Tất cả chúng ta đều là những nhà triết học. Vào một lúc nào đó trong đời, có thể mỗi chúng ta đã đặt ra những câu hỏi sâu sắc nhất mà một con người có thể hỏi: Chúng ta là ai? Chúng ta từ đâu tới? Chúng ta sẽ đi về đâu? Ý nghĩa cuộc sống là gì? Thời gian có điểm kết thúc hay không? Hành động đúng đắn là gì? Thế nào là được tự do? Tôi nên ứng xử với những người xung quanh thế nào? Ý nghĩa của cái chết là gì?
Kể từ khi lịch sử được ghi chép, các nhà triết học và các thầy giảng đạo trong mọi nền văn hoá đã tranh cãi về những câu hỏi này. Một số nền văn hoá đã đưa ra những câu trả lời dựa trên tôn giáo hoặc những khải huyền thần bí. Một số nền văn hoá khác lại sáng tạo ra những hệ tư duy phức tạp bao trùm lên mọi thứ. Một số nhà triết học trả lời những câu hỏi này nhưng lại làm nảy sinh những câu hỏi khác. Một số khác nhắm tới việc tìm kiếm câu trả lời cuối cùng và đầy đủ với ước muốn sáng tạo nên một phương pháp triết học độc nhất vô nhị thâu tóm toàn bộ các câu hỏi và câu trả lời.
Một số hệ thống tôn giáo và triết học sử dụng cả những hình ảnh thơ ca trong khi họ tìm cách thể hiện cái siêu việt. Những hệ thống triết học khác, đặc biệt là ở phương Tây, gắn bó tha thiết với mục tiêu tìm kiếm sự rõ ràng và minh bạch. Trong khi đó một số luận văn triết học lại trở nên tù mù, rắc rối và khó hiểu vì các nhà triết học cố gắng sử dụng từ ngữ để thể hiện những thứ không thể nói lên bằng lời, bắt từ ngữ phải thực hiện những nhiệm vụ mà thông thường nó không thể đáp ứng.
Vậy nên, chúng ta sẽ đi tới một loạt câu hỏi lớn khác: Làm thế nào để có thể nói về một điều gì đó có ý nghĩa? Làm thế nào để có thể làm rõ ý nghĩa của thế giới hiện thực khi chúng ta nói về nó? Làm thế nào để truyền đạt được bản chất chủ yếu của cái mà chúng ta cảm nhận và suy nghĩ về thế giới hiện thực? Làm thế nào để diễn đạt ý kiến mà không bị hiểu lầm? Phương pháp chính xác để sử dụng ngôn ngữ là thế nào?
Nhà triết học Leibniz nêu lên lí lẽ cho rằng các lập luận triết học chỉ nên sử dụng một ngôn ngữ hợp lí và “lí tưởng”. Những cuộc thảo luận trong các trường đại học về “ý chí tự do” (free will), “ý thức” (consciousness), “đạo đức” (morality), vv. thường nhanh chóng bị sa lầy vào sự hỗn loạn về định nghĩa. “Tôi nói một đằng anh nói một nẻo”, chúng ta thường tranh cãi với nhau như vậy. “Hãy bắt đầu bằng việc định nghĩa các thuật ngữ của chúng ta. Hãy để cho mọi người nhất trí với cái mà chúng ta đang bàn”. Do đó cuộc tranh cãi chuyển sang một hướng mới, trong nỗ lực định nghĩa xem “ý chí tự do” là gì, “nhận thức” là gì, hoặc “cái thiện” có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, ngay sau khi tất cả đã đồng ý về những định nghĩa như thế thì dường như cơ hội lại bị bỏ lỡ, vì chúng ta cảm thấy rằng chúng ta lại đang bắt đầu nói về một cái gì đó khác xa nhau.
Leibniz hiểu rất rõ những cạm bẫy này. Ông đề nghị các nhà triết học nên chấp nhận một thứ ngôn ngữ mà trước hết, tất cả những thuật ngữ trong đó phải được định nghĩa chính xác và hoàn toàn không có sự mù mờ, nhập nhằng nào. Nếu tất cả chúng ta đã đồng ý với nhau về cái gì là “tự do”, “đạo đức”, “nhân quả”, “thời gian”, “không gian”… và chỉ sử dụng những thuật ngữ này một cách cẩn thận theo những định nghĩa đã thoả thuận thì chúng ta có thể nói chuyện được với nhau, và cuộc thảo luận sẽ từng bước tiến triển một cách logic. Bằng cách này, chúng ta sẽ đạt tới cấp độ xác định và thoát khỏi sự nhập nhằng, lẫn lộn.
Chương trình mà Leibniz đề nghị nghe rất lí tưởng. Một khi đã hoàn thiện được một ngôn ngữ như thế thì có thể làm cho các lập luận triết học trở nên trong sáng, những câu hỏi lớn của triết học sẽ được giải quyết và trả lời từng bước một. Bằng cách này, triết học sẽ đạt tới một thoả thuận chung về cái đã biết và cái vẫn chưa được trả lời. Thay vì có nhiều trường phái triết học khác nhau, chúng ta sẽ có một nền triết học hoàn toàn trong sáng. Triết học sẽ dựng lên một hàng rào hoặc một biên giới xung quanh cái có thể bàn, cái có thể biết, và cái chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn. Bên ngoài biên giới đó sẽ tiếp tục còn lại tất cả những câu hỏi chưa được trả lời và những sự bất định ở nhiều cấp độ. Nhưng bên trong biên giới đó sẽ là một mảnh đất hoàn toàn sạch sẽ và hoàn toàn không còn cỏ dại.
Nhưng có một người cùng thời với Leibniz, nhà văn châm biếm Jonathan Swift, đã chỉ ra sai lầm rõ ràng trong kế hoạch vĩ đại này. Ba thế kỉ sau, những quan điểm của ông đã được Ludwig Wittgenstein lặp lại. Swift đã tỏ ý nghi ngờ rằng giấc mơ về một thứ ngôn ngữ lí tưởng là rất ấn tượng, nhưng liệu nó có thể tồn tại trong thực tế hay không? Trong cuốn Gulliver du kí (Gulliver’s Travels), nhân vật chính đã đến thăm viện hàn lâm vĩ đại ở Lagadu, nơi các giáo sư ngôn ngữ đã xoá bỏ hết mọi loại từ ngữ ngoại trừ danh từ, “bởi vì trong thực tế mọi thứ có thể tưởng tượng được đều chỉ là danh từ”, và hơn thế nữa, “nên tiết kiệm từ ngữ, vì nói càng nhiều thì bán cháo phổi càng nhiều”[1]. Trong cấu chuyện châm biếm của Swift, khi hai nhà triết học muốn tranh luận, họ phải tránh mọi tình trạng nhập nhằng tối nghĩa và mâu thuẫn logic. Họ mang theo những chiếc túi khổng lồ tới cuộc tranh luận. Thay vì sử dụng từ ngữ, nhà triết học thứ nhất bắt đầu cuộc tranh luận bằng cách lấy một vật ra khỏi chiếc túi rồi giơ lên, sau đó nhà triết học kia đáp lại cũng bằng cách giơ lên một vật khác, và cứ như thế tiếp tục. Không thể có một sự mờ hồ đa nghĩa hoặc nhầm lẫn nào ở đây - quyển sách là quyển sách, viên gạch là viên gạch - và mọi sự mơ hồ đa nghĩa vốn có trong từ ngữ và ngôn ngữ đều đã được tránh xa. Điều phiền toái duy nhất ở đây là hai nhà triết học đó chẳng có gì nhiều để nói!
Chuyện châm biếm của Swift phô bày điểm yếu cố hữu trong giấc mơ của Leibniz. Nếu chúng ta muốn thoát khỏi tất cả sự nhầm lẫn tiềm ẩn, chúng ta phải sử dụng một thứ ngôn ngữ thuần khiết, một ngôn ngữ trong đó mọi chi tiết mập mờ, nhỏ nhặt, tinh tế khó thấy trong ý nghĩa đều phải bị loại bỏ, sao cho mỗi từ chỉ phục vụ cho một mục đích duy nhất. Với cách này, ngôn ngữ sẽ bị hạn chế trong những ranh giới vô cùng chật hẹp. Mặt khác, nếu chúng ta muốn thảo luận những chủ đề sâu sắc nhất của cuộc sống, chúng ta cần có thứ ngôn ngữ của con người với tất cả sự phong phú của nó, bao gồm cả phép ẩn dụ và sự chấp nhận tính mơ hồ, đa nghĩa của từ ngữ cùng với những nghịch lí. Đây là tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương này. Đó là tình trạng song đề thách thức chúng ta đặt câu hỏi xem liệu có nên tiếp tục bám giữ lấy tính xác định hay không, hay nên chấp nhận một thế giới có một mức độ mơ hồ và bất định như một điều kiện cơ bản để chúng ta là con người.
