Giấc mơ của Thế kỉ Ánh sáng
Bước vào thế kỉ 20, người Mỹ cảm thấy tin tưởng vào thế giới của họ. Những thập kỉ trước mắt sẽ không thể bị xáo trộn bởi những bất định của nền chính trị quốc tế, vì nước Mỹ vẫn trung thành với Học thuyết Monroe năm 1823, trong đó tuyên bố Tây bán cầu đã đóng cửa đối với chính sách tăng cường chủ nghĩa thực dân, đồng thời nêu rõ chính sách của Mỹ là không can thiệp ở nước ngoài. Năm 1899, một hiệp định hoà bình quốc tế đã được kí ở The Hague, và một năm sau nước Mỹ quyết định lấy vàng làm tiêu chuẩn tiền tệ, để tiền giấy luôn luôn dựa trên một giá trị hữu hình xác thực.
Cùng giai đoạn đó, trẻ em ở Anh được dạy rằng tất cả những chỗ được tô màu đỏ trên bản đồ thế giới đều là thuộc địa hoặc đất bảo hộ của Anh. Các em được nghe nói rằng Đế quốc Anh rộng hơn bất kì một đế quốc nào khác trong lịch sử thế giới. Theo nghĩa đen nó trải dài từ Tây sang Đông, đến nỗi mặt trời không bao giờ lặn trên đất Anh. Làm sao một đế chế từng phát triển hùng cường dựa trên thương mại và một nền hành chính “gia trưởng” như thế rồi cũng phải có lúc suy yếu?
Người Mỹ và người châu Âu đều là hậu duệ của những thế hệ đã tạo nên giấc mơ vĩ đại của Thế kỉ Ánh sáng - giấc mơ tin rằng con người có thể cải tạo được, và xã hội sẽ tốt đẹp hơn nhờ tri thức và giáo dục. Các nhà triết học Khai sáng của thế kỉ 18 đã biểu lộ niềm tin của họ vào sức mạnh của lí trí và giá trị của tiến bộ. Họ tin rằng có thể xoá bỏ các thái cực nghèo khổ và bất công. Các thành phố sẽ là những khu vực trật tự ngăn nắp đâu ra đấy. Và, một khi được tự do với những gì mình muốn, sự tồn tại của con người sẽ bao gồm cả những gì thú vị nhất quanh họ, khi đó cách con người đối xử với nhau sẽ như đối với chính bản thân mình. Nếu tội phạm và những hành vi chống đối xã hội là kết quả của tình trạng vô gia cư và những điều kiện tồi tệ của xã hội thì nó sẽ được xoá sạch bởi việc lập những kế hoạch xã hội hợp lí. Với công chúng được giáo dục tốt và được thông tin đầy đủ, một nền dân chủ thật sự sẽ trở thành hiện thực.
Giấc mơ này dựa trên một tập hợp các yếu tố xác định và những giá trị mà mọi người cùng tin theo - lẽ phải được mọi người thừa nhận, hạnh phúc trọn vẹn, lí trí, ý chí tự do, chính phủ tốt và luật lệ trật tự. Giấc mơ này có mầm mống từ các thành phố-nhà nước (city-states) trong quá khứ, từ Athens thời Hi Lạp cổ đại cho tới Florence và Venice thời Phục hưng[1].
Những thành phố-nhà nước này đủ nhỏ, đủ vững chắc để một nền dân chủ năng động có thể được thực thi (mặc dù quyền được đi bầu cử chắc chắn là không phổ biến). Một nhóm nhỏ những quan chức được bầu, chịu trách nhiệm với toàn thể xã hội, hành động đầy trách nhiệm, đưa ra những quyết định khôn ngoan, nhạy cảm để làm cho xã hội đạt được tính ổn định nội tại, bảo vệ nó tránh khỏi mọi xáo trộn. Công dân của những nhà nước như thế vừa hài lòng với cuộc sống, vừa có đầu óc sáng tạo. Họ không chỉ buôn bán mà còn yêu nghệ thuật, âm nhạc, văn chương, và yêu những công trình công cộng đẹp đẽ. Chẳng hạn, hoạ sĩ Piero della Francesca đã phác thảo những thiết kế cho một Thành phố Lí tưởng, để sao cho những con người có lí trí được sống trong những xã hội nền nếp trật tự. Đến lượt nó, một thành phố dựa trên những nguyên lí toán học sẽ khiến các công dân của nó ứng xử hài hoà và có trật tự.
Thậm chí những người có bản chất phóng đãng cũng không bị bỏ quên trong các xã hội có trật tự nền nếp như thế. Họ sẽ được đưa vào những khu vực riêng để không thể có những hành vi mất kiểm soát đe doạ đến sự bình yên và trật tự của xã hội. Hằng năm, Venice và nhiều thành phố-nhà nước khác có những lễ hội hoá trang, trong đó sự phóng túng tình dục được cho phép, nhưng luôn luôn năm trong khuôn khổ pháp luật, nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt. Chẳng hạn, bằng việc giấu khuôn mặt sau chiếc mặt nạ, danh tính được giấu kín để ngay cả quan hệ họ hàng cũng không bị tiết lộ. Trong thế kỉ 16, Venice dấy lên tình trạng một số đàn ông cũng hành nghề bán dâm, nhưng chính quyền thành phố đã tránh bất kì sự đối đầu nào với các luật lệ nghiêm khắc của nhà thờ về tình dục đồng giới, bằng cách ra sắc lệnh quy định một đàn ông giả trang làm phụ nữ sẽ chính thức được coi là “một phụ nữ đeo mặt nạ” và do đó sẽ không bị bắt giết. Trong một xã hội có trật tự như thế, dục vọng phải được kiềm chế và chuyển thành năng lượng rèn luyện trau dồi tri thức.
Tư tưởng khai sáng chống lại thói mê tín dị đoan bằng cách đòi hỏi con người phải là một sinh vật có lí trí. Đó là lúc John Stuart Mill và Jeremy Bentham đã nêu lên “thuyết vị lợi” (utilitarianism), cho rằng giá trị của sự vật và hành động được xác định bởi lợi ích của nó, và do đó mọi hành động phải hướng tới việc đạt được hạnh phúc lớn nhất cho đa số mọi người. Ý nghĩ này xuất phát từ chỗ tin rằng hạnh phúc của con người có thể đạt tới mức tối đa, đồng thời số lượng mọi tiện nghi cũng có thể tăng tới mức tối đa. Thế kỉ 18 cũng chứng kiến sự trỗi dậy của khoa học và sự tin tưởng mạnh mẽ đối với sức mạnh của tri thức. Khoa học và công nghệ được coi là có khả năng giải quyết mọi vấn đề tồn tại của xã hội bằng cách áp dụng những “phương pháp khoa học” vận dụng logic, các tri thức hiểu biết và khả năng dự đoán tương lai thông qua toán học.
Sau vài thế kỉ, niềm tin vào tương lai của khoa học đã đạt tơi nhưng đỉnh cao chót thông qua những con người có tinh thần lạc quan vô bờ bến đối với công nghệ, chẳng hạn như nhà văn nổi tiếng trong thế kỉ 19 H. G. Wells[2] (mặc dù Wells cũng có lúc nhìn khoa học và tương lai của xã hội loài người với con mắt bi quan yếm thế). Con người sẽ khám phá ra những nguồn năng lượng tự do không bao giờ cạn; tuổi thọ sẽ cao hơn; bệnh tật và đói nghèo có thể sẽ được xoá sạch; mọi tri thức sẽ được vén mở cho chúng ta. Nhờ thông tin liên lạc nhanh chóng và nhờ việc dễ dàng di chuyển khắp nơi nên con người sẽ nhận ra rằng tất cả chúng ta cùng trú ngụ trong một thế giới, chiến tranh và xung đột sẽ trở thành chuyện quá khứ. Nghèo đói và bất công sẽ bị xoá bỏ và sẽ có một chính phủ toàn cầu bao gồm những lãnh tụ kĩ trị nhân từ lương thiện. Đó là hình ảnh của tương lai được hình dung vào buổi bình minh của thế kỉ 20.
Giấc ngủ của lí trí
Tuy nhiên, trong những năm sau này, hai cuộc Thế chiến đã nổ ra cùng với vô số cuộc xung đột vũ trang khác, những cuộc đàn áp quần chúng, thanh trừng sắc tộc, sự huỷ diệt hàng loạt, chiến tranh vi trùng và chiến tranh hoá học, sự tàn phá môi trường và mối đe doạ huỷ diệt của vũ khí hạt nhân. Những sự kiện như thế đẩy nhiều nhà tư tưởng rơi vào trạng thái bàng hoàng thất vọng. Nghệ sĩ, nhà soạn nhạc, và các nhà văn đặt câu hoỏ làm sao có thể sáng tạo nên các tác phẩm mới dưới bóng tối của những sự kiện khủng khiếp đến như thế. Làm sao có thể thể hiện cái đẹp, niềm vui, sự tự tin và niềm hi vọng khi chứng kiến tất cả những sự thật u ám đã xảy ra? Ngay cả khoa học cũng trở nên suy đồi. Theo lời của Oppenheimer, một trong những nhà khoa học lãnh đạo chương trình chế tạo bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ thì những vụ nổ của bom nguyên tử làm cho khoa học bị coi như một thứ “tội tổ tông”[3]. Nhiều người được coi là tử tế nghiêm chỉnh như nhà vật lí, nhà hoá học, kĩ sư, nhà tâm lí học, vv. đã hiến dâng tài năng của họ cho việc sản xuất những vũ khí với sức tàn phá khủng khiếp - bom hạt nhân, tên lửa, khí độc, vi trùng, virus cũng như những phương tiện tẩy não, tra tấn, và hủy hoại nhân cách con người. Nhiều nhà chính trị, quan chức bàn giấy, tướng tá đã vẽ ra những kế hoạch huỷ diệt hàng loạt, nhằm tàn phá toàn bộ các khu vực dân cư và thanh trừng sắc tộc.
Nhưng nỗi khiếp sợ lớn nhất là ở chỗ, sau những tàn phá của hai cuộc Thế chiến và mối đe doạ thường xuyên của sự huỷ diệt hạt nhân, những kiểu tư duy cũ vẫn tiếp tục tồn tại. Các cuộc tranh chấp vẫn được giải quyết bởi bạo lực và chiến tranh. Trong một số trường hợp, bạo lực mang tính phũ phàng và trực tiếp, dân chúng bị giày xéo như bã nho và bị chém giết như trong lò mổ. Trong những trường hợp khác, tiến bộ của công nghệ như tên lửa và kĩ thuật điện tử đã gieo rắc cái chết từ xa. Dường như ngay cả những ngành khoa học và công nghệ tinh vi nhất cũng đang phục vụ cho những cuộc tấn công và phản công quân sự quyết liệt nhất.
