Lúc ấy vào khoảng sáu giờ ba mươi phút khi Toby lái xe vào bên trong bãi đậu xe phía sau tòa nhà cao hai tầng bằng gạch nằm tại số 720 đường Albany. Bà lái chạy ngang qua ba chiếc xe giếng hệt nhau, mỗi chiếc đều có dòng chữ BANG MASSACHUSETTS, TRƯỞNG PHÒNG THANH TRA Y KHOA ghi bên hông xe, và bà cho xe vào đậu trong ngăn gần phía cửa sau tòa nhà. Mưa, cả ngày đe dọa sẽ đổ xuống, cuối cùng bắt đầu rơi thành hạt làm trắng bầu trời âm u. Lúc ấy là cuối tháng Mười, và màn đêm buông xuống sớm trong những ngày này; bà đã cảm thấy nhớ buổi hoàng hôn ấm áp kéo dài của mùa hè. Tòa nhà trông giống một hầm mộ với tường gạch đỏ vây quanh.
Bà bước ra khỏi xe và đi băng ngang qua bãi đậu xe, đầu cúi xuống trong màn mưa. Ngay lúc bà đến cổng vào phía sau, cửa vụt mở ra. Đầu bà vụt ngẩng lên ngạc nhiên.
Một người đàn ông đứng ở cửa vào, bóng dáng của một vóc dáng cao lớn hiện ra phía sau ánh đèn hành lang. – Bác sĩ Harper?
- Vâng.
- Tôi là Dan Dvorak. Họ thường đóng cửa vào lúc sáu giờ tối, vậy tôi phải chờ bà đến. Mời vào.
Bà bước vào trong tòa nhà và đưa tay chùi nước mưa trên mắt. Chớp mắt trước ánh đèn, bà tập trung nhìn vào gương mặt Dvorak, làm hòa hợp hình ảnh bà có được trong đầu khi nói chuyện bằng điện thoại với ông ta và người đàn ông bệ vệ đang đứng trước mặt bà. Ông ta trông già như bà nghĩ, vào độ tuổi trên bốn mươi, mái tóc đen của ông đã điểm bạc khá nhiều và rối bù, như thể ông ta đã bực dọc đưa tay vuốt nó. Hai mắt ông, màu xanh sáng, nằm sâu đến nỗi hình như chúng phóng ánh nhìn tới bà từ những lỗ sâu âm u. Mặc dầu ông xoay xở để mỉm cười, bà có cảm giác hình như nó gượng gạo; nó chỉ nở ra thật nhanh, nhung hấp dẫn, trên hai bờ môi, rồi biến mất, thay thế vào đó bằng một nét mặt bà không thể thăm dò. Bâng khuâng, có thể. Lo lắng.
- Phần lớn người ta về nhà sau giờ làm việc. – Ông ta nói. – Vì vậy ở đây thật sự yên lặng như một nhà xác ngay lúc này.
- Tôi cố đến đây càng sớm càng tốt, theo khả năng của tôi, nhưng tôi phải sắp xếp với người vú nuôi.
- Vậy bà có con nhỏ à?
- Không, đây là vú nuôi cho mẹ tôi. Tôi không thích để bà một mình.
Họ bước lên cầu thang, Dvorak hơi nghiêng người tới trước để dẫn đường, chiếc áo choàng trắng bay phần phật dọc theo hai bên đùi ông. – Tôi xin lỗi đã gọi bà tới đây với lời báo trước quá cận như thế.
- Ông đã từ chối mọi cuộc gọi của tôi, và rồi đột nhiên ông có chuyện phải nói với tôi trong đêm nay. Tại sao vậy?
- Tôi cần những quan điểm lâm sàng của bà.
- Tôi không phải là một nhà nghiên cứu bệnh học. Ông là người đã thực hiện cuộc phẫu thuật tử thi.
- Nhưng bà đã khám cho ông ta lúc ông ta còn sống.
Ông đẩy cửa ở đầu cầu thang vào tầng thứ hai và đi dọc theo hành lang, di chuyển một cách nóng nảy nhanh tới trước đến nỗi Toby phải chạy lon ton mới theo kịp ông ta.
- Có một bác sĩ chuyên khoa thần kinh được tham khảo trong trường hợp đó. – Bà ta nói. – Ông đã nói chuyện với ông ta chưa?
- Ông ta không thực hiện cuộc khảo sát cho đến sau khi bệnh nhân trở nên hôn mê. Lúc đó có rất ít dấu hiệu và triệu chứng để làm tiếp. Khác hơn sự hôn mê.
- Còn Wallenberg thì sao? Ông ta là bác sĩ chăm sóc bệnh nhân.
- Wallenberg vẫn khẳng định đó là sự đột quỵ.
- Tốt. Có phải vậy không?