Trong Chương 2, chúng ta đã biết việc Bertrand Russell tìm kiếm tính xác định và đầy đủ trong toán học. Ông cũng là người đóng vai trò tích cực trong cuộc thảo luận về bản chất của ngôn ngữ. Để bắt đầu việc này, ông đã phản ứng mạnh mẽ đối với một phong trào trước đây trong triết học Anh được gọi là Chủ nghĩa Lí tưởng (Idealism)[2], cũng như đối với hệ thống triết học vĩ đại của Hegel, Russell tin rằng “toàn bộ dinh thự oai nghiêm bề thế của hệ thống triết học của ông ấy” cũng như nhiều hệ thống siêu hình học khác đều được đặt trên một nền tảng sai lầm về logic[3]. Thật vậy, trong tác phẩm triết học có ý nghĩa đầu tiên của ông, Phê phán triết học của Leibniz (A Critical Exposition of the Philosophy of Leibniz), năm 1900, ông lí luận rằng các lập luận của siêu hình học đều là kết quả của việc ngôn ngữ phân chia thế gĩới thành chủ ngữ (chủ thể) và vị ngữ (cái được chủ thể khẳng định hoặc phủ định).[4]
Trong khi phản ứng với Chủ nghĩa lí tưởng, Russell mong muốn phát triển một hệ thống triết học hết sức rõ ràng mà ông gọi là “học thuyết nguyên tử logic” (logical atomism). Tư tưởng của ông được bắt đầu bằng những sự vật trong thế giới hiện thực mà chúng ta biết một cách chắc chắn. Chủ yếu đây là những mệnh đề khoa học. Russell lấy chúng làm những viên gạch logic cơ bản (logic building blocks) hoặc điểm xuất phát của hệ thống của ông. Ông gọi chúng là những “nguyên tử logic”. Giống như phân tử được xây dựng từ các nguyên tử, và thế giới xung quanh được tạo nên từ các phân tử, học thuyết nguyên tử logic cũng sẽ kiến tạo nên một hệ thống triết học có lí lẽ, chặt chẽ, mạch lạc thông qua sự kết hợp các nguyên tử logic. Tiến theo con đường này, Russell hi vọng sẽ đạt tới cách trình bày thế giới hiện thực không có mâu thuẫn logic và nhầm lẫn.
Nhưng trớ trêu thay, chính một học trò của Russell là Ludwig Wittgenstein lại chứng minh chương trình này là phù phiếm, vô ích. Trong khi ngôn ngữ bị hạn chế bởi tính nghiêm ngặt của logic trên một mức độ nào đó, nhưng nhờ khả năng ẩn dụ, khoan dung với tính mơ hồ, chấp nhận nghịch lí và tính đa nghĩa, ngôn ngữ trở nên vô cùng thích hợp trong việc sáng tạo ra những chuyện vui đùa, tỏ tình, ca hát, chuyện trò với các em bé, trao đổi chuyện phiếm, cầu nguyện, và sáng tác thơ ca, hơn là thích hợp trong thảo luận triết học về thế giới. Chúng ta có thể cố gắng điều chỉnh và hạn chế ngôn ngữ, nhưng ngay khi chúng ta bắt đầu thảo luận với nhau thì ngôn ngữ đã thoát khỏi sự kiểm soát của chúng ta và đi trên con đường riêng của nó. Trong khi bác bỏ chương trình vĩ đại của Russell đối với ngôn ngữ, Wittgenstein đã xây dựng nên chương trình triết học của bản thân ông, một chương trình có ảnh hưởng vô cùng sâu sắc tới tư duy của khoa học cho tới tận ngày nay. Chủ yếu bằng việc chứng minh nhiều con đường mà qua đó ngôn ngữ thực hiện chức năng và vai trò của nó đối với thế giới, Wittgenstein đã thiết lập nên cái có thể được mô tả như một liệu pháp điều trị hữu hiệu nhất đối với các nhà triết học, giúp họ thoát khỏi những tình trạng khó xử khác nhau do chính họ tự tạo ra.
Tính cách và phương pháp tiếp cận của Wittgenstein khác thường đến mức đáng để chúng ta dành chút ít thời gian để tìm hiểu chuyện đời của ông, để sao cho những sáng tạo của bất kì cá nhân nào cũng không bao giờ có thể “chia tay” với cuộc đời của người đó. Wittgenstein sinh ra trong một gia đình giàu có tại Vienna, thành phố của Gustav Mahler, Sigmund Freud, Arnold Schoenberg, những câu chuyện của Arthur Schnitzler, và kiến trúc của Adolph Loos. Johannes Brahms là vị khách thường xuyên viếng thăm nhà Wittgenstein, và Maurice Ravel đã tặng bản Piano Concerto for the Left Hand (Bản concerto viết cho piano đánh tay trái) cho em trai của Ludwig là Paul, người đã bị thương trong Thế chiến I.
Wittgenstein học tập tại nhà cho tới năm mười bốn tuổi mới nhập học tại trường trung học ở Linz. Ý định ban đầu của ông là theo học vật lí của Ludwig Boltzmann, nhưng kế hoạch trên bị phá ngang vì nhà vật lí này đã tự tử[5]. Thay vì học vật lí, Wittgenstein ghi danh vào Đại học Manchester và năm 1908 bắt đầu nghiên cứu khoa học hàng không. Ý định thiết kế một loại cánh quạt máy bay mới của ông liên quan rất nhiều đến toán học, và do đó mối quan tâm của ông dần dần chuyển sang lĩnh vực nền tảng của môn học này. Vào thời điểm đó, cuốn Những nguyên lí của toán học (Principles of Mathematics, khúc dạo đầu của bộ sách vĩ đại Principia Mathematica) của Bertrand Russell đã được công bố, và do đó Wittgenstein bắt đầu đọc Russell và Frege[6]. Kết quả là năm 1911, ông chuyển đến Cambridge và nhanh chóng học tất cả những gì Russell đã dạy ông.
Đối với Russell, Wittgenstein dường như là một thanh niên thông minh đến mức không thể tin nổi, nhưng cũng là người có những dằn vặt sâu sắc đến nỗi đôi khi đã có ý định tự tử. Sau hai năm làm việc với Russell, Wittgenstein chuyển tới một nông trại ở Skjolden, thuộc đông bắc Bergen, Na Uy. Tại đó, ông tiếp tục suy ngẫm về những vấn đề triết học, mãi cho đến khi Thế chiến I bùng nổ, ông tình nguyện gia nhập quân đội Áo.
Wittgenstein đã trở thành người phê phán học thuyết nguyên tử logic của Russell một cách quyết liệt. Russell đã có những đóng góp quan trọng đối với nền tảng của toán học và cũng nổi tiếng đối với công chúng nói chung. Nhưng với tư cách một nhà triết học, danh tiếng của ông lại kém vững chắc. Kĩ năng của Russell bộc lộ ở lối văn chương thoải mái và trong sáng của ông. Ông không sợ phổ biến triết học cho đám đông quần chúng - một hành động rất bất lợi đối với một nhà khoa học hàn lâm, ít nhất trong thế giới Anglo-Saxon. Đối với những cuộc tranh luận của ông, tính trong sáng của tư duy là một trở ngại rất tinh tế. Russell có thể nhảy bổ vào một cuộc tranh luận với thái độ quả quyết mạnh mẽ và tập trung tranh luận những nội dung chủ yếu, nhưng trong khi làm như thế ông có nguy cơ bỏ qua, không chú ý tới những chi tiết tinh tế khó thấy bên trong của vấn đề.
Trái lại, Wittgenstein không để cho lập luận nào đứng yên một chỗ; ông nghiền ngẫm suy đi tính lại về nó, lôi những chi tiết khó thấy của nó ra để xem xét. Trong khi Russell đẩy học thuyết nguyên tử logic của ông tiến lên phía trước thì Wittgenstein, tại nơi tha hương do ông tự đày ải bản thân mình, lại băn khoăn đặt ra một loạt câu hỏi: Làm sao tôi có thể nói về bất kì cái gì? Làm sao để sự bày tỏ có thể giảng nghĩa bất kì một cái gì? Quan hệ của ngôn ngữ với thế giới là gì? Cái gì có thể nói được, hoặc hiểu được, hoặc không thể hiểu được? Ông viết tất cả những suy nghĩ cân nhắc thận trọng cùa mình vào sổ tay mà ông mang theo tới các mặt trận ở phía Đông và ở Ý.