Bất chấp tất cả những tri thức mới, khoa học, toà án quốc tế, Liên Hiệp Quốc, và khả năng thông tin toàn cầu để các nước có thể dễ dàng đối thoại, tình hình vẫn tiếp tục hỗn loạn tồi tệ. Phải chăng điều đó nói lên rằng lí trí và khoa học là không đủ? Phải chăng công cuộc tiến hoá của nhân loại đang đi lầm đường lạc lối tới mức loài người có thể tự huỷ diệt chính mình và huỷ diệt luôn cả môi trường nuôi dưỡng mình? Phải chăng ý thức của con người đã phát triển quá nhanh để rồi phải lo lắng về những công nghệ do chính mình tạo ra? Với tư cách là những con người có đạo đức, phải chăng chúng ta đang bị kết tội là sa ngã rồi lại tiếp tục sa ngã? Có cách nào cứu giúp chúng ta không?
Muốn tìm hiểu căn nguyên của hành vi phá hoại, chúng ta phải quay sang các nhà tâm lí học và chuyên gia tâm thần để xin ý kiến chẩn đoán. Sigmund Freud lập luận rằng lí trí, cái vốn được coi là nền tảng chắc chắn của một xã hội có trật tự nền nếp, thực ra chỉ là bề nổi của một đại dương vô thức mênh mông - một tầng tâm lí nằm sâu bên dưới, ẩn giấu những khát vọng điên cuồng và những cơn bốc đồng thôi thúc. Sức mạnh của cái vô thức này thường xuyên đe doạ nổ tung trong cuộc sống tỉnh thức của chúng ta.
Theo Freud, con người được hướng dẫn bởi những lực “Eros” - cái “libido” hay bản năng sống hướng tới ham muốn thoả mãn dục vọng và sự sống còn. Nhưng còn có một phản lực, đó là cái “Thanatos”, hay xu thế “Muốn Chết” - xu thế tìm cách giải quyết mọi căng thẳng trong cuộc sống bằng cách quay về trang thái vô tri vô giác của cái chết. Thanatos và Bros tạo thành một cặp tâm lí nhị nguyên thường xuyên xung đột với nhau bên trong các cá nhân và xã hội.
Cho tới phút chót của cuộc đời, năm 1930, trong khi chống chọi với bệnh ung thư, Freud vẫn nghiên cứu mối xung đột giữa Eros và Thanatos trong tác phẩm đầy bi quan Civilization and Its Discontents (Nền văn minh và sự bất mãn của nó). Freud đổ tội cho cảm giác về Cái Một (Oneness)[4], khái niệm phổ biến đối với các nghi lễ huyền bí và là trung tâm điểm của các tôn giáo, như một khát vọng quay trở về với trạng thái ngây thơ bất lực của con trẻ lúc đang còn bú sữa mẹ. Ông tin rằng không thể có lời giải đối với nỗi khao khát trở về trạng thái vô tri vô giác này. Trong khi “phức cảm Oedipus” (Oedipus complex) là trạng thái tâm lí có thể phân tích được, thì đối với khát vọng giải quyết mọi căng thẳng thông qua cái chết ta lại không có “phương thuốc điều trị” nào. Theo Freud, Thanatos là một trạng thái tâm lí phổ biến đối với tất cả mọi người và nằm sâu dưới nền tảng của mọi xã hội, nơi nó thường xuyên đe doạ bùng nổ thành những hành vi đập phá hết sức tệ hại.
Cũng theo Freud, tình trạng căng thẳng giữa nền văn minh và thế giới tự nhiên là không thể giải quyết được, chính vì lí do này mà không bao giờ có thể có một xã hội thật sự lí tưởng, cũng như không bao giờ có một hạnh phúc và sự hài hoà thuần khiết của con người. Có lẽ đây là lí do căn bản để sự cùng khốn, bất công xã hội, và sự bất bình đẳng chính trị châm ngòi cho sự bùng nổ bạo lực và những căng thẳng xã hội. Tuy nhiên, nguồn gốc sâu xa của những căng thẳng đó chính là cái Thanatos - trạng thái muốn huỷ hoại được phóng chiếu lên các quốc gia, các nhóm sắc tộc, và các cá nhân. Vì cái Eros và Thanatos không thể hoà giải được với nhau nên tội lỗi của con người và sự thiếu vắng của một hạnh phúc trọn vẹn là điều khó tránh. Tất cả mọi hình thái của nền văn minh, từ nền tảng cốt lõi của chúng, đã là một sự cản trở đối với xu thế bản năng và khát vọng căn bản nhất của chúng ta.
Phần lớn ý kiến của Freud đều bị nghi ngờ hoặc cần xem xét lại từ gốc rễ, tuy nhiên lập luận của ông, rằng có một xung đột sâu sắc giữa nền văn minh với xu thế căn bản trong bản năng của con người, là rất thuyết phục. Còn biểu tượng Thanatos nào rõ hơn đám mây hình nấm treo lơ lửng trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua? Các vị tướng tá đang làm gì với những trò chơi chiến tranh khi họ nói về những cái chết hàng loạt? Tại sao các nhà khoa học chế tạo ra bom neutron để huỷ diệt con người nhưng lại cố giữ cho các toà cao ốc của họ không bị đụng chạm đến? Và hiện nay, khi mối đe doạ hạt nhân, trong một mức độ nào đó, đã được tháo ngòi nổ, tại sao một số người vẫn thích ngước lên bầu trời để tìm kiếm một hành tinh nhỏ hoặc một thiên thạch lớn sẽ mang cái chết đến cho Trái đất? Nghe nói, Armageddon[5] sẽ từ những ngôi sao xa xôi đi tới rồi đâm sầm vào Trái đất, gây ra những đợt sóng khổng lồ, và đám mây bụi bay cao trong khí quyển sẽ che lấp ánh sáng mặt trời trong nhiều năm, tạo ra một mùa đông tương đương với một mùa đông hạt nhân.
Đối lập với tâm lí “muốn huỷ hoại” là khuynh hướng vươn tới sự sống và một tình yêu say đắm đối với tự nhiên. Nhưng ngay trong bản thân phong trào bảo vệ môi trường cũng có thể tìm thấy dấu vết của cái Thanatos. Nó tồn tại như một ý nghĩ kì quặc về thảm hoạ sinh thái sẽ xoá sạch nền văn minh của loài người (một biến thể của truyền thuyết của người Mỹ bản địa về cuộc Thanh trừng vĩ đại). Phần lớn loài người sẽ bị tiêu diệt khi tự nhiên nổi giận, chỉ một số ít những cộng đồng nguyên sơ bao gồm những người có tư tưởng phải chăm sóc trái đất thì mới sống sót. Theo nghĩa này, khi phong trào môi trường được thúc đẩy bởi những lí tưởng cao nhất, bởi tình yêu của nó đối với thế giới tự nhiên và quyền được sống của mọi loài, nó có thể bất bình sâu sắc đối với tội lỗi của con người - một yếu tố khác nằm trong những phân tích của Freud về tình trạng của con người. Một lúc nào đó, cảm giác bất bình này có thể bùng lên thành những cơn giận dữ và cuồng loạn chống lại những kẻ được xem như kẻ thù của thế giới tự nhiên. Tội lỗi và sự cuồng nộ, kết hợp với khát vọng giải quyết mọi căng thẳng thông qua những hình thức ẩn dụ của cái chết, có thể sẽ làm nhiễm bẩn tư duy về sinh thái.
Trên thực tế, Thanatos đã được biểu lộ trong những vụ tự tử tập thể trong một số nhóm tôn giáo cuồng tín. Nó cũng hiện diện trong những nhóm chính trị cực đoan lo tàng trữ vũ khí để phòng ngừa chiến tranh hay những đại nạn như Armageddon hoặc sự gia tăng của những hoạt động tội phạm.
Đối với Freud, chỉ có một kế sách duy nhất là nhẫn nhục cam chịu và chấp nhận bản chất không thể khác được của con người. Nền văn minh sẽ không bao giờ đạt được tất cả những gì mà nó mong muốn. Mặc dù lí trí có chỗ đứng riêng nhưng chắc chắn nó không thể từ bỏ vai trò của mình để chiều theo một số phản ứng mang tính bản năng và trực giác của con người, lí trí giúp kiềm chế những cơn bốc đồng hung bạo thái quá và những phản ứng thiếu suy nghĩ, nhưng theo Freud, nó không bao giờ là đủ. Nó chỉ đóng góp một phần nào trong việc kiểm soát bản năng, và sẽ không bao giờ đủ mạnh để vượt qua những khuynh hướng bản năng vốn đóng vai trò căn bản hơn.
Tóm lại, Freud đã giải thích tình trạng của con người dựa trên bản chất nhị nguyên của tâm lí bao gồm hai mặt Eros và Thanatos. Vài thập kỉ trước đây, người ta đã cố gắng tìm kiếm các giải thích sinh học để làm cơ sở cho những luận thuyết của Freud. Những nghiên cứu theo hướng này đã chỉ ra một khu vực mới trên vỏ não - một sản phẩm tiến hoá ra đời muộn nhất trong lịch sử tiến hoá của loài người - đó là khu vực vỏ não phụ trách ngôn ngữ, suy nghĩ và lập kế hoạch, về mặt giải phẫu, nó có thể được xem như một phần mới được ghép thêm vào bộ não của động vật có vú trước đây và bộ não của côn trùng từ xa xưa. Do đó, bộ não của người là sự kết hợp của ba bệ phận với ba câu trúc, phần này được đặt chồng lên phân kia.
Theo những nghiên cứu nói trên thì phần vỏ não mới nhất và trẻ nhất chịu trách nhiệm kiểm soát những khuynh hướng phi “lí trí” và những cơn bốc đồng điên rồ của những phần não phát triển trước nó. Giống như một thầy giáo thiếu kinh nghiệm với một lớp học gồm những học sinh vô kỉ luật, không phải lúc nào thầy giáo cũng có thể kiểm soát được những cơn quậy phá của lũ học trò đó. Trên bề nổi, một lần nữa, lí luận này có vẻ như một sự giải thích rõ ràng đối với sự hạn chế của lí trí trong việc kiểm soát bản năng “động vật” của con người.
Vậy là Freud và lí thuyết ba cấp của não đã chỉ ra những hướng giống nhau: Sự tiến hoá của con người còn quá sớm để hình thành nên những xã hội tồn tại dưới những hình thức ổn định. Đơn giản là phần vỏ não mới và phần vượt lên trên “cái tôi” vẫn còn quá yếu để kiểm soát những lực và khuynh hướng căn bản của bộ não. Lí trí và nền văn minh không đủ để vượt qua mối xung đột giữa cái Eros và Thanatos. Con người, tại cấp độ tiến hoá hiện nay, là đầy thiếu sót và sai lầm. Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ mà nhờ đó đã tạo ra những phương tiện huỷ diệt hàng loạt, tương lai của nhân loại và của những sinh vật khác cùng chung sống trên hành tinh xem ra rất khốc liệt.
Nhưng phải chăng những phân tích nói trên là đầy đủ, và những kết luận bi quan của nó phải được chấp nhận như sự giải thích cuối cùng đối với tình trạng hiện tại và tương lai của con người?