- Không. – Ông mở cửa ra và bật công tắc trên tường lên. Đó là một phòng làm việc được trang bị các đồ đạc thực tiễn như bàn sắt, ghế và một tủ đựng hồ sơ. Văn phòng của một người có đầu óc tổ chức kỹ lưỡng, Toby nghĩ, nhìn vào đống giấy tờ được xếp một cách gọn gàng, vào những cuốn sách được xếp trên giá. Nét cá nhân duy nhất trong phòng làm việc là một cây dương xỉ rõ ràng bị bỏ quên nằm trên tủ đựng hồ sơ, và một tấm hình trên bàn. Một thiếu niên, đầu tóc bờm xờm và nheo mắt lại trong ánh nắng trong lúc cậu ta giơ cao con cá hồi trúng giải lên. Gương mặt thằng bé giống y như Dvorak. Bà ngồi xuống chiếc ghế bên bàn làm việc.
- Bà có thích dùng cà phê không? – Ông ta hỏi.
- Tôi muốn có được một vài thông tin hơn. Thật sự, ông đã tìm được gì trong cuộc phẫu thuật tử thi?
- Tổng quát mà nói, không có gì.
- Không có bằng chứng nào về sự đột quỵ?
- Chẳng có sự nghẽn mạch máu và cũng chẳng có xuất huyết.
- Còn trái tim thì sao? Các động mạch vành?
- Rõ ràng. Thật vậy. Tôi chưa bao giờ thấy có cái động mạch vành sạch sẽ như thế ở vào độ tuổi của ông ta. Không có bằng chứng của sự nhồi máu, còn rõ rệt hơn mặt khác. Đó không phải chết vì bệnh tim. – Ông ta ngồi xuống sau bàn giấy, ông nhìn bà mãnh liệt đến nỗi bà phải cố gắng lắm mới giữ cho mắt nhìn thẳng vào ông ta được.
- Chất độc?
- Chỉ mới một tuần. Sàng lọc ban đầu cho thấy có chất diazepam và dilantin. Cả hai đều được bệnh viện chỉ định để trị các sự lên cơn. – Ông chồm người ra phía trước. – Tại sao bà quá chú tâm về việc phẫu thuật tử thi?
- Tôi đã bảo với ông. Ông ta là bệnh nhân thứ hai. Tôi đã từng thấy những triệu chứng biểu hiện y như thế trước đó. Tôi muốn có một sự chẩn đoán.
- Hãy kể lại cho tôi nghe các triệu chứng. Tất cả những gì bà còn nhớ.
Bà thấy việc đó khó khăn để tập trung vào khi đôi mắt xanh ấy mãnh liệt tập trung nhìn vào mặt bà. Bà ngồi trở lại, nhìn vào chồng giấy trên bàn làm việc của ông ta. Bà tằng hắng.
- Rối loạn. – bà ta nói. – Cả hai đều được đưa đến phòng cấp cứu mất phương hướng về thời gian và không gian.
- Kể cho tôi nghe đầu tiên về ông Parmenter.
Bà gật đầu. – Xe cứu thương mang ông ta đến sau khi con gái ông ta thấy ông ta trượt chân ở nhà. Ông ta không nhận ra con gái mình và hai đứa cháu ngoại. Từ những gì tôi còn có thể nhớ được, ông ta có những ảo giác, nghĩ rằng ông ta có thể bay được. Khi tôi khám cho ông ta, tôi không tìm thấy bằng chứng nào về việc chấn thương. Thuộc về thần kinh, dấu hiệu khoanh vùng duy nhất hình như là một cuộc trắc nghiệm không bình thường từ-ngón-tay-đến-lỗ-mũi. Lúc đầu tôi nghĩ đó là một sự đột quỵ của tiểu não. Nhưng có nhiều triệu chứng khác tôi không thể cắt nghĩa được.
- Thí dụ?
- Ông ta hình như thấy hình ảnh méo mó. Ông khó nhọc nhận ra việc tôi đứng cách xa ông ta bao nhiêu. – Bà ta dừng lại, cau mày. – Ồ. Việc ấy cắt nghĩa được việc những tên lùn.
- Xin lỗi?
- Ông ta than phiền về những tên lùn đang ở trong nhà ông ta. Tôi nghĩ ông ta muốn đề cập đến hai đứa cháu ngoại của ông ta. Chúng vào khoảng mười tuổi.
- Được, vậy ông ta đã nhìn thấy những hình ảnh méo mó và các dấu hiệu về tiểu não.
- Và còn có những sự lên cơn.
- Vâng, tôi đã thấy bà nêu lên những việc ấy trong các tài liệu ghi chú của bà ở phòng cấp cứu. – Ông với tay lấy một tập hồ sơ trên bàn viết và mở nó ra. Bà nhìn thấy đó là một bản photocopy về hồ sơ bệnh lý của các bệnh nhân tại bệnh viện Springer. – Bà mô tả một lần lên cơn tập trung ở đầu cánh tay phải.
- Các sự lên cơn tái diễn liên tục trong suốt thời kỳ ông ta nằm viện, mặc dầu có thuốc chống co giật. Đó là những gì các cô y tá nói với tôi.
Ông lật các trang hồ sơ. – Wallenberg ít thấy đề cập đến các chuyện đó. Nhưng tôi có thấy một đơn kê thuốc ở đây, thuốc dilantin. Ông ta có ký tên vào trong tờ giấy này. – Ông nhìn lên về phía bà ta. – Rõ ràng, bà đúng về các sự lên cơn co giật.
