Ánh chiều tắt hẳn trong bóng tối đang giăng mắc khắp nơi. còn đường mòn len giữa rừng cây bắt đầu nhoà nhạt. Cả ba cho ngựa phi nước đại, mải miết phóng đi. Tiếng móng sắt đập trên sỏi đá dội lên một âm vang đều đặn như những đợt sóng nhịp nhàng chao động giữa đại dương. Bóng tối càng lúc càng dầy hơn nhưng khu rừng phía trước ba người lại rạng sáng. Một hồi sau, ba người nhìn rõ ánh lửa chiếu ngược lên màn trời đêm. Cả ba kim ngựa chậm lại, thận trọng tiến tới. Vượt thêm một đỗi đường, họ bắt đầu nhìn rõ nhiều lưỡi lửa đang cuồng loạn vươn cao. Cả một vùng rộng lớn râm ran tiếng lửa reo hoà lẫn tiếng nổ liên hồi của những gióng cây tươi bắt cháy. Trung Chính quyết định:
-Ta cột ngựa tại đây, băng rừng về trang viện coi sự thể ra sao.
Lát sau cả ba tới sát khu rừng quế, thấy vạt rừng phía bắc và toà trang viện đang chìm trong biển lửa. Tiếng lửa gầm thét man dại, hơi nóng tỏa ra hừng hực. Từ khoảng cách hơn một dặm, ba người vẫn có cảm gíac thân thể đang bị hun khô dần. Xung quanh họ, chim chóc khiếp hãi bay tán loạn.
Trung Chính nói:
-Với sức gió này thì khu rừng thông phía bên kia cũng khó tránh khỏi bị lửa thiêu.
Nguyệt Quế hỏi:
-Có cách nào dập nổi đám cháy không?
Trung Chính lắc đầu:
-Gió và lửa sẽ nương nhau bốc lên dữ dội hơn, không cách gì dập nổi.
Đúng lúc đó, mặt đất dưới chân ba người bỗng rung lên như trong cơn địa chấn. Khung mái đồ sộ của toà trang viện xập xuống dữ dội hất tung tàn lửa lên không thành một cột sáng đỏ rực. Trung Chính nhìn những tàn lửa vùn vụt bay theo gió và la lên kinh hãi:
-Huvền Không cổ tự không tránh nổi ngọn lửa này. vế gặp ngoại tổ ngay.
Ba người chạy lại chỗ buộc ngựa. Trước khi ra roi, Trung Chính nhắc:
-Kẻ phóng hoả có thể còn lẩn quất quanh đây. Cẩn thận đề phòng.
Nguyệt Quế, Lý Đại nắm chắc gươm trong tay đeo sát phía sau Trung Chính. Tới khúc đường chạy ngang trước trang viện, ba con vật khiếp hãi lông lộn giữa đám khói đen cuồn cuộn và những lưỡi lửa vươn dài theo từng đợt gió xoáy, cả ba rạp mình trên yên, ôm cứng cổ ngựa phóng như điên cuồng xuyên qua vùng hơi nóng hừng hực. Toà trang viện đang chìm trong lửa đỏ, nhưng cả ba đều mở to mắt nhìn về phía trước, cố vượt qua lớp khói mù khét lẹt và những lưỡi lửa không ngừng quẫy lộn trên đầu. Ba con ngựa lao đi như bị gíao nhọn cắm trên hông đưa ba người ra khỏi rừng quế. Trên rừng thông nhiều đốm lửa đã bùng lên. Trung Chính kinh hoàng hét lớn:
-Phóng nhanh hơn nữa. Cháy rừng thông roi.
Những con ngựa chạy hết tốc lực và ánh lửa tiếp tục bùng lên ở nhiều nơi phía trước họ. Cuối cùng cả ba cũng tới kịp triền dốc dẫn xuống con suối bọc quanh trái đồi có ngôi chùa, cả ba cho ngựa tách khỏi đường mòn chạy lao xuống dòng suối.
Trước lúc mặt trời lặn, Quách Bá Liêm và ôn Tử Mị đã xuất hiện tại khúc suối này. Cả hai băng theo lối tắt từ rừng quế ngược lên. Sau khi vượt qua con suối, ôn Tử Mị bỗng khựng lại thì thầm:
-Việc này dữ nhiều lành ít. Nên nghĩ lại coi.