Dường như giấc mơ của Thế kỉ Ánh sáng bây giờ đã hoá thành một cơn ác mộng. Nó gợi ý rằng con người tuy đã tiến bộ rất xa trên một phương diện nào đó nhưng vẫn không đủ mạnh để kiểm soát những bản năng phi lí và động vật của mình. Đây là một quan điểm dường như quay trở lại tư tưởng của các nhà thần học và nhà văn của Nhà thờ Thiên Chúa giáo xa xưa, biểu lộ qua mong ước chiến thắng dục vọng xác thịt của họ. Quan điểm này nảy sinh từ khái niệm cho rằng thế giới dẫu sao cũng xấu xa và tội lỗi, do đó chúng ta phải thanh tẩy linh hồn để sao cho linh hồn có thể rời bỏ thân xác ô uế đó. Đến đây tôi cho rằng, chúng ta phải đương đầu quyết liệt nhất với cảm giác sâu sắc về tội lỗi trong tư tưởng của phương Tây - tội lỗi trong khoái lạc, trong thể xác và trong dục vọng của chúng ta.
Nhưng hãy dừng lại đôi chút để quan sát thế giới động vật và suy ngẫm xem những quan điểm nói trên có thật sự đáng tin cậy hay không. Một quan sát viên vô tư và khách quan sẽ không đánh giá loài vật có “bản chất thô thiển” chỉ vì nanh vuốt của chúng, mà phải đánh giá vai trò của chúng trong sự cân bằng của tự nhiên và những vòng tròn sinh thái.
Thật vậy, một số động vật ăn cỏ, quây lại để bảo vệ cho nhau, trong khi một số động vật khác săn đuổi chúng để ăn thịt. Tuy nhiên, động vật săn mồi không ăn thịt một cách tuỳ tiện. Chó sói săn bắt những con yếu trong một bầy đàn và ăn thịt những con đó để thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nó. Bằng cách này, sự cân bằng trong tự nhiên được duy trì - việc loại trừ những con yếu sẽ không cho bất kì loài nào tăng trưởng số lượng đến mức phá vỡ sự cân bằng.
Thực tế là chẳng có loài nào tự quay sang tàn sát ăn thịt lẫn nhau - trừ phi chúng bị nhốt trong những không gian do con người tạo ra hoặc sống trong những không gian quá chật hẹp. Chó sói gầm gừ rồi nhảy chồm lên nhau nhưng chủ yếu chỉ là một dạng răn đe và tỏ sức mạnh với đồng loại, một dạng thể hiện thái độ được kiểm soát cao và hiếm khi máu chảy. Một bầy sói ít khi thể hiện tính hung dữ với nhau, và chúng tự kiểm soát tốt hơn nhiều so với một nhóm trẻ vị thành niên hung hăng trong một quán rượu ở Anh vào tối thứ Sáu. Thậm chí khuynh hướng căn bản nhất trong thế giới động vật - khuynh hướng tình dục - cũng được kiềm chế để biến thành những nghi thức ve vãn tỏ tình khá công phu.
Chỉ cần một cái nhìn lướt qua thế giới loài vật như thế cũng tạm đủ để chúng ta thấy rằng “bản năng động vật” thực ra đã được tự nhiên quy định như một ước lệ cố định và được hướng vào một trật tự có lợi cho cả bầy đàn, và vào mục đích duy trì sự cân bằng của sự sống. Riêng đối với loài người, khi xem xét những gì mà các nhà nhân chủng học tìm thấy trong rất nhiều khu vực trên thế giới chúng ta có thể thấy rằng những nhóm người săn bắn nguyên thuỷ cũng sống trong sự cân bằng với tự nhiên. Quả thật, khi hai nhóm săn bắn buộc phải chia sẻ quyền lợi hoặc buộc phải săn bắn trong cùng một lãnh thổ, hành động gây hấn, và thậm chí là chiến tranh, thỉnh thoảng mới xảy ra. Tuy nhiên trong một số trường hợp, các xã hội đó đã học cách kiềm chế để biến xung đột thành những hình thức nghi lễ như trao đổi những quà tặng quý giá cho nhau, hoặc cùng chơi một trò chơi tượng trưng. Cũng vậy, bên trong một xã hội nhỏ, các thành viên ngồi quây quần quanh đống lửa hoặc trong một túp lều họp mặt để thảo luận và trình bày những căng thằng nảy sinh, bao gồm cả những hành vị bạo lực và đâp phá.
Không hề lí tưởng hoá các nền văn hoá xa xưa và bản địa, nhưng quả thật chúng ta có thể nhận ra rằng chủ yếu những nền văn hoá đó là tương đối yên bình, không có những mối đe doạ lẫn nhau hoặc những mối đe doạ đối với môi trường xung quanh. Kết luận rút ra là bản thân khuynh hướng và bản năng động vật của chúng ta không có hại và không mang tính tàn phá, hơn nữa, lí trí của con người thừa sức kiểm soát bản năng đó. Thật vậy, con người có lí trí có thể kiềm chế những ham muốn trực tiếp để đạt tới những mục tiêu quan trọng hơn. Họ được định hướng bởi mong muốn giúp đỡ và hợp tác với nhau hơn là chạy đua trên con đường tàn phá và huỷ hoại lẫn nhau.
Khuynh hướng và bản năng động vật của chúng ta thực ra không gây ra những vấn đề phức tạp cho thế giới như những hoạt động cao cấp của bộ não - lí lẽ, trí tưởng tượng, trí nhớ, vv. Những hoạt động đó cho phép chúng ta xây dựng nên những bức tranh của thế giới, cho phép chúng ta rơi vào những ý nghĩ kì quặc, xới lại quá khứ rồi lại khoác cho chúng một tấm áo mới. Hoạt động cao cấp của bộ não cho phép con người trừu tượng hoá các khía cạnh của thế giới và đối xử với chúng như những đối tượng hoặc các mô hình. Giống như chúng ta có thể chế tạo ra một chiếc ôtô hoặc một chiếc tàu hoả đồ chơi rồi xoay nó trên bàn tay để xem xét từng khía cạnh, chúng ta cùng có thể sáng tạo nên một tư tưởng, một khái niệm, hoặc một hình ảnh trong tư duy của chúng ta rôi điều khiển nó như một đối tượng đồ vật. Chúng ta cùng có thể khách quan hoá đồ vật trong tư duy, phóng chiếu cái này lên cái khác.
Tư tưởng của con người giống như một sân khấu lớn. Chúng ta đưa các nhân vật vào đó, gán cho chúng những tính cách và cung cấp cho chúng những cảm xúc và mục tiêu. Rồi chúng ta quên phắt rằng thực ra chúng chẳng có gì khác những sản phẩm tư duy của chính chúng ta, rằng chúng chỉ là những làn khói và những tấm gương phản chiếu. Nhưng cuối cùng chúng ta lại đối xử với chúng cứ như thể chúng là hiện thực, những vật tồn tại thực sự trong thế giới. Đây chính là chỗ để những vấn đề rắc rối nảy sinh, thay vì “bản năng động vật” của con người. Chính sự méo mó của lí trí đã làm cho chúng ta không có khả năng phân biệt sản phẩm tư duy của mình với những vật thể hoặc tình huống trong thế giới hiện thực, và tất nhiên, theo một nghĩa nào đó, thế giới hiện thực cũng được tạo ra từ nhận thức của chúng ta. Một phần là vì khi nhìn, chúng ta không thấy các vật thể trong tất cả hiện thực trần trụi của nó mà chỉ thấy cái mà chúng ta muốn nhìn thấy - sản phẩm của lí trí, thay vì chính bản thân hiện thực.
Bộ não có tính chất cực kì sáng tạo. Nó có thể tập trung vào những giấc mơ và những hình ảnh nào đó cho tới lúc sáng tạo ra một nửa thế giới kì quặc, nơi chẳng có gì thực sự có ở trước mắt. Những ý nghĩ hư cấu trong trí óc chúng ta trở thành hiện thực - kẻ thù, những kẻ xa lạ, những lực lượng hắc ám, những nguy cơ kinh tế - những thứ đúng là đang đe doạ huỷ hoại con người. Chữ “đúng là” được sử dụng ở đây nhằm nhấn mạnh rằng cái đang nằm dưới mối đe doạ thực ra chỉ là toàn bộ cái sân khấu do tư duy của chúng ta tạo ra, một cấu trúc mà chúng ta ngộ nhận đó là hiện thực, đến nổi có cảm giác nếu cấu trúc ấy sụp đổ thì chúng ta cùng biến mất cùng với nó. Khi phải đối mặt với những mối đe doạ đó, chúng ta phải chiến đấu hoặc bỏ chạy. Và do đó, chúng ta không còn liên hệ trực tiếp với mọi người, với các sự kiện, và với các tình huống xung quanh nữa, mà tập trung vào Kẻ Khác được sáng tạo ra trong tư duy. Kẻ Khác ở đây có thể là một người, hoặc một nhóm người cá biệt. Nó cũng có thể là một mối đe doạ đối với sự tồn tại yên bình của chúng ta, chẳng hạn như vấn đề bạo lực trong các khu ổ chuột, sự huỷ hoại môi trường, và sự lan tràn ma tuý. Không phải những mối đe doạ và nguy hiểm như thế không có trong thực tế, nhưng chúng được khuếch đại lên và được khoác một tấm áo bên ngoài bởi tư duy của chúng ta, tới mức chúng trở thành những con quỷ trong trí tưởng tượng làm cho chúng ta không còn có thể phân biệt được sản phẩm tư duy của chính chúng ta với những gì trong thế giới hiện thực.
Chính những hoạt động tư duy cao cấp hơn của bộ não đã kìm chế những bản năng nằm sâu bên dưới, thay vì ngược lại. Chúng ta không phải là những giáo viên trẻ ngây thơ không có khả năng kiểm soát một lớp học vô kỉ luật theo bản năng. Đúng ra chúng ta là những thầy giáo mắc chứng hoang tưởng khuyến khích lớp học bạo động, bằng cách vẽ ra những mối đe doạ lớn, những mối sợ hãi, một Kẻ Khác mà nhất định chúng ta phải chống lại bằng mọi giá. Chính tư duy và lí trí méo mó chứ không phải bản năng chôn sâu bên dưới hoặc những hành tinh nhỏ trong không gian xa xôi đã đặt ra những mối đe doạ đối với nền văn minh của chúng ta. Đám mây hình nấm của bom nguyên tử chính là sản phẩm sáng tạo điển hình của lí trí con người. Chúng ta giống như những đứa trẻ đánh nhau với hình bóng của chính mình trên bức tường trong phòng ngủ. Những con quỷ lí trí này có bản chất chẳng khác gì những bóng ma. Tuy nhiên, trên danh nghĩa của nó, các xã hội của con người đang muốn xâm chiếm và bắn giết lẫn nhau, thả bom và thực hiện sự huỷ diệt hạt nhân trên phạm vi toàn cầu.
