nghe anh ta có ý gì khi hôm đó nói, “Em chính là cô ấy.” Tôi về nhà, hối hận vì mình đã bối rối đến mức không nghĩ đến chuyện hỏi xem mối quan hệ của anh ta với Ngôi Sao Nhạc Rock là thế nào. Hay tên anh ta là gì. Hay anh ta bao nhiêu tuổi. Hay nhiếp ảnh gia yêu thích của anh ta là ai. Hay…

Tỉnh.

Lại.

Đi.

Tôi đứng khựng lại. Nhớ ra. Vụ tẩy chay con trai không phải là trò đùa vui. Đó là chuyện phải làm. Tôi không được quên điều đó. Tôi không thể. Đặc biệt là hôm nay, ngày giỗ mẹ.

Hay bất cứ ngày nào khác.

Nếu vận rủi biết bạn là ai, hãy trở thành một người khác

Điều tôi cần phải làm là tạc nên bức tượng này và cố làm hòa với mẹ.

Điều tôi cần làm là ao ước bằng đôi tay của mình.

Điều tôi phải làm là ăn bằng hết đến quả chanh cuối cùng ở Vịnh Mất Tích trong sáng hôm nay.

Giờ là buổi chiều hôm sau và tôi đang hớt hải chạy dọc dãy hành lang bụi bẩn mốc meo trong xưởng của Guillermo Garcia vì không ai tới mở khi tôi gõ cửa. Tôi vã mồ hôi nhễ nhại, hồi hộp và xem xét lại mười sáu năm vừa qua. Kẹp dưới nách tôi là hồ sơ năng lực toàn bát vỡ với cục vấu ở CSA. Lý do duy nhất tôi thậm chí có một quyển hồ sơ năng lực là vì chúng tôi được yêu cầu phải chụp ảnh chuỗi phát triển các tác phẩm chúng tôi tạo ra. Chuỗi phát triển của tôi dở hơi kinh khủng, chắc chắn không quảng bá chút năng lực nào của tôi - giống quyển kê khai ở cửa hàng gốm sứ sau động đất hơn.

Ngay trước khi tôi bước vào phòng thư tín, tôi nghe thấy chất giọng Anh và cả bộ gõ như sống dậy trong lồng ngực tôi. Tôi dựa lưng vào tường, cố buộc tiếng gõ đập nín lại. Tôi đã mong anh ta sẽ không có ở đây. Và mong anh ta sẽ ở đây. Và mong mình sẽ không mong anh ta ở đây nữa. Dù vậy, tôi đã chuẩn bị đâu vào đấy rồi.

Mang theo một mẩu nến đã đốt sẽ dập tắt xúc cảm yêu đương

nếu cảm xúc ấy bừng dậy

(Túi trái phía trước.)

Nhúng một cái gương vào giấm để làm chệch hướng

sự chú ý không mong muốn

(Túi sau.)

Để đảo chiều khuynh hướng của trái tim,

đội một tổ ong bắp cày trên đầu

(Không tuyệt vọng đến mức này. Chưa thôi.)

Than ôi, có lẽ tôi không sẵn sàng đón nhận điều này: âm thanh làm tình. Không thể lầm lẫn vào đâu được. Tiếng rên rỉ, rền rĩ và tiếng thì thầm tục tĩu. Có phải tại thế mà không ai ra mở cửa không? Tôi nghe một chất giọng Anh: “Chúa ơi, tuyệt quá. Chúa ơi, tuyệt quáááááá đi mất. Tuyệt hơn bất cứ loại thuốc nào. Tuyệt hơn bất cứ thứ gì.” Theo sau là một tràng rên rỉ.

Rồi một tiếng rền rĩ trầm hơn, chắc là tiếng của Guillermo. Bởi vì họ là tình nhân! Dĩ nhiên rồi. Sao tôi ngu thế không biết? Anh chàng người Anh là bạn trai của Guillermo, không phải người con trai thất lạc lâu năm. Nhưng anh ta không có vẻ gì là người đồng tính lúc chụp ảnh tôi trong nhà thờ và khi nói chuyện với tôi ngoài cửa xưởng hôm qua. Hết sức ân cần. Có phải tôi đã hiểu lầm anh ta? Hay có lẽ anh ta là người song tính? Còn những tác phẩm nghệ thuật đầy dị tính luyến ái của Guillermo thì sao?

Và không phải là phán xét đâu, nhưng sao lại phi công trẻ lái máy bay ông già thế? Chắc tuổi của hai người họ phải cách nhau đến cả một phần tư thế kỷ ấy chứ.

Tôi có nên đi không nhỉ? Có vẻ họ đã xong xuôi và giờ chỉ đang đùa bỡn qua lại. Tôi chăm chú dỏng tai nghe. Anh chàng người Anh đang cố thuyết phục Guillermo chốc nữa cùng đến một nhà tắm hơi nào đó với anh ta. Đúng là đồng tính rồi. Tốt. Thực ra thì đây là tin tốt. Duy trì vụ tẩy chay sẽ ngon ơ đâu vào đấy, cam quýt hay là không cam quýt cũng thế cả thôi.

Tôi tạo ra cả đống tiếng động, giậm thình thình chân xuống đất, hắng giọng vài lần, giậm chân một vài cú nữa, rồi ló mặt ra ở góc hành lang.

Trước mặt tôi là Guillermo vẫn mặc nguyên quần áo và anh chàng người Anh cũng mặc nguyên quần áo ngồi hai bên bàn cờ. Chẳng có chút manh mối nào ám chỉ họ vừa vật lộn quay cuồng trong say đắm cả. Cả hai đều có một mẩu bánh rán đã cắn dở một nửa trên tay.

“Thấy bọn tôi thông minh ghê không?” anh chàng người Anh nói với tôi. “Chưa bao giờ ngờ em lại xảo trá đến thế, bất kể em là ai.” Anh ta cho bàn tay còn rảnh rang vào cái túi quai chéo đặt bên cạnh người và lấy quả cam ra. Nhoáng một cái nó đã ở trên không, rồi trên tay tôi, và gương mặt anh ta đã vỡ tan thành năm triệu mảnh vụn ngập tràn hạnh phúc. “Bắt được đấy,” anh ta nói.

Anh ta cắn một miếng bánh rán đầy thắng thế, rồi rên rỉ đầy kịch nghệ.

Được rồi. Không đồng tính. Không phải tình nhân, có vẻ như hai người bọn họ chỉ thích bánh rán hơn mức bình thường thôi. Và giờ thì tôi phải làm gì đây? Vì bộ đồng phục tàng hình của tôi có vẻ không hiệu nghiệm với gã này. Và cả cái gương nhúng giấm cùng mẩu nến tắt rụi cũng vậy.

Tôi nhét quả cam vào với củ hành tây và kéo mũ xuống.

Guillermo nhìn tôi đầy hiếu kỳ. “Vậy là cháu đã gặp quân sư thường trú ở đây rồi à? Oscar đang cố khai sáng cho ta như mọi khi.” Oscar. Anh ta có một cái tên và đó là Oscar, không phải là tôi quan tâm đâu, dù tôi khá thích cách Guillermo gọi cái tên ấy: Oscore! Guillermo tiếp tục.

“Mọi ngày là những thứ khác. Hôm nay là yoga nóng.” À, nhà tắm hơi. “Cháu biết loại yoga này chứ?” ông hỏi tôi.

“Cháu biết đấy là cả đống vi khuẩn trong cùng một căn phòng nóng nực ẩm ướt,” tôi nói với Guillermo.

Ông ngửa đầu ra sau và cười vui vẻ. “Cô bé điên tiết với lũ vi trùng, Oscore! Cô bé nghĩ Frida Kahlo sẽ giết ta.” Tôi cảm thấy thoải mái. Ông làm tôi thấy thoải mái. Ai lại nghĩ Guillermo Garcia, Ngôi Sao Nhạc Rock Của Giới Điêu Khắc, lại khiến tôi cảm thấy dễ chịu đến thế? Có lẽ ông chính là đồng cỏ!

Vẻ ngạc nhiên thoáng hiện lên trên gương mặt Oscar khi anh ta dò xét Guillermo, rồi dò xét tôi. “Vậy hai người gặp nhau thế nào?” anh ta hỏi.

Tôi đặt hồ sơ năng lực và túi xuống cái ghế bành đang ngập trong đống thư chưa mở gần đó. “Bác ấy bắt quả tang tôi nhìn trộm trên lối thang thoát hiểm.”

Mắt Oscar mở to nhưng lại hướng sự chú ý về phía bàn cờ. Anh ta đi một nước cờ. “Và bác vẫn còn tri giác cơ à? Ấn tượng đấy.” Anh ta ném tọt mẩu bánh rán còn lại vào miệng và nhắm mắt lại, từ từ nhai. Tôi có thể thấy niềm hân hoan choán lấy anh ta. Chúa ơi. Cái bánh rán đấy chắc không phải dạng vừa đâu. Tôi giằng xé ánh mắt mình khỏi anh ta, khó thật đấy.

“Cô bé đã thuyết phục được ta,” Guillermo nói trong khi nghiên cứu nước cờ của Oscar. “Như cậu đã thuyết phục được ta, Oscore. Rất lâu rồi.” Gương mặt anh ta tối sầm lại. “Ay, cabrón*.” Ông bắt đầu lẩm bẩm bằng tiếng Tây Ban Nha trong khi thúc một quân cờ về phía trước.

“G. đã cứu rỗi cuộc đời tôi,” Oscar nói đầy tình cảm. “Và chiếu tướng, bồ tèo ạ.” Anh ta ngả ghế về phía sau, giữ thăng bằng trên hai chân ghế sau và nói, “Nghe nói họ đang dạy chơi cờ ở trại dưỡng lão đấy.”

Guillermo rên rỉ, tiếng rên rỉ đầu tiên không liên quan đến cái bánh rán, và lật bàn cờ khiến mỗi quân cờ bay tứ tung về một hướng khác nhau. “Ta sẽ giết cậu lúc cậu đang ngủ say,” ông nói, làm Oscar bật cười, rồi Guillermo cầm cái túi giấy trắng của tiệm bánh lên và giơ về phía tôi.

Tôi từ chối, quá hồi hộp nên chẳng thể ăn uống gì.

“Con đường thái quá dẫn tới lâu đài minh triết,” “Oscar bảo tôi, vẫn giữ thăng bằng trên hai chân ghế sau. “William Blake.”

Guillermo bảo anh ta, “Phải rồi, rất tốt, một trong mười hai bước của cậu đúng không, Oscore?” Tôi nhìn Oscore. Anh ta ở trong Hội Cai Rượu à? Tôi không biết là người ta có thể nghiện rượu khi vẫn còn trẻ đấy. Hoặc có lẽ anh ta ở trong Hội Cai Thuốc? Chẳng phải anh ta vừa nói gì đó về thuốc không tuyệt bằng bánh rán đấy thôi. Anh ta nghiện ma túy à? Anh ta có nói mình gặp vấn đề trong việc kiểm soát cơn bốc đồng mà.

“Phải,” Oscar cười nói. “Các bước chỉ có người trong cuộc mới biết được.”

“Bác cứu rỗi cuộc đời anh ta thế nào?” tôi hỏi Guillermo, tò mò muốn chết.

Nhưng Oscar mới là người trả lời. “Bác ấy thấy tôi gần chết vì thuốc và rượu trong công viên và bằng cách nào đó đã nhận ra tôi. Theo lời ông ấy thì: ‘Ta thốc Oscore như thốc một con hươu lên vai’ “- anh ta mau lẹ thủ vai Guillermo Garcia giống một cách hoàn hảo, bao gồm cả các cử chỉ bàn tay” - “và ta vác cậu ta qua thị trấn như Siêu Nhân rồi đặt cậu ta lên gác xép.” “Anh ta quay trở lại là mình. “Tất cả những gì tôi biết là tôi tỉnh dậy với bản mặt gớm ghiếc của G. trên mặt tôi” - anh ta cười cái điệu xấu phát hờn của mình - “và không hiểu nổi sao mặt bác ấy lại ở trên mặt mình. Đúng là điên. Ngay lập tức, bác ấy bắt đầu quát tháo ra lệnh đủ kiểu. Bảo tôi có thể ở lại nếu tôi cai hết. Ra lệnh cho tôi phải tới ‘hai buổi họp mặt một ngày, hiểu chưa, Oscore? Hội Cai Thuốc vào buổi sáng, Hội Cai Rượu vào buổi tối.’ Rồi, chắc tại tôi là người Anh, tôi không biết nữa, bác ấy trích lời Winston Churchill: ‘Nếu cậu đang đi qua địa ngục, hãy bước tiếp.’ Hiểu chưa, Oscore? Bác ấy nói với tôi hết sáng, trưa lại đến tối: ‘Nếu cậu đang đi qua địa ngục, hãy bước tiếp,’ và tôi đã làm thế. Tôi bước tiếp và giờ tôi đang học đại học chứ không chết trong cái rãnh ở đâu đó, bác ấy đã cứu rỗi cuộc đời tôi như thế đấy. Hết sức súc tích và đơn giản. Cuộc đời tôi đã từng là địa ngục.”

Và đó là lý do tại sao trên gương mặt của Oscar có đến vài kiếp sống.

Và anh ta đang học đại học.

Tôi liếc xuống nhìn giày, nghĩ về câu nói ấy của Churchill. Nhỡ tôi cũng có một thời từng trải qua địa ngục nhưng đã không đủ dũng cảm để bước tiếp thì sao? Tôi cứ thế dừng lại thôi. Ấn nút dừng. Nhỡ tôi vẫn đang dừng thì sao?

Guillermo nói, “Và để cảm tạ ta vì đã cứu mạng, từ hồi đó đến giờ ngày nào cậu ta cũng đánh cờ thắng ta.”

Tôi nhìn hai người bọn họ như hình với bóng phản chiếu qua bàn cờ và nhận ra: Họ cha con, chỉ không cùng huyết thống mà thôi. Tôi không biết rằng người cùng một nhà lại có thể tìm ra nhau, chọn nhau như họ đã làm. Tôi thích ý tưởng đó vô cùng. Và tôi muốn đổi bố cùng Noah lấy hai người bọn họ.

Guillermo lắc lắc cái túi về phía tôi. “Bài học đầu tiên cho cháu: Xưởng của ta không phải xã hội dân chủ. Ăn một cái bánh rán đi.”

Tôi đi tới nhòm vào cái túi. Mùi thơm khiến đầu gối tôi suýt thì khuỵu xuống - họ không phóng đại thật. “Ôi chao,” tôi nghe tiếng mình nói. Họ đều cười. Tôi chọn một cái. Cái bánh không phải được phủ mà là ngập trong sô cô la. Và nó vẫn còn ấm.

“Cá mười đô em không thể ăn cái bánh rán đấy mà không rên rỉ,” Oscar nói. “Hãy nhắm mắt lại.” Cái cách anh ta nhìn tôi có thể gây xuất huyết não nhẹ cũng nên. “Thật ra thì nâng lên thành hai mươi đi. Tôi nhớ cái cách em ngồi trước ống kính như thế nào rồi.” Anh ta biết tôi cảm thấy thế nào ngày hôm ấy trong nhà thờ sao?

Anh ta giơ tay ra để xác nhận vụ cá cược.

Tôi bắt tay anh ta - và khá chắc rằng tôi cảm nhận thấy một luồng điện gần đủ để gây chết người. Tôi gặp rắc rối lớn rồi.

Dù vậy, cũng chẳng có thời gian để nghĩ ngợi lâu. Guillermo và Oscar đang chăm chú tập trung hoàn toàn vào màn trình diễn trước mặt họ - tôi. Sao tôi lại gặp phải tình huống này cơ chứ? Tôi ngập ngừng nâng cái bánh rán lên miệng. Tôi cắn một miếng nhỏ và mặc cho bản thân chỉ muốn nhắm mắt lại và rên rỉ cả một bản nhạc nền của phim khiêu dâm, tôi kháng cự lại.

Ôi… có vẻ khó hơn tôi nghĩ! Miếng thứ hai lớn hơn và làm từng tế bào trên cơ thể tôi ngập tràn hạnh phúc. Đây là một trong những việc mà ta chỉ nên làm một mình, không phải khi có một Guillermo và một Oscore đang trừng mắt nhìn, cả hai người đều khoanh tay và tỏ vẻ mặt đầy trịch thượng.

Tôi sẽ phải tăng cường độ cuộc chơi lên. Ý tôi là tôi có cả một bầy những loại bệnh kinh tởm để chọn cơ mà, đúng không? Những loại bệnh để tưởng tượng chi tiết hòng ghìm tiếng rên rỉ. Các bệnh về da là kinh tởm nhất.

“Có một loại bệnh này,” tôi nói với họ, cắn thêm miếng nữa, “gọi là bệnh Tungiasis, bọn bọ chét đào bới và đẻ trứng dưới da hai người và hai người có thể thấy chúng nở và bò đi bò lại dưới da, khắp cơ thể luôn.”

Tôi nhìn vẻ mặt thất kinh của họ. Ha! Ba miếng rồi.

“Thật xuất sắc, kể cả với cái đống bọ chét đó,” Guillermo nói với Oscar.

“Cô ấy không có cơ hội đâu,” anh ta đáp.

Tôi mang khẩu đại bác hạng nặng ra.

“Có một anh ngư dân người Indonesia này nhé,” tôi kể họ nghe. “Anh ta được gọi là Người Cây vì ca nhiễm virus papiloma thể da trầm trọng đến mức người ta phải cắt bỏ gần sáu cân mụn cóc dạng sừng khỏi cơ thể anh ta.” Tôi nhìn thẳng vào mắt người này rồi đến người kia, nhắc lại, “Gần sáu cân mụn cóc cơ đấy.”

Tôi liên tưởng đến cái cách tứ chi của Người Cây đáng thương trơ ra như bốn cái thân cây đầy đầu mấu, và với hình ảnh đáng ghê rợn ấy cắm rễ trong đầu, tôi phấn khích, tự tin và ngoạm một miếng to hơn. Nhưng đó là một bước đi sai lầm. Vị sô cô la đậm đặc âm ấm choán lấy miệng tôi, xóa sạch tâm trí tôi, khiến tôi quay cuồng trong siêu nghiệm. Người Cây hay không Người Cây, tôi hoàn toàn không có khả năng tự vệ và điều tiếp theo tôi biết là mắt tôi nhắm lại và miệng tôi bùng nổ thốt lên, “Ôi lạy Chúa tôi! Trong này có cái gì thế?” Tôi cắn thêm miếng bánh nữa rồi giải phóng tiếng rên rĩ tục tĩu đến mức tôi không thể tin nổi nó thốt ra từ miệng mình.

Oscar bật cười. Guillermo cũng hài lòng không kém, nói: “Thế chứ. Chính phủ nên dùng bánh rán của Dwyer để điều khiển trí não chúng ta.”