Tại sao tôi lại không đúng? Bà nghĩ, đột nhiên bực bội. Bây giờ bà là người duy nhất chồm người tới trước.
– Tại sao ông không nói cho tôi biết ông đang tìm cách chẩn đoán cái gì?
- Tôi không muốn gây ảnh hưởng đến ký ức của bà về trường hợp này. Tôi cần sự không thành kiến trong việc hồi tưởng của bà.
- Nói thẳng với tôi có thể tiết kiệm cho chúng ta rất nhiều thời gian.
- Bà bị áp lực về thời gian?
- Đêm nay tôi không có đi làm, bác sĩ Dvorak. Tôi có thể ở nhà để làm nhiều việc khác ngay lúc này.
Ông im lặng nhìn bà trong một lát. Rồi ông tựa người ra sau và nặng nề thở dài.
- Nhìn này, tôi xin lỗi vì đã lẩn tránh, nhưng điều đó đã làm cho tôi thức tỉnh một ít.
- Tại sao?
- Tôi nghĩ chúng ta đang đối phó với những tác nhân truyền nhiễm.
- Vi khuẩn? Vi rút?
- Cả hai đều không phải.
Bà cau mày nhìn ông ta.
- Vậy chuyện gì khác ở đây? Chúng ta nói đến những vật ký sinh?
Ông ta đứng dậy.
- Tại sao bà không cùng tôi xuống phòng thí nghiệm? Tôi sẽ cho bà xem các bản vật.
Họ dùng thang máy đi xuống tầng hầm và bước ra ngoài trong một hành lang trống trơn. Bây giờ đã hơn bảy giờ. Bà biết phải có ai đó đang làm nhiệm vụ trong nhà xác, nhưng vào lúc này, đi dọc theo hành lang im lặng, hình như chỉ có bà và Dvorak một mình trong cái tòa nhà này. Ông ta dẫn bà đi qua một cái cửa và bật đèn tường lên.
Đèn néon bật sáng, ánh sáng chói mắt phản chiếu trên các mặt phẳng trắng bóng. Bà nhìn thấy một cái tủ lạnh, bể rửa bằng thép không gỉ, trên đầu, một cái quầy những dụng cụ phân tích định lượng và một chiếc máy tính, nối mạng. Xếp hàng trên kệ là các hũ đựng các cơ quan nội tạng của con người, được ngâm trong chất bảo quản. Cái mùi ngột ngạt của chất Formalin bay khắp phòng.
Ông đi tới một trong những kính hiển vi và bật công tắc lên. Chiếc kính hiển vi này có thêm một thị kính trợ huấn; cả hai đều có thể nhìn thấy cùng lúc một trường quan sát. Ông đặt bản vật dưới kính và ngồi xuống chỉnh tiêu cự.
- Nhìn này.
Bà kéo ra một chiếc ghế đẩu. Cúi đầu bà xuống sát cạnh bên ông, bà đưa mắt nhìn vào thị kính. Những gì bà trông thấy giống như những bọt nằm trong biển màu hồng.
- Tôi học qua môn nghiên cứu mô đã lâu lắm rồi. – Bà công nhận. – Xin gợi ý giùm tôi.
- Được thôi. Bà có nhận ra được cái mô chúng ta đang nhìn thấy?
Bà đỏ mặt lên vì bối rối. Phải chi bà có thể đọc thẳng được một mạch câu trả lời. Thay vào đó, bà đau lòng nhận ra sự thiếu hiểu biết của bà. Và trong sự im lặng đang căng ra giữa hai người. Trong lúc bà áp mắt sát vào thị kính bà nói:
- Tôi phải công nhận điều đó, nhưng không, tôi không thể nhận ra được nó.
- Đó là vì trong chương trình học của bà không có phần đó, bác sĩ Harper. Bản vật này là một mô quá bất thường đến nỗi rất khó mà nhận ra nó. Những gì chúng ta đang nhìn thấy là một bản vật của vỏ não của Angus Parmenter, nhuộm PAS. Màu hồng là nền mô thần kinh, với các hạch tế bào được nhuộm tía.
- Những không bào này là gì?
- Chính xác đó là câu hỏi của tôi. Vỏ não bình thường không có những lỗ bé tí đó.
- Kỳ lạ thật. Nó trông giống miếng bọt biển màu hồng trong nhà bếp tôi.
Ông ta không trả lời. Lúng túng, bà ngẩng đầu lên và thấy ông ta đang nhìn bà. – Bác sĩ Dvorak?
- Bà nhận ra nó ngay tức thì. – Ông ta nói thì thầm.
- Cái gì?
- Chính xác nó trông giếng như thế. Một chiếc bọt biển màu hổng. – Ông ngồi xuống lại và đưa tay lên chùi mắt. Dưới ánh đèn chói chang của phòng thí nghiệm, bà nhìn thấy nét mặt mệt mỏi của ông ta, râu đang mọc rậm ra. – Tôi nghĩ chúng ta đang đối phó với chứng bệnh não giống như bọt biển. – Ông ta nói.