Quách Bá Liêm nói:
-Binh pháp đã nói muốn phá địch mạnh, phải dựa vào bất ngờ. Ta đang nắm yếu tố bất ngờ trong tay sao lại bỏ qua để mối đại họa cứ lơ lửng mãi trên đầu như thế!
Ôn Tử Mị ngờ vực:
-Lão Đại dựa vào đâu để tin chắc như vậy?
Quách Bá Liêm nói:
-Từ lúc lão Nhị nhận ra lão già có mặt tại đây, ta không ngừng cho người kín đáo canh chừng và thông báo kịp thời mọi tin tức. Ta biết chắc lúc này lão già đang tĩnh tọa luyện công nên chúng ta có thể tới ngay trước mặt chưa chắc lão đã phát gíac.
-Tin đưa về cho lão Đại có tin được không?
-Không thể có chuyện thủ hạ dám báo tin sai cho ta. Lúc này chính là lúc chúng ta diệt tên quái tặng Bạch Hạc để không còn lo lắng nữa.
Ôn Tử Mị vẫn do dự:
-Lão thấy chỉ cần tránh lưu dấu vết lại là xong thay vì mạo hiểm tỉm diệt lão già này.
Quách Bá Liêm có vẻ bực bội:
-Những việc bấy nay của ta có chắc kín bưng không? Chỉ cần lộ ra một chút thi dẫu ta có trốn về bắc mạc cũng khó thoát khỏi lão quái tăng này.
Lão đổi giọng, tiếp:
-Cho tới nay, ta luôn chu toàn tốt đẹp mọi sự nên chuyện này cũng sẽ như thế.
Ôn Tử Mị suy nghĩ rồi lên tiếng:
-Đại Hãn giao cho ta nhiệm vụ làm giảm bớt cản trở cho bước tiến của đại quân vào Đại Việt chứ đâu có sai ta đi giết lão già Bạch Hạc?
Quách Bá Liêm gần như gắt lên:
-Đại Hãn làm sao biết ở xó rừng này có một lão già như tên Bạch Hạc! Vả lại, Đại Hãn có sai ta đi giết mấy tên Hoàng Nhung, Lê Bảo, Nguyễn Đông chăng? Muốn làm tròn công việc do Đại Hãn giao thì phải giết chúng. Lâo Nhị cứ khăng khăng đòi bỏ việc này là muốn bỏ công việc của Đại Hãn sao?
Ôn Tử Mị thấy Quách Bá Liêm đổi giọng buộc tội minh thì giảng giải:
-Lão không bỏ việc của Đại Hãn mà chỉ muốn lão Đại cân nhắc kỹ để tránh hư việc của Đại Hãn.
Quách Bá Liêm cắt ngang:
-Ta cân nhắc kỹ rồi. Lão Nhị lải nhải hoài chẳng qua là quá run sợ đó thôi.
Ôn Tử Mị quả là đang sợ nhưng sự miệt thị của Quách Bá Liêm lại khiến lão nổi giận:
-Bản thân lâo Đại có khi còn sợ hơn ta nửa. Nhưng lăo Đại đã nói thế thì bây giờ ta cùng đến trước mặt lão già Bạch Hạc coi đứa nào sợ hơn.
Ôn Tử Mị nói rồi cắm đầu bước tới.
Phút chốc, cả hai đã tới sát Huyền Không cổ tự. Quách Bá Liêm đã được thông báo là nhà sư đang tĩnh tọa trong căn phòng nhỏ chính giữa hậu liêu nên ra dấu cho Ôn Tử Mị cùng nhẹ nhàng chuyển về phía đó. Trước khi băng qua khu sân sau, lão thì thầm trấn an ồn Tử Mị:
- Lão Nhị quá biết người luyện võ trong lúc tĩnh tọa luyện công có khác gì loài rắn đang lột da. Dù là kẻ tài năng siêu đẳng thì vào lúc đó cũng chẳng làm gi được ai ngoài cách cúi đầu chịu chết. Dịp may này thật hiếm có.
Việc Hà Đằng trở lại sơn trại khiến hai người quyết định chuyển hết thủ hạ khỏi Qui Hoá để giữ an toàn. Do đó, ngay sau khi tàn sát người trong Nguyệt Độ trang cả hai băng sâu vào rừng quê gặp một đám thủ hạ. Chính lúc đó, Quách Bá Liêm được thủ hạ báo tin Bạch Hạc thần tăng đang tĩnh toạ luyện công. Lão lập tức mưu tính ra tay. Phân phối công việc cho thủ hạ xong, lão cùng ôn Tử Mị ngược lẽn rừng thông tìm gặp một nhóm thủ hạ khác rồi nhắm Huyền Không cổ tự đi tới. Lúc này cả hai đã đặt chân tới sân chùa.