Năm 1914, Wittgenstein đã có khám phá về bản chất của ngôn ngữ. Chuyện kể rằng ông đang đọc một vụ án liên quan đến một tai nạn giao thông. Để minh hoạ trường hợp này, toà án đã trưng bày mô hình của vụ việc xảy ra bằng cách sử dụng những chiếc xe ô tô, những con đường và nhà cửa rất nhỏ[7]. Câu chuyện này đã tác động vào trí óc Wittgenstein và làm ông nảy ra ý nghĩ cho rằng lí do để mô hình này có ý nghĩa và cách thức làm cho nó phản ánh được một sự kiện có thể xuất hiện trong cuộc sống là ở chỗ mỗi thành phần của nó - chiếc xe, con đường, nhà cửa - tương ứng với (hoặc chỉ rõ) một cái gì đó trong thế giới hiện thực. Không đơn giản chỉ là sự tương ứng giữa những chiếc xe đồ chơi với những chiếc xe thật đã gây ấn tượng mạnh đối với Wittgenstein, mà là một cái gì đó tổng quát hơn nhiều. Đó là sự tương ứng giữa sự sắp đặt của những đồ vật trong mô hình với sự sắp đặt của những đối tượng và sự kiện trong thế giới hiện thực.
Wittgenstein ngay lập tức nắm bắt lấy tư tưởng cho rằng ngôn ngữ hoạt động được là vì nó trình bày bức tranh của hiện thực. Nếu bạn đưa ra một lời tuyên bố rằng “con mèo săn đuổi con chuột” thì mỗi một từ trong tuyên bố đó sẽ tương ứng với một đối tượng trong thế giới hiện thực. Nhưng còn hơn thế, sự sắp đặt của các từ trong tuyên bố đó tương ứng với một tình huống cụ thể của các sự kiện trong thế giới thực tế. Đây là lí do tại sao, Wittgenstein lập luận, ngôn ngữ có ý nghĩa và nó cho phép chúng ta phản ánh các sự vật và sự việc trong thế giới hiện thực.
Wittgenstein trải qua giai đoạn kết thúc Thế chiến I như một tù nhân của người Ý nhưng vẫn đủ may mắn để có cuốn “Sổ ghi chép triết học-logic” trong túi balô vào lúc bị bắt. Ông gửi cuốn sổ đó cho Russell, người đã viết lời nói đầu và thu xếp để xuất bản cuốn sổ ghi chép đó. Nhà triết học GE. Moore đã đặt cho cuốn sách đó một cái tên khá khoa trương: Tractatus logico-philosophicits (Chuyên luận về triết học-logic).
Thực tế, Wittgenstein phản đối mạnh mẽ lời nói đầu của Russell và ông cảm thấy bị Russell diễn dịch sai quá nhiều cuốn sách của mình - cuốn sách mà Russell đã thu xếp việc xuất bản nhưng rồi lại phủi tay chối bỏ trách nhiệm. Thật vậy, đây là một chủ đề lặp đi lặp lại trong đời Wittgenstein, ông thường xuyên bị hiểu sai và đọc sai, thậm chí bởi chính những sinh viên của ông. Ông không hi vọng tình trạng này sẽ có bất kì một cải thiện nào trong tương lai và ông cảm thấy như ông đang viết cho những người có suy nghĩ hoàn toàn khác với mình.
Cuốn sổ tay của Wittgenstein là một trong những cuốn sách triết học ngắn nhất, nhưng lại là một trong những cuốn sách quan trọng nhất của thế kỉ 20. Trong vẻn vẹn bảy mươi lăm trang gồm những phát biểu ngắn gọn được đánh số, Wittgenstein vạch ra những gì có thể diễn đạt được, để tách biệt rõ ràng với những gì không thể diễn đạt được và buộc phải bỏ qua trong im lặng.
Những mệnh đề của Wittgenstein thể hiện mối quan hệ tương ứng sinh động giữa ngôn ngữ với thế giới hiện thực. Cuốn sách bắt đầu bằng mệnh đề: “Thế giới là mọi thứ đang tồn tại trong thực tế như ta thấy”. Nó tiếp tục sử dụng các mệnh đề, mệnh đề con (subpropositions), mệnh đề con của mệnh đề con (sub-subpropositions), mỗi mệnh đề được đánh số thích hợp, từ số của mệnh đề lớn đến mệnh đề con, để ghi chép mọi thứ có thể diễn đạt một cách chính xác.

Hình 4.1. Ludwig Wittgenstein (1889-1951) và bìa cuốn sổ tay Tractatus logico-philosophicus của ông
Giống như với các nguyên tử logic của Russell, các mệnh đề của Wittgenstein - những mệnh đề có thể diễn đạt thế giới một cách rõ ràng - rất gần gùũ với cách phát biểu khoa học. Theo ông, những mệnh đề này chỉ là những loại mệnh đế giúp chúng ta nói về thế giới hiện thực. Nhưng mặt khác, con ngưòi không phải lúc nào cũng nói về khoa học. Chúng ta còn nói về niềm hi vọng, nỗi khao khát, và nỗi sợ hãi. Chúng ta còn muốn biết thế giới này có ý nghĩa gì, liệu nó có mục đích hay không, và tất cả những điều này liên quan như thế nào đối với những giá trị cuộc sống của chúng ta.
Đối với Wittgenstein, những mệnh đề-không phải khoa học trên không thể trình bày rõ ràng và vẽ ra một bức tranh tương ứng một cách chính xác đối với các tình trạng trong thế giới hiện thực. Do đó, ông nói, “cảm giác về thế giới phải nằm bên ngoài thế giới”. Cuốn Tractatus logico-philosophicus bắt đầu bằng câu “Thế giới là mọi thứ đang tồn tại trong thực tế như ta thấy”, mọi thứ trong thế giới đang ở trong thế giới, và cái diễn ra trong thế giới đang diễn ra. Nhưng khi chúng ta hỏi về giá trị và ý nghĩa của sự vật, sự việc có nghĩa là chúng ta đang băn khoăn về một điều gì đó ở bên ngoài vũ trụ. Và do đó đối với Wittgenstein ý nghĩa của vũ trụ không phải là một thực tế nằm bên trong vũ trụ.
Điều này có nghĩa là phần lớn các vấn đề triết học - đạo đức học, bản chất của tự do, vai trò của ý thức, vv. - không thể trình bày dưới dạng những mệnh đề có thể phán xét là đúng hay sai. Lấy ví dụ về cái chết, cái mà tất cả chúng ta đều phải đối mặt, Wittgenstein nói: “Cái chết không phải là một sự kiện trong cuộc sống. Cái chết không được trải qua”. Vì thế, Wittgenstein khuyên triết học “đừng nên nói về cái không thể nói được”.
Nhưng vậy thì cái gì trong truyền thống triết học vĩ đại đó quay trở lại thời Hi Lạp cổ đại: Phải chăng đó là việc tìm kiếm chân lí? Wittgenstein cho rằng công việc đích thực của các nhà triết học không phải là tạo ra những lí thuyết vĩ đại như thế về thế giới, mà là dọn sạch những nhầm lẫn nảy sinh từ cách thức hoạt động của ngôn ngữ.
Xin lấy một ví dụ thô thiển: Tôi có thể nói “tuyết sôi” hoặc “vòng tròn vuông” mà không vi phạm các quy tắc ngữ pháp. Tiếng Anh cho phép tôi nói như thế, ngay cả khi những câu nói đó vô nghĩa. Theo Wittgenstein, tất cả những cuộc tranh cãi lớn trong triết học (về ý chí tự nguyện, ý thức, nguồn gốc của đạo đức, luật nhân quả, và các kiểu không gian và thời gian) đều đi đến một kết thúc liên quan đến những nhầm lẫn tương tự như thế. Nhiệm vụ của triết học không phải là tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi này, mà là thường xuyên cảnh báo những nhầm lẫn về ngôn ngữ học và sau đó là dọn sạch những nhầm lẫn đó. Cứ như thể là Wittgenstein đã đặt ra một đường biên bao quanh ngôn ngữ rồi nói, “bất kì cái gì nằm bên trong khu vực đã rào kín này thuộc về triết học, tất cả những gì nằm ngoài đều thuộc lĩnh vực của các nhà huyền bí học, các nhà thơ, và những kẻ đang yêu. Những lĩnh vực thuộc vế sau không cố gắng tạo ra “bức tranh” hiện thực mà chỉ đang bày tỏ một cái gì đó khác biệt sâu sắc”.
Và nếu chúng ta đặt ra câu hỏi nóng bỏng về ý nghĩa của tất cả những thứ đó thì sao nhỉ? Tại đây, Wittgenstein đã chạm tới huyền bí học. Bí mật lớn nhất không phải là “thế giới là như thế nào”, mà là “thế giới là như thế đó”, ông nói. Cũng như những câu hỏi về cuộc sống vĩnh cửu, có thật là cuộc sống hiện tại của chúng ta, thời gian chúng ta trải qua trên trái đất này, là những mẩu chuyện huyền bí như bất kì phỏng đoán nào về cuộc sống vĩnh cửu hay không?
