Sáu năm sau đêm Trung Chính đẫm nước mắt cầm kiếm lệnh phóng ngựa như điên rời Thăng Long, đại quân Thát Đát tràn qua bắc thùy.
Giữa mùa đông năm Tỵ, Ngột Lương xua quân từ Quí Châu, Vân Nam tiến vào đất Đại Việt. Kỵ binh Thát Đát xoài vó dọc dẫy Tượng Sơn theo tả ngạn sông Thao ào ạt tiến về xuôi. Các cứ điểm phòng thủ của quân Đại Việt từ Ngã Ba Hạc tới Phù Lỗ bị tràn ngập mau chóng trước sức tấn cônc) như vũ bão. Cuộc chiến đấu giữ nước được chuẩn bị gần mười năm vẫn không ngăn nổi quân Thát Đát tiến thẳng về Thăng Long. Triều đình bỏ kinh thành cho Thát Đát chiếm đóng. Thế nước chông chênh như bánh xe đang lăn trên bờ vực. Nhà vua băn khoăn hỏi Quốc Sư Thủ Độ:
- Tình thế này liệu còn cách nào vượt khỏi nguy vong chăng?
Vị lão thần nghiêng mái đầu bạc trắng về phía nhà vua. Cặp mắt trĩu ưu tư của ông quắc lên. Giọng ông trầm trầm nhưng quyết liệt, nhấn rõ từng lời:
- Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin Bệ Hạ đừng lo!
Hơn một tháng sau, quân Đại Việt từ các lộ Hông, Khoái, Trường An, Thiên Trường dồn về phản công địch tại Đông Bộ Đầu, khôi phục kinh thành.
Ngột Lương chuyển quân qua hữu ngạn sông Thao, gom lực lượng tại Qui Hoá, chuẩn bị mở đợt tấn công thử nhì về Thăng Long. Các thám tử Thát Đát trong vùng được lệnh cấp tốc về gặp chủ tướng Ngột Lương để tường trình về địa thế và quân tình Đại Việt.
Cùng lúc Ngột Lương cho dựng trại chờ hội quân, chủ quán Quốc Oai khách điếm một mình một ngựa băng rừng tiến sâu vào miền tây bắc Qui Hoá, hướng về căn cứ Khau Pho.
Hai ngày sau đó, kỵ binh Thát Đát nhận chịu một cuộc tấn công chưa hề gặp trên khắp các chiến trường từng in dấu chân ngựa của họ. Trong lúc cánh quân triều đình của viên tướng trẻ Trần Quốc Tuấn từ lộ Quốc Oai vượt Trung Ha tiến lên, nghĩa binh lộ Qui Hoá dưới sự dắt dẫn của thủ lãnh Lý Trung Chính xuất hiện như tiếng sét bất ngờ nổ giữa trời trong, cắt nát kỵ binh Thát Đát thành từng toán nhỏ. Cuộc phối hợp giữa quân triều đình và nghĩa binh Qui Hoá dồn lực lượng Thát Đát vào thế bị động hoàn toàn từ phút khởi đầu trận đánh. Lần đầu tiên đoàn kỵ binh bách thắng khắp hoang mạc Bắc Á vừa xéo nát đế quốc Ba Tư và chinh phục Đại Lý lâm cảnh tan vỡ kinh hoàng. Những chiến sĩ áo chàm chập chờn biến hiện như những bóng ma và dũng mạnh như một bầy sư tử.
Ngột Lương phải ra lệnh mở đường máu thoát thân, cuốn vó chạy dài về phương bắc dưới sự truy sát bén gót của quân Đại Việt. Những ngày cuối cùng của mùa đông năm Tỵ cũng là những ngày cuối cùng của ba vạn chiến binh Thát Đát vừa hung hăng vượt bắc thùy Đại Việt ít ngày trước đó. Ngột Lương chỉ còn vài chục thân tùy cắm đầu chạy không kịp thở, cố tránh thật xa đoàn quân áo chàm của chàng trai có cặp mắt như bốc lửa và cánh tay gươm không hề mệt mỏi.
Vào lúc chờ nghĩa binh thu dọn chiến trường để tập hợp về xuôi, Lý Trung Chính trầm ngâm trên yên ngựa nhớ lại những người từng sát cánh bên chàng. Chàng nhớ tới người chú họ Lý Bảo Tuấn hầu như không lúc nào rời chàng nửa bước. Với tuổi già bảy chục, ông vẫn giữ nguyên khí phách của viên tướng trẻ lừng danh Trung Dũng Hầu thuở trước. Luôn luôn xông xáo trên đầu các hàng quân, ông chỉ chịu ngưng khi nhận một mũi tên Thát Đát cắm suốt qua tim. Trung Chính thở dài nhủ thầm:
- Dù sao thì chú cũng hài lòng vì đã dự phần làm sống lại trận Như Nguyệt ngày xưa.
