Xác Chết Của Ai? Một Vụ Án Của Lord Peter Wimsey

Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

Khi trở về căn hộ ngay trước giờ ăn trưa vào sáng hôm sau, sau một vài buổi điều tra xác thực ở Balham và vùng lân cận ga Victoria, Lord Peter đã được ông Bunter (người đã đi thẳng về nhà từ Waterloo) đón ở cửa với một tin nhắn điện thoại cùng ánh mắt nghiêm nghị như một người vú em.

“Lady Swaffham đã gọi điện, thưa ngài, và bày tỏ hy vọng rằng ngài đã không quên buổi ăn trưa với phu nhân.”

“Ta quên mất rồi, Bunter, và ta định sẽ quên luôn. Ta tin là anh đã bảo với bà ấy rằng ta vừa đột ngột mắc bệnh viêm não lethargica, xin miễn gửi hoa chia buồn.”

“Lady Swaffham nói rằng, thưa ngài, bà ấy đang trông đợi ngài. Bà ấy vừa gặp Nữ công tước xứ Denver hôm qua—”

“Nếu bà chị dâu của ta có mặt ở đó thì ta sẽ không đi, dứt khoát là thế,” Lord Peter nói.

“Xin lỗi ngài, thưa ngài, đó là Nữ công tước Thái phi.”

“Bà ấy lên thành phố làm gì thế?”

“Tôi đoán là bà ấy lên vì vụ điều tra cái chết, thưa ngài.”

“Ồ, phải rồi—ta quên mất chuyện đó, Bunter.”

“Vâng, thưa ngài. Phu nhân đang dùng bữa trưa với Lady Swaffham.”

“Bunter, ta không thể đi được. Thật sự không thể đâu. Hãy bảo là ta đang nằm liệt giường vì bệnh ho gà, và nhờ mẹ ta ghé qua đây sau bữa trưa nhé.”

“Vâng, thưa ngài. Phu nhân Tommy Frayle cũng sẽ có mặt ở nhà Lady Swaffham, thưa ngài, và cả ông Milligan—”

“Ông nào cơ?”

“Thưa ngài, ông John P. Milligan, và—”

“Chúa tôi, Bunter, sao anh không nói sớm hơn? Ta còn thời gian để đến đó trước ông ta không? Thôi được rồi. Ta đi đây. Đi taxi thì chắc là vừa kịp—”

“Không thể mặc chiếc quần dài đó được, thưa ngài,” ông Bunter nói, vừa chặn đường ra cửa với một vẻ kiên quyết đầy cung kính.

“Ôi, Bunter,” vị huân tước nài nỉ, “hãy để cho ta đi—chỉ lần này thôi mà. Anh không biết là nó quan trọng thế nào đâu.”

“Dứt khoát là không, thưa ngài. Làm vậy chẳng khác nào tôi tự ném bỏ cái ghế làm việc của mình.”

“Chiếc quần này vẫn ổn mà, Bunter.”

“Không hợp để đến nhà Lady Swaffham đâu, thưa ngài. Hơn nữa, ngài lại quên mất vụ kẻ gã đụng phải ngài mang theo thùng sữa ở Salisbury rồi sao.”

Và ông Bunter đặt một ngón tay buộc tội lên vết dầu mỡ nhỏ đang hiện rõ trên lớp vải sáng màu.

“Ta ước gì mình chưa bao giờ để anh trở thành một tên gia nhân lâu năm được quyền cưng chiều như vậy, Bunter,” Lord Peter bực bội nói, vừa ném mạnh cây gậy đi bộ vào ống đựng ô. “Anh chẳng thể tưởng tượng nổi những rắc rối mà mẹ ta có thể gây ra đâu.”

Ông Bunter mỉm cười nghiêm nghị rồi dẫn "nạn nhân" của mình đi thay đồ.

Khi một Lord Peter với trang phục hoàn hảo được dẫn vào phòng khách của Lady Swaffham, có phần trễ giờ ăn trưa, thì Nữ công tước Thái phi xứ Denver đang ngồi trên một chiếc ghế dài, đắm chìm trong cuộc trò chuyện thân mật với ông John P. Milligan đến từ Chicago.

“Tôi vô cùng vinh hạnh được gặp ngưa, thưa Nữ công tước,” vị tài phiệt đã mở lời như thế, “và xin được cảm ơn ngưa vì lời mời cực kỳ thịnh tình. Tôi xin đảm bảo rằng đó là một vinh hạnh mà tôi vô cùng trân trọng.”