Nhưng giả định rằng những người không làm triết học sẽ không chấp nhận với quan điểm đó. Giả định rằng những người ấy yêu cầu nhiều hơn đối với nhà triết học: “Quý vị có một công việc dễ chịu tại một trường đại học. Quý vị chẳng phải làm gì nhiều hơn là ngồi và suy nghĩ. Vậy hãy cho chúng tôi vài câu trả lời và đừng tiếp tục quá thận trọng về ngôn ngữ nữa”. Wittgenstein sẽ trả lời câu hỏi mà một nhà triết học trung thực bắt buộc phải làm sáng rõ rằng những câu hỏi như thế bản thân nó không có bất kì ý nghĩa nghiêm chỉnh nào. Và Wittgenstein đồng ý rằng vâng, người đời có lí để phê phán, có lẽ triết học hoàn toàn chẳng có gì đáng làm hơn là cố gắng dọn sạch mọi sự nhầm lẫn. Đối với một nhà triết học, thực sự chẳng có gì đáng nói hơn điều đó - phần còn lại hãy dành cho một Shakespeare hay một Goethe nào đó. Có thể đã đến lúc các nhà triết học nên từ bỏ danh vị và tìm kiếm những công việc có ích lợi nhiều hơn. Tuy nhiên, một kiểu triết học như của Spinoza[8] vẫn là bộ thấu kính trong trẻo và vô cùng sinh động!
Như một Thiền sư bậc thầy, Wittgenstein dẫn triết học tới bờ vực, tới trạng thái phi-tồn tại. Thế nhưng cuối cùng thì chúng ta lại có thể phản đối phương pháp của ông bằng cách chỉ ra rằng Wittgenstein chẳng là gì hơn một kẻ lừa gạt liều lĩnh. Nếu tất cả những gì có thể nói chắc chắn hoặc được xác định rõ ràng đều là những phát biểu về khoa học thì chúng ta sẽ kết luận ra sao với cuốn Tractatus logico-philosophicus và những phát biểu của nó về những thách thức và giới hạn của ngôn ngữ? Tất cả những điều đó bắt nguồn từ đâu?
Wittgenstein đồng ý với sự phản đối của chúng ta. Nếu bất kì ai đã thực sự hiểu ông ấy, họ sẽ nhận ra rằng cái mà ông đã nói thực sự là “vô nghĩa”. Những lời lẽ của ông chẳng phải là cái gì hơn chiếc thang được dùng để leo lên một điểm xác định nào đó. Người thực sự hiểu ông sẽ phải “vứt chiếc thang ấy đi, sau khi đã leo lên tới đó”. Khi nào người đó thật sự nhìn thấy thế giới một cách đúng đắn thì anh ta có thể “tống khứ” toàn bộ những mệnh đề của Wittgenstein đi.
Và cuốn Tractatus logico-philosophicus đã kết thúc như vậy: “Với cái gì không thể nói thì phải giữ im lặng”. Wittgenstein đã đạt được tính xác định trong cái có thể nói, nhưng với một cái giá quá đắt. Trong suốt cuộc đời, ông đã đấu tranh để giữ gìn sự trung thực đối với bản thân và đối với triết học của ông. Hơn thế nữa, ông tự khuyên nhủ mình, và sau khi gửi bản thảo cho Russell, ông từ bỏ triết học, mặc dù thỉnh thoảng ông vẫn gặp gỡ các nhà triết học muốn trao đổi với ông trong thời kì này.
Wittgenstein khi đó bắt đầu nghiên cứu những tác phẩm về tôn giáo và đạo đức của Tolstoy và đọc lại Kinh Phúc âm. Sau khi được thả ra từ trại tù nhân chiến tranh, ông đã đem cho hết lượng tài sản đáng kể được thừa kế từ người cha, và làm giáo viên tiểu học tại nhiều làng quê ở Áo.
Năm 1925, những va chạm với các thầy giáo khác và dân làng đã đẩy ông về hưu. Ông nghĩ tới việc gia nhập luật dòng ở tu viện, và trong một khoảng thời gian ông đã làm việc như một trợ lí trông coi vườn tược. Năm 1926, ông thiết kế và xây dựng một biệt thự tại Vienna cho chị gái, và nếu tiếp tục đi theo con đường này, ông có thể đã có một sự nghiệp thành công với tư cách là một kiến trúc sư.
Năm 1929, vào tuổi bốn mươi, Wittgenstein quyết định quay lại triết học và Đại học Cambridge. Lí do thúc đẩy sự kiện này có thể là do một bài giảng mà ông đã được nghe vào năm trước tại Vienna, do L. E. J. Brower trình bày về nền tảng của toán học. Mỉa mai thay, vì chưa chính thức hoàn tất bằng tiến sĩ, nhà triết học (hoặc chống triết học) bậc thầy này buộc phải đăng kí xin việc với tư cách một sinh viên tốt nghiệp đại học. Tuy nhiên, một năm sau, ông đã được bổ nhiệm làm thành viên của Đại học Trinity College ở Cambridge.
Wittgenstein trở lại với triết học vì ông nhận thấy có nhiều cái có thể nói hơn về ngôn ngữ. Tuy nhiên, ông không tìm cách công bố bất kì cuốn sách chủ yếu nào, không làm một tổng kết lớn nào hoặc sáng tạo nên một hệ thống triết học bao trùm nào nữa. Những năm còn lại, với tư cách một nhà triết học, ông đã dành cho việc giảng bài và chuyện trò với sinh viên. Trong khi đối với bản thân cuộc sống hàn lâm, ông ít bận tâm về nó và từ chối ăn tối tại Nhà ăn lớn dành cho các giáo sư. Có chuyện kể rằng ông đã tự sắp xếp chiếc bàn đánh bài của mình trong phòng ăn để có thể ăn mà không phải nói chuyện với các giáo sư khác. Thay vì lên lớp tại giảng đường, ông ưa thích sử dựng phòng khách thưa thớt của mình để sinh viên mang ghế và đệm tới đó ngồi học.
Wittgenstein không giảng những chủ đề triết học đã biết, hoặc giải thích những nguyên lí triết học. Đơn giản ông chỉ nói và không bao giờ ghi chép lại, hay lớn tiếng trình bày tư tưởng trước mặt sinh viên. Wittgenstein chỉ nghiên cứu thứ triết học bay bổng và thường đi tới những kết quả mới. Đôi khi ông tự mắng mình là chậm và ngu, nhiều lúc lại im lặng chờ đợi. Nhưng rồi vẫn có những cuộc thảo luận sôi nổi. Với tinh thần làm việc tập trung cao độ, ông có thể đưa cả nhóm sinh viên tới một câu hỏi mà họ được yêu cầu trả lời. Đến lượt nó, những câu trả lời lại dẫn tới những câu hỏi mới. Khi ông thấy không thoả mãn hoặc bị ức chế với những bài giảng của mình, ông nhờ một sinh viên đưa đi xem phim, tại đó ông cố ngồi lên hàng ghế đầu để có thể tập trung tinh thần thưởng thức phim.
Một trong những con đường mòn mà Wittgenstein đào đi xới lại là yếu tố hạn chế của lí thuyết về ngôn ngữ của ông trước đây, trong đó ông cho rằng ngôn ngữ phải tương ứng với thực tế như một tấm ảnh chụp. Wittgenstein đã kể nhiều giai thoại về điều này cho sinh viên và bạn bè nghe, rồi đến lượt họ, họ lại làm cái việc tam sao thất bản các giai thoại đó. Một lần, Wittgenstein phân tích cho nhà kinh tế học người Ý P. Sraffa rằng một mệnh đề trong ngôn ngữ phải có cùng hình thức logic tương ứng với sự kiện hiện thực mà nó mô tả. Wittgenstein lí luận: Luôn luôn có một ngữ pháp thích hợp với một mệnh đề như thế. Để trả lời, Saffra làm một cử chỉ quen thuộc của người Ý để thể hiện sự bác bỏ hoặc chán ngán đến phát ớn, bằng cách đẩy những ngón tay và mu bàn tay trượt dưới cằm từ phía trong ra ngoài, rồi hỏi: “Hình thức logic của động tác này là cái gì?”.
Wittgenstein bị giáng một đòn choáng váng, trong khi cử chỉ này có ý nghĩa rất rõ ràng, nó lại chẳng tương ứng với bất kì một cái gì trong thế giới hiện thực. Từ đó, trong những cuộc tiếp xúc với sinh viên, ông bắt đầu khai thác tính phong phú và phức tạp của ngôn ngữ. Ông chỉ ra rằng ý nghĩa của ngôn ngữ ít nảy sinh từ việc phản ánh hiện thực hơn là từ những cách thức mà nó được sử dụng và vô số cách thức mà nó bày tỏ.
