Trí óc con người rất thích sáng tạo ra những lí thuyết bao trùm lên mọi thứ và đưa ra những lời giải thích rõ ràng chắc chắn. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy trong những chương trước, tính bất định lượng tử, lí thuyết hỗn độn, sự hạn chế của ngôn ngữ, tính bất toàn và bất định trong toán học, tất cả đã thách thức giá trị của những mục tiêu và kế hoạch đầy tham vọng đó. Nhưng ở đây, bạn đọc có thể bào chữa cho việc phản đối lại các lí thuyết khoa học, toán học, hay triết học, vì dù chúng hấp dẫn nhưng lại xa rời cuộc sống. Phần lớn chúng đều là kết quả hoạt động trí tuệ của giới hàn lâm từ một vị trí tương đối đặc quyền trong các tháp ngà nhìn ra thế giới. Nhưng khi chúng ta nói đến sự biến đổi trong nhận thức bắt đầu từ thế kỉ 20 thì điều đó chỉ bó hẹp trong một số người ưu tú hay điều đó dành cho tất cả mọi người?
Chương này sẽ thảo luận những chủ đề cấp bách hơn rất nhiều - những lựa chọn toàn cầu và khu vực mà chúng ta phải đối mặt trong cuộc sống thường ngày, và những quyết định sẽ có tác động lớn đến con cái, cháu chắt chúng ta. Những chủ đề đó sẽ đụng chạm tới nhiều khía cạnh trong đời sống hiện tại mà thế hệ ông cha chúng ta coi là có giá trị nhưng bây giờ chúng ta lại đặt thành vấn đề cần phải nghi vấn.
Thế kỉ 19 là thời đại của những chân trời rộng lớn và những vùng địa lí chưa được biết đến. Cho tới lúc đó, trên các bản đồ vẫn có nhiều dấu chấm hỏi và vẫn có những vùng đất mới đang được mở ra cho các nhà thám hiểm và thực dân chủ nghĩa. Một thế kỉ trước đây, người ta tin rằng trái đất và nguồn nguyên liệu dự trữ của nó là vô hạn. Sẽ luôn luôn có những loại vật chất mới được nghiên cứu và những nguồn năng lượng mới được khai thác. Luôn luôn có một cái gì đó dành cho mọi người. Trước khi diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp để máy móc khuếch trương sức mạnh của con người lên gấp bội thì sức lao động và nỗ lực của cả một đời người chỉ gây nên một tác động rất nhỏ đối với trái đất. Hoàn toàn tự nhiên khi tin rằng loài người sẽ tồn tại mãi mãi. Những nhà tư tưởng như Nietzsche và Bernard Shaw thậm chí còn tin rằng nhân loại sẽ leo lên tới thời đại của Siêu nhân.
Nhưng tất cả đã thay đổi trong thế kỉ 20. Nhân loại đã phải trả giá cho thói ngạo mạn kiêu căng trước đây. Sự thay đổi này được tượng trưng bởi hai hình ảnh khắc sâu vào trong lương tri toàn nhân loại: Một đám mây hình nấm và một quả cầu màu xanh trong không gian. Cả hai đều là kết quả của những thành tựu khoa học và công nghệ. Cả hai đều hạ bệ thói kiêu hãnh vốn dĩ cho rằng nhân loại có khả năng tiến bộ vô hạn.
Biểu tượng thứ nhất, đám mây hình nấm, đại diện cho bom nguyên tử và các thế hệ vũ khí hạt nhân tiếp theo. Trong hơn nửa thế kỉ qua, thế giới đã và đang sống dưới bóng tối của đám mây này. Trong suốt thời gian đó, tờ Bulletin of Atomic Scientists (Tạp chí các nhà khoa học nguyên tử) luôn luôn đặt chiếc đồng hồ nguyên tử tượng trưng của nó nổi bật trên trang bìa, chỉ vào thời khắc 7 phút trước 12 giờ đêm, để cảnh báo nhân loại rằng chúng ta đang đứng bên bờ vực của một cuộc huỷ diệt hàng loạt bằng vũ khí nguyên tử.
Mặc dù một thế hệ trẻ em Mỹ đã được dạy những cách phòng vệ chống lại ảnh hưởng của bom hạt nhân[1], nhưng các nhà khoa học đã sớm chỉ ra sự vô ích của rất nhiều biện pháp cấp cứu dự phòng khác nhau. Hậu quả trực tiếp của vụ nổ và phóng xạ đã tồi tệ, nhưng những gì xảy ra sau đó còn tồi tệ hơn nhiều. Như cựu nguyên thủ nhà nước Xô Viết trước đây Nikita Khrushchev đã nói, “sau cuộc chiến tranh hạt nhân người sống sẽ ghen tị với người chết”. Các vụ nổ hạt nhân sẽ tạo nên những đám mây bụi khổng lồ nóng bỏng và dày đặc đến nỗi sẽ che hết ánh sáng mặt trời và đốt nóng mặt đất trong nhiều năm sau đó. Tiếp đến sẽ là một mùa đông hạt nhân, một giai đoạn lạnh khủng khiếp và kéo dài liên tục đến nỗi sẽ xoá sạch không những loài người mà hầu hết mọi sự sống trên trái đất.

Hình 7.1 Trang bìa của tờ Bulletin of Atomic Scientists
Cuộc chiến tranh lạnh căng thẳng giờ đây đã lùi vào dĩ vãng, nhưng một kiểu đe doạ khác của chiến tranh hạt nhân tồn tại, không nhiều lắm bởi những siêu cường, mà bởi những quốc gia nhỏ hơn và kém ổn định hơn, và thậm chí bởi các nhóm tội phạm có tổ chức. Một nửa thế kỉ của những căng thẳng quốc tế đã làm cho chúng ta ý thức được rõ ràng về tính mong manh của cuộc sống trên hành tinh này. Khoa học đã vén mở ra những mối đe doạ khác, từ những loại vi sinh vật kháng thuốc. Mới đây, một bệnh viện ở Thụy Điển đã khám phá ra rằng virus hepatitis C đã tìm được con đường lây lan tới các bệnh nhân trong bệnh viện không thông qua con đường tiêm máu nhiễm bệnh qua tĩnh mạch thông thường, mà thông qua một loại virus bay trong không khí.
Bệnh Ebola lần đầu tiên bùng phát từ lưu vực sông Ebola ở Zaire năm 1976. Tỉ lệ tử vong do bệnh này là từ 50% đến 90%. Đến nay, người ta vẫn chưa tìm ra phương pháp điều trị cho căn bệnh này. Bệnh AIDS đang lấy đi phần lớn sinh mạng của những nạn nhân khốn khổ, sự tàn phá của căn bệnh này ở châu Phi giống như Cái Chết Đen (the Black Death, tức bệnh dịch hạch) từng càn quét châu Âu thời Trung cổ. Vẫn còn may mắn vì virus AIDS chỉ có thể sống trong những điều kiện tối ưu. Nhưng hãy tưởng tượng xem điều gì sẽ xảy ra nếu một loại virus như thế có thể bị lan truyền bởi bọ chét hoặc muỗi cắn? Hoặc nếu nó lan truyền trong không khí, như trường hợp hepatitis C trong bệnh viện ở Thụy Điển? Phải chăng đó sẽ là điềm báo của ngày tận thế? Chừng ấy thôi cũng giúp ta đủ thấy rằng cuộc sống của nhân loại dễ bị tổn thương hơn rất nhiều so với ta tưởng.
Biểu tượng thứ hai của thế kỉ 20 là tấm ảnh do các nhà du hành vũ trụ Mỹ chụp: Hình ảnh Trái đất như một quả cầu xanh treo lơ lửng trong không gian.
Với một trí tuệ bình thường, từ lâu tất cả chúng ta đều biết rằng Trái đất là hữu hạn, tuy nhiên phải mất tới hàng tỉ đô la cho cuộc chạy đua vào không gian chúng ta mới có thể có được một tấm ảnh như thế - tấm ảnh nhắc nhở chúng ta một cách thuyết phục rằng tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau. Người Mỹ bản địa thường nói “tất cả các mối quan hệ của tôi” để nói về mối quan hệ của một người với mọi người, với động vật, cá, chìm, sâu bọ, cây cối, thảo mộc, và đá. Tấm ảnh chụp từ không gian nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta là những kẻ cùng trú ngụ trên Trái đất và rằng nguồn dự trữ của nó không phải là vô hạn. Cái gì xảy ra ở chỗ này sẽ ảnh hưởng đến chỗ khác. Khói nhả ra từ những ống khói ở Sudbury, Bắc Ontario, Canada, sẽ gây ô nhiễm miền Đông Bắc nước Mỹ. Mưa rơi trên xe của tôi ở Ý đêm hôm qua để lại một lớp bụi bùn trắng mịn - đó là cát từ sa mạc Sahara được gió mang tới.
Không có chỗ cho các đường lối chính trị quốc gia hẹp hòi khi bàn tới hệ sinh thái và vấn đề ô nhiễm môi trường. Gió không thừa nhận các đường biên giới quốc gia, mưa rơi trên các hiệp ước quốc tế. Sự tàn phá rừng mưa nhiệt đới Amazon không phải là vấn đề chỉ của chính phủ Brazil mà là vấn đề sống còn đối với khí hậu toàn cầu. Việc lựa chọn một chiếc xe ôtô gia đình hay hành động bật máy lạnh không còn là vấn đề lựa chọn thuần tuý của một cá nhân nửa. Các phong trào bảo vệ môi trường đã giành được chỗ đứng chính trên những vấn đề đó.
Tinh thần vì môi trường
Giữa thế kỉ 19, chỉ có một tỉ lệ nhỏ người Mỹ sống ở thành phố. Ngày nay, con số đó là khoảng 50%. Điều này chỉ thực sự xảy ra khi nhiều người rời bỏ thôn quê đến sinh sống trong thế giới của phố xá, nhà chọc trời, và các trung tâm mua bán. Tại đó, họ thể hiện nỗi thương nhớ đồng quê như thương nhớ một thế giới xa xăm được gọi là “tự nhiên”. Nhưng với người nông dân, tự nhiên là một cái gì đó mà họ phải đấu tranh với nó, một cái gì đó luôn luôn hiện diện. Tự nhiên vừa nuôi dưỡng họ, vừa vắt kiệt sức và đe doạ họ.

Hình 7.2. Hình ảnh Trái đất được chụp từ con tàu Apollo 17
Thế nên thật dễ hiểu khi mà nhà thơ William Wordsworth làm một bài thơ trữ tình mười bốn câu tỏ ý xót xa với kế hoạch mở đường sắt chạy qua Lake District ở Tây Bắc nước Anh, còn người dân thôn quê nói chung không lãng mạn hoá môi trường của họ. Tuy nhiên, đối với hầu hết mọi công dân trong thế giới hiện đại ngày nay, thiên nhiên là một thế giới lí tưởng “ở ngoài kia”, cần phải được duy trì mãi mãi nguyên sơ và không nhiễm bẩn. Và khi con người nhận ra rằng giấc mơ đẹp đẽ về những khu vực sông hồ, về những cánh rừng, về chim chóc và hoa lá bị đe doạ nghiêm trọng thì một phong trào được gọi là “tinh thần vì môi trường” đã ra đời.
Mãi cho tới nửa sau thế kỉ 19, thuật ngữ “environment” (môi trường) mới thật sự được sử dụng. Nó được rút ra từ những thuật ngữ trước đó như “environ” và “environing”, có nghĩa là “vùng ngoại vi” và “vây quanh”. Thuật ngữ “environment” cho rằng môi trường là một không gian tổng thể và có nguy cơ bị đe doạ bởi chính sự phát triển của khoa học và công nghệ - những thứ chỉ xuất hiện từ khoảng giữa thế kỉ 20. Các nhà sinh học hiểu rõ hơn ai hết tính chất đan cài phức tạp của các hệ thống tự nhiên. Cuốn sách Silent spring (Mùa xuân yên tĩnh) của nhà nữ sinh học người Mỹ Rachel Carson, xuất bản năm 1962, được coi là cột mốc đánh dấu mối quan tâm thật sự đến vấn đề môi trường, bởi lần đầu tiên một nhà khoa học lên tiếng cảnh báo mối hiểm nguy của việc sử dụng thuốc trừ sâu bừa bãi. Đột nhiên, mọi người nhận ra rằng vấn đề ô nhiễm không chỉ xảy ra tại một cái hồ hay trong một cánh rừng, mà xảy ra trong toàn bộ môi trường. Mỉa mai thay, việc ứng dụng khoa học và công nghệ với mong muốn đạt được nhiều tiến bộ hơn bao giờ hết lại tạo ra những mối đe doạ đối với môi trường sinh thái.
Cuốn sách của Rachel Carson xuất hiện vào một thời điểm đặc biệt thích hợp. Đó là lúc khởi đầu của thập kỉ 1960, một thời kì náo động hỗn loạn khi lớp trẻ tỏ ra nghi ngờ sự khôn ngoan của các bậc cha mẹ, tìm kiếm những lối sống thay đổi và khám phá ra sức mạnh của phản kháng chính trị. Trong bối cảnh đó, tinh thần vì môi trường đã trở thành một chủ đề được những người hiểu biết chính trị nhiệt liệt ủng hộ.
