Trao Em Mặt Trời

Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BẢN GHI CHÉP MAY RỦI
JUDE

❊ ❊ ❊

16 tuổi

Tôi đang nằm trằn trọc trên giường, nghĩ ngại về Oscar hôn hít cô nàng Brooke tóc nâu trong lúc tôi sôi sục vì nghiệp chướng trong tủ quần áo. Nghĩ về hồn ma của bà và mẹ đoàn kết đối đầu lại tôi. Nghĩ về Noah là chính. Hôm nay thằng bé làm gì dưới tận xưởng điêu khắc của Guillermo thế không biết? Và tại sao trông nó lại kinh hãi, lại lo lắng đến thế? Thằng bé bảo nó đi chạy, nó hoàn toàn bình thường và chúng tôi chỉ tình cờ gặp nhau trên phố Day mà thôi. Nhưng tôi không tin nó, như tôi đã không tin khi thằng bé nói nó không biết làm sao mà tất cả các tệp tin tôi đánh dấu về Guillermo đều bị xóa sạch. Thằng bé hẳn đã theo đuôi tôi xuống đó. Nhưng tại sao? Tôi có cảm giác mãnh liệt rằng có điều gì đó nó muốn nói với tôi. Nhưng có lẽ nó quá sợ hãi.

Nó đang giấu giếm tôi điều gì chăng?

Và tại sao hôm nọ thằng bé lại lục lọi đồ của tôi? Có lẽ đó không phải chỉ là sự hiếu kỳ. Còn nữa, số tiền khẩn cấp - thằng bé đã dùng số tiền ấy làm gì rồi? Tôi tìm khắp phòng thằng bé khi nó ra ngoài tối nay nhưng chẳng tìm thấy bất cứ thứ gì mới cả.

Tôi ngồi dậy, nghe thấy một tiếng động khả nghi. Những tay sát nhân bằng rìu. Chúng luôn tìm cách đột nhập vào ban đêm khi bố đi hội nghị vắng nhà. Tôi vung chăn ra, xuống khỏi giường, chộp lấy cây gậy bóng chày tôi để dưới gầm giường đề phòng những trường hợp như thế này, và nhanh chóng tuần hành khắp nhà để đảm bảo Noah và tôi sẽ sống sót thêm một ngày nữa. Tôi kết thúc chuyến tuần tra của mình trước cửa phòng ngủ của bố mẹ, nghĩ điều mà tôi vẫn luôn nghĩ: Căn phòng vẫn đang đợi mẹ trở về.

Bàn trang điểm vẫn được trang trí bằng những bình xịt cổ kính, những chai nước hoa Pháp, những cái bát hình vỏ sò chứa đầy phấn mắt, son môi, chì kẻ. Vài sợi tóc đen vẫn giăng trên cái lược bạc. Cuốn tiểu sử của Wassily Kandinsky vẫn nằm úp mặt trên bàn như thể mẹ sẽ cầm quyển sách lên đọc tiếp từ chỗ mẹ bỏ dở.

Nhưng thứ lôi kéo tôi vào phòng tối nay là bức ảnh. Tôi mường tượng bố đặt nó trên tủ đầu giường để thứ đầu tiên bố thấy khi thức dậy mỗi sáng là bức ảnh. Cả Noah và tôi đều chưa từng thấy bức ảnh này cho tới sau khi mẹ mất. Giờ dường như tôi không thể hết mê mệt bức ảnh, mê mệt bố và mẹ trong khoảnh khắc này. Mẹ đang mặc một chiếc váy hippy màu cam nhuộm từng phần và mái tóc đen bồng bềnh thổi vào mặt mẹ. Mắt mẹ được tô vẽ một cách táo bạo bằng phấn côn giống Cleopatra. Có vẻ như mẹ đang cười với bố, người ở ngay cạnh mẹ trên một chiếc xe đạp một bánh, hai tay bố dang sang hai bên để giữ thăng bằng. Nụ cười của bố đầy hoan hỉ. Trên đầu bố là cái mũ chóp cao màu đen theo phong cách của Mad Hatter* và mái tóc vàng hoe cháy nắng dưới mũ dài đến tận ngang lưng bố. (Cuộc trao đổi im lặng giữa bố và Noah khi Noah thấy mái tóc: Ôi Clark Gable ơi.) Có một cái túi đeo vai ở ngang sườn bố, bên trong chứa một chồng đĩa than. Đôi nhẫn cưới lấp lóe trên bàn tay rám nắng của họ. Trông mẹ giống hệt mẹ nhưng bố thì như một con người hoàn toàn khác, người có lẽ thực sự được nuôi dạy bởi bà nội Sweetwine. Có vẻ như tay siêu gàn dở cưỡi xe đạp một bánh này đã cầu hôn mẹ chỉ sau có ba ngày quen biết. Cả hai đều đang học thạc sĩ, bố hơn mẹ đến mười một tuổi. Bố nói bố không thể mạo hiểm để mẹ đi mất được. Chưa một người phụ nữ nào từng khiến bố cảm thấy hạnh phúc vì được sống đến mức đấy.

Mẹ nói chưa người đàn ông nào khiến mẹ cảm thấy an toàn đến thế. Tay siêu gàn dở này khiến mẹ cảm thấy an toàn!

Tôi đặt bức ảnh xuống, tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu mẹ còn sống và bố về nhà sống cùng chúng tôi như mẹ đã quyết. Người mẹ mà tôi biết không có vẻ hứng thú với sự an toàn đến thế. Người mẹ mà tôi biết có cả một khoang trên bảng đồng hồ nhét đầy vé phạt tốc độ. Mẹ mê hoặc sinh viên của cả một giảng đường với sự cường điệu và lòng dam mê của mình, với những ý tưởng mà các nhà phê bình cho là táo bạo và kinh thiên động địa. Mẹ khoác áo choàng! Đi nhảy dù vào sinh nhật thứ bốn mươi của mẹ! Và còn nữa: Mẹ vẫn thường hay bí mật đặt vé máy bay cho một người tới các thành phố trên khắp thế giới (tôi thường tình cờ nghe thấy mẹ đặt vé), rồi để mặc cho chúng hết hạn chỉ một ngày sau - tại sao? Và từ lúc tôi biết nhớ đến giờ, khi mẹ nghĩ không ai trông thấy, mẹ lại đùa với lửa, thử xem mẹ có thể hơ tay trên lửa được bao lâu.

Có lần Noah bảo tôi thằng bé có thể nghe thấy tiếng vó ngựa phi nước kiệu trong mẹ. Tôi biết mà.

Nhưng tôi biết quá ít về cuộc sống của mẹ trước khi có chúng tôi. Chỉ biết rằng trước kia mẹ là, theo lời của chính mẹ: một đứa trẻ quậy phá, chuyển đi chuyển lại qua hết gia đình nhận nuôi bất hạnh này đến gia đình nhận nuôi bất hạnh khác. Mẹ kể với chúng tôi rằng những cuốn sách nghệ thuật trong thư viện thị trấn đã cứu rỗi cuộc đời mẹ, dạy mẹ biết ước mơ và khiến mẹ muốn học đại học. Thực tình thì thế là hết. Mẹ lúc nào cũng hứa sẽ kể tôi nghe mọi thứ khi tôi lớn hơn một chút.

Tôi đã lớn hơn một chút và muốn nghe mẹ kể mọi thứ.

Tôi ngồi xuống bên bàn trang điểm của mẹ, trước tấm gương hình bầu dục thuôn dài đóng trong khung gỗ. Bố và tôi đã đóng hết quần áo vào thùng, nhưng cả hai bố con đều không thể chạm đến bàn trang điểm của mẹ. Cảm giác quá phạm thượng. Đây là bệ thờ của mẹ.

Khi ta nói chuyện với ai đó qua một tấm gương,

linh hồn của hai người sẽ hoán đổi thân thể

Tôi chấm nhẹ nước hoa của mẹ lên cổ và hai cổ tay, và rồi tôi nhớ về tôi lúc mười ba tuổi, ngồi ngay tại chỗ này trước giờ học, cẩn thận chăm chú tô tất cả những đồ trang điểm của mẹ mà tôi không được phép dùng đến trường: son môi màu đỏ đậm nhất mẹ có, tên là Cái Ôm Thầm Kín, phấn côn kẻ mắt đen, phấn mắt màu lam và lục sáng, phấn phủ có nhũ. Lúc đó, mẹ và tôi là hai chiến binh thù địch. Tôi không đi bảo tàng với mẹ và Noah nữa. Mẹ tiến tới từ sau lưng tôi nhưng thay vì nổi điên, mẹ cầm chiếc lược bện bạc lên và bắt đầu chải tóc tôi như mẹ vẫn thường làm khi tôi còn bé. Chúng tôi đóng khung trong tấm gương cùng nhau. Tôi nhận thấy tóc chúng tôi bện vào nhau trên lược, sáng màu và tối màu, tối màu và sáng màu. Qua tấm gương phản chiếu, tôi nhìn mẹ và mẹ nhìn tôi. “Mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn với mẹ con mình và mẹ sẽ bớt lo lắng,” mẹ dịu dàng nói, “nếu con không làm mẹ nhớ đến chính mình nhiều đến thế, Jude ạ.”

Tôi cầm đúng chiếc lược mà mẹ dùng hôm ấy, ba năm về trước, và chải lên tóc cho tới khi từng đầu mấu và nút rối được gỡ ra, cho tới khi chỗ tóc vướng vào lược của tôi nhiều bằng tóc mẹ.

Nếu tóc ta rối vào với tóc ai đó trên một chiếc lược,

cuộc sống của hai người sẽ mãi mãi đan vào nhau ngoài đời thực

Chẳng ai nói cho ta nghe chết đi thực sự là thế nào, hay nó kéo dài bao lâu.

Quay trở lại phòng ngủ của mình, tôi phải dừng cái việc cầm gậy bóng chày lên trước mọi thứ, vì nỗi nhớ thật tệ. Giá mà có điều gì đó thực sự giúp ích được cho mẹ con tôi trong cuốn kinh. Giá có thứ gì đó để lật ngược cái ô tô lại (năm lần, theo lời của nhân chứng), hàn gắn những mảnh vụn kính chắn gió, nắn thẳng thanh rào, làm lốp xe dừng lăn, làm mặt đường bớt tron. Thứ gì đó để hai mươi hai cái xương trong người mẹ, bao gồm bảy cái ở cổ mẹ không gãy, phổi mẹ ngừng xẹp, tim mẹ lại đập và bộ não sáng láng của mẹ ngừng xuất huyết.

Nhưng chẳng thứ gì làm được.

Chẳng thứ gì.

Tôi muốn liệng quyển kinh ngu ngốc vô dụng vào Clark Gable ngu ngốc vô dụng.

Nhưng thay vào đó, tôi áp tai lên bức tường giữa phòng hai đứa để xem tôi có nghe được tiếng Noah không. Hàng tháng trời sau khi mẹ mất, khi nó vẫn thường khóc trong giấc ngủ, tôi dậy khỏi giường khi nghe tiếng thút thít đầu tiên và sang phòng thằng bé, ngồi trên giường nó cho tới khi nó nín. Thằng bé chưa thức dậy một lần nào để thấy tôi ngồi đó trong bóng tối với nó.

Tôi áp cả hai tay lên bức tường giữa chúng tôi, muốn xô nó đổ xuống…

Đó là khi tôi nghĩ ra ý tưởng ấy. Một ý tưởng hiển nhiên đến mức tôi không thể tin nổi là lại mất nhiều thời gian đến thế để nó nảy lên trong đầu tôi. Giây lát sau, tôi ngồi ở bàn học khỏi động máy tính xách tay.

Tôi lên thẳng trang MấtKếtNối.com.

Có bài đăng của Noah gửi Brian, là lời khẩn cầu của thằng bé, như mọi khi:

Em sẽ từ bỏ cả mười ngón tay, cả hai cánh tay. Em sẽ từ bỏ mọi thứ. Em xin lỗi. Em rất xin lỗi. Gặp em lúc 5 giờ chiều. Thứ Năm. Anh biết ở đâu rồi đấy. Em sẽ tới đó hằng tuần vào giờ đó suốt phần đời còn lại.

Không hồi đáp.

Nhưng nếu có một lời hồi đáp thì sao nhỉ? Mạch tôi dồn nhịp. Sao trước giờ tôi không nghĩ đến chuyện này cơ chứ? Tôi hỏi Lời Sấm Truyền: Nếu tôi liên lạc với Brian Connelly thì sao?

Lời tiên tri hết sức dồi dào, khiến tôi không khỏi ngạc nhiên. Hết đường dẫn này đến đường dẫn khác về Brian xuất hiện:

Các nhà tuyển mộ bất ngờ tới Học viện Forrester để mắt tới cầu thủ giao bóng đồng tính “Cây Rìu” cho lượt tuyển nháp thứ ba

Connelly né đợt tuyển nháp và lựa chọn học bổng toàn phần tới Đại học Stanford để ném bóng cho đội Cardinal

Và đường dẫn mà tôi bấm chọn: Người dũng cảm nhất trong làng bóng chày là một chàng trai mười bảy tuổi

Những đường dẫn khác đều được đăng khá gần đây trên tờ Nhật báo Forrester của trường cậu học hoặc trên tờ Tuần báo West wood của thị trấn địa phương, nhưng đường dẫn tôi kích vào được dẫn ở tất cả mọi nơi.

Tôi đọc bài báo đến ba lần. Nó mô tả Brian công khai với toàn trường trong một buổi cổ động trước trận đấu vào mùa xuân năm thứ hai. Đội tuyển bóng chày đang trên đà chiến thắng nhờ cậu giao bóng hai lần mà không ghi nhận cú đánh nào và cú ném nhanh của cậu luôn ổn định ở tốc độ trên 143km/h. Trên sân bóng, mọi chuyện đều rất tuyệt, nhưng ngoài sân lại râm ran những tin đồn về xu hướng tính dục của Brian và phòng thay đồ đã trở thành một vùng chiến sự. Bài báo nói Brian nhận ra cậu có hai lựa chọn: Rời đội tuyển như cậu đã từng làm trong một tình huống tương tự khi cậu còn nhỏ hoặc nghĩ ra điều gì khác thật nhanh. Tại buổi cổ động trước trận đấu, trước toàn thể học sinh trường Forrester, cậu đã đứng dậy rồi phát biểu về tất cả những con người trong quá khứ và hiện tại đã buộc phải rời sân bóng vì định kiến. Mọi người đứng lên ủng hộ cậu nhiệt liệt. Những đồng đội chủ chốt hò dô quanh cậu, cũng vừa kịp lúc những vụ quấy rối ngớt dần. Đội Tigers giành chức vô địch giải liên đoàn mùa xuân năm ấy. Cậu trở thành đội trưởng vào năm ba và tới cuối năm đó thì được đề nghị ký một hợp đồng nhỏ với liên đoàn, nhưng cậu từ chối vì đã giành được học bổng bóng chày của Đại học Stanford. Bài báo kết luận rằng việc Liên đoàn Bóng chày Mỹ giờ đang cố tuyển mộ các cầu thủ đồng tính công khai là dấu hiệu cho thấy lịch sử đang được tạo dựng.

