Ông Parker là một người độc thân, thuê một căn hộ mang phong cách kiến trúc Gruzia nhưng khá bất tiện tại số 12A phố Great Ormond, với giá một bảng một tuần. Những nỗ lực của ông vì sự nghiệp văn minh nhân loại không được đền đáp bằng những chiếc nhẫn kim cương từ các vị hoàng hậu hay những tấm séc hậu hĩnh từ các vị thủ tướng biết ơn, mà chỉ đổi lại một khoản lương khiêm tốn nhưng đủ sống, được rút từ túi tiền của những người nộp thuế Anh quốc. Ông tỉnh giấc sau một ngày dài làm việc vất vả mà chẳng đi đến đâu, trong mùi cháo yến mật bị khét. Qua khung cửa sổ phòng ngủ được mở thoáng cả trên lẫn dưới theo đúng tiêu chuẩn vệ sinh, một làn sương mù lạnh lẽo đang từ từ cuộn vào, và hình ảnh chiếc quần mùa đông vội vã vắt lên chiếc ghế từ tối hôm trước khiến ông bực bội với cảm giác về sự phi lý đến mức rẻ tiền của hình hài con người. Tiếng chuông điện thoại reo lên, ông mệt mỏi lê bước khỏi giường ra phòng khách, nơi bà Munns — người giúp việc theo ngày cho ông — đang dọn bàn và liên tục hắt hơi.
Ông Bunter đang nói chuyện.
“Thưa ngài, ngài huân tước bảo rằng ngài ấy sẽ rất vui nếu ngài có thể sắp xếp thời gian ghé qua dùng bữa sáng.”
Nếu mùi thơm của cật và thịt xông khói được lan truyền qua đường dây điện thoại, chắc chắn ông Parker cũng không thể cảm thấy được an ủi một cách sống động hơn thế.
“Hãy nhắn với ngài huân tước rằng tôi sẽ có mặt ở đó sau nửa tiếng nữa,” ông đáp lại với vẻ đầy biết ơn, rồi lao vào phòng tắm — nơi đồng thời cũng là nhà bếp — và thông báo với bà Munns (lúc này đang pha trà từ một ấm nước chưa sôi hẳn) rằng ông sẽ ra ngoài ăn sáng.
“Bà có thể mang phần cháo đó về nhà cho gia đình,” ông nói thêm một cách đầy cay độc, rồi quăng chiếc áo choàng tắm ra với sự quyết đoán đến mức bà Munns chỉ biết lủi thủi bỏ đi kèm theo một tiếng khịt mũi.
Chuyến xe buýt số 19 đã đưa ông đến Piccadilly chỉ muộn hơn mười lăm phút so với dự tính có phần lạc quan của ông, và ông Bunter đã dọn ra một bữa ăn tuyệt hảo, cà phê ngon tuyệt cú mèo cùng tờ Daily Mail trước lò sưởi bằng củi và than đang cháy hồng rực. Một giọng ca vắt vẻo từ đằng xa đang hát khúc “et iterum venturus est” trích từ Thánh lễ cung Si thứ của Bach, báo hiệu rằng đối với chủ nhân của căn hộ này, sự sạch sẽ và lòng kính Chúa luôn song hành ít nhất là một lần trong ngày. Chẳng mấy chốc, Lord Peter bước vào trong bộ áo choàng tắm in họa tiết những con công sặc sỡ một cách kỳ lạ, người vẫn còn ẩm ướt và thơm ngát mùi cỏ roi ngựa.
“Chào buổi sáng, anh bạn thân mến,” vị quý tộc ấy lên tiếng. “Thời tiết đúng là tệ hại phải không? Cậu thật tốt khi lặn lội ra ngoài trong cái tiết trời này, nhưng tớ có một bức thư muốn cậu xem, mà lại lười chẳng muốn sang chỗ cậu. Bunter và tớ vừa thức trắng cả đêm đấy.”
“Thư gì thế?” Parker hỏi.
“Đừng bao giờ bàn chuyện công việc khi miệng vẫn còn đầy đồ ăn,” Lord Peter quở trách; “ăn chút mứt vỏ cam Oxford đi — rồi tớ sẽ cho cậu xem cuốn Dante của tớ; họ vừa mang nó đến tối qua. Sáng nay tớ nên đọc gì đây, Bunter?”
“Bộ sưu tập của Lãnh chúa Erith sắp được đem ra bán đấu giá, thưa ngài. Có một bài viết về nó trên tờ Morning Post. Tôi nghĩ ngài nên xem qua bài đánh giá về cuốn sách mới của Sir Julian Freke mang tựa đề ‘Những cơ sở sinh lý học của lương tâm’ trên tờ Tạp chí Phụ trương Văn học Times. Ngoài ra, thưa ngài, có một vụ trộm khá kỳ lạ trên tờ Chronicle, và một bài đả kích các gia đình quý tộc trên tờ Herald — viết hơi dở, nếu tôi mạn phép được nhận xét như vậy, nhưng không thiếu sự hài hước một cách vô ý thức mà ngài hẳn sẽ thích thú.”
“Được rồi, đưa cho ta bài báo đó và vụ trộm,” ngài huân tước nói.
“Tôi đã xem qua các tờ báo khác,” ông Bunter tiếp lời, chỉ tay về phía một chồng báo cao ngất ngưởng, “và đã đánh dấu những phần ngài nên đọc sau bữa sáng.”
“Ồ, xin đừng nhắc đến nó,” Lord Peter kêu lên; “cậu làm ta mất cả cảm giác thèm ăn rồi đấy.”
Căn phòng chìm trong im lặng, ngoại trừ tiếng nhai bánh mì nướng giòn rụm và tiếng sột soạt của giấy báo.
“Tôi thấy họ hoãn cuộc điều tra rồi,” Parker lên tiếng sau một lúc.
“Còn cách nào khác đâu,” Lord Peter đáp; “nhưng Lady Levy đã về đến nơi tối qua, và sáng nay sẽ phải đến để nhận dạng hụt cái xác nhằm giúp ích cho Sugg.”
“Cũng đến lúc rồi,” ông Parker ngắn gọn nói.
Sự im lặng lại bao trùm.
“Tớ thấy vụ trộm của cậu chẳng có gì đặc sắc cả, Bunter,” Lord Peter nói. “Tất nhiên là làm ăn chuyên nghiệp, nhưng chẳng có tí trí tưởng tượng nào. Tớ muốn một tên tội phạm có trí tưởng tượng cơ. Bờ-rít-xtol đâu rồi... ý tớ là tờ Morning Post đâu?”
Sau một hồi im lặng nữa, Lord Peter nói: “Cậu có thể sai người đi lấy cuốn danh mục đó đi, Bunter, cuốn Apollonios Rhodios đó có lẽ đáng xem đấy. Không, ta thề là ta không tài nào nuốt trôi cái bài điểm sách kia đâu, nhưng cậu cứ việc nhét cuốn sách đó vào danh sách mượn của thư viện nếu muốn. Cuốn sách của hắn viết về tội phạm cũng đủ giải trí chừng nào còn có thể, nhưng lão ta có một con ong trong tai[1]. Cứ cho rằng Chúa là một chất tiết của gan thì đôi khi cũng đúng thôi, nhưng đâu cần phải nhai đi nhai lại mãi điều đó. Chẳng có gì là không thể chứng minh nếu tầm nhìn của cậu đủ hạn hẹp. Cứ nhìn Sugg mà xem.”
“Tôi xin lỗi,” Parker nói; “tôi không chú ý lắm. Tôi thấy thị trường Argentina đang ổn định lại chút ít.”
“Milligan,” Lord Peter nói.