Nữ công tước mỉm cười rạng rỡ với ông ta, đồng thời huy động nhanh chóng mọi khả năng trí tuệ của mình.

“Xin hãy lại đây ngồi và trò chuyện với tôi, ông Milligan,” bà nói. “Tôi rất thích trò chuyện với những doanh nhân vĩ đại như các ông—để xem nào, có phải ông là một ông vua đường sắt hay là nhân vật gì trong trò chơi cướp cờ ấy nhỉ—ý tôi là, không hẳn thế, nhưng là cái trò chơi mà người ta hay chơi bằng bài tây ấy, toàn là lúa mì với lúa yến mạch, rồi hình như cũng có một con bò đực và một con gấu nữa—hay là con ngựa nhỉ?—không, là con gấu, vì tôi nhớ là người ta luôn phải tìm cách tống khứ nó đi và nó cứ bị vò nhàu nát bét, tội nghiệp làm sao, cứ chuyền tay nhau hoài thành ra quen mặt luôn, rồi cuối cùng phải mua một bộ bài mới—chắc ông thấy ngớ ngẩn lắm phải không, khi một người biết rõ thực tế lại phải nghe mấy chuyện ồn ào và ngốc nghếch này, nhưng thực ra nó rất tuyệt để phá vỡ sự ngại ngùng với những người hơi cứng nhắc và chưa quen biết nhau—tôi thấy khá tiếc khi trò đó đã lỗi mốt rồi đấy.”

Ông Milligan ngồi xuống.

“Ồ, chà,” ông ta nói, “tôi đoán là đối với chúng tôi, những người làm kinh doanh, việc được gặp gỡ các nhà quý tộc Anh cũng thú vị như khi người Anh gặp gỡ các vị vua đường sắt Mỹ vậy, thưa Nữ công tước. Và tôi đoán là mình sẽ mắc phải ngần ấy lỗi khi nói theo kiểu của các ngưa, y như ngưa đang cố thao túng thị trường lúa mì kỳ hạn ở Chicago vậy. Nghĩ lại xem, hôm trước tôi lại gọi cái cậu thanh niên tuấn tú con ngưa là Lord Wimsey, và cậu ấy tưởng tôi nhầm cậu ấy với anh trai mình. Chuyện đó làm tôi thấy quê độ hết chỗ nói.”

Đó là một cơ hội không ngờ tới. Nữ công tước thận trọng tiếp lời.

“Cậu bé đáng yêu ấy mà,” bà nói, “tôi rất vui vì ông đã gặp nó, ông Milligan. Cả hai đứa con trai của tôi đều là chỗ dựa lớn cho tôi, ông biết đấy, dẫu cho Gerald có phần truyền thống hơn—đúng là mẫu người phù hợp cho Viện Quý tộc, và là một chủ trang trại xuất sắc. Tôi không thấy Peter gắn bó với Denver được nhiều như vậy, dù nó luôn chăm chỉ tham gia mọi hoạt động đúng mực ở thành phố, và thỉnh thoảng cũng rất thú vị, tội nghiệp thằng bé.”

“Tôi rất lấy làm hài lòng trước đề nghị của Lord Peter,” ông Milligan tiếp lời, “mà tôi hiểu rằng ngưa chính là người đứng sau chuyện đó, và tôi chắc chắn sẽ rất vui lòng đến dự vào bất kỳ ngày nào ngưa muốn, dù tôi nghĩ ngưa đang quá khen tôi rồi.”

“À, chà,” Nữ công tước nói, “tôi không biết liệu ông có phải là người đánh giá chuẩn xác nhất về chuyện đó không, ông Milligan. Không phải là bản thân tôi am hiểu gì về kinh doanh đâu,” bà nói thêm. “Thời buổi này tôi đã hơi lỗi thời rồi, ông biết đấy, và tôi chẳng dám nhận gì hơn ngoài việc biết nhìn người khi trông thấy một quý ông tử tế; còn những việc khác tôi đều phó mặc cho con trai mình.”

Giọng điệu của câu nói này vô cùng nịnh nọt khiến ông Milligan thích thú đến mức phát ra tiếng rừ rừ trong cổ họng, và ông ta nói:

“Ồ, thưa Nữ công tước, tôi đoán đó chính là điểm mà một quý cô mang tâm hồn thuần khiết, xinh đẹp và cổ điển thực thụ chiếm ưu thế hơn hẳn so với đám thanh niên khoác lác thời nay—chẳng có mấy gã đàn ông lại không đối xử tử tế với ngưa đâu, và ngay cả khi bản chất họ không tốt đẹp gì đi nữa thì ngưa vẫn nhìn thấu được họ.”