Khi nhìn vào môi trường hiện nay với những vấn đề cấp bách như hiện tượng nóng lên toàn cầu, lương thực biến đổi gen, dự án gene người, và hiện tượng thủng tầng ozone, vv. chúng ta nhận thấy thế giới đã trở nên phức tạp như thế nào và vấn đề vô cùng quan trọng là cần phải có những thồng tin chính xác và công bằng. Hiện nay, chúng ta không biết chắc chắn hậu quả của sự phát triển mà chúng ta gọi là “tiến bộ”.
Phần lớn mọi người đều coi “tinh thần vì môi trường” là một ý tưởng tốt, và rằng chúng ta nên chăm sóc hành tinh, rằng “một người nào đó” sẽ làm “một điều gì đó” để giảm bớt những tệ hại như hiện tượng nóng lên toàn cầu, thủng tầng ozone, tàn phá rừng và tàn phá nơi trú ngụ của sinh vật trong tự nhiên, nhưng chúng ta không biến những mong muốn đó thành hành động. Chúng ta đặt câu hỏi: “Tôi có thể làm gì cho những vấn đề quan trọng này?”. Rồi chúng ta lại nói: “Chắc chắn là những vấn đề ấy chỉ có thể được giải quyết thông qua luật pháp và những hiệp ước quốc tế”. Chắc chắn là chúng ta bằng lòng ủng hộ tinh thần vì môi trường trong một cuộc thảo luận quanh bàn ăn bữa chiều. Nhưng chúng ta còn được đề nghị làm những việc gì nữa?
Thực ra hằng ngày chúng ta có thể thực hiện rất nhiều đóng góp nhỏ cho tinh thần vì môi trường. Rất dễ dàng vứt những vỏ đựng thức ăn sau khi đã ăn xong vào sọt rác, hoặc vứt một tờ báo đã đọc xong vào thùng rác gần nhất. Tuy nhiên, cần có thời gian để thu lượm vỏ chai, giấy báo, và các lon bia, vv. vào những thùng chứa rác tái chế, và có lẽ chỉ cần làm được như thế cũng đã có thể tự hào rằng chúng ta đã làm được một điều gì đó tích cực vì môi trường của hành tinh, vấn đề là ở chỗ chúng ta không bao giờ biết chắc chắn liệu việc chúng ta đang làm có quan trọng hay không, về lâu về dài, liệu những hành động cá nhân của chúng ta sẽ ảnh hưởng đến số phận của trái đất đến chừng nào?
Mua sắm vì môi trường
Tình hình thậm chí còn tồi tệ hơn khi chúng ta bước vào siêu thị để mua sắm cho cả tuần. Chẳng phải các siêu thị, với tất cả những bao bì đóng gói của nó đã tạo ra rác thải đó sao? Chẳng phải chúng ta đang sử dụng quá nhiều xăng dầu khi chúng ta lái xe tới các siêu thị đó ư?
Giả sử chúng ta đã tới một siêu thị và bắt đầu mua. Tình hình không quá tệ tại quầy thịt, nơi bán loại thịt không có hormon, thịt súc vật chăn thả tự do có hương vị thơm ngon. Tuy nhiên, để tạo ra protein mà chúng ta nhận được từ thịt, cần phải có đất rộng để trồng cỏ - nguồn thức ăn chủ yếu cho giống vật nuôi. Nhưng chúng ta lưỡng lự khi nghĩ rằng cây trồng thu hoạch trên cùng diện tích đất đai ấy có thể cung cấp lượng protein nhiều hơn. Vậy phải chăng tất cả chúng ta nên ăn kiêng để tránh tình trạng có thêm nhiều khu rừng và đất đai bị biến thành trại chăn nuôi? Bởi lẽ nếu những khu rừng rộng lớn bị biến thành trại chăn nuôi thì lá phổi của hành tinh này sẽ bị tổn thương.
Bây giờ quay sang quầy bán trứng, chúng ta bắt đầu lưỡng lự giữa các loại trứng, nào là “trứng đẻ tự do ở ngoài ổ” (barn eggs), “trứng gà chạy bộ” (free range), thậm chí “trứng hữu cơ” (organic eggs)[2]. Có thật những tên gọi này phản ánh đúng thực tế hay không? Phải chăng những trứng đắt tiền hơn sẽ ngon hơn và bổ hơn? Phải chăng tiêu thêm vài xu cho những quả trứng đó sẽ đem lại điều tốt đẹp hơn cho môi trường của hành tinh? Hay phải chăng đó chỉ là những trò quảng cáo dụ dỗ khách hàng bỏ thêm tiền ra mà cứ ngỡ rằng mình đang mua những sản phẩm có lợi hơn cho sức khỏe?
Nếu nhà có em bé, chúng ta sẽ ghé qua quầy bán tã giấy có thể vứt đi sau khi sử dụng. Loại tã lót này thật sự là một phát minh lớn bởi vì miếng tã thấm một chiều đảm bảo phần đáy lót của em bé được khô trong khi chất thải vẫn tiêu thoát, do đó các em bé không còn bị nổi mụn ngứa vì tã lót nữa. Nhưng mặt khác, hàng triệu triệu tã lót vứt đi được đưa tới các hố rác để chôn xuống đất, và phải đợi hàng trăm năm mới phân huỷ hết. Vậy tại sao chúng ta không quay trở lại sử dụng tã vải và giặt cho sạch? Tuy nhiên việc đun nước nóng, dùng xà phòng để giặt và những chất thải phụ trợ đổ xuống hệ thống cống rãnh cũng lại gây nên tác hại khác cho môi trường.
Vậy là đi từ gian này sang gian khác, từ quầy này sang quầy khác, chúng ta luôn luôn phải đối mật với một loạt quyết định nhỏ nhặt mà không bao giờ hiểu được đầy đủ hậu quả của chúng. Và chỗ cuối cùng mới là chỗ phân vân nhất. Chúng ta đứng ở quầy thanh toán và được hỏi “Bạn dùng túi ni lông hay túi giấy?”. Chúng ta sẽ trả lời như thế nào để có lợi cho trái đất? Chúng ta đã nghe nói rằng túi ni lông là “thứ tệ hại” và do đó chúng ta sẽ chọn túi giấy. Nhưng túi giấy lại thường bị vứt đi. Việc sản xuất giấy là một quá trình gây ô nhiễm, và sản phẩm của nó liên quan đến việc đốn chặt cây cối. Trong khi đó, túi ni lông có thể tái sử dụng, và khi bị rách nó có thể bị vứt đi như một thứ vật chất có thể phân huỷ theo cơ chế sinh học (biodegradable). Nhưng việc sản xuất túi ni lông lại liên quan tới việc tiêu thụ những nguồn dự trữ dầu tự nhiên trên thế giới.
Vậy là siêu thị đã đặt trách nhiệm lựa chọn lên chúng ta, những người tiêu dùng, và lựa chọn dễ nhất mà chúng ta có thể làm là tung đồng xu chọn mặt sấp hay ngửa. Tất nhiên là những người sống trong các cộng đồng nhỏ vẫn có thể đi mua hàng tại những cửa hàng địa phương và dùng túi vải hoặc rổ rá để mang hàng về nhà.
Có tới hàng đống những tình huống tương tự xảy ra, và trong mỗi trường hợp chúng ta đều muốn biết hành động như thế nào là đúng. Ngay cả những chuyên gia về môi trường nhiều khi cũng bị chia rẽ quan điểm. Nhà nhiếp ảnh và hoạt động môi trường Mark Edwards đã dành cả đời để làm những phóng sự xoay quanh câu hỏi cái gì đã và đang diễn ra đối với hành tinh của chúng ta, và nhấn mạnh cái đã và đang diễn ra bên trong các phong trào bảo vệ môi trường. Đối với Mark, các vấn đề này có thể coi như những “xáo trộn”. Chúng là một phần trong rất nhiều mối bận tâm nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày của chúng ta - nói cách khác, chúng quấy rầy chúng ta.
Vấn đề là ở chỗ con người quá quen sống với cái xác định đến nỗi cho rằng mọi ngã tư đều chứa một con đường đúng và một con đường sai. Trong thế giới quá khứ của logic Aristotle nếu lựa chọn này đúng thì ắt lựa chọn kia phải sai. Nhưng trong thế giới hiện đại của chúng ta, chẳng có lựa chọn nào chắc chắn đúng, vấn đề phức tạp đến nỗi mọi tác động cộng hưởng thông qua môi trường theo những cách không thể dự đoán được. Khi nói tới giá cả và lợi nhuận, sẽ vô cùng khó khăn để đặt ra cái giá chính xác đối với hậu quả trong hành động của chúng ta. Hơn nữa, có thể không có câu trả lời cố định “chính xác”. Chẳng hạn, chúng ta hãy xét chuyện giấy rác. Nhiều nơi trên thế giới đốn chặt cây cối để chế biến bột giấy, từ đó làm ra sách, báo, giấy gói hàng, và vô số sản phẩm khác. Một cách tự nhiên, mọi người nghĩ rằng giấy có thể tái chế và bất kì ai hiểu biết về sinh thái cũng yên chí rằng những tấm bìa các tông, sách vở và những vật dụng bằng giấy đều được làm ra từ giấy tái chế. Nhưng trong cuốn sách bàn về sinh thái, các chuyên gia môi trường hiện nay lại khuyến cáo rằng việc đem đốt giấy rác để tạo ra nhiệt lượng cho công nghiệp sẽ thích hợp hơn là tái chế chúng. Và do đó một câu trả lời đúng bỗng nhiên bị thay thế bởi một câu trả lời khác. Vậy phải chăng câu trả lời đầu tiên rằng nên tái chế giấy rác là sai? Phải chăng chúng ta đã mắc sai lầm? Hay ý kiến của các chuyên gia lại có thể thay đổi một lần nữa? Phải chăng đây là một sự phiền toái khác mà chúng ta phải đối mặt?
Các chuyên gia
Trong Chương 5, chúng ta đã đặt ra câu hỏi rằng liệu một ai đó, một nhà phê bình nghệ thuật hay một vị giám đốc phòng trưng bày tranh, có thể cung cấp cho chúng ta những tiêu chuẩn để đánh giá một nghệ thuật là đẹp hay xấu không. Không có một câu trả lời nào cả, và chúng ta buộc phải tự tìm kiếm thông tin và đưa ra nhận định của chính mình. Nhưng bây giờ, chúng ta hãy xem xét một điều gì đó nghiêm túc hơn. I
Rất nhiều khu vực trên hành tinh đang nằm trong sự đe doạ về môi trường. Chúng ta muốn làm những việc đúng đắn. Nhưng làm thế nào để chúng ta biết được chúng ta nên làm gì? Thế giới đã trở nên quá phức tạp. Ai có thể cố vấn cho chúng ta? Chúng ta có thể tìm thấy một chuyên gia công bằng ở đâu?

Hình 7.3. Rachel Carson (1907-1964) và bìa cuốn sách Silent Spring
Chuyện kể rằng sau khi Mohatma Gandhi bị ám sát, vị thủ tướng mới là Pandit Motilal Nehru đã hỏi một nhà thông thái Ấn Độ rằng “Tôi nên làm gì?”. Nhà thông thái trả lời: “Hành động đúng”. Lời khuyên này cũng có thể dành cho các nhà lãnh đạo hiện nay của chúng ta, cho xã hội của chúng ta và cho chính chúng ta. Khi phải đối mặt với những hiểm nguy về môi trường, với sự băng hoại trong các khu phố ổ chuột, với những căng thẳng trong quan hệ quốc tế, cái chúng ta cần là hành động đúng. Nhưng thế nào là hành động đúng? Trong một thế giới đã trở nên phức tạp đến mức không thể tưởng tượng nổi như hiện nay thì làm thế nào để chúng ta biết chắc ý nghĩa của những quyết định hằng ngày của chúng ta? Chúng ta phải làm gì? Đây là những vấn đề bất đinh và đáng lo ngại, hoặc như Mark Edwards nói, là những xáo trộn trong thời đại của chúng ta.
Thậm chí với một trình độ hoàn toàn sơ đẳng, tư duy của con người cũng không thể chấp nhận được tính bất định. Khi phải thực hiện một nhiệm vụ, chẳng hạn như khi giải một bài toán đại số hoặc tìm kiếm một tài liệu sao chụp để làm việc, bộ não của chúng ta không bao giờ muốn bị rơi vào tình trạng bối rối không biết làm gì. Những tình huống đó gây nên cảm giác cãng thẳng và khó chịu. Thí nghiệm của các nhà tâm lí học chỉ ra rằng khi chúng ta rơi vào tình trạng bất định trong lúc thực hiện nhiệm vụ, chúng ta có xu hướng vá víu ráp nối công việc một cách vô thức và tuỳ tiện. Các em bé thường mắc lỗi này khi làm toán.