“Thị trường dầu mỏ đang tồi tệ. Vụ Levy đã tạo ra sự khác biệt ở đó. Cơn sốt kỳ lạ đối với thị trường Peru bùng lên ngay trước khi ông ta mất tích nay lại lắng xuống rồi. Tớ tự hỏi không biết ông ta có dính líu gì đến chuyện đó không. Cậu có biết gì không?”
“Để tôi tìm hiểu,” Lord Peter nói. “Nó thế nào?”
“Ồ, đó hoàn toàn là một dự án ma đã chìm vào quên lãng từ nhiều năm nay. Thế mà tuần trước nó bỗng nhiên sống lại một chút. Tớ tình cờ chú ý đến nó vì mẹ tớ trót vướng vào vài trăm cổ phiếu từ lâu lắm rồi. Nó chưa bao giờ trả cổ tức cả. Giờ thì nó lại xịt ngóm rồi.”
Wimsey đẩy đĩa sang một bên và châm tẩu thuốc.
“Ăn xong rồi, tớ không ngại làm việc chút đâu,” anh nói. “Hôm qua cậu tiến triển thế nào rồi?”
“Chẳng đi đến đâu cả,” Parker đáp. “Tôi đã lùng sục khắp các căn hộ đó trong chính hình hài của mình và với hai lớp cải trang khác nhau. Tôi đóng vai nhân viên đo đồng hồ gas và người điên cuồng quyên góp cho Trại chó lạc, nhưng chẳng thu được manh mối gì, ngoại trừ một người hầu ở căn hộ trên cùng phía đầu đường Battersea Bridge Road nói rằng cô ta tưởng như nghe thấy một tiếng động thình lình trên mái nhà vào một đêm nào đó. Khi hỏi đêm nào, cô ta không nói chắc được. Hỏi có phải đêm thứ Hai không, cô ta nghĩ rất có thể là thế. Hỏi có phải vào trận gió lớn thổi bay cái ống khói nhà tôi vào tối thứ Bảy hay không, cô ta không dám chắc nhưng cũng có khả năng đó. Hỏi có chắc là tiếng trên mái nhà chứ không phải trong căn hộ không, cô ta bảo chắc chắn là có một bức tranh bị rơi xuống vào sáng hôm sau. Quả là một cô nàng dễ bị ám thị. Tôi đã gặp những người bạn của anh, vợ chồng Appledore — những người đón tiếp tôi với thái độ lạnh nhạt, nhưng chẳng thể phàn nàn gì cụ thể về Thipps ngoại trừ việc mẹ anh ta hay nuốt âm ‘h’, và việc anh ta từng đến nhà họ mà không được mời, mang theo một cuốn sách mỏng phản đối việc mổ xẻ động vật sống. Viên đại tá người Ấn Độ ở tầng một thì lớn tiếng nhưng lại thân thiện đến bất ngờ. Ông ấy đãi tôi món cà ri Ấn Độ vào bữa tối cùng một ít whisky rất ngon, nhưng ông ấy sống như một dạng ẩn sĩ, và tất cả những gì ông ấy có thể nói với tôi là ông ấy không thể chịu nổi bà Appledore.”
“Cậu không thu được gì ở ngôi nhà đó sao?”
“Chỉ có cuốn nhật ký riêng của Levy. Tôi đã mang nó theo đây. Nó đây này. Tuy nhiên, nó chẳng tiết lộ nhiều lắm. Toàn là những dòng như: ‘Tom và Annie đến ăn tối’; và ‘Sinh nhật người vợ dấu yêu của tôi; tặng nàng chiếc nhẫn ngọc mắt mèo cổ’; ‘Ông Arbuthnot ghé qua uống trà; hắn muốn cưới Rachel, nhưng tôi thích một kẻ vững vàng hơn cho báu vật của mình’. Dù vậy, tôi nghĩ nó sẽ cho thấy ai đã đến nhà và đại loại thế. Rõ ràng là ông ta viết nó vào ban đêm. Không có dòng nào ghi cho ngày thứ Hai cả.”
“Tôi đoán nó sẽ hữu ích thôi,” Lord Peter vừa nói vừa lật giật các trang giấy. “Lão già tội nghiệp. Này, bây giờ tôi không còn chắc chắn lắm việc lão ta bị thủ tiêu nữa rồi.”
Anh thuật lại chi tiết công việc trong ngày của mình cho ông Parker.
“Arbuthnot?” Parker nói. “Đó có phải là Arbuthnot trong cuốn nhật ký không?”
“Chắc vậy rồi. Tôi đã lùng sục tìm hắn ta vì biết hắn thích lảng vảng quanh Sở Giao dịch Chứng khoán. Còn về Milligan, trông hắn có vẻ đàng hoàng, nhưng tôi tin là hắn khá nhẫn tâm trong kinh doanh và chẳng thể đoán trước được điều gì. Sau đó là gã thư ký tóc đỏ — một kẻ tính nhẩm siêu tốc với cái mặt như con cá, cứ câm như hến — chắc trong gia phả nhà hắn có cả Búp bê Nhựa đường[2] quá. Milligan có một động cơ cực kỳ tốt để, ít nhất là, cho Levy ‘nghỉ ngơi’ vài ngày. Rồi còn nhân vật mới nữa chứ.”
“Nhân vật mới nào?”
“À, đó là bức thư mà tôi đã nhắc đến với cậu. Tôi để nó ở đâu nhỉ? Đây rồi. Giấy da đẹp, in địa chỉ văn phòng luật sư ở Salisbury, và có dấu bưu điện tương ứng. Được viết rất cẩn thận bằng ngòi bút lá tre bởi một doanh nhân lớn tuổi mang phong cách cổ điển.”
Parker cầm lấy bức thư và đọc:
Crimplesham và Wicks,
Luật sư,
Milford Hill, Salisbury,
Ngày 17 tháng 11, 192—.
Thưa ngài,
Liên quan đến quảng cáo của ngài ngày hôm nay trên mục nhắn tin cá nhân của tờ The Times, tôi có lý do để tin rằng chiếc kính mắt và sợi dây đeo đang nhắc tới có thể chính là món đồ tôi đã đánh mất trên tuyến Đường sắt Điện L. B. & S. C. trong chuyến viếng thăm London vào thứ Hai tuần trước. Tôi rời ga Victoria trên chuyến tàu 5 giờ 45 và không nhận ra mình bị mất đồ cho đến khi tới Balham. Dấu hiệu này cùng với thông số kỹ thuật của thợ kính về cặp kính mà tôi gửi kèm theo đây, hẳn sẽ đủ để vừa nhận dạng vừa làm bảo đảm cho sự thiện chí của tôi. Nếu quả thực cặp kính đó là của tôi, tôi sẽ vô cùng biết ơn nếu ngài có lòng gửi lại cho tôi qua đường bưu điện bảo đảm, bởi vì sợi dây đeo là món quà từ con gái tôi và là một trong những tài sản quý giá nhất của tôi.
Xin chân thành cảm ơn ngài trước vì lòng tốt này, và xin lỗi vì phiền phức mà tôi sắp gây ra cho ngài, tôi xin kính chào,
Trân trọng,
Thos. Crimplesham
Lord Peter Wimsey,
110, Piccadilly, W.
(Đính kèm)
“Chà chà,” Parker nói, “đây đúng là điều mà người ta gọi là bất ngờ.”