Trong cuốn Tractatus logico-philosophicus ông đã dựng lên một hàng rào xung quanh cái có thể diễn đạt rõ ràng. Bây giờ, ông nhận ra rằng làm như thế tức là đã hạn chế ngôn ngữ và đã cản trở sự tự do của nó. Tuy nhiên, phần lập luận nguyên thuỷ này vẫn có giá trị đối với triết học: Thay vì cố gắng đi tới những chân lí phổ quát, triết học cần phải chỉ ra sự vô nghĩa, những nhầm lẫn trong cách giải quyết vấn đề, và phải luôn luôn rõ ràng về cái mà ngôn ngữ đang trình bày. Triết học, ông tiếp tục khẳng định, “sẽ không bao giờ đạt tới nội dung bản chất của chân lí về thế giới”. Ông không biết liệu có tồn tại một loại ý nghĩa bị che khuất nào đó nói cho chúng ta biết bản chất thật sự của “ý nghĩ”, “công lí”, hoặc “Chúa” hay không. Giống như Niels Bohr đã hỏi, liệu có tồn tại một “hiện thực” ở cấp độ hạ nguyên tử hay không, Wittgenstein cũng đặt vấn đề liệu những “chân lí” triết học có thể được coi là thật sự tồn tại hay không?
Trong khi nghiên cứu những cách thức phong phú trong việc sử dụng ngôn ngữ, Wittgenstein thích lấy ví dụ về các trò chơi. Giả sử một sinh vật từ Sao Hoả tới Trái đất và hỏi: “Trò chơi là gì?”. Tôi sẽ bật tivi lên rồi giới thiệu một trận bóng đá và một trận bóng rổ. “A!”, người Sao Hoả thốt lên, “vậy thì một cuộc tranh cãi tại Hạ viện Anh cũng phải là một trò chơi bời vì ở đó có hai đội, có một luật chơi, một đội thắng và một đội thua”. Để trả lời, tôi chỉ lũ trẻ đang chơi ngoài phố và đưa cho người Sao Hoả một quyển sách về môn cờ và nói, “đây là những trò chơi”. Một cách tự nhiên, người Sao Hoả sẽ bị lẫn lộn và hối thúc tôi định nghĩa chính xác trò chơi là gì. Phải chăng nó phải có các luật chơi và những chiến lược chính xác như môn cờ? Hoặc luôn luôn phải có hai đội như bóng rổ? Và nếu các cuộc đấu vật đến kiệt sức là một trò chơi thì những cuộc khiêu vũ trên sàn nhảy là cái gì? Phải chăng mọi trò chơi đều dính líu đến cuộc đua tranh của một người hoặc một đội với người khác hoặc đội khác? Vậy trường hợp chỉ có một người sẽ là cái gì? Phải chăng trò thách đố điền ô chữ là một trò chơi, nếu trò chơi có thể chỉ có một người và không có ai khác tham gia? Vậy bài tập môn toán của học sinh ở nhà là cái gì? Và phải chăng tất cả những người ở trên sàn mua bán chứng khoán đều đang chơi một trò chơi?
Tôi đang tiếp tục chỉ ra những trò chơi khác nhau, đồng thời nói với vị khách của tôi rằng một cuộc tranh luận và một cuộc họp mặt bàn kế hoạch không phải là những trò chơi. “Nhưng”, người Sao Hoả lí sự, “phải có một nội dung chủ yếu nào đó của một trò chơi. Phải có một tiêu chuẩn so sánh để dựa vào đó mà xác định sự vậtsự việc và nói cái này là một trò chơi còn cái kia thì không”. Nếu không thì tại sao bạn có thể quá tự tin để bảo những cái này là trò chơi còn những thứ kia thì không? Bạn biết được điều này bằng cách nào?”.
Khái niệm về nội dung chủ yếu nào đó để xác định một trò chơi dẫn chúng ta quay ngược trở về với Plato và những Ý niệm của ông. Plato nói có một Ý niệm về một cái ghế, một hình thức hoàn mỹ của một cái ghế, và rằng những chiếc ghế thật sự chính là những bản sao của Ý niệm này. Nếu chúng ta không có cái Ý niệm này trong đầu thì làm sao mà chúng ta có thể nhận ra được một chiếc ghế khi chúng ta trông thấy một chiếc ghế như thế? Vậy phải chăng có một Ý niệm về một trò chơi mà tất cả các trò chơi đều tham gia ít hoặc nhiều vào trong Ý niệm đó?
Wittgenstein nói, sở dĩ có tình trạng vô nghĩa và lẫn lộn trong triết học là vì khi chúng ta gán cho một cái gì đó một cái tên thì điều đó không có nghĩa là cái tên này tương ứng với một tập hợp xác định duy nhất các đối tượng. Không có một trò chơi vĩ đại nào trên thiên đường mà tất cả các trò chơi dưới mặt đất bằng cách nào đó có thể thích hợp với nó. Câu chuyện nói về các trò chơi đã minh hoạ cách thức ngôn ngữ hoạt động và những kiểu nhầm lẫn có thể nảy sinh nếu chúng ta không thận trọng.
Không có một định nghĩa nào đóng khung cho một trò chơi, không có một lớp các trò chơi nào được định nghĩa rạch ròi để chứa tất cả mọi trò chơi hoàn toàn thích hợp với lớp đó, sao cho mọi thứ bên ngoài lớp đó rõ ràng không phải là một trò chơi. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta không gặp khó khăn gì khi nói về các trò chơi và phân biệt chúng với những hoạt động không phải trò chơi. Bất chấp việc đòi hỏi một định nghĩa, con người vẫn có thể bàn bạc về vấn đề này một cách dễ dàng.
Wittgenstein gợi ý rằng trong trường hợp các trò chơi, sự vậtsự việc hoạt động thông qua cái mà ông gọi là “tính tương tự họ hàng”. Môn cờ giống trò chơi checker. Cả hai đều là những trò chơi trên một tấm phẳng nhưng chúng cũng có một cái gì đó chung với bóng đá - hai đội tiến lên và tấn công lẫn nhau, ở đây tính “tương tự họ hàng” lại được chia sẻ với môn bóng bầu dục và hockey, cả hai môn này đều dùng những quả bóng. Hockey trên sân cỏ cũng gần giống với hockey trên sân băng - môn hockey không chơi trên sân cỏ và không dùng quả-bóng. Những trò chơi trên sân cỏ này có điểm chung với bóng chuyền - hai đội và một quả bóng. Và bóng chuyền lại có sự “tương tự họ hàng” với quần vợt và cầu lông - đều có bóng, vợt, và lưới. Từ đó, chúng ta lại có thể chuyển sang môn bóng quần (squash), một trò chơi không có lưới nhưng vẫn có bóng và vợt. Bằng cách này, thông qua một loạt các mối quan hệ, chúng ta có thể đi tới toàn bộ mạng lưới của các trò chơi mà chẳng bao giờ cần phải có một định nghĩa thấu đáo của “trò chơi” hoặc viện dẫn tới khái niệm “lớp của tất cả các trò chơi”.
Điều gì đúng đối với khái niệm “trò chơi” cũng sẽ đúng với những khái niệm “chân lí”, “cái đẹp”, “tự do”, “suy nghĩ”, “ý thức” và “Chúa”, cố gắng định nghĩa những thuật ngữ này hoặc trói chặt chúng vào các định nghĩa chỉ dẫn chúng ta tới một khó khăn vô tận vì nó cản trở bản chất tự do và tính sáng tạo của ngôn ngữ. Nếu bạn muốn biết một thuật ngữ có ý nghĩa gì, Wittgenstein nói, thì hãy nhìn xem nó làm cái gì. Hãy nhìn vào vô số cách thức mà nó được sử dụng trong ngôn ngữ.
Trong những dịp khác, Wittgenstein so sánh một từ với những chiếc đòn bẩy trong cần trục của một động cơ. Theo một nghĩa nào đó thì chúng đều là những đòn bẩy. Tuy nhiên, mỗi chiếc lại khác nhau. Để biết tất cả về chúng, chúng ta cần phải thấy sự khác nhau đó được sử dụng như thế nào.
Wittgenstein cho rằng những vướng mắc phiền toái trong triết học nảy sinh khi hai hoặc nhiều hơn hai người sử dụng cùng một từ nhưng theo những cách tinh tế khác nhau. Chẳng hạn, khi hai người cùng sử dụng từ “tự do” hoặc “ý thức” thì điều này không nhất thiết là họ đang nói về cùng một vấn đề. Mỗi người có thể sử dụng từ này theo cách riêng, liên quan với những khía cạnh khác nhau trong những cái “tương tự họ hàng” của từ đó. Mặt khác, nếu họ bắt đầu định nghĩa từ đó thì lại có những vấn đề khác nảy sinh - khi ngôn ngữ hoạt động, từ ngữ đang dùng có thể bị tuột khỏi định nghĩa của nó nếu nó được sử dụng theo những cách khác nhau. Đơn giản là ngôn ngữ không thể bị ngăn giữ và hạn chế. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta không cần thận trọng về cái mà chúng ta đang nói và không chú ý tới cách thức mà ngôn ngữ đang được sử dụng trong những tình huống khác nhau.