Khi phải đối mặt với những xáo trộn trong những quyết định hằng ngày, trong những tình huống nước đôi đè nặng lên vai và băn khoăn không biết lựa chọn đáp án nào là phù hợp với đạo lí, chúng ta thường dồn trách nhiệm sang người khác thay vì tự tìm cách giải quyết: “Hãy hỏi các chuyên gia. Chúng tôi đã nộp thuế cho nhà nước, vậy tại sao các nhà chính trị không chi tiền cho các nhà khoa học giỏi để tìm ra câu trả lời và nói cho chúng tôi biết phải làm gì? Các nhà khoa học đã phá vỡ nguyên tử và đưa con người lên Mặt trăng, vậy tại sao không nói cho chúng tôi biết nên chọn loại túi nào tại quầy thanh toán ở siêu thị?”
Nhưng chúng ta có thể tìm các chuyên gia này - những nhà thông thái có thể trả lời mọi câu hỏi về sinh thái - ở đâu? Khi những người định cư ở Mỹ quyết định giải tán những tập đoàn chính trị câu kết với triều đình vương quốc Anh, họ đã làm điều này một cách cẩn trọng với tinh thần hành động đúng. Những người sáng lập nên Hợp chủng quốc Hoa Kì đã thận trọng soạn thảo tuyên ngôn giải thích tại sao không thể biện hộ cho sự thống trị của một chính thể ngoại quốc. Bản Tuyên ngôn Độc lập dựa trên những tư tưởng tốt đẹp trong thời đại đó, mà tác giả chính của nó là Thomas Jefferson.
Đối với Jefferson, luật pháp không đơn giản chỉ là công cụ điều chỉnh những sai trái hay soạn thảo những thoả thuận hợp đồng, mà còn là cách thể hiện nhận thức về văn hoá và lịch sử, về các thang bậc giá trị và nghĩa lí trong đời sống của nhân loại. Ông cũng được giúp đỡ bởi một tài năng phi thường khác là Benjamin Franklin, người đã bổ sung vào bản tuyên ngôn những lời bất hủ rằng “Chúng ta coi những chân lí này như là điều hiển nhiên đúng” khi đề cập tới quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Vào thời điểm tối quan trọng của lịch sử, một quốc gia mới có thể ngả theo những lãnh tụ và các nhà thông thái bênh vực chân lí và lẽ phải thay vì những người dựa trên quyền lực, huyền thoại và sự nổi tiếng. Các nhà chính trị lập quốc không bận tâm tới những kẻ vận động ngoài hành lang và những quyền lợi được trao cho mình, cũng như không lo lắng về số tiền quyên góp cho một đảng chính trị. Mối quan tâm chủ yếu của họ không nằm trong việc làm vừa lòng công chúng để được bầu lại vào nhiệm kì tiếp theo. Đúng ra là họ chỉ tìm cách tạo ra những quyết định sáng suốt và công bằng, đồng thời hướng tới một tương lai rộng mở hơn, thay vì mong được bầu lại vào nhiệm kì mới.
Nền dân chủ đòi hỏi tất cả chúng ta phải có những quyết định dựa trên quyền lựa chọn thông tin. Bất kể đó là việc bầu một nhà chính trị, bỏ phiếu trưng cầu dân ý hay lấy một chiếc túi đựng hàng hợp lí ở siêu thi, chúng ta bắt buộc phải suy nghĩ sáng suốt và đánh giá thông tin bày ra trước mắt. Tuy nhiên những vấn đề của ngày hôm nay, như vấn đề toàn cầu hoá, sự chênh lệch về kinh tế giữa thế giới thứ nhất với thế giới thứ ba, vấn đề nóng lên toàn cầu, thủng tầng ozone, sự băng hoại trong các khu phố ở chuột, tình trạng phụ thuộc vào thuốc men, vv. đã vượt quá xa mức phức tạp so với thời đại của các nhà lập quốc. Ngả theo ai để tìm câu trả lời cho chúng ta? Từ đâu chúng ta có thể nhận được những thông tin rõ ràng và không thiên lệch? Làm thế nào để chúng ta có thể đi tới quyết định ủng hộ hoặc chống đối việc phát triển công nghệ gen, sức mạnh hạt nhân, hoặc chính sách kinh tế nhỏ giọt từ trên xuống dưới (trickle-down economics)[3].
Chưa bao giờ sự hiểu biết, óc phán xét, tính trung thực, và thông tin không thiên lệch - nói cách khác là tính xác định lại trở thành vấn đề cấp thiết như trong thời đại ngày nay. Chúng ta mong chờ thông tin đầy đủ từ báo chí, radio, và truyền hình. Chúng ta cần thông tin được trình bày rõ ràng, với những suy nghĩ chín chắn và bình luận thấu đáo tình hình. Tuy nhiên, chúng ta thường được nghe những lời nói xoa dịu từ những “chuyên gia”. Khi một tin tức được loan báo một vụ đổ vỡ thị trường chứng khoán, một thảm hoạ hàng không, một tai nạn hạt nhân, một nạn dịch lây truyền - một chuyên gia thường hay đưa ra những lời châm biếm nghe dễ lọt tai. Mặc dù chúng ta có nhiều nhà báo và nhà sản xuất truyền hình chuyên nghiệp, được đào tạo đầy đủ, nhưng tin tức truyền hình vẫn bị lệ thuộc vào một hạn chế chủ yếu: nó phải làm vừa lòng khán giả để làm sao được xếp hạng và bình chọn tốt. Một khuôn khổ như thế không phù hợp với các nhà khoa học hoặc các nhà hàn lâm, những người mong muốn đánh giá ý kiến của họ bằng những thuật ngữ như “có thể”, “có khả năng”, “so sánh các khả năng”, “trong một số trường hợp nhất định”, hoặc “trong bối cảnh cá biệt này”. Sẽ càng tốt hơn nếu chúng ta đẩy việc trình bày vấn đề thành một cuộc tranh luận. Đơn giản hoá từng vấn đề một thành trắng và đen sẽ chỉ làm cho vấn đề đó biến thành vở kịch tranh cãi om sòm giữa hai “chuyên gia” trong một vài phút trước mặt một người trung gian hoà giải vừa nghe vừa mỉm cười.
Báo chí có đủ thời gian để suy nghĩ sâu sắc hơn, ngay cả khi “nó” bận bịu với quảng cáo hoặc lo phục vụ lịch trình chính trị của ông chủ. Độc giả của đa số báo chí là nạn nhân của những cuộc chiến luẩn quẩn, để cho đôi khi những bài viết hoặc phóng sự thực sự quý giá chỉ có thể xuất hiện trên những tờ báo ở những thị trấn nhỏ bé, không đủ sức cạnh tranh ở cấp quốc gia.
Đường lối chính trị
Dần dần những người hết sức bình thường trong thế kỉ 20 cũng bỗng nhiên bị rơi vào chứng hoang tưởng ở một mức độ nào đó. “Phải chăng chính phủ đang dựa vào chúng ta?”, người ta đã hỏi như vậy. “Ai thật sự đứng đằng sau vụ ám sát Tổng thống Kennedy?”. “Phải chăng các nhà chức trách đang để cho các khu ổ chuột tràn ngập ma tuý để người nghèo tự ru ngủ?”. “Phải chăng chính phủ tiếp tục im lặng với hiện tượng đĩa bay?”.
Chúng ta có thể buồn cười khi nghe chuyện chính phủ giấu giếm việc người ngoài hành tinh bắt cóc những công dân bình thường để làm vật thí nghiệm. Mặt khác, thực tế đã xảy ra một số trường hợp không đáng mong đợi chỉ vì thiếu thông tin và sự hướng dẫn chính thức của chính phủ, chẳng hạn như việc bùng phát bệnh bò điên ở Anh. Căn bệnh này được biết đến từ những năm 80 của thế kỉ 20 khi những cơn bùng phát đầu tiên được xác nhận tại một số nơi trên thế giới. Nó lan truyền qua thức ăn dành cho súc vật có sừng và móng chẽ giống như bò, bao gồm cả những thức ăn chế biến từ các bộ phận của động vật đã xay nhỏ. Sau khi căn bệnh được xác định, các nhà khoa học lo lắng không biết nó có thể truyền sang những người ăn phải thịt bò mắc bệnh hay, không. Có bằng chứng cho thấy căn bệnh này cũng đã nhiễm sang những loài vật khác như cừu, điều này làm cho người ta không thể cố nhịn ăn một chiếc humburger hay một miếng thịt bò nướng, bởi vì bất kì loại thực phẩm nào khác cũng có thể nhiễm bệnh sang người. Thậm chí những người ăn kiêng hay những người chuyên dùng thực phẩm có lợi cho sức khỏe cũng không tránh được rủi ro, vì nhiều bánh kẹo hay các chất khác đều chứa những sản phẩm phụ của động vật như gelatin dùng trong kẹo, thạch, vitamin hoặc thuốc viên, vv.
Bệnh bò điên đã đủ tồi tệ ở Anh, nhưng những lời nói vỗ về của chính phủ Anh trong những năm đầu của cơn bùng phát dịch bệnh này mới thật sự dẫn tới một vụ bê bối. Mọi người được nghe nói các biện pháp ngăn ngừa đã ở trong tầm tay, mọi thứ đã được kiểm soát, và thịt bò Anh có thể ăn rất an toàn. Không có nguy cơ đối với con người. Vì thế, khi cộng đồng châu Âu ra lệnh cấm nhập khẩu thịt bò Anh, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình đông đảo của những người chăn nuôi ở Anh và những đe doạ tẩy chay các sản phẩm châu Âu.
Cuối năm 2000, kết quả của một cuộc điều tra kéo dài đã được công bố và cựu Thủ tướng Anh John Major buộc phải lên tiếng xin lỗi công chúng. Sau này, thông tin mới được tiết lộ rằng cùng trong giai đoạn đó, chính phủ Anh đã biết rò sự lan tràn của bệnh dịch này và nguy cơ đe doạ của nó; tuy nhiên, chính phủ vẫn tiếp tục ra những thông báo ôn hòa cho mọi người yên tâm và thậm chí đã cố gắng làm mất uy tín của những nhà khoa học lên tiếng cảnh báo. Hiện nay, ở Anh đã có những người chết vì bệnh này, và vì hậu quả của nó tác động chậm nên không ai biết tỉ lệ tử vong thực sự của bệnh này lên tới bao nhiêu.
Một sự kiện cay đắng khác cũng dấy lên khi chúng ta nhớ lại Hội nghị Hoà bình The Hague năm 1899 với nghị quyết đặt một số loại vũ khí chiến tranh ra ngoài vòng pháp luật. Nhưng một trăm năm sau, báo chí đầy ắp tin tức về bệnh tật và chết chóc do việc sử dụng loại uranium đã được làm nghèo trong các tên lửa của quân đội NATO ở Kosovo và Bosnia. Vậy mà một bản ghi nhớ của NATO công bố vào tháng 7 năm 2000 vẫn viết: “Rõ ràng là những rủi ro y tế do uranium làm nghèo gây ra là không đáng kể”. Một bản tin khác của NATO nhan đề “Medical Implications of Depleted Uranium” (Những khía cạnh liên quan đến y tế của uranium làm nghèo) kết luận những rủi ro “nói chung là không đáng kể” rồi tuyên bố sẽ “không có hành động nào tiếp tục thêm nữa”.
Quả thật, một mẩu uranium làm nghèo chỉ gây ra rủi ro không đáng kể đối với sức khỏe. Nhưng cái mà những báo cáo của NATO không đề cập đến là khi một trong 31.600 quả tên lửa được sử dụng ở Kosovo hoặc 10.800 quả ở Bosnia bắn trúng mục tiêu thì uranium sẽ bốc hơi và việc hít phải hơi uranium hoặc ăn phải bụi uranium vào bụng sau đó sẽ dẫn tới các bệnh bạch cầu, ung thư phổi, dạ dày, tuyến giáp; những dị thường về gen; và sự suy giảm hệ miễn dịch.
Cơ quan Dịch vụ toàn thế giới của Tổ hợp Phát thanh và Truyền hình Anh đã trích lời tiến sĩ Asaf Durakovic, Giáo sư y khoa và cựu đại tá quân đội Mỹ, rằng ông đã tìm thấy “sự hiện diện đáng kể” của uranium làm nghèo trong hai phần ba cựu quân nhân trong chiến tranh Vùng Vịnh mà ông đã khám bệnh. Trong một số trường hợp, bụi uranium vẫn còn bám trong phổi của họ, tại đó nó thường xuyên tạo nên nguy cơ ung thư.
Những tháp ngà
Nếu những tuyên bố và hứa hẹn của các nhà chính trị và chuyên gia truyền hình là đáng nghi ngờ, thì phải chăng chúng ta nên quay sang những kho chứa trí khôn truyền thống - các trường đại học?
Chẳng hạn, chúng ta hãy tới thăm Đại học Virginia tại Charlottesville do chính Thomas Jefferson thiết kế, và hãy chú ý tới kiến trúc của nhà trường - kiểu kiến trúc co cụm lại với nhau xung quanh một sân cỏ trung tâm. Điều đó ngụ ý rằng trường đại học là nơi để mọi người có thể tụ họp lại với nhau, để cùng suy nghĩ và thảo luận về tri thức.
