Kính gửi Lord Peter — Khi còn trẻ, tôi thường chơi cờ vua với một người bạn cũ của cha tôi. Ông là một người chơi tồi và rất chậm chạp, không bao giờ nhận ra khi nào thế chiếu hết là điều không thể tránh khỏi, mà cứ khăng khăng đi cho bằng hết các nước cờ. Tôi chưa bao giờ có sự kiên nhẫn với thái độ kiểu đó, và giờ đây tôi sẵn sàng thừa nhận rằng ván cờ đã thuộc về anh. Tôi hoặc phải ở lại đây để chịu tội treo cổ, hoặc phải trốn ra nước ngoài và sống một cuộc đời vô danh lười biếng, bấp bênh. Tôi chọn cách thừa nhận thất bại.
Nếu anh đã đọc cuốn sách của tôi về "Chứng Điên Loạn Do Phạm Tội," hẳn anh sẽ nhớ tôi đã viết: "Trong phần lớn các trường hợp, kẻ phạm tội tự tố giác bản thân bằng một số bất thường đi kèm với tình trạng bệnh lý này của các mô thần kinh. Sự bất ổn về tâm thần của hắn biểu hiện dưới nhiều hình thức: sự tự cao tự đại quá mức, khiến hắn khoe khoang về chiến tích của mình; một cảm giác bất cân xứng về tầm quan trọng của tội ác, xuất phát từ ảo tưởng tôn giáo, và thúc đẩy hắn đi thú tội; chứng tự đại, sinh ra cảm giác kinh hoàng hoặc sự xác tín về tội lỗi, và đẩy hắn vào cuộc trốn chạy bạt mạng mà không che giấu dấu vết; một sự tự tin liều lĩnh, dẫn đến việc bỏ bê những biện pháp phòng ngừa thông thường nhất, như trong trường hợp của Henry Wainwright, kẻ đã để một đứa trẻ trông coi phần thi thể của người phụ nữ bị sát hại trong khi hắn đi gọi xe ngựa; hoặc mặt khác, sự nghi ngờ thần kinh về những nhận thức trong quá khứ, khiến hắn quay lại hiện trường vụ án để tự trấn an rằng mọi dấu vết đã được xóa bỏ an toàn như chính phán đoán của hắn biết rõ." Tôi không ngần ngại khẳng định rằng một người hoàn toàn tỉnh táo, không bị đe dọa bởi những ảo tưởng tôn giáo hay ảo tưởng khác, luôn có thể tự làm cho mình hoàn toàn an toàn trước sự phát hiện, với điều kiện là, tội ác đã được trù tính trước đầy đủ và hắn không bị thúc bách về thời gian hoặc bị làm cho chệch hướng trong các tính toán bởi một sự trùng hợp hoàn toàn ngẫu nhiên.
Anh cũng biết rõ như tôi, tôi đã chứng minh khẳng định đó trong thực tế đến mức độ nào. Hai tai nạn đã phản bội tôi, tôi hoàn toàn không thể lường trước được bằng bất kỳ cách nào. Đầu tiên là việc cô gái ở đường Battersea Park Road vô tình nhận ra Levy, điều này gợi ý về mối liên hệ giữa hai vấn đề. Thứ hai là việc Thipps đã sắp xếp đi xuống Denver vào sáng thứ Ba, qua đó tạo điều kiện cho mẹ anh chuyển thông tin sự việc đến anh trước khi cảnh sát mang thi thể đi và gợi ý một động cơ cho vụ án từ những gì bà biết về lịch sử cá nhân trước đây của tôi. Nếu tôi có thể phá hủy hai mắt xích hoàn cảnh do ngẫu nhiên tạo ra này, tôi dám chắc rằng anh thậm chí sẽ không mảy may nghi ngờ tôi, chứ chưa nói đến việc thu thập đủ bằng chứng để kết tội.
Trong tất cả các cảm xúc của con người, ngoại trừ có lẽ cảm giác đói và sợ hãi, ham muốn tình dục tạo ra những phản ứng bạo lực nhất, và trong một số hoàn cảnh, dai dẳng nhất; tuy nhiên, tôi nghĩ mình có lý khi nói rằng vào thời điểm tôi viết cuốn sách, xung động nhục dục ban đầu của tôi muốn giết Sir Reuben Levy đã trở nên thay đổi sâu sắc bởi những thói quen suy nghĩ của tôi. Thêm vào ham muốn thú tính muốn tước đoạt sự sống và mong muốn trả thù nguyên thủy của con người, là ý định hợp lý nhằm củng cố các lý thuyết của chính tôi để làm thỏa mãn bản thân và thế giới. Nếu mọi chuyện diễn ra đúng như kế hoạch, tôi đã gửi một bản tường thuật có niêm phong về thí nghiệm của mình cho Ngân hàng Anh, kèm theo chỉ thị cho những người thi hành di chúc của tôi xuất bản nó sau khi tôi qua đời. Giờ đây, khi tai nạn đã làm tổn hại đến tính trọn vẹn của cuộc thí nghiệm, tôi ủy thác bản tường thuật này cho anh, người chắc chắn sẽ thấy nó vô cùng thú vị, vớiσ yêu cầu anh hãy làm cho nó được biết đến trong giới khoa học, như một sự công bằng đối với uy tín nghề nghiệp của tôi.
Những yếu tố thực sự cốt yếu cho thành công trong bất kỳ dấn thân nào là tiền bạc và cơ hội, và theo nguyên tắc chung, người tạo ra được yếu tố thứ nhất cũng có thể tạo ra yếu tố thứ hai. Trong giai đoạn đầu sự nghiệp, dù tôi khá giả, tôi vẫn chưa nắm quyền tuyệt đối với hoàn cảnh. Do đó, tôi cống hiến hết mình cho nghề nghiệp, và tự mãn nguyện với việc duy trì mối quan hệ thân thiện với Reuben Levy cùng gia đình ông. Điều này giúp tôi giữ được liên lạc với vận mệnh và lợi ích của ông, để khi thời cơ hành động đến, tôi có thể biết nên dùng thứ vũ khí nào.