“Nhưng điều đó vẫn chẳng giúp tôi giải quyết được gì,” Nữ công tước thầm nghĩ. “Tôi tin rằng,” bà cất lời nói lớn, “mình nên gửi lời cảm ơn đến ông thay mặt cho vị mục sư ở Duke’s Denver vì tấm séc vô cùng hào phóng đã được gửi đến ông ấy hôm qua để gây quỹ Trùng tu Nhà thờ. Ông ấy đã rất đỗi vui mừng và ngạc nhiên, tội nghiệp vị linh mục đáng kính.”

“Ồ, có gì đâu,” ông Milligan nói, “bên phía chúng tôi chẳng có những công trình kiến trúc cổ kính lâu đời và danh giá như các ngưa, thế nên được phép góp chút dầu hỏa vào những lỗ mọt khi nghe tin một công trình ở cố quốc đang mai một vì tuổi già sờn sỏi chính là một vinh hạnh. Thế nên khi cậu quý tử nhà ngưa kể cho tôi nghe về Duke’s Denver, tôi đã mạo muội đóng góp luôn mà chẳng cần đợi đến phiên chợ từ thiện.”

“Tôi chắc chắn là ông đã rất tốt bụng,” Nữ công tước nói. “Vậy là ông sẽ đến tham gia phiên chợ từ thiện chứ?” bà tiếp lời, ngước nhìn khuôn mặt ông ta đầy vẻ khẩn khoản.

“Chắc chắn rồi,” ông Milligan đáp lại vô cùng nhanh chóng. “Lord Peter bảo ngưa sẽ thông báo cho tôi biết ngày giờ chính xác, nhưng dù sao đi nữa chúng tôi luôn có thể sắp xếp thời gian cho một việc làm phước nhỏ. Tất nhiên là tôi rất hy vọng có thể nhận lời mời ở lại của ngưa, nhưng nếu bận rộn quá, tôi vẫn sẽ cố gắng ghé qua để đọc bài diễn văn của mình rồi lại quay về ngay.”

“Tôi rất mong là như vậy,” Nữ công tước nói. “Tôi phải xem lại xem có thể sắp xếp thế nào về mặt thời gian—tất nhiên là tôi không dám hứa trước...”

“Không, không,” ông Milligan hào hứng nói. “Tôi hiểu những việc này cần phải sắp xếp thế nào mà. Hơn nữa không chỉ có mình tôi—vẫn còn tất cả những nhân vật thực sự lớn lao có tầm vóc châu Âu mà con trai ngưa đã nhắc đến cần phải được tham vấn nữa chứ.”

Nữ công tước tái mặt khi nghĩ đến viễn cảnh bất kỳ vị khách lừng lẫy nào trong số đó đột ngột xuất hiện trong phòng khách của ai đó vào một ngày nào đó, nhưng đến lúc này thì bà đã hoàn toàn ổn định được trận địa, thậm chí bắt đầu làm chủ được tình hình.

“Tôi không biết phải bày tỏ lòng biết ơn với ông thế nào cho đủ,” bà nói; “đó sẽ là một niềm vinh hạnh lớn. Xin hãy cho tôi biết ông dự định sẽ phát biểu những gì đi.”

“Ồ—” ông Milligan bắt đầu nói.

Bất ngờ tất cả mọi người đứng bật dậy và một giọng nói đầy vẻ ăn năn vang lên:

“Thực sự vô cùng xin lỗi, mọi người ạ—hy vọng ngài sẽ tha thứ cho tôi, Lady Swaffham nhé? Thưa phu nhân kính mến, làm sao tôi có thể quên được lời mời từ ngài cơ chứ? Sự thực là, tôi phải đi gặp một người ở tận Salisbury—hoàn toàn là sự thật, xin chúa chứng giám, và gã đó cứ khăng khăng không chịu để tôi đi. Tôi đang vô cùng hối lỗi trước mặt Lady Swaffham đây. Tôi có nên tự giác ra góc phòng để ăn trưa một mình không nhỉ?”

Lady Swaffham ân chuẩn tha thứ cho kẻ phạm lỗi một cách duyên dáng.

“Mẹ thân yêu của ngài đang ở đây này,” bà nói.