Để lại tiếng ồn ào và sự hối hả của thành phố ở bên ngoài, trường đại học trở thành những “ốc đảo” êm đềm, thế giới dành cho những học giả và những nhà hàn lâm xuất sắc nhất. Đó cũng là nơi những tư tưởng mới có thể được thử thách và kiểm chứng, hoàn toàn không bị kiểm duyệt và thành kiến. Ở đó, người ta luôn tranh cãi về các vấn đề của quốc gia và toàn cầu. Nếu những bất định của sinh thái học được giải quyết thì điều đó phải diễn ra trước tiên trong các trường đại học.
Nhiều trường đại học đầu tiên trên thế giới đã trưởng thành từ những lò nghiên cứu đại cương (studia generalia) trong giai đoạn đầu thời Trung cổ và phát triển thành những cộng đồng kết hợp sinh viên và giáo sư, với nhiều nhóm học giả từ khắp châu Âu đến quy tụ. Chẳng hạn năm 1135, nhà triết học Peter Abelard chuyển tới Monte Sainte Genevieve ở Pháp. Ngay sau đó, một số các nhà tư tưởng lớn châu Âu thời đó đã kéo đến tụ họp bên tả ngạn sông Seine để nghe ông giảng bài. Vậy là Đại học Paris đã ra đời từ cuộc hội họp không chính thức này. Những đại học đầu tiên đó được các vua chúa và giáo hoàng ban cho đặc quyền hoàn toàn tự trị và nằm ngoài các luật lệ của thành phố và vương quốc. Các học giả tự do giảng dạy và chất vấn. Các đại học lớn là những bến cảng tự do và độc lập dành cho sự học, và chúng hoạt động như những kho chứa tri thức.
Nhưng nền giáo dục ngày nay, ít nhất tại Mỹ, đã trở thành một nền thương mại lớn. Sinh viên được coi như những khách hàng đòi hỏi tính hiệu quả và giá cả phù hợp với những chương trình họ theo đuổi. Một tấm bằng đại học có bổn phận mở cánh cửa dẫn tới một nghề nghiệp được trả lương cao hơn, nhờ những kĩ năng và kiến thức liên quan đến nghề nghiệp mà nó đã cung cấp cho sinh viên. Các đại học cạnh tranh với nhau trong thị trường sinh viên và được quản lí như các tổ hợp kinh tế trong vấn đề hiệu quả kinh tế, giảm giá, và sinh lợi nhuận.
Nhiều tổ hợp lớn ngày nay cấp tiền tài trợ cho các ghế giáo sư, và các đại học phụ thuộc vào những khoản tài trợ từ các doanh nghiệp và cá nhân có ảnh hưởng. Quân đội cũng tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho những đề tài nghiên cứu quan trọng.
Trong một thế giới cạnh tranh mạnh mẽ như thế, có những giảng viên ít hi vọng giành được chỗ đứng, và điều đó có nghĩa là họ nên làm hài lòng những sinh viên sẽ xếp loại hoặc bầu chọn mình làm thầy giáo, đồng thời họ nên chứng tỏ với các quan chức lãnh đạo nhà trường rằng mình không có ý định đấu tranh giành giật, gây phiền nhiễu hoặc tranh cãi. Vì lí do này và còn rất nhiều lí do khác, trường đại học đã trở nên thoả hiệp một cách nguy hiểm.
Cùng lúc đó, cá nhân những nhà khoa học, kinh tế học, chuyên gia y tế, những người được công chúng đòi hỏi phải có những ý kiến phán xét và truyền bá thông tin xác thực, lại ngày càng bị công chúng nghi ngờ. Khi các chuyên gia được trích dẫn ý kiến trên một tờ báo hoặc được phỏng vấn trên truyền hình, người ta băn khoăn không biết họ được hưởng lợi từ đâu. Ai tài trợ cho họ?… Không dễ dàng để nhận thấy rằng thế giới hàn lâm ngày nay đã thay đổi và các trường đại học không còn hoàn toàn đáng tin cậy như khi chúng từng là những nơi để người ta tranh cãi tự do, rộng mở và chân tình nữa.
Trí nhớ nhầm lẫn
Có thể thế giới học thuật không bao giờ là lí tưởng và những âm mưu thủ đoạn cùng thói ghen ghét đố kị luôn luôn ẩn náu bên trong những tháp ngà. Chẳng hạn trong thời kì McCarthy, các học giả đã sẵn sàng đưa ra những tuyên bố công khai để xa lánh những đồng nghiệp bị nghi ngờ về mặt chính trị. Tuy nhiên nhà vật lí David Bohm đã từ chối cung cấp tên tuổi của các đồng nghiệp khi được ủy ban House Un-American Activities chất vấn. Trong cuốn sách của tôi, Infinite Potential: The Life and Times of David Bohm (Tiềm năng vô hạn: Cuộc đời và thời đại của David Bohm, do NXB Reading, Mass: Addison Wesley xuất bản năm 1997), tôi nhắc đên một chuyện diễn ra trong một cuộc họp tiếp sau cuộc hội thảo ở Đại học Princeton, chủ yếu để làm mất uy tín một số công trình vật lí của Bohm. Mặc dù đó là một cuộc tranh luận về các vấn đề kĩ thuật trong khoa học, nhưng các nhà khoa học có uy tín đã sử dụng những từ ngữ như “Trotskyite”, “kẻ phản bội”, và “gã lang thang”. Kết thúc cuộc họp, J. Robert Oppenheimer đã đi quá xa khi tuyên bố, “nếu chúng ta không thể bác bỏ Bohm, chúng ta phải đồng ý bỏ qua ông ta”. Lí do một phần do Oppenheimer chống đối tư tưởng khoa học của Bohm, nhưng phần khác ông cũng chống đối sự câu kết của Bohm với một gương mặt “suy đồi” về chính trị.
Một ví dụ hiện đại hơn là cuộc tranh luận về hội chứng trí nhớ nhầm lẫn. Việc lạm dụng trẻ em, cả về tình dục lẫn thể chất, có thể gây ra những tổn hại rất lớn. Những người bị hãm hiếp hoặc tấn công trong thời thơ ấu thường hay kìm hãm trí nhớ, mà sau này sẽ biến thành những hội chứng về tâm lí thể chất (psychophysical). Freud là người đầu tiên cảnh báo chúng ta về hiện tượng này và chỉ ra rằng phân tâm học có thể hỗ trợ trong việc giải quyết những nỗi đau như thế. Tuy nhiên, trong những 80 của thế kỉ 20, hiện tượng hãm hiếp trẻ em gây ức chế đã trở nên thái quá. Các trường phái trị liệu, bao gồm cả thôi miên, cho phép bệnh nhân hồi tưởng lại thời thơ ấu đã phát hiện ra những trường hợp bị lạm dụng tình dục bởi bạn bè, họ hàng, và ngay cả cha mẹ. Thậm chí có những trường hợp các em cho biết đã được tham dự những nghi lễ ma quỷ, hoặc việc lạm dụng tình dục có liên quan đến toàn bộ các trường mẫu giáo.
Một số nhà nghiên cứu trở nên nghi ngờ những câu chuyện được dàn dựng tỉ mỉ và bắt đầu nhìn vào cách thức mà những mô tả này thu thập được. Họ khám phá ra rằng trong một số trường hợp, một bệnh nhân, được đặt trong một vị thế bị tổn thương, sẽ nhìn vào bác sĩ trị liệu để xem nên tiếp tục câu chuyện như thế nào. Nếu bác sĩ trị liệu ngẫu nhiên nêu lên những lí thuyết về lạm dụng tình dục của cha mẹ, rồi chắc mẩm bệnh nhân sẽ bắt đầu “nhớ lại” những kiểu lạm dụng như thế mà thực tế chưa bao giờ xảy ra rồi thêu dệt thành một câu chuyện hợp lí. “Những trí nhớ nhầm lẫn” tương tự như thế cũng có thể được tạo ra khi một nhà thôi miên hối thúc bệnh nhân nhớ lại một tai nạn, một vụ cướp, hoặc một hành động bạo lực.
Trong những năm 90 của thế kỉ 20, các nhà nghiên cứu đã cố gắng đưa vấn đề này ra ánh sáng thông qua các cuộc tranh luận mở. Ví dụ, trường Đại học Montreal đã tổ chức một cuộc họp để thảo luận về hội chứng nhớ sai. Cuộc họp là một thảm họa. Một số diễn giả bị phản đối kịch liệt. Lời qua tiếng lại và người ta không thể thảo luận cởi mở nữa. Rõ ràng là các trường đại học không còn là nơi để thảo luận tự do và cởi mở một số vấn đề nữa. Thật vậy, một số bác sĩ trị liệu và học giả lo ngại công bố nghiên cứu của mình trong một số lĩnh vực bởi vì có họ có thể bị gièm pha hoặc tấn công.
Tháng 9 năm 2000, tôi chịu trách nhiệm tổ chức một cuộc họp tập hợp các học giả từ nhiều quốc gia và lĩnh vực khác nhau để bàn về tương lai của kiến thức, giáo dục, và các trường đại học. Kết luận chung sau cuộc họp là các trường đại học không còn đóng vai trò như những trung tâm mà ở đó những chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau có thể tranh luận các ý tưởng nữa. Áp lực bên ngoài đặt lên các trường đại học đã làm tổn hại tới khả năng của chúng trong việc nghiên cứu tự do và đạt chất lượng cao. Điều này đặc biệt đúng đối với những lĩnh vực được gọi là “orchid”, những chủ đề và lĩnh vực khổng đảm bảo sự đền đáp ngay tức khắc và thực tế.
Những người tham gia cảm thấy rằng các viện nghiên cứu cần phải có một hợp đồng bất thành văn với tương lai - cung cấp một nền giáo dục mở ra những chân trời cho tuổi trẻ để tạo ra những cá nhân hoàn hảo hơn.
Cái gì có thể thay thế các trường đại học? Có lẽ những học viện nghiên cứu chính thức và không chính thức nhỏ hơn[4] mà tại đó mọi người có thể tập hợp lại để tranh luận với nhau củng có nhược điểm của chúng, vì chúng luôn luôn có nguy cơ rơi vào cái bẫy tương tự như các trường đại học. Thậm chí khi chúng ta thấy những trường đại học đánh trượt chúng ta, tính bất định của tương lai tạo cho chúng ta cảm giác thậm chí cô lập hơn.
Phân tích rủi ro
Các nhà toán học và kĩ sư đã sáng tạo nên một ngành mới của khoa học được gọi là “phân tích rủi ro”, cho phép tính được xác suất chẳng hạn của một tai nạn hạt nhân xảy ra trong một giai đoạn cụ thể nào đó, hoặc xác định mức độ an toàn khi đi du ngoạn bằng xe ôtô, tàu hoả, máy bay, vv.
Giả sử các kĩ sư đã thiết kế được một cái bơm cho phép chuyển nước làm lạnh tới một lò phản ứng nguyên tử. Từ nhiều thử nghiệm được thực hiện trên những mẫu chế thử, họ đã có đánh giá ước lượng rất tốt về “cuộc sống” hiệu quả của cái bơm và xác suất để nó hỏng trong vòng chẳng hạn 12 tháng sắp tới. Để tăng cường an toàn, họ lắp đặt thêm chiếc bơm thứ hai hoạt động hoàn toàn độc lập với chiếc bơm thứ nhất. Mức độ rủi ro để chiếc bơm bị hỏng vào một ngày nào đó là khá nhỏ, nhưng mức độ rủi ro để cả hai chiếc bơm cùng hỏng một lúc lại càng nhỏ hơn, đến mức gần như không thể có. Tuy nhiên các kĩ sư vẫn có thể tính được xác suất - mức độ rủi ro - vô cùng nhỏ đó.
Nếu một chiếc bơm hỏng, tín hiệu báo động sẽ cảnh báo hệ điều hành, hoặc tác động vào hệ thống computer để lập tức thực hiện các biện pháp điều chỉnh khẩn cấp. Nhưng có nguy cơ hệ thống báo động củng hỏng nốt, do đó các kĩ sư lại phải tính xác suất để cả hai bơm hỏng cùng một lúc với hệ thống báo động, bất chấp các kiểm tra an toàn hoạt động bình thường. Bằng cách này, họ có thể tính được độ rủi ro của mọi trường hợp hỏng hóc trong một hệ thống diễn ra cùng một lúc, đồng thời yên chí rằng các hệ thống phục hồi sẵn sàng hoạt động. Họ cũng nghiên cứu một loạt kịch bản “tồi tệ nhất có thể xảy ra”, chẳng hạn như điều gì sẽ đến nếu chẳng may một chiếc máy bay đâm sầm vào nhà máy điện nguyên tử, để rồi thiết kế những hệ thống đảm bảo không hỏng sẽ tự động hoạt động khi những thảm hoạ tiềm ẩn xảy ra. Kết quả cuối cùng của những tính toán này nói với chúng ta rằng nguy cơ hỏng hóc tại một nhà máy điện hạt nhân là có, mặc dù nhỏ.
