Sáng sớm hôm sau, tôi bừng mắt dậy đã thấy Kỳ Phát ngồi ở góc bàn, tay mân mê cái vòng cổ chó săn, thứ vòng bằng da có đính tua ra phía ngoài cốt để giữ cho các giống thú rừng không ngoạm được vào cổ chó. Hắn cầm chiếc giũa con giũa các đầu đinh cho thêm nhọn, rồi nghịch, ướm thử lên cổ mình.
Tôi cười bảo:
- Vừa lắm rồi, có lẽ cái vòng ấy họ làm ra cốt để cho anh đeo thay vào chiếc cổ cồn đấy!
Kỳ Phát cũng cười mà trả lời:
- Mà có lẽ thực đấy anh ạ. Tôi tưởng đeo cái vòng này còn có ích hơn là đeo cổ cồn không những vô ích lại còn bận rộn.
Tôi nghiêm sắc mặt bảo:
- Thôi không nói đùa nữa. Cái án mạng kia anh đã tìm ra manh mối chưa, ở ăn hại nhà người ta mãi sao?
Phát tức mình nói:
- Trong hai người đi chỉ có một người ăn hại thì cũng chưa đến nỗi nào. Việc nó bày ra như thế, việc gì phải tìm đâu nữa.
Tôi hỏi:
- Tôi vẫn chưa hiểu cái chỗ Ty Khuông thì trông thấy cái bóng trắng mà Nùng Chí thì trông thấy bóng đen. Đen và trắng, hai mầu ấy không có thể nói là trông lầm được. Vậy thủ phạm là ai người bận đồ đen hay trắng?
Kỳ Phát nói:
- Thoạt đầu nghe chuyện tôi cũng đặt ra câu hỏi ấy. Làm rắc rối câu chuyện trắng đen, chỉ tại anh chàng Nùng Chí. Thế anh có nhớ Ty Khuông nói đêm ấy hắn sực tỉnh vào hồi nào không?
- Lúc trống canh ba vừa điểm xong!
- Thế còn Nùng Chí nghe tiếng kêu vào lúc nào?
- Lúc trống canh ba vừa điểm xong một lúc!
- Thế nghĩa là từ lúc Ty Khuông trông thấy bóng trắng cho đến lúc Nùng Chí nghe thấy tiếng kêu chỉ có mấy phút đồng hồ. Anh tính xem trong một thời hạn ngắn ngủi thế, hung thủ ta ví dụ là bóng trắng, có thể kịp chạy từ vườn vào trước cửa phòng, rồi từ ngoài lẻn vào phòng bằng một cách nào ta chưa cần biết, đâm Nùng Cao một nhát rồi lại thoát ra ngoài được không?
Tôi lắc đầu bảo:
- Dẫu nhanh như điện cũng không thể được, như thế hung thủ không phải là người bận đồ trắng, tuy nhiên ta cũng cần biết hắn là ai, lần mò vào trong vườn nhà người ta làm gì trong đêm khuya tăm tối.
Kỳ Phát cả cười, vỗ vai tôi mà rằng:
- Hắn chỉ là Nùng Chí thôi anh ạ!
Tôi ngạc nhiên bẻ lại:
- Không lẽ Nùng Chí, vì chính hắn bảo hắn nghe thấy tiếng kêu nên sực tỉnh dậy cơ mà.
- Thế mới giấu đầu hở đuôi! Anh có thấy ai đương ngủ mê, choàng tỉnh dậy mà lại biết rõ ràng vừa trống canh ba một lúc không? Vả lại theo lời Ty Khuông thuật, thì lúc gọi tỉnh, Nùng Chí đeo cổ cồn, ca-vát; đời thuở nhà ai đi ngủ mà lại đóng đủ bộ như thế không? Vả lại trong buồng hắn có treo con dao là một thứ khí giới hộ thân tốt, cớ gì lúc hắn chạy sang cứu cha lại không cầm dao chỉ mang chiếc cangậy nhỏ tí bịt vàng?
Tôi như người sực tỉnh, gật gù bảo:
- Có lẽ hắn đi chơi đâu về!
- Cố nhiên, tôi đoán hắn đêm ấy lẻn đi tình tự với người yêu, đã khuya vừa đến vườn thì nghe thấy tiếng kêu, nên vội chạy vào cứu.
- Thành ra lão Ty Khuông đương ngủ gà ngủ gật trông thoáng thấy tưởng là hung thủ, mà có lẽ cánh tay dài lão tưởng tượng chỉ là chiếc can mà thôi.
Kỳ Phát cả cười bảo tôi rằng:
- Anh đoán đúng đấy, thôi còn đợi gì mà không đi làm trinh thám?
- Thôi anh đừng chửi tôi nữa, tôi nghĩ mãi mà không hiểu thủ phạm làm thế nào mà vào được trong phòng, khi các cửa đều đóng cả.
- Nếu các cửa đều đóng thì Nùng Cao đã chết từ trước rồi còn gì?