“Hoặc đây là một sự hiểu lầm vô cùng kỳ cục,” Lord Peter nói, “hoặc ông Crimplesham là một tên ác nhân vô cùng táo tợn và xảo quyệt. Hoặc tất nhiên, cũng có khả năng đó là nhầm kính. Tốt hơn hết là chúng ta nên làm rõ vấn đề đó ngay lập tức. Tôi đoán là cặp kính đang ở đồn cảnh sát. Tôi ước gì cậu gọi điện đến đó và yêu cầu họ gửi ngay bản miêu tả của thợ kính về — đồng thời cậu cũng có thể hỏi xem đó có phải là một toa kính rất phổ biến hay không.”
“Được thôi,” Parker nói và nhấc ống nghe lên khỏi giá đỡ.
“Và giờ thì,” bạn của anh nói khi thông điệp đã được chuyển đi, “hãy vào thư viện một phút.”
Trên bàn trong thư viện, Lord Peter đã bày ra một loạt các bản in brôm-cua, cái thì khô, cái còn ẩm, và cái thì mới chỉ rửa được một nửa.
“Những tấm nhỏ này là bản gốc của các bức ảnh chúng ta vừa chụp,” Lord Peter nói, “và những tấm lớn này là bản phóng to đều được làm chuẩn xác theo cùng một tỷ lệ. Tấm này là dấu chân trên sàn linoleum; hiện tại chúng ta sẽ để riêng nó ra. Giờ thì những dấu vân tay này có thể chia thành năm nhóm. Tôi đã đánh số chúng trên các bản in — thấy chưa? — và lập một danh sách:
“A. Dấu vân tay của chính Levy, lấy từ cuốn sách đầu giường và bàn chải tóc của ông ta — đây và đây — cậu không thể nhầm lẫn vết sẹo nhỏ trên ngón cái được.
“B. Những vết mờ do ngón tay đeo găng của kẻ đã ngủ trong phòng Levy đêm thứ Hai để lại. Chúng hiện rõ trên bình nước và trên đôi giày — chồng lên dấu vân tay của Levy. Chúng rất rõ nét trên giày — rõ đến ngạc nhiên đối với bàn tay đeo găng, và tôi suy luận rằng đó là găng tay cao su và vừa mới nhúng nước.
“Đây lại là một điểm thú vị nữa. Levy đã đi dạo trong cơn mưa tối thứ Hai, như chúng ta đã biết, và những vết sẫm màu này là vết bùn bắn tóe. Cậu thấy đấy, chúng nằm đè lên dấu vân tay của Levy trong mọi trường hợp. Giờ thì xem này: trên chiếc giày trái này, chúng ta tìm thấy dấu ngón cái của kẻ lạ mặt đè lên lớp bùn trên phần da phía trên gót giày. Đó là một vị trí kỳ lạ để tìm thấy dấu ngón cái trên một chiếc giày, phải không? Nghĩa là, nếu Levy tự cởi giày của mình. Nhưng đó lại là nơi cậu sẽ mong đợi được nhìn thấy nó nếu có ai đó dùng vũ lực lột giày ra hộ hắn. Một lần nữa, hầu hết dấu vân tay của kẻ lạ mặt đều đè lên các vết bùn, nhưng ở đây lại có một vết bùn bắn đè lên chúng một lần nữa. Điều đó khiến tôi suy luận rằng kẻ lạ mặt đã quay trở lại Park Lane bằng taxi, xe ngựa hoặc ô tô, nhưng tại một thời điểm nào đó hắn đã đi bộ một đoạn ngắn — chỉ đủ để bước vào vũng nước và làm bắn bùn lên giày. Cậu nghĩ sao?”
“Rất hay,” Parker nói. “Tuy nhiên hơi rắc rối một chút, và các dấu vết không hoàn toàn được như tôi mong đợi ở một dấu vân tay.”
“À, tôi sẽ không nhấn mạnh quá nhiều vào điều đó. Nhưng nó khớp với những phỏng đoán trước đây của chúng ta. Giờ hãy chuyển sang:
“C. Những dấu vân tay do gã ác nhân đặc biệt của chính tôi lưu lại một cách nhã nhặn trên rìa xa của bồn tắm nhà Thipps — nơi cậu đã phát hiện ra chúng, còn tôi thì đáng bị quất roi vì đã không phát hiện ra. Bàn tay trái, cậu để ý nhé, phần gốc lòng bàn tay và các ngón tay, nhưng không phải các đầu ngón tay, trông như thể hắn đã tỳ người lên thành bồn tắm trong lúc cúi xuống để chỉnh sửa thứ gì đó ở đáy bồn, có lẽ là chiếc kính kẹp mũi. Đeo găng, cậu thấy đấy, nhưng không có gờ hay đường nối nào cả — tôi nói cao su, cậu cũng nói cao su. Thế là xong. Giờ thì nhìn đây:
“D và E lấy ra từ danh thiếp của tôi. Có thứ này ở góc, được đánh dấu là F, nhưng cậu có thể lờ nó đi; trong tài liệu gốc, đó là một vết dính do ngón tay của cậu thanh niên đã lấy nó từ tay tôi để lại, sau khi hắn vừa dùng ngón tay lấy một mẩu kẹo cao su ra khỏi răng để bảo tôi rằng ông Milligan có thể bận hoặc rảnh. D and E là dấu ngón cái của ông Milligan và gã thư ký tóc đỏ của hắn. Tôi không rõ cái nào là cái nào, nhưng tôi đã thấy cậu thanh niên nhai kẹo cao su đưa danh thiếp cho gã thư ký, và khi bước vào căn phòng kín, tôi thấy John P. Milligan đang đứng cầm nó trên tay, nên chắc chắn là một trong hai người đó, và lúc này thì việc phân biệt cái nào là cái nào không quan trọng đối với mục đích của chúng ta. Tôi đã tiện tay chôm luôn tấm danh thiếp đó khi rời đi.
“Chà, thế này nhé Parker, đây là thứ đã khiến Bunter và tôi thức trắng đến tận tảng sáng. Tôi đã đo đạc hết cách này đến cách khác cho đến khi đầu óc muốn quay cuồng, và đã dán mắt nhìn cho đến khi gần mù cả hai mắt, nhưng tôi chịu chết không thể đưa ra quyết định nổi. Câu hỏi 1: C có trùng khớp với B không? Câu hỏi 2: D hoặc E có trùng khớp với B không? Tất nhiên là chẳng có gì để dựa vào ngoài kích thước và hình dáng, và các dấu vết thì quá mờ nhạt — cậu nghĩ sao?”
Parker đầy hoài nghi lắc đầu.
“Tôi nghĩ E suýt chút nữa có thể loại ra khỏi vòng chiến,” anh nói; “nó trông giống như một ngón cái dài và hẹp một cách quá mức. Nhưng tôi nghĩ có một sự giống nhau rõ rệt giữa độ rộng của B trên bình nước và C trên bồn tắm. Và tôi không thấy có lý do gì mà D không thể giống với B, chỉ có điều là có quá ít dữ liệu để phán đoán.”
“Sự phán đoán ngây thơ của cậu và các số đo của tôi đã đưa cả hai đến cùng một kết quả — nếu cậu có thể gọi đó là kết quả,” Lord Peter cay đắng nói.
“Một điều nữa,” Parker nói. “Tại sao quái chúng ta lại cứ phải cố gắng liên kết B với C nhỉ? Việc cậu và tôi tình cờ là bạn bè không có nghĩa là chúng ta buộc phải kết luận rằng hai vụ án mà chúng ta tình cờ quan tâm lại có mối liên hệ hữu cơ nào với nhau. Tại sao lại phải thế chứ? Kẻ duy nhất nghĩ rằng chúng có liên quan là Sugg, và hắn ta thì chẳng có gì đáng tin cậy cả. Mọi chuyện sẽ khác nếu có chút sự thật nào trong giả thuyết rằng kẻ nằm trong bồn tắm chính là Levy, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng hắn không phải vậy. Thật nực cười khi cho rằng cùng một kẻ lại đi thực hiện hai tội ác hoàn toàn khác nhau trong cùng một đêm, một vụ ở Battersea và vụ kia ở Park Lane.”