Phân tích rủi ro được áp dụng cho vô số tình huống, ví dụ như trường hợp mất kiểm soát trong một máy bay phản lực chở hành khách, khả năng hai tàu hoả đâm nhau trong một hệ thống đường ngầm, những virus chết người lọt khỏi phòng thí nghiệm, chất liệu biến đối gene ngẫu nhiên được thải ra môi trường, vv.
Vì lí thuyết phân tích rủi ro chứa đựng nhiều phân tích tính toán và kết quả cuối cùng của nó là một dãy số liệu thông báo mức độ rủi ro, nên trông nó có vẻ rất “khoa học”, và do đó nó dễ ru ngủ chúng ta, làm chúng ta yên chí rằng mọi việc đều có thể lường trước được. Dường như khoa học đã dùng cái xác định để tạo nên một hàng rào vây quanh cái ngẫu nhiên và may rủi. Nhưng chúng ta đừng bao giờ quên rằng luôn luôn tồn tại hai lĩnh vực quan trọng của cái bất định. Một là những nghiên cứu làm cơ sở cho lí thuyết rủi ro, đó là việc lường trước những hỏng hóc và tai nạn có thể xuất hiện. Trên thực tế, điều này có nghĩa là mọi thứ mà một kĩ sư có thể tưởng tượng ra sẽ có một lúc nào đó hỏng hóc. Và sẽ có những cái không được xem xét, đó là những yếu tố bị bỏ lỡ hoặc những sự vật bị bỏ qua.[5]
Lĩnh vực bất định thứ hai, nghiêm trọng hơn, là ở chỗ những hệ có độ rủi ro thấp chỉ hoạt động chính xác trong điều kiện hạ tầng cơ sở hoạt động tốt và được đầu tư tốt. Giả sử một công ty hàng không hoặc những nhà lãnh đạo của một nhà máy điện hạt nhân có uy tín rất cao và không hề có những khiếm khuyết nghiêm trọng, mọi chuyện đều tiến triển êm ả. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu các nhà điều hành phải làm việc quá sức hoặc được trả lương không thích đáng? Đây là những điều kiện có thể dẫn tới những sai lầm lớn. Trong mọi tình huống, bất kể đã lắp đặt bao nhiêu hệ thống tự động đảm bảo không hỏng hóc, yếu tố con người không bao giờ có thể bị bỏ quên, và đó vẫn là một yếu tố không thể dự đoán được.
Hãy xét trường hợp những người kiểm tra không lưu, đó là những “dây an toàn vô hình” mà tất cả chúng ta đều phụ thuộc vào khi đi máy bay. Kiểm tra không lưu an toàn là vấn đề có tầm quan trọng sống còn, đặc biệt là nhằm tránh va chạm khi máy bay tiến gần tới sân bay hoặc vừa cất cánh khỏi sân bay. Những người kiểm tra không lưu ở London đã phàn nàn về việc họ phải làm việc quá tải và chịu áp lực stress rất cao. Họ cho rằng những va chạm máy bay nghiêm trọng có thể sẽ xảy ra nếu điều kiện làm việc của họ không được cải thiện. Trong trường hợp này, lí thuyết phân tích rủi ro được áp dụng, rất nhiều thành phần kĩ thuật đã được trù bị sẵn sàng và chúng làm việc tốt, nhưng sự điều hành của con người đã trở thành khâu yếu nhất trong toàn bộ hệ thống.
Cái không thể thấy trước
Chúng ta đã xoay chuyển đủ cách để tìm kiếm tính xác định và sự bảo đảm khi đối mặt với vô số cuộc khủng hoảng sinh thái. Các trường đại học và các chuyên gia đã trở nên thoả hiệp. Nhiều người không còn sẵn sàng tin vào lời khuyên của các chuyên gia nữa. Lí thuyết phân tích rủi ro tạo ra những kết quả có vẻ khoa học nhưng nhiều khi có thể sa lầy vì bỏ lỡ thông tin hoặc yếu tố con người luôn luôn không thể dự đoán được. Vậy ai có thể cam đoan sẽ đưa ra cho chúng ta một câu trả lời xác định?
Như chúng ta đã thấy trong các chương trước, thế kỉ 20 buộc chúng ta phải đương đầu với những vấn đề bất định và những hạn chế đối với khả năng dự đoán và kiểm soát thế giới xung quanh. Thế giới tự nhiên tạo ra một cái ngưỡng đối với câu hỏi “chúng ta có thể nhận thức được thế giới và đoán trước được tương lai đến mức độ nào?”. Nhưng hết trường hợp này đến trường hợp khác, nỗ lực can thiệp của chúng ta đều bị thất bại. Không cần phải đợi tới hai thế hệ các nhà vật lí lí thuyết để nói với chúng ta những kế hoạch được xếp đặt tốt nhất đôi khi cũng có thể phá sản. Lẽ phải thông thường cảnh báo chúng ta rằng những nghiên cứu có lí như thuyết phân tích rủi ro sẽ vẫn luôn luôn có những hạn chế của chúng.
Tương lai của chúng ta bao gồm rất nhiều vấn đề nghiêm trọng: Sự nóng lên toàn cầu, nhân bản vô tính người, cạn kiệt các nguồn năng lượng, nền kinh tế bền vững({sustainable economics)[6], tăng vọt dân số, phân phối lương thực toàn cầu, thủng tầng ozone, giao diện người-computer, vv. Con người cần có những quyết định khôn ngoan, nhưng làm thế nào để hành động đúng khi phải đối mặt với tính bất định?
Chúng ta được nghe nói rằng công nghệ gene sẽ làm tăng các sản phẩm lương thực và giúp con người xoá bỏ một số bệnh tật; rằng một khi đã giải quyết được những khó khăn kĩ thuật của việc tổng hợp hạt nhân thì sẽ có nguồn năng lượng vô hạn cho toàn thế giới; rằng khả năng của con người sẽ tăng lên gấp bội khi được nối trực tiếp với máy tính; rằng những vật liệu mới chưa từng có sẽ được sản xuất ra ứng dụng trong xây dựng nhà cửa và sản xuất xe hơi của chúng ta; rằng công nghệ thông tin mới sẽ tạo nên cuộc cách mạng trong phương pháp làm việc và học tập; rằng con người sẽ chinh phục không gian, và một ngày nào đó sẽ du lịch tới Sao Hoả; rằng không có giới hạn đối với tài năng của con người và không có giới hạn đối với những thành tựu tri thức và tiến bộ công nghệ.
Một mặt, tương lai có rất nhiều hứa hẹn, nhưng mặt khác, nó lại có một số đe doạ. Vậy chúng ta nên nhìn tương lai như thế nào? Chúng ta nên xác định vị trí của mình như thế nào? Chúng ta nên đứng ở đâu?
Thường thường vị trí tốt nhất để nhìn về tương lai là từ quá khứ. Hãy nhìn lại lịch sử của vài thành tựu kĩ thuật từng hứa hẹn cải thiện cuộc sống của chúng ta: Freon, xăng pha chì, thuốc trừ sâu DDT, và kháng sinh.
Freon
Ống xoắn ruột gà trong tủ lạnh cần một loại gas vừa hoá lỏng vừa bay hơi dễ dàng sao cho thực phẩm trong tủ sẽ bị làm cho đông lạnh và nhiệt lượng sẽ được giải thoát ra bên ngoài từ ống xoắn ở phía sau tủ lạnh. Ở trạng thái lỏng, khí gas này rất an toàn đối với con người và không có tác dụng hoá học. Loại gas đó đã được nhà hoá học tên là Thomas Midgley khám phá ra trong những năm 30 của thế kỉ 20. Nhãn hiệu thương mại của loại gas này là Freon, bao gồm chlorofluorocarbons. Đó là một chất liệu mơ ước được sử dụng không chỉ trong tủ lạnh mà cả trong các máy điều hoà nhiệt độ và như một chất đẩy trong các bình phun aerosol.
Vào thời đó, Freon dường như hoàn toàn vô hại. Nó không gây ra sự ăn mòn; nếu một ít khí gas bị thất thoát, nó không gây ra mùi làm ô nhiễm thức ăn; vì tính trơ về mặt hoá học nên nó không bắt lửa và không gây hại cho sức khỏe. Phải đợi tới vài thập kỉ sau, các nhà hoá học mới bắt đầu nghi ngờ chất chlorofluorocarbons này có thể ảnh hưởng đến tầng ozone.
Do tác động của mặt trời đối với khí quyển ở các tầng bên trên, ba nguyên tử oxy kết hợp lại để tạo thành một phân tử ozone. Ozone cực kì quan trọng đối với cuộc sống trên trái đất vì nó đóng vai trò như một bóng mát che ánh nắng mặt trời và lọc tia cực tím có hại ra khỏi ánh sáng mặt trời. Nhưng ánh sáng mặt trời cũng phá vỡ các nguyên tử Freon trong các tầng khí quyển bên trên và thải ra chất chlorine, chất này tấn công các phân tử ozone.
Chỉ đến khi có các chuyến bay thám hiểm không gian thì các nhà khoa học mới khám phá ra ảnh hưởng của Freon trong mấy thập kỉ vừa qua tai hại đến chừng nào. Freon từ các bình phun aerosol, từ các tủ lạnh vứt bỏ, và từ các máy điều hoà đã tập hợp lại ở các tầng khí quyển bên trên, nơi chúng phá huỷ ozone. Kết quả là chúng tạo ra các lỗ hổng lớn trong tầng ozone bao bọc toàn bộ Nam cực và một phần nhỏ ở Bắc cực. Nếu sự phá hủy tầng ozone bị kéo dài điều này sẽ dẫn tới mối nguy hiểm tiềm tàng đối với mọi sự sống trên trái đất, làm tăng tỉ lệ ung thư da và huỷ hoại hoạt động của gen.
Chì
Trong chương đầu tiên, chúng ta đã liệt kê ôtô như một trong các nhân tố chủ yếu định hình cho thế giới hiện đại. Tính tiện dụng của loại phương tiện vận chuyển rẻ và nhanh này đã biến đổi xã hội và làm cho những người ở ngoại ô có thể đi làm tại các thành phố. Thật vậy, bản thân các vùng ngoại ô cùng thay đổi vì những lợi ích gián tiếp của ôtô như đường cao tốc, quầy hàng phục vụ tại chỗ cho người đi xe. Hơn nữa, đòi hỏi ngày càng tăng đối với xăng dầu đã biến đồi nền chính trị toàn cầu, vì tầm quan trọng chiến lược của các quốc gia sản xuất dầu mỏ ngày càng tăng lên. Ôtô cũng là nguyên nhân chính gây nên sự tử vong trong lớp trẻ. Số người Mỹ bị chết vì ô tô còn lớn hơn số người chết trong tất cả các cuộc chiến tranh mà nước Mỹ đã tham gia kể từ ngày độc lập.
Cần có một cuốn sách riêng viết về tác động của ôt ô đối với xã hội. Nhưng ở đây chúng tôi chỉ xét một vấn đề liên quan, đó là nỗ lực chế tạo ra những động cơ ô tô hiệu quả hơn và khỏe hơn. Khi động cơ ô tô lớn hơn, sự cố “gõ” hoặc cháy sớm của hỗn hợp khí xăng trong xi lanh của động cơ đã trở thành một sự cố chủ yếu. Để động cơ làm việc hiệu quả hơn, hỗn hợp khí xăng phải nổ đúng lúc để đẩy piston xuống và làm chạy động cơ. Nhưng khi động cơ bị đốt nóng, hỗn hợp khí xăng có thể nổ một cách ngẫu nhiên tự phát, tạo ra tiếng “gõ” hoặc nổ sớm, làm giảm hiệu quả.
Năm 1921, Thomas Midgley đã khắc phục được sự cố “gõ”. Không thoả mãn với việc khám phá ra Freon, ông đã tìm ra bí quyết cản trở sự cố nổ sớm bằng cách pha một tỉ lệ chì nhất định vào xăng. Nhờ khám phá của Midgley, ôtô có thể lớn hơn, nhanh hơn, khỏe hơn. Đã có hai thế hệ lái xe phải cảm ơn Midgley mặc dù không hề biết tên tuổi ông.
Nhưng đến những năm 70 của thế kỉ 20, các nhà khoa học bắt đầu lo lắng về ô nhiễm khí quyển do ôtô gây ra. Nhiều thành phố đã ra lệnh cấm sử dụng những nhiên liệu nhả khói, và thời đại của những chiếc xe Fog của Sherlock Holmes ở London đã trôi vào dĩ vãng. Vào những ngày oi bức, mọi người phải chịu đựng những làn sương mù nghẹt thở nhả ra từ các ống xả xe hơi. Một trong những làn sương mù này bắt nguồn từ xăng, và các chuyên gia băn khoăn về hậu quả của việc lan toả kéo dài của loại xăng pha chì tỉ lệ thấp này, đặc biệt đối với trẻ em. Một số nhà khoa học hiện nay tin rằng ô nhiễm chì là nguyên nhân gây ra sự suy giảm chỉ số thông minh IQ của những trẻ em Mỹ sinh ra trong khoảng từ 1950 đến 1980 (khi xăng pha chì từng bước bị dừng sử dụng cho xe hơi).