Trong khi đó, tôi cẩn thận nghiên cứu khoa học tội phạm trong tiểu thuyết và thực tế — công trình của tôi về "Chứng Điên Loạn Do Phạm Tội" là một sản phẩm phụ của hoạt động này — và nhận ra rằng, trong mọi vụ án mạng, nút thắt thực sự của vấn đề chính là việc thủ tiêu thi thể. Là một bác sĩ, các phương thức gây tử vong luôn sẵn có trong tầm tay, và tôi không đời nào mắc phải sai lầm nào liên quan đến điều đó. Tôi cũng không dễ gì tự tố giác bản thân vì bất kỳ cảm giác sai trái ảo tưởng nào. Khó khăn duy nhất sẽ là việc xóa bỏ mọi mối liên hệ giữa nhân dạng của tôi và nhân dạng của cái xác. Anh sẽ nhớ rằng Michael Finsbury, trong cuốn tiểu thuyết giải trí của Stevenson, đã nhận xét: "Thứ treo cổ con người ta chính là hoàn cảnh bất hạnh của tội lỗi." Tôi nhận ra rõ ràng rằng việc vứt bừa bãi một cái xác thừa thãi chẳng thể kết tội ai cả, với điều kiện không ai có tội liên quan đến cái xác cụ thể đó. Do đó, ý tưởng thay thế cái xác này bằng cái xác kia đã hình thành từ sớm, mặc dù mãi đến khi tôi nắm quyền điều hướng thực tế Bệnh viện St. Luke’s, tôi mới thấy mình hoàn toàn được giải phóng trong việc lựa chọn và xử lý các thi thể. Từ giai đoạn này trở đi, tôi theo dõi sát sao tất cả các chất liệu được đưa vào để giải phẫu.
Cơ hội của tôi không xuất hiện cho đến tuần trước khi Sir Reuben mất tích, khi nhân viên y tế tại nhà tế bần Chelsea nhắn tin cho tôi hay rằng một kẻ lang thang vô danh đã bị thương vào sáng hôm đó do một đoạn giàn giáo sụp đổ, và đang biểu hiện một số phản ứng thần kinh cùng đại rất thú vị. Tôi đã qua xem xét trường hợp đó, và lập tức bị ấn tượng bởi sự giống nhau mãnh liệt về mặt bề ngoài của người đàn ông với Sir Reuben. Ông ta đã bị đánh mạnh vào sau gáy, làm trật khớp cổ thứ tư và thứ năm đồng thời bầm dập nặng tủy sống. Có vẻ rất khó có khả năng ông ta có thể hồi phục, dù là về mặt tinh thần hay thể chất, và trong bất kỳ trường hợp nào, tôi thấy chẳng có mục đích gì khi kéo dài vô thời hạn một sự tồn tại vô tích sự nhường ấy. Rõ ràng ông ta vẫn có thể duy trì sự sống cho đến tận gần đây vì được nuôi dưỡng khá đầy đủ, nhưng tình trạng giày dép và quần áo cho thấy ông ta thất nghiệp, và trong điều kiện hiện tại thì có lẽ sẽ tiếp tục như vậy. Tôi quyết định ông ta sẽ rất phù hợp với mục đích của mình, và lập tức tiến hành một số giao dịch tại khu City mà tôi đã phác thảo sẵn trong đầu. Trong lúc đó, các phản ứng được vị bác sĩ nhà tế bần đề cập rất thú vị, và tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng chúng, đồng thời sắp xếp để chuyển thi thể đến bệnh viện khi tôi hoàn tất công tác chuẩn bị.
Vào thứ Năm và thứ Sáu tuần đó, tôi đã sắp xếp riêng với các nhà môi giới khác nhau để mua cổ phiếu của một số mỏ dầu ở Peru, vốn đã rớt giá gần như giấy vụn. Phần này trong thí nghiệm của tôi không tốn quá nhiều chi phí, nhưng tôi đã xoay sở để khơi gợi sự tò mò đáng kể, thậm chí là một sự kích thích nhẹ nhàng. Đến lúc này, tất nhiên tôi rất cẩn thận để không để lộ tên tuổi của mình. Sự xuất hiện của thứ Bảy và Chủ Nhật khiến tôi hơi lo lắng kẻo người của tôi rốt cuộc lại chết trước khi tôi sẵn sàng, nhưng nhờ sử dụng các mũi tiêm nước muối, tôi đã xoay sở giữ được sự sống cho ông ta và, vào tận đêm muộn ngày Chủ Nhật, ông ta thậm chí còn thể hiện những triệu chứng đáng lo ngại về việc ít nhất là hồi phục một phần.
Vào sáng thứ Hai, thị trường cổ phiếu Peru mở cửa sôi nổi. Rõ ràng những lời đồn đại đã lan ra rằng có ai đó biết điều gì đó, và ngày hôm nay tôi không phải là người mua duy nhất trên thị trường. Tôi mua thêm vài trăm cổ phiếu dưới tên chính mình, và mặc kệ mọi chuyện tự xoay sở. Vào giờ ăn trưa, tôi sắp xếp để vô tình chạm trán Levy ở góc phố Mansion House. Ông tỏ vẻ ngạc nhiên (như tôi dự đoán) khi thấy tôi ở khu vực đó của London. Tôi làm bộ bối rối và đề nghị chúng tôi đi ăn trưa cùng nhau. Tôi kéo ông đến một nơi hơi tách biệt với lối đi thông thường, và ở đó gọi một chai rượu vang ngon rồi uống một lượng mà ông có thể cho là đủ để khơi gợi tâm trạng cởi mở, tâm sự. Tôi hỏi ông tình hình trên sàn giao dịch thế nào. Ông bảo, "Ồ, vẫn ổn," nhưng có vẻ hơi hoài nghi, và hỏi tôi có tham gia gì ở lĩnh vực đó không. Tôi đáp rằng thỉnh thoảng tôi cũng đánh quả sẻ một chút, và thực ra, tôi vừa được mách cho một mối khá ngon. Đến lúc này, tôi liếc nhìn xung quanh đầy cảnh giác và dịch ghế xích lại gần ông hơn.