“Tớ biết chứ,” Wimsey nói, “mặc dù tất nhiên chúng ta không được quên rằng Levy đã có mặt ở Battersea vào thời điểm đó, và giờ khi biết rằng ông ta không trở về nhà lúc mười giờ như người ta tưởng, chúng ta chẳng có lý do gì để nghĩ rằng ông ta từng rời khỏi Battersea cả.”
“Đúng vậy. Nhưng ở Battersea còn có những nơi khác ngoài phòng tắm nhà Thipps. Và ông ta không hề có mặt trong phòng tắm nhà Thipps. Thực ra, ngẫm lại thì đó lại là nơi duy nhất trên thế gian này mà chúng ta biết chắc chắn là ông ta không có mặt. Vậy cái bồn tắm nhà Thipps liên quan gì đến chuyện này chứ?”
“Tôi không biết,” Lord Peter nói. “Chà, có lẽ hôm nay chúng ta sẽ tìm được manh mối khá hơn.”
Anh ngả người ra sau ghế và trầm ngâm hút thuốc một lúc lâu trên đống tài liệu mà Bunter đã đánh dấu sẵn cho mình.
“Họ đã đưa cậu ra ánh đèn sân khấu rồi đấy,” anh nói. “Tạ ơn Chúa, Sugg ghét tôi quá nên chẳng thèm cho tôi chút tiếng tăm nào. Mục Nhắn tin cá nhân mới nhạt nhẽo làm sao! ‘Pipsey yêu dấu — Hãy mau quay về với Popsey đang phát điên vì nhớ em’ — và mấy gã thanh niên quen thuộc đang cần tài trợ tài chính, cùng với lời nhắn nhủ quen thuộc ‘Hãy nhớ đến Đấng Tạo Hóa trong những ngày tháng tuổi trẻ của ngươi.’ Ô kìa! Tiếng chuông cửa kìa. Ồ, đó là câu trả lời từ Scotland Yard rồi.”
Bức thư từ Scotland Yard gửi kèm một bản thông số kỹ thuật của thợ kính y hệt như bản do ông Crimplesham gửi tới, đồng thời cho biết thêm rằng đó là một cặp kính bất thường, do độ mạnh đặc biệt của tròng kính và sự khác biệt rõ rệt giữa thị lực của hai mắt.
“Thế thì quá đủ rồi,” Parker nói.
“Đúng vậy,” Wimsey nói. “Vậy là Khả năng số 3 đã bị loại bỏ. Vẫn còn lại Khả năng số 1: Tai nạn hoặc Hiểu lầm, và số 2: Kẻ gian có mưu đồ, thuộc loại cực kỳ táo bạo và tính toán — thực ra là loại có đặc điểm của kẻ hoặc những kẻ đã gây ra hai rắc rối của chúng ta. Theo các phương pháp được truyền thụ tại trường đại học mà tôi vinh dự là cựu sinh viên, giờ chúng ta sẽ lần lượt xem xét các giả thuyết khác nhau do Khả năng số 2 mang lại. Khả năng này có thể được chia nhỏ thành hai hoặc nhiều Giả thuyết hơn. Theo Giả thuyết 1 (được nhiệt liệt ủng hộ bởi vị đồng nghiệp lỗi lạc của tôi — Giáo sư Snupshed), tên tội phạm mà chúng ta có thể gọi là X, không phải là Crimplesham, nhưng đang lợi dụng tên của Crimplesham làm cái khiên, hay chiếc à-gít[3] của hắn. Giả thuyết này có thể được chia nhỏ tiếp thành hai khả năng thay thế. Khả năng thay thế A: Crimplesham là một kẻ đồng lõa vô tội và không hề hay biết, còn X là người làm thuê cho hắn. X viết thư dưới tên của Crimplesham bằng giấy của văn phòng Crimplesham và tìm cách để món đồ đang nói tới, tức là chiếc kính mắt, được gửi đến địa chỉ của Crimplesham. Hắn ở vị trí có thể chặn bưu kiện trước khi nó đến tay Crimplesham. Có phỏng đoán cho rằng X là người lau dọn, nhân viên tập sự, thư ký hoặc gã gác cổng của Crimplesham. Điều này mở ra một lĩnh vực điều tra rộng lớn. Phương pháp điều tra sẽ là phỏng vấn Crimplesham và tìm xem có đúng là ông ta đã gửi bức thư đó không, và nếu không thì ai có quyền tiếp cận thư từ của ông ta. Khả năng thay thế B: Crimplesham đang nằm dưới ảnh hưởng hoặc quyền lực của X, và đã bị xúi giục viết bức thư bởi (a) hối lộ, (b) xuyên tạc sự thật hoặc (c) đe dọa. Trong trường hợp đó, X có thể là một họ hàng hoặc bạn bè có tài thuyết phục, hoặc là một chủ nợ, kẻ tống tiền hay sát thủ; mặt khác, Crimplesham rõ ràng là kẻ dễ bị mua chuộc hoặc là một tên ngốc. Phương pháp điều tra trong trường hợp này, tôi xin mạn phép đề xuất, lại là phỏng vấn Crimplesham, đặt các sự kiện của vụ án một cách đanh thép trước mặt hắn, và quả quyết với hắn bằng những lời lẽ đe dọa nhất rằng hắn phải đối mặt với một án phạt tù khổ sai kéo dài vì tội đồng lõa sau khi vụ án mạng đã xảy ra — ừm hửm! Thưa các quý ông, hy vọng rằng các vị đã theo kịp tôi đến đây, chúng ta sẽ chuyển sang xem xét Giả thuyết số 2 — hướng mà cá nhân tôi nghiêng về — theo đó X chính là Crimplesham.
“Trong trường hợp này, Crimplesham — người mà theo lời của một bậc thầy văn học kinh điển Anh, là một con người-đầy-mưu-lược-và-sáng-suốt — đã suy luận một cách chính xác rằng, trong số tất cả mọi người, kẻ mà chúng ta ít ngờ tới nhất lại xuất hiện để trả lời mẩu quảng cáo của mình chính là tên tội phạm. Do đó, hắn chơi một ván bài lừa bịp táo bạo. Hắn bịa ra một tình huống mà cặp kính rất có thể đã bị mất hoặc bị đánh cắp, rồi đến đòi lại chúng. Nếu bị chất vấn, sẽ chẳng có ai tỏ ra ngạc nhiên hơn hắn khi biết chúng được tìm thấy ở đâu. Hắn sẽ đưa ra các nhân chứng để chứng minh rằng hắn đã rời ga Victoria lúc 5 giờ 45 và bước xuống tàu ở Balham đúng giờ biểu đồ, rồi thức trắng cả tối thứ Hai để chơi cờ vua với một quý ông đáng kính rất có tiếng ở Balham. Trong trường hợp này, phương pháp điều tra sẽ là moi thông tin từ vị quý ông đáng kính ở Balham kia, và nếu ông ta tình cờ là một quý ông độc thân sống với một bà quản gia điếc lác, thì việc bác bỏ bằng chứng ngoại phạm có lẽ không phải là chuyện dễ dàng gì, bởi vì ngoài các tiểu thuyết trinh thám ra, rất ít nhân viên soát vé hay nhân viên xe buýt nào giữ được trí nhớ chính xác về tất cả những hành khách qua lại giữa Balham và London vào bất cứ buổi tối nào trong tuần.