Wittgenstein tiếp tục nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến những cung cách khác nhau mà chúng ta sử dụng khi nói chuyện và ngụ ý một điều gì đó. Chẳng hạn, ông xem xét cách chúng ta nói về màu sắc, và đặt câu hỏi điều này sẽ có ý nghĩa gì nếu một con chó biết nói. Về mặt triết học, Wittgenstein có lần nói rằng điều này cũng giống như khi một người bị nhốt trong phòng. Anh ta sẽ cố gắng một cách vô ích để thoát ra qua cửa sổ hoặc qua ống khói lò sưởi. Chỉ đến khi ngó quanh thì anh ta mới nhận ra rằng cửa ra vào đã mở từ lúc nào rồi.
Năm 1947, Wittgenstein về hưu từ Đại học Cambridge - vị trí mang lại thu nhập duy nhất giúp ông trang trải chi tiêu trong những năm còn lại tại một nhà khách gần Dublin và tại nhà riêng ở vùng quê Galway. Chỉ đến khi cần phải điều trị ung thư ông mới trở lại Anh, nơi ông mất năm 1951.
Kể từ khi trở lại Cambridge, Wittgenstein không bao giờ công bố thêm một công trình lớn hay đề xuất thêm một cấu trúc triết học lớn nào nữa, và ông cũng không có thêm bất kì một kết luận lớn nào để có thể giảng dạy trong chương trình triết học. Nghiên cứu của ông được gọi là một liệu pháp tâm lí của triết học, vì nó cung cấp cách tháo gỡ những nhầm lẫn triết học, hoặc như Wittgenstein nhấn mạnh, cách để làm cho con ruồi bay ra khỏi cái chai. Đóng góp triết học của ông, tiếp theo Tractatus logico-philosophicus, được lượm lặt từ những ghi chép lấy trong những bài giảng hoặc những sổ tay ông giữ. Chỉ sau khi Wittgenstein mất năm 1951, những công trình phong phú này mới được tuyển lựa và được công bố, đánh dấu giai đoạn nghiên cứu phi thường thứ hai của ông.
Bohr và ngôn ngữ
Bằng nhiều cách, Bohr bổ sung cho Wittgenstein, đặc biệt bởi nhận định của ông rằng chúng ta đang bị treo lơ lửng trong ngôn ngữ, trong đó chúng ta không biết đường nào đi lên đường nào đi xuống. Thời kì đầu, Wittgenstein đã lập luận rằng: Triết học chỉ có thể nói rõ về cái đang “ở trong” thế giới (đang tồn tại trong thế giới), cần phải tránh tạo ra những mệnh đề nói “về” thế giới, chằng hạn như về ý nghĩa của nó, hoặc về bản chất của sự sống và cái chết, về phía mình, Bohr nêu lên giới hạn của “thế giới” này. Con người là những sinh vật có kích thước xác định và tuổi thọ có hạn, do đó ngôn ngữ của con người sẽ phản ánh những điều kiện hạn chế trên trong quá trình tiến hoá. Chúng ta đã bị gắn quá sâu vào ngôn ngữ đến nỗi không thể nhận ra rằng mình đang sử dụng những khái niệm về không gian, thời gian, và luật nhân quả vốn thuộc thế giới vĩ mô của con người. Đây là một thế giới trong đó những đặc trưng lượng tử đã bị đời sống hoá và thông thường hoá. Đó là lúc chúng ta cố gắng nói về thế giới lượng tử nhưng lại áp dụng các mô hình và tư tưởng của chúng ta trong đời sống thường ngày, do đó đã làm nảy sinh sự lẫn lộn, vì chính những công cụ liên lạc trao đổi của chúng ta không thích hợp với một thế giới như thế.
“Lí thuyết ngôn ngữ mô tả hình ảnh” của Wittgenstein trong thời kì đầu đã cho rằng sở dĩ chúng ta có thể phản ánh được sự vật ấy là vì ngôn ngữ của chúng ta chỉ rõ những sự vật đó trong thế giới hiện thực. Nhưng với Bohr, chẳng có gì trong ngôn ngữ có thể chỉ rõ hiện thực của thế giới lượng tử. Tất nhiên là Wittgenstein đã thay đổi lập trường để nhìn ngôn ngữ dưới một ánh sáng linh động hơn, còn về phía Bohr, tư tưởng của ông về những gì có thể mô tả thế giới lượng tử thì dường như không hề thay đổi.
Ngôn ngữ thích hợp với thuyết lượng tử, có hay không?[9]
Nhưng phải chăng mọi ngôn ngữ đều giống nhau? Hay phải chăng có một ngôn ngữ nào đó cung cấp một đặc trưng cho phép thâm nhập vào một thế giới lượng tử không ngừng biến hoá và thay đổi? Trong chương trước, chúng ta đã gặp gỡ một xã hội sống trong một thế giới biến đổi không ngừng, đó là những người bản địa Blackfoot. Phải chăng điều này có nghĩa là ngôn ngữ của họ cũng khác với ngôn ngữ của chúng ta, và thậm chí ngôn ngữ của họ có thể đáp ứng tốt hơn đối với một cuộc thảo luận về lí thuyết lượng tử? Những người Blackfoot già lão cho hay cách họ nói chuyện với nhau trong cộng đồng khác rất nhiều so với cách họ nói chuyện với người phi bản địa, và liên quan tới điều này là sự khác biệt rất xa giữa họ với chúng ta trong tư duy mô tả thế giới.
Trước khi xem xét nhận định nói trên, trước hết chúng ta hãy chú ý tới một lí thuyết ít nhiều gây nên tranh cãi, đó là giả thuyết Whorf-Sapir. Giả thuyết này lập luận rằng ngôn ngữ được sử dụng bởi mỗi xã hội riêng biệt có quan hệ sâu sắc với thế giới quan của nó. Bằng cách nghiên cứu cẩn thận cách thức hoạt động ngôn ngữ của một xã hội, chúng ta có thể khám phá ra cách thức xã hội đó xây dựng nên các sự kiện lịch sử của họ, và cách họ hiểu khái niệm thời gian và không gian ra sao.
Đáng tiếc là cuộc tranh cãi về giả thuyết Whorf-Sapir lại có xu hướng làm lu mờ ý nghĩa của giả thuyết này như một phương pháp nghiên cứu các thế giới đối lập nhau. Một công trình ngôn ngữ học “hợp thời” hiện nay của Chomsky lập luận rằng nhận định về sự khác biệt giữa các ngôn ngữ trên thế giới chỉ là chuyện hời hợt thiển cận, vì mọi ngôn ngữ đều cùng dựa trên một “cấu trúc sâu xa về ngôn ngữ học” chung. Vậy làm sao mà những khía cạnh thuần tuý nông cạn của một ngôn ngữ riêng biệt lại có thể làm nảy sinh những khác biệt sâu sắc trong thế giới quan của xã hội sử dụng ngôn ngữ đó?
Trong luận văn mang tên The Language Instinct (Bản năng ngôn ngữ), Steven Pinker đã tạo dựng nên một dị bản thu nhỏ của giả thuyết Whorf-Sapir rồi sau đó hạ bệ nó. Pinker cho rằng giả thuyết Whorf-Sapir coi ngôn ngữ là nguyên nhân tạo ra thế giới quan. Sau đó, tác giả trưng ra khá nhiều trường hợp và thí nghiệm mà qua đó có thể thấy tư duy của con người có thể tránh được tính hạn chế của ngôn ngữ. Nhưng thực ra giả thuyết Whorf-Sapir không phải là một lí thuyết thu gọn và máy móc như Pinker trình bày. Nó thực sự chỉ ra một điểm khác biệt tinh tế khó thấy giữa ngôn ngữ và thế giới quan, tuy nhiên điểm tinh tế ấy rất khó kiểm tra trong phòng thí nghiệm, trong khi các nhà tâm lí học lại có xu hướng ưa chuộng một dị bản đơn giản hoá của giả thuyết đó để có thể kiểm tra hoặc phủ nhận.
Có chứng cớ rất rõ ràng để chứng minh rằng cái cách chúng ta nhận thức một tình huống cho trước phụ thuộc vào bối cảnh mà trong đó tình huống này thể hiện - điều này bao gồm mọi thứ xuất hiện ngay khi ta đảo mắt nhìn quanh để nắm bắt khung cảnh. Một khía cạnh của khung cảnh này là ngôn ngữ, và do đó ngôn ngữ, sự nhận thức, và thế giới quan gắn bó với nhau một cách chặt chẽ.
Các xã hội của con người sống trong những môi trường sinh thái và địa lí khác nhau. Thế giới tự nhiên quanh ta có thể làm cho chúng ta có khuynh hướng gắn bó với việc săn bắn, làm nông trại, hoặc đánh cá, sống trong các làng mạc nhà cửa hoặc sống du canh du cư. Những hoạt động này lại ảnh hưởng tới cách tổ chức xã hội; chúng xác định ai sẽ làm việc gì, mối quan hệ họ hàng ra sao, quyền sở hữu hình thành ra sao.