Tôi sực nghĩ ra:
- À, còn cái lỗ hổng áp mái nhà, trông to hơn chiếc cháp đầu, nhưng dù hung thủ có dùng thang trèo lên tới cũng chỉ có thể nhòm vào được thôi chớ không thể chui lọt. Vả lại dù chui qua thì lúc nhẩy vào trong cũng không làm cách nào được.
- Thế anh không thấy trên trần có vết gì à?
- Có, tôi cũng có trông thấy những vết lấm ở trên trần nhưng không để ý lắm.
- Thoạt tiên tôi cũng vậy, về sau lúc hút thuốc ngửa mặt thở khói, tôi bỗng nhận ra rằng: Những vết lấm ấy theo một dải từ lỗ hổng thẳng đến trên đỉnh màn.
- Vì thế anh mới nhẩy lên giường nhòm lên màn, nhưng anh có thấy gì không?
- Tôi có nhận ra rằng trên đỉnh màn có những lốt bàn tay nhỏ xíu, ngay giữa có bốn vết rồi đến góc màn thì chỉ có từng ba, bốn lốt thôi.
- Thế những vết trên trần cũng là những vết tay?
- Phải, những vết tay ở trên trần, thế mới lạ!
- Như ý anh thì đoán như thế nào?
- Tôi đoán… Tôi đoán rằng đến đêm nay anh sẽ rõ. Còn mấy cái khóa anh không nhận thấy gì à? Lạ nhỉ? Cái tủ ấy có bốn ngăn kéo, hai ngăn bên trái, hai ngăn bên phải. Anh có nhận thấy khóa hai ngăn bên phải khác hai ngăn bên trái không?
- Khóa bên trái hiểm hơn.
- Gì nữa?
Tôi sực nghĩ ra:
- Ồ nhỉ, tại sao lỗ khóa bên phải đều quay về phía bên phải mà lỗ khóa bên trái lại quay về phía bên trái?
- Tại vì hai khóa bên phải đã có Nùng Chí mở qua, còn hai khóa bên trái thì lúc Nùng Cao chết đến giờ chưa có ai mở đến cả. Một người thường khóa lỗ khóa quay về bên trái là người thế nào?
- Là người vẫn quen dùng tay trái hơn tay phải, vì khóa như thế lúc mở dùng tay trái mới tiện. Nhưng ông châu Nùng Cao quen dùng tay phải hay trái, có liên quan đến vụ án mạng này đâu.
Kỳ Phát mỉm cười hỏi:
- Đối với anh thì có lẽ cái xương cánh tay kia cũng không dính dáng gì đến án mạng hẳn?
- Nhắc đến khúc xương, tôi lại sực nghĩ ra, sao anh không phá nốt chiếc ngăn kéo dưới ở bên trái ra xem trong ấy có gì không? Tôi đoán hẳn có nhiều cái lạ kỳ.
- Anh thực thà quá, anh tưởng tôi chưa xem tới ngăn kéo ấy sao? Anh nên biết rằng ngay lúc có Ty Khuông ở đấy, tôi đã mở được cái ngăn kéo thứ tư rồi nhưng sợ ở trong ấy có cái gì bí mật, không tiện cho Ty Khuông biết sợ trở ngại việc tra xét của chúng mình.
- Đối với anh có lẽ không có cái khóa nào là hiểm cả, chắc đêm qua anh sang buồng bên mở ngăn kéo ấy xem rồi. Anh thấy có gì lạ?
Kỳ Phát mở ví đưa cho tôi xem ba mảnh giấy đốt giở nói:
- Trong ngăn kéo tôi chỉ thấy một đống giấy. Tôi bới tìm chỉ có ba mảnh giấy này là còn có thể đọc được. Đây anh xem một mảnh có chữ: “… từ 1928; Ta nóng quá những hối…” một mảnh có bốn chữ: “… Nó giết ta làm…” và một mảnh chỉ có hai chữ: “… Tiếng… đồng…”
Tôi nói:
- Mảnh thứ ba này chắc chữ giữa bị lửa lém vào, tiếng… đồng… À hay là tiếng chiêng đồng?
- Tôi cũng đoán thế. Cứ như hai chữ: “… từ 1928” thì ta có thể chắc rằng tập giấy đốt đi này là một nhật ký từ năm 1928 tức là tháng tư năm 1928. Từ 1928 đến bây giờ là mấy năm rồi nhỉ?
- Đúng sáu năm, anh đoán làm sao?
Kỳ Phát không trả lời câu hỏi của tôi, lẩm bẩm một mình:
- Sáu năm, ừ đúng sáu năm.
Rồi hắn nhìn thẳng vào mặt tôi nói:
- Anh muốn biết tôi đoán ra làm sao. Đến tối nay rồi anh sẽ rõ.
Rồi hắn xoay nắm cửa, đi ra. Trước khi bước khỏi cửa phòng hắn còn ngoái cổ lại bảo tôi rằng:
- À, tôi quên chưa cho anh biết. Độ chiều nay, Nùng Chí sẽ cho mời bốn thầy khen về lập đàn giải oan cho ông bố, có lẽ họ cúng lễ suốt đêm nay mới xong, tôi chắc anh là một nhà văn sẽ lấy làm thích vì được một tài liệu về phong tục ở trên này.