- Ông muốn nói giống như bệnh Creutzfeldt-Jakob[1]?
Ông ta gật đầu.
- Nó giải thích cho những thay đổi bệnh lý trên bản vật. Cũng như các hình ảnh lâm sàng. Tinh thần xấu đi. Nhìn không rõ. Những cơn co giật của cơ thể.
- Vậy chúng không phải là sự lên cơn tập trung.
- Không. Tôi nghĩ những gì bà thấy là chứng co giật ngoài ý muốn của cơ bắp. Sự co thắt lặp lại dữ dội, bắt đầu bằng một tiếng động lớn. Dilantin không thể kiểm soát được nó.
- Bệnh Creutzfeldt-Jakob rất hiếm phải không, thưa ông?
- Một phần triệu. Nó có khuynh hướng xảy ra nơi những người lớn tuổi trên một căn bản không thường xuyên.
- Nhưng có những cụm trường hợp. Năm ngoái, tại Anh cát lợi.
- Bà đang nghĩ về bệnh bò điên. Nó hình như là một biến thể của bệnh Creutzfeldt-Jakob. Có thể nó cùng là một căn bệnh, chúng ta không biết chắc. Nhũng nạn nhân Anh bị nhiễm vì án thịt bò của những con bò có bộ não giống như bọt biển. Dó là một sự bùng phát rất hiếm, và từ đó nó đã không còn thấy xuất hiện nữa.
Bà nhìn lại vào trong kính hiển vi. Bà nói nhỏ:
- Có khả năng chúng ta đang có một cụm ở đây không? Angus Parmenter không phải là bệnh nhân đầu tiên tôi đã thấy biểu hiện những triệu chứng đó. Harry Slotkin cũng thế. Ông ta đến phòng cấp cứu nhiều tuần trước khi Parmenter đến, với cùng một biểu hiện. Rối loạn, nhìn thấy không rõ ràng.
- Đó là những dấu hiệu không rõ ràng. Bà cần phải có một phẫu thuật cơ thể mới xác định được nó.
- Điều ấy không thể thực hiện được đối với ông Slotkin. Ông ta vẫn còn mất tích.
- Vậy không có cách nào để thực hiện được việc chẩn đoán.
- Họ cùng sống cả hai trong một phức hợp chung cư. Cả hai đều có thể tiếp xúc với cùng một mầm bệnh.
- Bà không bắt bệnh CJD (Creutzfeldt-Jakob) như bắt một bệnh cảm lạnh thông thường. Nó được truyền đi bởi các tác nhân lây nhiễm vi sinh. Một protein bất thường của tế bào. Nó đòi hỏi mô phải được phơi bày ra. Một cuộc cấy ghép màng sừng, thí dụ.
- Những người dân Anh mắc bệnh đó vì ăn phải thịt bò. Nó có thể xảy ra tại đây không? Họ có thể cùng nhau chia sẻ một buổi ăn.
- Đàn gia súc tại Hoa Kỳ lành mạnh. Chúng ta không có bệnh bò điên.
- Làm sao chúng ta biết được điều đó một cách chắc chắn? Bây giờ bà hỏi vặn, luống cuống theo đuổi dòng suy nghĩ mới đó. Bà nhớ lại cái đêm ấy tại phòng cấp cứu khi Harry được mang đến. Nhớ lại tiếng kêu vang của cái bễ sắt bị rơi xuống đất và rồi âm thanh cạ sát của hai chân Harry lên giường bệnh. – Chúng tôi có hai người đến cùng một phức hợp chung cư. Cả hai đều biểu hiện cùng các triệu chứng.
- Rối loạn cũng không đủ rõ ràng.
- Harry Slotkin có những gì tôi nghĩ là một cơn co giật tập trung. Bây giờ tôi nhận ra nó có thể là chứng co giật cơ bắp ngoài ý muốn.
- Tôi cần có cái xác để giảo nghiệm. Tôi không thể chẩn đoán Harry Slotkin nếu không có các mô thần kinh.
- Tốt, ông chắc chắn như thế nào về sự chẩn đoán của Angus Parmenter?
- Tôi sẽ gửi bản vật đến một bác sĩ chuyên khoa thần kinh để được xác nhận. Ông ta sẽ quan sát nó dưới kính hiển vi điện tử. Kết quả cần phải mất vài ngày nữa. – Bình thản, ông nói thêm:
- Tôi chỉ mong sao cho tôi sai.
Bà quan sát ông ta và bà nhận ra trong gương mặt ông có nhiều điều hơn cả sự lo lắng. Những gì bà thấy là sự sợ hãi.
- Tôi đã bị đứt tay. – Ông ta nói. – Trong khi thực hiện phẫu thuật. Trong lúc tôi cắt để gỡ bộ óc ra. – Ông lắc đầu, cười mỉa mai một cách kỳ lạ. – Tôi đã cắt mở ra hằng ngàn cái hộp sọ. Làm việc trên những cái xác có nhiễm HIV, viêm gan, ngay cả mắc bệnh dại. Tôi chưa bao giờ bị đứt tay. Rồi tôi có Angus Parmenter trên bàn mổ, và cái xác trông giống như chỉ có những nguyên nhân do tử vong bình thường. Nằm trong bệnh viện nhiều tuần, không có bằng chứng nào bị nhiễm trùng. Và tôi đã làm gì? Tôi cắt đứt ngón tay tôi. Trong lúc tôi làm việc trên cái bộ não khốn kiếp ấy.