Bạch Hạc thần tăng quả đang ở giữa giai đoạn hiểm nghèo nhất của việc luyện công. Một nửa thân hình nhà sư đang tỏa nhiệt khí ngùn ngụt trong khi nửa thân hình kia mỗi lúc một thêm gía băng.
Xuất thân dòng dõi một võ tướng lừng danh từ buổi khai sáng Lý triều, nhà sư không thể không rèn luyện võ nghệ. Nhưng lúc còn là công tử Lê Phụng Các, nhà sư lại ham tìm hiểu kinh kệ Thiền môn hơn. Gần như trọn tuổi thanh xuân của Lê Phụng Các chỉ là những cuộc viếng thăm các cao tăng trên khắp nước. Với túi sách trên vai, Phụng Các ngao du không mỏi qua các vùng danh thắng như cánh chim say mê tung bay khắp các vùng trời rộng.
Gần cuối đời Lý Cao Tôn, Phụng Các vào tuổi tam tuần, nhưng vẫn chưa thành gia thất. Người em trai của Phụng Các phải thay anh đóng vai gia trưởng trong nhà. Phụng Các thường chỉ bất ngờ ghé về thăm em giữa các chuyến đi. Người em cũng như Phụnc) Các không ham cảnh áo mũ xênh xang nên quẫn quanh ben nếp nhà tranh bình dị, vui với mấy thửa vườn nhỏ. Mỗi khi trở về, Phụng Các thường cùng em ngồi bên liếp rau xanh, ngắm những đám mây trắng trôi nhẹ trên nền trời.
Một buổi Phụng Các trở về thì cảnh cũ hoàn toàn thay đổi. Nếp nhà bình dị và những liếp rau xanh mà hai anh em thường dạo quanh không còn nữa. Trước mắt Phụng Các chỉ là mảnh đất hoang với những dấu tro tàn. Tình trạng đổ nát triều chính lúc đó khiến trộm cướp nổi lên như ong và tai họa đả đổ xuống cho gia đỉnh người em hiền hoà của Phụng Các. Toàn bộ gia đỉnh bị một đám lục lâm tàn sát chỉ sót lại đứa con gái nhỏ vừa năm tuổi đang được một người trong xóm chăm nom. Phụng Các liền đem cháu về Thăng Long gửi cho người em gái, rồi vào chùa xin xuống tóc.
Từ khi khoác lên mình bộ áo tu hành, xa lánh cõi tục, Phụng Các lại mải mê nghiên cứu võ học. Thói quen ngao du vẫn như cũ nhưng bước chân phiêu bạt không chỉ đượm riêng Thiền vị. Túi sách trên vai nhà sư ngoài kinh kệ còn chất nhiều bí kiếp võ lâm. Nhà sư cũng không chỉ ghé các cảnh chua mà xuất hiện bất ky nơi nào co những toán lục lâm hung tợn hoành hành.
Mười năm sau đó, cái tên Bạch Hạc thần tăng được mọi người gán cho một nhà sư vô danh đã trở nên quen thuộc với vùng đất trải dài từ biên giới phía nam nhà Tống tới các biên địa xa xôi trên toàn cõi Đại Việt. Không mấy người có dịp thấy mặt nhà sư, nhưng dấu vết xuất hiện của nhà sư rất rõ ràng. Đó là sự vắng bóng của những tên cường đạo.
Sau khi ngai vàng rơi vào tay họ Trần ít lâu, không ai còn nghe nhac đến Bạch Hạc thần tăng vì ông không còn xuất hiện. Thuở đó nhà sư đã vào tuổi lục tuần và qua ba mươi năm ngang dọc. Ông ẩn mình trong ngôi chùa cổ hoang phế giữa núi rừng Qui Hoá, chỉ một lần rời chùa khi nghe tin xẳy ra vụ tàn sát tại Thiên Đức Phủ vào bảy năm sau khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chông là Trần Cảnh. Sau lần đó, nhà sư không khi nào bước qua con suối dưới chân đồi.