“Mẹ khoẻ chứ ạ?” Lord Peter ngượng ngùng lên tiếng.

“Con khoẻ chứ, con yêu?” Nữ công tước đáp lời. “Lẽ ra con không nên xuất hiện vào lúc này mới phải. Ông Milligan đang chuẩn bị kể cho mẹ nghe về bài phát biểu đầy ly kỳ mà ông ấy đang chuẩn bị cho phiên chợ từ thiện thì con lại đến chen ngang.”

Cuộc trò chuyện trong bữa trưa chuyển hướng, cũng là điều dễ hiểu, sang vụ điều tra cái chết ở Battersea, khi Nữ công tước đang diễn tả lại một cách vô cùng sống động cảnh bà Thipps bị viên thẩm vấn tra khảo.

“‘Bà có nghe thấy điều gì bất thường trong đêm đó không?’ gã đàn ông lùn tịt hỏi, vừaồm chồm về phía trước vừa hét vào mặt bà ấy, với khuôn mặt đỏ lựng và đôi tai thì cứ vểnh ra—giống y như một vị thiên sứ trong bài thơ của Tennyson—hay là thiên sứ màu xanh nhỉ?—có lẽ ý tôi là các đấng seraphim—dù sao thì, các vị cũng hiểu ý tôi đấy, toàn là mắt, với đôi cánh nhỏ trên đầu. Và cụ bà Thipps đáng kính đáp lại rằng: ‘Tất nhiên là có rồi, lúc nào chẳng thế suốt tám mươi năm nay’, khiến cả phòng xử án được một phen xôn xao cho đến khi họ phát hiện ra bà cụ tưởng lão ta hỏi rằng: ‘Bà có đi ngủ mà không bật đèn không?’ và mọi người cười ồ cả lên, rồi vị thẩm vấn liền nói lớn: ‘Khỉ thật mụ già này’, thế mà chẳng hiểu sao mụ ta lại nghe thấy câu đó và đáp trả: ‘Đừng có mà mở miệng ra là chửi thề nhé, đồ ranh con, ngồi đó mà dám cả gan nói năng trước mặt Đấng Tối Cao đấy nhé. Tôi chẳng hiểu giới trẻ bây giờ ra cái thể thống gì nữa’—mà lão ta đã sáu mươi tuổi đầu rồi chứ ít ỏi gì đâu cơ chứ,” Nữ công tước kể.

Theo một mạch chuyển đổi tự nhiên, phu nhân Tommy Frayle nhắc đến gã đàn ông vừa bị treo cổ vì tội sát hại ba người vợ trong bồn tắm.

“Tôi luôn nghĩ điều đó thật là tinh vi,” bà nói, đôi mắt đắm đuối nhìn Lord Peter, “và các vị có biết không, tình cờ làm sao, Tommy vừa mới mua bảo hiểm nhân thọ cho tôi, và tôi hoảng sợ đến mức bỏ luôn cả cữ tắm buổi sáng, chuyển sang tắm vào buổi chiều khi anh ấy ở trong Hạ viện—ý tôi là, khi anh ấy không ở trong nhà—không có nhà, ý tôi là vậy.”

“Thưa phu nhân,” Lord Peter cất lời với vẻ trách móc, “tôi nhớ rất rõ là tất cả những người vợ đó đều hoàn toàn không có điểm gì thu hút cả. Nhưng đó thực sự là một kế hoạch vô cùng tinh vi—trong lần đầu tiên thực hiện—chỉ có điều hắn ta không nên lặp lại trò đó nữa.”

“Người ta đòi hỏi một chút sự nguyên bản trong thời đại này, ngay cả từ những kẻ sát nhân,” Lady Swaffham nói. “Cũng giống như các nhà viết kịch vậy—thời của Shakespeare dễ dàng hơn nhiều phải không nào? Hoàn toàn là một cô gái giả dạng nam nhân, và ngay cả điều đó cũng đi vay mượn từ Boccaccio hay Dante hoặc ai đó. Tôi chắc chắn rằng nếu mình là một anh hùng trong kịch Shakespeare, ngay khoảnh khắc trông thấy một cậu tiểu đồng chân thon nhỏ con là tôi sẽ thốt lên ngay: ‘Ôi chao! Lại là con nhỏ đó rồi!’”