Nó tạo ra cảm giác rằng cái Thanatos của Freud - ước muốn huỷ hoại - là sự phóng chiếu bản thân vào bầu trời dưới dạng một thiên thạch phá huỷ trái đất. Nhưng cái bổ sung cho cái ước muốn huỷ hoại này là sự khuếch đại và bóp méo khả năng tư duy và lí trí của con người. Trí tưởng tượng của con người tự cho nó một chất liệu và thể hiện nó một cách khoa học. Bằng cách đó hình ảnh một thiên thạch mang đến cái chết trở thành rất hiện thực trong đầu óc của con người. Nó thể hiện bản thân mình trong tưởng tượng của điện ảnh, chẳng hạn như trong bộ phim Armageddon. Nó kích thích các nhóm khoa học và những nhà nghiệp dư giám sát bầu trời để tiếp cận các thiên thạch, và các chính tri gia lập kế hoạch sử dụng những vũ khí hạt nhân mạnh hơn để tấn công vào các mối đe dọa này từ không gian. Xu thế căn bản này có thể mới manh nha nhưng nó đã phức tạp và biến thành một kịch bản tư duy của con người. Đó là một mối nguy hiểm thực sự.
Tư tưởng của con người và sức mạnh sáng tạo của tư duy đã tạo ra thế giới hiện đại ngày nay với tất cả những niềm hân hoan chiến thắng, công nghệ và khám phá của nó. Nó cũng tạo ra chiến tranh, bạo lực và sự tàn phá môi trường. Tư tưởng của con người đã luôn luôn đi trên con đường này, kể từ thời tiền sử. Nhưng trong quá khứ xa xôi, các nhóm cộng đồng vốn nhỏ nên có thể kiềm chế sự căng thẳng nội tại của nó, và quan trọng hơn, công nghệ lạc hậu không đủ để dẫn tới sự huỷ diệt. Nhưng hiện nay, sức mạnh của công nghệ đã tăng lên vô hạn, chúng ta cần có sự khôn ngoan sáng suốt nếu chúng ta muốn ngôi nhà của mình được bình yên và có trật tự.
Tổng kiểm kê
Nhưng chúng ta có thể tìm kiếm sự khôn ngoan sáng suốt ở đâu và làm thế nào để sử dụng nó trong cuộc sống? Hãy tưởng tượng các hoạ sĩ đang vẽ một bức chân dung hay một tranh tĩnh vật. Thỉnh thoảng, họ quay lại rồi liếc mắt vào tấm vải vẽ. Họ đã vẽ các chi tiết và bây giờ họ dừng lại một lúc để ngắm nhìn sự vật trong một viễn cảnh, ngõ hầu có một cái nhìn toàn cảnh đối với tác phẩm của mình.
Điều tương tự cũng diễn ra trong mọi công trình sáng tạo khác, cũng như trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể quá vội vã trong rất nhiều công việc hằng ngày đến nỗi quên không dừng lại để tự hỏi: Thực ra tôi đang làm gí? Tại sao tôi làm điều đó? Có thật là tôi muốn điều đó không? Có thật đó là cái mà năm hoặc mười năm trước đây tôi đã trù tính để đạt được không? Cuộc sống của tôi có đạt được như tôi mong muốn hay không? Tôi có hạnh phúc và hài lòng với quan hệ gia đình của tôi không? Tôi còn giữ những lí tưởng của bản thân mình thời trai trẻ không? Hay phải chăng tôi đã bị cuốn vào trong một cơn lốc xoáy nào đó vv.
Chúng ta cần phải đặt những câu hỏi như thế trong suốt cuộc đời. Nhưng điều này thường xảy ra nhiều hơn vào lúc mà người ta gọi là cuộc “khủng hoảng giữa đời” (midlife crisis), khi con người có một tầm nhìn sâu sắc để nhìn lại con đường mình đã trải qua.
Cái gì đúng với mỗi cá nhân cũng có thể đúng với một xã hội. Có lẽ đây là lúc để xã hội phương Tây nên dừng lại đôi chút, để lùi lại và hỏi: Chúng ta đang hướng tới đâu và chúng ta đã từ đâu tới? Chúng ta đang có tác động như thế nào đối với thế giới? Phải chăng xã hội là một khái niệm trừu tượng nào đó hay xã hội là chính chúng ta - chúng ta là những thành viên của nó? Giá trị cá nhân của chúng ta là gì? Giá trị cá nhân cộng hưởng với giá trị xã hội như thế nào?
Thật sự đã đến lúc chúng ta nên dừng lại đôi chút và lùi lại để ngắm bức tranh toàn cảnh của xã hội, của thế giới, của vũ trụ.
Đã đến lúc chúng ta phải tự hỏi liệu xã hội có cần phải đổ xô về phía trước với tốc độ chạy gia tốc như hiện nay không? Những sự kiện của thế kỉ 20 buộc chúng ta phải đặt câu hỏi đối với giấc mơ của Thế kỉ Ánh sáng và chất vấn những giả định của nó về sự tiến bộ liên tục của con người. Tuy nhiên nếu từ bỏ để giấc mơ này thì chúng ta tìm đâu ra ý nghĩa của nền tảng xã hội? Đây là vấn đề cốt yếu mà con người phải đối mặt vào lúc khởi đầu của một thiên niên kỉ mới.
Mỗi xã hội đều có một nền tảng giá trị và nghĩa lí được chia sẻ. Nhiều người bản địa mô tả bản thân họ như những người trông nom săn sóc trái đất, trong đó thế giới tự nhiên giống như một món quà trao tặng niềm tin cho họ. Một số cộng đồng xã hội quan tâm đến việc duy trì mối liên hệ sinh động với lịch sử nguồn gốc của họ. Đối với họ, tính liên tục quan trọng hơn là sự thay đổi. Một số nhóm cộng đồng khác xây dựng nền tảng xã hội dựa trên những lí tưởng của lòng trắc ẩn và tình yêu thương. Vậy còn thế giới hiện đại của chúng ta, ý nghĩa sâu sắc bên trong thế giới đó là gì?
Trong một phạm vi rộng hơn hay hẹp hơn, giá trị của xã hội phương Tây - những giá trị mang chúng ta tới ngưỡng cửa của thiên niên kỉ thứ ba - đã được xây dựng trên lí tưởng về sự tiến bộ; không chỉ tiến bộ theo nghĩa tích luỹ của cải, tài sản, hàng hoá, và tri thức, mà còn tiến bộ về mặt xã hội và con người cùng như sự tiến hoá liên tục của nó. Những khía cạnh thuộc vế sau lại nhắc nhở chúng ta nghĩ tới giấc mơ của Thế kỉ Ánh sáng trong đó cho rằng con người có thể “cải tạo” được bằng nhiều cách khác nhau.
Hoàn toàn hợp lí khi cho rằng sự thay đổi trong hoạt động của con người phải diễn ra như trong thế giới tự nhiên, vấn đề là ở chỗ sự thay đổi này thường bị hiểu theo một chiều duy nhất là thay đổi về lượng, giống như sự tiến bộ đã bị hiểu như một cái gì đó luôn luôn có thể cân đong đo đếm, có thể định lượng như hàng hoá. Với cách hiểu này, tiến bộ trở thành mục đích tự thân (tiến bộ chỉ như một thứ phô trương, thay vì mục đích thiết thực đối với con người). Nhưng nhu cầu của chúng ta luôn lớn hơn rất nhiều so với những gì có thể cân đong đo đếm. Vậy sự thay đổi, thay vì chỉ mang ý nghĩa số lượng, phải được đánh giá theo cách nó thúc đẩy hay kìm hãm sự tiến bộ. Do đó, nếu quan sát nền văn hoá của nhân loại với nghệ thuật và âm nhạc, với tôn giáo và tâm lí học chúng ta sẽ thấy khái niệm “tiến bộ” bấy lâu nay chủ yếu vẫn dựa trên tiến bộ vật chât - một kiểu tiến bộ làm cho kinh nghiệm của chúng ta về the giới trở nên nghèo nàn và thô thiển.
Khái niệm tiến bộ kiểu đó, tiếc thay, đã ngấm sâu vào cách tư duy của xã hội phương Tây đến nỗi chúng ta rất khó tìm thấy lịch sử của bất kì lĩnh vực nào mà không có sự tô vẽ hào nhoáng bề ngoài bằng một đồ thị tuyến tính liên tục tăng trưởng theo thời gian. Nay đã đến lúc chúng ta nên tạm dừng cái khát vọng trực tiếp đối với sự tiến bộ như thế để xem xét lại cấu trúc tổng thể của xã hội mà chúng ta đã tạo dựng, và định hướng mà thế giới của chúng ta đang hướng tới.
Cách nhìn thay đổi
Một bước tiến theo định hướng trên là sự thừa nhận rằng thế giới phức tạp hơn rất nhiều so với ta tưởng. Theo nghĩa này, những lí thuyết cuối cùng thâu tóm mọi sự và những quan sát hoàn toàn khách quan là không thể tồn tại trên thực tế. Khoa học đã bắt đầu cất bỏ miếng da che mắt ngựa[6], miếng da mà nó đã đeo suốt hai trăm năm qua, để quan sát thế giới trong những đặc trưng của tính phức tạp, mơ hồ và bất định. Nếu thế giới vật chất trong quá khứ có vẻ đơn giản hơn hiện nay, ấy chẳng qua là vì chúng ta nhìn nó thông qua con mắt của vật lí cổ điển. Khi chúng ta chọn hướng nhìn để chỉ hướng tới những hệ thống đơn giản (chẳng hạn những hệ gần với trạng thái cân bằng hoặc những hệ chịu tác động bởi những lực khá nhỏ, và những hệ ứng xử đều đặn theo chu kì) thì tất nhiên là thế giới sẽ đơn giản. Điều này cũng hơi giống như những cẩm nang hướng dẫn du lịch do chính phủ Apartheid ở Nam Phi xuất bản từ vài thập kỉ trước đây. Một độc giả ngây thơ ngày nay xem cuốn cẩm nang đó có thể sẽ hiểu lầm rằng dân cư ở Nam Phi toàn là người da trắng, vì trong cuốn sách đó chỉ toàn những hình ảnh người da trắng trong các cửa hàng, quầy bar, hay bãi biển, vv.
Tương tự như vậy, vật lí cổ điển đã sáng tạo ra một cuốn cẩm nang du lịch của vũ trụ, cuốn sách nhấn mạnh đến tính đều đặn và tính đơn giản. Galileo đã lí tưởng hoá những quan sát của ông đối với quả bóng lăn xuống dưới chân đồi bằng cách bỏ qua những hiệu ứng va chạm và ma sát. Newton nghiên cứu quả táo rơi mà không quan tâm đến lực cản của không khí. Các nhà hoá học nghiên cứu những phản ứng trong đó mọi thứ đều ở gần trạng thái cân bằng. Các nhà khoa học quan tâm tới những thứ mà họ gọi là các “hệ đóng” – những hệ cách li với những nhiễm loạn của thế giới bên ngoài. Khi nghiên cứu chất rắn, như kim loại và tinh thể, họ phát triển những lí thuyết về những nhiễu loạn nhỏ bé, những dao động nhỏ bé trong điều kiện nhiệt độ thông thường. Trong những trường hợp này, khoa học đã chắt lọc thế giới để tìm ra những nguyên lí đơn giản nhất. Và vì lí thuyết của các hệ đóng, của những phản ứng gần cân bằng và những nhiễu loạn nhỏ làm việc rất hiệu quả nên các nhà khoa học nói chung đều tập trung vào những nghiên cứu các điều kiện đó. Những thí nghiệm được thiết kế cẩn thận, cách li rất tốt với những biến đổi ngẫu nhiên của thế giới bên ngoài, do đó đã cung cấp những dữ liệu hoàn toàn phù hợp với một đồ thị không có quá nhiều những phân bố tán loạn hoặc sai số thí nghiệm.