Không đặt chân vào đời nữa, nhưng việc luyện võ vân là một phần cuộc sống của nhà sư. Hơn hai mươi năm trụ trì tại Huyền Không cổ tự, ông không ngừng nghĩ về một bí quỵết ghi trong Lạc Hông kiem phổ: Dương thắng tất cùng, Âm thắng tất kiệt. Ầm Dương giao hợp, vạn vật cụ sinh 0
Nhà sư thường tự hỏi mình:
-Âm Dương giao hợp là đem Lửa hoà trộn với Nước. Sao có thể làm nổi công việc này?
Trước mắt nhà sư, người luyện võ phân thành hai phái rõ rệt là thuần Dương hoặc thuần Âm. Suốt hai mươi năm cân nhắc, nhà sư đạt tới ý nghĩ:
-Lửa không thể cháy khi gặp Nước. Nước khó tránh khỏi bay hơi khi gặp Lửa. Nhưng Lửa và Nước sẽ giao hoà khi ở trong diễn trình chuyển hoá.
Ý nghĩ khiến nhà sư quyết định tiến hành cuộc giao hoà theo bí quyết. Nhà sư lần lượt khởi động hai luông nội lực âm dương điều vận vào cuộc đuổi bắt liên tục hướng về huyệt đản trung để vừa thông chuyển vừa gia tăng các luông nội lực. Theo suy nghĩ của nhà sư, khi các luông nội lực tăng tới mức cực đại, sự chuyển hoá sẽ diễn ra và đó chính là lúc có thể thực hiện một cuộc giao hoà toàn vẹn.
Nhà sư không còn nhớ tới ngoại cảnh khi một nửa mặt đỏ như ánh than hông và nửa mặt kia trở thành xám ngắt. Cuộc đuổi bắt giữa hai luông nội lực đang được dồn thúc để chuyển dần sang tiếp xúc. Màu da trên mặt nhà sư khởi sự đổi khác. Một màu hông sáng xuất hiện từ Huyền Quan Khiếu kéo xuống tiền đình rồi chạy thẳng qua Sơn Căn vượt huyệt Tố Liêu lan tới Yển Huyệt. Màu hông sáng mỗi lúc một lan rộng hơn khiến toàn bộ nước da trên khuôn mặt nhà sư đang trở lại bình thường, ngoại trừ hai bên tai còn mang hai màu đỏ, xám tương phản. Nhà sư đang tiến lần tới giây cuối của cuộc điều phối thì toàn thân bất ngờ chấn động, ông như sực tỉnh và cảm thấy vừa có va chạm cực mạnh trên ngực và bụng mình.
vẫn nhắm mắt nhưng nhà sư nhận ra mình bị đánh lén bằng một loạt ám khí. ông dồn một phần công lực phóng qua huyệt Cửu Vĩ. Từ ngực và bụng nhà sư, một loạt ám khí bật ra phóng ngược lại như những tia chớp và nghe vang lên tiếng la kinh hãi.
Nhà sư mở mắt ra và thấy hai người đang từ dưới thấp phỏng chưởng đánh ngược lên.
Quách Bá Liêm và Ôn Tử Mị lọt vào phòng khi Bạch Hạc thần tăng đang nhắm mắt ngồi trên một đống cây. Cả hai lập tức tung một loạt ám khí về phía nhà sư và mừng thầm thấy nhà sư vẫn ngồi bất động. Gần như cùng lúc đó, toàn thể ám khí vụt bay ngược lại khiến cả hai kinh hãi kêu lên. Vừa cúi xuống tránh thoát, cả hai đã kịp phóng chưởng đánh ngược về phía nhà sư. Hai người ra đòn trong thế thập tử nhất sinh nên đòn đánh vô cùng hung tợn. Nhưng trước mắt họ chỉ hai vạt áo nhà sư rung^ nhẹ, còn ông vẫn điềm nhiên tại chỗ. Ông nhìn thẳng vào mặt hai người thở dài.
Từ hai bên tai nhà sư, hai luông hơi trắng đục bắt đầu toả ra trong lúc nhà sư chậm rãi nhấc bàn tay lên. Đây là cử động đầu tiên của nhà sư từ lúc hai người bước vào gian phòng. Mồ hôi từ trán tràn qua mắt Quách Bá Liêm và ôn Tử Mị. Cả hai tái nhợt tựa sát vào nhau. Quách Liêm nhắc:
- Ta cùng chết với y thôi!