"Chắc anh chẳng biết gì về Dầu mỏ Peru đâu nhỉ?" ông nói.
Tôi giật mình nhìn quanh một lần nữa, rồi nhoài người sang phía ông, hạ giọng nói:
"Ừ, thực ra là có đấy, nhưng tôi không muốn để lộ ra ngoài. Tôi sắp kiếm được một khoản khá lớn từ nó đấy."
“Nhưng tôi tưởng thứ đó là đồ bỏ đi chứ,” ông nói; “nó có trả cổ tức nào trong suốt mấy năm trời đâu.”
“Không,” tôi đáp, “chưa từng, nhưng sắp rồi. Tôi có tin nội bộ.” Ông có vẻ chưa bị thuyết phục cho lắm, và tôi cạn sạch ly rượu của mình, rồi xích sát hẳn vào tai ông.
"Nghe này," tôi nói, "tôi không chia sẻ chuyện này cho bất kỳ ai đâu, nhưng tôi không ngại làm ơn cho anh và Christine đâu. Anh biết đấy, tôi vẫn luôn dành một góc mềm yếu trong tim cho cô ấy, kể từ những ngày xưa cũ. Anh đã đi trước tôi một bước hồi đó, và giờ đến lượt tôi phải lấy ân báo oán với cả hai người."
Lúc này tôi hơi hào hứng quá đà và ông tưởng tôi say rượu.
"Cậu tốt bụng thật đấy, anh bạn," ông nói, "nhưng tôi là kẻ thận trọng, anh biết đấy, từ trước đến nay vẫn vậy. Tôi muốn có chút bằng chứng cơ."
Và ông nhún vai trông giống như một tay cầm đồ.
"Tôi sẽ đưa cho anh," tôi nói, "nhưng ở đây không an toàn đâu. Tối nay sau bữa tối, hãy ghé qua chỗ tôi, tôi sẽ cho anh xem bản báo cáo."
"Cậu lấy đâu ra tài liệu đó thế?" ông hỏi.
"Tối nay tôi sẽ kể cho anh nghe," tôi nói. "Ghé qua sau bữa tối nhé — lúc nào cũng được sau chín giờ, chẳng hạn."
"Đến Harley Street à?" ông hỏi, và tôi thấy ông có ý định đến thật.
"Không," tôi đáp, "đến Battersea — đường Prince of Wales Road; tôi có ít việc phải làm ở bệnh viện. Và nghe này," tôi nói, "đừng hé răng với bất kỳ ai là anh đang đến nhé. Hôm nay tôi vừa mua vài trăm cổ phiếu dưới tên mình, và thể nào người ta cũng đánh hơi được. Nếu người ta biết chúng ta đi lại với nhau, thế nào cũng có kẻ ngờ vực. Thực ra, nói chuyện này ở đây chẳng an toàn chút nào cả."
"Được rồi," ông nói, "tôi sẽ không nói một tiếng với ai đâu. Khoảng chín giờ tôi sẽ có mặt. Cậu chắc chắn đó là một mối làm ăn chắc ăn chứ?"
"Không thể trật đi đâu được," tôi trấn an ông. Và tôi thực lòng nghĩ thế.
Sau đó chúng tôi chia tay, và tôi quay lại nhà tế bần. Người của tôi đã qua đời vào khoảng mười một giờ. Tôi đã ghé nhìn ông ta ngay sau bữa sáng và không hề bất ngờ. Tôi hoàn tất các thủ tục thông thường với nhà chức trách nhà tế bần, và sắp xếp để chuyển ông ta đến bệnh viện vào khoảng bảy giờ.
Vào buổi chiều, vì hôm đó không phải là lịch trực ở Harley Street, tôi ghé thăm một người bạn cũ sống gần công viên Hyde Park, và phát hiện ra anh ta vừa chuẩn bị đi Brighton vì một số công việc nào đó. Tôi uống trà với anh ta và tiễn anh ta đi chuyến tàu 5 giờ 35 phút xuất phát từ ga Victoria. Khi bước ra khỏi cửa soát vé, tôi chợt nảy ra ý định mua một tờ báo chiều, và cứ thế vô tâm bước về phía sạp báo. Đám đông quen thuộc đang hối hả bắt các chuyến tàu ngoại ô về nhà, và khi bước ra, tôi thấy mình vướng vào dòng người ngược chiều đang đi từ ga tàu điện ngầm lên, hoặc ào ạt chạy từ mọi hướng để kịp chuyến tàu 5 giờ 45 phút đi Battersea Park và Wandsworth Common. Sau một hồi chật vật chen lấn, tôi thoát ra được và bắt taxi về nhà; và mãi cho đến khi ngồi an toàn trong xe, tôi mới phát hiện ra chiếc kính gọng vàng của ai đó vướng vào cổ áo lông cừu astrakhan trên chiếc áo khoác ngoài của mình. Khoảng thời gian từ 6 giờ 15 phút đến 7 giờ, tôi dành để bịa ra thứ trông giống như một bản báo cáo giả mạo dành cho Sir Reuben.
Đúng bảy giờ, tôi sang bệnh viện và thấy chiếc xe chở bệnh nhân của nhà tế bần vừa đưa đối tượng của tôi tới cửa phụ. Tôi bảo đưa thẳng anh ta lên phòng phẫu thuật, và dặn nhân viên William Watts rằng tôi dự định làm việc ở đó tối hôm đó. Tôi bảo tôi sẽ tự tay chuẩn bị thi thể — việc tiêm chất bảo quên sẽ là một biến chứng vô cùng đáng tiếc. Tôi sai anh ta đi làm việc khác, rồi quay về nhà ăn tối. Tôi nói với người hầu rằng tối hôm đó tôi sẽ làm việc ở bệnh viện, và anh ta có thể đi ngủ lúc 10 giờ 30 phút như thường lệ vì tôi không rõ mình có về muộn hay không. Anh ta đã quen với những thói quen thất thường của tôi. Tôi chỉ giữ hai người hầu ở căn nhà ở Battersea — người đầy tớ nam và vợ anh ta, người nấu ăn cho tôi. Công việc dọn dẹp nhà cửa nặng nhọc hơn do một người phụ nữ làm thuê theo giờ phụ trách, người này đi về trong ngày. Phòng ngủ của người hầu nằm ở tầng trên cùng của ngôi nhà, nhìn ra đường Prince of Wales Road.