- Sự chẩn đoán chưa được xác nhận. Nó có thể là vật do con người tạo tác. Có thể các bản vật không được chuẩn bị một cách đứng đắn.
- Đó là điều tôi hy vọng. – Ông nhìn vào kính hiển vi như thể đang nhìn vào một kẻ tử thù. – Tôi đặt tay vòng trong bộ não. Tôi không thể tìm ra lúc nào tệ hơn để cắt tay tôi.
- Điều đó không có nghĩa là ông đã bị nhiễm trùng. Cơ hội để ông vướng bệnh lúc này là cực kỳ nhỏ.
- Nhưng vẫn còn đó. Cơ hội vẫn còn đó. – Ông nhìn vào bà, và bà không thể nói ngược lại với ông ta. Cũng như bà không thể nào trấn an ông ta một cách giả tạo được. Im lặng, ít ra, là trung thực.
Ông tắt kính hiển vi đi. – Nó có một thời kỳ ủ bệnh rất lâu, hai năm cho đến khi tôi biết được. Ngay cả năm năm, tôi vẫn còn tự hỏi. Chờ đợi những dấu hiệu đầu tiên. Ít ra nó cũng là một cái chết không mấy đau đớn. Bắt đầu bằng chứng tâm thần phân liệt. Cái nhìn không rõ ràng, có thể là có ảo giác. Rồi tiến tới tình trạng mê sảng. Và cuối cùng rơi vào sự hôn mê… – Ông mệt mỏi nhún vai. – Tôi nghĩ nó hơn hẳn chết vì bệnh ung thư.
- Xin lỗi, – bà thì thầm, – tôi thấy mình có trách nhiệm…
- Tại sao?
- Tôi đòi hỏi phải có sự phẫu thuật tử thi. Tôi đặt ông vào một vị thế nguy hiểm.
- Tôi tự đặt tôi vào vị thế ấy. Cả hai chúng ta, bác sĩ Harper. Nó đến cùng với nghề nghiệp. Bà làm việc tại phòng cấp cứu, bà vướng bệnh lao. Hay bà để kim chích đâm vào và bà vướng bệnh viêm gan hay bệnh AIDS. – Ông lấy bản vật ra và đặt nó vào trong một chiếc khay. Rồi ông kéo tấm plastic che kính hiển vi lại. – Có rủi ro trong tất cả mọi nghề nghiệp, giống như có rủi ro khi thức dậy vào buổi sáng. Lái xe đi làm, đi đến hộp thư. Lên phi cơ. – Ông nhìn bà. – Sự ngạc nhiên không phải là chúng ta chết. Sự ngạc nhiên là chúng ta chết cách nào và lúc nào.
- Có thể có cách nào đó để làm dừng lại sự nhiễm trùng ở giai đoạn này. Có thể là một mũi kháng thể immunoglobulin.
- Không ăn thua gì. Tôi đã kiểm tra tài liệu.
- Ông đã thảo luận vấn đề này với bác sĩ của ông chưa?
- Tôi chưa đề cập vấn đề này với bất kỳ ai khác.
- Ngay cả với gia đình ông?
- Chỉ có con trai tôi, Patrick, và nó mới có mười bốn tuổi. Vào cái tuổi đó, nó cũng có quá đủ chuyện để phải lo phiền.
Bà nhớ lại tấm hình trên bàn làm việc, thằng bé đầu tóc bù xù tay giơ cao con cá hồi trúng giải. Dvorak nói đúng; một cậu bé mười bốn tuổi còn quá trẻ để giáp mặt với cái chết của một người thân.
- Vậy ông sẽ làm gì? – Bà ta hỏi.
- Bảo đảm trả tiền bảo hiểm nhân thọ đầy đủ. Và hy vọng điều tốt nhất. – Ông ta đứng dậy và với tay tắt đèn. – Tôi không thể làm gì hơn.
Robbie Brace ra mở cửa, người mặc một chiếc áo T-shirt đỏ và vận một chiếc quần ngắn đã sờn.
- Bác sĩ Harper. – Ông ta nói. – Bà đến đây nhanh quá.
- Cám ơn đã ra gặp tôi.
- Vâng, tốt, bà thực sự không gặp chúng tôi trong những giờ phút tốt đẹp nhất. Giờ đi ngủ. Bà biết không. Đầy tiếng rên rỉ và mặc cả đang diễn ra.
Toby bước qua cửa. Đâu đó trên lầu có tiếng con nít la khóc. Không phải tiếng la đau buồn, nhưng một tiếng la giận dữ, đi cùng với tiếng giậm chân và tiếng vật gì cứng rơi xuống sàn nhà.