Cả hai luyện Đầu Tử Quyền nhiều năm và Quách Bá Liêm rụng không còn một sợi tóc vì công phu này. ôn Tử Mị tuy chưa sánh ngang với Quách nhưng cũng có một cái đầu cứng như thép. Đầu Tử Quyền là một môn ngạnh công tàn độc được dùng như đòn đánh cuối cùng trong thế sẵn sàng cùng chết với đối thủ. Không khi nào vận dụng Đầu Tử Quyền mà không có cái chết kèm theo. Ôn Tử Mị nghe Quách Bá Liêm than thì hội ý lặng lẽ vận công trong lúc nhà sư từ từ co tay lại. Thình lình cả hai cùng hét lớn và như hai mũi tên phóng thẳng vào người nhà sư ngay phía dưới yển huyệt.
Bạch Hạc thần tăng lật ngửa một bàn tay chặn trước ngực trong khi bàn tay kia đỡ ngang bụng. Cử động của nhà sư hết sức nhẹ nhàng, nhưng hai bàn tay đều nằm đúng bộ vị trước khi đầu Quách Bá Liêm và ôn Tử Mị húc tới. Cả hai bỗng cảm thấy một lực nhu nhuyễn chặn họ lại cuốn thân hình họ xoay theo như những chiếc lá trong cơn lốc xoáy. Chưa kịp định thần, cả hai đã thấy mình biĩ hất ngã ngay trước mặt nhà sư. Nhà sư ngồi nguyên tại chỗ, lên tiếng chậm rãi:
-Nếu muốn tìm cái chết thì ta sẽ giúp cho nhẹ nhàng hơn vận dụng thứ công phu đó.
Quách Bá Liêm và ôn Tử Mị thấy bàn tay nhà sư càng lúc càng đỏ hơn. Cả hai không hiểu nổi hiện tượng này, chỉ thấy giờ cuối cùng của mình đang tới. Quách Bá Liêm hoảng hồn kéo ôn Tử Mị cùng sụp xuống nói:
-Xin thần tăng dung tha. Chúng tôi ngu hèn chỉ làm theo lệnh chủ sai phái thôi.
Nhà sư khẽ thở dài, mắt vẫn nhìn chăm chăm vào bàn tay đang bắt đầu tỏa hơi. Nhà sư không còn sức tự vệ nữa, nhưng vẫn bình thản trước hai người.
Trong lúc Quách Bá Liêm lên tiếng năn nỉ, nhà sư co tìm cách kiềm chế các luông nội lực đang phát biến. Dần dần sắc mặt nhà sư thư thái hơn và bàn tay ngưng tỏa hơi nóng. Quách Bá Liêm thấy sắc mặt nhà sư dịu lại thì khấp khởi mừng thầm nghĩ rằng ông đang giảm cơn giận.
Lão nói tiếp:
-Bản thân chúng tôi không dám có ý xúc phạm thần tăng nhưng lỡ ăn cơm chủ nên không thể cãi lời.
Nhà sư lại buông ra một hơi thở dài và dựng bàn tay lên. Quách Bá Liêm đang toan nói tiếp thì bàn tay nhà sư đã chuyển động và cả hai cảm thấy toàn thân như bị nén dưới một trái núi. Cả hai vội vận lực cố chống lại nhưng sức ép mỗi lúc một tăng thêm. Đúng vào lúc cả hai cảm thấy toàn thể mạch máu trên người sắp đứt tung hết thì bàn tay nhà sư lại chuyển động và sức nặng giảm lần rồi mất hẳn. Cả hai phục lạy xuống không dám ngẩng đầu nhìn lên trong lúc nhà sư lên tiếng:
-Chủ các ngươi là ai?
Quách Bá Liêm vội đáp:
-Bẩm là., là.. Quốc Sư Thủ Độ.
Không rời mắt khỏi hai người nhà sư nói:
-Quả vậy thì tha mạng cho các ngươi là sai
lầm.
Nhà sư nói nhỏ nhưng cả hai nghe như sét nổ, mồ hôi ướt đẫm. Giọng nhà sư dứt khoát hơn:
-Các ngươi là con dân Đại Tống mà đi thờ Thủ Độ thì rõ ràng là kẻ bội nghịch tổ tiên có khác gì lang sói. Tha cho các ngươi là dung tha cho ác thú.
Nhà sư nói tới đó, một bàn tay lại đỏ rực.
Quách Bá Liêm và ôn Tử Mị khiếp hãi cùng cực cúi mọp người xuống.