Chắc chắn là những ngôn ngữ và thế giới quan hình thành trong từng xã hội riêng biệt sẽ nắm tay nhau mà phát triển, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau - chữ “ảnh hưởng” ở đây hoàn toàn khác với chữ “nguyên nhân”!
Chúng ta biết rằng người Inuit[10] sinh sống bằng cách săn bắn và di chuyển trong vùng Bắc cực, vì thế họ đã học được cách phân biệt các đặc trưng và tính chất của tuyết, và do đó họ có một kho từ vựng tương ứng phong phú về tuyết. Tuy nhiên, kho từ vựng phong phú này không phải là “nguyên nhân” làm cho họ nhìn các khía cạnh của tuyết theo ý nghĩa máy móc. Điều này chỉ có nghĩa là họ có những công cụ phong phú hơn mà nhờ đó họ có thể biểu cảm được nhận thức của họ về tuyết chính xác hơn. Với một công cụ như thế, họ có khả năng phân biệt rõ ràng những gì xảy ra trong môi trường sống của họ.
Chúng ta cũng vậy, sống trong thế giới công nghệ hoá nên chúng ta đã phát triển được một vốn từ vựng phong phú về công nghệ. Chúng ta đã làm việc với nhiều loại máy móc khác nhau, có nhiều kiểu truyền đạt khác nhau, hệ thống thông tin khác nhau, vv. và chúng ta có đủ từ ngữ để nói về chúng. Cũng như thế các bác sĩ, luật sư cũng như các chuyên gia khác đều có một vốn từ vựng, thuật ngữ chuyên môn phong phú. Chẳng hạn, một trong những nội dung đào tạo bác sĩ y khoa là phải học thuộc tên tất cả các loại xương trong một bàn chân. Biết rõ tên gọi của những loại xương này tức là có thể phân biệt những cái mà một người không có chuyên môn chỉ biết rằng đó là xương. Cũng như thế, các luật sư sử dụng ngôn ngữ để phân tích những điểm khác biệt rõ ràng trong những tranh luận về luật pháp. Điều này không có nghĩa là các bác sĩ hoặc luật sư có tầm nhìn hoặc khả năng logic khác biệt so với số còn lại trong chúng ta. Những người không có chuyên môn cũng có thể nhận biết đâu là xương và tạo ra những lập luận logic, nhưng vì không có công cụ hữu hiệu của ngôn ngữ chuyên môn nên sẽ rất khó để có thể trình bày vấn đề một cách chính xác.
Lẽ phải thông thường nói với chúng ta rằng một ngôn ngữ linh hoạt, phong phú và chính xác trong từng lĩnh vực riêng biệt sẽ giúp chúng ta nêu bật những khía cạnh khác biệt giữa các đối tượng đang khảo sát. Đến lượt nó, những khía cạnh khác biệt này sẽ cho phép chúng ta nhìn thế giới một cách tỉ mỉ, rõ ràng hơn. Jonathan Miller, trong cuốn The Body in Question (Hỏi về cơ thể), chỉ ra rằng đối với một người không có chuyên môn, bên trong thể xác con người dường như chỉ là một mớ hỗn độn những xương với thịt. Tuy nhiên, chương trình đào tạo bác sĩ y khoa, bao gồm sự kết hợp việc phân vùng và gọi tên các khu vực, đã dạy cho các bác sĩ “nhìn thấy” cơ thể phô bày ra với vô số các bộ phận và những mối liên hệ giữa chúng. Cũng như trong những câu chuyện về sự sáng tạo ra thế giới, hành động đặt tên đã biến một thế giới hỗn mang không tên không tuổi thành một thế giới hiện hữu[11].
Tất nhiên, khái niệm ngôn ngữ rộng hơn rất nhiều so với khái niệm từ vựng. Người Blackfoot nhấn mạnh đến cách thức phong phú trong ngôn ngữ của họ khi sử dụng động từ và phân biệt các thì của động từ. Sống trong một thế giới không ngừng thay đổi, ngôn ngữ của họ cũng được thích nghi để xử lí những biến đổi không ngừng. Trái lại, họ ngôn ngữ Ấn-Âu[12] của chúng ta lại nhấn mạnh tới con đường mà các danh từ - đối tượng của tư duy - được nối kết thông qua các động từ. Những ngôn ngữ này cho phép chúng ta cụ thể hoá các tư tưởng và khái niệm và ứng xử với chúng như những đối tượng của tư duy. Bertrand Russell kết luận rằng phần lớn lí luận của siêu hình học được hình thành dựa trên một cấu trúc ngôn ngữ trong đó chủ ngữ của câu được liên kết với vị ngữ. Vì một vị ngữ tồn tại, và vì chữ “Tôi” đóng vai trò chủ ngữ liên hệ với nó, nên đã hình thành một xu hướng coi vị ngữ như cái tồn tại theo một ý nghĩa thực tế nào đó[13].
Ngược lại, người Blackfoot bận tâm tới các quá trình, và khi họ cần đề cập tới các vật thể, họ sử dụng các hình thức động từ. Các tên gọi mang tính chất lỏng lẻo nhiều hơn, biến đổi trong suốt một đời người. Những người nói tiếng Blackfoot nói đùa với tôi: “Chúng tôi thích nghi với vật lí lượng tử tốt hơn các ông!”. Câu nói đùa này quả là mang một ý nghĩa sâu sắc bởi vì nó giống y như quan điểm của David Bohm đã nêu lên.
Bohm đồng ý với Bohr rằng chúng ta không thể tránh khỏi việc bị treo lơ lửng trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, ông không đồng ý với kết luận của Bohr rằng vì thế mà việc thảo luận về thế giới lượng tử sẽ mãi mãi bị chặn đứng. Bohm cảm thấy khó khăn nảy sinh-từ vấn đề ngôn ngữ: Trong khi thế giới lượng tử gắn liền với các quá trình thay đổi và biến hoá không ngừng thì ngôn ngữ châu Âu lại phản ánh thế giới hiện thực thông qua các danh từ và khái niệm. Điều cần thiết là phải có một ngôn ngữ thực sự diễn tả được các quá trình, một ngôn ngữ phong phú về động từ và trong đó danh từ chiếm vị trí thứ hai với vai trò kết quả dẫn xuất. Trong quan điểm của Bohm, giống như electron chỉ là một cấu trúc tạm thời thường xuyên xuất hiện rồi biến mất vào trong cái trật tự toàn thể, danh từ và các khái niệm trong ngôn ngữ cũng chỉ đóng vai trò tạm thời và bộc lộ ra từ động từ.
Bohm gọi ngôn ngữ giả thuyết này là “rheomode”, trong đó “rheo” có nghĩa là “lưu thông”. Thậm chí ông tin rằng có thể sử dụng “rheomode” trong lúc chuyện trò và ông đã thuyết phục một số sinh viên thử áp dụng nó. Cuộc thử nghiệm không đem lại kết quả lớn, vì sinh viên đã quá phụ thuộc vào danh từ trong toàn bộ cuộc sống của họ, và mới chỉ bắt đầu thực tập sử dụng cấu trúc có nguồn động từ “rheomode” để phục vụ cho hoạt động của danh từ. Mãi đến những năm cuối đời, Bohm mới gặp một vài người Blackfoot và nhận ra rằng một dạng ngôn ngữ như ông nghĩ đã từng tồn tại[14].
Ngôn ngữ và người sử dụng ngôn ngữ: Ai là chủ?
Trong tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên của Lewis Carroll, Humpty Dumpty quở mắng Alice khi cô hỏi về ý nghĩa của một từ. Thay vì đặt câu hỏi “ai là chủ?” (ngôn ngữ làm chủ hay người sử dụng ngôn ngữ làm chủ?), Humpty cho rằng một từ sẽ mang đúng cái ý nghĩa mà người sử dụng từ đó muốn nó ngụ ý. Bertrand Russell đã giẫm theo vết chân của Humpty khi ông nêu lên học thuyết nguyên tử logic, bằng cách bẻ cong ngôn ngữ theo ý đồ của ông và buộc nó phải mang đúng cái ý nghĩa mà ông bắt nó ngụ ý. Thời trẻ, Wittgenstein nêu giả thuyết cho rằng ngôn ngữ sáng tạo ra bức tranh của hiện thực và đòi hỏi chúng ta cần hạn chế những phát biểu của chúng ta trong phạm vi những mệnh đề tương tự như mệnh đề khoa học - những mệnh đề có thể diễn đạt thế giới hiện thực một cách rõ ràng.