- Chúng tôi mới có ba tuổi và đang học bài ý nghĩa của quyền lực. – Brace cắt nghĩa. – Cậu kia, cậu có tình yêu cha mẹ không? Ông cài chốt cửa lại và dẫn bà đi vào hành lang, ra phòng khách. Một lần nữa bà lại bị ấn tượng bởi thân hình đồ sộ của ông ta, hai tay ông ta vạm vỡ đến nỗi nó không thể từ vai duỗi thẳng ra được. Bà ngồi lên chiếc tràng kỷ, và ông ta ngồi vào ghế tựa đã mòn cũ.
Trên lầu tiếng la hét vẫn còn tiếp tục, khàn hơn và có điểm chút tiếng khụt khịt to, đầy kịch tính. Có cả giọng nói của một phụ nữ, bình thản nhưng kiên quyết.
- Đó là sự va chạm giữa những người khổng lồ. – Bryan nói, nhìn lên phía trên lầu. – Vợ tôi, bà ta tỏ ra cứng rắn hơn tôi. Tôi chỉ lăn ra giả chết. – Ông nhìn Toby và nụ cười tan biến dần. – Chuyện về Angus Parmenter ra sao rồi?
- Tôi vừa mới từ trung tâm thanh tra y khoa về. Họ đã có được sự chẩn đoán ban đầu: Bệnh Creutzfeldt-Jakob.
Brace lắc đầu kinh ngạc.
- Họ có chắc không?
- Nó vẫn còn cần được xác nhận bởi một bác sĩ chuyên khoa thần kinh. Nhưng triệu chứng khớp với sự chẩn đoán. Không phải chỉ với trường hợp Parmenter. Trường hợp của Harry Slotkin cũng thế.
- Hai trường hợp bệnh CJD? Đây giống như trường hợp bị sét đánh hai lần? Làm sao bà có thể xác nhận được chuyện đó?
- Được thôi, chúng ta không thể xác nhận được trường hợp của Harry vì không có cơ thể của ông ta. Nhưng chuyện gì nếu hai cư dân đến từ Brant Hill lại có cùng chứng CJD? Điều đó làm ông tự hỏi có một nguồn lây nhiễm chung. – Bà ta chồm tới trước. – Ông bảo với tôi Harry có một hồ sơ bệnh lý trong sạch.
- Đúng vậy!
- Ông ta có chịu sự phẫu thuật nào trong năm năm vừa qua hay không? Một cuộc cấy ghép màng sừng?
- Tôi không nhớ có trông thấy bất cứ chuyện gì giống như thế trong hồ sơ. Tôi đoán người ta có thể vướng bệnh CJD theo cách đó.
- Đã được báo cáo. – Bà ngưng lại. – Có cách khác bệnh ấy có thể bị lây nhiễm. Bằng cách chích hormone tăng trưởng của con người.
- Vậy…
- Ông bảo với tôi Brant Hill đang thực hiện những nghiên cứu về việc chích hormone cho những người lớn tuổi, ông nói các bệnh nhân đã có sự cải thiện về cơ bắp và sức mạnh. Có khả năng các ông đã tiêm các hormone đã bị nhiễm bệnh hay không?
- Hormone tăng trưởng không đến từ não bộ các người chết nữa. Nó đã được sản xuất.
- Chuyện gì nếu Brant Hill sử dụng một nguồn cung cấp đã cũ? Hormone tăng trưởng nhiễm bệnh CJD?
- Hormone tăng trưởng cũ đã biến mất khỏi thị trường lâu lắm rồi. Và Wallenberg đã áp dụng phương pháp chữa trị này lâu lắm rồi, từ khi ông ta còn làm việc tại viện Rosslyn. Tôi chưa bao giờ nghe một trường hợp bệnh CJD nào xảy đến với các bệnh nhân của ông ta.
- Tôi không quen với viện Rosslyn. Đó là cái gì thế?
- Trung tâm nghiên cứu bệnh tuổi già, tại Connecticut. Wallenberg làm việc tại đó như một nhà nghiên cứu trong nhiều năm, trước khi ông ta đến Brant Hill. Kiểm tra lại các tài liệu lão khoa – bà sẽ tìm thấy một số công trình nghiên cứu đến từ viện Rosslyn và nửa tá trang giấy với tên Wallenberg như là tác giả. Ông ta là người có uy tín lớn trong việc thay thế hormone.
- Tôi không biết việc đó.
- Bà phải ở trong ngành lão khoa mới biết được việc đó. – Ông đứng lên, biến vào trong một căn phòng bên cạnh, và quay trở lại với vài tờ giấy, ông đặt chúng lên bàn trước mặt Toby. Trên, đầu là một bản photocopy của một bài báo đến từ tờ báo của Hiệp Hội Lão Khoa Hoa Kỳ, 1992. Có tên ba tác giả trong đó. Tựa đề của bài báo là: “Đằng sau giới hạn Hayflick: kéo dài tuổi thọ ở Mức Độ Tế Bào”.
- Đó là một công trình nghiên cứu căn bản nhất. – Brace nói. – Giữ tế bào đến mức sống lâu nhất – giới hạn Hayflick – và cố gắng kéo dài nó ra bằng việc sử dụng hormone. Nếu bà chấp nhận cái ý kiến cho rằng tuổi già và cái chết là một quá trình phát triển của tế bào, rồi bà sẽ muốn làm việc để tiến tới việc kéo dài đời sống tế bào ra.