Clark Gable ơi! Nhưng chẳng gì khiến tôi ngạc nhiên mà đơn giản chỉ xác nhận những gì tôi sẵn biết: Brian là con người hay ho hết sảy và cậu ấy với em trai tôi đã yêu nhau.

Tuy nhiên, thông tin gây trố mắt nhất trong bài báo này, bên cạnh sự thật là Brian có thể đang thay đổi lịch sử với các thứ, là cậu đang ở Stanford. Ngay lúc này. Cách chưa đến hai tiếng lái xe! Thế nghĩa là cậu đã nhảy cóc năm cuối trung học, nhưng điều đó là hoàn toàn khả thi nếu xét đến những lúc cậu thao thao bất tuyệt tràng giang đại hải các thứ khoa học không tài nào hiểu nổi. Tôi tìm thấy tờ báo trực tuyến của Đại học Stanford và tìm kiếm tên cậu nhưng chẳng thấy gì xuất hiện cả. Rồi tôi thử thêm lần nữa và tìm kiếm “Cây Rìu”, vẫn chẳng thấy gì. Tôi quay lại bài báo. Có lẽ nào tôi đã đọc nhầm, cậu không nhảy cóc một năm học và sẽ nhập học vào mùa thu năm sau không? Nhưng không, tôi không đọc nhầm. Rồi tôi nhớ ra bóng chày là môn thể thao mùa xuân! Mùa giải chưa bắt đầu. Đó là lý do cậu chưa lên báo. Tôi vào trang web của trường Stanford, tìm danh bạ của sinh viên bậc đại học và vèo một phát, tôi thấy địa chỉ email của cậu. Tôi có nên làm chuyện này không nhỉ? Có nên không? Dây dưa đến chuyện này có sai lầm không?

Không. Tôi phải làm chuyện này vì Noah.

Trước khi kịp thay đổi quyết định, tôi sao chép đường dẫn bài đăng của Noah trên MấtKếtNối và gửi email cho Brian Connelly từ một tài khoản email nặc danh tôi bịa ra.

Giờ mọi chuyện phụ thuộc vào cậu. Nếu muốn, cậu có thể phản hồi với Noah. ít nhất cậu sẽ thấy bài đăng - ai mà biết được cậu đã xem hay chưa? Tôi biết chuyện giữa hai người bọn họ không kết thúc tốt đẹp cho lắm. Không phải vì tôi. Brian gần như không thể nhìn vào mắt Noah hôm đám tang mẹ. Cậu còn không qua nhà chúng tôi sau đám tang. Một lần cũng không. Vậy mà Noah mới là người xin lỗi trên trang web đấy hàng năm trời. Bài báo nói Brian công khai tại buổi cổ động trước trận đấu vào mùa xuân năm thứ hai, tức là ngay sau kỳ nghỉ đông cuối cùng của cậu ở đây. Sau đó, mẹ cậu chuyển lên sống ở xa trên mạn phía Bắc và cậu chẳng bao giờ quay trở lại. Nhưng mốc thời gian thật đáng nghi. Có phải những tin đồn là về cậu và Noah không? Đó có phải là chuyện đã kết thúc mối quan hệ của hai người không? Có phải Noah là đứa loan tin đầu tiên không? Có phải đó là chuyện mà nó xin lỗi mãi không? Ôi, ai mà biết được cơ chứ?

Tôi quay trở lại giường, nghĩ bụng Noah sẽ hạnh phúc nhường nào nếu thằng bé cuối cùng cũng nhận được phản hồi trên bài đăng của nó. Lần đầu tiên sau một thời gian rất dài, con tim tôi thấy nhẹ bẫng. Tôi ngủ thiếp đi ngay lập tức.

Và mơ về những chú chim.

Nếu bạn mơ về những chú chim, một thay đổi to lớn

trong cuộc đời bạn chuẩn bị xảy ra

Sáng hôm sau khi thức dậy, tôi kiểm tra xem Brian đã phản hồi bài đăng của Noah chưa (chưa), kiểm tra xem Noah đã ra khỏi nhà như hôm qua chưa (rồi), và rồi mặc cho nỗi thất vọng đến tận xương tủy về Oscar Tay Thổi Bay Gái và sự khó chịu về Guillermo khùng phải biết với đội ma dân phòng, tôi vẫn ra khỏi cửa.

Tôi cần tạc tảng đá đó cho ra hình NoahvàJude.

Vừa đi dọc hành lang ở xưởng của Guillermo được vài bước thì tôi nghe thấy tiếng lên giọng vọng ra từ phòng thư tín. Guillermo và Oscar đang tranh cãi nảy lửa về chuyện gì đó. Tôi nghe tiếng Oscar bảo, “Bác không thể nào hiểu được! Làm sao mà bác hiểu được cơ chứ?” Rồi Guillermo nói với giọng nghiêm khắc khác thường: “Ta hiểu rất rõ. Cậu mạo hiểm trên cái xe máy đấy, nhưng thế là hết. Cậu là một thằng hèn dưới cái áo khoác da hầm hố ấy, Oscore. Cậu chẳng để ai vào cả. Từ khi mẹ cậu mất đến giờ. Cậu làm người khác tổn thương trước khi cậu kịp tổn thương. Cậu sợ hãi những cái bóng.” Tôi quay đầu và ra được gần đến cửa để đi khỏi thì Oscar nói, “Cháu để bác vào đấy thôi, G. Bác giống như… như một người cha… người cha duy nhất mà cháu có.”

Thứ gì đó chan chứa trong giọng nói của anh cản bước tôi, thiêu đốt tôi.

Tôi tì trán vào bức tường lạnh ngắt, tiếng họ nói giờ đã lắng xuống, không thể nghe ra được nữa, tôi không hiểu nổi tại sao kể cả sau tất cả những chuyện đã xảy ra hôm qua với Brooke, tôi lại muốn chạy đến bên chàng trai mồ côi mẹ ở phòng kế bên, người sợ hãi những cái bóng nhiều đến thế.

Tôi không chạy đến.

Thay vào đó, tôi tới nhà thờ. Và sau một tiếng đồng hồ hay lâu hơn, khi tôi quay trở lại xưởng, tất cả đều tĩnh lặng. Ban nãy, tôi dành thời gian với Ngài Gable, cố không làm một người giàu lòng trắc ẩn. Cố không nghĩ về chàng trai đau khổ sợ sệt dưới lớp áo khoác da hầm hố. Cũng không khó lắm. Tôi ngồi trên băng ghế, cùng băng ghế mà tôi đã ngồi khi Oscar và tôi gặp nhau, đọc đi đọc lại câu thần chú: Lại đây, ngồi lên đùi anh này đến cùng tận thời gian.

Guillermo chào tôi trong phòng thư tín với cái kính bảo hộ trên đầu. Biểu cảm của ông không có vẻ gì như vừa gí cưa tròn vào Oscar. Mặc dù vậy, trông ông có vẻ khác. Mái tóc đen của ông phủ đầy bụi như tổng thống Ben Franklin. Và một cái khăn quàng cổ họa tiết cánh hoa cũng phủ đầy bột trắng quàng quanh cổ ông vài vòng. Ông đang tạc đá à? Tôi liếc lên gác xép - không thấy tăm hơi Oscar đâu. Chắc anh đi rồi. Chẳng ngạc nhiên. Hiển nhiên Guillermo không kiểm soát được cách thương cho roi cho vọt của ông. Tôi còn chẳng nhớ nổi lần cuối cùng bố sửng cồ lên với Noah và tôi như thế là bao giờ. Tôi còn chẳng nhớ nổi lần cuối bố thực sự là một người bố nữa.

“Ta đã sợ là bọn ta dọa cháu sợ chạy mất rồi,” Guillermo nói, săm soi tôi có phần hơi thái quá. Màn soi mới và từ “bọn ta” làm tôi băn khoăn tự hỏi Oscar đã kể những gì với ông rồi. Và nó cũng khiến tôi băn khoăn không biết liệu những gì tôi tình cờ nghe được ban nãy có liên quan đến tôi không. “Oscore nói hôm qua cháu đi khỏi đây trong tâm trạng hết sức buồn bực.”

Tôi nhún vai, cảm nhận được hơi nóng trên mặt. “Cũng không phải là cháu chưa được cảnh báo trước.”

Ông gật đầu. “Giá mà trái tim lắng nghe lý trí, phải không?” Ông vòng một cánh tay quanh tôi. “Thôi nào, thứ tồi tệ cho trái tim lại tuyệt vời cho nghệ thuật. Nghịch lý tệ hại trong cuộc đời của giới nghệ sĩ chúng ta.” Cuộc đời của giới nghệ sĩ chúng ta. Tôi mỉm cười với Guillermo và ông bóp lấy vai tôi giống cái cách tôi đã thấy ông bóp vai Oscar, và ngay lập tức, tâm trạng tôi trở nên tươi sáng. Sao tôi lại tìm được người đàn ông này nhỉ? Sao tôi lại may mắn thế nhỉ?

Khi tôi đi ngang qua chỗ thiên thần đá, tôi vươn tay ra chạm vào tay nàng.

“Những hòn đá gọi ta quay trở lại,” ông nói, phủi bụi xuống khỏi áo choàng. “Hôm nay ta sẽ ra sân với cháu.” Tôi nhận thấy cái áo choàng của ông cáu bẩn và xám xịt nhường nào, hệt như tất cả những cái áo choàng khác treo khắp xưởng. Tôi nên may cho ông một cái đẹp hơn, một cái sặc sỡ sắc màu hợp với ông. Một cái Áo Choàng Bồng Bềnh.

Khi chúng tôi đi qua, tôi thấy người đàn ông đất sét đã sống sót qua trận hành hung hôm qua, còn hơn cả sống sót ấy chứ. Anh ta không còn cúi gập và bại trận mà hiên ngang vươn lên như một cành dương xỉ. Anh ta đã được hoàn thành, khô ráo và tuyệt đẹp.

“Tối qua ta xem đá luyện tạc và mẫu tạc của cháu rồi,” Guillermo nói. “Ta nghĩ cháu sẵn sàng sử dụng ít điện rồi. Trước khi cháu có thể bắt đầu tìm kiếm cặp chị em, cháu còn phải tạc bỏ nhiều đá lắm đấy, hiểu chứ? Chiều nay ta sẽ dạy cháu dùng các dụng cụ điện. Dùng mấy thứ đó cháu phải rất, rất cẩn thận. Cái đục, giống như cuộc sống, còn ban tặng cơ hội thứ hai. Với cưa và khoan, thường sẽ chẳng bao giờ có cơ hội thứ hai nào đâu.”

Tôi đứng lại. “Bác tin điều đó à? Cơ hội thứ hai ý ạ? Ý cháu là trong cuộc sống ý.” Tôi biết câu mình vừa nói nghe như một tập trong chương trình của Oprah, nhưng tôi muốn biết. Vì cuộc sống với tôi có cảm giác như nhận ra mình đang ở trên nhầm chuyến tàu, lao nhầm hướng mà chẳng thể làm bất cứ điều gì.

“Dĩ nhiên rồi, sao lại không chứ? Kể cả Chúa còn phải tạo ra thế giới những hai lần.” Hai tay ông giơ lên cao. “Ngài tạo ra thế giới đầu tiên, quả quyết rằng thế giới ấy thật là khủng khiếp nên Ngài phá hủy nó bằng trận lũ. Rồi Ngài thử lại lần nữa, làm lại từ đầu với…”

“Với Noah,” tôi nói nốt câu của ông.

“Phải, vậy nên nếu Chúa được có hai lần thử thì tại sao chúng ta không được? Hay ba hay ba trăm lần thử?” Ông thầm cười. “Cháu sẽ thấy, chỉ riêng với cưa tròn lưõi kim cương thì cháu chỉ có một cơ hội mà thôi.” Ông vuốt cằm. “Nhưng đôi lúc kể cả khi cháu gây ra một lỗi sai khủng khiếp, chắc cháu nghĩ ta sẽ tự vẫn vì bức tượng đã bị hủy hoại, nhưng cuối cùng khi hoàn thiện, nó sẽ còn tuyệt vời hơn cả khi cháu không gây ra lỗi sai ấy. Đó là lý do ta thích đá. Khi tạc đất sét, cảm giác như ta đang ăn gian. Nó quá dễ dàng. Nó không có ý chí của riêng nó. Đá ghê gớm hơn nhiều. Đá đương đầu với cháu. Trận đấu hoàn toàn công bằng. Đôi khi cháu thắng. Đôi khi chúng thắng. Đôi lúc khi chúng thắng, cháu cũng thắng.”

Bên ngoài, ánh nắng đã tụ họp lại từ khắp mọi ngóc ngách trên Trái Đất. Hôm nay là một ngày tuyệt đẹp.

Tôi quan sát Guillermo trèo thang lên đầu của người phụ nữ khổng lồ. Ông dừng lại giây lát, áp trán vào vầng trán vĩ đại bằng đá của cô trước khi vươn mình lên cao bên trên. Rồi ông hạ kính bảo hộ xuống, kéo khăn lên che miệng - ồ, tôi hiểu rồi, ông quá ngầu nên không thể dùng mặt nạ - nâng cưa tròn lưỡi kim cương đặt trên đỉnh thang lên và quấn dây điện quanh vai. Một âm thanh chẳng khác gì tiếng búa chèn ồn ào vang lên khắp không gian, nhanh chóng theo sau là tiếng rít của đá hoa cương, trong khi Guillermo không chút chần chừ nắm lấy cơ hội và cưa vào đầu Em yêu rồi biến mất trong đám mây bụi.