Ngay sau khi ăn tối xong, tôi ngồi lại sảnh với vài tập tài liệu. Người hầu đã dọn dẹp bàn ăn xong xuôi lúc 8 giờ 15 phút, tôi bảo anh ta đưa bình sô-đa và khay đựng bình rượu, rồi cho anh ta xuống dưới nhà. Levy bấm chuông lúc 9 giờ 20 phút và chính tôi ra mở cửa đón ông. Người hầu của tôi xuất hiện ở đầu bên kia sảnh, nhưng tôi gọi vọng bảo mọi thứ đều ổn và anh ta bỏ đi. Levy mặc áo khoác ngoài trùm ngoài lễ phục tối và mang theo một chiếc ô.
"Ôi, sao anh ướt như chuột lột thế này!" tôi nói. "Anh đến bằng gì vậy?" "Đi xe buýt," ông nói, "và cái tên lãng tai phụ xe quên không cho tôi xuống ở cuối đường. Trời mưa như trút nước và tối như hũ nút — tôi chẳng nhìn thấy đường đâu cả." Tôi mừng vì ông không bắt taxi, nhưng thực ra tôi đã tính toán trước là ông sẽ không làm thế.
"Những khoản tiết kiệm nhỏ nhặt ấy có ngày hại chết anh đấy," tôi nói. Tôi đã nói đúng ở điểm đó, nhưng lại không tính đến chuyện chúng cũng sẽ hại chết cả tôi nữa. Tôi xin nhắc lại, tôi không thể lường trước được điều đó.
Tôi bảo ông ngồi xuống cạnh lò sưởi và rót cho ông một ly whisky. Ông đang rất phấn khởi về một thương vụ giao dịch cổ phiếu Argentina mà ông sắp hoàn tất vào ngày hôm sau. Chúng tôi nói chuyện tiền nong khoảng mười lăm phút rồi ông cất lời:
"Nào, thế còn cái món hời hão huyền về dầu mỏ Peru của cậu thì sao?"
"Không phải hão huyền đâu," tôi nói; "lại đây xem này."
Tôi dẫn ông lên thư viện, bật chiếc đèn chùm giữa phòng và chiếc đèn đọc sách trên bàn làm việc. Tôi xếp cho ông một chiếc ghế ngồi quay lưng vào lò sưởi, rồi lấy xấp tài liệu đã ngụy tạo từ trong két ra. Ông cầm lấy và bắt đầu đọc, cúi lom khom săm soi qua chiếc kính cận, trong lúc tôi cời lại lò sưởi. Ngay khi thấy đầu ông ở vị trí thuận lợi, tôi giáng một đòn chí mạng bằng chiếc gày cời than vào đúng vị trí đốt sống cổ thứ tư. Thật là một công việc tinh tế khi phải tính toán chính xác lực cần thiết để tiêu diệt ông mà không làm rách da, nhưng kinh nghiệm nghề nghiệp đã giúp ích cho tôi rất nhiều. Ông khẽ hắt ra một tiếng thở gấp lớn, rồi chúi người về phía trước bàn hoàn toàn không một tiếng động. Tôi cất chiếc gậy cời than và kiểm tra ông. Cổ ông đã gãy và ông đã chết hẳn. Tôi bồng ông vào phòng ngủ của mình và cởi quần áo cho ông. Lúc làm xong khoảng mười phút nữa là đến mười giờ. Tôi giấu ông dưới gầm giường, nơi đã được dọn nệm sẵn cho buổi đêm, và thu dọn đống tài liệu trong thư viện. Sau đó tôi đi xuống nhà, cầm lấy chiếc ô của Levy, tự mở cửa sảnh bước ra ngoài, miệng hô to "Chúc ngủ ngon" đủ lớn để tầng hầm nghe thấy nếu đám gia nhân có đang lắng nghe. Tôi sải bước nhanh des dọc theo con đường, đi vào bằng cửa phụ của bệnh viện và quay trở lại nhà không một tiếng động qua lối đi riêng. Mọi chuyện sẽ rắc rối to nếu lúc đó có ai nhìn thấy tôi, nhưng tôi ngó người qua cầu thang sau và nghe thấy tiếng vợ chồng người đầu bếp vẫn đang trò chuyện dưới bếp. Tôi lẻn nhanh về sảnh, cất lại chiếc ô vào ống đựng, thu dọn tài liệu ở đó, đi lên thư viện và bấm chuông. Khi người hầu xuất hiện, tôi dặn anh ta khóa mọi thứ lại trừ lối đi riêng sang bệnh viện. Tôi chờ trong thư viện cho đến khi anh ta làm xong, và khoảng 10 giờ 30 phút, tôi nghe thấy cả hai người hầu đi lên lầu đi ngủ. Tôi đợi thêm mười lăm phút nữa rồi đi thẳng sang phòng giải phẫu. Tôi đẩy một chiếc bàn đẩy có bánh xe qua lối đi sang cửa nhà, rồi quay đi đón Levy. Thật phiền phức khi phải khiêng ông ta xuống dưới lầu, nhưng tôi không muốn ra tay sát hại ông ở bất kỳ căn phòng tầng trệt nào, nhỡ đâu người hầu tò mò ngó đầu vào trong vài phút tôi ra khỏi nhà hoặc lúc đang khóa cửa. Hơn nữa, việc đó chỉ thấm tháp vào đâu so với những gì tôi phải làm sau đó. Tôi đặt Levy lên bàn, đẩy qua bệnh viện và dùng ông ta