Chẳng có gì ngạc nhiên khi Midgley, người đã khám phá ra cả Freon lẫn xăng pha chì, được tác giả J. R. McNeil mô tả như một người đã “tác động vào bầu khí quyển nhiều hơn bất kì một sinh vật cá biệt nào trong lịch sử trái đất”.
Thuốc trừ sâu DDT
DDT được tồng hợp lần đầu tiên trong quá trình nghiên cứu hoá học vào cuối thế kỉ 19, nhưng mãi tới năm 1939 tác dụng tiêu diệt sâu bọ rất hiệu quả của nó mới được khám phá. Vào thời điểm đó, DDT hứa hẹn sẽ diệt trừ các mầm gieo bệnh đối với bệnh sốt rét, dịch hạch, sốt nấm đỏ, sốt vàng da, đồng thời cũng hứa hẹn sẽ bảo vệ mùa màng khỏi sự tàn phá của sâu bọ. Thế giới sửng sốt mừng vui khi thấy cơ hội diệt trừ một số bệnh chết người và thoát khỏi nạn chết đói nhờ tăng trưởng sản lượng lương thực.
Nhưng mặt trái của DDT thì sao? Vì sâu bọ vô cùng nhỏ nên một mức độ DDT làm chết một con muỗi sẽ không gây ra hậu quả gì đối với cơ thể con người. Do đó, việc sử dụng DDT được coi là tuyệt đối an toàn, kết quả là người ta bắt đầu sử dụng DDT tuỳ tiện. Chỉ sau khi tiến hành những nghiên cứu kĩ lưỡng hơn, các nhà sinh học mới bắt đầu nghi ngờ rằng không phải mọi chuyện đều tốt đẹp. Đầu tiên là sâu bọ bắt đầu phát triển khả năng kháng lại các chất hoá học, có nghĩa là liều lượng thuốc diệt sâu bọ phải tăng lên gấp đôi hoặc gấp ba. Thế là bùng nổ một tình thế nghiêm trọng hơn nhiều. Sâu bọ nhỏ bé nhưng chúng lại là nguồn thức ăn của cá và chim chóc. Khi một giống động vật ăn nhiều sâu bọ mỗi ngày, phần dư của DDT sẽ tích tụ vào trong dây chuyền thực phẩm cho đến khi gây tác gại cho sức khỏe của nó - chẳng hạn những con chim nhiễm nhiều DDT sẽ có trứng dễ vỡ đến mức chim chóc đậu lên sẽ vỡ ngay. Kết quả là những con vật chuyên ăn sâu bọ bắt đầu chết. Sau đó, sâu bọ sẽ sinh sản nhanh hơn chim. Qua một vài thế hệ sâu bọ bị diệt trừ rồi kháng thuốc, số lượng quần thể sâu bọ bùng nổ trở lại như để trả thù, lan tràn khắp mọi nơi trong những môi trường thiếu hụt những động vật tự nhiên ăn thịt chúng[7].
Kháng sinh
Trong những thập kỉ đầu tiên của thế kỉ 20, mọi bệnh viện đều có một phân khoa nhiễm trùng dành cho các bệnh nhân có nguy cơ tử vong vì nhiễm trùng. Tới giữa thế kỉ 20, những phân khoa như thế không còn nữa. Phép mầu y học này có được là nhờ peniciline, một loại kháng sinh đầu tiên, được sản xuất để bán trong Thế chiến II. Peniciline đã tạo ra cuộc cách mạng trong việc điều trị các bệnh lây nhiễm - những gì trước đây là mối đe doạ đến tính mạng thì bây giờ có thể điều trị dễ dàng tại nhà với một liều kháng sinh. Chắc chắn là các bác sĩ và bệnh viện đã bắt đầu dựa vào kháng sinh như một loại thuốc chữa bách bệnh lây nhiễm.
Khi phải đối mặt với một căn bệnh lây nhiễm, kháng sinh là một trong những thắng lợi vĩ đại của y học hiện đại. Vậy làm sao mà trên trái đất có thể có bất kì điều gì mang ý nghĩa tiêu cực khi nói về thuốc kháng sinh? Chỉ mới tương đối gần đây thôi, các nhà chuyên môn về y khoa bắt đầu lo lắng về việc sử dụng kháng sinh tuỳ tiện, và sợ rằng một lần nữa nhân loại lại quá hăng hái nhiệt tình “đặt tất cả những quả trứng của mình vào một chiếc rổ”[8] (Các bác sĩ thậm chí đã kê đơn thuốc kháng sinh cho những bệnh nhân lây nhiễm bởi virus trong khi biết rõ rằng kháng sinh không có hiệu quả với virus! Nếu bị phê bình, họ sẽ lí luận rằng họ lo những lây nhiễm khác có thể nhân cơ hội này mà tấn công vào bệnh nhân, mặc dù họ thừa nhận là không có bằng chứng nào chứng tỏ bệnh nhân của mình thật sự mắc những bệnh lây nhiễm khác đó. Họ viện cớ đây là biện pháp “phòng ngừa”).
Như bất kì dạng sinh vật nào khác, những sinh vật gây bệnh không hoàn toàn giống nhau về gen. Trong khi một loại kháng sinh có thể quét sạch hầu hết các vi khuẩn đang lan tràn, một dòng giống nào đó khỏe hơn trong chúng vẫn có thể sống sót. Trải qua thời gian, những vi khuẩn này phát triển thành một loại vi khuẩn mới có khả năng kháng thuốc. Sự tiến hoá của dòng vi khuẩn kháng thuốc này cũng diễn ra dễ dàng hơn trong những bệnh nhân không chịu uống đủ liều kháng sinh - ngay khi sức khỏe mới được cải thiện hơn đôi chút là họ liền vứt bỏ phần còn lại của liều thuốc đi. Vi trùng kháng thuốc còn lây lan phổ biến trong đám người nghiện ma tuý, trong những kẻ sống vạ vật ngoài phố xá, nơi mở rộng cửa cho rất nhiều loại vi trùng nhân cơ hội mà xâm nhập vào cơ thể, và trong số những người mắc bệnh mà không chịu điều trị nghiêm ngặt.
Vì lí do đó, các nhà bào chế thuốc thỏa sức chạy đua nghiên cứu và sản xuất ra những loại kháng sinh mới nhằm mục đích tiêu diệt những vi trùng kháng thuốc mới. Nhưng cuộc chiến tranh giữa các nhà khoa học với vi sinh vật không thể tiếp tục tới vô hạn. Vi trùng lao, một loại vi trùng gây bệnh ít hoặc nhiều đã bị xoá sổ trong thế giới công nghiệp, đang tái xuất hiện dưới dạng một loại vi trùng kháng thuốc rất mạnh. Trớ trêu thay, chính những bệnh viện trước đây từng sử dụng kháng sinh tràn lan đã trở thành những vị trí chứa đựng nhiều khả năng rủi ro mắc bệnh. Những thống kê tại châu Âu khuyến cáo rằng đối với các bà mẹ đang mang thai bình thường thì sinh nở tại nhà sẽ an toàn cho thai nhi hơn là ở trong môi trường bệnh viện.
“Về chuột và người”[9]
Bất chấp khả năng phát minh sáng chế và tổng số tri thức khoa học của chúng ta, việc kiểm soát đối với thế giới xung quanh, khả năng lập kế hoạch và đoán trước các sự kiện thực ra không vững chắc hơn những gì chúng ta nghi ngờ. Nhiều công nghệ mới ra đời, nhiều đột phá khoa học diễn ra. Nhưng bên cạnh những ích lợi mà chúng ta gặt hái được, vẫn luôn luôn tồn tại những rủi ro không thể thấy trước hoặc những hậu quả phụ không ai có thể dự đoán được.
Phải chăng vấn đề thực chất chỉ là những chuyện về hoá chất, thuốc phụ gia, thuốc trừ sâu hay kháng sinh? Hay phải chăng đây chỉ là sự thiếu suy nghĩ và sử dụng bừa bãi các sản phẩm công nghệ? Phải chăng công nghệ là kẻ thù của chúng ta hay kẻ thù chính là những suy nghĩ không được kiểm soát của con người?
Nếu chúng ta không thể dự đoán được tương lai thì ít nhất chúng ta cũng có thể nắm được một số khuynh hướng nhất định và tự cảnh báo mình về những khó khăn đang nằm ở phía trước. Khi phải đối mặt với những khó khăn đó, chúng ta sẽ không tự phụ về sức mạnh của chúng ta nữa.
Có lẽ đây là một bước tiến tích cực trong tư duy. Chúng ta phải chú ý tới những cảnh báo rằng tri thức của con người không phải là tối thượng. Chúng ta không thể giải quyết mọi sự cố bằng những công nghệ mới. Quả thật, công nghệ đóng vai trò thiết yếu trong thế giới hiện đại, nhưng nó phải được đặt đúng chỗ. Chúng ta phải áp dụng công nghệ một cách thận trọng dựa trên những hiểu biết sáng suốt khôn ngoan. Chúng ta phải thừa nhận những giới hạn của chúng ta và cảnh giác khi tiến lên phía trước. Chúng ta giống như những kẻ bị lạc vào một khu rừng tối và phải dò dẫm tiến về phía trước, canh chừng các hầm bẫy, thăm dò khu vực xung quanh, và đảm bảo sao cho những bước chân của chúng ta luôn luôn an toàn.
Trong thời tiền sử, dân số toàn thế giới ước chừng vài triệu. Khoảng năm 1.000 trước Công nguyên, với sự xuất hiện của canh tác nông nghiệp, dân số thế giới đột ngột tăng lên tới 150 triệu. Sau đó, dân số tiếp tục tăng nhưng chậm. Chẳng hạn, từ thế kỉ 17, phải mất tới hai trăm năm dân số mới tăng gấp đôi. Con số 1 tỉ dân được đánh dấu vào năm 1825. Ngày nay, dân số thế giới là khoảng 6 tỉ[10]. Nhờ những phép mầu của y học hiện đại, tỉ lệ chết của trẻ em giảm đột ngột. Ở châu Âu, tỉ lệ này là 6/1.000, trong khi ở châu Phi là 90/1.000. Việc tăng số trẻ em đạt tới tuổi trưởng thành và việc loại bỏ được nhiều bệnh truyền nhiễm đã dẫn tới kết quả là sự bùng nổ dân số trên toàn thế giới. Có khả năng dân số thế giới sẽ tăng gấp đôi trong vòng năm mươi năm nữa.
Trong bối cảnh bùng nổ dân số, lương thực và năng lượng trở thành những vấn đề nghiêm trọng. Một số chuyên gia cho rằng cách duy nhất để nuôi dưỡng thế giới là dựa vào các phương pháp chăn nuôi trang trại chuyên sâu hơn nữa. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta phải sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm và cây trồng biến đổi gen. Thay vì các chủ trang trại trồng một số loại hoa quả hoặc rau khác nhau, các nhà khoa học sẽ thiết kế những loại cây trồng thích hợp với một tiêu chuẩn tối ưu, không những đáp ứng tỉ lệ dinh dưỡng mà còn dễ thu hoạch và đóng gói, có thể tồn trữ lâu không hỏng, kích thước đều nhau, vv. Thực tế ngày càng có nhiều trường hợp người ta chỉ sử dụng một loại hạt giống duy nhất. Nhưng điều này sẽ làm cho toàn bộ cây trồng tăng thêm nguy cơ mắc bệnh và nguy cơ bị côn trùng phá hoại. Thêm nữa, loại cây trồng mới này đòi hỏi phải dùng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ cũng như phân bón và thuốc kích thích tăng trưởng. Kết quả là phương pháp nông trại hiện đại đang làm cho nhiều nước thuộc thế giới thứ ba phụ thuộc vào các sản phẩm của công nghiệp hoá học. Tiếp đó, điều này lại đòi hỏi một sự thay đổi trong phương pháp canh tác truyền thống và trong toàn bộ cấu trúc xã hội, đòi hỏi một sự tin cậy đối với các sản phẩm và sự giúp đỡ của các quốc gia công nghiệp.
Khi phương pháp thâm canh được áp dụng cho động vật, với một số lớn động vật được nuôi giữ gần nhau trong chuồng trại, nó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự lan truyền bệnh tật nhanh chóng, và do đó lại đòi hỏi việc sử dụng kháng sinh. Hormon cũng được sử dụng để kích thích sự tăng trọng và tăng sản lượng sữa. Hơn nữa, phương pháp thâm canh gây ra sự tàn phá môi trường thông qua việc làm xói mòn đất và làm ô nhiễm sông, hồ và môi trường nói chung.
Cả những lí thuyết về các hệ phức tạp lẫn lẽ phải thông thường đều nói với chúng ta rằng tính đa dạng là chìa khoá đối với sự sống sót của thế giới tự nhiên. Nhưng dường như ngày nay, chúng ta buộc phải “đặt tất cả các quả trứng vào trong cùng một chiếc rổ”. Điều này chỉ có thể dẫn tới thảm hoạ. Các hệ thống tự nhiên có tính dư thừa trong cấu trúc của nó. Nếu một bộ phận bị hỏng, lập tức có một bộ phận khác thay thế. Ngăn một động mạch cơ thể con người lại máu sẽ tiếp tục chảy thông qua các mạch máu nhỏ hơn, những mạch này nhanh chóng thích nghi với dòng máu tăng lên. Trồng vài loại khoai tây khác nhau trên một cánh đồng, khi một loại nấm hoặc virus tấn công một trong các loại khoai tây đó thì ít nhất các loại khác vẫn sống sót. Nhưng khi chỉ có một hệ thống duy nhất trong trò chơi thì bất kì một thất bại hoặc khó khăn nào cũng có thể trở thành khủng hoảng.