Hôm nay, trong sân rất đông đúc. Bên cạnh Guillermo, cặp đôi vẫn chưa được hoàn thiện, Ba anh em (hết sức đáng sợ) và tôi, còn có xe mô tô của Oscar vì một lý do nào đó. Còn nữa, bà nội và mẹ đang trong tư thế chuẩn bị, tôi có thể cảm nhận được điều đó. Và tôi cứ nghĩ ai đó đang quan sát tôi từ trên lối thang thoát hiểm, nhưng lần nào tôi ngước lên cũng chỉ thấy Frida Kahlo đang tắm mình trong ánh nắng.

Tôi quên mọi thứ đi và tập trung giải thoát NoahvàJude.

Tôi từ tốn đẽo, đẽo và đẽo vào hòn đá, và trong khi đẽo, giống như hôm qua, thời gian bắt đầu quay ngược lại, tôi bắt đầu nghĩ và không thể dừng suy nghĩ về những chuyện mà tôi thường không để bản thân nghĩ đến, như tại sao tôi không ở nhà khi mẹ đi giảng hòa với bố chiều hôm đó. Tôi không ở đó để nghe mẹ nói chúng tôi sẽ lại là một gia đình.

Tôi không ở đó vì tôi đã chạy trốn với Zephyr.

Tôi nghĩ đến cái cách mẹ ra đi trong lúc vẫn tin rằng tôi ghét mẹ vì đó là tất cả những gì tôi đã nói với mẹ kể từ khi mẹ đá bố ra khỏi nhà. Từ trước cả khi đó nữa.

Tôi rê đục xuống một đường rãnh trên đá và phang búa thật mạnh, đẽo bỏ một khối đá to tướng, rồi lại đẽo một khối nữa. Nếu chiều hôm đó tôi ở nhà chứ không phải ở với Zephyr và trút cơn mưa vận rủi xuống thì mọi chuyện đã khác.

Tôi đẽo bỏ một khối đá nữa, cả một góc, và sức mạnh của cú táng làm bắn những hạt đá lên kính bảo hộ, lên hai gò má sắp phát nổ của tôi. Tôi làm tiếp với góc bên kia hòn đá, hết cú táng này đến cú táng khác, những cú táng trượt làm ngón tay tôi rỉ máu, táng và trượt, đẽo đá, đẽo cả ngón tay, và rồi tôi nhớ đến khoảnh khắc bố nói cho tôi về vụ tai nạn và cái cách tôi quăng hai tay lên bịt lấy tai Noah để bảo vệ thằng bé khỏi điều mà tôi đang nghe. Phản ứng đầu tiên của tôi. Không phải bịt tai chính mình mà là tai của Noah. Tôi đã quên mất rằng tôi đã làm thế. Sao tôi có thể quên được chuyện đó?

Chuyện gì đã xảy ra với bản năng bảo vệ thằng bé? Nó biến đi đâu mất rồi?

Tôi cầm búa và táng lên đục.

Tôi phải giải thoát nó khỏi đá.

Tôi phải giải thoát cả hai chúng tôi khỏi hòn đá ngu ngốc này.

Tôi phang lia lịa lên hòn đá, nhớ lại cái cách nỗi buồn của Noah đong đầy khắp ngôi nhà, từng ngóc ngách, từng kẽ hở. Chẳng còn chỗ nào cho nỗi buồn của tôi và bố. Có lẽ đó là lý do bố bắt đầu đi dạo, để tìm nơi mà trái tim tan vỡ của Noah không với tới. Tôi thường thấy Noah nằm co ro trong phòng và khi tôi cố an ủi thằng bé, nó lại bảo tôi không hiểu được đâu. Tôi không hiểu mẹ nhiều như nó hiểu mẹ đâu. Tôi không thể nào thấu hiểu được cảm giác của nó lúc này đâu. Cứ làm như tôi cũng không vừa mất mẹ ý! Sao thằng bé có thể nói những điều như thế với tôi cơ chứ? Giờ tôi đang phang hòn đá, xẻ bớt mỗi lúc một nhiều đá. Vì tôi không tin nổi nó lại độc chiếm mẹ ngay cả khi mẹ đã mất, hệt như lúc mẹ còn sống. Làm tôi tin rằng tôi không có quyền được đau buồn, được nhớ nhung, được yêu thương mẹ như nó được phép. Vấn đề là tôi tin nó. Có lẽ đó là lý do tôi chẳng khóc bao giờ. Cảm giác như tôi không được quyền.

Rồi ngày hôm đó, thằng bé quăng mình xuống Vực Quỷ và suýt đuối nước, suýt chết, và cơn tức thằng bé trong tôi trở nên điên cuồng và bại hoại, ghê gớm và dữ tợn.

Nên có lẽ hai người đúng rồi đấy, tôi hét lên trong đầu với mẹ và bà. Có lẽ đấy là lý do con làm vậy.

Tôi đang nện hòn đá, làm nó nứt vỡ, vạch trần nó.

Vạch trần nó.

Bộ hồ sơ đăng ký nhập học vào CSA của Noah nằm trên mặt kệ bếp đầy sáng lạn từ tuần trước khi mẹ mất. Nó và mẹ đã cùng nhau niêm phong tệp phong bì lại để lấy may. Họ không biết tôi đã đứng bên cửa quan sát.

Ba tuần sau tai nạn của mẹ, một tuần sau khi Noah nhảy xuống vực, đêm trước hạn nộp hồ sơ của trường CSA, tôi viết tất cả các bài luận trong hồ sơ, dập ghim chúng lại với vài họa tiết trang trí váy, thêm vào hai bộ váy mẫu. Tôi còn gì để mà nộp đâu? Những người phụ nữ bằng cát của tôi đều bị cuốn trôi hết rồi.

Bố lái xe đưa chúng tôi đến bưu điện để gửi bộ hồ sơ. Chúng tôi không tài nào tìm được chỗ đỗ xe nên bố và Noah chờ trên xe trong khi tôi vào bưu điện. Đó là lúc tôi đã làm chuyện đó. Tôi cứ thế làm thôi.

Tôi chỉ gửi bộ hồ sơ của mình.

Tôi đã cướp từ đứa em trai của tôi thứ mà nó muốn nhất trên đời. Loại người nào lại nỡ làm thế cơ chứ?

Dù đã chẳng còn ý nghĩa gì nữa nhưng ngày hôm sau tôi quay lại bưu điện, chạy một mạch tới đó, nhưng rác đã được đổ hết. Mọi mơ ước của thằng bé đều bị đem đi cùng đống rác. Những ước mơ của tôi đến thẳng CSA.

Tôi cứ tự nhủ sẽ nói cho Noah và bố. Tôi sẽ nói cho họ vào bữa sáng, sau giờ học, vào bữa tối, ngày mai, thứ Tư. Tôi sẽ nói cho Noah kịp thời để thằng bé có thể đăng ký lại, nhưng tôi đã không làm vậy. Tôi quá hổ thẹn - kiểu hổ thẹn đến ngạt thở - và chần chừ càng lâu, nỗi hổ thẹn càng lớn, tôi càng không thể thú nhận việc mình đã làm. Cảm giác tội lỗi cũng sinh sôi nảy nở như một thứ bệnh, như tất cả mọi thứ bệnh. Thư viện của bố còn không đủ các thứ bệnh. Ngày này qua ngày khác cứ thế trôi qua, rồi ngày biến thành tuần, và thế là quá muộn. Tôi quá sợ rằng nếu tôi thú nhận, tôi sẽ mãi mãi mất bố và Noah, tôi quá hèn nhát để đối mặt, để sửa chữa, để xoay chuyển tình thế.

Đó là lý do mẹ phá mọi thứ tôi làm. Đó là lý do mẹ không thể tha thứ cho tôi.

Khi CSA thông báo tên các học sinh khóa mới trên trang web của trường, tên thằng bé không có trong danh sách. Tên tôi thì có. Khi thư mời nhập học của tôi được gửi đến, tôi chờ Noah hỏi về thư từ chối của nó, nhưng thằng bé không hỏi. Tới lúc đó nó đã hủy hoại hết tất cả những tác phẩm nghệ thuật của mình rồi. Và vào một lúc nào đó trước tất cả chuyện này, hẳn thằng bé đã gửi các bức ảnh chụp những bức phù điêu cát của tôi và giúp tôi đỗ.

Thế giới bỗng trở nên tăm tối. Guillermo đang đứng trước mặt tôi chắn hết mặt trời. Ông cầm lấy búa và đục từ hai bàn tay vốn đã ngừng tạc đá từ lâu của tôi. Ông cởi khăn ra, giũ bụi, rồi quệt đường lông mày giữa mũ và kính bảo hộ của tôi. “Ta không nghĩ là cháu ổn,” ông nói. “Đôi khi cháu tạc đá, đôi khi đá lại tạc cháu. Ta nghĩ hôm nay hòn đá thắng rồi.”

Tôi kéo mặt nạ xuống và nói, “Vậy ra đây là ý bác muốn nói khi bảo thứ ngủ say trong này” - tôi đặt tay lên ngực - “cũng ngủ say trong này.” Tôi chạm vào hòn đá.

“Ý ta đúng là thế đấy,” ông nói. “Ta nghĩ chúng ta nên đi uống một tách cà phê nhỉ?”

“Không ạ,” tôi đáp ngay. “Ý cháu là cháu cảm ơn, nhưng cháu cần tiếp tục làm việc.”

Và đó chính xác là điều tôi làm. Tôi làm việc hàng tiếng đồng hồ, mải miết, điên cuồng, không ngừng cắt xẻ hòn đá, trong khi bà nội và mẹ niệm thần chú trong đầu tôi mỗi lần nện búa: Con đã làm giấc mơ của thằng bé tiêu tan. Con đã làm giấc mơ của thằng bé tiêu tan. Con đã làm giấc mơ của thằng bé tiêu tan. Cho tới khi lần đầu tiên kể từ khi mẹ mất, mẹ hiện hình và đang đứng trước tôi, mái tóc mẹ như một ngọn lửa đen, ánh mắt mẹ nguyền rủa tôi.

“Và mẹ làm giấc mơ của con tiêu tan!” tôi hét lên với mẹ trong đầu trước khi mẹ lại biến mất tăm vào không khí.

Vì chẳng phải điều đó cũng đúng. Chẳng phải thế hay sao? Hết lần này đến lần khác, ngày này qua ngày khác, tôi chỉ muốn mẹ thấy tôi, thật sự thấy tôi. Không phải quên béng mất tôi trong bảo tàng như thể tôi không tồn tại và về nhà mà chẳng có tôi. Không phải hủy bỏ một cuộc thi mà hiển nhiên tôi sẽ thất bại trước cả khi mẹ xem những bức vẽ của tôi. Không phải cứ mãi chạm đến tâm hồn tôi để tắt phụt ánh đèn trong khi chạm đến tâm hồn Noah để bật ánh đèn trong nó lên mức rạng rỡ nhất. Lúc nào cũng như thể tôi chẳng là gì ngoài con bé ngu ngốc lẳng lơ tên là đứa con gái đó. Còn lại hoàn toàn vô hình với mẹ!

Nhưng nhỡ tôi không cần mẹ cho phép, không cần mẹ đồng ý, tán thưởng để trở thành con người tôi muốn và làm những gì tôi yêu thích thì sao? Nhỡ tôi là người làm chủ cái công tắc đèn chết tiệt của chính tôi thì sao?

Tôi đặt dụng cụ xuống, cởi kính bảo hộ, mặt nạ và bộ đồ nhựa ra. Tôi lột mũ khỏi đầu và quăng lên bàn. Tôi chán vô hình lắm rồi. Ánh nắng luồn những ngón tay phù phiếm tham lam vào mái tóc tôi. Tiếp đến, tôi trút bỏ áo nỉ và giờ tôi lại có hai cánh tay. Hơi gió thoảng chào đón chúng, lướt trên da tôi, dựng từng sợi lông lên, râm ran, đánh thức từng xăng ti mét cơ thể. Nhỡ lý do tôi không gửi bộ hồ sơ của Noah liên quan đến mẹ và tôi nhiều hơn là tôi và thằng bé thì sao?

Để đánh thức linh hồn bạn, ném một hòn đá xuống

hình ảnh phản chiếu của bạn trên mặt nước lặng

(Chưa bao giờ tôi tin Noah và tôi có chung một linh hồn, rằng linh hồn tôi là nửa cái cây có lá bốc cháy, như thằng bé nói. Chưa bao giờ tôi thấy linh hồn mình là thứ gì có thể nhìn thấy được. Linh hồn tôi như chuyển động, như cất cánh, như bơi tới chân trời hay lao xuống vực hoặc tạc những người phụ nữ chớp nhoáng từ cát, từ mọi thứ.)

Tôi nhắm mắt lại trong giây lát và rồi cảm giác như tôi vừa thức tỉnh từ giấc ngủ say nhất, như thể ai đó đã giải thoát tôi khỏi đá hoa cương. Vì tôi nhận ra: Noah có ghét tôi, hay không bao giờ tha thứ cho tôi cũng không quan trọng. Tôi có mất thằng bé và bố mãi mãi cũng không quan trọng. Đơn giản là không quan trọng. Tôi phải đem những ước mơ của thằng bé trở lại. Đó mới là điều quan trọng.

Tôi vào xưởng và leo cầu thang lên phòng Oscar, nơi có máy tính. Tôi bật máy tính lên, đăng nhập vào tài khoản của mình và viết email cho thầy Sandy ở trường CSA hỏi liệu chúng tôi có thể gặp mặt trước giờ học vào thứ Tư, ngày đầu tiên sau kỳ nghỉ hay không. Tôi bảo với thầy rằng đây là chuyện gấp và rằng em trai tôi cũng sẽ tới buổi gặp mặt với một cuốn hồ sơ năng lực vẽ sẽ làm thầy phải kinh ngạc.

Tôi sẽ từ bỏ suất học của mình. Đó là điều đáng ra tôi nên làm mỗi ngày trong suốt hai năm qua.

Tôi nhấn nút GỬI và nhận ra một cảm giác thật không thể nhầm lẫn: Tôi tự do.

Tôi là tôi.

Tôi nhắn tin cho Noah: Chúng ta cần nói chuyện. Chuyện quan trọng! Vì tốt hơn hết là thằng bé nên bắt đầu vẽ. Thằng bé có bốn ngày để hoàn thành một cuốn hồ sơ năng lực. Tôi tựa lưng xuống ghế, cảm giác như mình vừa ra khỏi cái hang u tối nhất, bước ra ánh nắng chói lòa tràn ngập. Chỉ tới khi đó tôi mới ngắm nghía quanh gác xép. Nhìn giường của Oscar, sách của anh, áo của anh. Nỗi thất vọng choán lấy tôi - nhưng cũng chẳng làm sao được. Tên hèn mặc áo khoác da hầm hố đã nói rất rõ anh cảm thấy thế nào về tên hèn mặc bộ đồng phục tàng hình.