để thay thế cho gã lang thang thú vị của tôi. Tôi tiếc vì phải từ bỏ ý định nghiên cứu bộ não của gã kia, nhưng tôi không thể liều lĩnh rước nghi ngờ vào người. Lúc đó vẫn còn khá sớm, nên tôi tranh thủ mất vài phút chuẩn bị cho Levy sẵn sàng để giải phẫu. Sau đó, tôi đặt gã lang thang của mình lên bàn và đẩy kịch xịch sang nhà. Lúc này đã là 11 giờ kém 5, và tôi nghĩ mình có thể yên tâm cho rằng đám gia nhân đã lên giường đi ngủ. Tôi bồng thi thể vào phòng ngủ của mình. Ông ta hơi nặng, nhưng nhẹ hơn Levy, và kinh nghiệm leo núi Alpes đã dạy tôi cách xử lý các thi thể. Đó là vấn đề kỹ năng nhiều hơn là sức mạnh, và dù sao đi nữa, tôi cũng là một người đàn ông vóc dáng cao lớn khỏe mạnh. Tôi đặt thi thể lên giường — không phải vì tôi mong đợi ai đó sẽ ngó vào trong lúc tôi vắng mặt, mà nhỡ có ai vào thì họ cũng chỉ thấy tôi đang ra vẻ ngủ say trên giường. Tôi kéo chăn trùm kín đầu ông ta một chút, cởi đồ ra và mặc bộ quần áo của Levy vào, may sao chúng hơi rộng một chút đối với tôi ở mọi chỗ, không quên mang theo kính, đồng hồ cùng những thứ linh tinh khác của ông. Gần mười một giờ rưỡi, tôi đã đứng ngoài đường để tìm xe taxi. Mọi người vừa bắt đầu lục đục kéo nhau về từ nhà hát, và tôi dễ dàng bắt được một chiếc ở góc đường Prince of Wales Road. Tôi bảo tài xế chở đến góc đường Hyde Park Corner. Đến đó, tôi xuống xe, boa cho anh ta một khoản hậu hĩnh và hẹn anh ta quay lại đón tôi ở đúng chỗ cũ sau một tiếng nữa. Anh ta gật đầu với một nụ cười ranh mãnh hiểu ý, rồi tôi sải bước đi lên đường Park Lane. Tôi mang theo quần áo của mình trong một chiếc vali, cầm theo áo khoác ngoài của tôi và chiếc ô của Levy. Khi đến số 9A, một số cửa sổ tầng trên vẫn đang sáng đèn. Tôi suýt chút nữa thì đến quá sớm, do ông già đã cử người hầu đi xem kịch. Tôi đứng đợi quanh đó vài phút và nghe tiếng đồng hồ điểm mười hai giờ rười rưỡi. Đèn tắt không lâu sau đó, và tôi tự mở cửa bước vào bằng chìa khóa của Levy. Ý định ban đầu của tôi, khi suy nghĩ về kế hoạch giết người này, là để Levy biến mất khỏi phòng nghiên cứu hoặc phòng ăn, chỉ để lại một đống quần áo trên thảm trước lò sưởi. Tuy nhiên, sự tình cờ là tôi có thể đảm bảo việc vắng mặt của phu nhân Levy khỏi London đã tạo ra một giải pháp đánh lạc hướng nhiều hơn, dù ít mang tính kỳ ảo thú vị hơn. Tôi bật đèn sảnh, treo chiếc áo khoác ướt sũng của Levy lên và đặt ô vào ống đựng. Tôi bước lên lầu thật nặng nề, ồn ào vào phòng ngủ và tắt đèn bằng công tắc phụ ở chiếu nghỉ. Tất nhiên tôi biết rõ ngôi nhà này. Chẳng có chút cơ hội nào để tôi đụng độ với tay người hầu nam cả. Lão Levy là một ông già giản dị, thích tự tay làm mọi việc. Lão ít khi bắt người hầu phải làm việc vất vả và chẳng bao giờ cần ai phục vụ vào ban đêm. Trong phòng ngủ, tôi cởi găng tay của Levy ra và đeo một đôi găng tay phẫu thuật vào, để không để lại dấu vân tay tố cáo. Vì tôi muốn tạo ấn tượng rằng Levy đã lên giường đi ngủ theo cách thông thường, nên tôi cứ thế lên giường đi ngủ. Phương pháp chắc chắn và đơn giản nhất để làm cho một việc trông giống như đã được thực hiện chính là thực hiện nó. Ví dụ như một chiếc giường bị vò nhàu nát bằng tay chẳng bao giờ trông giống như một chiếc giường đã có người nằm ngủ cả. Tất nhiên tôi không dám dùng lược của Levy, vì tóc tôi không cùng màu với tóc ông, nhưng tôi làm mọi thứ khác. Tôi đoán rằng một ông già chu đáo như Levy sẽ để giày ở nơi thuận tiện cho người hầu, và đáng lẽ tôi phải suy luận ra rằng ông sẽ gấp quần áo lại. Đó là một sai lầm, nhưng không quá quan trọng. Nhớ đến tác phẩm nhỏ được suy tính kỹ lưỡng của ông Bentley, tôi đã kiểm tra miệng Levy xem có răng giả không, nhưng ông không có chiếc nào. Tuy nhiên, tôi không quên làm ướt bàn chải đánh răng của ông.