Chúng ta hãy xét một ví dụ đặc biệt về đĩa cứng trên computer. Trong khi bạn viết một tiểu luận hoặc một email, thông tin được chứa trong những vùng cá biệt (các địa chỉ) trên đĩa cứng này. Sau đó, khi bạn đọc lại những gì bạn đã viết, computer sẽ nhảy tới những địa chỉ đó và cho hiển thị thông tin trên màn hình. Tuy nhiên, khi hư hỏng cục bộ xảy ra trên đĩa cứng của bạn, một số thông tin trong các địa chỉ đó không đọc được nữa và phần công việc của bạn bị mất - đĩa cứng không có sự dư thừa trong cấu trúc. Điều này trái với bộ não của con người. Từ ngữ trong một bài hát, hình ảnh một khuôn mặt, kiến thức lái xe đạp không được chứa trong những nhóm tế bào riêng biệt, mà dường như được phân bố khắp bộ não. Vì thế sau khi bị tổn thương ở đầu, khả năng của một người có thể bị suy giảm hoặc mất, nhưng trí nhớ vẫn không bị mất đi, bởi vì nó không nằm trong một vùng duy nhất của não. Cùng vậy, ngôn ngữ có thể bị mất đi sau một cơn đột quỵ, nhưng khả năng nói thường được phục hồi, vì tính dư thừa bẩm sinh của não có nghĩa là những vùng khác sẽ luôn luôn đảm nhiệm nhiệm vụ riêng biệt đó.
Một ví dụ khác nói lên sự nguy hiểm khi mất tính dư thừa là thảm hoạ thiếu khoai tây ở Ireland những năm 1845- 1849. Như chúng tôi đã đề cập, phương pháp canh tác truyền thống đòi hỏi trồng nhiều loại cây trồng và nhiều loại hạt giống khác nhau đối với mỗi loại cây trồng. Tuy nhiên trong thế kỉ 19, đa số dân chúng Ireland sống dựa vào khoai tây như một nguồn lương thực chủ yếu. Hơn thế nữa, chỉ có một trong hai loại khoai tây cho sản lượng cao được trồng. Kết quả là khi loại khoai tây này bị tấn công bởi một loại nấm có tên là Phytophthora infestans, hầu hết khoai tây bị hỏng. Chỉ trong một vài năm, hơn một triệu người đã chết đói vì thảm hoạ này.
Ngày nay, các kĩ sư và những người làm chính sách đang học nhữngbài học về tính dư thừa và cường tráng của tự nhiên. Trong Thế chiến II, trụ sở của chính phủ Anh được đặt toàn bộ trong một boongke nằm sâu bên dưới đường Whitehall ở London. Tuy nhiên, vào lúc cao điểm của cuộc chiến tranh lạnh, chính phủ Hoa Kì đã nhận ra rằng cần phải phân bố hệ thống chính phủ ra nhiều nơi, nhằm đảm bảo cho hệ thống nhà nước sẵn sàng phục hồi khi có thảm hòạ xảy ra. Vì thế, các đường cao tốc thẳng được xấy dựng để khi cần chúng có thể biến thành bãi đáp khẩn cấp của máy bay, và thông tin được phân phối thông qua các hệ thống computer trên khắp thế giới (chính từ ý tưởng đó mà internet đã ra đời). Cũng vậy, các hệ thống kiểm tra hàng không và nhà máy điện nguyên tử cũng phải có tính dư thừa một cách thích đáng trong cấu trúc nội tại của nó, thông qua các hệ thống dự phòng bao gồm các hệ đảm bảo không hỏng hóc và hệ phục hồi hoạt động.
Năng lượng
Một số chuyên gia dự đoán rằng sau năm mươi năm nữa, nguồn dự trữ dầu và khí đốt tự nhiên sẽ cạn kiệt, hoặc ít nhất cũng cạn đến mức sẽ vô cùng đắt đỏ để khai thác được. Cứ như thể chúng ta sẽ phải bán hết đồ trang sức quý giá trong gia đình để có thể chạy xe, bật máy điều hoà và sưởi ấm văn phòng, nhà cửa, và trung tâm mua bán, trong khi lại quên mất rằng cháu chắt của chúng ta có thể sẽ không còn được hưởng thụ những thứ đắt tiền như thế nữa. Một nửa thế kỉ trước đây, năng lượng nguyên tử - năng lượng phân rã hạt nhân đã được hứa hẹn như một nguồn năng lượng của tương lai. Nhưng một loạt các sự cố hạt nhân đã làm cho mọi người lo lắng về tính an toàn của nó. Tất nhiên, người ta có thể thiết kế những hệ thống tân tiến hơn đảm bảo không hỏng hóc với khả năng thấy trước “những kịch bản xấu nhất” khác nhau, nhưng điều này vẫn không làm yên lòng công chúng.
Về phía mình, các nhà hoạt động bảo vệ môi trường đã đề nghị sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió, và năng lượng thuỷ triều. Những năng lượng này giúp làm tăng các nguồn năng lượng sạch, nhưng đối với nhiều quốc gia chúng có thể không thích hợp, do đó chúng không bao giờ trở thành giải pháp phổ biến toàn cầu. Năng lượng mặt trời có thể hoạt động rất tốt tại châu Phi nhưng sẽ kém hấp dẫn tại Canada và Bắc Mỹ. Năng lượng thuỷ triều có thể cung cấp một lượng năng lượng thích đáng tại một số nơi trên thế giới nhưng sẽ rất khó thực hiện tại Thụy Sĩ. Việc đốt những khối vật chất sinh học (chẳng hạn như đốt gỗ, hoặc chế biến vật liệu sinh học thành cồn hoặc khí mê tan) là một khả năng khác. Tuy nhiên, khi nhu cầu lương thực tăng lên, sẽ xảy ra sự cạnh tranh đất đai (nguồn năng lượng từ vật liệu sinh học sẽ bị ảnh hưởng).
Những năm 80 của thế kỉ 20 đã chứng kiến sự sụt giảm lớn về sản xuất và tiêu dùng năng lượng. Giá dầu tăng vọt và thế giới phải nhượng bộ các quốc gia sản xuất dầu mỏ. Câu trả lời lúc đó là “bảo vệ giữ gìn” sao cho năng lượng không thất thoát, lãng phí. Nhưng thay vì cố gắng hi sinh quyền lợi cá nhân để giảm mức tiêu thụ năng lượng, chúng ta lại tìm cách “bảo vệ giữ gìn” năng lượng mà không gây trở ngại cho quyền lợi cá nhân và cho trợ cấp của nhà nước. Do đó, chúng ta giảm việc tiêu dùng năng lượng sưởi ấm trong nhà bằng cách tăng chi phí lắp đặt hệ thống cách nhiệt cho nhà cửa. Các hãng sản xuất xe hơi tìm cách chế ra những loại xe nhỏ hơn với động cơ tiêu thụ năng lượng ít hơn để thoả mãn nhu cầu đi lại.
Cuối cùng, bài toán duy trì này cũng không hoàn toàn ổn thỏa. Con người nhận thấy khi nhà cửa bị đóng kín để chống lại cái lạnh bên ngoài, không khí sẽ không lưu thông tốt. Khí radon từ lòng đất bốc lên có thể bị đọng lại trong căn nhà, cùng với sự bốc hơi của các chất keo, chất dẻo, sơn, chất bịt kín, formica, gây bất lợi cho sức khỏe. Vậy là trong khi tiết kiệm được một ít chi phí năng lượng, chúng ta phải trả giá bằng những bệnh dị ứng và những bệnh thuộc hệ miễn dịch.
Chúng ta sẽ không thể “bảo vệ giữ gìn” năng lượng mà không làm ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân. Mọi người cần nhận thức được rằng để giảm mức tiêu thụ năng lượng không thể không có những hi sinh cá nhân, và những hi sinh này không quá lớn.
Tương lai rất bất định. Có lẽ chúng ta phải thực sự thắt lưng buộc bụng và huy động những nguồn năng lượng phù hợp với những thách thức về năng lượng. Một số nhà quan sát tin rằng lượng chất đốt còn lại dưới lòng đất cần phải được dự trữ cho nông nghiệp và những ngành công nghiệp quan trọng. Một số nhà tương lai học còn nêu ý kiến cho rằng việc cắt giảm năng lượng là cấp thiết đến mức phải huy động nỗ lực của toàn thể dân chúng giống như đã từng làm trong giai đoạn chiến tranh thế giới.
Ai có thể biết được liệu một lúc nào đó trong tương lai chúng ta sẽ buộc phải từ bỏ xe hơi? Vận chuyển nhanh bằng máy bay sẽ trở thành xa xỉ. Nhà kinh tế học Lothar Mayer đã gợi ý rằng, có lẽ mỗi người khi sinh ra cần được cấp một chiếc thẻ thông minh (một chip điện tử) thông báo cho người đó biết mình đã được chia bao nhiêu phần năng lượng dự trữ của trái đất, để người đó tự điều chỉnh cách sử dụng năng lượng của mình trong toàn bộ cuộc đời: Dành cho một chiếc xe hơi, hay một chuyến bay máy bay, hoặc sưởi ấm nhà cửa, vv.
Sự nóng lên toàn cầu
Khoảng 10.000 năm trước đây, nhân loại đã phải đối mặt với một cuộc biến đổi khí hậu nghiêm trọng khi nước đóng băng tiến tới bao phủ lên hầu hết miền bắc châu Âu, Nga và Bắc Mỹ. Hậu quả là những cuộc di cư ồ ạt của dân chúng chạy khỏi vùng băng tuyết, rồi những cuộc di cư trở về khi băng đã tan. Thời kì đóng băng cũng là cơ hội để nhiều nhóm người châu Á vượt qua băng tuyết di cư sang Alaska, từ đó họ di chuyển xuống toàn bộ châu Mỹ.
Ngày nay, chúng ta cũng bắt đầu trải qua. một giai đoạn biến đổi khí hậu nghiêm trọng, nhưng không phải là băng giá, mà là hiện tượng nóng lên toàn cầu. Đây là cái giá chúng ta phải trả cho tất cả những tiến bộ đã đạt được và cho việc sử dụng năng lượng vô tội vạ trong thế kỉ 20.
Một phần ánh sáng mặt trời sau khi tới trái đất bị phản xạ để đi vào sâu trong không gian. Nhưng những khí gas hình thành tự nhiên trên tầng cao của khí quyển, bao gồm dioxide carbon, methane, và nitrous oxide, đã bẫy những tia sáng phản xạ này và hướng chúng quay trở lại trái đất. Hiệu ứng đó giống như những tấm kính trong nhà kính làm cho nó nóng lên ở bên trong nhiều hơn bên ngoài. Từ đó khái niệm “hiệu ứng nhà kính” ra đời.
Từ khi con người bắt đầu tiến hành công nghiệp hoá và phổ biến rộng rãi việc đốt các nhiên liệu dưới lòng đất - than, dầu mỏ, xăng, khí đốt tự nhiên - chất dioxide carbon chứa trong bầu khí quyển của trái đất đã tăng vọt. Hậu quả tất yếu là sự nóng lên toàn cầu. Một số nhà khoa học dự đoán trong vòng năm mươi năm nữa, nhiệt độ trung bình sẽ tăng thêm 5°C - xảy ra đúng vào lúc những nguồn nhiên liệu trên cạn kiệt!
Có vẻ như 5°C chẳng đáng kể lắm. Nói chung, nó nói lên rằng nhiệt độ trung bình sẽ nóng hơn trong cả mùa đông lẫn mùa hè. Có vẻ như đó không phải một cái giá quá đắt phải trả, nhưng thực ra hậu quả toàn cục có thể thảm hại hơn rất nhiều. Sự nóng lên sẽ không diễn ra đồng đều tại mọi nơi trên thế giới; mà sẽ gây ra những nhiễu loạn thời tiết cục bộ. Trong khi nơi này phải chịu nạn hạn hán khô nẻ thì nơi khác lại bị mưa lụt nặng nề. Sự tan chảy biển băng ở Bắc cực và Nam cực cùng với băng tuyết trên núi cao sẽ làm cho mực nước biển dâng cao, gây ra nạn lụt tại các vùng ven biển và có thể nhấn chìm nhiều thành phố ven biển. Sự biến đổi thời tiết cùng với những luồng nước hình thành do băng tan chảy cũng sẽ làm thay đổi các dòng hải lưu trong đại dương. Một mối lo lắng lớn đang tập trung vào dòng hải lưu Gulf Stream (ở phía bắc Đại Tây Dương). Nếu hướng của nó thay đổi thì trong khi những phần khác của thế giới bị nóng lên, Bắc Âu sẽ bị chìm trong tình trạng đóng băng bán phần.