“Sự thật đúng là như vậy đấy,” Lord Peter nói. “Các vị thấy đấy, Lady Swaffham, nếu bao giờ ngài muốn thực hiện một vụ giết người, điều ngài phải làm là ngăn cản mọi người liên kết các ý nghĩ lại với nhau. Hầu hết mọi người chẳng liên kết cái gì sạt—ý nghĩ của họ cứ lăn lóc như những hạt đậu khô trên khay, tạo ra rất nhiều tiếng động mà chẳng đi đến đâu cả, nhưng một khi ngài bắt đầu để họ xâu chuỗi những hạt đậu đó thành một chiếc vòng cổ, thì nó sẽ đủ chắc chắn để treo cổ ngài lên đấy, hiểu ý tôi chứ?”

“Trời ạ!” phu nhân Tommy Frayle kêu lên một tiếng nhỏ đầy kinh ngạc, “thật là may mắn làm sao khi không có người bạn nào của tôi lại có bất kỳ ý tưởng nào trong đầu!”

“Các vị thấy đấy,” Lord Peter vừa nói vừa dùng nĩa cân bằng một miếng thịt vịt và nhíu mày, “chỉ trong truyện Sherlock Holmes và những câu chuyện kiểu đó, người ta mới suy luận mọi thứ một cách logic. Còn bình thường, nếu ai đó kể cho các vị nghe một chuyện kỳ lạ, các vị sẽ thốt lên: ‘Ôi chao!’ hoặc ‘Thật đáng buồn!’ rồi để mặc nó đấy, và phân nửa thời gian sau các vị sẽ quên béng đi mất, trừ phi có chuyện gì đó xảy ra sau này để gợi nhắc lại. Lấy ví dụ nhé, Lady Swaffham, khi mới bước vào đây tôi đã nói với ngài rằng tôi vừa xuống Salisbury, và đó là sự thật, chỉ có điều tôi cho là nó chẳng gây ấn tượng gì nhiều cho ngài; và tôi cũng không nghĩ nó sẽ gây ấn tượng gì lớn nếu ngày mai ngài đọc được trên báo về một phát hiện bi thảm về một luật sư đã qua đời ở Salisbury, nhưng nếu tuần tới tôi lại đến Salisbury và có một bác sĩ ở đó được phát hiện đã chết vào ngày hôm sau, ngài có thể sẽ bắt đầu nghĩ tôi là một điềm gở cho cư dân Salisbury; và nếu tuần sau nữa tôi lại đến đó, rồi hôm sau ngài nghe tin giáo khu linh mục ở Salisbury bỗng nhiên bỏ trống, ngài có thể sẽ bắt đầu tự hỏi điều gì đã kéo tôi đến Salisbury, và tại sao trước đó tôi chưa từng nhắc đến việc mình có bạn bè dưới đó, ngài thấy đấy, và ngài có thể sẽ nghĩ đến chuyện tự mình xuống Salisbury, rồi dò hỏi khắp mọi người xem họ có vô tình nhìn thấy một thanh niên mặc tất màu đỏ mận cứ lảng vảng quanh Cung điện Giám mục hay không.”

“Dễ là tôi sẽ làm thế lắm chứ,” Lady Swaffham nói.

“Chính xác. Và nếu ngài phát hiện ra vị luật sư và vị bác sĩ đó từng có thời gian làm ăn ở Poggleton-on-the-Marsh khi vị Giám mục từng làm mục sư ở đó, ngài sẽ bắt đầu nhớ ra là mình từng nghe nói về việc tôi đến thăm Poggleton-on-the-Marsh từ rất lâu về trước, và ngài sẽ bắt đầu tra cứu sổ bộ giáo xứ ở đó để rồi phát hiện ra tôi từng được vị mục sư làm lễ kết hôn dưới một cái tên giả với góa phụ của một chủ trang trại giàu có—người đã đột ngột qua đời vì bệnh viêm phúc mạc, theo giấy chứng nhận của vị bác sĩ, sau khi vị luật sư đã lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho tôi, và lúc đó ngài sẽ bắt đầu nghĩ rằng tôi có rất nhiều lý do chính đáng để loại bỏ những kẻ tống tiền đầy triển vọng như vị luật sư, vị bác sĩ và vị giám mục đó. Chỉ có điều, nếu tôi không tạo ra sự liên tưởng trong tâm trí ngài bằng cách loại bỏ tất cả bọn họ tại cùng một địa điểm, ngài sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện đến Poggleton-on-the-Marsh, và ngài thậm chí còn chẳng nhớ nổi tôi từng đặt chân đến đó.”

“Lord Peter từng đến đó bao giờ chưa?” phu nhân Tommy lo lắng hỏi.