- Nhưng một số lượng tế bào chết nào đó là điều cần thiết cho sức khỏe.
- Chắc chắn. Chúng ta lúc nào cũng lột các tế bào chết ấy đi, tại các màng nhầy và da của chúng ta. Nhưng chúng ta lại tái sinh các tế bào khác. Những tế bào chúng ta không tái sinh được như tủy xương và não cùng các cơ quan cần cho sự sống khác. Chúng sẽ già và chết đi. Và kết quả là chúng ta sẽ chết.
- Và với việc sử dụng hormone ấy?
- Đó là điểm mấu chốt của công trình nghiên cứu. Hormone – hay các hormone phối hợp – sẽ kéo dài cuộc sống của tế bào? Wallenberg đã nghiên cứu việc đó từ năm 1990. Và ông tìm được vài kết quả hứa hẹn.
Bà nhìn lên ông ta.
- Ông già ở trong dưỡng đường ấy à? – Người đã đứng ra nhận một cuộc chiến đấu cao đẹp như thế?
Brace gật đầu. – Có lẽ ông ta có các cơ bắp và sức khỏe của một người trẻ trung hơn nhiều. Rủi thay, Alzheimer đã làm bộ não của ông ta hỗn độn. Hormone không giúp gì được cho việc ấy.
- Chúng ta đang nói về những loại hormone nào? Ông có nêu lên một hỗn hợp?
- Công trình nghiên cứu chấp nhận được cho thấy có sự hứa hẹn đối với hormone tăng trưởng, DHEA, melatonin, và testosterone. Tôi nghĩ cách điều trị hiện nay của Wallenberg có liên quan đến các tỉ lệ khác nhau của các hormone ấy, cũng có thể một vài loại hormone khác.
- Ông không chắc lắm?
- Tôi không có liên quan đến việc điều trị đó. Tôi chỉ chăm sóc cho các bệnh nhân của dưỡng đường. Này, nó là một mớ lộn xộn trên bầu trời ngay lúc này. Không ai biết nó tác dụng ra sao. Tất cả những gì chúng tôi biết, các tuyến nội tiết của chúng ta sẽ ngừng sản xuất hormone khi chúng ta trở nên già hơn. Có thể nguồn sinh lực của tuổi trẻ là một vài chất hormone nội tiết mà chúng ta chưa biết đến.
- Vậy Wallenberg đã tiêm vào các liều thay thế. – Bà cười.
- Văn chương mà nói là một cú bắn vào trong đêm tối.
- Nó có thể có tác dụng. Hình như đối với tôi tại Brant Hill có vài cụ già tuổi tám mươi trông khá dồi dào sức khỏe qua lại trên sân golf.
- Họ khá giả, họ tập thể dục, và họ sống một cuộc sống vô tư lự.
- Vâng, tốt, ai biết được? Có lẽ người dự đoán tốt nhất cho tuổi già là một tài khoản ngân hàng phong phú.
Toby lật xem các trang tài liệu của bài báo, rồi đặt nó lên bàn. Một lần nữa bà nhìn vào ngày phát hành.
- Ông thực hiện việc tiêm hormone từ năm 1990, không có các ghi chép nào về bệnh CJD?
- Việc điều trị đã diễn ra bốn năm tại viện Rosslyn. Rồi ông ta đến Brant Hill và tiếp tục công việc nghiên cứu.
- Tại sao ông ta rời khỏi viện Rosslyn?
Brace bật cười.
- Bà nghĩ tại sao?
- Tiền.
- Này, đó là lý do tôi đến Brant Hill. Tiền lương hậu hĩnh, không rắc rối với những công ty bảo hiểm. Và các bệnh nhân hiện nay đang nghe theo các khuyến cáo của tôi. – Ông ta ngưng lại. – Trong trường hợp của Wallenberg, tôi nghe nói có nhiều việc đang được tiếp tục làm. Tại hội nghị lão khoa vừa rồi tôi được tham dự, có lan truyền một vài tin đồn nhảm về Wallenberg và một đồng sự nghiên cứu phái nữ tại Rosslyn.
- Ồ, đó không phải là chuyện tiền bạc. Đỏ là vấn đề tình dục.
- Còn có cái gì khác?
Bà nghĩ đến con người Carl Wallenberg trong bộ áo đuôi tôm, con sư tử trẻ với đôi mắt màu hổ phách, và bà có thể dễ dàng tưởng tượng ông ta là đối tượng ham muốn của các phụ nữ.
- Vậy ông ta có vấn đề với một đồng sự nghiên cứu. – Bà ta nói. – Điều đó chẳng có gì đặc biệt phải ngạc nhiên.
- Đó là nếu có ba người liên quan vào.
- Wallenberg, người đàn bà và ai khác?
- Một bác sĩ khác tại Rosslyn, một người đàn ông. Công việc trở nên căng thẳng giữa họ, và cả ba đều rút lui. Wallenberg đến Brant Hill và tiếp tục công việc nghiên cứu. Dầu sao, ông ta đã tiêm hormone sáu năm nay mà không có hậu quả thảm hại nào xảy ra.