Thế giới của vật lí cổ điển tránh được tính bất định, mù mờ và hỗn độn. Đến lượt mình, các nhà khoa học tạo dựng các thí nghiệm của họ theo những cách có thể xác nhận những tièn đề căn bản về thế giới. Đây là cái mà Thomas Kuhn gọi là một hệ hình khoa học. Khoa học luôn luôn làm việc trong các hệ hình, điều này có nghĩa là những kiến thức mới luôn luôn thu lượm được từ những điều kiện cá biệt bằng cách bổ sung những tiên đề được tin tưởng một cách rất vô thức. Kết quả tự nhiên là những kiến thức như thế đều rơi vào bên trong cái sơ đồ đã được thiết lập của sự vật. Chỉ khi nào khoa học gặp phải một vật cản và không thể đi tiếp thì cái hệ hình đó mới bắt đầu đổ vỡ. Đó là lúc một cuộc cách mạng khoa học thực sự có thể xảy ra.
Trong những năm đầu thế kỉ 20, các nhà vật lí đã cố gắng hợp nhất những khám phá mới về phổ nguyên tử, lượng tử năng lượng, và cấu trúc của nguyên tử với nhau. Từ trường hợp này tới trường hợp khác, tư duy của họ đã bị giam hãm trong mô hình của vật lí cổ điển, trong khi đồng thời tạo ra một biến thể của lí thuyết đang tồn tại. Ngay cả Niels Bohr, trong công trình đầu tiên về lí thuyết nguyên tử, ông cũng đã cấy ghép những nội dung mới về lượng tử vào trong tư tưởng cũ về những quỹ đạo chuyển động kiểu cổ điển. Chỉ đến khi Heisenberg phá vỡ cách nhìn sự vật truyền thống thì lí thuyết lượng tử hiện đại mới ra đời.
Điều tương tự cũng xuất hiện với bài toán điểm cận nhật của quỹ đạo Sao Thuỷ, một hiện tượng thiên văn vi phạm các định luật chuyển động của Newton. Với mong muốn giải quyết bài toán trong mô hình Newton, các nhà vật lí đã cố gắng giải thích vấn đề quỹ đạo của Sao Thuỷ bằng những xáo trộn của lực hấp dẫn nảy sinh từ những bất thường trong hình dạng của Mặt trời. Chỉ đến khi tư tưởng cách mạng của Einstein về tương đối tính ra đời thì vấn đề này mới được giải quyết trọn vẹn và được giải thích theo phương pháp tư duy mới.
Người ta luôn luôn có thể bảo vệ một lí thuyết hiện hành bằng cách cấy ghép vào đó hết giả định này đến sửa chữa khác. Chẳng hạn, vào thời của Copernicus, các nhà thiên văn vẫn cố gắng giữ gìn hệ thống địa tâm của Ptolemy bằng cách bổ sung các vòng tròn ngoại luân bên trong các vòng ngoại luân. Cuối cùng những sửa chữa này trở nên quá lộn xộn và tuỳ tiện đến nỗi cần phải có một cái nhìn mới mang tính cách mạng. Đó là lí do để học thuyết nhật tâm của Copernicus ra đời.
Khi bước sang thế kỉ 21, con người nhận thấy họ đã mắc sai lầm lớn khi đơn giản hoá toàn bộ thế giới thành rất nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau. Chúng ta đã nhìn thế giới tự nhiên và bản thân chúng ta thông qua những lăng kính thích hợp của những lí thuyết trình bày vũ trụ theo những góc nhìn hạn chế. Hiện nay, chúng ta đã thừa nhận những hạn chế cố hữu của bất kì lí thuyết nào. Con người nhận ra rằng thế giới tự nhiên là hết sức phức tạp trong những chi tiết của nó, đến mức không thể dự đoán và kiểm soát được. Cái gì đúng đối với thế giới tự nhiên cũng có thể áp dụng cho con người và các xã hội của nó. Chính vì lí do này mà toàn thể xã hội cần phải tạm dừng lại để suy ngẫm. Nếu xã hội được xây dựng trên cơ sở của những giá trị hiểu biết và được nghiên cứu một cách phong phú thì những khái niệm về sự tiến bộ và phát triển không ngừng của con người cần phải được xem xét lại cần thận.
Cách đọc văn bản
Nhận thức của chúng ta về tính phức tạp nội tại của vũ trụ và sự phong phú của các tiếp cận cần thiết để hiểu thế giới không giới hạn trong thế giới vật chất mà còn áp dụng cả đối với thế giới bên trong chúng ta và bản thân chúng ta. Khi tính xác định hoà tan vào trong cái mơ hồ và bất định thì một điều chúng ta có thể gìn giữ là bản thân chúng ta, cảm giác của chúng ta về bản sắc cá nhân với tư cách là những sinh thể độc lập trên thế giới, về mặt triết học, chúng ta có thể nghi ngờ thế giới xung quanh chúng ta, nhưng ít nhất chúng ta được đảm bảo về sự tồn tại của chính chúng ta. Descartes nghi ngờ mọi thứ nên ông liên tục đặt câu hỏi. Tất cả mọi thứ có thể bị nghi ngờ, nhưng chính kẻ nghi ngờ thì sao? Bằng cách nào đó, cái thực tế mà ông chất vấn ắt phải xác nhận một sự hiện hữu. Sự quan sát mà tư duy đang theo đuổi ắt phải ngụ ý một người nào đó đang tư duy. Do đó, Descartes đi đến kết luận nổi tiếng: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”. Có thể diễn đạt lại ý kiến này theo một cách khác: “Hành động tư duy và chất vấn đang tiếp diễn, vậy ắt phải có một người đang suy nghĩ và chất vấn”. Sẽ còn khó hơn nữa để chứng minh rằng mệnh đề này có thể diễn dịch thành mệnh đề sau đây: ắt phải có một cái “tôi” như một con người tồn tại độc lập với một quá khứ và một tương lai, một sự tồn tại trong không gian và thời gian và một cá nhân xác định rõ ràng. Nhưng phải chăng điều đó nhất thiết ngụ ý sự hiện hữu kéo dài của một người có tư duy liên tực từ quá khứ tới tương lai? Bởi vì hành động tư duy hoàn toàn khác với sự tồn tại của một hòn đá.
Mỗi người chúng ta có một ngày sinh, số điện thoại, số an sinh xã hội, và các yếu tố nhận dạng khác, nhưng liệu chúng ta có biết rõ rằng cái “tôi” trong chúng ta thực sự là ai không? Chúng ta có những kỷ niệm, một số trong đó sẽ thay đổi khi chúng ta già đi. Khi nhìn lại quá khứ, đôi khi chúng ta thấy một đứa trẻ, một thiếu niên ngày ấy với những hành vi, niềm tin, và quan niệm về giá trị khác biệt với bản thân mình hiện nay. Đối với người khác, tên tuổi của chúng ta là một điểm liên tục, nhưng liệu trong bao nhiêu năm nữa cái tên ấy vẫn còn được duy trì giống như thế? Và phải chăng cái “tôi” ấy sẽ xác định con người chúng ta chính xác hom cái “persona” - cái vỏ bên ngoài của con người - mà chúng ta trình diện với thế giới?
Thuật ngữ “persona” có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp có nghĩa là “mặt nạ”. Trong nhiều sân khấu truyền thống, đeo một chiếc mặt nạ có nghĩa là trở thành một nhân vật cụ thể hoặc một khuôn mẫu. Trong một thể loại kịch cổ ở Ý được gọi là “commedia dell’arte”, có những mặt nạ khuôn mẫu của bác sĩ, binh lính, vv. Một chiếc mặt nạ thể hiện một nhân vật với những đặc trưng khắc hoạ sinh động tính cách của nhân vật đó như keo kiệt, hách dịch, ân cần, quyến rũ, hoặc ngu ngốc.
Khi chúng ta bước vào một nơi làm việc, chúng ta cũng khoác một chiếc mặt của mình. Một người sẽ “trở thành” một giáo viên, hoặc một sĩ quan cảnh sát, bác sĩ, nhân viên bán hàng, phi công, người hầu bàn, vv… Quần áo và việc dàn dựng sẽ giúp dựng nên sân khấu. Và “sân khấu” là một từ thú vị để sử dụng bởi vì bước vào một nơi làm việc cũng gần giống như bước lên một sân khấu mà ở đó những kịch bản khác nhau sẽ được diễn. Đến văn phòng bác sĩ hoặc vào một quán bar lúc ban đêm, bạn sẽ không nói chuyện về cuộc sống riêng tư. Việc nói chuyện về cuộc sống riêng tư cũng sẽ không xảy ra trong cuộc gặp gỡ với một ông chủ giàu có. Câu chuyện về một trò chơi diễn ra đêm hôm trước cũng không thích hợp khi đi vay tiền ở ngân hàng.
Tình huống cụ thể tạo nên những kịch bản cụ thể, để có những “hành động nói năng” và một cái vỏ bề ngoài thích hợp. Ra khỏi những tình huống này bạn sẽ trở thành một người khác. Rời khỏi ngân hàng bạn sẽ ngừng đóng vai trò nhà quản lí. Nhập vào đám bạn bè bạn sẽ trở thành một người trong “đám trai gái”. Tra chìa khoá vào cánh cửa trước của nhà bạn, bạn sẽ trở về với vai trò một người cha, người mẹ, một người chồng, người vợ hoặc người phối ngẫu.
Có thể việc đóng vai một người chủ khách sạn, một nhà quản lí ngân hàng, một bác sĩ, một thầy giáo là một hành động tương đối có ý thức. Trong một phạm vi nào đó thì việc mặc đồng phục, bước vào một văn phòng hay một nhà hàng nào đó, có nghĩa là bạn đang đóng một vai nào đó. Nhưng người ta có thể nhận ra rằng “đây là những vai tôi đang đóng, đây là nghề nghiệp của tôi, nhưng đây không thực sự là tôi. Đằng sau chiếc mặt nạ này, tôi là một người hoàn toàn khác”.
Sau chiếc mặt nạ này, tôi là một người vợ, một người chồng, một người yêu, một người cha, một người mẹ hoặc một đứa con. Nhưng phải chăng những nhân vật này cũng chỉ là cái vỏ bên ngoài của con người? Tôi là một người cha hay tôi “đang đóng vai một người cha” bằng cách thực hiện những hành động cụ thể nào đó đối với con cái của tôi?