Đúng một giờ, tôi thức dậy và mặc quần áo của chính mình dưới ánh đèn pin bỏ túi. Tôi không dám bật đèn phòng ngủ vì cửa sổ chỉ có rèm mỏng tang. Tôi đi đôi giày của mình và xỏ một đôi ủng cao su cũ bên ngoài cửa. Trên cầu thang và sàn sảnh có một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ dày, và tôi không sợ để lại dấu vết. Tôi lưỡng lự không biết có nên liều lĩnh để cửa trước sập phát ra tiếng động không, nhưng quyết định mang theo chìa khóa lẫy sẽ an toàn hơn. (Bây giờ nó đang nằm dưới sông Thames. Ngày hôm sau tôi đã ném nó xuống cầu Battersea Bridge.) Tôi lẻn xuống thật khẽ và đứng lắng nghe vài phút với tai áp vào khe thư thư. Tôi nghe thấy một viên cảnh sát bước tuần tra qua. Ngay khi tiếng bước chân của hắn nhỏ dần vào khoảng không xa xăm, tôi bước ra và khép hờ cửa lại. Nó khép lại gần như không một tiếng động, và tôi đi bộ ra để bắt chiếc taxi đã hẹn. Tôi mặc một chiếc áo khoác ngoài có kiểu dáng gần giống của Levy và đã cẩn thận xếp một chiếc mũ xếp opera trong vali. Tôi hy vọng gã tài xế sẽ không nhận ra lần này tôi không mang theo ô. May thay, trời lúc này đã ngớt mưa, chuyển thành một dạng mưa phùn lất phất, và nếu hắn có nhận thấy điều gì thì hắn cũng không bình phẩm gì. Tôi bảo hắn dừng ở số 50 Overstrand Mansions, trả tiền công và đứng dưới hiên nhà chờ cho hắn lái xe đi hẳn. Sau đó, tôi vội vã vòng ra cửa phụ của nhà mình và tự mở cửa bước vào. Lúc đó khoảng gần hai giờ kém mười lăm, và phần khó khăn nhất trong nhiệm vụ của tôi vẫn còn ở phía trước.
Bước đầu tiên của tôi là thay đổi diện mạo của đối tượng sao cho xóa bỏ mọi gợi ý ngay lập tức về Levy hoặc gã lang thang ở nhà tế bần. Tôi cho rằng chỉ cần một sự thay đổi khá bề ngoài là đủ, vì khả năng cao sẽ chẳng có cuộc truy lùng rầm rộ nào đối với gã lang thang kia. Hắn đã được giải quyết ổn thỏa và đã có người thay thế túc trực để đại diện cho hắn. Hơn nữa, nếu Levy có thực sự bị lần ra tới nhà tôi, thì việc chứng minh cái xác rành rành trước mắt thực ra không phải là của ông cũng chẳng có gì khó khăn. Cạo râu sạch sẽ, chải chút dầu dưỡng tóc và làm móng tay có lẽ là đủ để tạo ra một nhân dạng riêng biệt cho đồng phạm câm lặng của tôi. Tay hắn đã được rửa sạch sẽ ở bệnh viện, và dù có vết chai, nhưng không hề cáu bẩn. Tôi không thể làm kỹ lưỡng như mong muốn vì thời gian đang trôi đi. Tôi không chắc sẽ mất bao lâu để thủ tiêu hắn, và hơn nữa, tôi sợ hiện tượng cứng xác xuất hiện sẽ làm công việc của tôi thêm phần khó khăn. Khi đã cạo râu tỉa tóc cho hắn vừa ý, tôi kiếm một tấm ga trải giường chắc chắn và vài cuộn băng gạc bản rộng, cẩn thận trói hắn lại, chèn thêm bông gòn ở những chỗ băng gạc có thể cọ xát hoặc để lại vết bầm tím.
Bây giờ mới là phần thực sự gay go của toàn bộ công việc. Tôi đã tự định đoạt trong đầu rằng cách duy nhất để đưa hắn ra khỏi nhà là đi qua mái nhà. Đi qua khu vườn phía sau trong thời tiết ẩm ướt thế này là để lại một vệt dấu vết tàn phá phía sau chúng ta. Việc khiêng một xác chết xuống một con phố ngoại ô vào giữa đêm có vẻ nằm ngoài phạm vi thực tế. Ngược lại, trên mái nhà, cơn mưa — thứ đáng lẽ đã tố cáo tôi nếu ở dưới mặt đất — lại trở thành bạn đồng hành của tôi.
Để lên đến mái nhà, bắt buộc phải khiêng gánh nặng của mình lên tầng cao nhất của ngôi nhà, đi ngang qua phòng ngủ của người hầu và kéo hắn ra ngoài qua cửa sập trên mái phòng chứa đồ linh tinh. Nếu chỉ là vấn đề tự mình di chuyển lặng lẽ lên đó, tôi sẽ chẳng sợ làm thức giấc đám gia nhân, nhưng mang theo một cái xác nặng nhề thì khó khăn hơn nhiều. Việc đó hoàn toàn khả thi với điều kiện vợ chồng người hầu ngủ say như chết, nhưng nếu không, những bước chân nặng nề trên bậc cầu thang hẹp và tiếng mở cửa sập sẽ rõ mồn một đến mức không thể chối cãi. Tôi nhón chân thật nhẹ nhàng lên cầu thang và lắng nghe ở cửa phòng họ. Thật bực bội làm sao, tôi nghe thấy gã đàn ông rên rỉ và lầm bầm gì đó khi trở mình trên giường.
Tôi nhìn đồng hồ. Công việc chuẩn bị đã ngốn gần một tiếng đồng hồ tính từ đầu đến cuối, và tôi không dám chậm trễ trên mái nhà quá lâu. Tôi quyết định đi một nước cờ táo bạo và, có thể nói là, dùng chiêu bài đánh bóng để tạo bằng chứng ngoại phạm. Tôi bước thẳng vào phòng tắm mà không thèm dè chừng tiếng động, vặn tối đa cả hai vòi nước nóng lẫn lạnh và rút nắp cống thoát nước lên.