“Cuối cùng, thưa các quý ông, tôi xin thẳng thắn chỉ ra điểm yếu của tất cả các giả thuyết này, đó là: không có giả thuyết nào đưa ra được lời giải thích tại sao vật chứng kết tội lại được để lại một cách dễ thấy trên thi thể ngay từ đầu.”
Ông Parker đã lắng nghe với sự kiên nhẫn đáng ngợi khen trước bài diễn thuyết mang tính hàn lâm này.
“Liệu X,” ông gợi ý, “có thể là kẻ thù của Crimplesham, kẻ vốn có ý đồ đổ tội lên đầu ông ta hay không?”
“Có thể chứ. Trong trường hợp đó, hắn sẽ rất dễ bị phát hiện, vì rõ ràng hắn sống ở rất gần Crimplesham và cặp kính của ông ta, và khi đó Crimplesham vì sợ mất mạng sẽ trở thành một đồng minh quý giá cho bên công tố.”
“Còn khả năng đầu tiên thì sao, hiểu lầm hay tai nạn?”
“À thì! Dĩ nhiên là để thảo luận thì chẳng có ích gì, vì nó thực sự chẳng cung cấp bất kỳ dữ liệu nào để mà bàn tán cả.”
“Dù sao đi nữa,” Parker nói, “hướng đi hiển nhiên lúc này xem ra là phải đến Salisbury.”
“Có vẻ là thế rồi,” Lord Peter nói.
“Tốt lắm,” viên thám tử nói, “vậy là tôi, cậu hay cả hai chúng ta đây?”
“Là tôi,” Lord Peter đáp, “và điều đó vì hai lý do. Thứ nhất, bởi vì nếu (theo Khả năng số 2, Giả thuyết 1, Khả năng thay thế A) Crimplesham chỉ là một con tốt thí vô tội, thì người đã đăng quảng cáo chính là người thích hợp nhất để trao trả tài sản. Thứ hai, bởi vì nếu chúng ta áp dụng Giả thuyết 2, chúng ta không được bỏ qua khả năng đen tối rằng Crimplesham-X đang giăng một cái bẫy cẩn thận nhằm loại bỏ kẻ đã cả gan đăng báo đại chúng bày tỏ sự quan tâm đến việc giải mã bí ẩn công viên Battersea.”
“Điều đó đối với tôi lại là một lý do để cả hai chúng ta cùng đi,” viên thám tử phản bác.
“Còn lâu nhé,” Lord Peter nói. “Tại sao lại phải lao đầu vào bẫy của Crimplesham-X bằng cách dâng tận tay hắn hai gã duy nhất ở London có trong tay bằng chứng — dẫu cho nó có thế nào đi nữa — và xin phép được nói là cả cái đầu khôn ngoan để liên kết hắn với cái xác ở Battersea chứ?”
“Nhưng nếu chúng ta báo cho Sở Cảnh sát biết chúng ta đi đâu, và cả hai chúng ta đều bị tóm gọn,” ông Parker nói, “thì điều đó sẽ cung cấp bằng chứng giả định vô cùng mạnh mẽ về tội lỗi của Crimplesham, và dù thế nào đi nữa, nếu hắn không bị treo cổ vì tội giết gã trong bồn tắm thì ít nhất hắn cũng bị treo cổ vì tội giết chúng ta.”
“Chà,” Lord Peter nói, “nếu hắn chỉ giết mình tôi thì cậu vẫn có thể treo cổ hắn chứ — lãng phí một thanh niên cường tráng, hoàn hảo bề gia thất như cậu để làm gì chứ? Hơn nữa, còn lão Levy thì sao? Nếu cậu tàn phế rồi, cậu nghĩ có ai khác sẽ tìm ra lão ta nữa không?”
“Nhưng chúng ta có thể dọa Crimplesham bằng cách dùng sở cảnh sát ra áp tải hắn.”
“À, quái thật, nếu tính đến chuyện đó, tôi hoàn toàn có thể dọa hắn bằng cách dùng cậu, mà xét việc cậu đang nắm giữ bằng chứng hiện có thì điều đó mới thực sự đáng nói. Và rồi, giả sử đây chỉ là một cuộc truy tìm vô vọng xét đến cùng, cậu sẽ hoài phí thời gian lẽ ra có thể dùng để tiếp tục phá án. Có rất nhiều việc cần phải làm đấy.”
“Thôi được,” Parker nói, dù bị thuyết phục nhưng vẫn đầy vẻ miễn cưỡng, “vậy tại sao tôi không thể đi?”
“Nhảm nhí!” Lord Peter nói. “Tôi được thuê (bởi cụ bà Thipps, người mà tôi dành sự kính trọng lớn nhất) để giải quyết vụ án này, và tôi chỉ gia ơn cho phép cậu nhúng tay vào bằng sự lịch sự của mình thôi đấy.”
Ông Parker rên rỉ.
“Ít nhất cậu cũng phải dẫn theo Bunter chứ?” ông nói.
“Để nể nang tâm trạng của cậu đấy,” Lord Peter đáp, “tôi sẽ mang theo Bunter, mặc dù hắn có ích hơn nhiều khi được giao chụp ảnh hoặc lục lọi tủ quần áo của tôi. Có chuyến tàu nào tốt đi Salisbury không, Bunter?”
“Có một chuyến rất đẹp lúc 10 giờ 50, thưa ngài.”
“Hãy phiền cậu sắp xếp để kịp chuyến đó nhé,” Lord Peter vừa nói vừa cởi phăng áo choàng tắm lê lết đi thẳng vào phòng ngủ của mình. “Và này Parker — nếu cậu không có việc gì khác để làm, hãy tìm cho ra tay thư ký của Levy và điều tra vụ việc nhỏ về dầu mỏ Peru đó đi.”
Lord Peter mang theo cuốn nhật ký của Sir Reuben Levy để đọc giết thời gian trên tàu. Đó là một tài liệu giản dị, và dưới ánh sáng của những sự thật gần đây, mang màu sắc khá thảm hại. Con mãnh thú chiến đấu đầy cay nghiệt trên Sở Giao dịch Chứng khoán — kẻ chỉ cần gật đầu một cái là có thể khiến chú gấu dữ tợn phải nhảy múa, hay buộc con bò tót hung hãn phải cúi đầu ăn từ lòng bàn tay mình, kẻ mà hơi thở có thể tàn phá cả những vùng đất rộng lớn bằng nạn đói hoặc hất cẳng các thế lực tài chính khỏi ngai vàng của họ — lại lộ diện trong đời sống riêng tư là một người tốt bụng, gia giáo, có sự kiêu hãnh đầy ngây thơ về bản thân và những người thân yêu, hay tâm sự, hào phóng và hơi tẻ nhạt. Những khoản tiết kiệm nhỏ nhặt của chính ông ta được ghi chép cẩn thận bên cạnh những món quà xa hoa dành cho vợ và con gái. Những sự kiện nhỏ nhặt trong sinh hoạt gia đình xuất hiện, chẳng hạn như: “Có thợ đến sửa mái nhà kính,” hay “Quản gia mới (Simpson) đã đến, do nhà Goldbergs giới thiệu. Tôi nghĩ anh ta sẽ làm việc vừa ý.” Mọi vị khách và các buổi tiệc tùng đều được ghi chép đầy đủ, từ bữa trưa vô cùng hoành tráng với Lord Dewsbury — Bộ trưởng Ngoại giao, và Tiến sĩ Jabez K. Wort — đặc sứ Mỹ, qua một loạt các bữa tối ngoại giao với các nhà tài chính kiệt xuất, cho đến những buổi họp mặt gia đình thân mật của những người được gọi bằng tên thánh hoặc biệt danh. Khoảng tháng Năm bắt đầu xuất hiện ghi chép về chứng suy nhược thần kinh của Lady Levy, và những đề cập tiếp theo về chủ đề này xuất hiện trong các tháng sau đó. Vào tháng Chín, có ghi chép rằng “Freke đến thăm người vợ thân yêu của tôi và khuyên nên nghỉ ngơi hoàn toàn kèm theo việc thay đổi không gian sống. Nàng đang tính đi nước ngoài cùng Rachel.” Tên của vị chuyên gia thần kinh nổi tiếng xuất hiện với tư cách là khách ăn trưa hoặc ăn tối khoảng một tháng một lần, và điều đó chợt lóe lên trong đầu Lord Peter rằng Freke sẽ là một người thích hợp để tham khảo về chính bản thân Levy. “Đôi khi người ta tâm sự với bác sĩ,” anh lẩm bẩm một mình. “Và, lạy Chúa tôi! Nếu vào tối thứ Hai Levy chỉ ghé qua gặp Freke, thì điều đó phần nào dẹp bỏ được sự kiện ở Battersea rồi còn gì nữa nhỉ?” Anh ghi chú lại để tìm gặp Sir Julian và lật tiếp các trang sau. Vào ngày 18 tháng 9, Lady Levy và con gái đã khởi hành đi miền nam nước Pháp. Rồi bất thình lình, dưới ngày 5 tháng 10, Lord Peter tìm thấy thứ mình đang tìm kiếm: “Goldberg, Skriner và Milligan đến ăn tối.”