Khi đang đứng dậy để chuẩn bị xuống tầng, tôi thấy mẩu thư của Guillermo mà tôi đưa cho Oscar trên tủ đầu giường cạnh ảnh mẹ anh. Tôi cầm nó xuống xưởng, và khi đã kẹp nó lại giữa quyển sổ của Guillermo trong phòng lốc xoáy đúng chỗ của nó, tôi ra sân đề nghị ông dạy tôi cách dùng cưa tròn lưỡi kim cương. Ông dạy thật.

Giờ là cơ hội thứ hai. Giờ là lúc để tái tạo thế giới.

Biết rằng với dụng cụ này mình chỉ có duy nhất một cơ hội, tôi cuốn dây điện quanh vai, đặt cưa tròn lên giữa vai Noah và tôi, rồi bật điện. Cái cưa vùng lên sống dậy. Cả cơ thể tôi rung lên dưới sức mạnh của điện năng trong khi tôi xẻ khối đá làm đôi.

Để NoahvàJude trở thành Noah và Jude.

“Cháu giết chúng sao?” Guillermo kinh ngạc nói.

“Không, cháu cứu chúng.”

Cuối cùng cũng cứu chúng.

•••

Tôi đi bộ về nhà dưới ánh trăng, cảm thấy hoàn toàn tuyệt vời, như thể tôi đang đứng giữa bãi đất trống, trong lòng sông, trên đôi giày tuyệt nhất, thậm chí là giày cao gót. Tôi biết tôi vẫn phải nói cho Noah và bố về bộ hồ sơ nộp vào CSA của Noah, nhưng không sao vì bất kể có chuyện gì xảy ra, Noah sẽ lại vẽ. Tôi biết chắc chắn là vậy. Noah sẽ lại là Noah. Và tôi lại được là con người tôi có thể đứng nhìn trong gương, trong một xưởng nghệ thuật, mặc bộ Váy Bồng Bềnh, sức khỏe tốt, có một câu chuyện tình, sống trong thế giới này. Tuy nhiên, cũng thật kỳ lạ là Noah chưa trả lời tin nhắn của tôi. Tôi đã cố nhắn vài tin, mỗi tin lại càng thêm khẩn cấp với nhiều dấu chấm than hơn. Thằng bé vẫn thường trả lời tôi ngay lập tức. Chắc là nếu về đến nhà rồi mà thằng bé vẫn chưa về thì tôi sẽ đợi vậy.

Tôi vươn hai tay về phía vầng trăng tròn sáng tỏ, nghĩ bụng sao mấy tiếng rồi mà tôi chưa mắc căn bệnh chết người nào, hội ma cũng im bặt, và khi đang thấy nhẹ nhõm vì cả hai điều ấy thì có tin nhắn từ Heather:

Ở Tụ Điểm. Noah say mềm. Phát điên. Muốn nhảy khỏi Mép Tử Nhân! 5 phút nữa tớ phải đi. Làm ơn hãy đến ngay đi! Không hiểu cậu ấy bị sao nữa. Lo quá.

Tôi đang đứng ở nơi cùng trời cuối đất tìm kiếm em trai mình.

Gió quật quanh tôi, bụi nước mặn mời táp lên gương mặt nóng bừng của tôi, đại dương bên dưới dội liên hồi trong đầu tôi cũng như ngoài ngoại cảnh. Nhễ nhại mồ hôi vì lao lên đồi dưới vầng trăng tròn tỏa rạng như ban ngày, tôi ngước lên Vực Quỷ cùng Mép Tử Nhân và thấy cả hai đều vắng lặng. Tôi vừa thở hổn hển vừa không ngớt cảm tạ Clark Gable, và mặc dù Heather nói cô phải đi, tôi vẫn nhắn tin cho cô, rồi nhắn lại cho Noah, cô thuyết phục bản thân rằng thằng bé đã tỉnh ra. Nhưng không thể.

Tôi có linh cảm xấu.

Tôi đã đến quá muộn.

Tôi quay lại và hướng về phía đám đông lộn xộn. Ở khắp mọi hướng, đâu đâu cũng thấy những nhóm người từ các trường trung học công và tư, từ Đại học Vịnh Mất Tích mở tiệc, tụ tập quanh những thùng bia, lửa trại, bàn dã ngoại, những vòng trống, mui xe.

Chào mừng đến với Tụ Điểm vào một tối thứ Bảy sáng trăng.

Tôi chẳng nhận ra ai cho đến khi quay lại đầu bên kia bãi đỗ xe và thấy Franklyn Fry, tên đần độn không phải dạng vừa, với vài tay lướt sóng trên Đồi Ấn Náu lớn tuổi hơn, ít nhất cũng phải tốt nghiệp trung học được một năm rồi. Hội của Zephyr. Họ đang ngồi trên thùng xe tải của Franklyn, sáng lóa một cách kỳ quái trước ánh đèn pha như đống đèn bí ngô.

Ít nhất thì mái tóc dân lướt sóng sém nắng, dài bù xù của Zephyr vẫn chưa xuất hiện.

Tôi muốn lấy áo nỉ và mũ tàng hình ra khỏi ba lô để mặc. Nhưng tôi không làm vậy. Tôi muốn tin tưởng sợi ruy băng đỏ quấn quanh cổ tay sẽ luôn giữ cho tôi được an toàn. Nhưng nó sẽ không làm vậy. Tôi muốn chơi trò Bạn muốn chết kiểu nào hơn? thay vì tìm cách sống. Nhưng tôi không thể. Tôi chán làm một đứa hèn rồi. Tôi chán lúc nào cũng sống như đang dừng hình, bị vùi lấp và trốn tránh, chán lúc nào cũng sững sờ đến chết điếng, theo cả hai nghĩa.

Tôi không muốn tưởng tượng ra đồng cỏ, tôi muốn chạy qua chúng.

Tôi tiếp cận kẻ thù. Franklyn Fry và tôi có mối hiềm khích thâm thù với nhau.

Chiến thuật của tôi là không chào hỏi gì cả và chỉ hỏi hắn một cách bình tĩnh và lịch sự xem hắn có thấy Noah không.

Chiến thuật của hắn ta hát đoạn đầu bài Hey Jude - sao bố mẹ tôi không nghĩ đến tình huống này lúc đặt tên cho tôi cơ chứ? - rồi chậm rãi dán mắt nhìn tôi, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, đảm bảo không bỏ lỡ một xăng ti mét nào trước khi nhòm ngó ngực tôi. Đừng hiểu lầm, nhưng đồng phục tàng hình cũng có cái lợi của nó. “Gò ép quá nhỉ?” hắn nói trực tiếp với ngực tôi, rồi hóp một ngụm bia, nhếch nhác đưa mu bàn tay lên quệt ngang miệng. Noah nói đúng; trông hắn giống hệt một con hà mã. “Đến xin lỗi hả? Cũng đủ lâu rồi đấy.”

Xin lỗi? Chắc hắn đùa.

“Anh có thấy em trai tôi không?” tôi lặp lại, lần này lớn tiếng hơn, phát âm rõ ràng từng âm tiết một như thể hắn không nói tiếng Anh.

“Thằng bé té rồi,” một giọng nói cất lên từ sau lưng tôi, làm mọi bản nhạc, mọi tiếng chuyện trò, tiếng gió và biển lập tức im bặt. Cùng chất giọng thô nhám từng một thời làm tôi tan chảy trên ván lướt sóng. Michael Ravens, hay còn gọi là Zephyr, đang đứng sau lưng tôi.

Ít nhất Noah đã quyết định không nhảy, tôi tự nhủ như thế, rồi quay đầu lại.

Cũng lâu lắm rồi. Ánh đèn đuôi xe tải của Franklyn rực sáng trong mắt Zephyr và tay anh ta khum khum bên trên như vành mũ lưỡi trai. Tốt. Tôi không muốn thấy đôi mắt diều hâu hẹp màu xanh lục của anh ta, thấy đủ trong tâm trí rồi.

Hai năm trước, khi tôi mất đi trinh tiết của mình với anh ta, đây là điều đã xảy ra: Tôi ngồi dậy, co đầu gối lên tận ngực và thở dốc thứ không khí mặn mời khẽ nhất có thể. Tôi nghĩ về mẹ. Nỗi thất vọng của mẹ bung nở trong tôi như một đóa hoa đen. Nước mắt làm bỏng cháy mắt tôi. Tôi cấm nước mắt được rơi và chúng thực sự đã không lăn dài. Cát đóng thành từng mảng khắp người tôi. Zephyr đưa quần bikini cho tôi. Tôi chợt muốn nhét nó vào cổ họng anh ta. Tôi thấy một cái bao cao su đã dùng lấm chấm máu ném trên một tảng đá. Đó là tôi đấy, tôi nghĩ bụng: kinh tởm. Tôi còn chẳng biết anh ta đã đeo nó vào. Tôi thậm chí còn chẳng nghĩ đến bao cao su! Bụng dạ tôi trào ngược lên, nhưng tôi cũng cấm tiệt. Tôi mặc bộ đồ bơi vào, cố giấu giếm rằng mình đang rim rẩy. Zephyr cười với tôi như thể mọi thứ đều ổn. Như thể mọi chuyện vừa xảy ra đều ỔN! Tôi cười đáp như đúng thế thật. Anh ta có biết tôi bao nhiêu tuổi không? Tôi nhớ mình đã nghĩ như vậy. Tôi nhớ mình đã nghĩ anh ta chắc quên mất.

Sau đó, Franklyn thấy Zephyr và tôi đi lên từ bãi biển. Trời bắt đầu lất phất mưa. Tôi ước tôi đang mặc đồ lặn, một nghìn bộ đồ lặn. Cánh tay Zephyr như khối chì nặng trĩu trên vai tôi, dấn tôi xuống cát. Đêm hôm trước, ở bữa tiệc anh ta đưa tôi đến, anh ta liên tục bảo mọi người tôi lướt sóng giỏi đến chừng nào và tôi đã nổi tiếng thế nào khi lao thẳng xuống thay vì nhảy khỏi Vực Quỷ. Anh ta liên tục nói tôi: đúng là ngầu lòi, và tôi cảm thấy mình đúng là ngầu lòi thật.

Đó là chưa đầy hai mươi tư tiếng trước.

Bằng cách nào đó, Franklyn biết chúng tôi vừa làm gì. Khi chúng tôi lên tới chỗ hắn, hắn tóm lấy cánh tay tôi và thì thầm vào tai tôi để Zephyr không nghe thấy: “Giờ đến anh,” hắn nói. “Rồi đến Buzzy, xong đến Mike và Rider, phải không? Chuyện diễn ra như thế đấy, nói để cưng biết. Cưng không nghĩ Zeph thực sự thích cưng đấy chứ?” Chính xác điều tôi nghĩ. Tôi phải chùi lời lẽ của Franklyn khỏi tai vì chúng dính đầy nước bọt, và sau khi làm vậy, tôi vung mình khỏi vòng tay của hắn, la lên, “Không!” cuối cùng cũng tìm thấy cái từ khốn nạn ấy, quá muộn, và trước mặt mọi người, tôi thúc đầu gối vào bi Franklyn Fry, thật mạnh, như bố dạy tôi trong tình huống khẩn cấp.

Rồi tôi lao thẳng về nhà, nước mắt cắn xé hai gò má tôi, da tôi sởn gai ốc, bụng dạ tôi rối ren, cơ thể lao thẳng về tìm mẹ. Tôi đã phạm phải sai lầm lớn nhất đời mình.

Tôi cần mẹ tôi.

Tôi cần mẹ tôi.

Có một vụ tai nạn, đó là điều bố đã nói với tôi giây phút tôi xộc vào nhà.

Có một vụ tai nạn.

Đó là lúc tôi vung hai tay lên che lấy tai Noah.

Bố cầm lấy hai tay tôi và áp vào tai bố.

Kể cả khi cảnh sát nói với chúng tôi về điều kinh thiên động địa, không thể tưởng tượng nổi này, tôi vẫn đang bò trườn trong lỗi lầm tôi vừa gây ra. Cát đóng đặc trong từng lỗ chân lông trên cơ thể tôi. Thứ mùi sai trái kinh tởm ấy vẫn còn trong tóc, trên da và trong mũi tôi, vậy nên mỗi lần hít vào, hơi thở lại mang nó vào sâu hơn trong tôi. Hàng tuần sau đó, bất kể tôi tắm bao nhiêu lần, bất kể tôi kì cọ mạnh đến mức nào, bất kể tôi dùng loại xà phòng nào - tôi đã thử mùi hoa oải hương và bưởi và kim ngân và hoa hồng - tôi cũng không thể tẩy thứ mùi ấy đi, tẩy Zephyr ra khỏi tôi. Có lần, tôi còn đến trung tâm thương mại xịt tất cả các loại nước hoa dùng thử trên kệ, nhưng thứ mùi ấy vẫn còn đó. Lúc nào nó cũng còn đó. Nó vẫn còn đó. Mùi của buổi chiều hôm ấy với Zephyr, mùi cái chết của mẹ, hai thứ là một.

Zephyr bước ra khỏi ánh đèn pha của Franklyn. Tôi nghĩ về anh ta thế này: con quạ, loài vật báo hiệu cái chết và sự diệt vong, giống với cái tên của anh ta. Anh ta là loại bùa thuật dưới cái lốt con người, một cột trụ cao ráo tóc vàng hoe đầy bóng tối. Zephyr Ravens là thiên thực.

“Vậy Noah về nhà rồi à?” tôi hỏi. “Bao lâu rồi?”

Anh ta lắc đầu. “Không. Không phải té về nhà. Thằng bé té từ trên kia xuống kìa, Jude.” Anh ta chỉ tay lên tận đỉnh dốc đứng, tới một bờ rìa thậm chí còn chẳng được đặt tên, vì ai mà dám nhảy từ trên đấy xuống chứ? Thỉnh thoảng, mấy người bay dù lượn có lên đó, nhưng chỉ để bay dù lượn mà thôi. Nhảy từ trên đó xuống quá cao, có khi cao gấp đôi Mép Tử Nhân, và bên dưới có một bãi đá ngầm nhô ra nên nếu ta không nhảy đủ xa để tránh được, ta sẽ va thẳng vào bãi đá trước khi chạm nước. Trước giờ tôi mới biết có một cậu từng nhảy từ trên đó xuống. Cậu ta không nhảy đủ xa.