Tôi rút một tờ hai mươi đô nhàu nát ra từ túi quần jean, nhưng Oscar giơ một tay lên. “Lần thua đầu tiên nhà cái bao.”

Guillermo kéo một cái ghế ra cho tôi - cảm giác như mình đang được chấp nhận tham gia vào một câu lạc bộ vậy - rồi giơ cái túi ra. Mỗi người lại lấy một cái bánh rán nữa, và cả ba chúng tôi lại tiếp tục ghé thăm Clark Gable.

Sau đó, Guillermo vỗ hai tay lên đùi một cái và nói, “Được rồi, CJ, giờ chúng ta vào việc thôi. Sáng nay ta có để lại một lời nhắn thoại cho Sandy. Ta bảo ta đồng ý dạy một tín chỉ thực hành cho cháu tại xưởng kỳ học mùa đông này.” Ông đứng dậy.

“Cảm ơn bác. Thế thì thật tuyệt.” Tôi cũng đứng dậy, cảm thấy bồn chồn lo sợ, thầm ước chúng tôi có thể cứ thế ngồi ăn bánh rán cả chiều. “Nhưng sao…” Tôi nhận ra tối qua tôi vẫn chưa nói tên mình cho ông.

Ông nhận ra vẻ ngạc nhiên của tôi. “A. Sandy để lại một lời nhắn trong điện thoại, một lời nhắn ú ớ - ta đá cái máy cũ kỹ đó nhiều lần quá rồi - nói có một cô CJ nào đó muốn tạo tác đá. Đó là tất cả những gì ta hiểu được. Sandy gọi từ mấy ngày trước. Đến hôm nay ta mới kiểm tra tin nhắn.”

“CJ,” Oscar gọi cái tên như thể nó là một sự khai sáng.

Tôi đang chuẩn bị nói cho họ tên thật của mình, nhưng lại quyết định thôi không nói. Có lẽ chỉ một lần thôi, tôi không phải làm đứa con gái mồ côi mẹ đáng thương của Dianna Sweetwine.

Frida Kahlo lẻn vào phòng và bước nhẹ nhàng tới chỗ Oscar, cuộn tròn lại quanh chân anh ta. Anh ta bê nó lên và nó dúi mũi vào cổ anh ta, kêu rừ rừ như cái tua bin. “Tôi biết cách cư xử với các cô gái mà,” anh ta nói với tôi, vuốt ve ngón tay trỏ dưới cằm Frida.

“Tôi chẳng để tâm,” tôi nói. “Tôi đang trong chế độ tẩy chay mà.”

Anh ta ngước đôi mắt Cézanne xanh và nâu của mình lên. Hàng mi anh ta đen sậm đến mức trông chúng có vẻ ướt át. “Chế độ tẩy chay ý hả?” anh ta hỏi.

“Chế độ tẩy chay con trai.”

“Thật á?” anh ta nhăn nhở nói. “Tôi sẽ coi đó là một thử thách vậy.”

Cứu với.

“Cư xử tử tế đi, Oscore,” Guillermo mắng. “Được rồi,” ông nói với tôi. “Giờ chúng ta cùng tìm hiểu xem cháu thực sự là người thế nào nhé. Sẵn sàng chưa?” Chân tôi bủn rủn. Tôi là kẻ lừa đảo. Và Guillermo chuẩn bị nhận ra điều đó.

Ông đặt một tay lên vai Oscar.

“Hai tiếng nữa cháu phải gặp Sophia.” Oscar nói. “Có ổn không ạ?”

Sophia? Sophia là ai?

Không phải là tôi quan tâm đâu. Tí tẹo tèo teo cũng không.

Nhưng cô ta là ai?

Và có ổn với cái gì cơ chứ?

Oscar bắt đầu cởi quần áo ra.

Tôi nhắc lại: Oscar đang cởi quần áo ra!

Tâm trí tôi quay cuồng, tay tôi nhớp nháp mồ hôi và cái áo sơ mi ngắn tay màu tím nhạt của Oscar giờ đang treo trên lưng ghế, vồng ngực anh ta vạm vỡ và tuyệt đẹp, cơ bắp anh ta dài, căng và rõ nét, làn da anh ta mịn màng và rám nắng, không phải là tôi để ý đâu! Có một hình xăm Nhân Mã trên bắp chuột tay trái và một hình có vẻ như là ngựa xanh của Franz Marc xoắn từ vai phải anh ta lên tận cổ.

Giờ anh ta đang cởi khuy quần jean.

“Anh đang làm cái gì thế?” tôi hoảng sợ hỏi. Tưởng tượng ra đồng cỏ. Tưởng tượng ra cái đồng cỏ yên bình quỷ tha ma bắt đấy đi!

“Chuẩn bị thôi,” anh ta nói như điều hiển nhiên.

“Chuẩn bị cái gì?” tôi hỏi cái mông trần của anh ta trong khi anh ta sải bước ngang phòng theo cái kiểu mùa hè chậm rãi của mình và với lấy cái áo khoác màu xanh dương từ trên móc treo cạnh mấy cái áo choàng tạo tác. Anh ta vung cái áo quanh vai và đi dọc hành lang vào xưởng.

Ô, phải rồi. Hiểu rồi.

Guillermo cố nói cười nhưng thất bại. Ông nhún vai. “Mấy người mẫu ý, họ là những kẻ thích phô trương,” ông nói nhẹ như không. Tôi gật đầu, mặt đỏ bừng. “Chúng ta phải chịu đựng bọn họ thôi. Oscore rất tốt. Rất duyên dáng. Nhiều biểu cảm.” Ông đưa hai tay lên đóng khung mặt mình. “Chúng ta sẽ cùng vẽ với nhau, nhưng trước tiên, để ta xem hồ sơ năng lực của cháu xem nào.”

Khi Guillermo bảo tôi mang theo sổ ký họa, tôi tưởng ông muốn tôi nghiên cứu bức tượng tôi muốn tạc, không phải để vẽ cùng ông. Và trước mặt Oscar nữa chứ. Vẽ Oscore!

“Vẽ là tối quan trọng,” Guillermo nói. “Nhiều nhà điêu khắc không hề biết điều này.”

Tuyệt vời. Tôi theo chân ông dọc hành lang, tay cầm hồ sơ năng lực, bụng dạ hỗn độn.

Tôi thấy áo khoác da của Oscar treo trên móc - tuyệt. Tôi nhét quả cam vào túi áo mà không để Guillermo phát hiện ra.

Guillermo mở một cánh cửa bên hành lang, bật công tắc đèn. Đó là một căn phòng trông như gian xà lim với một cái bàn và một hai cái ghế. Ở một góc phòng có hàng túi đất sét chồng chất trên giá. Góc bên kia, cả đống đá đủ mọi màu sắc và kích cỡ. Có một cái giá đầy những dụng cụ, chỉ một vài thứ là quen thuộc với tôi. Ông lấy tập hồ sơ năng lực từ tay tôi, kéo khóa và mở nó ra trên bàn.

Chỉ cần nghĩ đến chuyện đôi mắt ông đang ngắm nghía các tác phẩm của tôi cũng đủ khiến ngón chân tôi rúm ró hết lại.

Đầu tiên ông lật giở rất nhanh. Những bức ảnh chụp mấy cái bát đủ mọi kích cỡ ở đủ mọi giai đoạn phát triển, rồi đến bức ảnh cuối cùng chụp tác phẩm bị vỡ nát và được chắp vá vào với nhau. Cứ mỗi trang giấy lật qua, trán ông càng lúc càng nhăn lại đầy bối rối. Rồi ông giở tới những cục vấu. Cũng giống hệt như vậy. Trong bức ảnh cuối cùng, từng cục vấu đều lành lặn rồi vỡ nát và được chắp vá vào với nhau.

“Tại sao?” ông hỏi.

Tôi quyết định nói sự thật.

“Tại mẹ cháu. Mẹ đập mọi thứ cháu làm.”

Ông khiếp sợ. “Mẹ cháu đập tác phẩm của cháu hả?”

“À không,” tôi nói, hiểu ông đang nghĩ gì. “Mẹ cháu không độc ác hay điên rồ hay gì gì đó đâu. Mẹ cháu mất rồi.”

Tôi thấy cơn rung chấn trong biểu cảm của ông, nỗi lo lắng cho sự an toàn của tôi dần chuyển thành nỗi lo lắng cho sự tỉnh táo của tôi. Ôi, sao cũng được. Cũng chẳng còn cách giải thích nào khác.

“Được rồi,” ông nói, cố thích nghi. “Tại sao người mẹ đã mất của cháu lại làm thế này?”

“Mẹ giận cháu.”

“Mẹ giận cháu,” ông nhắc lại. “Cháu nghĩ thế à?”

“Cháu biết vậy,” tôi nói.

“Mọi thành viên trong gia đình cháu đều rất quyền năng. Hai chị em cháu chia thế giới với nhau. Mẹ cháu sống lại để đập bát của cháu.”

Tôi nhún vai.

“Vậy bức tượng mà cháu phải làm là dành cho mẹ cháu phải không?” ông hỏi. “Mẹ là người cháu đã nhắc đến hôm qua phải không? Cháu nghĩ nếu cháu tạc nên bức tượng này, mẹ sẽ không giận cháu nữa và sẽ ngừng đập bát của cháu à? Đây là lý do cháu khóc khi cháu nghĩ ta sẽ không giúp cháu sao?”

“Vâng,” tôi nói.

Ông vuốt một chòm râu tưởng tượng, dò xét tôi hồi lâu, rồi hướng sự chú ý trở lại Cục Vấu – “Tôi rạn nứt số 6.” Được rồi. Nhưng đó không phải là vấn đề ở đây. Mẹ cháu không phải là vấn đề. Phần tuyệt nhất, hay ho nhất của tác phẩm này là sự nứt vỡ.” Ông chỉ ngón tay trỏ vào bức ảnh cuối cùng. “Vấn đề ở đây là cháu không có trong này. Một cô bé nào đó khác đã làm ra tất cả những tác phẩm này thì phải, ta không biết nữa.” Ông xem một vài cục vấu nữa. “Phải không?” ông nói. Tôi ngước lên nhìn ông. Tôi không nhận ra rằng ông đang đợi tôi đáp lại.

Tôi không biết phải nói gì.

Tôi kháng cự phản xạ muốn lùi lại để không bị bàn tay ông phang nát người. “Ta không thấy cô bé đã trèo lên lối thang thoát hiểm nhà ta, cô bé nghĩ làm dây đường ra ngoài sẽ thay đổi cuộc đời mình, cô bé tin rằng mình đang gặp nguy hiểm chết người vì một con mèo, cô bé khóc vì không được ta giúp đỡ. Ta không thấy cô bé đã nói rằng cô bé cũng buồn như ta, rằng người mẹ quá cố đã đập vỡ hết bát của cô bé. Cô bé ấy đâu rồi?” Cô bé ấy sao? Đôi mắt ông đang rọi thẳng vào mắt tôi. Ông trông chờ một câu trả lời sao? “Cô bé ấy không làm ra những tác phẩm này. Cô bé ấy không hiện diện trong những tác phẩm này, vậy tại sao cháu cứ làm phí thời giờ của mình và của người khác thế nhỉ?” Ông cứ thế nói toạc móng heo.

Tôi hít một hơi thật sâu. “Cháu không biết.”

“Cái đó là hiển nhiên rồi.” Ông gập tập hồ sơ năng lực lại. “Cháu sẽ đặt cô bé ấy vào bức tượng cháu tạc với ta, hiểu chưa?”

“Cháu hiểu rồi,” tôi nói, chỉ có điều tôi không hiểu phải làm chuyện đó thế nào. Tôi đã làm thế bao giờ chưa nhỉ? Ở CSA thì chắc chắn là chưa. Tôi nghĩ về những bức phù điêu trên cát của mình, về cái cách tôi đã phải cố sức nhường nào để làm chúng giống như tôi hình dung trong đầu. Chưa bao giờ làm được điều đó. Nhưng có thể. Có thể đó là lý do tại sao tôi lại sợ mẹ sẽ không thích chúng đến thế.

Ông mỉm cười với tôi. “Tốt. Vậy thì chúng ta sẽ giải trí một lát. Ta là người Colombia. Ta không thể kháng cự lại một câu chuyện ma hay ho.”

Ông vỗ vỗ tay lên tập hồ sơ. “Ta không chắc là cháu đã sẵn sàng tạo tác đá. Đất sét rất nhân từ - nó có thể làm mọi thứ, mặc dù cháu chưa biết điều này. Đá có thể rất bủn xỉn và hẹp hòi, như một người tình đơn phương vậy.”

“Nếu tạc đá thì mẹ cháu sẽ khó đập nó hơn.”

Lòng cảm thông thoáng hiện trên khuôn mặt ông. “Mẹ cháu sẽ không đập tác phẩm này bất kể nó được làm bằng gì. Cháu sẽ phải tin ta thôi. Đầu tiên, cháu sẽ học điêu khắc bằng đá luyện tạc. Rồi sau đó chúng ta sẽ cùng nhau chọn ra chất liệu phù họp nhất cho bức điêu khắc này sau khi ta xem nghiên cứu của cháu. Vậy bức tượng có phải hình mẹ cháu không?”

“Vâng. Thường thì cháu không theo khuynh hướng hiện thực, nhưng…” Rồi, trước cả khi tôi định nói, tôi đã bảo với ông. “Thầy Sandy đã hỏi liệu có bất cứ thứ gì trên Trái Đất này cháu cần mà chỉ hai bàn tay cháu mới có thể tạo ra không.” Tôi nuốt khan, nhìn vào mắt ông. “Mẹ cháu, mẹ rất đẹp. Bố cháu từng nói mẹ cháu có thể khiến cây cối đơm hoa chỉ bằng một cái nhìn.” Guillermo mỉm cười. Tôi tiếp tục. “Mỗi sáng, mẹ thường đứng ở hiên nhà nhìn ra biển. Gió luồn qua mái tóc mẹ, áo choàng bay bồng bềnh sau lưng mẹ. Như kiểu mẹ đang đứng lái tàu, bác biết không? Như thể mẹ đang đưa bọn cháu lên tận cung mây. Ngày nào cảm giác cũng như vậy. Ngày nào cháu cũng nghĩ như thế. Hình ảnh ấy lúc nào cũng ở đâu đó trong tâm trí cháu. Lúc nào cũng vậy.” Guillermo đang chăm chú lắng nghe và tôi nghĩ có lẽ ông cũng là kiểu người khiến những bức tường trong nội tâm con người, không chỉ trong mấy căn phòng, đổ sụp xuống, bởi giống như hôm qua, tôi muốn kể cho ông nghe nhiều hơn nữa. “Cháu đã thử mọi cách để nói chuyện với mẹ rồi, bác Guillermo. Tất tần tật các cách. Cháu có một quyển sách khá kỳ cục và cháu tra cứu tìm ý tưởng trong đấy suốt thôi. Cháu đã làm tất cả mọi cách. Cháu đã đặt đồ trang sức của mẹ dưới gối trước khi đi ngủ. Cháu đã đứng trên bãi biển lúc nửa đêm, giơ bức ảnh của cháu và mẹ lên trước vầng trăng xanh. Cháu đã viết thư và đặt vào túi áo khoác của mẹ, vào cả mấy hộp thư màu đỏ nữa. Cháu đã ném những lời nhắn vào biết bao con bão. Cháu đọc thuộc lòng lại bài thơ yêu thích của mẹ mỗi tối trước khi đi ngủ. Và tất cả những gì mẹ làm là đập hết mọi thứ cháu tạo ra. Mẹ cháu giận đến mức ấy đấy.” Tôi bắt đầu vã mồ hôi. “Mẹ mà đập bức tượng này thì cháu chết mất.” Đôi môi tôi run rẩy. Tôi che miệng lại, nói thêm, “Cháu chỉ có nó mà thôi.”

Ông đặt một tay lên vai tôi. Tôi không thể tin nổi mình muốn được ông ôm đến nhường nào. “Mẹ cháu sẽ không đập nó đâu,” ông dịu dàng nói. “Ta hứa với cháu. Cháu sẽ tạc bức tượng. Cháu sẽ có nó. Ta sẽ giúp cháu. Và CJ, đây là cô bé mà cháu cần truyền tải vào tác phẩm nghệ thuật của mình.”

Tôi gật đầu.

Rồi ông đi tới chỗ cái giá, lấy vài thanh chì than. “Giờ chúng ta vẽ thôi.”

Khó tin thay, tôi đã quên béng mất chuyện Oscar đang khỏa thân ở phòng bên kia.

Chúng tôi đi tới góc xưởng nơi đặt cái bục và một chiếc ghế được kéo lại gần đó. Tôi thấy choáng váng - tôi còn không kể cho cố vấn ở CSA những gì tôi vừa kể cho Guillermo. Vậy mà còn không muốn làm đứa con gái mồ côi mẹ đáng thương trong mắt ông cơ đấy.

Oscar mặc áo choàng xanh dương, đang ngồi đọc sách, hai chân gác lên bục. Trông quyển sách có vẻ giống sách giáo khoa, nhưng anh ta gập nó lại quá nhanh nên tôi không thể phát hiện ra đấy là sách loại gì.

Guillermo kéo thêm một ghế nữa ra, rồi ra hiệu cho tôi ngồi xuống.

“Oscore là người mẫu yêu thích của ta,” ông nói. “Cậu ta có một gương mặt hết sức kỳ lạ. Ta không biết cháu có nhận ra không nữa. Chúa đã tạo ra cậu ta lúc Người say bí tỉ. Một tí cái này. Một tẹo cái kia. Mắt nâu. Mắt xanh lá. Mũi vẹo, miệng lệch. Nụ cười điên dại. Răng mẻ. Sẹo chỗ này, sẹo chỗ kia. Đúng là khó hiểu.”

Oscar lắc đầu trước lời chọc ghẹo. “Cháu tưởng bác không tin vào Chúa chứ,” anh ta nói.

Nói cho đúng ra nhé, tôi đang ở giữa cơn hoảng loạn vì dương vật đây.

Ở CSA, tôi khá trung lập với dương vật trong lớp vẽ hình thể, nhưng không phải lúc này, không đời nào.

“Cậu hiểu sai rồi,” Guillermo nói. “Ta tin vào tất cả mọi thứ.”

Oscar tuột cái áo choàng xuống.

“Cháu cũng vậy. Mọi người chắc còn chẳng tin vào những thứ cháu tin cơ,” tôi xen vào, giọng nghe rất điên cuồng, tôi muốn tham gia vào cuộc đối đáp của họ để không nhìn chằm chằm vào cái đó. Quá muộn rồi. Ôi lạy Clark Gable tôi - lần trước Oscar nói cái gì về con khủng long anh ta đặt tên là Godzilla ý nhỉ?