Đó chính là bằng chứng cho thấy Milligan đã từng có mặt trong ngôi nhà đó. Đã có một buổi yến tiệc trang trọng — một cuộc gặp gỡ tựa như hai đấu sĩ bắt tay nhau trước trận chiến. Skriner là một tay buôn tranh nổi tiếng; Lord Peter hình dung ra cảnh sau bữa tiệc mọi người kéo lên lầu để ngắm hai bức tranh của Corot trong phòng khách, và bức chân dung đứa con gái lớn của Levy — người đã qua đời năm mười sáu tuổi. Tranh do Augustus John vẽ và được treo trong phòng ngủ. Tên của gã thư ký tóc đỏ không hề được nhắc đến ở bất cứ đâu, ngoại trừ chữ cái viết tắt S. xuất hiện trong một ghi chép khác. Xuyên suốt tháng Chín và tháng Mười, Anderson (ở nhà hát Wyndham’s) là một vị khách thường xuyên lui tới.
Lord Peter lắc đầu ngán ngẩm trước cuốn nhật ký, rồi quay sang suy ngẫm về bí ẩn công viên Battersea. Trong khi ở vụ án Levy, việc đưa ra động cơ cho tội ác — nếu đó thực sự là tội ác — là một điều khá dễ dàng, và khó khăn nằm ở chỗ khám phá phương thức thực hiện cũng như tung tích của nạn nhân, thì ở vụ án kia, trở ngại chính cho cuộc điều tra lại là sự vắng bóng hoàn toàn của bất kỳ động cơ nào có thể tưởng tượng nổi. Thật kỳ lạ là mặc dù các tờ báo đã loan tin về vụ việc từ đầu này đến đầu kia đất nước và bản miêu tả về cái xác đã được gửi tới mọi đồn cảnh sát trên toàn quốc, nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai đứng ra nhận dạng vị khách bí ẩn trong bồn tắm nhà Thipps. Quả thực là bản miêu tả — trong đó đề cập đến phần cằm nhẵn nhụi, mái tóc được cắt tỉa thanh lịch và chiếc kính kẹp mũi — có phần gây hiểu lầm, mặt khác, cảnh sát cũng đã xoay sở tìm ra số lượng răng hàm bị thiếu, cùng với chiều cao, nước da và các dữ liệu khác được nêu khá chính xác, cũng như thời điểm ước tính nạn nhân qua đời. Tuy nhiên, có vẻ như người đàn ông ấy đã tan biến khỏi xã hội mà không để lại lấy một khoảng trống hay chí ít là một gợn sóng nhỏ. Việc gán động cơ cho vụ án mạng của một kẻ không họ hàng, không thân thế lai lịch hay thậm chí không cả quần áo chẳng khác nào cố gắng hình dung ra chiều không gian thứ tư — một bài tập tuyệt vời cho trí tưởng tượng, nhưng vô cùng gian khổ và chẳng đi đến đâu. Ngay cả khi buổi phỏng vấn trong ngày có hé lộ những vết nhơ trong quá khứ hay hiện tại của ông Crimplesham đi chăng nữa, thì làm sao chúng có thể được kết nối với một kẻ dường như không có quá khứ, và có hiện tại bị giới hạn trong bốn bức tường chật hẹp của một chiếc bồn tắm và một nhà xác cảnh sát cơ chứ?
“Bunter,” Lord Peter nói, “tôi cầu xin anh từ nay về sau hãy ngăn tôi lại nếu tôi có ý định săn đuổi một lúc hai con thỏ. Những vụ án này đang vắt kiệt thể lực của tôi rồi. Một con thỏ thì chẳng có nơi nào để trốn chạy, còn con kia thì chẳng có chỗ nào để chạy đến. Đúng là một dạng sảng rượu tâm thần rồi đấy, Bunter. Khi chuyện này kết thúc, tôi sẽ chuyển sang trường phái kiêng rượu tuyệt đối[4], thề từ bỏ tin tức hình pháp, và quay sang chế độ ăn uống thanh đạm với các tác phẩm của cố nhà văn Charles Garvice.”
Chính khoảng cách tương đối gần với Milford Hill đã khiến Lord Peter quyết định ăn trưa tại khách sạn Minster thay vì khách sạn White Hart hay một nhà trọ nào có vị trí nên thơ hơn. Đó không phải là bữa ăn có thể làm tâm trạng anh khá lên; cũng như ở tất cả các thành phố nhà thờ khác, bầu không khí của khu giáo khu ngấm vào từng ngõ ngách của Salisbury, và chẳng có món ăn nào ở thành phố đó lại không mang một chút hương vị thoảng qua của sách cầu kinh. Khi anh đang ủ rũ thưởng thức thứ chất màu nhạt nhẽo vô cảm mà người Anh gọi đơn giản là “phô mai” (vì có những loại phô mai mang tên riêng rành mạch như Stilton, Camembert, Gruyère, Wensleydale hay Gorgonzola, nhưng “phô mai” thì mãi chỉ là phô mai và ở đâu cũng thế), anh bèn hỏi người phục vụ bàn về vị trí văn phòng của ông Crimplesham.
Người phục vụ chỉ đường cho anh đến một ngôi nhà nằm xa hơn một chút lên phía trên phố ở bên kia đường, đồng thời nói thêm rằng: “Nhưng bất kỳ ai cũng có thể chỉ cho ngài biết, thưa ngài; ông Crimplesham rất nổi tiếng ở vùng này.”
“Chắc ông ấy là một luật sư giỏi nhỉ?” Lord Peter nói.
“Ồ, vâng, thưa ngài,” người phục vụ đáp, “ngài không thể tìm được ai đáng tin cậy hơn ông Crimplesham đâu, thưa ngài. Có người bảo ông ấy mang phong cách cổ điển, nhưng tôi thà để những mẩu việc nhỏ nhặt của mình được giải quyết bởi ông Crimplesham còn hơn là bởi mấy gã thanh niên bồng bột kia. Không phải là ông Crimplesham sẽ sớm nghỉ hưu, thưa ngài, tôi không nghi ngờ gì điều đó, vì ông ấy chắc phải suýt soát tuổi tám mươi rồi, nếu không muốn nói là đã qua tuổi đó, nhưng đằng sau đã có cậu Wicks trẻ tuổi nối nghiệp, và cậu ấy là một thanh niên rất dễ mến, điềm đạm.”