Trong cuộc sống, chúng ta mang một loạt các mặt nạ, một số có ý thức và một số vô thức, đến mức một số người trong chúng ta không còn biết chắc chắn đâu là mặt nạ và đâu là bản thân mình. Hãy lấy một ví dụ cụ thể, một người bạn của tôi là diễn viên đang đóng vai một Don Juan thời nay. Trong những tuần lễ tiếp theo anh ấy bắt đầu thay đổi. Anh ấy trở nên tự tin hơn khi đi ra ngoài phố và đã làm một số chuyện lố lăng. Sau khi vai Don Juan kết thúc, hành vi của anh ấy dần dần trở lại giống như trước.
Mỗi diễn viên có một cách trang điểm và ăn mặc cụ thể, làm những động tác điệu bộ cụ thể, nói theo những kịch bản cụ thể. Khi đó tính cách được tạo ra bởi diễn viên đó cúng gần giống như cái vỏ bên ngoài của con người. Tương tự như thế, một số người trong đời sống hằng ngày phải đóng vai của họ. Nhiều giáo viên nói công việc của họ giống như một “cuộc biểu diễn” trước mặt học trò ở trong lớp.
Trong phần lớn trường hợp, những mặt nạ này có thể tháo ra hoặc đeo vào tuỳ theo tình huống, nhưng trong trường hợp anh bạn diễn viên của tôi, chiếc mặt nạ trên sân khấu có thể bám theo anh ta trong đời sống hằng ngày và ở lại với anh ta một thời gian. Hầu hết các diễn viên khác không có tình trạng như thế, tuy nhiên khi nhập vai những nhân vật với những cá tính mạnh và đen tối, chẳng hạn như vai Lady MacBeth, thì tính cách của vai diễn thường “nắm quyền kiểm soát” tính cách của diễn viên nhập vai. Hoặc ngược lại, để đóng một vai diễn như thế, một diễn viên phải khám phá ra những tính cách nằm bên trong mình từ lâu mà mình không biết. Điểm tôi muốn nhấn mạnh ở đây là rốt cuộc cái vỏ bên ngoài của chúng ta có thể trở thành chính bản thân chúng ta, hoặc một khía cạnh tính cách nào đó của chúng ta, đến nỗi chúng ta không biết rô đâu là cái vỏ bên ngoài và đâu là chính bản thân mình. Và do đó chúng ta tự hỏi: Liệu có một con người trung tâm, thật sự hay không? Hay tất cả chúng ta chỉ là một loạt phức hợp của các khía cạnh và sự sáng tạo? Thay vì cái “tôi” là một đối tượng ổn định trong không gian và thời gian, phải chăng nó giống như một quá trình hoặc một nguyên lí tích hợp liên kết các mảnh thay đổi vào với nhau và buộc chúng vào những mô hình ứng xử, thái độ, và động cơ trong từng giai đoạn?
Điều này tương tự như các quá trình của việc nhìn, bắt đầu bằng những chiến lược quan sát khác nhau - quan sát đường viền, các vạch, khu vực chuyển động, các mảng màu - hoạt động tương đối độc lập và một lúc sau mới tích hợp lại thành một hình ảnh. Cũng vậy, bản ngã có lẽ không phải là một đối tượng cố định, mà là một loạt giả thuyết và bất định cùng với cái vỏ bên ngoài mà chúng ta trình diện trước thế giới. Thế giới càng phản ánh những yếu tố này vào chúng ta một cách vững chắc thì chúng ta càng hành động một cách phù hợp.
Ẩn sâu bên trong một người thầy nghiêm nghị và cứng nhắc có thể là một đứa trẻ nhõng nhẽo. Bên trong một người đàn bà lẳng lơ có thể là một người mẹ đầy tình cảm. Câu hỏi chúng ta là ai và chúng ta trình diện trước thế giới ra sao vẫn luôn luôn chứa đầy nghịch lí. Câu trả lời gần giống khi Cézanne vẽ phong cảnh, ông luôn luôn ướm thử, luôn luôn đặt câu hỏi, không bao giờ hoàn toàn chắc chắn nhưng luôn luôn cố gắng đáp ứng một cách trung thực “những cảm xúc nhỏ nhoi” của mình, như ông thường nói.
Một cách khác giúp chúng ta có khả năng sáng tạo nên một nhân vật với cái vỏ bên ngoài là cái cách chúng ta “đọc” và sáng tạo nên một nhân vật trong một cuốn sách.
Một cuốn tiểu thuyết truyền thống thường làm cho chúng ta nghĩ rằng mình đang theo dõi những gì đang xảy ra với những nhân vật có thực. Cuộc đời quá khứ của các nhân vật bắt đầu từ trước thời điểm cuốn tiểu thuyết được viết. Những cuộc gặp gỡ khác nhau của họ diễn ra tại một nơi và một thời gian có thực. Khi cuốn tiểu thuyết đã kết thúc những nhân vật này tiếp tục sống và các mối quan hệ của họ tiếp tục mở ra. Tiểu thuyết thời Victoria thường có một chương kết kể về việc một nhân vật đã yên bề gia thất. Những kẻ ác bị trừng phạt, và lúc cuối đời, đã hối hận và sữa chữa những sai lầm do họ gây ra. Một số nhân vật thậm chí tiếp tục xuất hiện trong các cuốn sách khác. Trong cuốn Wild Sargasso Sea của Jean Rhy, vợ của ông Rochester, nhân vật trong cuốn Jayne Eyre của Charlotte Bronte, đã ở vùng biển Caribbea trước khi cô kết hôn và chuyển đến Anh. Nhân vật Flashman, một tên du côn ở trường học, trong cuốn Tom Brown’s Schooldays, đã lớn lên để tham gia vào một loạt các cuộc phiêu lưu bất lương được viết bởi George MacDonald Fraser.
Trong một nghĩa nào đó thì điều này là hoàn toàn hợp lí. Các nhân vật thực sự trở nên sống động đối với các tác giả của chúng. Chúng độc lập đến mức tác giả bị thúc ép đẩy các sự kiện liên quan đến nhân vật tiến xa hơn nữa. Tác giả thậm chí có thể ngạc nhiên bởi chính những hành động và lời nói của nhân vật trong tác phẩm do mình viết ra. Một số nhân vật đòi trở lại trong các tiểu thuyết tiếp theo. Anthony Burgess, người đã viết cuốn tiểu thuyết về một nhà thơ keo kiệt tên là Enderby, đã từng trải nghiệm cái cảm giác trên!
Vậy một nhân vật tồn tại ở đâu? Phải chăng tác giả có những tưởng tượng riêng nào đó rồi viết thành một câu chuyện? Hay mọi điều được viết trên các trang giấy đều giống như một thực tại khách quan duy nhất? Hoặc trong khi đọc, mỗi người sẽ tạo ra một cái gì đó mới và khác nhau?
Hãy thử tưởng tượng về một độc giả đang đọc một tiểu thuyết về một trong những hậu duệ của James Bond - một người anh hùng không sợ mọi trận đánh với kẻ thù, lái những chiếc xe hơi lao vun vút, và có khả năng tháo dỡ tất cả vũ khí hạt nhân hoặc tấn công vào những hệ thống Computer phức tạp. Độc giả ấy sẽ đắm mình hoàn toàn trong từng trang sách, mường tượng về một thế giới mà ở đó anh ta có thừa lòng kiên định dũng cảm, sức chịu đựng bền bỉ, phản ứng nhanh chóng, và dễ dàng chinh phục phụ nữ. Trong một thời gian người đọc đã hoá thân thành nhân vật, đến khi cuốn sách được gấp lại thì thế giới hiện thực mới trở về với anh ta.
Bây giờ giả sử độc giả ấy đọc David Copperfield. Một lần nữa quá trình tưởng tượng về các nhân vật lại xảy ra, nhưng với một mức độ tinh tế hơn. Những chương đầu tiên của tác phẩm liên quan đến những nỗi đau thời ấu thơ, tình yêu thương của một người mẹ tảo tần chăm lo cho con cái, sự độc ác tàn bạo của ông bố dượng, và cảm giác bản thân mình đang đóng một vai diễn trong thế giới của người lớn. Người đọc đồng cảm với nhân vật David, đồng thời nhớ lại những hình ảnh ấm áp cũng như đau thương trong thời thơ ấu của mình, có thể anh ta sẽ nhớ đến những ngày đầu tiên đi học, những lần bị bắt nạt, một người bạn anh ta có cảm tình, hay nghĩ đến một chuyện tình học trò của bản thân.
Nhân vật David được khắc hoạ một cách tinh tế hơn nhiều so với những gì rập khuôn có sẵn trong một tiểu thuyết trinh thám. Mỗi độc giả sẽ tạo ra một nhân vật David Copperfield khác nhau. Rốt cuộc, người đọc có thể là người Anh hay người Mỹ, là một đứa trẻ con một hay có nhiều anh chị em. Copperfield không còn là một nhân vật cố định, mà có nhiều diện mạo của một con người thực - một con người được làm cho sinh động bởi hành động đọc của độc giả.
Giả sử người đọc là một phụ nữ. Trong một khoảng thời gian nào đó người đọc này quên đi tính nữ của mình và cảm thấy mình là một cậu bé đang nhìn thấy một bà mẹ và cô y tá Peggoty. Người phụ nữ đó đã đi vào thế giới của một cậu bé và lần lượt làm cho các nhân vật nữ do tác giả sáng tạo ra trở nên sinh động hơn.
Vấn đề sẽ phức tạp hơn khi người đọc là một phụ nữ thời Victoria đọc Withering Heights - cuốn tiểu thuyết mà ban đầu người ta cho rằng tác giả của nó là một người đàn ông, Ellis Bell. Trong đó, cô gặp Catherine Earnshaw đầy đam mê, một nhân vật nữ hoàn toàn khác xa những nhân vật nữ chính diện bẽn lẽn và dịu dàng trong tiểu thuyết của Dickens. Tuy nhiên, bản thân câu chuyện về Catherine được kể qua hai người quan sát, một vị khách nam, và một đầy tới gái. Độc giả nữ ấy phải tưởng tượng rất sáng tạo khi cô ta dõi theo nhân vật nữ đầy đam mê, tính khí cực đoan gắn liền với những cánh đồng hoang dại ở Yorkshire. Thật là một cú sốc khi sau đó cô ta biết rằng Ellis Bell là bí danh của một phụ nữ là Emily Bronte. Đột nhiên toàn bộ cuốn tiểu thuyết thay đổi và Catherine Earnshaw phải được đọc và tái tạo lại một lần nữa.