“Kể đi,” Oscar nói với tôi. Ha! Còn lâu tôi mới nói những gì mình đang nghĩ nhé! “CJ, kể cho bọn tôi một điều em tin mà hai người bọn tôi sẽ không tin đi.”

“Được rồi,” tôi nói, cố phục hồi vẻ ngoài điềm tĩnh và chín chắn. “Tôi tin rằng nếu một anh chàng tặng cô nàng một quả cam, tình yêu của cô ấy dành cho anh ta sẽ nhân lên gấp bội.” Tôi kháng cự không nổi.

Anh ta bật cười khanh khách, phá hỏng luôn tư thế Guillermo vừa bố trí. “Ôi, tôi tuyệt đối tin là em tin điều đó. Tôi có bằng chứng chứng minh em tin điều đó khá nhiệt tình là đằng khác.”

Guillermo sốt ruột giậm chân. Oscar nháy mắt với tôi, khiến bụng dạ tôi xóc ngược lên như đi thang máy. “Còn nữa,” anh ta nói.

Còn nữa…

Đợi đã. Sophia là ai? Em gái anh ta? Bà bác anh ta? Thợ sửa ống nước?

“Ký họa nhanh, CJ,” Guillermo bảo tôi, và cả một chế độ kích động mới đi vào hoạt động. Rồi ông bảo Oscar, “Cứ ba phút lại thay đổi tư thế một lần.” Ông ngồi xuống ghế cạnh tôi và bắt đầu vẽ. Tôi nhận thấy tay ông như bay trên trang giấy. Nó làm xáo động không trung. Tôi hít vào một hơi rồi bắt đầu vẽ, lòng thầm nhủ mọi chuyện sẽ ổn thôi. Khoảng năm phút trôi qua. Tư thế mới của Oscar đẹp đến điếng người. Lưng anh ta ưỡn tới và đầu ngả ra sau.

“Cháu vẽ quá chậm,” Guillermo thì thầm.

Tôi cố phác nhanh hơn.

Guillermo đứng dậy và bước ra sau tôi, nhòm qua vai tôi ngắm nghía bức phác, tôi đọc được trong đôi mắt ông rằng đó là một bức phác xấu tệ.

Tôi nghe tiếng ông nói:

“Nhanh hơn nữa.”

Rồi:

“Chú ý xem nguồn ánh sáng ở đâu.”

Rồi chỉ lên bức phác của tôi:

“Đấy không phải là cái bóng, đấy là một cái hang.”

Rồi:

“Cháu cầm thanh than chì chặt quá.”

Rồi:

“Đừng nhấc thanh than chì lên khỏi giấy nhiều thế.”

Rồi:

“Mắt không nhìn xuống giấy nữa, nhìn người mẫu kia kìa.”

Rồi:

“Oscore đang ở trong mắt cháu, trong tay cháu, mắt cháu, tay cháu, cậu ấy chạy khắp cơ thể cháu, cháu có hiểu không?”

Rồi:

“Không, sai hết rồi, tất tần tật. Họ dạy cháu những gì ở cái trường đó thế? Ta nghĩ là chẳng gì hết!”

Ông ngồi xổm xuống cạnh tôi và mùi cơ thể ông làm tôi choáng ngợp, dấu hiệu cho thấy ít nhất tôi cũng chưa chết vì mất thể diện. “Nghe này, thanh than chì không vẽ nên bức tranh. Cháu mới là người vẽ. Tay cháu vẽ, tay cháu gắn liền với cơ thể cháu, và trong cơ thể ấy có một trái tim đang đập, được chứ. Cháu chưa sẵn sàng làm điều này.” Ông giành thanh than chì ra khỏi tay tôi và ném xuống sàn. “Vẽ cậu ấy không cần chì nữa. Chỉ dùng tay cháu thôi. Nhìn, cảm nhận, vẽ. Tất cả đều là một, không phải ba việc khác nhau. Đừng rời mắt khỏi cậu ấy. Nhìn, cảm nhận, vẽ. Một động từ thôi, làm ngay đi. Đừng nghĩ. Quan trọng nhất là: Đừng có nghĩ nhiều thế. Picasso đã nói, “Giá như chúng ta có thể lôi não ra khỏi đầu và chỉ dùng đôi mắt của mình thôi.” Lôi não ra khỏi đầu đi, CJ, chỉ dùng đôi mắt cháu thôi!

Tôi xấu hổ. Tôi muốn bật tung một cái nút quá đi mất. Nhân từ thay, ít nhất mắt Oscar vẫn đang hướng cố định về góc phòng đối diện. Anh ta vẫn chưa quay ra nhìn chúng tôi đến một lần.

Guillermo lại ngồi xuống ghế. “Đừng lo về Oscore. Đừng ngượng ngùng vì cậu ta,” ông nói. Ông có khả năng ngoại cảm à? “Giờ hãy vẽ như cháu thực sự muốn vẽ. Như thể nó thực sự có ý nghĩa. Vì nó thực sự có ý nghĩa, cháu có hiểu không, CJ? Nó phải có ý nghĩa. Cháu nhảy qua hàng rào và leo lên lối thang thoát hiểm của ta giữa đêm giữa hôm. Nó phải có ý nghĩa gì đó với cháu!”

Ông lại bắt đầu ngồi ký họa cạnh tôi. Tôi quan sát cái cách ông hung tợn tấn công tờ giấy vẽ, các đường nét táo bạo và chắc chắn, cái cách ông lật trang nhanh khủng khiếp, cứ mười giây một lần. Chúng tôi có học vẽ ba mươi giây ở trường. Nhưng ông nhanh như chớp.

“Vẽ đi,” ông nói. “Vẽ đi!”

Và rồi tôi chèo qua vùng biển lặng, quan sát một con sóng lớn dâng lên, ập về phía mình, biết rằng chỉ giây lát nữa thôi nó sẽ cuốn tôi vào thứ gì đó vĩ đại và mạnh mẽ vô cùng. Vì một lý do nào đó, tôi sẽ đếm ngược như tôi đang làm bây giờ:

Ba, hai, một:

Tôi vẽ. Tay không có thanh than chì nào, tôi vẽ.

“Nhanh hơn nữa,” ông nói. “Nhanh nữa.”

Cứ mười giây tôi lại lật trang như ông, chẳng vẽ ra bất cứ thứ gì và chẳng quan tâm, tôi cảm nhận thấy Oscar trở nên sống động dưới tay mình.

“Tốt hơn rồi đấy,” ông nói.

Rồi nhắc lại:

“Tốt hơn rồi đấy.”

Nhìn cảm nhận vẽ: một động từ.

“Tốt. Có thế chứ. Ta hứa với cháu, cháu sẽ nhìn bằng đôi tay mình. Giờ ta lại mâu thuẫn với chính mình rồi. Picasso cũng vậy. Ông ấy nói lôi não của cháu ra, đúng vậy, nhưng ông cũng nói, “Hội họa là nghề nghiệp của người mù’ và ‘Để vẽ, ta phải nhắm mắt lại và hát.’ Và Michelangelo, ông ấy nói ông ấy điêu khắc bằng bộ não, không phải bằng đôi mắt. Đúng vậy. Cùng một lúc, mọi thứ đều đúng. Cuộc sống là mâu thuẫn. Chúng ta tiếp nhận tất cả mọi bài học. Chúng ta tìm ra điều có tác dụng. Được rồi, giờ cầm chì than lên và vẽ đi.”

Sau một vài phút, ông lấy cái khăn choàng trên cổ mình xuống cuốn quanh mắt tôi, che kín mắt tôi.

“Hiểu chưa?”

Tôi hiểu.

•••

Lúc sau, tôi đang ở trong phòng xà lim, lấy lại quyển hồ sơ năng lực của mình, chờ Guillermo có việc bận phải làm thì Oscar, giờ lại quần áo chỉnh tề, máy ảnh sẵn sàng, thò đầu vào.

Anh ta tựa vào khung cửa. Một vài anh chàng được sinh ra để tựa. Anh ta chắc chắn là một trong số họ. Tài tử James Dean cũng vậy. “Hoan hô,” anh ta nói.

“Nghiêm túc đi,” tôi nói, nhưng thật ra, tôi thấy bị kích động, căng thẳng, thức tỉnh. Tôi chưa từng cảm thấy thế khi ở CSA.

“Tôi nghiêm túc đấy chứ.” Anh ta đang loay hoay với cái máy ảnh, mái tóc đen của anh ta rủ xuống mặt. Tôi muốn vuốt nó lên.

Tồi kéo khóa quyển hồ sơ năng lực của mình lại để hai tay được bận bịu. “Trước đây chúng ta đã gặp nhau chưa nhỉ, Oscar?” cuối cùng tôi hỏi. “Tôi khá chắc là chúng ta đã gặp rồi. Trông anh rất quen.”

Anh ta ngước mắt lên. “Cô ấy nói thế sau khi đã nhìn thấy mình khỏa thân.”

“Ôi Chúa ơi… Không, tôi không có ý… Anh hiểu ý tôi mà…” Từng xăng ti mét trên cơ thể tôi tỏa ra hơi nóng.

“Em nói sao cũng được.” Anh ta thích thú. “Nhưng không đời nào. Chưa bao giờ quên mặt ai cả, đặc biệt là một gương mặt như của em…” Tôi nghe tiếng tách trước khi nhận ra mình đã bị chụp ảnh. Cái cách anh ta điều khiển máy ảnh mà không cần nhìn qua ống kính thật kỳ lạ. “Sau khi chúng ta gặp nhau, em có quay lại nhà thờ không?”

Tôi lắc đầu. “Không, sao?”

“Tôi để lại một thứ cho em. Một bức ảnh.” Có phải một thoáng ngượng ngùng vừa lướt qua mặt anh ta không? “Với một bức thư ngắn ở mặt sau.” Ngưng thở. “Nó biến mất rồi. Tôi đã quay lại kiểm tra. Chắc ai khác đã lấy nó. Hẳn thế là tốt hơn hết. Quá nhiều thông tin, như mấy đứa đồng lứa với em vẫn hay nói.”

“Thông tin kiểu gì?” Thật đáng ngạc nhiên khi một con người có thể vừa nói vừa ngất xỉu lạnh như băng.

Anh ta không trả lời, thay vào đó nâng máy ảnh lên. “Em có thể nghiêng đầu như ban nãy em vừa làm không? Đúng rồi, thế.” Anh ta đứng thẳng dậy khỏi tường, chùng gối xuống, ngắm máy ảnh. “Đúng rồi, hoàn hảo, Chúa ơi, hoàn hảo quá đi mất quỷ thần ơi.” Chuyện xảy ra với tôi trong nhà thờ giờ lại đang xảy ra một lần nữa. Khi sông băng nứt ra dưới tác động của sự gia tăng nhiệt độ Trái Đất, người ta gọi đó là vỡ băng. Tôi đang vỡ băng. “Đôi mắt em, cả gương mặt em thật thanh tao. Tối qua tôi ngồi nhìn chằm chằm những bức hình của em hàng tiếng đồng hồ. Em làm tôi thấy ớn lạnh.”

Và anh làm tôi thấy nóng lên toàn cầu!

Nhưng còn một điều khác, điều gì đó vượt xa cảm giác ớn lạnh, vỡ băng và nóng lên toàn cầu, điều gì đó tôi cảm thấy từ giây phút đầu tiên trong nhà thờ. Anh chàng này khiến tôi cảm thấy như tôi đang thực sự ở đây, không bị che giấu, được nhìn thấy. Và không phải chỉ đơn thuần vì máy ảnh của anh ta đâu. Tôi không biết lý do là gì nữa.

Hơn nữa, anh ta khác hẳn với những người con trai tôi biết. Anh ta thú vị. Nếu tôi tạc một bức tượng anh ta, tôi sẽ muốn nó trông giống một vụ nổ. Kiểu bùm.

Tôi hít một hơi thật sâu, nhớ lại chuyện gì đã xảy ra lần cuối cùng tôi thích một người con trai.

Kể cả thế, BỨC THƯ NGẮN ẤY CHỨA THÔNG TIN KIỂU GÌ VÀ BỨC ẢNH NÀO THẾ?

“Vậy khi nào đó tôi có thể chụp ảnh em được không?” anh ta hỏi.

“Anh đang chụp ảnh tôi đấy thôi, Oscore!” tôi nói đầy cáu tiết giống Guillermo.

Anh ta cười. “Không phải ở đây. Không phải như thế này. Ở một tòa nhà bỏ hoang tôi vừa tìm thấy bên bờ biển cơ. Lúc hoàng hôn. Tôi có một ý tưởng.” Anh ta liếc ra từ một cạnh máy ảnh. “Và em không được mặc quần áo. Thế mới công bằng.” Mắt anh ta sáng ngời như mắt quỷ dữ. “Nói đồng ý đi.”

“Không!” tôi kêu lên. “Anh đùa đấy à? Đáng sợ thế. Quy tắc Tránh Kẻ Sát Nhân Bằng Rìu Thứ Nhất: Đừng tới tòa nhà bị bỏ hoang với một kẻ lạ mặt và cởi quần áo của bạn ra trong bất kể trường hợp nào. Chúa ơi. Câu ấy của anh vẫn thường có tác dụng à?”

“Ừ,” anh ta nói. “Lúc nào cũng có tác dụng.”

Tôi bật cười, không kìm nén nổi. “Anh đúng là tin dữ đấy.”

“Em không biết được đâu.”

“Tôi nghĩ là tôi biết. Tôi nghĩ người ta nên bắt nhốt anh lại để phục vụ cộng đồng.”

“Ừ, họ thử làm thế một lần rồi.” Tôi cảm giác miệng mình há hốc ra. Anh ta thực sự đã vào tù. Anh ta đọc được cú sốc của tôi và nói, “Thật đấy. Chắc chắn em giao du với nhầm hội rồi.”

Nhưng tôi cảm thấy ngược lại. Tôi cảm thấy như mình là cô bé tóc vàng trong truyện cổ tích. Mọi thứ ở đây đều đúng, cũng như mọi thứ ở nhà đều sai.

“Họ bắt anh vì tội gì?” tôi hỏi,

“Tôi sẽ nói nếu em nhận lời mời của tôi.”

“Mới bị giết hại bằng rìu à?”

“Mới sống nguy hiểm một chút.”

Tôi thực tình nghẹn ứ trước lời anh ta nói. “Ha! Nhầm cô rồi,” tôi nói.

“Tôi lại nghĩ khác.”

Anh không hiểu được đâu.” Mối quan hệ giữa chúng tôi thật thoải mái. Sao nó lại thoải mái đến thế?

Bà nội trả lời, ngân nga hát trong đầu tôi, “Vì tình yêu đang đơm hoa kết trái, chú dơi nhỏ mù quáng của bà ạ. Giờ cho một lọn tóc vào túi cậu ta đi. Ngay lập tức.”

Chừng nào chàng trai còn có một lọn tóc của bạn bên người,

bạn sẽ còn trong trái tim anh ta.

(Cảm ơn, nhưng thôi cảm ơn. Tôi đã làm thế với Zephyr rồi.)

Tôi giả vờ như bà là một người đã mất bình thường: im lặng.

Có tiếng giày cao gót lộc cộc trên nền bê tông. Oscar liếc ra ngoài cửa. “Sophia! Trong này.” Chắc chắn không phải thợ sửa ống nước, trừ phi thợ sửa ống nước đi giày gót nhọn. Anh ta quay về phía tôi. Tôi biết anh ta muốn nói gì đó trước khi chúng tôi bị cắt ngang. “Nghe này, có thể tôi là tin dữ, nhưng tôi không phải kẻ lạ mặt. Em chẳng vừa nói thế đấy thôi. ‘Anh trông rất quen’ “anh ta nhại lại một cách hoàn hảo âm điệu cô gái vùng biển của tôi, rồi đóng tách nắp ống kính lại. “Tôi chắc chắn tôi chưa từng gặp em cho đến ngày hôm đó ở nhà thờ, nhưng tôi cũng chắc chắn tôi được sắp đặt để gặp em. Đừng nghĩ tôi điên, nhưng chuyện đó đã được tiên đoán trước.”

“Được tiên đoán trước?” tôi nói. Đó có phải là Thông Tin đó không? Hẳn là vậy. “Bởi ai?”

“Mẹ tôi. Trên giường bệnh. Những lời cuối cùng của mẹ là về em.”

Điều mà ai đó nói với bạn ngay trước khi họ chết

sẽ trở thành sự thật?

Sophia - chắc chắn không phải em gái hay bà bác của anh ta - và mái tóc đỏ sao chổi của cô ta ập vào phòng. Cô ta mặc một chiếc váy xòe thập niên năm mươi màu hồng tím với đường cổ áo xẻ sâu xuống tận xích đạo. Những vệt cong lấp lánh màu xanh và vàng chắp cánh cho đôi mắt xanh biếc của cô ta.

Cô ta lấp lánh như vừa bước ra từ một bức vẽ của Klimt vậy.

“Chào cưng,” cô ta nói với Oscar bằng chất giọng đặc sệt mà tôi thề là nghe giống hệt bá tước Dracula.

Cô ta hôn lên má trái, má phải, rồi ấn môi mình lên môi anh ta như màn kết thúc dài, vương vấn. Rất dài và rất vương vấn. Lồng ngực tôi bẹp rúm lại.

Vẫn còn đang vương vấn…

Bạn bè không chào nhau kiểu này. Trong bất cứ trường họp nào.

“Chào đằng ấy,” Oscar nói đầy nồng nhiệt. Son môi màu đỏ tươi của cô ta lem hết lên môi anh ta. Tôi phải thò tay vào túi áo nỉ để không với tới chùi vết son đi.

Tôi rút lại hết mấy thứ Goldilocks rác rưởi ban nãy.

“Sophia, đây là CJ, học trò mới của Garcia từ Học viện.” Vậy ra anh ta thực sự nghĩ tôi học ở Học viện. Anh ta nghĩ tôi trạc tuổi bọn họ. Và là một nghệ sĩ đủ tài ba để đỗ vào Học viện.

Tôi không làm rõ lại bất cứ điều gì.

Sophia giơ một tay về phía tôi. “Ta đến để hút máu nhà ngươi đây,” cô ta nói bằng chất giọng Transylvania* của mình, nhưng chắc là tôi nghe nhầm, chắc là cô ta nói, “Chắc em là một thợ điêu khắc rất tài năng.”

Tôi lẩm bẩm lắp bắp đáp lại, cảm thấy mình như một tên thần lùn mười sáu tuổi chuyên ăn bóng tối và bị hủi.

Và cô ta, với mái tóc rực lửa và bộ váy hồng tươi, là một bông phong lan ngoại lai. Dĩ nhiên là anh ta yêu cô nàng rồi. Họ đều là hai bông phong lan ngoại lai. Đúng là hoàn hảo. Họ thật hoàn hảo. Áo len của cô ta tuột xuống khỏi một bên vai và một hình xăm rồng phun lửa màu đỏ và cam hoành tráng bò trườn ra khỏi váy, uốn quanh cả cánh tay cô ta. Oscar để ý thấy cái áo len và chỉnh lại nó như thể đã làm cả trăm lần. Một làn sóng ghen tuông đen tối dâng trào trong lồng ngực tôi.