Nội tạng tôi đang rơi rụng từng phần một.

Zephyr nói, “Anh nhận được một tin nhắn. Bọn nhỏ đang chơi trò uống rượu gì đó. Đứa thua phải nhảy và có vẻ như em trai em cố tình thua. Anh đang định lên đó để thử ngăn chúng lại.”

Ngay sau đó, tôi lao qua đám đông, va vào những ly đồ uống, vào hết người này người kia, chẳng quan tâm đến bất cứ thứ gì ngoài chú tâm lên được lối mòn trên vách đá, cũng là lối nhanh nhất để lên được dốc đứng. Tôi nghe tiếng bà nội phả như gió lên lưng tôi. Bà ở ngay sau tôi trên lối mòn. Cành lá đang gãy rạp, tiếng bước chân nặng nề của bà dội lên con đường chỉ vài giây sau tiếng chân tôi, rồi tôi nhớ ra bà làm gì có bước chân đi. Tôi dừng lại và Zephyr va vào tôi, tóm lấy vai tôi để tôi không lao mặt xuống đất.

“Chúa ơi,” tôi nói, nhanh chóng nhảy ra khỏi tầm tay của anh ta, xa khỏi mùi hương của anh ta đang một lần nữa ở quá gần tôi.

“Ôi trời, xin lỗi.”

“Đừng có theo tôi nữa, Zephyr. Làm ơn, quay về đi.” Giọng tôi cũng tuyệt vọng như cảm xúc của tôi. Trong giây phút này, thứ cuối cùng tôi cần là anh ta.

“Ngày nào anh cũng đi lối mòn này. Anh biết nó rõ…”

“Làm như tôi không biết ý.”

“Em sẽ cần trợ giúp.”

Quả thực là vậy. Tuy nhiên, không phải từ anh ta. Ai cũng được trừ anh ta. Nhưng đã quá muộn, anh ta đã lướt qua tôi và đang tiến vào bóng tối dưới ánh trăng phía trước.

Sau khi mẹ tôi mất, anh ta có ghé thăm vài lần, cố lôi kéo tôi trở lại ván lướt sóng, nhưng đối với tôi, biển đã cạn khô. Anh ta cũng cố quay lại với tôi dưới cái lốt an ủi tôi. Hai từ thôi: mơ đi. Và không chỉ mình anh ta. Fry, Ryder, Buzzy và cả lũ bọn họ nữa, nhưng chẳng dưới bất cứ cái lốt nào ngoại trừ sự quấy rối. Không ngừng. Chỉ qua một đêm, họ đều trở thành những tên khốn, đặc biệt là Franklyn, kẻ cáu tiết đăng những điều tục tĩu về tôi trên bảng tin nhắn của Đồi Ấn Náu và vẽ bậy dòng chữ Sweetwine Đàng Điếm Sao Cũng Được lên cửa nhà vệ sinh trên bãi biển, rồi vẽ lại mỗi lần có ai - Noah? - gạch nó đi.

Con có thực sự muốn là đứa con gái đó không? Mẹ đã hỏi đi hỏi lại tôi cả mùa hè và mùa thu khi váy của tôi cứ ngắn dần, giày cao gót của tôi cao hơn, son môi của tôi đậm hơn, trái tim tôi càng lúc càng thêm giận mẹ. Con có thực sự muốn là đứa con gái đó không? Mẹ đã hỏi tôi cái đêm trước khi mẹ mất - những từ cuối cùng mẹ nói với tôi - khi mẹ thấy bộ đồ tôi mặc đi tiệc tùng với Zephyr (mặc dù mẹ không biết tôi đi tiệc tùng với Zephyr).

Rồi mẹ mất và thật vậy, tôi thực sự là đứa con gái đó.

Zephyr đi rất nhanh. Hơi thở lộn nhào trong lồng ngực tôi trong khi chúng tôi leo, leo và leo trong im lặng.

Cho tới khi anh ta nói, “Anh vẫn trông chừng thằng bé như anh đã hứa với em.”

Có lần, rất lâu trước khi chúng tôi làm cái chuyện mà chúng tôi đã làm, tôi đã nhờ Zephyr dõi theo Noah. Đồi Ấn Náu có thể rất giống như trong truyện Chúa Ruồi và trong tâm trí của một đứa lớp Bảy như tôi, Zephyr giống như cảnh sát trưởng nên tôi nhờ anh ta giúp.

“Trông chừng cả em nữa, Jude.”

Tôi lờ câu ấy đi, nhưng rồi không thể. Lời lẽ tuôn ra chói tai và đầy cáo buộc, sắc nhọn như những mũi tiêu. “Lúc đó tôi còn quá nhỏ!”

Tôi nghĩ tôi nghe tiếng anh ta hít vào, nhưng rất khó nói vì những đợt sóng dội vang không ngớt vỗ vào bờ đá, bào mòn lục địa.

Cũng như tôi đá đất lên, đá hết mọi thứ khỏi lục địa, chôn chân xuống đất sau mỗi bước đi. Lúc ấy tôi mới học lớp Tám, anh ta học lớp Mười một - vẫn hơn tôi bây giờ những một tuổi. Nói vậy không có nghĩa là anh ta được quyền đối xử với bất cứ cô gái nào ở bất cứ độ tuổi nào như thế, như với một tấm giẻ chùi bát. Và rồi cảm giác như một tia sét đánh thẳng vào đầu, tôi chợt nhận ra Zephyr Ravens không phải là dấu hiệu của bất cứ thứ gì. Anh ta không phải là điềm gở - anh ta chỉ là một tên khốn thảm hại ngu đần chập mạch đến cực điểm, và tôi có ý xúc phạm thật đấy.

Việc chúng tôi đã làm cũng không tạo ra điềm gở - nó chỉ khiến ruột gan thấy ghê tởmhối hậntức giận và…

Tôi phỉ nhổ lên người anh ta. Không phải một cách ẩn dụ đâu. Tôi nhổ lên áo khoác của anh ta, lên mông anh ta, rồi nhắm một bãi vào sau đúng cái đầu chó lai của anh ta. Cú đó thì anh ta nhận thấy, nhưng nghĩ chắc là con bọ gì đó anh ta có thể khua tay đuổi đi. Tôi nhổ lên người anh ta lần nữa. Anh ta quay đầu lại.

“Cái quái…? Em nhổ nước bọt vào anh đấy à?” anh ta hỏi đầy kinh ngạc, ngón tay anh ta luồn vào tóc.

“Đừng có làm chuyện đó nữa,” tôi nói. “Với bất cứ ai.”

“Jude, anh vẫn luôn nghĩ là em…”

“Tôi không quan tâm anh nghĩ cái gì lúc đó hay bây giờ,” tôi nói. “Đừng có làm chuyện đó nữa.”

Tôi phóng vụt qua trước mặt anh ta và đi nhanh gấp đôi tốc độ ban nãy. Giờ tôi thấy mình vô cùng ngầu lòi, cảm ơn rất nhiều.

Có lẽ cuối cùng thì mẹ đã lầm về đứa con gái đó.đứa con gái đó phỉ nhổ vào những đứa con trai đối xử tệ bạc với con bé. Có lẽ chính đứa con gái đó đang mất tích. Có lẽ đứa con gái đó đã phá đá thoát ra ngoài ở xưởng của Guillermo. Có lẽ chính đứa con gái đó là người có thể thấy chiếc ô tô mẹ lái bị mất kiểm soát không phải là lỗi của tôi, bất kể tôi đã làm gì với tên khốn này trước đó. Tôi không mang điềm gở đến cho chúng tôi, bất kể tôi thấy đúng thế tới nhường nào. Điểm gở đã tự đến. Và giờ nó cũng tự đến.

Và có lẽ chính đứa con gái đó giờ đã đủ can đảm để thú nhận với Noah điều tôi đã làm.

Nếu như thằng bé không chết trước khi tôi kịp làm thế.

Khi chúng tôi tới gần bờ rìa hơn, tôi bắt đầu nghe thấy thứ gì đó kỳ lạ. Ban đầu tôi nghĩ là tiếng gió hú đầy ghê rợn giữa những tán cây, rồi chợt nhận ra đó là tiếng con người. Có lẽ là đang hát? Hoặc đang hô vang? Một giây sau, tôi nhận ra chính họ của tôi đang được hô vang và tim tôi văng ra khỏi cơ thể. Tôi nghĩ Zephyr cũng nhận ra cùng lúc với tôi vì cả hai đều thục mạng lao tới.

Sweetwine, Sweetwine, Sweetwine.

Làm ơn, làm ơn, làm ơn, tôi nghĩ trong khi chúng tôi leo lên đỉnh đồi cuối cùng và tới một vùng cát bằng phẳng, nơi có cả đám người đang đứng thành hình bán nguyệt như ở sự kiện thể thao nào đó. Zephyr và tôi chen lấn qua đám người, tách tấm rèm cơ thể người sang hai bên, cho tới khi chúng tôi tới được hàng ghế đầu xem trò chơi tự vẫn đang diễn ra. Ở một bên ngọn lửa đang hừng hực cháy là một thằng khờ tay cầm chai rượu tequila, lắc lư tới lui như cây sậy. Cậu ta cách bờ vực khoảng sáu mét. Phía bên kia ngọn lửa là Noah đang cách bờ vực ba mét, được đám đông cuồng nhiệt cổ vũ kết liễu đời mình. Cái chai đã vơi một nửa nằm lăn lóc bên chân nó. Thằng bé dang hai tay sang bên như dang cánh và đang quay mòng mòng, gió thổi quần áo phần phật, ánh lửa rọi lên nó như một chú phượng hoàng.

Tôi cảm nhận được khao khát muốn nhảy của thằng bé như thể nỗi khao khát ấy ở trong chính cơ thể tôi.

Một đứa đứng trên hòn đá gần đó hét, “Được rồi, lượt năm! Triển thôi!” Cậu ta là chủ trò và có vẻ như cũng say mềm như tất cả những người tham gia chơi.

“Em tóm lấy Noah,” Zephyr nói, giờ giọng anh ta hoàn toàn nghiêm túc. ít nhất anh ta cũng có ích. “Anh sẽ tóm Jared. Chúng say khướt rồi nên sẽ dễ thôi.”

“Đếm đến ba nhé,” tôi nói.

Chúng tôi lao tới trước, xuất hiện ở chính giữa vòng tròn. Đứng trên hòn đá, người giới thiệu nói lí nhí, “Này, hình như Trận đấu Sinh tử bị gián đoạn rồi.”

Tôi cáu phát rồ. “Xin lỗi đã phá hỏng chương trình,” tôi hét vào mặt cậu ta. “Nhưng tôi có một ý tưởng rất hay. Sao lần sau cậu không bảo em trai say khướt của cậu nhảy xuống khỏi cái vực này thay vì em tôi nhỉ?” Ô, ngạc nhiên chưa. Đứa con gái đó làm được nhiều việc ra trò đấy nhỉ. Trước kia tôi đã sử dụng cô ấy không đúng mực. Tôi sẽ không phạm phải sai lầm ấy lần nữa đâu.

Tôi tóm lấy tay Noah thật chặt, chờ đợi một trận ẩu đả, nhưng thằng bé như tan chảy vào tôi, nó nói, “Này, đừng khóc. Em không định nhảy đâu.” Tôi đang khóc à?

“Chị không tin em,” tôi nói, nhìn vào gương mặt bung nở rộng mở của Noah ngày xưa. Tình yêu đầy ắp như chực tràn, chực phát nổ trong lồng ngực tôi.

“Chị đã đúng,” thằng bé cười khanh khách, rồi nấc. “Dĩ nhiên là em sẽ nhảy rồi. Xin lỗi, Jude.”

Bằng một cử động nhanh gọn chớp nhoáng dường như là bất khả thi khi mà nó đang say đến thế, thằng bé xoay người khỏi vòng tay tôi, quăng tôi về phía sau một cách đầy chậm rãi và giày vò. “Không!” tôi vung tay với lấy thằng bé trong khi nó lao tới bờ vực, hai tay lại đang dang lên.

Đó là hình ảnh cuối cùng tôi thấy trước khi đầu tôi đập xuống đất và cả đám đông đều há hốc miệng kinh ngạc.

Bờ vực giờ trống không. Nhưng chẳng ai chạy dọc theo lối mòn, con đường nhanh nhất dẫn xuống bãi biển cả. Thậm chí còn chẳng ai buồn ngó xuống bờ rìa xem Noah có sống sót không. Đám đông đang tụ tập di tản xuống phố.

Và tôi phải dừng ảo giác lại.

Chắc tôi bị chấn thương thần kinh hay sao đó, vì bất kể tôi lắc đầu hay chớp mắt bao nhiêu lần, họ vẫn ở đó.

Nhảy đè lên người em tôi, cách tôi không tới một mét là Oscar.

Oscar, chẳng hiểu từ đâu chui ra, đã chặn Noah lại trước khi thằng bé kịp lao tới bờ rìa.

“Ơ này, là anh,” Noah nói đầy ngạc nhiên trong khi Oscar lăn xuống khỏi người thằng bé và áp lưng xuống đất. Oscar đang thở hồng hộc như thể anh vừa chạy đua lên đỉnh Everest, và tôi phát hiện ra chân anh đi bốt da. Hai tay anh dang ra, tóc anh ướt đẫm mồ hôi. Nhờ ánh trăng và ngọn lửa trại, con ảo giác của tôi dường như có độ phân giải rất cao. Giờ Noah đang ngồi ngay dậy, nhìn anh chằm chằm.

“Picasso?” tôi nghe Oscar nói, vẫn đang cố thở bình thường trở lại. Lâu lắm rồi tôi không thấy ai gọi Noah như thế. “Lớn tướng rồi, lại còn húi cua nữa.”

Giờ họ đang cụng tay. Phải, Noah và Oscar. Hai người tôi bình chọn khó có khả năng cụng tay nhất. Chắc chắn là tôi đang tưởng tượng ra chuyện này. Oscar ngồi thẳng dậy và đặt một tay lên vai Noah. “Chuyện quái gì thế, bồ tèo?” Anh đang khiển trách Noah? “Lại còn rượu chè nữa? Theo bước chân anh hả? Đây không phải là em, Picasso.”

Sao Oscar biết Noah là ai để biết Noah không phải là ai?

“Đây không phải là em,” Noah líu nhíu. “Em không còn là em nữa.”