Đưa mắt nhìn toàn thể tướng sĩ đang nghiêm hàng chờ đợi, chàng giơ cao kiếm lệnh, ngoắc tay. Đoàn quân chuyển mình trở bước về xuôi dưới những tia nắng đầu tiên của một mùa xuân mới.
Ít ngày sau, dấu vết khắc nghiệt của mùa đông năm Tỵ đã được xoá sạch trên dãy đồi trùng điệp dọc hữu ngạn sông Thao. Thảm cỏ non rải rác những khóm hoa dại đủ màu trải dài vô tận không còn một gợi nhắc nào về những ngày máu lửa xối tràn trên chính mảnh đất này. Trung Chính thả lỏng tay cương, mặĩc cho con chiến mã buông những bước nhàn tản ngược theo một triền dốc. Tới đỉnh đồi, chàng đưa tay vỗ nhẹ vào cổ ngựa. Con vật hiểu ý chủ dừng lại, thở ra một hơi dài khoan khoái, co vó đạp xuống mặt cỏ rồi ngẩng cao đầu ngó về phía trước.
Chàng trai không để ý tới con vật. Cặp mắt luôn rực lửa của chàng tựa hồ bị cuốn trôi theo dòng nước thượng nguồn sông Thao đang cuồn cuộn chảy về xuôi. Mái tóc dài không buộc bỏ xõa quanh vai làm nổi bật những góc cạnh của khuôn mặt cương nghị với nước da xạm đen vì nắng gió. Phong phanh trong tấm áo thổ dân bạc màu và ngồi lặng trên yên như một pho tượng đá, chàng trai vẫn không giấu nổi vẻ ngang tàng. Bên chàng, lão bộc Lý Đại im lìm như chiếc bóng. Lão kìm ngựa đứng ngang hàng với Trung Chính, kín đáo đưa mắt dò xét. Thấy chủ nhìn theo dòng nước như ngây dại, lão gọi nhỏ:
-Vương gia!
Trung Chinh từ từ quay lại, nhận thấy trong âm vang tiếng kêu ngắn ngủi của người lão bộc hương vị trìu mến xót xa của tấm tình phụ tử. Chàng vụt nhớ những ngày thơ ấu đã bao lần tin cậy tựa người vào đôi tay săn chắc của lão, vội lắc đầu như cố xua tan những cảm xúc đang dâng lên. Ánh mắt dịu dàng của chàng chợt loé một tia giễu cợt.
Chàng khẽ nắm cánh tay Lý Đại hỏi:
-Chỉ có một bài học đó mà ngần ấy năm Đại thúc không thuộc sao?
Lý Đại ngơ ngác nhìn không hiểu chàng muốn nói gì. Chàng mỉm cười:
-Từ lâu, chúng ta chỉ còn là người sơn dã, sao Đại thúc dùng mãi tiếng xưng hô ấy?
Lý Đại gượng cười nhưng vẫn không chặn nổi nỗi băn khoăn đang dằn vặt. Lão ngập ngừng hỏi:
-Nhưng, vương gia... à... trại chủ! Trại chủ có thể đổi ý không?
Trung Chính nhìn vào cặp mắt bối rối của lão, nói chậm rãi như tâm sự với chính mình:
-Đại thúc đừng băn khoăn nữa. Ta hiểu rõ lòng mình và biết nên làm gì. Từ đó tới nay hơn sáu năm rồi... Sáu năm dài thăm thẳm mà ngày nào ta cũng suy nghĩ... Sở dĩ tới nay ta mới nói rõ ý mình vì lúc này khắp nơi đã sạch bóng quân thù, cuộc sống an lành đã lập lại. Đại thúc đừng tìm cách cản việc ta định làm.
-Sĩ tốt và trang trại sẽ ra sao?
-Với sự giúp đỡ của Đại thúc, Long Diên đủ sức lo liệu. Vả lại, giữa ta và triều đình kể như đã là một...
Lý Đại bỗng sực nhớ ra một việc:
-Lão quên là hồi tối Nhị trại chủ dặn thông báo cho trại chủ hay Trung Dũng Hầu phu nhân mất rồi.
Trung Chính ngậm ngùi:
-Tội nghiệp cho thím!
Trong một thoáng, chàng nhớ lại toàn bộ cuộc đời của người thím họ. Hình ảnh thân xác tàn phế của bà xoá nhòa hẳn khung cảnh trước mắt chàng.
Lý Đại tiếp tục kể:
-Kiều Phúc vâng lệnh Nhị trại chủ về kiếm bà thì chỉ gặp lão Tứ và người hầu gái. Theo lời kể, bà mất hết sức đột ngột. Giữa lúc đang ngồi bên cạnh người hầu gái ngoài hiên, bà bỗng nhìn đăm đăm lên không rồi kêu lớn: “Phu quân!” Sau tiếng kêu bà ngã xuống. Người hầu gái vội đỡ bà lên thì tim bà đã ngưng đập.