Còn lời tiên đoán thì sao, bất kể nó là gì?

“Chúng ta nên đi thôi,” cô nàng nói, nắm lấy tay anh ta, và giây lát sau, họ đi mất.

Khi tôi chắc chắn họ đã ra khỏi tòa nhà, tôi co cẳng chạy dọc hành lang tới cửa sổ phía trước - may mắn thay Guillermo vẫn chưa về.

Họ đã ngồi trên xe mô tô rồi. Tôi quan sát cô nàng vòng hai tay ôm lấy eo anh ta và tôi biết rõ cảm giác đó thế nào, cảm giác khi sờ vào anh ta, nhờ việc vẽ anh ta hôm nay. Tôi tưởng tượng ra cảm giác đó: lướt đôi tay tôi trên thớ cơ thuôn dài chéo bụng anh ta, nấn ná trên những múi bụng, cảm nhận hơi ấm từ da anh ta trên tay mình.

Tôi ấn tay lên lớp kính lạnh. Tôi thực sự làm thế.

Anh ta khởi động xe, vặn hết ga, và rồi họ phóng hết tốc lực dọc con phố, mái tóc đỏ của cô ta phấp phới như ngọn lửa dữ phía sau họ. Khi anh ta bẻ ngoặt tay lái với tốc độ 80km/h ở một góc cua chí tử, cô ta giơ cả hai tay lên trời và reo hò hứng khởi.

Bởi vì cô ta can đảm. Cô ta sống nguy hiểm. Cũng là phần tệ nhất trong tất cả.

Lòng đầy sầu thảm đi qua phòng thư tín, tôi thấy một cánh cửa mở hé mà tôi thề rằng ban nãy khi tôi vừa chạy qua vẫn còn đóng. Gió đã mở nó ra chăng? Một con ma? Ngó vào phòng, tôi thấy khó mà tưởng tượng ra được một trong những hồn ma của tôi lại muốn nhử tôi vào đây, nhưng ai mà biết được cơ chứ? Mở cửa không phải là trò của bà nội.

“Mẹ?” tôi thì thầm. Tôi đọc vài dòng thơ, hy vọng mẹ có thể sẽ đọc lại cho tôi. Nhưng không phải lần này.

Tôi mở rộng cửa hơn một chút, rồi bước vào căn phòng mà trước đây đã từng là phòng làm việc. Trước khi bị một cơn lốc xoáy oanh tạc. Tôi nhanh chóng đóng cửa lại sau lưng. Có mấy giá sách bị đổ lật xuống và cả đống sách rơi khắp nơi. Có hàng chồng giấy, tập vẽ và sổ bị gạt khỏi bàn và các mặt phẳng khác. Có vài cái gạt tàn đầy đầu lọc thuốc lá, một chai rượu tequila rỗng đặt ngay bên cạnh và một chai khác bị đập vỡ ở góc tường. Có vết đấm tay trên tường và một ô cửa sổ vỡ. Và ở chính giữa căn phòng, có một nàng thiên thần bằng đá úp mặt xuống sàn, lưng nàng bị gãy.

Căn phòng đã bị phá nát trong một con thịnh nộ. Tôi nghĩ có lẽ là con thịnh nộ hôm tôi tới đây lần đầu tiên, con thịnh nộ nghe có vẻ giống cuộc thi ném đồ đạc. Tôi nhìn quanh sự biểu lộ ra thành vật chất hữu hình của vấn đề mà Guillermo gặp phải, bất kể đấy là vấn đề gì, và cảm giác thích thú pha lẫn với sợ hãi len lỏi trong tôi. Tôi biết mình không nên lần mò, nhưng như thường lệ tính hiếu kỳ nhanh chóng lấn át lương tâm tôi - vấn đề về kiểm soát ham muốn lần mò - tôi cúi xuống, đọc lướt qua vài mẩu giấy trên sàn một cách ngẫu nhiên: phần lớn là những lá thư cũ. Một lá từ một học sinh nghệ thuật ở Detroit bày tỏ lòng mong muốn được làm việc với ông. Một lá thư viết tay khác từ một người phụ nữ ở New York hứa hẹn sẽ cho ông mọi thứ (gạch chân ba lần) nếu ông hướng dẫn cho cô ta - Chúa ơi. Có mấy mẫu đơn ký gửi từ các phòng tranh, một đề xuất từ viện bảo tàng về tiền hoa hồng. Một loạt thông cáo báo chí từ các chương trình trước kia. Tôi nhặt một quyển sổ giống quyển ông để trong túi áo và mở ra xem, tự hỏi liệu có đầu mối nào trong đó, trong căn phòng này, về chuyện đã xảy ra với ông không. Quyển sổ nhỏ đầy những hình ký họa, một vài danh sách và cả những mẩu ghi chú, tất cả đều bằng tiếng Tây Ban Nha. Có thể là danh sách vật liệu? Ghi chú về các bức tượng? Ý tưởng? Thấy tội lỗi, tôi quăng lại nó xuống đống giấy, nhưng rồi không thể kiềm chế nổi, tôi lại nhặt một quyển khác lên, lật qua cả quyển, thấy một loạt những thứ giống hệt quyển trước, cho tới khi tôi giở tới trang có vài từ bằng tiếng Anh:

Em yêu,

Anh phát điên lên mất rồi. Anh không muốn ăn hay uống, sợ rằng anh sẽ làm mất vị của em trong miệng anh, không muốn mở mắt ra nếu không phải để trông thấy em, không muốn hít thú không khí mà em chưa thở, thứ không khí chưa ở trong cơ thể em, sâu trong cơ thể tuyệt đẹp của em. Anh phải…

Tôi giở sang trang tiếp theo, nhưng nó không tiếp tục. Anh phải - cái gì? Tôi giở từng phần sổ còn lại lên, nhưng những trang còn lại đều trống trơn. Tôi tìm kiếm thêm trong một vài quyển sổ khác rải khắp nơi nhưng không thấy thêm đến một chữ tiếng Anh hay một chữ cho em yêu nào. Hai cánh tay tôi râm ran như có kiến bò. Em yêu là cô ấy. Chắc chắn phải là vậy. Người phụ nữ trong bức tranh. Người phụ nữ đất sét leo ra khỏi lồng ngực người đàn ông đất sét. Người phụ nữ khổng lồ. Tất cả những người phụ nữ khổng lồ.

Tôi đọc mẩu thư ấy lần nữa. Nó thật ướt át, thật khẩn thiết, thật lãng mạn.

Nếu một người đàn ông không đưa lá thư anh ta viết

cho người yêu dấu của mình, tình yêu của anh ta là đích thực.

Vậy đó là chuyện đã xảy ra với ông: tình yêu. Một tình yêu bi thảm, bất khả. Và Guillermo được phân vai một cách hoàn hảo. Không một người phụ nữ nào có thể kháng cự một người đàn ông với sóng thủy triều và động đất trong người.

Có vẻ như Oscar cũng tiềm tàng thiên tai trong người. Nhưng tha cho tôi đi. Nam chính trong các câu chuyện tình phải tận tâm, phải chạy đuổi theo tàu hỏa, vượt lục địa, từ bỏ tiền tài và ngôi vị, thách thức lệ thường, đối mặt với sự ngược đãi, phá tung cả phòng lên và bẻ gãy lưng thiên thần, vẽ người yêu dấu khắp tường bê tông trong xưởng của họ, tạc những bức tượng người khổng lồ để bày tỏ lòng thần phục.

Họ không tán tỉnh tôi một cách vô liêm sỉ trong khi đã có bạn gái người Transylvania. Đúng là thằng tồi chết giẫm.

Tôi xé trang giấy có mẩu thư tình khỏi quyển sổ, và khi đang nhét kỹ nó vào túi quần jean, tôi nghe cửa trước xưởng cọt kẹt cái tiếng kinh dị của nó. Ôi không. Mạch tôi đập thình thịch trong khi tôi nhón chân tới cửa và nép ra sau để trốn phòng trường họp Guillermo quyết định vào phòng. Chắc chắn là tôi không được phép ở trong này. Đây là mớ hỗn độn loại riêng tư nhất, như thể nội dung tâm trí của ông đã tuôn hết ra. Tôi nghe tiếng kéo lê chân ghế trên sàn, rồi ngửi thấy mùi thuốc lá. Tuyệt. Ông đang hút thuốc ở ngay trước cửa.

Tôi chờ. Và nhìn chằm chằm xuống đống sách nghệ thuật chồng chất khắp nơi, nhận ra khá nhiều cuốn giống ở trường, nhận ra mẹ tôi. Một nửa gương mặt mẹ đang chăm chú nhìn đáp lại tôi từ một trong các chồng sách. Đó là bức ảnh tác giả trên bìa sau cuốn tiểu sử Michelangelo của mẹ, Thiên thần dưới lớp cẩm thạch. Nó khiến tôi giật nẩy mình. Nhưng dĩ nhiên là nó phải ở đây rồi. Ông có đủ loại sách nghệ thuật trong này. Tôi ngồi xổm xuống và với tay lấy cuốn sách, hết sức cẩn thận để không gây ra một tiếng động nào trong khi lôi nó ra khỏi chồng sách. Tôi mở trang đầu tiên của cuốn sách ra, tự hỏi liệu mẹ đã ký nó khi họ gặp nhau chưa. Mẹ đã ký.

Dành tặng Guillermo Garcia,

“Tôi thấy một thiên thần dưới lớp cẩm thạch và tạc đến khi tôi giải phóng được anh ta.” Cảm ơn anh vì buổi phỏng vấn - một niềm vinh dự to lớn.

Trân trọng với lòng thán phục,

Dianna Sweetwine

Mẹ. Tôi gập cuốn sách lại thật nhanh, thật nhanh, tay ấn nó lại thật chặt để nó không bật mở ra, để tôi không mở nó ra. Khớp ngón tay tôi trắng ởn vì siết mạnh. Mẹ luôn ký tên với câu trích dẫn ấy của Michelangelo. Đó là câu nói yêu thích của mẹ. Tôi ôm cuốn sách vào lòng thật chặt, chặt đến nỗi muốn nhảy luôn vào trong đó.

Rồi tôi nhét nó vào cạp quần jean và lồng áo nỉ ra ngoài để che.

“CJ,” Guillermo gọi. Tôi nghe tiếng bước chân ông lui dần. Khi tôi chắc chắn ông đã đi khỏi, tôi khẽ lẩn ra khỏi phòng, đóng cửa lại sau lưng. Tôi lẳng lặng băng qua phòng thư tín ngay lập tức và vào phòng xà lim, giấu cuốn sách của mẹ vào bọc hồ sơ năng lực của mình, nhận thức được rằng, ôi, phải rồi, đúng là vậy, rằng tôi đang cư xử như một kẻ siêu gàn dở, hôm nay nút niếc cứ gọi là tung tóe khắp nơi. Mặc dù đây không phải là lần đầu tiên tôi ăn trộm. Tôi cũng đã ăn trộm vài bản in các cuốn sách của mẹ từ thư viện trường - thực ra là mỗi lần họ thế một quyển mới vào. Từ cả thư viện thành phố nữa. Từ một vài cửa hàng sách. Tôi không biết tại sao tôi lại làm thế. Tôi không biết tại sao tôi lại ăn trộm mẩu thư tình. Tôi không biết tại sao tôi lại làm nhiều chuyện.

Tôi thấy Guillermo trong xưởng, đang ngồi xổm xuống, vuốt ve bụng một Frida Kahlo đang sung sướng tột đỉnh. Mẩu thư gửi Em yêu đang thiêu rụi túi quần tôi. Tôi muốn biết nhiều hơn nữa. Chuyện gì đã xảy ra với họ?

Ông gật đầu với tôi. “Cháu sẵn sàng chưa?” Ông vươn dậy. “Cháu đã sẵn sàng để cuộc đời mình đổi thay chưa?”

“Như thế nào cơ ạ?” tôi nói.

Cả buổi chiều còn lại tôi chỉ chọn đá để luyện tạc - tôi phát cuồng với một hòn thạch cao tuyết hoa màu hổ phách trông như có lửa cháy bên trong - và nghe Guillermo, giờ đã trở thành Moses, đọc lại điều răn về tạc tượng:

Ngươi sẽ bạo dạn và dũng cảm.

Ngươi sẽ nắm bắt cơ hội.

Ngươi sẽ đeo dụng cụ bảo vệ.

(VÌ TRONG BỤI TẠC CÓ AMIĂNG!)

Ngươi sẽ không có định kiến gì về điều ẩn sâu trong đá luyện tạc mà sẽ đợi cho tảng đá trực tiếp bảo với ngươi.

Sau điều răn này, ông xòe tay ra đặt lên hõm ngực tôi, thêm vào, “Thứ ngủ say trong trái tim cũng là thứ ngủ say trong đá, hiểu chứ?”

Rồi ông ban cho tôi lời răn cuối cùng:

Ngươi sẽ kiến tạo lại thế giới.

Đó là điều tôi thực sự thích được làm, mặc dù chẳng hiểu tạc một tảng đá thì hoàn thành việc đó thế nào.

Khi tôi về nhà sau hàng tiếng đồng hồ luyện tạc - tôi dở khoản này một cách ngoạn mục - với cơ cổ tay nhức mỏi, hai ngón cái tím bầm vì hàng trăm cú búa giáng nhầm chỗ, cùng bệnh lý do hít phải amiăng lan ra khắp các tế bào phổi mặc cho tôi đã đeo mặt nạ, tôi mở túi ra và thấy ba quả cam to tướng tròn xoe nhìn lại mình. Trong một khoảnh khắc, tôi bị tiếng sét ái tình yêu độn đánh trúng, rồi tôi nhớ ra Sophia.

Đúng là đồ hai mặt! Nghiêm túc đấy, đích thị là một thằng ngu độn bậc nhất, như Noah thường nói khi nó vẫn còn là Noah.

Tôi cá anh ta cũng bảo Sophia rằng mẹ anh ta đã tiên đoán về cô nàng.

Tôi cá mẹ anh ta còn chưa chết.

Tôi đem mấy quả cam ra bếp vắt lấy nước.

Trong lúc trở lại phòng ngủ sau Cuộc Thảm Sát Cam Tươi Vĩ Đại hy vọng sẽ nguôi ngoai được chút ít, tôi thấy Noah ngồi xổm xuống cạnh cái túi tôi vứt dưới đất, giở quyển sổ ký họa mà chỉ vài giây trước vẫn còn được nhét kỹ trong túi. Phải chăng là sự trả đũa ngay tức khắc từ vũ trụ vì đã lục lọi đống giấy tờ của Guillermo?

“Noah? Em đang làm cái gì thế?”

Nó nhảy dựng lên, miệng kêu, “Ôi! Chào! Không có gì!” Rồi tiếp tục đặt tay lên thắt lưng chỉ để thò tay vào túi rồi lại đặt lên thắt lưng. “Em chỉ vừa… không có gì. Xin lỗi.” Nó cười thật lớn tiếng, rồi vỗ hai tay vào với nhau.

“Sao em lại lục đồ của chị?”

“Đâu có…” Nó lại cười, thực ra thì giống tiếng ngựa hí hon. “Ý em là, em cho là đúng thế thật.” Nó quay ra nhìn cửa sổ như muốn nhảy ra ngoài đó vậy.

“Nhưng tại sao?” tôi hỏi, khúc khích cười chút ít - lâu lắm rồi nó không cư xử như một kẻ lập dị được chứng nhận thế này.

Nó cười với tôi như thể đọc được suy nghĩ của tôi. Nụ cười ấy khiến lồng ngực tôi rạo rực một cảm xúc tuyệt vời. “Em cho là em chỉ muốn xem chị đang làm gì thôi.”

“Thật à?” tôi ngạc nhiên hỏi.

“Phải,” nó nói, người đưa đẩy tới lui trên hai chân.

“Đúng thế.”

“Được rồi.” Tôi nghe giọng mình đầy hăng hái.

Nó ra hiệu về phía quyển sổ. “Em thấy bức vẽ mẹ. Chị đang điêu khắc hình mẹ à?”

“Phải,” tôi nói, thích thú vì sự hiếu kỳ của thằng bé, chẳng buồn quan tâm đến vụ lục lọi sổ ký họa - tôi từng làm việc tương tự với nó bao nhiêu lần rồi? “Nhưng các nghiên cứu trong đó còn lâu mới hoàn thiện. Chị vừa mới bắt đầu phác tối qua thôi.”

“Đất sét à?”

Cảm giác mạnh mẽ sao mình dám nói với nó về tác phẩm nghệ thuật của mình đột nhiên choán lấy tôi, nhưng đã lâu lắm rồi kể từ khi hai chị em tôi gắn kết về bất cứ chuyện gì, vậy nên tôi tiếp tục. “Không phải đất sét, tượng đá,” tôi bảo nó. “Cẩm thạch, hoa cương gì đó, chưa biết. Giờ chị đang làm việc với một nhà điêu khắc cực hay ho nhé. Ông ấy tuyệt đỉnh, Noah.” Tôi bước tới và nhặt quyển sổ lên khỏi sàn. Giơ nó lên trước mặt hai đứa, tôi chỉ vào bản phác hoàn thiện nhất, bản phác nhìn từ góc trực diện. “Chị định làm theo trường phái hiện thực. Không phình phình như mọi khi. Chị muốn nó phải thật thanh tao, thướt tha, nhưng cũng phải thật phóng khoáng, em biết mà, như mẹ ý. Chị muốn mọi người thấy được ngọn gió trong tóc mẹ, trong bộ trang phục của mẹ - à, trang phục chắc chắn phải là một bộ Váy Bồng Bềnh rồi, nhưng chỉ hai chị em mình hiểu thôi. Chị hy vọng, em biết cái cách mẹ thường đứng ngoài hiên nhà mỗi…” Tôi dừng lại vì nó lấy điện thoại ra khỏi túi. Chắc điện thoại vừa rung. “Chào anh bạn,” nó nói, bắt đầu trò chuyện về mấy chuyến chạy bộ đường trường và tổng số dặm đã chạy được rồi mấy cuộc thi chạy việt dã vớ va vớ vẩn khác. Nó làm vẻ mặt xin thứ lỗi với tôi như muốn nói cuộc điện thoại sẽ lâu đấy và ra khỏi phòng.

Tôi nhón chân tới bên cửa, muốn nghe xem nó nói chuyện với bạn. Thỉnh thoảng, tôi đứng ngay bên ngoài phòng nó khi nó và Heather chơi với nhau và nghe chúng tám chuyện, cười đùa, trêu chọc nhau. Một vài lần vào các dịp cuối tuần, tôi ngồi đọc sách bên cửa trước, nghĩ bụng chắc chúng sẽ rủ tôi cùng tới vườn thú hoặc đi ngốn bánh kếp sau khi đi chạy về, nhưng chúng chẳng bao giờ làm vậy.