“Anh hiểu cảm giác ấy,” Oscar đáp. Vẫn đang ngồi, anh đưa một tay về phía tôi.

Tôi hỏi, “Sao anh lại ở đây…”

Nhưng Noah cắt ngang, lúng ba lúng búng nói với tôi, “Chị cứ nhắn tin cho em nên em cứ thế uống tại em tưởng chị biết…”

“Biết cái gì?” tôi hỏi thằng bé. “Tất cả chuyện này là vì mấy tin nhắn của chị hả?” Tôi cố nhớ lại tôi đã nhắn những gì, tôi chỉ bảo cần nói chuyện với thằng bé và rằng chuyện rất gấp thôi mà. Thằng bé đã nghĩ tôi định nói gì với nó? Nó nghĩ tôi biết cái gì? Chắc chắn nó đã giấu tôi chuyện gì đó. “Biết cái gì?” tôi hỏi nó lại lần nữa.

Nó cười một cách ngớ ngẩn với tôi, tay vung vẩy. “Biết cái gì,” nó nhắc lại như một thằng đần. Được rồi, thằng bé say bí tỉ rồi. Tôi không nghĩ nó từng uống nhiều hơn một hai cốc bia. “Chị em,” nó nói với Oscar. “Chị từng có mái tóc theo sau chúng ta như dòng sông ánh sáng, anh nhớ chứ?” ít nhất thì tôi tin là thằng bé vừa nói vậy. Nó đang nói tiếng Swahili.

“Chị gái em!” Oscar kêu lên. Anh lại nằm thụp xuống. Noah vui vẻ nằm phịch xuống cạnh anh, mặt bừng sáng một nụ cười điên rồ. “Đúng là tuyệt vời,” Oscar nói. “Thế bố là ai? Tổng lãnh Thiên thần Gabriel à? Và mái tóc như dòng sông ánh sáng ý hả?” Anh ngẩng đầu lên để nhìn thấy tôi. “Em chắc là em ổn chú? Em có vẻ hơi choáng váng. Không đội mũ và mặc cái áo nỉ to tướng nhồi nhét đầy rau củ thì trông em cũng tuyệt lắm. Tuyệt, nhưng có vẻ như em sẽ lạnh. Em biết gì không? Lẽ ra anh sẽ đưa em áo khoác da của anh, nhưng ai đó đã lấy mất nó rồi.” Tôi thấy anh đã trở lại dưới hình thái chiến đấu, bình phục sau chuyện xảy ra sáng nay. Nhưng tôi cảm giác như tôi đã đọc nhật ký của anh vậy.

Cơ mà vẫn vậy thôi. “Đừng có mà tán tỉnh em,” tôi nói. “Em miễn dịch với bùa ngải của anh đấy nhé. Em đi tiêm chủng mũi không-làm-bạn-gái quá nhiều lần rồi.” Nói cho đúng nhé, đứa con gái đó thật tuyệt.

Tôi trông chờ một câu vặn lại đốp chát nhưng thay vào đó, anh chỉ hoàn toàn khinh suất nhìn tôi và nói, “Anh rất xin lỗi vì chuyện hôm qua. Anh không thể xin lỗi sao cho xuể được.”

Tôi hết sức kinh ngạc, hoàn toàn không biết phải đáp lại thế nào. Tôi cũng không chắc anh đang xin lỗi về chuyện gì nữa. Vì tôi thấy những gì tôi đã thấy hay vì anh làm những gì anh đã làm?

“Cảm ơn anh vì đã cứu mạng em trai em,” tôi nói, tạm thời tảng lờ lời xin lỗi ấy, và thật đấy, lòng tôi đầy ắp biết ơn vì: Cái quái gì thế? “Không hiểu sao anh lại xuất hiện thế này, như siêu anh hùng ý. Với cả sao hai người lại biết nhau…”

Oscar chống khuỷu tay vươn dậy. “Rất tự hào được nói anh đã thoát y cho cả hai chị em.”

Chuyện này đúng là lạ. Oscar làm mẫu vẽ cho Noah bao giờ thế? Noah cũng chống khuỷu tay vươn dậy vì có vẻ như nó đang chơi trò Làm theo thủ lĩnh với Oscar. Mặt thằng bé đỏ bừng. “Em nhớ đôi mắt của anh,” nó nói với Oscar. “Nhưng không nhớ mấy vết sẹo đó. Mấy vết đấy mới.”

“Ờ thì, em phải thấy gã kia cơ, như người ta vẫn nói đấy. Hoặc trong trường hợp này là thấy vỉa hè trên đường cao tốc số 5.”

Họ đang tán gẫu với nhau, cả hai lại ngả lưng nằm bẹp xuống đất, kẻ tung người hứng qua lại bằng tiếng Anh và tiếng Swahili, chăm chú nhìn lên bầu trời đêm tỏa sáng. Họ làm tôi nở một nụ cười; tôi không ngăn lại được. Giống như khi Oscar và tôi nằm trên sàn phòng xà lim. Tôi nhớ mẩu giấy ghi chú đó: Mẹ nói em sẽ như người thân trong gia đình. Sao anh lại như vậy chứ? Và còn lời xin lỗi đấy nữa? Cái đó là gì thế? Anh nói nghe có vẻ đứng đắn, chân thành. Hoàn toàn không diễn chút nào cả.

Tôi ngửi thấy mùi cần sa và quay lại. Zephyr, thằng khờ tên Jared và một đám nữa đang hút cần sa trong lúc đi khỏi, tất cả đều xuống phố, có lẽ đang trên đường về Tụ Điểm. Anh đúng là có ích thật đấy. Nếu Oscar không rơi từ trên trời xuống, Noah đã chết rồi. Một tiếng sóng dội lớn như tiếng bom va vào bờ biển bên dưới như xác nhận điều này. Tôi nghĩ chuyện này như một phép mầu vậy, chắc chắn phải thế. Có lẽ bà nội đã đúng: Cháu phải thấy phép mầu thì phép mầu mới thực sự tồn tại. Có lẽ tôi đã nhìn thế giới, sống trong thế giới bằng cái cách quá hèn nhát bủn xỉn đến nỗi chẳng thể thấy được gì nhiều.

“Em có biết là Oscar vừa cứu mạng em không hả?” tôi bảo Noah. “Em có biết cái vách đá này cao thế nào không hả?”

“Oscar,” Noah nhắc lại, rồi lảo đảo ngồi dậy và chỉ tay về phía tôi, nói, “Anh ấy không cứu mạng em và vách đá cao bao nhiêu không quan trọng.” Mỗi phút trôi qua nó lại càng say hơn, giờ nó đang nói chuyện bằng hai cái lưỡi. “Là mẹ nâng em lên. Như kiểu em đeo dù ý. Như kiểu em thực sự có thể bay.” Nó chậm rãi lướt tay trong không trung. “Em rơi xuống chậm đến khó tin. Lần nào cũng thế.”

Miệng tôi há hốc. Đúng là thế thật. Tôi đã thấy rồi.

Vậy ra đây là lý do thằng bé vẫn tiếp tục nhảy, để mẹ làm gián đoạn cú ngã của nó? Đó chẳng phải là điều tôi luôn nghĩ khi tôi nhận được Anh Nhìn Cô Bé Mồ Côi Mẹ Đáng Thương sao? Như thể tôi bị đẩy xuống khỏi máy bay mà không mang dù vì những người mẹ chính là cánh dù. Tôi nhớ lại lần cuối cùng tôi thấy nó nhảy từ Vực Quỷ xuống. Trông thằng bé như lơ lửng mãi. Lâu đến mức nó có thể cắt tỉa sơn phết xong móng tay móng chân trên đó vậy.

Oscar ngồi dậy. “Đúng là ngớ ngẩn,” anh nói với Noah, giọng lo lắng. “Em điên à? Em nhảy khỏi vách đá kia trong tình trạng hiện giờ là chết ngay. Anh không quan tâm em có ai hộ mệnh ở thế giới bên kia.” Anh đưa tay vuốt tóc. “Em biết đấy, Picasso, anh cá là mẹ em sẽ thích em sống hơn là mạo hiểm cuộc sống của mình.” Tôi ngạc nhiên khi nghe những lời này từ chính miệng của Oscar, tự hỏi liệu những lời ấy có thể đã thốt lên từ miệng Guillermo sáng nay hay không.

Noah nhìn xuống đất, nói khẽ, “Nhưng đấy là lúc duy nhất mẹ tha lỗi cho em.”

Tha lỗi cho nó? ”Vì chuyện gì?” tôi hỏi.

Thằng bé trở nên nghiêm nghị. “Tất cả là một lời nói dối to đùng,” nó nói.

“Cái gì cơ?” tôi hỏi. Có phải nó đang nói về chuyện thích con gái không? Hay chuyện không sáng tạo nghệ thuật? Hay bôi phụ gia chống cháy? Hay chuyện gì khác? Chuyện gì đó khiến nó phải nhảy xuống vực giữa đêm hôm lúc say khướt vì nó đọc tin nhắn của tôi và nghĩ có thể tôi biết đó là chuyện gì?

Nó ngước lên đầy sửng sốt như vừa nhận ra nó đang nói thành tiếng chứ không phải đang nghĩ. Tôi ước mình có thể nói cho thằng bé biết sự thật về trường CSA ngay bây giờ, nhưng tôi không thể. Nó cần phải tỉnh táo để nghe chuyện đó. “Em sẽ ổn thôi,” tôi bảo thằng bé. “Chị hứa đấy. Mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp hơn.”

Thằng bé lắc đầu. “Không, mọi chuyện sắp trở nên tồi tệ rồi. Chỉ là chị chưa biết đấy thôi.” Cảm giác ớn lạnh chạy khắp cơ thể tôi. Ý thằng bé là gì? Tôi chuẩn bị chất vấn thúc ép thằng bé thêm thì nó đứng dậy và ngay lập tức ngã kềnh xuống.

“Đưa em về nhà thôi,” Oscar nói, bó chặt một tay quanh người thằng bé. “Vậy nhà ở đâu nhỉ? Lẽ ra anh sẽ đèo thằng bé về, nhưng anh đi bộ. G. trộm xe mô tô của anh phòng trường hợp tối nay anh bị giống thế này. Anh với ông ấy vừa cãi nhau sáng nay.” Vậy ra đó là lý do cái xe mô tô dựng trong sân. Tôi cảm giác như có lẽ tôi nên bảo anh là tôi đã nghe được đôi chút cuộc tranh cãi ấy, nhưng giờ không phải là lúc.

“G.?” Noah hỏi và rồi có vẻ như quên mất nó vừa nói gì.

“Đúng là tí nữa thì lớn chuyện,” tôi bảo Oscar. “Cảm ơn anh,” tôi nói. “Thực sự cảm ơn anh.”

Anh cười. “Anh là người em gọi mà, nhớ không? Xác chết, con dao đầy máu me ý.”

“Mẹ nói em sẽ như người thân trong gia đình,” tôi nói với anh, chỉ để nhận ra quá muộn rằng có lẽ tôi nên giữ câu ấy cho riêng mình. Đúng là sướt mướt.

Nhưng một lần nữa, anh không phản ứng như tôi nghĩ. Anh nở nụ cười chân thành nhất tôi từng thấy, nụ cười bắt đầu từ đôi mắt anh và dường như không kết thúc ở bất cứ đâu trên gương mặt ấy. “Mẹ thực sự đã nói thế, và đúng thế thật.”

Trong khi Oscar và Noah vụng về dò dẫm tới trước như đang chơi trò chạy đua ba chân, tôi cố làm cơn bão điện trong đầu tôi lặng xuống. Mẹ thực sự đã nói thế, và đúng thế thật. Và giờ tôi nhớ lại việc anh giữ bức ảnh của tôi trong áo khoác. Và ôm Brooke trong tay, Jude, làm ơn đi. Ờ thì anh vừa cứu mạng Noah. Và còn cái cách anh nói: Anh không thể xin lỗi sao cho xuể được. Rồi cái cách anh cư xử sáng nay với Guillermo. Và cũng chẳng phải anh và tôi thực sự là một cặp đâu. Ôi chao ôi. Xoa xà phòng. Tráng nước. Lặp lại.

Khi chúng tôi xuống tới phố, Noah rũ khỏi tay Oscar và lao đi trước chúng tôi. Tôi để mắt tới thằng bé trong lúc nó tự tập tễnh đi dọc đường.

Oscar và tôi đi cạnh nhau. Một vài lần, tay chúng tôi quệt vào nhau. Tôi tự hỏi liệu anh có đang cố tình làm vậy hay không, liệu tôi có đang cố tình làm vậy hay không.

Khi chúng tôi đi được nửa đường về nhà, anh nói, “Chuyện anh tới đây là thế này. Anh đang ở Tụ Điểm. Lúc đó anh rất buồn bực - G. đã nói một vài điều thực sự đụng chạm đến anh. Bác ấy có cái cách giơ gương lên và thứ anh thấy trong đó khá là đáng khiếp sợ. Anh chỉ muốn cáu điên lên, say khướt vào. Anh đang tính uống ngụm rượu đầu tiên sau 234 ngày 10 tiếng - sai lầm cuối cùng của anh. Thực ra anh đang đếm từng phút một, mắt dán vào đồng hồ đeo tay thì có ai xoay tít như con quay trông giống em kinh khủng không biết từ đâu lao đến và hất ly rượu gin khỏi tay anh. Thật khó tin. Một dấu hiệu, phải không? Phải chăng là mẹ anh? Phải chăng là một phép mầu? Anh không biết nữa. Chỉ là anh không kịp suy tính sự phi phàm hay bản chất thần thánh của sự cố, vì anh ngay lập tức điên cuồng và lầm lạc tin chắc rằng em đang bị một tên khổng lồ Bắc Âu đuổi theo vào rừng. Nên anh hỏi này, ai đã cứu mạng ai tối nay?”

Tôi ngước lên ngắm nhìn vầng trăng như đồng xu bạc lấp lánh lăn quanh bầu trời và nghĩ có lẽ tôi đang thấy những phép mầu.

Oscar lôi thứ gì đó ra khỏi túi và giơ lên. Ánh sáng lờ mờ đủ để tôi thấy anh đã lắp đế vào cái vỏ sò của mẹ anh và xâu nó vào một sợi ruy băng đỏ trông giống hệt cái tôi buộc quanh mẩu thư Guillermo gửi Em yêu. Điều tiếp theo tôi nhận thấy là tất cả mọi bộ phận của anh đều ở rất gần mọi bộ phận của tôi vì anh đang buộc nó quanh cổ tôi.