- Và không có trường hợp CJD nào?
- Không có trường hợp nào được báo cáo. Thử lại đi, bác sĩ Harper.
- Được thôi, hãy nhìn vào các cách khác theo đó hai người đàn ông đã bị nhiễm bệnh. Một cuộc phẫu thuật. Cái gì đó tương đối nhỏ, như cấy ghép màng sừng. Ông có nhìn kỹ vào lịch sử các bệnh nhân ngoại trú không?
Brace kêu lên bực tức. – Tại sao bà lại theo đuổi cái việc ấy, dẫu sao… Bệnh nhân của tôi chết dài dài, và tôi không bị ám ảnh về điều đó.
Thở dài, bà ngồi dựa vào tràng kỷ. – Tôi biết nó không thay đổi được điều gì. Tôi biết Harry có lẽ đã chết. Nhưng nếu ông ta có bệnh Creutzfeldt-Jakob, vậy ông ta đang chết khi tôi nhìn thấy ông ta. Và không có việc gì tôi làm có thể cứu sống được ông. – Bà ta nhìn Brace. – Có thể tôi không cảm thấy có trách nhiệm về cái chết của ông ta.
- Vậy đó là một sự phạm tội, có phải vậy không?
Bà ta gật đầu.
- Và một ít quan tâm cá nhân. Luật sư đại diện cho con trai Harry đã lấy lời khai từ các nhân viên của phòng cấp cứu. Tôi không nghĩ có cách nào để tôi có thể tránh được một vụ kiện. Nhưng nếu tôi có thể chứng minh Harry đã có một căn bệnh ngặt nghèo khi tôi nhìn thấy ông ta.
- Rồi những điều bất lợi sẽ có vẻ ít khắc nghiệt hơn tại tòa án.
Bà ta gật đầu. Và cảm thấy xấu hổ. Cha ông đã chết rồi, ông Slotkin. Vậy ván bài lớn là gì?
- Chúng tôi không biết về cái chết của Harry. – Brace nói.
- Ông ta đã mất tích một tháng nay. Ông ta sẽ như thế nào? Đó chỉ còn là vấn đề tìm ra được xác ông ta.
Trên lầu, tiếng la khóc đã dừng lại, cuộc chiến đấu cuối cùng đã mang đến thắng lợi. Sự im lặng chỉ làm rõ thêm khoảng cách khó chịu giữa họ trong cuộc nói chuyện. Có tiếng chân bước xuống cầu thang, và một phụ nữ xuất hiện. Bà ta tóc hung, làn da đẹp của gương mặt bà hình như mờ mờ trong ánh đèn phòng khách.
- Nhà tôi, Greta. – Brace nói. – Và đây là bác sĩ Toby Harper. Toby ghé qua đây để nói một vài chuyện nghề nghiệp.
- Tôi rất lấy làm tiếc về những tiếng rên la ấy. – Greta nói. – Đó là cơn thịnh nộ hằng ngày của cháu. Nói lại cho em biết, Robbie. Tại sao chúng ta lại có một đứa nhóc?
- Để chuyển giao DNA thượng cấp cho thế hệ sau. Rắc rối là, em, nó đã nổi giận.
Greta ngồi xuống trên tay ghế cạnh bên chồng. – Đó là quyết tâm. Không phải tính khí.
- Vâng, tốt, em muốn gọi là gì cũng được, thật khó chịu cho cái lỗ tai quá. – Ông ta vỗ tay lên đùi vợ. – Toby là một bác sĩ cấp cứu tại bệnh viện Springer. Bà ta là người đã khâu lại vết thương trên mặt anh.
- Ồ! – Greta gật đầu tán thưởng. – Bà làm một việc thật tốt đẹp. Vết sẹo của nhà tôi khó lòng được trông thấy. – Bà chợt cau mày nhìn lên bàn. – Robbie, em nghĩ anh nên mang gì cho bà bác sĩ uống chứ. Tôi pha trà cho bà nhé?
- Không, em, được rồi. – Robbie nói. – Anh và bà ấy vừa kết thúc xong câu chuyện tại đây.
Tôi nghĩ đó là tín hiệu cho tôi ra về, Toby nghĩ. Bất đắc dĩ, bà đứng dậy.
Robbie cũng đứng dậy theo. Ông hôn vợ thật nhanh và nói. – Sẽ không lâu đâu. Anh vừa mới lướt qua bệnh viện.
Rồi ông quay về phía Toby, đang nhìn ông ngạc nhiên.
- Bà muốn xem hồ sơ của các bệnh nhân ngoại trú, phải vậy không? – Ông ta hỏi.
- Vâng, lẽ dĩ nhiên.
- Vậy tôi sẽ gặp bà tại đó. Brant Hill.
❀ ❀ ❀
[1] Creutzfeldt-Jakob: bệnh hệ thần kinh thoái hóa không chữa được, được cho là gây ra bởi một loại vi rút bất thường được ủ trong cơ thể nhiều năm trước khi xuất hiện các triệu chứng (ND).