Gia nhân nhà tôi thường xuyên có cớ để phàn nàn về thói quen sử dụng phòng tắm vào những giờ giấc bất thường ban đêm của tôi. Không những dòng nước ào ạt đổ vào bể chứa làm phiền bất kỳ ai đang ngủ ở phía nhìn ra đường Prince of Wales Road của ngôi nhà, mà bể chứa nước của tôi còn mắc chứng kêu ục ục và thình thịch cực kỳ lớn, trong khi các đường ống thường xuyên phát ra tiếng rên rỉ inh ỏi. Thật mừng làm sao, trong lần cụ thể này, hệ thống bể chứa đã phát huy phong độ xuất sắc, kêu o o, huýt sáo và gầm rú như một nhà ga xe lửa. Tôi cho tiếng ồn khởi động trước năm phút, và khi tính toán rằng những kẻ đang ngủ đã chửi rủa tôi chán chê rồi trùm chăn kín đầu để chặn tiếng ồn, tôi vặn nhỏ dòng nước lại thành một dòng chảy nhỏ rồi rời khỏi phòng tắm, không quên để đèn sáng và khóa cửa lại đàng hoàng. Sau đó, tôi bồng gã lang thang của mình lên và khiêng thật nhẹ nhàng hết sức có thể lên lầu.
Phòng chứa đồ linh tinh là một căn gác mái nhỏ nằm ở phía bên kia chiếu nghỉ đối diện với phòng ngủ của người hầu và phòng chứa bể nước. Nơi này có một cửa sập, trèo lên bằng một chiếc thang gỗ ngắn. Tôi dựng thang lên, đẩy gã lang thang lên trước rồi leo theo sau hắn. Nước vẫn đang ào ạt đổ vào bể chứa, tạo ra tiếng động cứ như thể nó đang cố nuốt chửng một sợi xích sắt, và với dòng chảy đã được vặn nhỏ trong phòng tắm, tiếng rên rỉ của các đường ống đã tăng lên gần như tiếng hú. Tôi không sợ bất kỳ ai nghe thấy những tiếng động khác. Tôi kéo chiếc thang lên mái nhà theo sau mình.
Giữa nhà tôi và căn nhà cuối cùng thuộc khu Queen Caroline Mansions chỉ có một khoảng trống rộng vỏn vẹn vài bước chân. Quả thực, khi các tòa chung cư Mansions được xây dựng, tôi tin là đã có chút rắc rối liên quan đến quyền chiếu sáng cổ xưa, nhưng chắc là các bên đã dàn xếp ổn thỏa theo cách nào đó. Dù sao đi nữa, chiếc thang dài bảy foot của tôi cũng bắc qua rất vừa vặn. Tôi buộc chặt xác chết vào thang, rồi đẩy cho đến khi đầu bên kia tự vào lan can của ngôi nhà đối diện. Sau đó, tôi chạy đà một đoạn ngắn băng qua phòng chứa bể nước và mái phòng chứa đồ linh tinh, rồi hạ cánh êm ru sang bên kia, may mắn thay lan can vừa thấp lại vừa hẹp.
Phần còn lại thì đơn giản. Tôi khiêng gã lang thang đi dọc theo những mái nhà bằng phẳng, với ý định để hắn lại, giống như gã gù trong câu chuyện, trên cầu thang nhà ai đó hoặc thả xuống ống khói. Tôi đi được khoảng nửa quãng đường thì chợt nghĩ, "Chà, chỗ này chắc là quanh khu nhà của gã Thipps ngốc nghếch đây," và tôi nhớ lại cái mặt ngớ ngẩn của hắn, cùng những lời lảm nhảm ngớ ngẩn về việc mổ xẻ động vật. Tôi thấy thích thú làm sao khi nghĩ đến cảnh sẽ để lại món quà của mình cho hắn và xem hắn sẽ làm gì với nó. Tôi nằm rạp xuống và ngó đầu qua lan can phía sau. Lúc này trời đã tối như hũ nút và mưa lại trút xuống tầm tã, tôi liều mình dùng đến chiếc đèn pin. Đó là hành động bất cẩn duy nhất tôi làm, và tỷ lệ để bị nhìn thấy từ các tòa nhà đối diện là cực kỳ thấp. Ánh chớp sáng trong một giây hé lộ cho tôi điều mà tôi hầu như không dám hy vọng — một cửa sổ đang mở ngay bên dưới tôi.
Tôi nắm rõ mấy khu chung cư đó nên chắc chắn đó hoặc là phòng tắm hoặc nhà bếp. Tôi thắt một nút thắt lỏng ở sợi băng gạc thứ ba mang theo, và buộc chặt nó dưới nách cái xác. Tôi xoắn nó thành một sợi dây đôi, và cố định đầu kia vào thanh sắt gia cố của một ống khói. Sau đó, tôi thả lỏng bạn hiền của chúng ta xuống. Tôi tự mình trèo xuống theo hướng dẫn của ống thoát nước và chẳng mấy chốc đã kéo hắn vào qua cửa sổ phòng tắm nhà Thipps.
Đến lúc đó, tôi đã hơi tự đắc về bản thân nên tranh thủ mất vài phút để sắp xếp hắn nằm thật đẹp mắt và gọn gàng. Một cảm hứng chợt lóe lên gợi ý tôi nên đeo cho hắn chiếc kính gọng vàng mà tôi vô tình nhặt được ở ga Victoria. Tôi tình cờ chạm phải chúng trong túi khi đang tìm dao bấm để gỡ nút thắt, và tôi nhận ra sự sang trọng mà chúng sẽ mang lại cho vẻ ngoài của hắn, đồng thời khiến cho việc đánh lạc hướng trở nên hoàn hảo hơn. Tôi gắn chúng lên mặt hắn, xóa sạch mọi dấu vết hiện diện của mình nhiều nhất có thể, rồi chuồn đi như lúc đến, trèo ngược lên dễ dàng giữa ống thoát nước và sợi dây.
Tôi lặng lẽ đi bộ quay trở lại, vượt qua khe núi thuở nát một lần nữa và mang tấm thang cùng ga trải giường vào trong. Người đồng phạm kín đáo chào đón tôi bằng tiếng ục ục và thình thịch trấn an. Tôi không tạo ra một tiếng động nào trên cầu thang. Nhận thấy bản thân đã ngâm bồn tắm được khoảng ba phần tư tiếng đồng hồ, tôi khóa vòi nước lại, cho phép đám gia nhân đáng mến của tôi có chút thời gian ngủ nghỉ. Tôi cũng cảm thấy đã đến lúc mình cần nghỉ ngơi một chút.