Đi được nửa hành lang thì Noah bất ngờ dừng nói giữa câu và nhét điện thoại lại vào túi. Đợi đã. Vậy là nó trá hình cuộc điện thoại và giả vờ nói chuyện một mình để tránh xa khỏi tôi sao? Chỉ để chặn họng không cho tôi ba hoa nữa như thế sao? Họng tôi siết lại.

Chúng tôi sẽ không bao giờ ổn. Chúng tôi sẽ không bao giờ là một cặp nữa.

Tôi tới cửa sổ, giật mành lên để nhìn được ra biển.

Tôi chăm chú nhìn mặt biển.

Có những lần trong lúc lướt sóng, ta sẽ lướt trên một con sóng để rồi nhận ra chân sóng đã lặng và đột nhiên ta roi tự do từ đỉnh sóng xuống mà không hề được báo trước.

Cảm giác hệt vậy.

Chiều hôm sau, khi tôi tới xưởng của Guillermo theo giờ đã hẹn trước - do ông có vẻ không quan tâm giờ là kỳ nghỉ đông, vả lại tôi cũng chẳng muốn ở bất cứ đâu khác - tôi thấy một mẩu giấy đính trên cửa đề: Sẽ về ngay - GG.

Cả sáng, trong lúc mút đống chanh chống-Oscar, tôi dỏng tai lên chăm chú nghe, hy vọng hòn đá luyện tạc sẽ nói với tôi trong nó có gì. Đến giờ, vẫn chưa nói đến một từ. Từ hôm qua đến giờ, Noah và tôi cũng không nói một từ, và sáng nay nó đã biến mất trước cả khi tôi ngủ dậy. Cả chỗ tiền mặt bố để lại cho chúng tôi phòng trường họp khẩn cấp cũng vậy. Ôi thế quái nào mà chẳng được.

Quay trở lại với mối nguy hiển hiện ngay lúc này: Oscar. Tôi sẵn sàng rồi. Ngoài mấy quả chanh, để chuẩn bị cho cuộc gặp mặt có thể xảy ra, tôi ngồi nhồi nhét đọc hàng loạt toàn những loại bệnh lây truyền qua đường tình dục. Sau đó nghiên cứu cuốn kinh một chút:

Những kẻ có hai mắt khác màu là lũ đểu cáng bắt cá hai tay

(Phải, tôi đã viết đoạn này.)

Vụ Oscar đã kết thúc.

Tôi lẻn nhanh qua hành lang, sướng rên vì tìm thấy mỗi mình bà nội trong phòng thư tín. Bà mặc một bộ đồ hết sức lộng lẫy. Chân váy suông kẻ sọc. Áo len hoa cổ điển. Thắt lưng da đỏ. Khăn quàng họa tiết cánh hoa chễm chệ đầy thái độ trên cổ bà. Tất cả được hoàn thiện với mũ nồi nỉ đen và cặp kính râm John Lennon. Chính xác là thứ tôi sẽ mặc tới xưởng nếu tôi không buộc phải theo đuổi cái phong cách rau củ này.

“Hoàn hảo,” tôi bảo bà. “Rất đúng phong cách phai sờn thanh lịch.”

“Thanh lịch là đủ rồi. Cái mác phai sờn xúc phạm cảm xúc của ta. Ta định chọn phong cách Mùa Hè Yêu Thương pha với chút vẻ buông thả của giới trẻ thập niên năm mươi. Tất cả những tác phẩm nghệ thuật, sự hỗn độn, mất trật tự và những người đàn ông ngoại quốc này khiến ta thấy rất phóng khoáng, rất liều lĩnh, rất táo bạo, rất…”

Tôi bật cười. “Cháu hiểu rồi.”

“Không, ta không nghĩ là cháu hiểu. Ta định nói là rất Jude Sweetwine. Nhớ cô bé gan dạ đó chứ?” Bà chỉ vào túi áo tôi. Tôi lôi mẩu nến đã cháy rụi ra. Bà tặc lưỡi. “Đừng có dùng cuốn kinh của ta để xúc tiến lịch trình ảm đạm của cháu.”

“Anh ta có bạn gái rồi.”

“Cháu đâu có biết chắc chắn. Cậu ta là người châu Âu. Họ có tập tục khác chúng ta.”

“Bà đọc Jane Austen chưa thế ạ? Người Anh còn cứng nhắc hơn cả chúng ta, không phải kém đâu.”

“Cậu trai đó thì cứng nhắc cái gì.” Cả khuôn mặt bà méo xẹo đi trong khi cố gắng nháy mắt một cái. Bà không phải là một người nháy mắt tinh tế, cũng chẳng tinh tế trong bất cứ việc gì.

“Anh ta có vi khuẩn trichomonas gây nhiễm trùng qua đường tình dục,” tôi gầm lên với bà.

“Chẳng ai có cái bệnh đó cả. Chẳng ai biết cái bệnh đó trừ cháu ra.”

“Anh ta quá già.”

“Chỉ có ta mới quá già thôi.”

“Ờ thì anh ta quá nóng bỏng. Nóng bỏng quá mức cần thiết. Và anh ta biết điều đó. Bà có thấy cái cách anh ta đứng tựa lưng không?”

“Cái cách cậu ta gì cơ?”

“Tựa lưng vào tường giống James Dean, tựa lưng ý.” Tôi tựa nhanh vào cái cột cho bà xem. “Và anh ta lái cái xe mô tô ấy. Và nói cái chất giọng ấy và đôi mắt khác màu ấy…”

“Tài tử David Bowie có mắt khác màu đấy!” Bà quá khích giơ hai tay lên trời. Bà nội say đắm David Bowie. “Mẹ của một cậu trai đã tiên đoán về cháu thì đó là điềm may đấy.” Gương mặt bà trở nên dịu dàng. “Và cậu ta nói cháu khiến cậu ta ớn lạnh, cháu yêu.”

“Cháu có cảm giác bạn gái anh ta cũng khiến anh ta ớn lạnh.”

“Sao cháu đánh giá được một anh bạn khi cháu chưa đi dã ngoại với cậu ta nhỉ?” Bà dang rộng hai tay như để ôm trọn lấy cả thế giới. “Chất đồ vào một cái giỏ dã ngoại, chọn một chỗ và đi. Đơn giản thế thôi.”

“Cổ lỗ sĩ quá đi,” tôi nói, rồi trông thấy một quyển sổ của Guillermo trên một chồng thư. Tôi nhanh tay đọc lướt qua cả quyển để tìm mẩu thư gửi Em yêu. Chẳng có mẩu nào.

“Cô nào có tim đập trong lồng ngực mà lại phỉ báng việc đi dã ngoại cơ chứ?” bà kêu lên. “Cháu phải thấy phép mầu thì phép mầu mới thực sự tồn tại, Jude.” Bà từng nói câu này rất nhiều. Đó là đoạn đầu tiên bà viết trong cuốn kinh. Tôi không phải là người trông thấy những phép mầu. Đoạn cuối cùng bà viết trong cuốn kinh là: Một trái tim tan vỡ là một trái tim rộng mở. Bằng cách nào đó, tôi biết bà viết đoạn đó dành cho tôi, để giúp đỡ tôi sau khi bà mất, nhưng nó chẳng giúp ích được gì.

Vung một nắm gạo vào không trung và số hạt rơi lại vào tay bạn là số người bạn sẽ yêu trong cả cuộc đời mình (Bà thường trưng biển đóng cửa hàng lên mỗi lần dạy tôi may vá. Bên chiếc bàn sau cửa hàng của bà, tôi ngồi trên đùi bà và hít vào hương hoa từ người bà trong khi học cách cắt, xếp nếp và khâu. “Ai cũng có một người yêu dấu nhất, với ta đó chính là cháu,” bà bảo tôi. “Sao lại là cháu ạ?” Lần nào tôi cũng hỏi, rồi bà sẽ dúi khuỷu tay vào sườn tôi và nói gì đó ngốc nghếch kiểu như, “Dĩ nhiên là vì cháu có ngón chân dài ơi là dài rồi.”)

Cổ họng tôi nghẹn thắt lại. Tôi tới chỗ nàng thiên thần và khi ước xong điều ước thứ hai của mình - ta luôn luôn có ba điều ước mà, phải không? - tôi tới đứng trước bức tranh với bà nội. Không phải bà nội. Hồn ma của bà nội. Có sự khác biệt đấy. Hồn ma của bà nội chỉ biết những điều mà tôi biết về cuộc đời bà. Những câu hỏi về ông nội Sweetwine - ông đã bỏ đi khi bà nội mang thai bố và không bao giờ quay trở lại - giờ vẫn chưa được giải đáp như khi bà còn sống. Rất nhiều câu hỏi đều không được giải đáp. Mẹ từng nói nhìn nhận nghệ thuật thực chất là nửa nhìn nửa mơ. Có lẽ với những hồn ma cũng giống vậy.

“Mà này, đây đúng là một nụ hôn ra trò đấy nhỉ,” bà nói.

“Chắc chắn rồi ạ.”

Chúng tôi đều thở dài chìm đắm vào những suy nghĩ của chính mình, của tôi, những suy nghĩ mà đau đớn thay đã chuyển sang bị dán nhãn giới hạn người xem, dán nhãn Oscar. Tôi thực sự không muốn nghĩ về anh ta, nhưng tôi đang nghĩ về anh ta…

“Cảm giác lúc được hôn kiểu đó như thế nào nhỉ?” tôi hỏi bà. Mặc dù tôi đã hôn cả đống con trai nhưng cảm giác chưa bao giờ giống như trong bức tranh này.

Trước khi bà kịp trả lời, tôi nghe thấy tiếng nói, “Tôi sẽ hơn cả hạnh phúc nếu được chỉ cho em thấy. Dĩ nhiên, nếu em phá bỏ vụ tẩy chay. Kiểu gì cũng phải thử một lần cho biết. Kể cả khi em điên khủng khiếp.” Tôi rụt tay khỏi miệng - nó lần lên môi tôi thay cho môi anh ta từ khi nào thế không biết? - và nhích quanh từng bước một để thấy Oscar đã nhảy ra khỏi tâm trí tôi và đang đứng trên gác xép bằng da bằng thịt. Anh ta đang đứng tựa (lần này là một dáng tựa lêu nghêu gợi cảm rướn về phía trước) vào tay nắm cầu thang với cái máy ảnh chĩa về phía tôi. “Tôi nghĩ tốt hơn hết là tôi nên xen ngang trước khi chuyện với tay của em đi quá xa.”

Không.

Tôi giãy giụa tại chỗ, đột nhiên thấy da mình quá bí bức. “Tôi không biết có người ở đây!”

“Khá là hiển nhiên,” anh ta nói, cố không cười. “Hết sức hiển nhiên.”

Ôi không. Trông tôi tám chuyện với không khí hẳn là phải điên cỡ nào chứ? Mặt tôi nóng ran lên. Anh ta nghe được bao nhiêu phần của cuộc đối thoại rồi? Ờ thì, đại loại là cuộc đối thoại. Ôi ôi ôi. Và tôi hôn hít cái tay bao lâu rồi? Anh ta có biết tôi đang nghĩ về anh ta không? Hôn anh ta? Anh ta nói tiếp. “Tôi may mắn quá. Mấy ống kính phóng đại này. Chúng chẳng bỏ sót thứ gì cả. Quỷ thần ơi, mấy quả cam - ai mà biết được cơ chứ? Đáng lẽ đã tiết kiệm được cả đống tiền mua nước hoa, trả bữa tối thắp nến, vân vân và vân vân.”

Anh ta biết.

“Anh đang cho là tôi nghĩ về anh,” tôi nói.

“Quả thật là thế.”

Tôi đảo mắt trước điều ngớ ngẩn ấy.

Anh ta đặt cả hai tay lên tay nắm cầu thang. “Em vừa nói chuyện với người quái nào thế, CJ?”

“À, cái đó,” tôi nói. Đáp lại thế nào đây? Tôi không biết tại sao, nhưng tôi chọn cách nói thật như khi trò chuyện với Guillermo hôm qua. “Bà nội đến ban cho một câu thần chú ý mà.”

Anh ta bật lên một tiếng nghẹn - ho kỳ cục.

Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra trên gương mặt anh ta vì tôi không dám nhìn về phía ấy. “Hai mươi hai phần trăm dân số thế giới trông thấy ma,” tôi nói với anh ta qua bức tường. “Chuyện đó không phải là hiếm. Cứ bốn người lại có một người. Và không phải kiểu tôi là bà đồng gì đâu. Tôi không thấy ma theo đúng nghĩa. Chỉ thấy bà nội và mẹ tôi thôi, nhưng mẹ tôi không nói chuyện hay hiện ra với tôi, mẹ chỉ đập phá các thứ thôi. Trừ hôm nọ lúc mẹ đọc lại bài thơ cho tôi nghe.” Tôi thở hắt ra. Hai má tôi đang cháy bừng lên. Có lẽ ít lại hơn là nhiều.

“Bài thơ nào cơ?” tôi nghe tiếng anh ta nói. Không phải là lời hồi đáp tôi mong chờ.

“Là một bài thơ thôi,” tôi trả lời. Tôi cảm giác chia sẻ cho anh ta biết đó là bài thơ nào sẽ là quá riêng tu, kể cả khi tôi đã thú nhận mình trò chuyện với những người thân đã mất.

Có một khoảnh khắc im lặng mà tôi chăm chú lắng nghe, chờ đợi tiếng bíp ám chỉ cuộc điện thoại gọi cảnh sát. “Tôi rất tiếc vì họ đều đã mất, CJ,” anh ta nói, giọng anh ta chân thành và nghiêm túc. Tôi liếc lên nhìn anh ta, chờ đợi Ánh Nhìn Cô Bé Mồ Côi Mẹ Đáng Thương, nhưng đó không phải là điều tôi thấy trên gương mặt ấy.

Tôi nghĩ cuối cùng thì có lẽ mẹ anh ta đã mất thật. Tôi quay mặt lại.

Tin tốt là anh ta có vẻ đã quên mất vụ tôi cặp kè với tay của mình. Tin xấu là tôi đang lượt lại cuộc đối thoại mà anh ta có thể đã nghe được. Viết một lá thư tình cho anh ta có lẽ còn bớt lộ liễu hơn. Tôi chẳng biết làm gì ngoài đưa hai tay lên che mắt. Những thời khắc tuyệt vọng đời hỏi cách xử lý kiểu đà điểu. “Anh nghe được bao nhiêu rồi, Oscar?”

“Này, không cần lo về chuyện đó đâu,” anh ta nói. “Tôi cũng không nghe rõ được nhiều. Tôi đang ngủ thì giọng em thâm nhập vào giấc mơ của tôi.”

Anh ta có đang nói sự thật không? Hay chỉ đang tỏ ra tốt bụng thôi? Tôi nói thầm. Tôi xòe các ngón tay ra. Vừa đúng lúc anh ta uể oải bước xuống thang. Sao anh ta di chuyển chậm thế không biết? Nghiêm túc đấy. Không nhìn anh ta thật là một nhiệm vụ bất khả thi, cả không quan sát từng cử động của anh ta, không đợi chờ anh ta đến nơi…

Anh ta lén bước tới sau tôi, sát sàn sạt như hình với bóng.

Thực ra thì chưa chắc vụ Oscar đã thực sự kết thúc. Tôi không giải thích được sự gần gũi này. Và chẳng phải anh ta vừa nói anh ta sẽ hơn cả hạnh phúc nếu được hôn tôi như trong bức tranh đấy sao? Tôi nhớ chính xác cái cách anh ta nói là sẽ: Kiểu gì cũng phải thử một lần cho biết.

“Vậy em đã ước gì thế?” anh ta hỏi. “Tôi thấy em giao cảm với cả nàng thiên thần và bà nội em.” Giọng anh ta trầm ấm, mượt mà, gần gũi và tôi không đủ tin tưởng bản thân mình để trả lời câu hỏi này.

Anh ta đang nhìn tôi bằng cái cách đáng ra phải bị cho là phạm pháp hoặc được đăng ký bản quyền, và nó đang ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ một số thứ của tôi như tên, giống loài và tất cả những lý do mà một cô gái có thể tẩy chay đám con trai. Sao tôi không mảy may quan tâm đến những vận rủi có thể sẽ giáng xuống đầu tôi? Tất cả những gì tôi muốn làm là luồn ngón tay vào mái tóc nâu rối xù của anh ta, ấp tay vào hình chú ngựa xanh trên cổ anh ta, đặt môi mình lên môi anh ta như Sophia đã làm.

Sophia.

Tôi quên béng mất Sophia. Có vẻ như anh ta cũng vậy, dựa vào cái cách mà anh ta vẫn đang nhìn tôi. Đúng là kẻ đáng khinh. Một kẻ đáng khinh tệ hại. Đúng là thằng trai bao chơi bời đểu cáng đê tiện bất lịch sự phóng đãng quỷ quái!

“Tôi vắt hết mấy quả cam anh thả vào túi tôi rồi,” tôi bảo anh ta, tỉnh táo trở lại. “Vắt kiệt từng tép.”

“Oái.”

“Sao anh lại làm thế này?”

“Gì cơ?”

“Tôi không biết nữa, chuyện này, màn kịch này. Cái giọng đó. Nhìn tôi như kiểu tôi là cái… cái… bánh rán. Đứng gần thế này. Ý tôi là anh còn không biết tôi. Đấy là còn chưa kể đến bạn gái anh nữa, nhớ cô ta không?” Tôi đang nói cực lớn tiếng. Tôi đang sủa oang oang. Tôi bị làm sao thế nhỉ?

“Nhưng tôi có làm gì đâu.” Anh ta giơ hai tay lên như đang xin hàng. “Không diễn. Đây là giọng tôi - vừa ngủ dậy. Tôi không nghĩ em giống cái bánh rán tẹo nào, cả hình dạng lẫn dáng dấp, tin tôi đi. Tôi không tán tỉnh em. Tôi tôn trọng vụ tẩy chay.”

“Tốt, vì tôi không hứng thú đâu.”

“Tốt, vì mục đích của tôi hoàn toàn cao đẹp.” Anh ta ngừng lại, rồi nói, “Em đọc Jane Austen chưa? Người Anh chúng tôi còn cứng nhắc hơn người Mỹ bọn em nhiều, chẳng phải thế sao?”

Tôi há hốc miệng. “Tưởng anh không nghe thấy gì!”

“Tôi chỉ lịch sự thôi. Người Anh chúng tôi rất lịch sự, em biết đấy.” Anh ta đang cười nham nhở như điên, kiểu như anh ta không có não vậy. “Tôi tin là tôi nghe rõ hết từng từ.”