“Ông Crimplesham thực sự già đến thế cơ á?” Lord Peter nói. “Chà chà! Chắc ông ấy phải rất năng nổ so với tuổi của mình. Một người bạn của tôi vừa có công chuyện làm ăn với ông ấy ở trên thành phố tuần trước.”
“Cực kỳ năng nổ ấy chứ, thưa ngài,” người phục vụ phụ họa, “lại thêm cái chân bị thương nữa chứ, ngài sẽ phải ngạc nhiên đấy. Nhưng mà thưa ngài, tôi thường nghĩ khi một người đã qua một độ tuổi nhất định nào đó, càng già họ càng trở nên cứng cỏi, phụ nữ cũng vậy hoặc thậm chí còn hơn thế.”
“Rất có thể,” Lord Peter vừa nói vừa triệu hồi rồi gạt phắt đi hình ảnh trong đầu về một cụ ông tám mươi tuổi bị què chân đang vác một cái xác qua mái nhà của một căn hộ ở Battersea vào lúc nửa đêm. “‘Lão ta cứng cỏi lắm đấy, thưa ngài, lão Joey Bagstock cứng cỏi thật đấy, vừa cứng cỏi lại vừa quỷ quyệt làm sao,’” anh nói thêm một cách vô thức.
“Thế ạ, thưa ngài?” người phục vụ nói. “Tôi thì chịu, không dám bàn.”
“Tôi xin lỗi,” Lord Peter nói; “tôi đang trích dẫn thơ thôi. Thật ngốc nghếch làm sao. Tôi nhiễm thói quen đó ngay từ đầu gối mẹ và chẳng tài nào bỏ được.”
“Vâng, thưa ngài,” người phục vụ nói vừa đút túi một khoản tiền típ hậu hĩnh. “Cảm ơn ngài rất nhiều, thưa ngài. Ngài sẽ tìm thấy ngôi nhà đó rất dễ dàng. Ngay trước khi ngài đến phố Penny-farthing, thưa ngài, cách đó chừng hai ngã rẽ, nằm ở phía bên phải đối diện.”
“E rằng điều đó đã loại trừ khả năng Crimplesham-X,” Lord Peter nói. “Tôi hơi tiếc một chút; ông ta vốn là một nhân vật hắc ám rất tuyệt vời theo như tôi tưởng tượng. Dù vậy, trí óc đứng sau những đôi bàn tay ấy rất có thể vẫn thuộc về ông ta — một con nhện già ngồi tàng hình ở chính giữa chiếc lưới đang rung lên, cậu biết đấy, Bunter.”
“Vâng, thưa ngài,” Bunter đáp lời. Họ đang cùng nhau đi bộ lên phố.
“Kia là văn phòng ở phía bên kia đường,” Lord Peter tiếp lời. “Tôi nghĩ, Bunter, cậu có thể ghé vào cửa hàng nhỏ này mua một tờ báo thể thao, và nếu tôi không bước ra từ hang ổ của tên ác nhân — giả sử là trong vòng ba phần tư giờ, cậu có thể tiến hành các bước mà sự nhạy bén của cậu gợi ý.”
Ông Bunter rẽ vào cửa hàng theo đúng ý muốn, còn Lord Peter bước sang đường và dứt khoát bấm chuông cửa nhà vị luật sư.
“Sự thật, toàn bộ sự thật và không có gì ngoài sự thật chính là thế mạnh của tôi ở đây, tôi đoán vậy,” anh lẩm bẩm, và khi cánh cửa được mở bởi một nhân viên văn phòng, anh hiên ngang trao tấm danh thiếp của mình với một thái độ không chút nao núng.
Anh được dẫn vào ngay một phòng làm việc mang vẻ đầy bảo mật, rõ ràng được trang trí từ những năm đầu triều đại Nữ hoàng Victoria và chưa từng thay đổi kể từ đó. Một cụ ông gầy gò, trông có vẻ mong manh nhanh nhẹn đứng dậy khỏi ghế khi anh bước vào và khập khiễng tiến lên đón anh.
“Cha chà, thưa ngài,” vị luật sư thốt lên, “thật vô cùng tử tế khi ngài đích thân ghé qua! Thật tình, tôi cảm thấy xấu hổ vì đã gây cho ngài quá nhiều phiền phức. Tôi hy vọng ngài tiện đường ghé qua đây, và cặp kính của tôi không làm ngài gặp phải bất kỳ sự bất tiện lớn nào. Xin mời ngồi, Lord Peter.” Ông nhìn chăm chăm đầy biết ơn vào người thanh niên qua cặp kính kẹp mũi trông y hệt như chiếc đang nằm trong hồ sơ tại Scotland Yard.
Lord Peter ngồi xuống. Vị luật sư ngồi xuống. Lord Peter cầm lấy một chặn giấy bằng thủy tinh trên bàn làm việc và cân nhắc nó một cách trầm ngâm trong tay. Trong tiềm thức, anh nhận ra mình đang để lại một bộ vân tay tuyệt vời thế nào trên đó. Anh đặt nó lại một cách chính xác vào chính giữa một chồng thư.
“Mọi chuyện hoàn toàn ổn thôi,” Lord Peter nói. “Tôi đến đây có chút việc. Rất vui vì được giúp đỡ ông. Thật phiền phức làm sao khi bị mất kính, thưa ông Crimplesham.”
“Vâng,” vị luật sư nói, “tôi đoan chắc với ngài là tôi cảm thấy như mất cả phương hướng khi không có chúng. Tôi đang dùng cặp này, nhưng chúng không ôm mũi tôi cho lắm — hơn nữa, sợi dây đeo kia có giá trị tinh thần rất lớn đối với tôi. Tôi vô cùng hoảng hốt khi đến Balham và phát hiện ra mình đã đánh mất chúng. Tôi đã hỏi thăm phía đường sắt, nhưng chẳng thu được kết quả gì. Tôi đã sợ rằng chúng bị đánh cắp. Có quá đông người ở ga Victoria, và toa tàu thì chật ních người suốt cả chặng đường đến Balham. Ngài có tình cờ bắt gặp chúng trên tàu không?”
“À, không hẳn,” Lord Peter nói, “tôi tìm thấy chúng ở một nơi khá bất ngờ. Ông có phiền nếu cho tôi biết liệu ông có nhận ra bất kỳ người đồng hành nào trong chuyến đi đó không?”
Vị luật sư nhìn chằm chằm vào anh.
“Không một bóng người,” ông đáp. “Sao ngài lại hỏi thế?”
“À,” Lord Peter nói, “tôi nghĩ có lẽ—kẻ mà tôi tìm thấy chúng cùng hắn ta có lẽ đã cầm nhầm chúng như một trò đùa.”
Vị luật sư trông có vẻ bối rối.
“Kẻ đó có nhận là người quen của tôi không?” ông gặng hỏi. “Tôi hầu như chẳng quen ai ở London cả, ngoại trừ người bạn mà tôi đến thăm ở Balham, Tiến sĩ Philpots, và tôi sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu ông ấy lại đem một trò đùa ra áp dụng với tôi. Ông ấy thừa biết tôi đã hoảng hốt thế nào khi bị mất kính. Công việc của tôi là tham dự một cuộc họp cổ đông của Ngân hàng Medlicott, nhưng những quý ông khác có mặt ở đó đều là những người mà tôi hoàn toàn không quen biết, và tôi không thể nghĩ rằng bất kỳ ai trong số họ lại cả gan đùa cợt quá trớn như vậy. Dù sao đi nữa,” ông nói thêm, “vì kính đã ở đây rồi, tôi sẽ không gặng hỏi quá kỹ về cách thức chúng được trả lại. Tôi vô cùng biết ơn vì rắc rối mà ngài đã gánh chịu.”
