TIẾNG CHIÊNG ĐỒNG
TRONG RỪNG THẲM
Họ lập đàn cúng lễ từ lúc xế chiều. Hỏi ra, theo phong tục vùng này khi lập đàn giải oan cho người chết, tùy theo giầu nghèo, mời một hay hai, ba thầy khen tức là thầy phù thủy về đàn hát lễ bái. Tự nửa ngày hôm trước, suốt đêm đến nửa ngày hôm sau mới xong. Đêm hôm ấy theo tục gia chủ bắt buộc phải mặc quần áo người đã quá cố nằm ngủ chính ở giường người ấy thọ chungchết. Họ cho rằng như thế hồn người chết sẽ về báo mộng và dặn bảo mọi điều. Một điều này tôi lấy làm lạ là Nùng Chí tuy là người Thổ nhưng đã có cái óc mới, không lẽ lại còn mê tín mà theo thói thường lập đàn như thế? Tôi hết sức xét đoán mà vẫn chưa ra duyên cớ, trong khi ấy, ở ngoài họ vẫn trống phách vang lừng. Trời tối dần… tôi nằm không tài nào chợp mắt được, suy nghĩ quanh co, chỉ trở mình hoài. Kỳ Phát thì ngáy o o ngủ ra dáng bình tĩnh lắm, hình như đã quên lời hứa cùng tôi: “Đến đêm nay, anh sẽ biết.”
Trống canh hai đã điểm. Tôi vẫn chưa ngủ được. Tôi đành mặc áo, mở cửa ra sân xem bọn thầy khen cúng lễ và hát những bài hát thờ nghe thê thảm buồn rầu, chốc chốc lại điểm vài tiếng trống bập bùng. Lúc tôi quay vào định ngủ thì kỳ lạ, Kỳ Phát đã biến đi đâu mất.
Tiếng trống ở ngoài đã thưa dần… Tôi nằm vẩn vơ nghĩ ngợi, lắng tai nghe tiếng gió thổi rì rào. Tôi bỗng giật mình lo sợ, trong rừng thẳm đưa ra tiếng rè rè của chiếc chiêng đồng nghe ai oán, gớm ghê! Tiếng chiêng chốc chốc lại nổi lên văng vẳng vẫn ở tự trong rừng thẳm đánh chậm chạp dần từng tiếng một. Tôi nghe tiếng chiêng mà rùng mình, tưởng ra một bọn người bí mật, khiêng một cỗ quan tài để mộc, đương bước theo nhịp chiêng, lặng lẽ hạ huyệt trong rừng sâu thẳm.
Tiếng chiêng thỉnh thoảng vẫn nổi lên. Bỗng trong buồng bên cạnh có tiếng lục đục, rầm rầm rồi tiếng Kỳ Phát kêu gọi tôi. Tôi khoác vội chiếc áo, cầm đèn pin, rút con dao trên tường, chạy sang.
Vừa lúc ấy, Nùng Chí và bọn người nhà cũng cầm đèn chạy đổ lại, cánh cửa buồng vừa mở, tôi thấy Kỳ Phát đầu tóc bơ phờ, cổ đeo chiếc vòng chó săn đẫm máu, hai tay giữ chặt một con khỉ lông vàng mượt đang lồng lộn, chí chóe chạy tháo thân. Tôi vội hỏi:
- Anh có việc gì không? Bị thương ở chỗ nào?
Kỳ Phát lắc đầu, tươi cười đưa con khỉ cho bọn người nhà trói lại, tháo chiếc vòng ở cổ ra, nói rằng:
- Không việc gì, anh ạ. Nhưng nếu không có chiếc vòng này thì tôi khó sống được đến bây giờ.
Rồi hắn chỉ con khỉ, bảo mọi người rằng:
- Đây, tên hung thủ đã giết ông châu Nùng Cao đây, chính nó đã gây nên án mạng.
Thấy mọi người đều ngơ ngác, Kỳ Phát cả cười bảo rằng:
- Phải, chính vì con khỉ này mà ông châu chết. Tôi thoạt vào cái buồng này cũng biết ngay không phải ông châu bị ám sát. Một cái buồng cửa đóng kín mít như thế này thì hung thủ không tài nào vào được. Nhưng tại sao các cửa đều đóng như bưng? Tôi đoán rằng ông châu vốn có người thù, vẫn hồi hộp sợ hãi nên phải đề phòng cẩn mật.
- Tại sao ông chết?
- Tôi đã nghĩ rằng ông ấy vì sợ hãi, hoặc hối hận quá mà tự tử.
Tôi gật đầu nói:
- Ừ, mà có lẽ tự tử thực.
Kỳ Phát lắc đầu nói:
- Không phải anh ạ. Nếu ông ấy tự tử tất phải tự cầm dao đâm vào ngực…
Tôi cãi:
- Thế thì đúng lắm, ông ấy cầm dao tay phải đâm vào ngực phía bên trái.
Kỳ Phát vỗ vai tôi:
- Anh quên hai khóa bên trái rồi ư? Nếu ông châu cầm dao trái tất đâm vào phía…
Tôi cố cãi:
- Tất cũng về phía bên trái vì cần phải đâm trúng tim.
- Không anh ạ, nếu tay trái cầm đâm trúng về phía ngực bên trái thì không được mạnh vì không thuận tay, mà anh quên rằng lưỡi dao ngập đến chuôi ư?
- Không có người giết, không phải tự tử, thì tại sao mà chết, lạ thực!
- Cũng chưa thực là lạ, anh ạ! Rồi anh sẽ được xem nhiều cái lạ hơn nữa.
Rồi hắn chỉ cho chúng tôi xem dòng máu đỏ trên tường, gần ngay lỗ hổng áp trần nhà và giục Ty Khuông bảo người đốt đèn đi dò theo vết máu. Chúng tôi lẳng lặng đi theo Kỳ Phát.
Hắn cầm đèn rê xuống mặt đất rồi cứ lần theo vết máu mà tiến cách độ ba trăm thước thì dòng máu lẩn vào trong bụi rậm, rẽ gai góc lần vào thì một cảnh tượng ghê gớm làm cho chúng tôi sửng sốt. Trên mặt cỏ một cái thây người nằm cong queo, bị một con trăn to tướng quấn chặt. Kỳ Phát giằng dao ở tay tôi đâm thẳng vào cổ con trăn nhưng nó không động đậy, nhìn kỹ thì trăn bị vô số vết thương đã chết tự bao giờ. Ty Khuông lật mặt người chết lên xem thì Nùng Chí và hắn cùng kêu lên.
- Lâm Nục, tại sao Lâm Nục ở đây?
Kỳ Phát nói:
- Phải, Lâm Nục, chính cái tên đày tớ cách đây sáu năm tự nhiên bỏ nhà này đi trốn biệt. Hắn phải trốn là vì hắn bị cụt một cánh tay.
Tôi nhìn thây người chết thấy tay trái bị cụt vào đến khuỷu. Kỳ Phát nhìn quanh, lại rút chiếc chiêng đồng mắc ở cành cây giơ cho chúng tôi xem mà rằng:
- Lại chiếc chiêng đồng nữa! Cái lọ cổ, khúc xương tay với chiếc chiêng đồng, chính ba vật này đã gây nên án mạng. Nhưng ác giả, ác báo, lẽ trời thực chí công!