Một mối lo ngại hơn nữa là tốc độ mau lẹ của hiện tượng nóng lên. Hệ sinh thái cân bằng gồm động vật, côn trùng, thực vật, cây cối có thể thích nghi với những biến đổi nhỏ của khí hậu. Nhưng một khi nhiệt độ tăng quá nhanh và quá cao, toàn bộ hệ sinh thái sẽ bị đe doạ. Nếu thời tiết biến đổi chậm thì cây cối và thực vật sẽ đủ thời gian để di chuyển tới những vị trí thích hợp. Nhưng nếu sự thay đổi khí hậu diễn ra quá nhanh thì sự di chuyển để thích nghi sẽ không kịp. Do đó, sự tăng nhiệt độ trong vài thập kỉ sẽ xoá sạch những cánh rừng lớn và phá vỡ hệ cân bằng sinh thái.
Các chính phủ trên thế giới đã lên tiếng cảnh báo khả năng nóng lên toàn cầu và thảo luận những biện pháp nhằm giảm thiểu số lượng dioxide carbon thải vào bầu khí quyển. Nhưng chỉ có thời gian mới nói cho chúng ta biết những biện pháp này có hiệu quả đến mức nào, nếu những biện pháp đó được thực thi.
Kết luận
Chương này chỉ mới đụng chạm đến một vài vấn đề, như những mối nguy hiểm và những “nhiễu loạn” thách thức mỗi chúng ta và cuộc sống tập thể của chúng ta trên hành tinh. Chúng ta có thể đã nghiên cứu những vấn đề như lương thực biến đổi gen, khủng hoảng nguồn nước, làm thế nào chôn rác thải hạt nhân, và một loạt các vấn đề khác. Nhưng nguyên lí chung trong mọi trường hợp vẫn như nhau. Chúng ta đối mặt với một loạt vấn đề về sinh thái và môi trường do sự thiếu ý thức của con người gây ra. Chúng ta thường xuyên tạo ra những công nghệ mới, vật liệu mới, và sản phẩm mới, nhưng chúng ta không bao giờ có thể dự đoán chính xác 100% tác động của chúng đối với xã hội và môi trường sẽ ra sao. Một số thông tin luôn luôn bị chúng ta bỏ lỡ. Một số rủi ro luôn luôn không nhìn thấy trước được. Một số khía cạnh bị che đậy của tự nhiên có thể có nhiều ý nghĩa hơn ta tưởng.
Vậy con người phải làm gì nếu không thể kiểm soát thế giới xung quanh một cách đầy đủ? Điểm chủ yếu của các kế hoạch và chính sách sẽ là gì nếu chúng ta không thể thực sự đoán biết tương lai? Phải chăng chúng ta đã may mắn khi thức tỉnh ra rằng chúng ta đã chẳng làm gì để ngăn chặn cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang phải đối mặt?
Theo tôi, câu trả lời là phải nhìn vào mô hình của bản thân tự nhiên. Cuộc sống tồn tại ở khắp mọi nơi trên hành tinh, kể cả ở những nơi tưởng như không thể có sự sống như dưới đáy sâu đại dương, nơi ánh sáng không thể chiếu xuống, bên trong núi lửa và lò phản ứng hạt nhân. Cuộc sống đã thích nghi với những biến đổi khí hậu khắc nghiệt trong quá khứ. Bệnh tật, như những biểu hiện đa dạng của cuộc sống, tìm được cách phá hỏng những kháng thể và hệ miễn dịch của chúng ta.
Tự nhiên luôn luôn thắng nhờ tính phong phú và dư thừa của nó. Sự dư thừa làm cho tự nhiên có bề ngoài tưởng như vô tổ chức và kém hiệu quả (vì chúng ta thường coi tiết kiệm mới là hiệu quả và có tổ chức). Nhưng tự nhiên sống sót được chính là nhờ bởi sự dư thừa và sự nhân bản số lượng tới vô hạn. Chẳng hạn, chỉ cần một tinh trùng của người nam thụ thai với một trứng của một phụ nữ để tạo nên một con người, nhưng một người nam có thể tạo ra hàng trăm hàng ngàn tinh trùng trong mỗi lần xuất tinh.
Hãy nhìn vào bên vệ đường và quan sát hàng vạn ngọn cỏ, rong rêu và hoa lá khác nhau. Nhặt một nắm đất lên ta sẽ thấy rất nhiều sinh vật nhỏ li ti chạy xung quanh. Tự nhiên vô cùng đa dạng và dư thừa.
Tự nhiên sản xuất quá tải. Tự nhiên không bằng lòng với việc tạo ra một loài chim, một loài cá, một loài cây, mà bùng nổ thành một thế giới đa dạng vô hạn. Nâng một hòn đá lên xem, đi vào rừng sâu, chọc thủng một thân cây đã chết, bạn sẽ thấy những hệ sinh thái bên trong những hệ sinh thái, tất cả tập hợp lại thành những mạng lưới vô cùng phức tạp của sự cộng sinh và tương hỗ.
Đó là lí do giúp tự nhiên sống sót. Tự nhiên không chỉ tạo ra đúng một loại táo, một loại khoai tây, hoặc một loại lúa mì mà rất nhiều loại của những sinh vật đó, và trong khi một loài sinh vật dễ bị tổn thương bởi sự tấn công của một loại bệnh dịch nào đó thì những loài khác vẫn tồn tại. Khi nấm hoặc bệnh dịch tấn công một cánh đồng trong một trang trại thì toàn bộ hoa màu của trang trại đó có thể mất hết. Nhưng nếu người ta trồng hoa màu khắp nơi, hoặc trồng trong phạm vi rộng hơn nhiều loại hoa quả và hoa màu thì chắc chắn chỉ có một tỉ lệ nào đó của cây trồng bị tiêu diệt mà thôi.

Hình 7.4. Tự nhiên vô cùng đa dạng và dư thừa. Và đây chính là bài học vĩ đại của tự nhiên mà chúng ta có thể học hỏi
Tự nhiên mở ngỏ cho các lựa chọn khác nhau. Tự nhiên bao bọc toàn bộ cơ sở nền móng của nó. Tự nhiên không tạo ra một kế hoạch duy nhất mà tạo ra nhiều kế hoạch khác nhau. Tự nhiên không có một chính sách duy nhất cho tương lai. Và đây chính là bài học vĩ đại của tự nhiên mà chúng ta có thể học hỏi.
Tất nhiên là chúng ta vẫn phải lập kế hoạch và tạo ra các chính sách, nhưng khi chúng ta làm những việc này, chúng ta phải thừa nhận rằng một số yếu tố trong bất kì tình huống nào đã nằm ở phía bên kia khả năng kiểm soát của chúng ta và rằng không có kế hoạch hoặc chính sách nào có thể bao hàm toàn diện và có thề tính được tất cả các khả năng có thể có đối với tương lai. Chính sách của chúng ta và các tổ chức của chúng ta cần có tính linh hoạt mềm dẻo trong cấu trúc nội tại giống như những gì đã được biểu lộ trong tự nhiên.
Trớ trêu thay, trong phân tích cuối cùng ở trên, tất cả chúng ta cần phải bớt áp đặt hơn. Có thể sẽ là một ý hay nếu có một hoặc hai người mơ mộng trong mọi doanh nghiệp - họ có thể không làm ra nhiều sản phẩm như những người khác nhưng một ngày nào đó trực giác và sức tưởng tượng của họ sẽ trở nên quan trọng. Có thể sẽ hữu ích khi có một người lập dị không phù hợp lắm với môi trường xung quanh vì những suy nghĩ khác biệt với mọi người. Tuy nhiên, khi tình thế thay đổi theo cách không dự tính được thì cách suy nghĩ khác biệt đó có thể sẽ tạo ra một kết quả tốt. Không nhất thiết mọi thứ đều phải được tính toán trong một hệ thống. Nếu có khả năng điều chỉnh để thay đổi thì sẽ phải có chỗ để thực hành ý tưởng.
Tài khéo léo và sáng tạo của con người là vô hạn. Chúng ta cần các tổ chức của chúng ta, các chính phủ của chúng ta, và các phương phằp tiếp cận của chúng ta hướng tới tương lai để phản ánh chỉ một chút thiên tư được di truyền của chúng ta.
❀ ❀ ❀
[1] Một phương pháp được gọi là “Duck and cover” (Con vịt và tấm lá chắn) đã được dạy cho học sinh ở Mỹ trong những năm từ cuối thập kỉ 40 đến những năm 80 của thế kỉ 20. Năm 1964, phương pháp này cũng được phổ biến ở Anh. Tên gọi trên dần dần trở nên phổ biến và lan sang các lĩnh vực truyền thông, computer games, nhưng càng ngày người ta càng nhận thấy phương pháp này là vô ích (ND).
[2] Trứng gà nuôi “sạch”, không dùng bất kì loại thuốc kích thích nào (ND).
[3] “Trickle-down economics” là một lí thuyết kinh tế cho rằng nếu những người có thu nhập cao nhất đầu tư nhiều hơn vào hạ tầng cơ sở thương mại và thị trường công bằng thì sẽ tạo ra nhiều hàng hoá giá rẻ hơn, và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho những cá nhân thuộc tầng lớp trung lưu và lớp dưới hơn (ND).
[4] Học viện thường rất lỏng lẻo, đó là những nhóm không chính thức, nơi mọi người có thế đến với nhau để trao đổi ý tưởng, kích thích và thách thức lẫn nhau. Ví dụ điển hình là Viện hàn lâm Platon ra đời trong thời Phục hưng ở Florence, dưới sự lãnh đạo của Marsilio Ficino và sự bảo trợ của Lorenzo di Medici. Nó nằm trong một biệt thự ở các ngọn đồi ở trên thành phố nơi mà các nhà triết học, nhà thơ và nghệ sĩ (tầm cỡ như Michelangelo) có thể gặp mặt đế trao đổi với nhau. Cũng những hoạt động như thế đã diễn ra trong các salon ở Pháp thế kỷ 19. Học viện Black Mountain ở Bắc Carolina là một trung tâm xúc tác trao đổi về nghệ thuật, âm nhạc và văn học trong những năm đầu thập niên 50 của thế kỉ 20. Tại đó các nhà thơ Robert Creeley và Charles Ol¬son đã thử nghiệm một cách tiếp cận thơ ca tự do hơn (mặc dù vẫn chặt chẽ), và thông qua tạp chí Black Mountain đã tập hợp những người đồng tư tưởng như Alan Ginsberg, William Carlos Williams và Gary Snyder. Trung tâm Black Mountain cũng là nơi mà nhà soạn nhạc John Cage đã gặp nghệ sĩ Robert Rauschenberg. Nghệ thuật của người này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến người kia. Hiện nay tôi (tác giả) đang cố gắng tạo ra một viện hàn lâm trong ngôi làng nhỏ ở Pari, Ý, nơi tôi đang sống. Viện Hàn lâm Pari là một nhóm các nghệ sĩ, nhà tâm lí học và các học giả thỉnh thoảng gặp gỡ để thảo luận về xã hội đương đại của chúng ta và các giá trị của nó.
[5] Thật mỉa mai và bi kịch rằng những dòng này được viết trước khi xảy ra cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, phá huỷ toà tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới tại New York. Lí thuyết phân tích rủi ro có thể rất hay khi đưa ra được một ước lượng định lượng đối với xác suất của một sự kiện có thể thấy trước (dù xác suất đó rất nhỏ), nhưng sẽ không bao giờ có thể “dự đoán được cái không thể dự đoán được”. Chắc chắn là các kiến trúc sư xem xét khả năng cháy trong toà tháp và thậm chí đã tính tới khả năng bị phá huỷ bởi sự va đập của một chiếc máy bay hạng nhẹ. Khung thép đã được bảo vệ bằng một loại sơn phủ đặc biệt cho phép chịu đựng được nhiệt độ cao trong một khoảng thời gian nhất định mà thép vẫn không bị mất độ cứng. Cái không được tính đến là hậu quả của một va chạm bởi một chiếc máy bay khổng lồ chứa đầy xăng dầu.
[6] Nền kinh tế không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại, mà còn cho tương lai, trên cơ sở không phá huỷ môi trường và những nền tảng khác của cuộc sống (ND).
[7] DDT còn vô tình giết chết cả những loài sâu bọ có ích, và đó là một trong những thất bại của cuộc “Cách mạng xanh” (Green revolution) (ND).
[8] Một thành ngữ Tây phương, ý nói có nguy cơ mất mọi thứ vì đặt cược toàn bộ nỗ lực hoặc vốn liếng của mình vào một ý đồ hoặc một kế hoạch nào đó (ND).
[9] Nguyên gốc “Of Mice and Men”, là cách nói vắn tắt của câu ngạn ngữ “Best-laid plans of mice and men often go astray”, ngụ ý rằng một việc dù được tính toán lập kế hoạch cẩn thận đến mấy cũng vẫn có thể hỏng (ND).
[10] Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc công bố năm 2008, dân số thế giới vào năm 2010 sẽ là khoảng 6 tỉ 900 triệu người (ND).