Lão thấp giọng hơn đầy vẻ kính cẩn:
-Lạ là bà mất đúng lúc Trung Dũng Hầu trúng tên ngoài mặt trận.
Trung Chính vẫn nắm tay Lý Đại, nói:
-Đại thúc nhắc Long Diên đưa bà về trại an táng bên cạnh mộ Trung Dũng Hầu ...
Tiếng vó ngựa khua gấp bất ngờ vang lên cắt ngang lời Trung Chính, cả hai cùng nhìn về phía sau. Một kỵ sĩ rạp mình trên yên đang thúc ngựa phi nước đại dọc bờ sông Thao về chổ hai người. Lý Đại nói:
-Nhị trại chủ đi kiếm ta. Chắc có việc khẩn cấp.
Trung Chính chưa kịp đáp, Long Diên đã vọt ngựa lên đồi la lớn:
-Huynh trưởng! Huynh trưởng có việc!
Trung Chính nói:
-Giờ này ta còn việc gì nữa đâu!
Long Diên nói một hơi:
-Triều đình vừa lấy lại tước cũ Trung Dũng Hầu truy tặng thúc phụ và sắc phong huynh trưởng làm Bảo Nghĩa Vương. Quốc Sư gửi thư mời huynh trưởng về ngay Thăng Long dự đại hội Khải Hoàn. Người đem thư đang có mặt tại trại chờ huynh trưởng cùng đi. Y nói Quốc Sư bảo nếu huynh trượng vắng mặt ợ Thăng Long thì cả nhà y sẽ vào nằm trong ngục tối.
Trung Chính lắc đầu:
-Lẽ nào như vậy được. Quốc Sư nói vậy chỉ nhắm bày tỏ mối thâm tình đối với ta đó thôi.
Chàng nói tiếp:
-Long Diên, em hãy thay ta về kinh dự hội. Nhớ đem theo lá thư ta viết sẵn để trên án về trao tận tay Quốc Sư. Em nói giùm là ta không dám chê tước lộc triều đình những đã quyết gửi mình cho sương gió rồi. Từ nay, đời ta gắn với chân trời góc biển, nhưng dù ở nơi nào ta cũng nhớ về Quốc Sư. Chỉ có điều ...
Chàng ngừng lại cố kìm cảm xúc và nói mau:
-Xin Quốc Sư hiểu cho là ta không bao giờ có thể đặt chân về Thăng Long được.
Long Diên ngạc nhiên nhìn anh:
-Huynh trưởng nói chi lạ! Quê cha đất tổ của mình sao không về?
Trung Chính toan nói nhưng lại thôi. Toàn bộ con người Long Diên toát ra một sức mạnh cương cường và một vẻ bông bột sôi nổi. Chàng nghĩ thầm:
-Không chuyện gì khiến Long Diên buồn lâu hơn một ngày.
Chàng lẳng lặng tháo thanh gươm đeo bên hông trao cho em. Thấy Long Diên nhìn mình có vẻ dò hỏi, chàng nói:
-Đây là kiếm lệnh mà trước đây Quốc Sư trao cho ta. Em hãy thay ta chuyển lại và nhắc là ta không bao giờ quên những lời nói đêm nào của Quốc Sư.
Chàng cao giọng nhắc:
-Thôi, em và Đại thúc về lo công việc cho kịp.
Long Diên vội níu tay chàng lại nói:
-Huynh trưởng, còn việc của Nguyệt Quế!
Trung Chính hỏi:
-Nguyệt Quế có chuyện gì?
-Người đem thư cũng đem thư của An Phủ Sứ Trần Kiều nhắc lại việc cầu thân cho Quốc Ân với Nguyệt Quế.
-Chuyện đó thì em cùng Đại thúc dư sức loliệu.
Long Diên lắc đầu:
-Nếu dễ dàng thì em đâu níu kéo huynh trưởng.
-Sao vậy?
-Nguyệt Quế khăng khăng đòi phải tìm cho ra Quách Bá Liêm trước đã. Cô ấy thề rằng chưa giết được Quách Bá Liêm, cô ấy sẽ đi tìm cho tới lúc chết.
Trung Chính thở ra nhẹ nhõm:
-Quốc Sư làm giúp ta việc đó từ lâu rồi. Quách Bá Liêm bỏ mạng sau vụ Nguyệt Độ Trang khoảng hơn một tháng. Người trả thù cho chúng ta hiện đang có mặt tại lộ Quốc Oai. Em nhắc Nguyệt Quế sau khi thành hôn hãy cùng chồng ghé Quốc Oai khách điếm gặp Đoàn Đại Từ tiên sinh. Bấy nay ta không tiết lộ là muốn giữ kín công việc của Đoàn lão tiên sinh.