Việc thổi hồn vào nhân vật cần được thực hiện bất chấp các định kiến văn hoá riêng của chúng ta. Cách chúng ta đọc luôn luôn nằm trong bối cảnh của tuổi tác, nguồn gốc dân tộc, lịch sử gia đình, giới tính, xu hướng tình dục, và ảnh hưởng của giáo dục cũng như những cuốn sách mà chúng ta đã đọc. Mỗi lần chúng ta cầm một cuốn sách lên để đọc là một lần khác nhau bởi vì chúng ta đã thay đổi và chúng ta đang mang một cái gì đó mới mẻ vào trong hành động sáng tạo. Những cuốn phim dựng theo tiểu thuyết thường khác với những gì chúng ta đã tưởng tượng khi đọc sách, khi ấy một người có thể nói: “Đó không phải là Heathcliffe thực sự”, hoặc “Đó không phải là cách tôi nhìn thấy David Copperfield”. Mỗi diễn viên sẽ sáng tạo ra một Lady Macbeth hoặc một Hamlet khác nhau. Môi đạo diễn sẽ sáng tạo lại một vở kịch của Shakespeare và tìm thấy trong nó một cái gì đó hoàn toàn đặc trưng và phù hợp với thời đại của riêng mình. Những gì áp dụng với các nhân vật trong một cuốn sách cũng giống như những gì chúng ta đang thể hiện bản thân mình, chúng ta đang tích hợp những khía cạnh bên ngoài của chúng ta và cố gắng liên kết chúng với cái mà chúng ta coi là bản chất của mình. Nhưng thực sự có một “bản chất đích thực” không? Có một khía cạnh khách quan không thay đổi theo thời gian không? Phải chăng chúng ta giống như các hệ thống mở trong dòng chảy liên tục của cuộc sống? Phải chăng “bản chất đích thực” không hẳn là một đối tượng cố định bên trong tư duy của chúng ta, bởi vì cái tư duy này giống như một quá trình liên tục sáng tạo thông qua việc tích hợp những biểu hiện dền g lẻ bề ngoài của chúng ta trong cuộc sống?
Việc nỗ lực tìm hiểu xem chúng ta tạo ra chính mình ra sao và tạo ra các nhân vật như thế nào sẽ cộng hưởng với những hiểu biết mới của chúng ta về thế giới và về sự phức tạp và mơ hồ vốn có của nó. Giống như không thể mô tả electron trong một lí thuyết duy nhất, bản ngã của con người cũng không thể quy về một cái tên duy nhất; đúng ra là bản chất của nó nằm trong sự biến dịch và tích hợp.
Câu chuyện khoa học
Khoa học là một câu chuyện mà xã hội của chúng ta tự kể về vũ trụ. Khoa học được coi là một phương tiện cung cấp những quan sát khách quan đối với thế giới vật chất dựa trên những phép đo định lượng, sao cho các cấu trúc, quá trình, sự chuyển động, và các phép biến đổi có thể được mô tả dưới dạng toán học như những định luật cơ bản.
Khoa học tiến triển bằng cách trừu xuất những gì được coi là chủ yếu từ những đặc trưng cá biệt của vật chất và các quá trình. Khi quả táo của Newton rơi, sẽ chẳng thành vấn đề gì nêu quả táo ấy chín hoặc xanh, nó là loại táo đặc biệt ngon hay táo pippin màu da cam. Những tính chất đó không làm khoa học bận tâm, vì khoa học vốn tự hào về tính độc lập của nó đối với các thang bậc giá trị. Cũng chẳng thành vấn đề gì nếu một người đang đo đạc đệ dẫn điện của đồng hay chiết xuất của thạch anh là một người Hindu hay một người Thiên Chúa giáo, hoặc một người vô thần. Cũng không thành vấn đề nếu một thí nghiệm được thực hiện ở Moscow hay Delhi hoặc Chicago, dù ở đâu thì bản chất của thí nghiệm cũng như nhau. Thuyết tương đối của Einstein khẳng định rằng bất chấp hiện tượng vật lí dường như khác biệt đối với một người đang ở gần hố đen hay đang chuyển động với tốc độ gần bằng ánh sáng hoặc đang đứng trong một thang máy ở trên Trái đất, các nhà khoa học tại những vị trí hoàn toàn khác nhau vẫn khám phá ra những định luật cơ bản của tự nhiên hoàn toàn như nhau.
Theo nghĩa này, khoa học dường như hoàn toàn khách quan và độc lập đối với cách nhìn chủ quan của mỗi con người. Khoa khọc khẳng định những câu trả lời do tự nhiên cung cấp là độc lập với văn hoá, niềm tin, và các giá trị về con người. Nó tuyên bố rằng chủ nghĩa tương đối về văn hoá không có chỗ đứng trong khoa học.
Một số khía cạnh nào đó của lập luận nói trên có thể đúng, nhưng chúng bỏ lỡ một điểm quan trọng. Khoa học khởi đầu từ mối quan hệ của chúng ta với tự nhiên. Sự thật mà nó khám phá ra về vũ trụ là những câu trả lời đối với những câu hỏi của con người và liên quan đến những thí nghiệm do con người thiết kế. Chẳng hạn, những cách tiếp cận khoa học của xã hội phương Tây đã đặt tự nhiên trong một loạt tình huống nhân tạo rõ rệt và đòi hỏi những câu trả lời định lượng bằng số.
Các xã hội khác cùng có thể phát triển tư duy khoa học của họ theo những định hướng khác, tuỳ thuộc vào cách họ nhìn thế giới như thế nào. Việc thừa nhận khả năng tồn tại của những khoa học khác nhau cho phép chúng ta nhìn lại nền khoa học phương Tây và đặt câu hỏi xem liệu nền khoa học này có mức độ chắc chắn, khách quan, xác định đến chừng nào, và phụ thuộc vào điều kiện văn hoá đến chừng nào.
Chẳng hạn, khát vọng khám phá ra điểm tận cùng của vật chất, tìm ra một lí thuyết cuối cùng nhằm đưa ra những câu trả lời cuối cùng đối với các câu hỏi của khoa học, dường như đã biểu lộ một nét tiêu biểu kéo dài liên tục trong nền văn minh phương Tây. Điều này không nhất thiết được chia sẻ bởi các nền văn hoá khác - những nền văn hoá vốn bằng lòng chấp nhận một số vô hạn các cấp độ định tính khác nhau và mãi mãi bỏ ngỏ sự giải thích. Tư tưởng phương Tây nói chung đã được sáng tạo ra xung quanh một sơ đồ logic của sự phát triển bao gồm giây phút khởi đầu, giai đoạn trung gian, và điểm kết thúc. Nhưng nhiều câu chuyện Arập không có kết thúc và có rất ít sự phát triển. Âm nhạc cổ điển phương Tây thường có những đoạn xen kẽ nối tiếp nhau, từ sự xung đột căng thẳng tới việc hoá giải những xung đột đó, rồi lại xung đột, lại hoá giải, và cuối cùng dồn về đoạn kết, trong đó mọi thứ được giải quyết và kết thúc bằng một nghi thức trang trọng. Ngược lại, âm nhạc Arập hướng vào bên trong, không hề có một mục tiêu hoặc một kết thúc nào cả, nó mở ra cho vô số các biến tấu với những phức điệu khác nhau. Từ nhận xét trên, chúng ta có thể kêt luận rằng nhu cầu đưa ra những giải thích thâu tóm mọi sự và đi tới những lí thuyết xác định cuối cùng không phải là đặc trưng của bản thân khoa học, mà là một đặc trưng tư duy mang tính chất văn hoá cá biệt của xã hội phương Tây.
Theo nghĩa này, khoa học trở thành một câu chuyện mà nền văn minh của chúng ta tự nói về bản thân mình. Đó là câu chuyện về vũ trụ, nhưng nó đã được kể theo cách tạo ra niềm tin đối với tất cả mọi người, và xã hội của chúng ta coi niềm tin đó như một giá trị - khả năng phân tích, dự đoán, phát minh công nghệ, tích luỹ của cải và tri thức, khát vọng kiểm soát thế giới, khát vọng tiến bộ và nhu cầu đi tới những lí thuyết cuối cùng thâu tóm mọi sự. Khoa học đã bổ sung sự tín nhiệm đối với giấc mơ văn hoá của chúng ta bằng cách cung cấp cho giấc mơ đó một phương pháp tiếp cận thế giới dường như hoàn toàn khách quan.
Nhưng ngày nay, chúng ta cần phải xem nền khoa học phương Tây như một câu chuyện tự nó đã và đang được kể về vũ trụ. Nói điều đó không có nghĩa là hạ thấp vai trò của khoa học hay cho rằng “mọi thứ đều tương đối”, vấn đề là ở chỗ một câu chuyện có thể được kể theo nhiều cách khác nhau, Khoa học, với tư cách một câu chuyện, chúng vĩ đại như những tác phẩm vĩ đại của hội hoạ. Đó là một câu chuyện đã tạo ra những tiến bộ khổng lồ trong một số lĩnh vực tri thức. Đó là một câu chuyện dân tới những thắng lợi to lớn của công nghệ hiện đại và đã giúp chúng ta hiểu rõ thế giới và bản thân chúng ta hơn. Tuy nhiên, một số khía cạnh của câu chuyện này cũng dẫn tới việc tạo ra những nan đề mà hiện nay chúng ta đang phải đối mặt.
Khi chúng ta nói rằng khoa học là một câu chuyện được kể bởi tư tưởng phương Tây, chúng ta cũng phải nhớ rằng các nền văn hóa khác cũng kể những câu chuyện khác. Sẽ là một hình thức mới của chủ nghĩa đế quốc văn hoá nếu chúng ta cho rằng những câu chuyện của những nền văn hóa khác cũng giống như những huyền thoại ngây thơ cần phải được “hiệu chỉnh” và được “làm cho khoa học hơn”. Đúng ra là những nền văn hoá đó nên được tôn trọng vì chúng đại diện cho những cái nhìn khác nhau có thể có về vũ trụ và những cách hình thành nhận thức khác nhau. Nếu chúng ta tập hợp những câu chuyện khác nhau này lại, chúng sẽ tạo nên tính đa dạng phong phú của các quan điểm, tương tự như một bức tranh của Cézanne.
Nguy hiểm sẽ tăng lên khi một nền văn hóa coi câu chuyện của mình như là chân lí tuyệt đối, và tìm cách áp đặt chân lí này lên những nền văn minh khác như những thước đo cho tất cả mọi tri thức và niềm tin. Đừng bao giờ quên rằng, ở mức độ sâu xa nhất của chúng, tất cả các câu hỏi, tất cả sự tìm tòi kiến thức, “khoa học”, “huyền học”, “triết học”, hoặc “tôn giáo”, đều hướng tới cùng một chân lí nhưng thường bằng những con đường rất khác nhau.
Ví dụ, vài năm trước, tôi đã có những cuộc thảo luận với một cộng đồng Mohawk về hệ thống trường học của họ. Một mặt, họ biết tầm quan trọng của những thanh niên vẫn còn gắn bó với văn hóa của họ. Mặt khác, họ nhận ra rằng nếu họ phải tiếp xúc với thế giới hiện đại để tồn tại, cộng đồng của họ sẽ phải chạm trán với khoa học, y học, và công nghệ “Tây phương”. Chẳng hạn để chăm sóc đất đai, và tránh được mối đe dọa đối với môi trường, thế hệ tiếp theo sẽ cần phải có kiến thức về sinh học, sinh thái, và hóa học.