“Nhưng anh sẽ chết chỉ trong vài phút nếu không có nó,” tôi thì thầm.

“Anh muốn em có nó.”

Tôi quá xúc động không nói được thêm lời nào nữa.

Chúng tôi tiếp tục bước đi. Lần tiếp theo tay chúng tôi chạm nhau, tôi tóm lấy và nắm chặt tay anh trong tay mình.

Tôi đang ngồi ở bàn học hoàn thiện nốt bản nghiên cứu bức tượng mẹ, thực sự nỗ lực để trông nó giống hệt mẹ. Ngày mai tôi sẽ cho Guillermo xem. Noah đang ngủ cho tỉnh rượu. Oscar đã về từ lâu. Tôi khá chắc cái vỏ sò ma thuật đeo trên cổ tôi - tài sản thân thương nhất của anh, như anh đã nói! - đang tỏa ra niềm hạnh phúc. Tôi nghĩ đến việc gọi điện cho Fish ở trường vì tôi muốn kể cho ai đó nghe kinh khủng - ai đó vẫn còn sống, để thay đổi chút ý mà - về cái vỏ sò, về những bức ảnh và những mẩu ghi chú nữa, về tất cả những gì đang diễn ra, nhưng rồi tôi nhớ ra giờ là kỳ nghỉ đông và ký túc xá đã đóng cửa (tôi là một trong số ít những học sinh không ở ký túc xá), lại đang là nửa đêm và chúng tôi không thực sự là bạn. Nhưng tôi nghĩ có lẽ chúng tôi nên là bạn. Có lẽ tôi rất cần một người bạn còn sống. Cháu xin lỗi bà. Ai đó để bàn thảo về cái lúc Oscar và tôi ở ngoài bậc thềm, vừa ban nãy thôi, bọn tôi hít thở và xốn xang rung động chỉ cách nhau có vài xăng ti mét, tôi nghĩ chắc chắn anh sẽ hôn tôi, nhưng anh không làm vậy, và tôi không hiểu tại sao. Anh còn không vào nhà, tôi nghĩ là cũng tốt thôi, vì như thế anh có lẽ sẽ phát hiện ra tôi vẫn đang học trung học. Anh ngạc nhiên vì tôi sống ở nhà. Anh nói, “Ô, anh cứ nghĩ là em ở ký túc xá cơ. Em ở nhà để chăm sóc em trai sau khi mẹ mất à?”

Tôi đổi chủ đề. Nhưng tôi biết tôi phải kể cho anh và tôi sẽ làm thế. Cả về chuyện tôi tình cờ nghe được chút ít trận cãi vã giữa anh và Guillermo nữa. Nhanh thôi, tôi sẽ trở thành cô gái chẳng có bất cứ bí mật nào.

Thấy những bức phác thảo đã tương đối ổn, tôi gập quyển sổ lại và ngồi vào bàn may vá. Không đời nào tôi ngủ được, nhất là sau những chuyện xảy ra hôm nay và tối nay, với Oscar, với Noah, với Zephyr, với những hồn ma, và đằng nào thì tôi cũng muốn bắt đầu may áo choàng cho Guillermo bằng mấy mẩu vải thừa lại của những bộ váy bồng bềnh. Tôi lục lọi trong ba lô tìm cái áo choàng của ông mà tôi trộm về làm mẫu may. Tôi bắt đầu căng áo lên bàn, và trong lúc làm vậy, tôi thấy có gì đó trong túi trước. Tôi thò tay vào lôi ra vài cuốn sổ. Tôi mở một cuốn ra. Chỉ toàn những mẩu ghi chú và danh sách bằng tiếng Tây Ban Nha, cả những bức phác như mọi khi nữa. Chẳng có gì bằng tiếng Anh, chẳng có gì cho Em yêu cả. Tôi mở quyển thứ hai, cũng chẳng khác gì mấy, nhưng ngay lúc đó, được viết bằng tiếng Anh và gần như chắc chắn dành cho Em yêu là ba bức nháp của cùng một mẩu thư, mỗi bức có chút khác biệt, như thể ông có ý muốn viết cho thật đúng. Có lẽ ông đã định gửi nó đi bằng hòm thư điện tử?

Hay trên một tấm thiếp? Hoặc với một cái hộp nhung đen có một chiếc nhẫn bên trong.

Bức nháp ít gạch xóa nhất:

Anh không thể làm thế này thêm nữa. Anh cần biết một câu trả lời. Anh không thể sống mà không có em. Anh chỉ là nửa con người, với nửa cơ thể, nửa trái tim, nửa tâm trí, nửa linh hồn. Chỉ có duy nhất một câu trả lời, em biết điều này mà. Đến giờ chắc em phải biết rồi. Sao em có thể không biết chứ? Cưới anh nhé, tình yêu của anh. Nói đồng ý đi.

Tôi ngả lưng xuống ghế. Cô ấy nói không. Hoặc có lẽ ông chưa từng hỏi cô ấy. Dù thế nào đi chăng nữa, khổ thân Guillermo. Ông đã nói gì hôm nay chứ? Thứ tồi tệ cho trái tim lại tuyệt vời cho nghệ thuật. Hiển nhiên, chuyện này rất tệ cho trái tim ông và rất tuyệt cho thứ nghệ thuật ông tạo nên. Thôi thì tôi sẽ may cho ông cái áo choàng đẹp nhất để ông mặc lúc sáng tạo nghệ thuật. Tôi lục trong túi vải thừa tìm những mảnh màu đỏ, cam, tím, màu của trái tim.

Tôi bắt đầu khâu từng mảnh lại với nhau.

Tôi không biết có tiếng gõ cửa từ bao giờ cho tới khi chợt nhận ra âm thanh tôi nghe thấy không phải tại cái máy khâu của tôi dở chứng mà từ ai đó ngoài cửa sổ. Oscar? Anh đã liều đoán bừa ô cửa sổ duy nhất còn sáng đèn trong nhà chăng? Chắc chắn phải là anh. Một giây sau, tôi đang đứng trước gương, lắc đầu tí tẹo để đánh thức mái tóc tôi dậy, rồi lắc thật nhiều để khiến nó trở nên hoang dại. Tôi với vào ngăn kéo trên cùng lấy thỏi son đỏ nhất mình có. Phải, tôi muốn thế. Tôi cũng muốn lấy một trong những chiếc váy tuyệt phẩm của mình từ trên tường xuống và mặc nó lên - có lẽ là bộ Váy Trọng Lực? - và rồi đó chính xác là điều mà tôi đang làm.

“Một giây thôi,” tôi hô về phía cửa sổ.

Tôi nghe tiếng Oscar nói, “Được rồi.”

Được rồi!

Tôi đang đứng trước tấm gương dài, mặc trên mình bộ Váy Trọng Lực, lời hồi đáp của tôi với bộ Váy Bồng Bềnh. Bộ váy có màu san hô, dáng bó sát kiểu tiên cá xòe ra và gợn viền đăng ten ở chân. Chưa ai từng thấy tôi mặc nó hay bất cứ một bộ váy nào tôi từng may suốt mấy năm qua. Kể cả tôi. Tôi may tất cả những bộ váy vừa vặn với dáng người của mình nhưng mường tượng ra chúng cho một cô gái khác, lúc nào cũng nghĩ nếu ai đó mở tủ của tôi ra, họ sẽ chắc chắn rằng có hai người bọn tôi sống trong căn phòng này và họ sẽ muốn làm bạn với người kia.

Đúng rồi đấy, tôi nghĩ, và tôi chợt nhận ra. Vậy ra tôi đã thiết kế váy cho cô ấy suốt bao lâu nay mà không hề nhận ra. Nếu sau này tôi có một dòng váy như bà nội, tôi sẽ gọi nó là: Người Con Gái Đó.

Tôi băng qua phòng, kéo rèm sang và đẩy cửa sổ lên.

Anh nhìn tôi chăm chú đến hai lần. “Ôi Chúa ơi,” anh trầm trồ. “Nhìn em kìa. Nhìn em mà xem. Trông em đẹp sững sờ. Vậy ra em ăn mặc thế này khi ở một mình giữa đêm hôm à? Còn đâu lúc ra ngoài giữa thanh thiên bạch nhật lại mặc bị khoai hả?” Anh nở nụ cười rối rắm của mình. “Anh nghĩ chắc em là người kỳ cục nhất anh từng gặp đấy.” Anh đặt hai tay lên bậu cửa sổ. “Nhưng đó không phải là điều anh tới đây để nói. Anh đi được nửa đường về nhà rồi thì nhớ ra một điều rất quan trọng phải nói với em.”

Anh ra hiệu bằng ngón trỏ để tôi tiến đến gần hơn. Tôi cúi xuống và vươn ra khỏi cửa sổ phòng vào đêm tối. Tôi cảm nhận hơi gió thoảng khẽ thổi trong tóc tôi.

Gương mặt anh đã trở nên hết sức nghiêm túc.

“Là điều gì thế?” tôi hỏi.

“Điều này.” Quá chớp nhoáng đến nỗi tôi còn không kịp nhận ra, anh với cả hai tay quanh đầu tôi và hôn tôi.

Tôi giật lại trong giây lát, tự hỏi liệu tôi có thể tin anh hay không, vì tôi có điên mới làm vậy. Nhưng nhỡ tôi tin anh thì sao? Nhỡ tôi tin thì sao? Và bạn biết đấy, cho dù anh có thổi tôi tới thế giới bên kia thì cứ vậy đi…

Đó là lúc điều ấy xảy ra. Có lẽ là vì ánh trăng vương vãi đã rọi sáng những đường nét khuôn mặt anh từ bên trên, hoặc có lẽ vì ánh đèn trong phòng ngủ của tôi lờ mờ sáng trên khuôn mặt anh như thế, hay có lẽ vì cuối cùng tôi cũng sẵn sàng nhận ra điều đã lảng tránh tôi từ khoảnh khắc chúng tôi gặp nhau lần đầu.

Anh đã làm mẫu vẽ cho Noah.

Oscar là chàng trai trong bức chân dung.

Anh là anh ấy.

Và đây chính xác là điều tôi vẫn luôn mường tượng.

Tôi lại vươn mình vào đêm tối. “Em đã từ bỏ gần như cả thế giới vì anh đấy,” tôi bảo anh, bước ra cánh cửa trước trong câu chuyện tình của chính tôi. “Mặt trời, những vì sao, đại dương, cây cối, tất cả mọi thứ, em từ bỏ tất cả mọi thứ vì anh.”

Gương mặt anh có chút bối rối, rồi nhanh chóng theo sau là niềm vui sướng. Ngay sau đó, tôi với hai tay về phía anh, kéo anh lại gần tôi, vì anh là anh ấy, và tất cả những năm tháng mà tôi không nhận ra, không làm gì và không sống đang tràn khỏi con đập của khoảnh khắc này cho tới khi tôi hôn anh ngấu nghiến, muốn đặt tay lên cơ thể anh, tôi với lấy anh, và anh với lấy tôi, ngón tay anh rối vào tóc tôi và trước khi tôi kịp nhận ra, tôi đã nhào cả người ra khỏi cửa sổ và ngã đè lên anh trên nền đất.

“Có người ngã xuống biển,” anh lẩm bẩm, vòng tay ôm lấy tôi trong khi chúng tôi bật cười, và rồi nụ cười nhạt dần vì ai mà biết được hôn lại có thể giống thế này, có thể thay đổi khung cảnh bên trong, lật nhào biển cả, đẩy nước sông lên tận trên núi, làm mưa ngừng rơi.

Anh xoay cả hai chúng tôi lại để cơ thể anh đè trên tôi, sức nặng của anh, sức nặng của ngày hôm ấy và Zephyr bắt đầu bò vào giữa chúng tôi. Cơ bắp tôi căng lên. Tôi mở mắt ra, sợ hãi kẻ lạ mặt mù quáng tôi sẽ thấy lần này, nhưng tôi không thấy một kẻ lạ mặt nào cả. Đó là Oscar, hiện hữu, hiện hữu rõ ràng, tình yêu lộ rõ trên gương mặt anh. Đó là lý do tôi tin tưởng anh. Ta có thể thấy tình yêu. Trông nó giống như khuôn mặt này. Với tôi, tình yêu lúc nào trông cũng giống như khuôn mặt méo mó điên rồ này.

Anh chạm ngón cái lên má tôi, nói, “Không sao”. Như thể bằng cách nào đó, anh biết chuyện gì đã xảy ra.

“Anh chắc chứ?”

Quanh chúng tôi, cây cối xào xạc dịu dàng.

“Chắc chắn một trăm phần trăm.” Anh nhẹ nhàng giật giật cái vỏ sò. “Hứa đấy.”

Buổi tối hôm nay thật ấm áp, e lệ, gần như không chạm đến da thịt chúng tôi. Nó bao bọc lấy chúng tôi, bện quấn quanh chúng tôi. Anh hôn tôi chậm rãi, âu yếm, để trái tim tôi cọt kẹt rộng mở, để tất cả những khoảnh khắc trên bãi biển vào cái ngày kinh khủng ấy bị cuốn trôi, để cuộc tẩy chay con trai vậy là đến hồi kết thúc.

Thật là khó kinh khủng khiếp khi phải tập trung vào Oscar trong phòng ngủ của tôi, vì: Oscar đang ở trong phòng ngủ của tôi! Oscar, anh chàng trong bức chân dung!

Anh đã ngã ngửa ra khi biết những bộ váy trên tường và bộ tôi đang mặc trên người là do tôi may, và giờ anh đang cầm một khung ảnh hình tôi lướt sóng. Anh đang khai quật tôi lên, chỉ có điều không cần đến búa và đục. “Anh khiêu dâm đối với một gã người Anh đây,” anh nói, vẫy vẫy bức ảnh về phía tôi.

“Em không lướt sóng mấy năm nay rồi,” tôi bảo anh.

“Tiếc thật đấy.” Anh gõ gõ lên quyển Từ điển tân dược thế giới.”Giờ thì anh trông chờ cái này đây.” Anh cầm một bức ảnh khác lên. Một cú nhảy khỏi Vực Quỷ. Anh ngắm nghía nó. “Vậy ra em từng là một cô gái liều lĩnh sao?”

“Em đoán thế. Em không nghĩ đến chuyện đó. Hồi đó em chỉ thích làm mấy chuyện như thế thôi.” Anh ngước lên như thể trông chờ tôi nói thêm. “Khi mẹ em mất… em không biết nữa, em sợ. Sợ tất cả mọi thứ.”