Chàng hỏi Long Diên:
-Hiện Quốc Ân đang ở đâu?
-Cậu ấy vừa được ân tặng tước Long Vân Hầu hiện vẫn là thuộc tướng của Trần Quốc Tuấn, nhưng sắp chuyển về Qui Hoá thay thế cho Đỗ Nghiêm đã tử trận trong trận đánh với Thát Đát vừa qua.
Trung Chính vỗ vai Long Diên tỏ dấu giã từ:
-Em xin lỗi Quốc Ân, Nguyệt Quế giúp ta về việc vắng mặt trong ngày vui của hai người. Nhưng lúc nào ta cũng cầu mong cho cả hai luôn như ý.
Long Diên vẫn nắm tay Trung Chính. Chàng nhìn anh năn nỉ:
-Huynh trưởng nán lại thêm ít ngày. Em sẽ sai tạo trên cảnh đoi này một khu riêng biệt cho huynh trưởng. Như thế huynh trưởng vẫn theo đúng ý mình trong lúc em và mọi người vẫn có dịpgần gũi.
Chàng gỡ tay Long Diên, mỉm cười:
- Đối với kẻ phiêu bạt thì xó núi, góc rừng cũng là điện đài. Đừng bận tâm về ta nữa. Thôi, giã biệt!
Dứt lời, chàng giật mạnh dây cương. Con chiến mã chồm lên xoải vó lao xuống chân đồi.
Long Diên tính phóng theo nhưng Lý Đại đưa tay cản lại. Bắt gặp những dòng nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo của người lão bộc, Long Diên vội đứng im, đưa mắt nhìn theo anh.
Trung Chính đã xuống hết chân đồi đang cho ngựa bọc về hướng thượng nguồn Đà giang, xa lần dòng sông Thao cuồn cuộn chảy. Bóng chàng nhỏ dần, nhỏ dần, cuối cùng chỉ còn là một vệt xám mờ giữa núi rừng bát ngát màu xanh.
Long Diên cố dõi theo cho tới khi cái vệt xám mờ biến hẳn đi thì buông một tiếng thở dài. Chàng không hiểu nổi ý nghĩ của Trung Chính, muốn lên tiếng hỏi Lý Đại. Nhưng Lý Đại như đang đắm mình vào một cõi xa xăm, nước mắt chan hoà trên mặt.
Lần đầu tiên, Long Diên thấy lòng mình trống trải và nhận ra mức rộng lớn vô cùng của không gian. Lúc này chàng mới bàng hoàng nghĩ ra là không bao giờ còn hy vọng gặp lại Trung Chính. Chàng vội nhìn về phía chân trời xa hút. Trước mắt Long Diên, những lớp sương chiều mờ nhạt đang dâng lên.
Vượt ngoài tầm nhìn của hai người, Trung Chính kìm ngựa chậm lại. Xung quanh chàng chỉ còn cây cỏ im lìm. Chàng bỏ mặc cho con chiến mã chậm rãi bước đi, hướng về phía những ngọn núi chập chùng phía trước kéo theo dẫy đồi vô tậnbăng qua thượng nguồn sông Đà trải dài về tận Mộc Châu. Trung Chính không mảy may lưu tâm tới điều này và cũng quên luôn cả chính mình. Tiếng vó ngựa buông đều trên thảm cỏ giống như âm thanh của điệu ru mơ hồ đưa chàng xa dần cảnh vật. Sương chiều mỗi lúc một dầy hơn thấm ướt hai vai nhưng chàng không hay.
Chàng chập chờn trôi trên dòng nước chảy qua một vùng trời riêng, ở đó chàng bắt gặp cặp mắt nặng trĩu u hoài đang lặng lẽ dõi theo chàng giữa màn sương lạnh. Rồi một hàng cau gầy guộc hiện ra che mờ cặp mắt nọ. Hàng cau in bóng xuống ngay phía trước chàng thành hình một góc lầu co quạnh dưới ánh trăng mờ ảo. Từ dưới mái lầu, một giọng hò sa mạc nghẹn ngào day dứt nhẹ nhẹ cất lên.
Hơn sáu năm đã trôi qua, giọng hò vẫn không ngừng vang vọng trong tâm tưởng chàng cùng hình ảnh ngôi nhà đổ nát trên nền đất cũ tại quê hương Kinh Bắc. Giọng hò thấm mãi vào sương đêm, lan nhanh như một làn sóng bủa khắp không gian, đưa từng lời ca vào đáy hồn chàng:
- Nhớ ai trong gió trong sương,
Nhớ ai đêm văng dậm trường bơ vơ.
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ,
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai ?
Sài Gòn 1990