Vì vậy, cộng đồng quyết định rằng các môn khoa học nên được phối hợp giảng dạy bởi một giáo viên được đào tạo về khoa học phương lầy và một người Mohawk nhiều tuổi. Khi người này nói về các phân tử và phản ứng hóa học thì người kia sẽ thảo luận về năng lượng và các mối quan hệ giữa sức mạnh và tinh thần. Bằng cách này trẻ em có thể tìm hiểu vẻ đẹp và sự hợp lí của khoa học phương Tây nhưng vẫn duy trì được sự tiếp xúc sâu sắc với truyền thống riêng của họ. Thay vì sự xung đột, khoa học phương Tây và các nền văn hóa bản địa có thể bổ sung cho nhau.
Chúng ta đi đâu từ đây?
Thế giới tự nhiên, và tất cả những thành tựu mà tư duy đã tạo ra cho con người, từ kinh tế vi mô tới công nghệ gen, từ hiến pháp cho tới vệ tinh nhân tạo, đang hối thúc chúng ta nên lùi lại một bước, tạm dừng trong chốc lát để nhìn lại tất cả những gì mình đã tạo ra. Thế giới của chúng ta, một phần, là cái thực tại của tất cả những gì đang hiện diện. Thực tại này có thế nhận thức và định hình được bởi tư duy. Đến lượt nó, tư duy của con người và công nghệ do nó tạo ra sẽ tác động trở lại thế giới để biến đổi thế giới.
Sự can thiệp của con người vào thế giới tự nhiên - môi trường, tư tưởng và thể xác của chúng ta, phương tiện đi lại và thông tin liên lạc, chế tạo vật liệu mới, khai thác các nguồn tài nguyên dự trữ, vv. - đã tạo ra những tác động vô cùng to lớn trong suốt hai trăm năm qua. Tác động này hiện nay đang tiếp tục với một tốc độ nhanh. Nay đã đến lúc chúng ta phải tổng kiểm kê. Chúng ta cần nhìn vào xã hội của loài người, vào các xã hội khác, vào bản thân chúng ta, và đặt câu hỏi xem chúng ta sẽ đi tới đâu. Làm việc này trong những năm đầu của một thiên niên kỉ mới có lẽ là điều đặc biệt thích hợp.
Cần phải xem xét lại cấu trúc của rất nhiều tổ chức khác nhau mà chúng ta đã tạo ra trong các lĩnh vực xã hội, chính trị và tôn giáo. Chúng ta phải nghiên cứu lại các hệ thống kinh tế, cách thức hoạt động của các hệ thống điều khiển, và những cách thức khác nhau mà con người tìm kiếm để giúp đỡ lẫn nhau. Chúng ta cần đặt ra câu hỏi rằng liệu các cấu trúc và tổ chức này còn tiếp tục phục vụ cho mục đích ban đầu của chúng hay không? Phải chăng những mục đích ấy là đúng đắn vì trước đây chúng đã từng truyền cảm hứng cho các tổ chức đó?
Ở đầu chương này, chúng ta đã có một sự đánh giá quan trọng đối với giấc mơ của Thế kỉ Ánh sáng. Tuy nhiên, Thế kỉ Ánh sáng cũng là thời kì trong đó những tư tưởng cao đẹp nhất của một thế hệ đã rọi ánh sáng vào xã hội và cách điều hành xã hôi đó. Tại Anh, các nhà triết học Hobbes và Locke đã nghiên cứu tìm hiểu bản chất của xã hội loài người và vấn đề duy trì trật tự tốt đẹp của nó. Voltaire và những nhà Khai sáng cũng làm những điều tương tự ở Pháp, trong khi ở Mỹ, Jefferson và những nhà sáng lập hiến pháp đã suy nghĩ sâu sắc về những hệ thống điều hành quản lí đất nước. Xã hội hiện đại của chúng ta ngày nay cũng đang cần có một làn sóng tương tự dấy lên trong những tư duy sáng tạo quan trọng nhất.
Thời đại đã thay đổi và những viễn cảnh mới đã xuất hiện. Điều quan trọng nhất cần nhận thức hiện nay là chúng ta đang sống trên một hành tinh hữu hạn, do đó tất cả mọi kế hoạch và hành động của chúng ta phải tạo nên một sự cộng hưởng toàn cầu. Ý nghĩa và ích lợi chứa đựng trong bất kì quyết định nào cũng không thể bị giới hạn trong phạm vi một nhóm cộng đồng, một dân tộc hay một quốc gia. Khi ra quyết định, người Iroquois thường nghĩ tới ý nghĩa và ích lợi cho tới tận thế hệ thứ bảy nối tiếp sau họ. Ngày nay, chúng ta không chỉ nghĩ tới thế hệ thứ bảy của người Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản, mà tới tất cả các dân tộc trên thế giới, dù giàu hay nghèo, dù là xã hội công nghiệp hoá hay xã hội bản địa.
Việc tạm dừng lại đôi chút để suy nghĩ là một nhu cầu cấp thiết mang ý nghĩa sống còn đối với chúng ta. Tất nhiên trách nhiệm rơi vào những bộ não ưu tú nhất trên hành tinh, những nhà triết học, nhà thơ, nghệ sĩ, nhà văn, nhà chính trị, và nhà khoa học. Nhưng đó cũng là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Sao cho mỗi chúng ta có thể gắn bó với hành tinh này và giao kết với mọi người trên hành tinh thông qua một thế giới rộng mở với vô số con đường đến với nhau. Nếu chúng ta là cha mẹ, chúng ta phải nghĩ tới con cái, nghĩ tới bản chất của sự nghiệp giáo dục, và nghĩ tới những công việc chúng ta sẽ làm vì con cái. Nếu chúng ta đang đi làm, chúng ta phải nghĩ tới doanh nghiệp, và nghĩ xem làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống. Khi chúng ta đi mua bán ở siêu thị, chúng ta đã đặt mình vào trong tình thế tiếp xúc với toàn bộ hành tinh, vì lương thực, quần áo, và hàng hoá hiện nay được sản xuất khắp nơi trên thế giới và được vận chuyển đến từ những nơi đó. Chúng ta hãy đặt ra câu hỏi: Sự lựa chọn hàng hoá của chúng ta có ý nghĩa và tác động gì đối với thế giới, một chiếc xe chúng ta mới mua hoặc một bữa ăn tối sẽ có tác động ảnh hưởng như thế nào đối với châu Phi, châu Á hay ngay cả với những thị trấn nhỏ ở Mỹ?
Khi bước chân ra phố, chúng ta là những thành viên của một cộng đồng, và chúng ta nên hỏi xem các cộng đồng đã hình thành và phát triển ra sao. Chúng tu nên suy nghĩ về mối quan hệ giữa nhu cầu bức thiết của bản thân với nhu cầu rộng lớn hơn của cộng đồng để tìm cơ hội đóng góp cho cộng đồng. Và, khi chúng ta đi dạo trong thiên nhiên, hay ngồi yên trong nhà, hay tham dự vào một nghi lễ tôn giáo ở đâu đó, chúng ta nên suy nghĩ đến những giá trị và phẩm chất cao cả, siêu việt và tất cả những gì thiêng liêng của cuộc sống.
Trong cuốn sách này, chúng ta đã thấy những con đường khác nhau mà qua đó tư duy của chúng ta đã làm thay đổi thế giới, cũng như những con đường khác nhau mà qua đó nhận thức của nhân loại đã thay đổi trong thế kỉ 20. Tất nhiên, hành động của một vị giáo hoàng hoặc một vị tổng thống có thể gây ra ảnh hưởng lớn. Nhưng tư tưởng của mỗi cá nhân chúng ta cũng có tác động không nhỏ. Tư tưởng của môi cá nhân tuy nhỏ bé nhưng có thể đóng góp vào việc làm thay đổi thế giới bằng những cử chỉ và hành vi tinh tế. Tích hợp tư tưởng của hàng chục ngàn người trong một thị trấn, hàng trăm triệu người trong một đất nước, hàng tỉ người trên trái đất, tư tưởng của nhân loại sẽ tạo nên một tác động khổng lồ.
Hiện nay, chúng ta đang đứng tại ngưỡng của một đợt tạm dừng để suy nghĩ. Mỗi chúng ta đang tiếp tục nhìn ra thế giới xung quanh và nhìn vào chính bản thân mình. Sau những phút tạm ngừng để suy nghĩ này sẽ là một xung lực sáng tạo mới. Mỗi chúng ta sẽ có trách nhiệm với xung lực đó, sao cho nó có thể đưa chúng ta tiếp tục tiến về phía trước trong thiên niên kỉ mới. Sự kết hợp giữa xung lực, tư tưởng, và thái độ mới của chúng ta sẽ sáng tạo nên một thế giới mới. Để làm được điều đó, chúng ta không chỉ biết đến những mong muốn của riêng mình, mà sẽ bắt đầu đối thoại với những người khác, với tự nhiên, và với những giá trị thiêng liêng. Chúng ta đã để lại giấc mơ về cái xác định tuyệt đối ở phía sau. Thay thế vào đó, mỗi chúng ta bây giờ phải gánh một trách nhiệm đối với một tương lai bất định.
❀ ❀ ❀
[1] Điều này không có nghĩa là các dân tộc khác, từ thời nhà Thương của Trung Hoa cổ đại tới liên minh của người Blackfoot và người Iroquois ở Bắc Mỹ, không tổ chức nên những tổ chức cộng đồng của mình một cách khôn ngoan.
[2] H. G. Wells (1866-1946), nhà văn người Anh, chuyên viết về khoa học viễn tưởng. Tác phẩm nổi tiếng nhất là The Time Machine (Chiếc máy thời gian) kể về một chiếc máy cho phép đi xuyên qua thời gian tới bất kì một thời điểm nào trong quá khứ hoặc tương lai. Cùng với Jules Verne, ông được coi là cha đẻ cùa thể loại văn học viễn tưởng (ND).
[3] Tội của Adam và Eva ăn vụng trái cấm trong Vườn Địa đàng, được truyền qua các thế hệ, vì thế mọi người đều mắc tội ngay từ khi sinh ra. Đây là quan niệm của Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo (ND).
[4] Cái duy nhất, cái thống nhất làm một, chẳng hạn, Thượng Đế là duy nhất. Một đặc trưng của các tôn giáo chủ trương nhất thần giáo (chỉ có một Thượng Đế duy nhất) (ND).
[5] Armageddon là vị trí xảy ra một trận chiến mang tính anh hùng ca liên quan đến những lời tiên tri của các tôn giáo nhất thần giáo (Do Thái giao, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo) về ngày tận thế. Đồng thời, tên gọi ấy đa được một số người sử dụng để ám chỉ một vụ va đập của các hành tinh nhỏ hoặc thiên thạch lớn vào Trái đất gây nên sự huỷ diệt (ND).
[6] Miếng da để hạn chế tầm nhìn hai bên của ngựa, để ngựa chỉ nhìn thấy phía trước mà tiến tới (ND).