“Không phải là về anh đâu…”

“Không à? Về một gã khác cũng lái xe mô tô, mắt hai màu và đứng tựa lưng như James Dean à? Nhân tiện, cảm ơn em. Chưa ai từng bình luận về cái cách tồi đứng tựa lưng cả.”

Tôi thực sự không biết phải định hướng khoảnh khắc này theo hướng nào khác ngoại trừ chạy trốn. Tôi quay phắt đi và lao về phía phòng xà lim.

“Còn nữa,” anh ta nói, cười cái điệu hồ hỡi của mình. “Em nghĩ tôi nóng bỏng. Thực ra là quá nóng bỏng. Tôi tin trích dẫn đúng từ ngữ là nóng bỏng quá mức cần thiết.” Tôi đóng cửa phòng lại, nghe ngóng qua cửa. “Và tôi không có bạn gái, CJ ạ.”

Anh ta đang đùa tôi đấy à? “Sophia có biết chuyện đó không?” tôi hét loạn lên như một kẻ gàn dở.

“Thực ra thì cô ấy biết!” anh ta đáp, cũng gàn dở chẳng kém. “Bọn tôi chia tay nhau rồi.”

“Bao giờ?” Chúng tôi đang hò hét ở hai bên cửa.

“Ôi, hơn hai năm rồi.” Hai năm rồi? Nhưng nụ hôn đó. Nó không kéo dài và vương vấn như tôi nghĩ sao? Nỗi lo lắng có thể bóp méo nhận thức; tôi biết điều đó. “Gặp ở một bữa tiệc và tôi tin bọn tôi kéo dài được năm ngày.”

“Đó có phải là kỷ lục với anh không?”

“Thực ra kỷ lục là chín ngày cơ. Mà tôi không nhận ra là em thuộc Lực Lượng Cảnh Sát Đạo Đức đấy!”

Tôi nằm trên nền bê tông lạnh giá và để mặc bụi bẩn ô uế, vi khuẩn và bào tử mốc đen cực độc thích làm gì tôi thì làm. Lòng tôi đang dậy sóng. Nếu tôi không lầm, Oscar và tôi vừa cãi nhau. Tôi chưa hề cãi nhau với ai từ khi mẹ mất. Cảm giác cũng không tệ lắm.

Chín ngày là kỷ lục của anh ta. ÔI CHÚA TÔI. Anh ta chính là gã đó.

Tôi đang cố nắm bắt sự tình, tự hỏi bao giờ Guillermo mới về, cố gắng tập trung vào lý do tôi ở đây, bức tượng tôi phải tạc, cố buộc bản thân phải nghĩ đến thứ quái gì có thể ở trong hòn đá luyện tạc của tôi, và không nghĩ đến điều tôi vừa phát hiện ra rằng Sophia và Oscar không phải là một cặp! - thì cửa mở ra và Oscar bước vào, vẫy vẫy cái khăn lấm đầy đất sét.

Anh nhướng một bên mày lên khi thấy tôi nằm trên sàn như một cái xác nhưng không bình luận gì. “Cờ trắng,” anh nói, giơ cái khăn không trắng nhất quả đất lên. “Anh đến với thiện chí.” Tôi chống hai khuỷu tay vươn mình dậy. “Nghe này, em đã đúng,” anh nói. “Thực ra thì đúng một phần. Đó đúng là một màn kịch. Anh là một màn kịch. Toàn là diễn cả. Khoảng chín mươi tám phần trăm thời gian là vậy. Mục đích của anh hiếm khi cao đẹp. Bị phát hiện một lần cũng không tệ đến thế.” Anh bước tới chỗ bờ tường. “Xem đây. Thưa các quý bà và quý ông: Cái Tựa Lưng.” Anh tựa một vai vào tường, khoanh tay lại, vểnh đầu lên, nheo mắt lại, bắt chước James Dean còn giỏi hơn cả James Dean. Tôi bật cười không kiềm chế nổi, trúng đích rồi. Anh mỉm cười. “Được rồi. Tiếp sang chuyện khác.” Anh phá vỡ thế đứng đó và bắt đầu lò dò đi quanh căn phòng nhỏ theo phong cách luật sư xử án. “Anh cần nói chuyện với em về mấy quả cam đấy và cái ruy băng đỏ trên cổ tay em và củ hành tây to đến không thể tin nổi em mang theo mấy ngày nay rồi…” Anh nhìn tôi vẻ bắt được rồi nhé, rồi nhét tay vào túi trước quần jean và lôi ra một cái vỏ sò hình ốc xà cừ bị mẻ. “Anh muốn em biết anh không đi bất cứ đâu mà không mang theo vỏ sò thần kỳ của mẹ anh vì nếu không anh sẽ chết, chắc chỉ trong vài phút.” Chuyện này lại khiến tôi bật cười. Cái cách anh có thể rất quyến rũ thật đáng báo động. Anh quăng nó cho tôi. “Hơn nữa, anh trò chuyện với mẹ mình, người đã mất ba năm trước, trong các giấc mơ. Đôi khi anh nói, “anh đi ngủ giữa chiều như hôm nay chỉ để xem mẹ có nói chuyện với anh không. Em là người duy nhất được nghe anh kể những chuyện này, nhưng dù sao anh cũng nợ em vì ban nãy đã nghe trộm.” Anh bước đến gần tôi, giật cái vỏ sò lại từ tay tôi, nhăn nhở dễ thương như trẻ con. “Anh biết là em sẽ muốn bóp vỏ sò của anh mà. Còn lâu nhé. Tài sản anh trân trọng nhất đấy.” Anh nhét nó lại vào túi, đứng ngay bên tôi, đôi mắt anh lấp lánh, nụ cười anh liều lĩnh, hỗn loạn, hấp dẫn đến khó cưỡng.

Chúa. Nhân. Từ. Với. Linh. Hồn. Tẩy. Chay. Của. Con.

Điều tiếp theo tôi biết là anh cúi xuống gần tầm mắt tôi rồi nằm xuống sàn đất bẩn thỉu cạnh tôi. Phải. Âm thanh mà chỉ có thể miêu tả như một tiếng ré sung sướng tuôn ra từ tôi. Anh khoanh hai tay lại trước ngực và nhắm mắt lại như tôi đã nhắm khi anh đi qua cửa. “Cũng không tồi,” anh nói. “Kiểu như mình đang trên bãi biển ý.”

Tôi nằm lại xuống cạnh anh. “Hoặc trong quan tài.” “Anh thích em ở chỗ em lúc nào cũng lạc quan thế đấy.”

Tôi bật cười lần nữa. “Em thích vì anh nằm xuống sàn với em,” tôi lạc quan nói, lạc quan cảm nhận, biết rằng trong cuộc đời mình chẳng ai lại nằm xuống sàn với tôi thế này. Hay ai đó mang vỏ sò trong túi để không chết. Hay ai đó đi ngủ để có thể nói chuyện với mẹ họ.

Một sự im lặng dễ chịu bao trùm lấy chúng tôi. Thực sự dễ chịu, như thể chúng tôi đã nằm trên mặt sàn bẩn thỉu trong tư thế xác chết thế này với nhau đến giờ đã vài kiếp rồi.

“Bài thơ là của Elizabeth Barrett Browning,” tôi bảo anh.

“Anh yêu em nhường nào?” anh ngân nga. “Để anh đếm các cách.”

“Đúng bài đó rồi,” tôi nói, nghĩ bụng: Đúng là anh rồi. Và có những ý nghĩ một khi đã nghĩ tới thì rất khó để không nghĩ đến nữa. “Thực ra thì cảm giác cũng khá giống nằm trên bãi biển,” tôi nói, càng lúc càng phấn khởi. Tôi cuộn mình nằm nghiêng sang một bên, tay kê dưới đầu, lén ngắm nghía gương mặt tâm thần của Oscar. Cho tới khi anh ti hí một mắt và bắt quả tang tôi đang say mê chiêm ngưỡng anh - bắt quả tang em nhé, nụ cười của anh nói. Anh nhắm mắt lại. “Đáng buồn thay em lại không hứng thú.”

“Em không!” tôi kêu lên, lăn lại xuống bãi biển đầy cát. “Chỉ là sự hiếu kỳ về mặt nghệ thuật thôi. Anh có một gương mặt hết sức khác thường.”

“Và em có một gương mặt đẹp đến sững sờ.”

“Anh đúng là gã hay tán tỉnh,” tôi nói đầy sôi nổi.

“Anh nghe câu đó rồi.”

“Anh còn nghe gì nữa không?”

“Hừm. Rủi thay, mới đây thôi anh được bảo nếu không tránh xa em ra, anh sẽ bị thiến.” Anh ngồi dậy và quay mòng mòng hai tay trên không như Guillermo. “Thiến đấy, Oscore! Hiểu không hả? Cậu đã thấy tôi dùng máy cưa tròn rồi, đúng không?” Anh lại bình tĩnh trở lại là mình. “Cũng là lý do anh vẫy cờ trắng vào đây. Anh hay phá hỏng mọi chuyện và anh không muốn phá hỏng chuyện này. Suốt mấy năm nay, ngoài anh ra, em là người đầu tiên khiến G. cười. Việc ông ấy lại giảng dạy thực sự là một phép mầu. Chúng ta đang nói đến phép mầu của Chúa đấy, CJ. Em không hiểu nổi đâu. Một phép mầu ư? Như kiểu em đã yểm thần chú lên ông ấy vậy. Ở gần em… anh không biết nữa… ông ấy lại ổn. Ông ấy đã điên tiết suốt bao lâu nay rồi. Có khả năng tôi là đồng cỏ của Guillermo như ông là đồng cỏ của tôi không? “Vả lại, giờ chúng ta đều đã biết cả hai đều giao cảm với những người bạn vô hình.” Anh nháy mắt. “Nên là” - anh chụm hai tay lại với nhau - “thể theo yêu cầu của em và ông ấy, từ giờ trở đi mọi chuyện sẽ diễn ra theo cách này. Khi anh muốn rủ em tới những tòa nhà bị bỏ hoang, hay hôn đôi môi đó của em, hay nhìn chằm chằm vào đôi mắt như một thế giới khác của em, hay tưởng tượng ra em trông như thế nào dưới đống quần áo lùng thùng tẻ nhạt mà em luôn trốn tránh bên trong, hay cưõng đoạt em trên cái sàn bụi bặm như anh đang muốn ghê gớm ngay giây phút này, anh sẽ nẩy đi chỗ khác trên quả bóng Hippity Hop. Thỏa thuận thế nhé?” Anh giơ tay ra. “Bạn bè. Chỉ bạn bè thôi.”

Quả là những tín hiệu lẫn lộn; anh như một cái tàu lượn biết nói ấy.

Không thỏa thuận gì hết, không đời nào. “Thỏa thuận thế đi,” tôi nói và nắm lấy tay anh, nhưng đơn giản chỉ vì tôi muốn chạm vào anh.

Từng tích tắc trôi qua, hai tay chúng tôi đan vào nhau, dòng điện mãnh liệt chạy khắp cơ thể tôi. Và rồi Oscar chậm rãi kéo tôi về phía anh, nhìn vào mắt tôi kể cả khi anh vừa thề sẽ không làm thế và hơi nóng trào dâng trong bụng tôi lan tỏa khắp nơi. Tôi cảm nhận thấy cơ thể mình rộng mở. Anh chuẩn bị hôn tôi à? Anh có làm vậy không?

“Ôi,” anh nói, thả tay tôi ra. “Chắc anh nên đi.” “Không, đừng. Làm ơn đừng đi.” Từng từ tuôn ra khỏi miệng tôi trước cả khi tôi kịp dừng chúng lại.

“Anh ngồi ra đằng này vậy, ở đó an toàn hơn,” anh nói, chuồn ra cách tôi độ vài mét. “Anh đã nói là anh gặp vấn đề kiểm soát cơn bốc đồng chưa nhỉ?” Anh cười. “Anh đang gặp phải cơn bốc đồng mạnh đặc biệt đây, CJ.”

“Nói chuyện thôi vậy,” tôi nói, tim tôi loạn nhịp. “Nhớ cái cưa tròn không?” Tiếng cười của anh nhào lộn từ bên kia phòng sang. “Anh có kiểu cười rất hay nhé,” tôi buột miệng. “Kiểu oa, rất là…”

“Em chẳng giúp ích được gì cả. Làm ơn giữ mấy lời khen cho bản thân đi. Ôi!” Anh lại đi về phía tôi. “Anh biết rồi! Có một ý tưởng.” Anh kéo mũ tôi xuống che kín cả mặt và nửa cổ tôi. “Đó,” anh bảo. “Hoàn hảo. Mình nói chuyện đi.”

Chỉ có điều lúc này tôi đang cười trong cái mũ trong khi anh cười ngoài cái mũ, chúng tôi đang bị cuốn đi thật xa, và tôi không nghĩ từ trước đến nay tôi đã từng hạnh phúc thế này bao giờ.

Cười đến mất kiểm soát trong một cái mũ len thì cực kỳ nóng và ẩm ướt, vậy nên sau một lúc, tôi kéo mũ lên và thấy anh ở đó, mặt anh đỏ bừng, chảy cả nước mắt vì thực sự mất kiểm soát, và lấp đầy trong tôi là một thứ mà tôi chỉ có thể miêu tả là cảm giác chợt nhận ra. Lần này không phải chỉ vì vẻ bề ngoài của anh trông quen quen mà vì tôi cảm thấy nội tâm anh đầy thân thuộc.

Gặp được tri kỷ cũng giống như bước vào một căn nhà ta từng vào trước đó - ta sẽ nhận ra đồ đạc, những bức ảnh trên tường, những cuốn sách trên kệ, mọi thứ trong ngăn kéo: Ta có thể tìm đường trong bóng tối nếu buộc phải làm vậy

“Vậy nếu anh diễn cả chín mươi tám phần trăm thời gian,” tôi nói, chỉnh đốn lại mình. “Còn hai phần trăm kia thì sao?”

Câu hỏi ấy có vẻ đã hút cạn tiếng cười còn gieo rắc trên gương mặt anh và ngay lập tức, tôi hối hận vì đã hỏi. “Ừ, không ai gặp anh chàng đó cả,” anh nói.

“Tại sao?”

Anh nhún vai. “Có thể em không phải là người duy nhất đang trốn tránh.”

“Sao anh lại nghĩ em đang trốn tránh?”

“Chỉ nghĩ vậy thôi.” Anh dừng lại, rồi nói, “Có lẽ là vì anh đã dành không ít thời gian ngắm nghía những bức ảnh chụp em. Chúng hé lộ rất nhiều đấy.” Anh nhìn tôi đầy hiếu kỳ. “Nhưng em có thể nói cho anh nghe tại sao em lại đang trốn tránh.”

Tôi cân nhắc phương án ấy, cân nhắc anh. “Giờ khi chúng ta là bạn bè, chỉ bạn bè. Anh có phải là người bạn em gọi nếu em phát hiện ra mình sở hữu một xác chết và một con dao đầy máu me trong tay không?”

Anh cười. “Phải. Anh sẽ không giao nộp em. Bất kể chuyện gì xảy ra.”

“Em tin anh,” tôi nói, khiến chính mình ngạc nhiên, và từ biểu cảm trên gương mặt, anh cũng vậy. Tại sao tôi lại tin tưởng người vừa nói với tôi rằng anh ấy diễn cả chín mươi tám phần trăm thời gian mà tôi không biết? “Em cũng sẽ không giao nộp anh,” tôi nói với anh. “Bất kể chuyện gì xảy ra.”

“Có thể em sẽ giao nộp anh,” anh nói. “Anh đã làm một vài chuyện khá kinh khủng đấy.”

“Em cũng thế,” tôi nói, và đột nhiên tôi muốn dốc bầu tâm sự với anh hơn gì hết.

Viết tội lỗi của bạn lên những quả táo vẫn còn treo trên cây;

khi chúng rụng, gánh nặng của bạn cũng rụng

(Không có cây táo nào ở Vịnh Mất Tích. Tôi đã thử với cây mận, cây mơ và cây bơ vẫn trĩu gánh nặng.)

“Vậy thì,” anh nói, nhìn chằm chằm hai tay đang chụm trước mặt. “Nếu làm em thấy thoải mái được phần nào, anh khá chắc những điều anh đã gây ra còn tệ hơn bất cứ việc gì em đã làm cả trăm lần.”

Tôi định lên tiếng bác bỏ điều đó, nhưng vẻ bứt rứt trong đôi mắt anh khiến tôi câm lặng. “Khi mẹ anh ốm,” anh chậm rãi nói. “Mẹ con anh chỉ đủ tiền thuê một cô y tá ban ngày. Mẹ anh không tới bệnh viện nữa và Sở Y tế Quốc gia không chi trả tiền thuê y tá. Nên anh chăm sóc mẹ vào ban đêm. Chỉ có điều anh lại bắt đầu nốc cả nắm thuốc giảm đau của mẹ. Anh mê man suốt, ý anh là suốt luôn.” Giọng anh dần trở nên lạ lẫm, căng thẳng, không chút du dương. “Chỉ có anh và mẹ, lúc nào cũng vậy, không có những người thân khác.” Anh dừng lại, hít một hơi thật sâu. “Một tối, mẹ bị ngã khỏi giường, chắc mẹ cần cái bô, nhưng rồi sau khi mẹ ngã, mẹ không thể đứng dậy nổi. Mẹ quá ốm yếu.” Anh nuốt khan. Mồ hôi lấm tấm trên trán anh. “Mẹ nằm suốt mười lăm tiếng đồng hồ trên sàn, run rẩy, đói khát trong đau đớn tột cùng, gọi anh trong khi anh ngất lịm ở phòng kế bên.” Anh từ từ thở ra. “Và đó chỉ là mẩu chuyện vặt khai vị thôi đấy. Anh có đủ chuyện để viết cả một quyển sách.”

Mẩu chuyện vặt khai vị thực sự bóp nghẹt anh. Và cả tôi. Cả hai chúng tôi đều thở rất nhanh và tôi có thể cảm nhận thấy nỗi tuyệt vọng của anh đang choán lấy tôi như thể nó là của chính tôi. “Em rất tiếc, Oscar.”

Ngục tù tội lỗi mà cô cố vấn ở trường đã đề cập đến, anh cũng ở trong một gian.

“Chúa ơi.” Anh đang ấn lòng bàn tay lên trán. “Không thể tin nổi anh lại nói với em điều đó. Anh chưa bao giờ nói về chuyện đó. Không nói với ai cả, kể cả G., kể cả ở các buổi họp.” Gương mặt anh đã đạt đến một tầm hỗn loạn mới khác hẳn mọi khi. “Em thấy chưa? Anh diễn thì tốt hơn phải không?”

“Không,” tôi nói. “Em muốn biết tất cả về anh. Một trăm phần trăm.”