Lord Peter do dự.
“Xin hãy tha thứ cho sự tò mò có vẻ đường đột của tôi,” anh nói, “nhưng tôi phải hỏi ông thêm một câu nữa. Nghe có vẻ khá giống kịch tính tiểu thuyết, tôi e là vậy, nhưng nó thế này. Ông có ý thức được rằng mình có bất kỳ kẻ thù nào không — ý tôi là bất kỳ ai, kẻ sẽ thu được lợi ích từ cái-chết hoặc sự-thất-sủng của ông?”
Ông Crimplesham ngồi chết trân trong sự ngạc nhiên đầy cứng nhắc và không đồng tình.
“Tôi có thể hỏi ý nghĩa của câu hỏi kỳ lạ này là gì không?” ông cứng giọng hỏi.
“À,” Lord Peter nói, “các tình tiết có chút bất thường. Ông có thể nhớ lại rằng mẩu quảng cáo của tôi được gửi cho người thợ kim hoàn đã bán sợi dây đeo.”
“Lúc đó điều đó khiến tôi ngạc nhiên,” ông Crimplesham nói, “nhưng giờ tôi bắt đầu nghĩ rằng mẩu quảng cáo lẫn cách hành xử của ngài đều một giuộc với nhau cả.”
“Đúng vậy đấy,” Lord Peter nói. “Thực ra tôi không hề mong đợi chủ nhân của cặp kính sẽ trả lời quảng cáo của mình. Thưa ông Crimplesham, chắc hẳn ông đã đọc những gì báo chí đưa tin về vụ án mạng công viên Battersea rồi chứ. Cặp kính của ông chính là cặp được tìm thấy trên thi thể, và hiện chúng đang nằm trong tay lực lượng cảnh sát tại Scotland Yard, như ông có thể thấy qua thứ này.” Anh đặt bản thông số kỹ thuật của cặp kính và bức thư chính thức trước mặt Crimplesham.
“Lạy Chúa tôi!” vị luật sư thốt lên. Ông liếc nhìn tờ giấy, rồi nheo mắt nhìn kỹ Lord Peter.
“Ngài có phải là người của cảnh sát không?” ông hỏi.
“Không phải chính thức,” Lord Peter đáp. “Tôi đang điều tra vụ việc này một cách riêng tư, vì lợi ích của một trong các bên.”
Ông Crimplesham đứng phắt dậy.
“Này anh bạn trẻ,” ông nói, “đây là một âm mưu vô cùng trơ trẽn, nhưng tội tống tiền là một tội hình sự, và tôi khuyên ngài nên rời khỏi văn phòng của tôi trước khi chuốc lấy rắc rối.” Ông bấm chuông gọi.
“Tôi đã sợ là ông sẽ phản ứng như thế đấy,” Lord Peter nói. “Xem ra đây có lẽ nên là công việc của bạn tôi — viên thám tử Parker, rốt cuộc thì vẫn hơn.” Anh đặt danh thiếp của Parker lên bàn cạnh bản thông số kỹ thuật, rồi nói thêm: “Nếu ông muốn gặp lại tôi, thưa ông Crimplesham, trước sáng ngày mai, ông sẽ tìm thấy tôi tại khách sạn Minster.”
Ông Crimplesham khinh bỉ không thèm đáp lời nào khác ngoài việc chỉ thị cho nhân viên vừa bước vào rằng hãy “tiễn vị khách này ra ngoài.”
Ngay tại sảnh vào, Lord Peter sượt qua một thanh niên cao gầy đang bước vào và nhìn anh với ánh mắt đầy ngạc nhiên nhận ra. Tuy nhiên, khuôn mặt ấy chẳng gợi lên chút ký ức nào trong tâm trí Lord Peter, và vị quý tộc đang bối rối ấy liền gọi Bunter ra khỏi cửa hàng báo chí, rồi quay về khách sạn của mình để gọi điện đường dài cho Parker.
Trong khi đó, bên trong văn phòng, những suy tư của vị luật sư Crimplesham đang phẫn nộ bỗng bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của cậu đối tác trẻ dưới quyền.
“Này,” vị cộng sự trẻ tuổi lên tiếng, “có ai vừa làm điều gì đó thực sự tội ác phải không thế? Điều gì đã đưa một nhà thám tử nghiệp dư kiệt xuất như thế đến thềm cửa trang nghiêm của chúng ta vậy?”
“Tôi vừa là nạn nhân của một trò tống tiền rẻ tiền,” vị luật sư nói; “một cá nhân mạo nhận là Lord Peter Wimsey—”
“Nhưng đó chính là Lord Peter Wimsey mà,” ông Wicks nói, “chẳng thể nhầm lẫn đi đâu được. Tôi từng thấy ngài ấy ra làm chứng trong vụ án ngọc lục bảo Attenbury. Ngài ấy là một nhân vật có tiếng tăm trong giới của mình đấy, ngài biết đấy, và toàn đi câu cá với sếp lớn của Scotland Yard cơ mà.”
“Ồ, trời ạ,” ông Crimplesham thốt lên.
Định mệnh thật khéo trêu ngươi khi bắt thần kinh của ông Crimplesham phải chịu đựng thử thách ngay trong buổi chiều hôm đó. Khi được ông Wicks tháp tùng đến khách sạn Minster, ông được nhân viên trực phòng thông báo rằng Lord Peter Wimsey đã tản bộ đi ra ngoài, và có đề cập là muốn tham dự buổi lễ Chiều[5]. “Nhưng người hầu của ngài ấy đang ở đây, thưa ngài,” anh ta nói thêm, “nếu ngài muốn để lại lời nhắn.”
Ông Wicks nghĩ rằng nhìn chung để lại lời nhắn có lẽ sẽ hay hơn. Khi hỏi thăm, người ta thấy ông Bunter đang ngồi bên chiếc điện thoại, chờ đợi một cuộc gọi đường dài. Khi ông Wicks vừa cất tiếng gọi thì chuông điện thoại reo lên, và ông Bunter lịch sự xin phép rồi nhấc ống nghe lên.
“Alo!” ông nói. “Có phải ông Parker đấy không? Ồ, cảm ơn nhé! Tổng đài ơi! Tổng đài! Xin lỗi, cô có thể nối máy giùm tôi tới Scotland Yard được không? Xin lỗi các vị, để các vị phải chờ lâu nhé. — Tổng đài! Được rồi — Scotland Yard — Alo! Có phải Scotland Yard đó không? — Viên thám tử Parker có ở đó không? — Tôi có thể nói chuyện với ông ấy được không? — Tôi xong việc ngay đây thôi, các quý ông. — Alo! Có phải anh đấy không, thư ký Parker... ý tôi là anh Parker? Lord Peter sẽ rất biết ơn nếu ngài có thể sắp xếp thời gian ghé xuống Salisbury đấy ạ, thưa ngài. — Ồ, không, thưa ngài, ngài ấy hoàn toàn khỏe mạnh, thưa ngài — chỉ vừa ghé đi nghe lễ Chiều thôi, thưa ngài — ồ, không, tôi nghĩ sáng mai là quá tuyệt vời rồi, thưa ngài, cảm ơn ngài.”