Nhưng sau này, Wittgenstein nhận ra rằng ngôn ngữ đúng là có một cuộc sống riêng của nó. Các nhà thơ cực kì cẩn thận về cách sử dụng ngôn ngữ và có thể dành nhiều thì giờ để chọn lựa từ ngữ đúng đắn. Tuy nhiên, sức mạnh thật sự của những bài thơ như thế lại nằm trong sự cộng hưởng phong phú của từ ngữ và mạng lưới xen kẽ pha trộn các hình ảnh, các phép ẩn dụ và so sánh do từ ngữ gợi lên. Đây là những trò chơi ngôn ngữ tạo ra một cạm bẫy đối với triết học, gây nên sự lẫn lộn khi các nhà triết học bắt đầu tranh cãi về những vấn đề như “ý chí tự do”, “ý thức”, “nhân quả” và “hiện thực”.
Ngôn ngữ là một công cụ sống động. Nó cho phép chúng ta chơi trò chơi ngôn ngữ và trở nên sáng tạo. Nó thích nghi tốt với mọi thứ, từ nghệ thuật sử dụng từ ngữ khéo léo của các chính khách khiến cho mọi người đều nghe theo đến tiếng rao hàng của gã bán hàng rong cho trẻ con, vv. Ngôn ngữ được sử dụng để tạo ra những cách chơi chữ hoặc những trò vui đùa, kể chuyện sử thi, soạn thảo một lá thư chia buồn, hoặc hát một bài dân ca. Ngôn ngữ là một trong bốn công cụ tuyệt với nhất của chúng ta. Nhưng đồng thời, theo Bohr, chúng ta luôn luôn bị treo lơ lửng trên nó đến nỗi không còn biết đường nào đi lên đường nào đi xuống nữa. Xã hội phương Tây của chúng ta bị treo lơ lửng trong một thứ ngôn ngữ luôn luôn ưu tiên danh từ, trong khi người Blackfoot lại sống với một thứ ngôn ngữ phong phú của các dạng thức động từ. Nhưng khoa học phương Tây hiện nay đã xâm nhập vào một lĩnh vực mà ở đó ngôn ngữ dựa trên danh từ có lẽ không còn thích hợp nữa. Mặt khác, dường như chúng ta không thể thay đổi ngôn ngữ nói của riêng chúng ta để đáp ứng được với một thách thức như thế. Do đó, phải chăng Bohr đã đúng khi lập luận rằng chúng ta đã đạt tới giới hạn của nhận thức khi chúng ta đối mặt với thế giới lượng tử?
Như chương trước đã trình bày, tính xác định của ngôn ngữ học là một trong số những ảo tưởng của con người đầu thế kỉ 20. “Học thuyết nguyên tử logic” của Russell không có khả năng song hành cùng với việc sáng tạo nên tính phong phú đa dạng của thế giới hiện thực. Chúng ta không bao giờ có thể hoàn toàn tránh khỏi tính mơ hồ, nhập nhằng trong khi nói. Chúng ta không thể trói buộc thế giới vào từ ngữ. Nhưng rồi từ ngữ lại có rất nhiều thứ để cung cấp cho chúng ta, và cuộc sống của chúng ta sẽ phong phú hơn rất nhiều khi ngôn ngữ không bị bó vào trong một cái áo dành cho người điên[15]. Có lẽ một Niels Bohr mới sẽ xuất hiện và sử dụng một trong các ngôn ngữ thuộc họ Algonquian để nói!
❀ ❀ ❀
[1] Nguyên văn: every word we speak is in some degree a diminution of our lungs by corrosion” (trong mức độ nào đó mọi từ ngữ chúng ta nói đều thu nhỏ các lá phổi của chúng ta lại vì sự gặm mòn). Chúng tôi chỉ dịch ý cho dễ hiểu (ND).
[2] Chủ nghĩa cho rằng chỉ có tư duy mới là hiện thực, còn sự vật trong thực tại chỉ là những hình ảnh hiện lên trong tư duy. Nếu tư duy không còn thì thực tại cũng biến mất. Chủ nghĩa Lí tưởng là sự đối nghịch với Chủ nghĩa Hiện thực (Realism) (ND).
[3] Bertrand Russell, History of Western Philosophy (Lịch sử triết học Tây phương) (London: Allen and Unwin, 1961).
[4] Bertrand Russell, A Critical Exposition of the Philosophy of Leibniz (New York: Cambridge University Press, 1951).
[5] Boltzmann là người đã phát minh ra cơ học thống kê, thành lập nên khoa thuỷ động lực học dựa trên chuyển động của các phân tử cơ bản. Cuộc tấn công dữ dội của Ernst Mach vào lí thuyết này là một trong những nguyên cớ dẫn tới vụ tự tử của Boltzmann.
[6] Gottlob Frege, người đã đưa ra những định nghĩa trừu tượng về số, đã nói trong Chương 2 (ND).
[7] Những tài liệu khác về câu chuyện này nói rằng Wittgenstein nhìn thấy một bản đồ của vụ tai nạn trên một tờ báo.
[8] Baruch hay Benedict de Spinoza (1632-1677) là một nhà triết học Hà Lan gốc Do Thái. Ngày nay, ông được xem như một trong những nhà triết học duy lí vĩ đại nhất của thế kỉ 17, đật nền móng cho Triết học Khai sáng của thế kỉ 18. Trong tác phẩm Ethics (Đạo đức), ông chống lại thuyết nhị nguyên của Descartes phân biệt tinh thần với thể xác. Khi còn trẻ, ông chịu ảnh hưởng của Descartes, coi tinh thần và vật chất là hai thực thể tách biệt, nhưng sau này ông đã thay đổi quan điểm và cho rằng tinh thần và vật chất thống nhất trong một thực thể duy nhất. Với Spinoza, Chúa chỉ tồn tại theo ý nghĩa triết học và thực ra Chúa và Tự nhiên là một. Mọi thứ tồn tại trong Tự nhiên (mọi thứ trong Vũ trụ) là một Hiện thực (thực thể có thật). Chỉ có một tập hợp duy nhất các quy luật chi phối toàn thể hiện thực xung quanh chúng ta và chúng ta là một phần của hiện thực đó. Tất cả mọi thứ được xác định bởi Tự nhiên để tồn tại và gây nên những hệ quả. Sợi dây xích phức tạp của mối quan hệ nhân quả chỉ có thể hiểu được một phần mà thôi. Quan điểm của ông về tự nhiên và hiện thực dường như coi thế giới vật chất và tinh thần là một và như nhau. Hiện thực vũ trụ chứa cả thế xác lẫn tinh thần, không có sự khác nhau giữa hai khía cạnh đó. Spinoza cũng chống lại quan điểm cho rằng lí trí có thể chiến thắng cảm xúc. Ngược lại, ông cho rằng một cảm xúc chỉ có thể bị thay thế bởi một cảm xúc mạnh hơn (ND).
[9] Nguyên văn đề mục này là “The Blackfoot and the Rheomode”, chúng tôi đặt lại tên đề mục cho rõ nghĩa (ND).
[10] Một chi nhánh thuộc tộc người Eskimo ở Bắc cực, thường sống trải dài từ Đông Alaska đến Tây Greenland, tập trung nhiều nhất là ở Canada (ND).
[11] Ý này nằm trong “Sáng Thế Kí” (Genesis), chương mở đầu cùa Kinh Cựu Ước, với những lời mở đầu như sau: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng.” Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm” … Thiên Chúa làm ra cái vòm đó và phân rẽ nước phía dưới vòm với nước phía trên. Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là “trời” … Thiên Chúa phán: “Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra.” Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ cạn là “đất”, khối nước tụ lại là “biển”… (ND).
[12] Nguyên văn: “Indo-European family of languages”, là một trong những khám phá lớn nhất của ngôn ngữ học, hoàn tất trong thế kỉ 19. Khám phá này chỉ ra rằng ngôn ngữ châu Âu hiện đại và ngôn ngữ Sanskrit của Ấn Độ cổ đại có chung một nguồn gốc Arian (ND).
[13] Ý nói vị ngữ (thường là động từ) cũng là một cái gì đó “tĩnh” và cố định như danh từ (ND).
[14] Thực ra tư tưởng của Bohm về ngôn ngữ đã được nhà văn Argentine Jorge Luis Borges nghĩ đến từ trước đó vài thập kỉ. Trong cuốn Tion, Uqbar, Orbis Tertius viết năm 1940, Borges viết về một đất nước của nhưng người theo Lí tưởng chủ nghĩa (Idealists, theo nghĩa triết học của giám mục George Berkeley), những người này nghi ngờ sự tồn tại của các đối tượng vật thể và thậm chí cả tính liên tục của không gian và thơi gian. Những người sống ở phía nam đất nước này sử dụng một thứ ngôn ngữ hoàn toàn bao gồm các động từ.
[15] Nguyên văn: “straitjacket”, một loại áo có hai ống tay đủ dài để có thể trói buộc hai tay lại (ND).