Điều này có vẻ như khiến anh càng thêm phần bối rối. Anh không muốn tôi biết một trăm phần trăm con người anh, nếu vẻ mặt anh ám chỉ bất cứ điều gì. Sao tôi lại nói thế? Tôi nhìn xuống, xấu hổ, và khi ngước mắt nhìn lên, tôi thấy anh đang đứng lên. Anh không nhìn vào mắt tôi.

“Anh cần làm vài việc trên tầng trước ca làm ở La Lune,” anh bảo, đã đứng ở ngay cửa. Anh đang muốn trốn thoát khỏi tôi thật nhanh.

“Anh làm ở quán cà phê đó à?” tôi hỏi, trong khi điều tôi muốn nói là: Em hiểu. Không phải hiểu hoàn cảnh đâu, mà là nỗi tủi thẹn. Em hiểu vũng cát lầy của nỗi tủi thẹn.

Anh gật đầu, rồi không kiềm chế nổi, tôi hỏi, “Anh nói em là cô ấy trong ngày đầu tiên ở nhà thờ. Ý anh là ai cơ? Và làm sao mẹ anh có thể tiên đoán về em được?”

Nhưng anh chỉ lắc đầu và cúi đầu đi ra khỏi phòng.

Lúc đó tôi mới nhớ tôi vẫn còn giữ mẩu thư Guillermo gửi cho Em yêu trên người. Tôi đã cuộn mẩu thư lại và buộc ruy băng đỏ may mắn quanh nó. Nhưng đến tận bây giờ tôi mới hiểu tại sao mình làm thế.

Để giành được trái tim của chàng, nhét mẩu thư tình say đắm nhất từng được viết vào túi áo khoác của chàng

(đang vội viết kinh đây. Tôi có nên làm điều này không? Có nên không?)

“Này, một giây thôi, Oscar.” Tôi bắt kịp anh ngoài cửa và phủi một lớp bụi trên lưng áo khoác của anh xuống. “Sàn nhà bẩn thật đấy,” tôi nói trong khi nhét những từ ngữ cháy bỏng vào túi áo anh. Trong khi tôi ấn nút khởi động cho cuộc đời mình.

Rồi tôi đi đi lại lại quanh càn phòng nhỏ chờ Guillermo về để tôi có thể bắt đầu tạc đá, chờ Oscar đọc được mẩu thư tình và chạy ùa đến với tôi hoặc chạy trốn khỏi tôi. Một cái van nào đó trong tôi đã bị vặn lỏng và một thứ gì đó đang rò rỉ, khiến tôi cảm thấy mình hoàn toàn khác với đứa con gái tẩy chay con trai từng bước vào xưởng điêu khắc này với mẩu nến cháy rụi trong túi để dập tắt xúc cảm yêu đương. Tôi nghĩ đến việc cô cố vấn nói rằng tôi là căn nhà trong rừng không có cửa ra vào hay cửa sổ. Không có lối vào hay lối ra, cô ấy đã nói như thế. Nhưng cô ấy đã sai, vì: Những bức tường đã đổ sụp xuống.

Và rồi ngay tức khắc, từ phía bên kia xưởng, hòn đá luyện tạc của tôi như thể đã bắc loa để thông báo cho tôi biết trong đó có gì.

Thứ ngủ say trong tim là thứ ngủ say trong đá.

Có một bức tượng tôi cần phải tạc trước, và đó không phải là tượng mẹ tôi.

Tôi bị bao vây bởi những người khổng lồ.

Ở trung tâm khu vực điêu khắc ngoài trời là một trong những cặp đôi vĩ đại nhưng chưa hoàn thành của Guillermo, và tựa vào hàng rào phía xa là một tác phẩm khổng lồ khác với cái tên Ba anh em. Tôi cố gắng không nhìn trực diện vào họ trong khi Guillermo giải thích các kỹ thuật tạc khác nhau trên hòn đá luyện tạc của tôi. Bạn chỉ cần biết rằng họ không phải những người khổng lồ vui vẻ cho lắm, ba anh em bằng đá đó ý. Tôi trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ có thể tìm được: một bộ đồ nhựa, kính bảo hộ và mặt nạ, vì tối qua tôi nghiên cứu đôi chút về những rủi ro sức khỏe khi tạc đá và tôi ngạc nhiên là lại có bất cứ một thợ tạc đá nào sống quá được ba mươi tuổi. Trong khi Guillermo hướng dẫn tôi cách để không làm bạc mặt đá, cách dùng giũa, cách thực hiện động tác gọi là khắc chéo song song, cách chọn loại đục thích họp với mỗi nhiệm vụ và góc độ nào là phù họp nhất với kiểu tạc nào, tôi thất bại trong nỗ lực không chìm đắm suy tư về Oscar và mẩu thư tình ăn cắp mà tôi đã đưa cho anh. Có lẽ không phải là ý tưởng hay ho nhất của tôi, cả ăn cắp mẩu thư và đưa mẩu thư cho người khác. Vấn đề về kiểm soát cơn bốc đồng, hiển nhiên là thế.

Cố tỏ ra kín đáo, tôi xoay xở chêm ngang được vài câu hỏi về Oscar giữa những câu hỏi khác về vị trí đặt đục và tạo dựng hình mẫu. Tôi tìm hiểu ra được những điều sau: Anh mười chín tuổi. Anh bỏ học cấp ba ở Anh, thi bằng trung học bổ túc ở đây và giờ là sinh viên năm nhất tại Đại học Vịnh Mất Tích, chủ yếu học về văn học, lịch sử nghệ thuật và nhiếp ảnh. Anh có một phòng ký túc xá nhưng thỉnh thoảng vẫn ở trên gác xép.

Tuy nhiên, tôi nhận ra tôi đặt câu hỏi không được kín đáo như mình nghĩ khi Guillermo đặt tay dưới cằm tôi, nâng khuôn mặt tồi lên để ánh mắt chúng tôi chạm nhau và nói, “Oscore? Cậu ấy giống như…” Ông đặt nắm tay lên ngực để hoàn thành câu nói. Như trái tim của ông? Con trai của ông? “Ta bảo bọc cậu ấy từ khi cậu ấy còn rất trẻ, rất rối loạn. Cậu ấy chẳng có ai cả.” Gương mặt Guillermo đầy ấm áp. “Với Oscore, mọi chuyện rất kỳ lạ. Khi ta chán ngán tất cả mọi người, ta không hề chán ngán cậu ấy. Ta không hiểu nổi tại sao lại thế. Và cậu ấy đánh cờ rất giỏi.” Ông giữ lấy đầu như bị đau đầu. “Ý ta là rất rất giỏi. Giỏi đến mức khiến ta phát điên.” Ông nhìn tôi. “Nhưng nghe cho kỹ đây. Nếu ta có một cô con gái, ta sẽ không để con bé ở chung một bang với cậu ta. Hiểu chứ?” Ờm? To và rõ ràng. “Khi Oscore hít vào, lũ con gái lũ lượt kéo về từ khắp mọi nơi bám lấy cậu ta, và khi cậu ta thở ra…” Ông ra hiệu bằng cử chỉ bàn tay ám chỉ lũ con gái bị thổi bay, bị bật tung theo đúng nghĩa đen, hay nói cách khác: nổ thành trăm mảnh. “Cậu ta còn quá trẻ, quá dại khờ, quá lơ đễnh. Ta cũng từng là người như thế. Ta không hiểu phụ nữ, không hiểu tình yêu, cho tới mãi sau đó. Hiểu chứ?”

“Hiểu rồi ạ,” tôi nói với ông, cố giấu giếm nỗi thất vọng đang kéo chùng ruột gan mình xuống. “Cháu sẽ tắm trong giấm, tọng vài quả trứng sống và sẽ bắt đầu tìm kiếm một tổ ong bầu đặt lên đầu ngay lập tức ạ.”

“Ta không hiểu thế là sao,” ông nói.

“Để đảo chiều khuynh hướng của trái tim. Vốn hiểu biết cổ xưa của gia đình ạ.”

Ông cười. “À. Rất tốt. Trong gia đình ta, bọn ta chỉ chịu đựng thôi.”

Rồi ông đặt phịch cả túi đất sét lên bàn và ra lệnh cho tôi trước tiên phải nhào nặn mẫu tạc, khi giờ tôi đã biết thứ gì ẩn giấu trong hòn đá luyện tạc.

Bức tượng đất sét tôi đang thấy là hai cơ thể bong bóng tròn lăn, vai kề vai, mọi bộ phận của hai dáng hình đều có hình cầu và đầy đặn, lồng ngực phình lên cong vút căng đầy cùng một hơi thở, đầu ngẩng lên cao ngắm trời. Cả bức tượng rộng và cao khoảng ba mươi xăng ti mét. Ngay khi Guillermo đi khỏi, tôi bắt đầu dựng nên bức tượng, và chẳng mấy chốc, tôi đã quên Oscar Tay Thổi Bay Gái, câu chuyện đau lòng anh kể cho tôi, cảm xúc của tôi trong căn phòng xà lim bên anh và cả mẩu thư tôi nhét vào túi áo anh, cho tới khi cuối cùng, chỉ còn tôi và Noah và Jude.

Đây là bức tượng tôi cần tạo ra trước.

Nhiều tiếng sau, khi tôi hoàn thành bức mẫu, Guillermo kiểm tra rồi dùng nó để cầm chì tô các điểm mẫu khác nhau lên hòn đá luyện tạc của tôi, đánh dấu những điểm tôi sẽ đục vào làm “vai” và “đầu”. Chúng tôi quyết định đặt xuất phát điểm vào bên vai ngoài của cậu bé rồi ông mặc tôi tự xử.

Chuyện xảy ra ngay lập tức.

Ngay khoảnh khắc tôi đặt búa lên đục định kiếm tìm Noah và Jude, tâm trí tôi lạc về cái ngày Noah suýt chết đuối.

Mẹ vừa mới mất. Tôi đang ngồi bên máy khâu với bà nội Sweetwine vào lần ghé thăm đầu tiên của bà. Tôi đang viền một chiếc váy thì dường như căn phòng rung lắc tôi, đó là cách duy nhất tôi có thể mô tả cảm giác ấy. Bà nội nói: Đi đi, có điều giống một cơn cuồng phong thổi từ ngữ đến với tôi hơn. Tôi lao dậy khỏi ghế, trèo qua cửa sổ, trượt tuốt từ trên dốc xuống, chân chạm cát vào đúng giây phút Noah đâm xuống nước. Thằng bé không ngoi lên. Tôi biết nó không định ngoi lên. Chưa bao giờ tôi sợ đến thế, kể cả khi mẹ mất. Mạch máu tôi như sôi lên sùng sục.

Tôi nện búa lên đục, quan sát một góc đá vỡ ra, quan sát chính tôi lạo vào sóng biển ngày đông giá lạnh hôm ấy. Tôi bơi nhanh như một con cá mập, người vẫn mặc nguyên áo quần, rồi bắt đầu lặn xuống chỗ thằng bé chìm, tay quạt nước, cố nghĩ về dòng biển, thủy triều, chỗ nước xoáy và tất cả những gì bố đã từng dạy tôi. Tôi để mặc thủy triều cuốn lấy mình, lặn xuống lần nữa, lên rồi xuống, cho tới khi thấy Noah ngửa mặt lên trời nổi lềnh bềnh, còn sống nhưng không còn tỉnh. Tôi lôi nó vào bờ, bơi bằng một tay, mỗi cái quạt tay lại càng khiến tôi chìm xuống dưới sức nặng của thằng bé, sự sống của cả hai đứa đập thình thịch trong tôi, và rồi trên bờ biển, tôi ấn lên xương ức của nó bằng đôi tay run rẩy, thổi hết hơi thở khiếp hãi này đến hơi thở khiếp hãi khác vào cái miệng ướt lạnh của thằng bé, và khi nó tình lại, giây phút mà tôi biết thằng bé ổn rồi, tôi lấy hết sức bình sinh tát thẳng vào mặt nó.

Bởi lẽ sao nó có thể làm chuyện này cơ chứ?

Sao nó có thể lựa chọn bỏ lại tôi trơ trọi ở đây một mình?

Thằng bé nói với tôi rằng nó không cố tự tử, nhưng tôi không tin nó. Cú nhảy đầu tiên ấy khác những cú nhảy sau đó hoàn toàn. Lần đó, nó cố quăng luôn mình khỏi Trái Đất mãi mãi. Tôi biết là thế. Nó muốn bỏ cuộc. Nó đã chọn bỏ đi. Bỏ lại tôi. Và đáng ra nó đã bỏ đi thật nếu tôi không kéo lê nó về.

Tôi nghĩ cái van trong người tôi, cái van bị vặn lỏng trong tôi lúc trò chuyện với Oscar, đã bật tung miếng đệm. Giờ tôi đang nện cái đục mạnh đến nỗi cả cơ thể tôi rung lên, cả thế giới rung lên.

Noah đã ngừng thở. Vậy là có một khoảnh khắc tôi đã sống mà không có thằng bé.

Lần đầu tiên. Chúng tôi đã ở bên nhau ngay cả khi còn trong bụng mẹ. Nỗi kinh hoàng còn không đủ để mô tả cảm giác ấy. Điên tiết cũng không đủ. Tan nát, không. Chẳng có cách nào để mô tả cảm giác ấy cả.

Thằng bé không ở đó. Thằng bé không còn bên tôi nữa.

Tôi bắt đầu vã mồ hôi trong bộ áo liền quần bằng vải nhựa trong khi nện búa lên đục bằng hết sức bình sinh, đầu óc tôi giờ quên sạch các góc cạnh phù họp, chẳng quan tâm đến bất cứ thứ gì Guillermo vừa dạy tôi, chỉ nhớ rằng sau chuyện đó cơn giận Noah trong tôi không tan biến. Tôi không thể xóa bỏ cơn giận ấy và tất cả những gì nó làm chỉ như thêm dầu vào lửa. Tôi tuyệt vọng tìm đến cuốn kinh của bà nội, nhưng dù có cho bao nhiêu quả tầm xuân vào cốc trà, dù có giấu bao nhiêu đá lưu ly dưới gối, tôi cũng không thể xóa bỏ cơn thịnh nộ.

Và tôi lại cảm thấy cơn giận ấy trong khi tôi tạc vào đá, trong khi tôi kéo lê Noah lên khỏi đại dương, trong khi tôi bóc toạc hòn đá, muốn lôi chúng tôi ra, lên khỏi mặt biển phụ bạc, ra khỏi hòn đá ngột ngạt này, muốn chúng tôi được tự do, thì tôi nghe tiếng, “Vậy ra đó là lý do con làm chuyện đó à?” Giọng mẹ và bà nội đồng thanh. Họ thành một đội từ khi nào vậy? Một dàn họp xướng? Họ nói lại lần nữa, tiếng họ như một bản song ca cáo buộc trong đầu tôi. “Vậy đó có phải là lý do không? Vì chuyện xảy ra ngay sau đó. Bọn ta đã thấy con làm thế. Con không nghĩ có ai trông thấy. Nhưng bọn ta đã thấy.” Tôi đặt đục lên phần đá bên kia và cố nện búa át tiếng nói của họ nhưng không thể. “Để con yên,” tôi lẩm bẩm rít lên, cởi phăng bộ đồ nhựa, giật cái mặt nạ và kính bảo hộ ra. “Hai người không có thật,” tôi bảo họ.

Tôi lảo đảo đi vào xưởng, cảm thấy mất phương hướng, hy vọng tiếng nói của họ sẽ không theo đuôi tôi, không chắc liệu có phải tôi đã tưởng tượng ra họ hay không, không chắc bất cứ điều gì.

Bên trong, Guillermo đang miệt mài say mê với một bức tượng đất sét khác - đến giờ là tượng một người đàn ông đang lom khom cúi xuống.

Nhưng ở đây cũng có gì đó không đúng.

Guillermo đang lom khom bên người đàn ông đất sét lúi húi. Tay ông đang nhào nặn nên khuôn mặt bức tượng từ phía sau gáy và ông đang nói tiếng Tây Ban Nha, lời lẽ càng lúc càng thù hằn. Tôi sửng sốt quan sát thấy ông giơ một nắm đấm lên và thụi vào lưng người đàn ông đất sét, để lại một lỗ hổng tôi cảm nhận được trên xương sống của chính mình. Ngay sau đó là một loạt các cú đấm. Ông ấy hung hăng phải biết, Oscar đã nói thế. Tôi nghĩ về bốn bức tường bị đấm lõm trong căn phòng cuồng phong, về ô cửa sổ bị đập, về nàng thiên thần bị vỡ. Ông bước sang một bên để kiểm tra mức độ tàn phá mình vừa gây ra, và trong khi làm thế, ông liếc thấy tôi, sự tàn bạo trên hai nắm đấm của ông giờ hiển hiện trong đôi mắt và hướng trực diện về phía tôi. Ông giơ tay lên và ra hiệu cho tôi đi ra ngoài.

Tôi lùi vào phòng thư tín, tim tôi rộn vang trong lồng ngực.

Không, ở CSA chẳng giống thế này chút nào.

Nếu đây chính là đặt bản thân vào tác phẩm nghệ thuật của mình như ông đã nói, nếu đây là điều kiện cần, tôi không biết nữa, tôi thực sự không biết liệu tôi có sẵn sàng hay không.

Còn lâu tôi mới quay vào xưởng nơi Guillermo hung hăng phải biết đang đánh đập một người đàn ông đất sét vô tội, hay quay ra sân nơi bà nội và mẹ tàn bạo chẳng kém đang chờ đợi để nhiếc mắng tôi, vậy nên tôi lên tầng. Tôi biết Oscar đã đi vì tôi nghe tiếng xe mô tô của anh phóng đi hơn một tiếng trước.

Căn gác xép nhỏ hơn tôi tưởng tượng. Thực ra chỉ là phòng ngủ của một anh chàng. Trên khắp các bức tường đóng đầy đinh và rải rác lỗ đinh ghim chỗ tranh ảnh và áp phích đã bị tháo xuống. Giá sách thì như bị cướp phá. Chỉ có vài cái áo treo trong tủ đồ. Có một cái bàn với máy tính và một dạng máy in nào đó đặt bên trên, chắc để in ảnh. Một bàn làm việc. Tôi tới bên cái giường chưa được dọn, nơi mà ban nãy anh đã hy vọng sẽ mơ thấy mẹ mình.

Trên giường là một mớ ga trải màu nâu, một nùi chăn Mexico đơn độc, một cái gối xẹp lép buồn bã trong áo gối bạc màu. Giường của một anh chàng có vẻ cô đơn. Tôi không kiềm chế nổi; mặc cho những lời cảnh báo, nhũng hồn ma, chế độ tẩy chay con trai đang lung lạc và những luồng thở tiêu diệt con gái rung chuyển cả đất trời, tôi nằm xuống, ngả đầu lên gối của Oscar và hít vào mùi hương thoang thoảng của anh: mùi bạc hà, tươi vui, kỳ diệu.