Tuy nhiên, trước tiên tôi phải sang bệnh viện và làm cho mọi thứ ở đó hoàn toàn an toàn. Tôi tháo đầu Levy ra, và bắt đầu tiến hành mổ xẻ phần khuôn mặt. Chỉ trong vòng hai mươi phút, ngay cả vợ ông cũng không thể nhận ra ông nổi. Tôi quay về, để lại đôi ủng cao su và áo mưa ướt sũng bên cửa vườn. Chiếc quần của tôi được sấy khô bằng lò sưởi ga trong phòng ngủ, và tôi chải sạch mọi dấu vết bùn đất cùng gạch vụn. Bộ râu của gã lang thang thì được tôi thiêu hủy trong thư viện.
Tôi ngủ được trọn vẹn hai tiếng đồng hồ từ năm đến bảy giờ, lúc người hầu gọi tôi dậy như thường lệ. Tôi xin lỗi vì đã để nước chảy quá lâu và quá muộn, đồng thời nói thêm rằng tôi nghĩ mình sẽ cho thợ kiểm tra lại hệ thống bể chứa nước.
Tôi rất thú vị khi nhận ra bản thân cảm thấy đói hơn bình thường vào bữa sáng, cho thấy công sức của ca làm việc ban đêm đã gây ra một mức độ hao tổn mô nhất định. Sau đó, tôi sang bệnh viện để tiếp tục công việc giải phẫu. Vào buổi sáng, một tay thanh tra cảnh sát vô cùng đần độn đến hỏi thăm xem có cái xác nào trốn khỏi bệnh viện hay không. Tôi bảo người ta dẫn hắn đến chỗ tôi đang làm việc, và có vinh hạnh được cho hắn xem công việc tôi đang tiến hành trên phần đầu của Sir Reuben Levy. Sau đó, tôi cùng hắn đi một vòng đến nhà Thipps và có thể tự trấn an rằng gã lang thang của tôi trông rất đáng tin.
Ngay khi thị trường chứng khoán mở cửa, tôi gọi điện cho các nhà môi giới khác nhau của mình, và bằng một chút cẩn trọng, đã có thể bán tháo phần lớn số cổ phiếu Peru trong một thị trường đang đà đi lên. Tuy nhiên, về cuối ngày, những người mua trở nên khá hoang mang do cái chết của Levy, và cuối cùng tôi chỉ kiếm được vài trăm từ thương vụ đó.
Tin rằng giờ đây tôi đã làm sáng tỏ mọi điểm mà anh có thể thấy mơ hồ, cùng những lời chúc mừng về sự may mắn và sự tinh tường đã giúp anh đánh bại tôi, tôi xin kính chào, cùng những lời thăm hỏi ân cần gửi đến mẹ anh,
Thân ái,
Julian Freke
Tái bút: Di chúc của tôi đã được lập, để lại tiền cho Bệnh viện St. Luke’s và hiến tặng thi thể của tôi cho chính tổ chức đó để giải phẫu. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng bộ não của mình sẽ mang lại sự quan tâm cho giới khoa học. Vì tôi sẽ tự kết liễu đời mình, tôi tưởng tượng rằng có thể sẽ có chút khó khăn về vấn đề này. Anh có thể làm ơn giúp tôi, nếu được, gặp những người liên quan đến cuộc điều tra tử thi và đảm bảo rằng bộ não không bị tổn hại bởi một bác sĩ thiếu tay nghề trong buổi khám nghiệm tử thi, đồng thời thi thể được xử lý theo đúng nguyện vọng của tôi không?
Nhân tiện, có lẽ anh sẽ thấy thú vị khi biết rằng tôi đánh giá cao động cơ của anh khi ghé thăm chiều nay. Nó mang theo một lời cảnh báo, và tôi đang hành động theo nó bất chấp hậu quả thảm khốc đối với bản thân. Tôi rất vui khi nhận ra anh đã không đánh giá thấp thần kinh và trí thông minh của tôi, và đã từ chối mũi tiêm đó. Nếu anh chịu tiêm, tất nhiên anh đã chẳng bao giờ có thể về nhà toàn mạng. Sẽ chẳng còn lại chút dấu vết nào trong cơ thể anh về mũi tiêm đó, vốn bao gồm một chế phẩm strychnine vô hại, trộn lẫn với một loại độc chất gần như vô danh mà hiện tại chưa có xét nghiệm công nhận nào, một dung dịch cô đặc chứa chất sn—
Đến đây bản thảo bị đứt đoạn.
"Chà, mọi chuyện rõ ràng cả rồi đấy chứ," Parker nói.
"Chẳng phải kỳ lạ lắm sao?" Lord Peter nói. "Toàn bộ sự điềm tĩnh đó, tất cả bộ óc đó — thế mà hắn lại không thể cưỡng lại việc viết một bức thư thú tội để tỏ ra mình thông minh nhường nào, ngay cả để giữ cho cái đầu không vướng vào vòng dây thừng."
"Và đó là một điều tuyệt vời cho chúng ta," Thanh tra Sugg nói, "nhưng lạy Chúa, thưa ngài, lũ tội phạm này đứa nào cũng giống đứa nào cả thôi."
"Bia mộ của Freke," Parker nói khi Thanh tra đã rời đi. "Tiếp theo là gì đây, Peter?"
"Bây giờ tôi sẽ đãi một bữa tiệc tối," Lord Peter nói, "dành cho ông John P. Milligan cùng thư ký của ông ấy và các ông Crimplesham cùng Wicks. Tôi cảm thấy họ xứng đáng nhận được điều đó vì đã không sát hại Levy."
"Ừ, đừng quên vợ chồng nhà Thipps nhé," ông Parker nhắc nhở.
"Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào," Lord Peter nói, "tôi cũng không đời nào tự tước đi niềm vui được tận hưởng bầu bạn của phu nhân Thipps đâu. Bunter!"
"Thưa ngài?"
"Chai brandy Napoleon."