Anh gật đầu như thấu hiểu, rồi nói, “Cảm giác như lúc nào cũng có một bàn tay quanh cổ em, phải không? Chẳng còn gì chắc chắn nữa. Kể cả nhịp tim kế tiếp, chẳng gì cả.” Còn hơn cả hiểu. Anh ngồi xuống ghế may vá của tôi, ngắm nghía bức ảnh lần nữa. “Dù rằng anh đã đi một con đường khác. Bắt đầu dùng tất cả nỗi sợ hãi ấy như một bị cát. Ngày nào cũng khiến bản thân suýt chết.” Anh cau mày, đặt bức ảnh xuống. “Anh cãi nhau với Guillermo một phần là vì chuyện đó. Bác ấy nghĩ anh mạo hiểm quá đà khi cưỡi cái xe mô tô ấy hay dùng ma túy trong quá khứ mà không…” Anh dừng lại khi thấy vẻ mặt tôi. “Chuyện gì thế?”

“Oscar, sáng nay em tình cờ nghe được chút ít trận cãi vã. Ngay khi nhận ra hai người đang cãi nhau là em đi luôn, nhưng…” Tôi kìm nén lời tự thú vì tôi nghĩ ruột gan anh có lẽ đã bắt lửa bùng cháy.

Không chắc chuyện gì đang xảy ra, ngoại trừ anh đã đứng lên và đang nhảy vọt về phía tôi với tốc độ gãy cổ không giống Oscar chút nào. “Vậy thì em đã biết,” anh nói. “Em phải biết, CJ.”

“Biết gì cơ?”

Anh tóm lấy hai cánh tay tôi. “Rằng anh sợ em phát khiếp. Rằng anh không thể nhốt em bên ngoài như anh có thể với những người khác. Rằng anh nghĩ em có thể hủy hoại anh.”

Chúng tôi thở lớn tiếng, hổn hển và hòa nhịp. “Em không biết,” tôi thì thầm, chưa kịp thốt lên thành tiếng thì đôi môi anh đã đáp trên môi tôi mạnh mẽ và gấp gáp. Tôi cảm nhận cảm xúc dạt dào trên đôi môi anh, cảm nhận nó đang khai quật, giải phóng thứ gì đó trong tôi, thứ gì đó liều lĩnh, quả cảm và có cánh.

Bùm chéo.

“Anh chết chắc rồi,” anh nói vào mái tóc tôi, “chết chắc luôn,” lên cổ tôi, rồi lùi lại, đôi mắt anh lấp lánh. “Em sẽ khiến anh tiêu tùng phải không? Anh biết là thế mà.” Anh cười một nụ cười còn nghiêng ngả, xối xả hơn bình thường và có vẻ gì đó mới mẻ trên gương mặt anh, một sự rộng mở, có lẽ là sự tự do. “Em đã làm thế rồi ý chứ. Nhìn anh mà xem. Gã này là ai thế? Anh chắc chắn với em chưa ai từng gặp tay hỗn loạn này bao giờ. Anh còn chưa gặp hắn bao giờ. Và tất cả những gì anh vừa nói với em còn chẳng phải là một phần của trận cãi nhau với Guillermo cơ, Chúa ơi! Chỉ là anh buộc phải nói với em. Em phải biết anh chưa từng” - anh vẫy tay - “lên cơn điên bao giờ. Suýt cũng chưa. Không phải một gã hay lên cơn.” Ý anh là anh chưa từng yêu ai bao giờ à? Tôi nhớ Guillermo bảo Oscar rằng anh làm tổn thương người khác trước khi anh bị tổn thương, rồi anh không cho ai vào. Nhưng anh không thể nhốt tôi ở ngoài ư?

“Oscar,” tôi nói.

Anh áp hai lòng bàn tay lên má tôi. “Chẳng có chuyện gì xảy ra với Brooke sau lúc em đi cả. Chẳng gì cả. Sau khi anh kể cho em mấy chuyện về mẹ và anh, anh tá hỏa lên và cư xử như một thằng đần. Một thằng hèn - chắc em đã nghe lời khen tinh tế ấy từ miệng Guillermo sáng nay. Anh nghĩ anh đã cô hủy hoại chuyện này trước khi…” Tôi trông theo ánh mắt anh ra cửa sổ, vào thế giới đen kịt ngoài cản phòng này. “Anh cứ nghĩ giờ khi em đã thoáng thấy lòng dạ anh ra sao, anh thực sự là người thế nào, em sẽ…”

“Không,” tôi nói đầy thấu hiểu. “Ngược lại mới đúng. Nó khiến em thấy gần gũi với anh hơn. Nhưng em hiểu, em cũng nghĩ hệt vậy, rằng nếu mọi người thực sự hiểu em, họ sẽ không bao giờ có thể…”

“Anh có thể,” anh nói.

Câu nói ấy như khiến tôi hụt hơi, rọi ánh sáng vào tận thâm tâm tôi.

Cùng lúc đó, chúng tôi với lấy nhau và rồi chúng tôi đang ở trong vòng tay nhau, nối liền với nhau, kề sát bên nhau, nhưng lần này không hôn, không động đậy, chỉ ôm lấy nhau thật chặt. Nhiều giây trôi qua, rất nhiều, và chúng tôi cứ thế ôm lấy nhau, cảm giác như đang thiết tha vì sự sống, hoặc có lẽ đang thiết tha bám víu lấy sự sống. Vô cùng thiết tha.

“Giờ em có cái vỏ sò rồi,” anh nói, “anh nghĩ muốn an toàn mọi lúc thì anh chỉ được ở xa em chừng này là kịch cùng rồi.”

“Hóa ra đó là lý do anh đưa nó cho em!”

“Toàn bộ kế hoạch quỷ quyệt của anh.”

Anh kéo tôi lại gần hơn dù tôi không nghĩ chúng tôi còn có thể gần hơn được nữa. “Mình là bức tượng Nụ hôn của Brancusi,” tôi thì thầm. Một trong những bức tượng lãng mạn nhất từng được tạo nên: một người đàn ông và một người phụ nữ kề sát bên nhau thành một.

“Đúng rồi!” anh nói. “Giống hệt thế.” Anh lùi lại, vuốt một lọn tóc lên khỏi mặt tôi. “Vừa vặn như chúng ta là hai nửa tách rời.”

“Hai nửa tách rời?”

Mặt anh rạng rỡ. “Plato đã nói về những thực thể có bốn chân, bốn tay và hai đầu từng tồn tại trước kia. Họ hoàn toàn tự lập, sung sướng và hùng mạnh. Quá hùng mạnh, đến nỗi thần Zeus đã cắt tất cả họ ra làm đôi và rải các nửa khắp thế giới để con người phải chịu số phận bi đát khi mãi mãi tìm kiếm nửa còn lại, người có chung một linh hồn với mình. Chỉ những người may mắn nhất mới tìm thấy nửa tách rời của mình, em hiểu không.”

Tôi nghĩ về bức thư gửi Em yêu gần đây nhất.

Guillermo nói ông chỉ là nửa con người với nửa linh hồn, nửa tâm trí… “Em tìm thấy một bức thư khác mà Guillermo viết. Nó kẹp giữa một trong những cuốn sổ bác ấy để khắp nơi, một lời cầu hôn…”

“Ờ, anh sẽ tận dụng Đạo luật thứ năm* vậy, người Mỹ các em hay nói thế đúng không? Một ngày nào đó, bác ấy sẽ kể cho em mọi chuyện, anh chắc chắn đấy. Anh đã hứa với bác ấy…”

Tôi gật đầu. “Em hiểu.”

“Cơ mà hai người họ là hai nửa tách rời, cái đó là chắc chắn rồi.” anh nói. Tay anh đặt lên eo tôi. “Anh có ý này rất hay,” anh nói, gương mặt rộn ràng những xúc cảm. Giờ dường như chẳng còn phần trăm nào trong con người anh là đang diễn nữa. “Mình làm thế đi. Mình cùng lên cơn điên với nhau đi. Phần còn lại của câu chuyện là thế này: Anh như một mớ hỗn độn ở Tụ Điểm vì anh nghĩ anh đã phá hỏng mọi chuyện với em. Anh không quan tâm đến chuyện G. đã thêm chặt đầu vào danh sách những hình phạt man rợ nếu anh bén mảng đến gần em. Anh nghĩ lời tiên đoán của mẹ là thật. Anh tìm khắp nơi. Anh kiếm trong mọi đám đông. Anh chụp không biết bao nhiêu bức ảnh. Nhưng anh nhận ra em, chỉ mình em. Sau bao nhiêu năm trời.” Nụ cười toe toét lố bịch nhất đã choán lấy gương mặt anh. “Em thấy thế nào? Mình nẩy quanh trên mấy quả bóng Hippity Hop. Và nói chuyện với ma. Và nghĩ chúng ta dính vi rút Ebola chứ không phải cúm thường. Và nhét hành tây trong túi đến khi chúng nảy mầm. Và nhớ mẹ. Và làm ra những thứ đẹp đẽ…”

Hoàn toàn bị cuốn theo, tôi nói, “Và lái mô tô đi loanh quanh. Và vào mấy tòa nhà bỏ hoang rồi cởi quần áo. Và thậm chí có lẽ còn dạy một gã người Anh cách lướt sóng. Chỉ trừ việc em không biết ai vừa nói tất cả những thứ đó.”

“Anh biết,” anh nói.

“Em thấy hạnh phúc quá,” tôi choáng ngợp nói. “Em phải cho anh xem cái này.” Tôi gỡ mình khỏi anh và khều tìm cái túi ni lông dưới gầm giường.

“Vậy là Noah đã vẽ anh. Em không chắc làm thế nào…”

“Em không biết sao? Thằng bé từng cắm trại ngoài cửa sổ trường trung học nghệ thuật ấy để vẽ những người đứng mẫu.”

Tôi đưa tay lên che miệng.

“Sao thế?” Oscar nói. “Anh nói gì sai à?”

Tôi lắc đầu, cố xua tan hình ảnh Noah nhòm vào phòng học ở CSA đi. Nó đã có thể làm nên chuyện. Nhưng rồi tôi hít một hơi thật sâu, tự nhủ rằng mọi chuyện đều ổn cả, vì tới tuần sau nó sẽ ở CSA và ý nghĩ ấy trấn tĩnh tôi vừa đủ để tôi tiếp tục lục lọi tìm cái túi ni lông. Vài giây sau, tôi ngồi xuống cạnh Oscar, cái túi đặt trên đùi. “Được rồi. Chuyện là ngày xửa ngày xưa, em thấy bức chân dung trường phái lập thể em trai em vẽ anh và em buộc phải có nó.” Tôi nhìn anh. “Buộc phải có ý. Đó là tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên.” Anh mỉm cười. “Hồi ấy thằng bé và em hay chơi một trò trong đó bọn em phải đổi các phần thế giới cho nhau để trở thành bá chủ thiên hà. Lúc ấy thằng bé đang thắng. Bọn em… cạnh tranh rất ghê, nói thế là còn nhẹ đấy. Chuyện là thằng bé không muốn em có anh. Em phải từ bỏ gần như tất cả mọi thứ. Nhưng cũng đáng. Em giữ anh trên này.” Tôi chỉ cho anh xem chỗ tôi treo bức tranh vẽ anh cạnh giường tôi. “Em cứ nhìn chằm chằm anh mãi, ao ước mãi giá mà anh có thật và tưởng tượng ra anh chui qua cửa sổ, hệt như anh đã làm tối nay.”

Anh bật cười. “Thật là khó tin! Mình đúng là hai nửa tách rời.”

“Em không biết liệu em có muốn một nửa tách rời không,” tôi thành thật nói. “Em nghĩ em cần linh hồn của chính em.”

“Cũng công bằng. Thỉnh thoảng mình có thể làm hai nửa tách rời. Chẳng hạn như vào những dịp như thế này chẳng hạn.” Anh chậm rãi lướt một ngón tay dọc bên cổ tôi, ngang qua xương đòn, rồi xuống, xuống nữa. Tôi đã nghĩ cái gì mà khoét cổ sâu thế không biết? Tôi sẽ không từ chối một chiếc trường kỷ. Tôi sẽ chẳng từ chối bất cứ thứ gì cả. “Nhưng sao lại xé anh tan tành rồi nhét vào túi thế này?” anh hỏi.

“À, em trai em làm đấy. Hồi đấy nó cáu em. Em đã cố ghép anh lại không biết bao nhiêu lần rồi.”

“Cảm ơn em,” anh nói, nhưng rồi thứ gì đó ở phía bên kia phòng thu hút sự chú ý của anh và ngay lập tức, anh đứng dậy đi về phía tủ quần áo của tôi. Anh cầm một bức ảnh gia đình chúng tôi lên và ngắm nghía. Tôi đang quan sát anh trong gương. Khuôn mặt anh giờ tái mét lại. Sao thế? Anh quay đầu lại và nhìn xuyên thấu tôi. “Em không phải chị lớn của thằng bé,” anh như tự nhủ hơn là nói với tôi. “Hai đứa là chị em sinh đôi.” Tôi có thể thấy những bánh răng đang quay mòng mòng trong đầu anh. Hẳn anh biết Noah bao nhiêu tuổi và giờ anh cũng biết tôi bao nhiêu tuổi.

“Em đã định nói với anh rồi,” tôi nói. “Em nghĩ là em quá sợ. Em sợ anh sẽ…”

“Trời đất quỷ thần ơi.” Anh đang lao về phía cửa sổ. “Guillermo không biết.” Anh đã trèo được nửa đường ra khỏi bệ cửa sổ. Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

“Đợi đã,” tôi nói. “Đợi đã. Oscar. Tất nhiên là bác ấy biết rồi. Sao bác ấy lại quan tâm? Sao chuyện này lại to tát đến thế?” Tôi chạy về phía cửa sổ, hét vọng ra, “Bố em còn hơn mẹ em đến mười một tuổi cơ mà! Chuyện đó không quan trọng.”

Nhưng anh đã mất hút rồi.

Tôi tới chỗ tủ quần áo, cầm bức ảnh lên. Đó là bức chân dung gia đình yêu thích của tôi. Noah và tôi khoảng tám tuổi và mặc bộ đồ thủy thủ đôi trông dở hơi hết biết. Nhưng tôi thích nó là bởi bố mẹ tôi.

Bố mẹ đang nhìn nhau chăm chú như họ có bí mật tuyệt nhất trần đời.

Hoàng Đăng Lãnh dịch, Người dịch: Vũ Thu Hương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.