Oscar không có mùi chết chóc.

Tôi kéo chăn của anh lên tận vai và nhắm mắt lại, trông thấy gương mặt anh, vẻ tuyệt vọng hôm nay khi anh kể cho tôi chuyện xảy ra với mẹ anh. Trong câu chuyện ấy, Oscar thật cô đơn. Tôi hít vào mùi hương của anh, co mình lại làm kén ở nơi anh mơ ngủ, thấy lòng dịu dàng êm ái. Và tôi hiểu tại sao anh lại né tránh như thế. Dĩ nhiên là tôi hiểu.

Mở mắt ra, tôi thấy trên bàn cạnh giường có bức ảnh được đóng khung lại, hình một người phụ nữ với mái tóc xám dài đội mũ rộng vành màu trắng. Bà ngồi trên ghế trong vườn, tay cầm một món đồ uống. Thành cốc lấm tấm hơi nước. Khuôn mặt bà nhăn lại dưới ánh nắng và đậm chất Oscar. Bà đang cười và bằng cách nào đó, tôi biết bà có cùng một điệu cười hồ hởi như anh.

“Tha lỗi cho anh ấy đi ạ,” tôi ngồi thẳng dậy, nói với mẹ anh. Tôi đưa ngón tay chạm vào gương mặt bà. “Anh ấy cần bác tha lỗi cho anh ấy rồi đấy ạ.”

Bà không trả lời. Không như những người thân đã mất của tôi. Nói đến chuyện đó, chuyện gì đã xảy ra với tôi ngoài đó thế không biết? Như cầm đục thụi vào chính tâm tưởng mình vậy. Cô cố vấn nói những hồn ma - cô ấy đã ngoắc tay vẽ hai dấu ngoặc kép khi nói từ đó - thường là biểu hiện của lương tâm tội lỗi. Chuẩn. Hoặc đôi khi là của nỗi mong ngóng trong nội tâm sâu thẳm. Chuẩn. Cô ấy bảo trái tim lấn át trí óc. Niềm hy vọng hay nỗi sợ lấn át lý trí.

Sau khi một người thân qua đời, ta phải che tất cả gương trong nhà để linh hồn người ra đi có thể thăng thiên - nếu không họ sẽ mãi mãi kẹt lại giữa những người sống

(Tôi chưa từng nói cho ai biết điều này, nhưng khi mẹ mất, tôi không chỉ không che hết gương trong nhà mà còn đến hiệu thuốc mua hàng tá gương bỏ túi. Tôi đặt gương khắp nhà, tôi muốn linh hồn mẹ kẹt lại với chúng tôi, muốn kinh khủng khiếp.)

Tôi không biết liệu tôi có tưởng tượng ra những linh hồn hay không, tôi chỉ biết rằng tôi không muốn nghĩ về những điều họ vừa nói với mình, vậy nên tôi bắt đầu nghiên cứu đầu đề đống sách xếp thành chồng bên giường Oscar. Phần lớn là sách lịch sử nghệ thuật, một vài cuốn về tôn giáo và tiểu thuyết. Có một bài luận chìa ra từ một trong số các cuốn sách. Tôi kéo nó ra. Bài luận có tựa đề Cơn thôi thúc xuất thần của người nghệ sĩ, và ở góc giấy đề:

Oscar Ralph

Giáo sư Hendricks

AH 105

Đại học Vịnh Mất Tích

Tôi ôm bài luận vào lòng. Mẹ tôi từng dạy lớp AH 105. Đó là khóa nhập môn lịch sử nghệ thuật cho sinh viên năm nhất. Nếu mẹ không qua đời, mẹ đã gặp Oscar, đọc bài luận này, chấm điểm nó, nói chuyện với anh trong giờ làm việc. Mẹ sẽ thích mê đề tài này: Cơn thôi thúc xuất thần của người nghệ sĩ. Nó khiến tôi nghĩ đến Noah. Thằng bé chắc chắn có cơn thôi thúc xuất thần ấy. Trước kia, tôi có cảm giác không an toàn cho lắm khi nghĩ về cái cách nó có thể yêu một màu sắc hay một con sóc hay thậm chí việc đánh răng nhiều đến mức nào. Tôi lật đến trang cuối bài luận, nơi một điểm A to tướng được khoanh vòng tròn đỏ với dòng chữ: Lý lẽ hết sức thuyết phục, trò Ralph! Tới lúc đó, họ của Oscar mới đâm sầm vào ý thức tôi. Oscar Ralph. Là họ hay là tên, ai quan tâm cơ chứ? Oscar chính là Ralph! Tôi thấy Ralph rồi. Tôi bắt đầu cười. Đây là dấu hiệu. Đây là định mệnh. Đây là phép mầu, bà nội ơi! Đây là Clark Gable đang tỏ ra hết sức hài hước.

Tôi đứng dậy, cảm thấy cả thế giới trở nên tốt đẹp hơn - tôi thấy Ralph rồi! - và ngó ra từ rào chắn trên gác xép để đảm bảo Guillermo không ở trong phòng thư tín nghe tiếng tôi khúc khích một mình trên này. Rồi tôi tới chỗ bàn làm việc vì treo trên ghế là cái áo khoác da của Oscar. Tôi thò tay vào túi và… không có mẩu thư nào cả. Nghĩa là anh lấy nó rồi. Bụng dạ tôi đảo điên quay cuồng.

Tôi mặc áo khoác lên; cảm giác như lao thẳng vào vòng tay anh, và khi đang đắm mình trong cái ghì chặt, trong mùi hương của nó, tôi bỗng liếc xuống bàn và thấy tôi. Khắp cả bàn. Hết bức ảnh này đến bức ảnh khác xếp thành một hàng, một vài bức có giấy nhớ màu vàng dán trên đó, vài bức thì không. Không khí bắt đầu rung lên.

Mẩu giấy nhớ vàng dán trên cùng đề dòng chữ: Lời Tiên Tri.

Bức ảnh đầu tiên có hình băng ghế trống trơn trong nhà thờ chúng tôi gặp nhau. Mẩu giấy nhớ dán trên đó đề: Mẹ nói anh sẽ gặp em trong nhà thờ. Cứ cho là có lẽ mẹ đã nói thế để anh đi nhà thờ đi. Anh cứ quay lại nhà thờ này nhiều lần để chụp ảnh những băng ghế trống.

Bức ảnh thứ hai là hình tôi ngồi trên chính hàng ghế trong bức chụp trước. Mẩu giấy nhớ đề: Rồi một ngày, chúng không còn trống trơn. Chỉ có điều, tôi khó có thể nhận ra chính mình. Trông tôi, tôi không biết nữa, đầy hy vọng. Và tôi không nhớ chút nào là mình đã cười với anh như thế. Tôi không nhớ mình đã từng cười với ai như thế trong cả cuộc đời.

Bức ảnh kế tiếp cũng được chụp ngày hôm đó. Giấy nhớ đề: Mẹ nói anh sẽ biết đó là em ngay lập tức vì em tỏa sáng như một thiên thần. Phải, lúc ấy mẹ phê thuốc giảm đau phải biết, anh cũng thế- như anh đã nói với em rồi đấy - nhưng em thực sự tỏa sáng. Nhìn em mà xem. Tôi nhìn vào một tôi mà Oscar thấy qua ống kính máy ảnh của anh và một lần nữa, tôi khó lòng nhận ra cô gái ấy. Tôi thấy một cô gái với vẻ sung sướng vô ngần. Tôi không hiểu nổi. Tôi chỉ vừa gặp anh vài giây trước thôi mà.

Bức ảnh thứ ba là hình tôi, chụp cùng ngày nhưng trước khi tôi nói anh có thể chụp ảnh tôi. Chắc hẳn anh đã chụp trộm. Đúng vào khoảnh khắc tôi đưa ngón tay lên môi kêu suỵt và nụ cười toe toét của tôi cũng phá luật như nụ cười của anh. Mẩu giấy nhớ đề: Mẹ nói em sẽ hơi kỳ cục một chút. Anh vẽ một gương mặt cười. Thứ lỗi cho anh, không có ý xúc phạm đâu, nhưng em kỳ dị hết cỡ.

Ha! Anh nói không có ý xúc phạm đâu, nhưng với tôi, theo kiểu Anh.

Như thể máy ảnh của anh đã tìm thấy một cô gái khác, cô gái mà tôi ước mình có thể trở thành.

Bức ảnh tiếp theo là hình chụp tôi hôm nay trong phòng thư tín, trò chuyện với bà nội Sweetwine, trò chuyện với không ai cả. Không thể phủ nhận nổi căn phòng trống trải đến nhường nào, tôi cô đơn, bị bỏ mặc đến nhường nào. Tôi nuốt khan.

Nhưng mẩu giấy nhớ viết: Mẹ nói em sẽ như người thân trong gia đình.

Vậy ra anh lên đây để in hình và viết những mẩu giấy này sau khi bỏ mặc tôi một mình dưới tầng sao? Chắc hẳn anh đã muốn nói với tôi những điều này dù rằng anh tháo chạy như chân đi trên lửa.

Nếu bạn mơ thấy mình đang tắm trong bồn, bạn sẽ yêu

Nếu bạn vấp phải cầu thang khi đang lên tầng, bạn sẽ yêu

Nếu bạn vào phòng ai đó và thấy vô vàn những bức ảnh chụp bạn với những mẩu ghi chú đáng yêu đính kèm trên đó, bạn sẽ yêu

Tôi ngồi xuống, không tin nổi bất cứ chuyện gì, không tin nổi có lẽ anh cũng thực sự thích tôi.

Tôi cầm bức ảnh cuối cùng trong chuỗi ảnh lên. Hình chúng tôi hôn nhau. Đúng vậy, hôn nhau. Anh làm mờ khung nền và thêm những vòng xoáy sắc màu rối nhùi vào tất cả mọi thứ xung quanh để chúng tôi trông… giống hệt cặp đôi trong bức tranh! Anh làm thế nào ý nhỉ? Chắc Oscar đã dùng bức ảnh anh chụp tôi tự hôn tay mình rồi ghép hình anh vào.

Mẩu giấy nhớ trên bức ảnh này đề: Em tự hỏi cảm giác có thể thế nào. Cảm giác có thể sẽ thế này đây. Anh không muốn chúng mình chỉ là bạn.

Tôi cũng không.

Gặp gỡ người tri kỷ thực sự giống như bước vào một ngôi nhà quen thuộc. Tôi nhận ra mọi thứ. Tôi có thể tìm đường đi lại trong bóng tối. Những điều luật trong cuốn kinh.

Tôi cầm bức ảnh nụ hôn lên. Tôi sẽ cầm nó đến quán La Lune và bảo anh tôi cũng không muốn chúng tôi chỉ là bạn…

Rồi tiếng bước chân giậm thình thình lên cầu thang, lớn và vội vã, pha lẫn với tiếng cười đùa. Tôi nghe tiếng Oscar nói, “Thích mê lúc họ thừa nhân viên. Mũ bảo hiểm sơ cua ở ngay trên này. Và em có thể mặc áo khoác của anh. Ngồi trên xe sẽ lạnh đấy.”

“Mừng quá, cuối cùng chúng mình cũng đi chơi được với nhau.” Giọng con gái. Cũng không phải là giọng của Sophia xứ Transylvania. Ôi không, làm ơn. Thứ gì đó trong lồng ngực tôi đang sụp đổ. Và tôi có khoảng một giây để đưa ra quyết định. Tôi lựa chọn phương thức dở tệ trong phim, lao vào tủ đóng sập lại trước khi ủng của Oscar giậm qua giậm lại quanh phòng. Tôi không thích cái cách cô này nói đi chơi. Không thích một tẹo nào. Chắc chắn đó là mật hiệu cho cặp kè. Chắc chắc là mật hiệu cho hôn môi, hôn mí mắt nhắm, hôn những vết sẹo và hình xăm con ngựa xanh tuyệt đẹp của anh.

Oscar: Anh thề là anh bỏ áo khoác ở đây mà.

Cô ta: Cô này là ai thế? Xinh quá.

Xáo, xáo. Anh đang quét sạch đống ảnh tôi ra khỏi tầm mắt đấy à?

Cô ta (giọng căng thẳng): Cô này là bạn gái anh à?

Oscar: Không, không. Chẳng là ai cả. Chỉ là một dự án nộp cho trường thôi.

Dao đâm, giữa ngực.

Cô ta: Anh chắc chứ? Chỗ đấy hơi bị nhiều ảnh chụp một cô gái đấy.

Oscar: Thật mà, chẳng là ai cả. Này, lại đây. Ngồi lên đùi anh này.

Lại đây, ngồi lên đùi anh này?

Tôi vừa nói là dao à? Là que chọc đá mới đúng.

Lần này, tôi chắc chắn không có cái bánh rán nào liên quan đến âm thanh thân mật tôi đang nghe. Lần này tôi cũng chắc chắn tôi không hiểu lầm tình bạn với tình cảm trai gái như tôi đã lầm với Sophia. Tôi không hiểu nổi. Tôi không hiểu. Sao cùng một người con trai đã chụp những bức ảnh kia của tôi và viết những mẩu ghi chú kia cho tôi lại đang ve vuốt hôn hít một cô gái khác ở phía bên kia cánh cửa tủ cơ chứ? Tôi nghe tiếng anh gọi tên Brooke giữa những hơi thở nặng nề. Đây đúng là địa ngục trần gian. Chắc hẳn đây chính là sự trừng phạt nghiệp chướng cho cái lần cuối cùng tôi ở trong một cái phòng thay đồ mà đáng ra tôi không nên ở.

Tôi không thể ở trong này.

Kẻ chẳng là ai cả đẩy bật cánh tủ ra. Cô gái nhảy dựng lên khỏi đùi Oscar như một con mèo sửng cồ. Cô ta có mái tóc nâu dài rối bù và đôi mắt hình quả hạnh như lồi ra khỏi đầu khi thấy tôi. Ngón tay cô ta điên cuồng cài lại khuy áo.

“CJ?” Oscar kêu lên. Nửa mặt dưới của anh đầy những vết son môi. Một lần nữa. “Em đang làm gì trên này? Trong đó thế?” Hiển nhiên là một câu hỏi có cơ sở. Rủi thay, tôi đã mất khả năng nói. Và tôi tin là cả khả năng di chuyển nữa. Tôi cảm giác như bị ghim vào khoảnh khắc tệ hại này như con côn trùng chết ngắc. Đôi mắt anh đáp lại trên ngực tôi. Tôi nhận ra mình đang ôm bức ảnh nụ hôn vào ngực. “Em đã thấy rồi,” anh ta nói.

“Chẳng là ai cả, hả?” cô gái tên Brooke nói, nhặt túi của cô ta từ trên sàn và quăng lên vai chuẩn bị, có vẻ như, cho một màn tháo lui nhanh gọn, đầy cáu tiết.

“Đợi đã,” anh nói với Brooke, nhưng rồi ánh mắt anh phóng thẳng về phía tôi. “Mẩu thư của G.?” anh nói, mặt anh lóe lên vẻ gì đó. “Em nhét nó vào túi áo khoác của anh à?”

Tôi chưa hề nghĩ đến chuyện anh sẽ nhận ra chữ viết tay của Guillermo, nhưng dĩ nhiên rồi.

“Mẩu thư nào cơ?” tôi the thé. Rồi tôi bảo cô gái kia, “Tôi xin lỗi. Thật đấy. Tôi chỉ đang, ôi tôi không biết tôi đang làm cái gì trong đó nữa, nhưng giữa chúng tôi không có gì đâu. Không gì cả.” Tôi nhận ra hai chân tôi đã vận hành vừa đủ để đưa tôi xuống tầng.

Đi được nửa đường qua phòng thư tín thì tôi nghe tiếng Oscar từ trên cầu thang. “Kiểm tra túi bên kia đi.” Tôi không quay đầu lại, chỉ lao thẳng xuống hành lang, qua cửa, rồi dọc lối đi, ngồi sụp xuống vỉa hè, thở hổn hển, cảm thấy bụng dạ nôn nao. Tôi đi dọc theo con phố trên đôi chân yếu ớt và run rẩy đến mức tôi không thể tin nổi chúng đang mang mình đi. Rồi khi đã đi hết một dãy nhà và ném sạch lòng tự trọng theo gió bay đi, tôi bắt đầu kiểm tra túi áo khoác, chẳng tìm thấy gì ngoài một hộp phim, vỏ kẹo và một cái bút. Trừ phi… tôi đưa tay vào lớp lót bên trong áo và thấy một đường khóa kéo. Tôi mở khóa kéo ra, thò tay vào và lôi ra một mẩu giấy được gấp lại cẩn thận. Có vẻ như nó đã ở trong này một thời gian rồi. Tôi mở ra. Đó là bản sao có màu của một trong những bức ảnh chụp tôi trong nhà thờ. Bức ảnh với nụ cười toe toét phá luật. Anh ta giữ tôi bên mình sao?

Nhưng đợi đã. Thế thì sao chứ? Chẳng sao cả. Chẳng sao cả, nhất là khi đằng nào anh cũng đã chọn ở bên một người khác, ở bên cô ta ngay sau khi viết ra những mẩu ghi chú tuyệt vời đến thế cho tôi, ngay sau chuyện đã xảy ra giữa chúng tôi trên sàn phòng xà lim - không phải là tôi biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng điều gì đó đã xảy ra thật, điều gì đó có thực, nụ cười cũng như những giây phút căng thẳng còn lại, lúc tôi cảm giác như có lẽ có một chiếc chìa khóa đâu đó và bằng một cách nào đó có thể giải thoát cho cả hai chúng tôi. Tôi thực sự đã cảm thấy thế.

Và rồi: Chẳng là ai cả. Và: Lại đây, ngồi lên đùi anh này.

Tôi tưởng tượng anh hít hà Brooke, hít hà hết cô này đến cô kia như Guillermo đã nói, như anh đã làm với tôi, để giờ anh có thể thở ra và thổi bật tôi thành trăm mảnh vụn.

Tôi thật đần độn.

Xét cho cùng thì người ta vẫn viết những câu chuyện tình cho lũ con gái với trái tim đen tối mà. Những câu chuyện ấy diễn ra thế này đây.

Tôi còn chưa đi hết một dãy nhà - bức ảnh vo tròn trong tay tôi - thì tôi nghe thấy tiếng ai đó sau lưng. Tôi quay lại, chắc mẩm đó là Oscar, căm ghét hy vọng phun trào trong lồng ngực mình, chỉ để trông thấy Noah: mắt trợn trừng lên, rối trí, chẳng có cái khóa móc nào trong nó cả, trông khiếp đảm, như thể thằng bé có gì đó muốn nói với tôi.

Hoàng Đăng Lãnh dịch, Người dịch: Vũ Thu Hương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.