“Tôi không nghĩ vậy,” Lord Peter đáp; “cái tên đó chẳng xâu chuỗi được hạt cườm nào trong tâm trí tôi cả. Nhưng biết đâu đấy, bất cứ ngày nào cũng có thể.”

“Nhưng nếu ngài đang điều tra một vụ án,” Lady Swaffham hỏi, “chắc ngài sẽ phải bắt đầu bằng những việc thông thường chứ, tôi đoán vậy—như tìm hiểu xem nạn nhân đã làm gì, ai đã đến gọi cửa, và tìm kiếm động cơ, đúng không nào?”

“Ồ, vâng,” Lord Peter đáp, “nhưng phần lớn chúng ta đều có hàng tá động cơ để sát hại đủ loại người vô hại. Có rất nhiều người tôi muốn giết đấy chứ, ngài thì sao?”

“Nhiều vô kể,” Lady Swaffham nói. “Có cái gã khủng khiếp đó—thôi, có lẽ tôi không nên nói ra thì hơn, kẻo sau này ngài lại nhớ đến thì khổ.”

“Ừ, tôi cũng khuyên ngài không nên nói đâu,” Peter vui vẻ đáp. “Biết thế nào được. Sẽ cực kỳ rắc rối nếu ngày mai người đó bỗng nhiên qua đời đấy.”

“Khó khăn trong vụ Battersea này, tôi đoán thế,” ông Milligan nói, “là dường như chẳng ai có bất kỳ mối liên hệ nào với quý ông trong bồn tắm cả.”

“Thật là tội nghiệp thanh tra Sugg,” Nữ công tước nói. “Tôi thực sự cảm thấy thông cảm cho ông ấy, khi phải đứng đó trả lời hàng đống câu hỏi trong khi chẳng có chút thông tin nào trong tay.”

Lord Peter tập trung xử lý đĩa thịt vịt vì đã bị chậm mất một nhịp. Ngay lúc đó, anh nghe thấy ai đó hỏi Nữ công tước xem bà đã gặp Lady Levy chưa.

“Bà ấy đang vô cùng đau khổ,” người vừa lên tiếng, bà Freemantle, nói, “dù vẫn bấu víu vào hy vọng rằng ông ấy sẽ quay trở lại. Chắc ngài biết ông ấy chứ, ông Milligan—phải nói là biết, vì tôi hy vọng ông ấy vẫn còn sống ở đâu đó.”

Bà Freemantle là vợ của một giám đốc đường sắt nổi tiếng, và nổi tiếng vì sự thiếu hiểu biết về giới tài chính. Những lời nói hớ hênh của bà trong vấn đề này thường làm rôm rả các bữa tiệc trà của những bà vợ nhà tư bản Phố Thành.

“Ồ, tôi từng ăn tối với ông ấy rồi,” ông Milligan điềm đạm đáp. “Tôi nghĩ tôi và ông ấy đều đã cố hết sức để hủy hoại lẫn nhau rồi đấy, bà Freemantle. Nếu đây là ở Mỹ,” ông nói thêm, “tôi rất nghi ngờ chính mình là người đã đưa Sir Reuben vào một nơi an toàn. Nhưng chúng tôi không thể làm ăn theo kiểu đó ở cố quốc của các ngưa được; không, thưa phu nhân.”

“Chắc là làm ăn ở Mỹ thú vị lắm nhỉ,” Lord Peter nói.

“Đúng thế,” ông Milligan đáp. “Tôi đoán các anh em của tôi hiện đang có khoảng thời gian rất tuyệt vời ở trển. Tôi sẽ sớm quay lại đoàn tụ với họ thôi, ngay khi tôi giải quyết xong một chút công việc cho họ ở phía này.”

“Ồ, ông không được đi cho đến khi phiên chợ từ thiện của tôi kết thúc đấy nhé,” Nữ công tước nói.

Lord Peter dành cả buổi chiều để lùng sục ông Parker nhưng công cốc. Cuối cùng anh cũng chặn được đối phương sau bữa tối tại phố Great Ormond.

Parker đang ngồi trên một chiếc ghế bành cũ kỹ nhưng êm ái, gác chân lên bệ lò sưởi, thư giãn đầu óc với một cuốn bình luận hiện đại về Thư gửi tín hữu Ga-lát. Anh tiếp đón Lord Peter với sự hào hứng kín đáo, dẫu không mấy nồng nhiệt cuồng nhiệt, rồi pha cho anh một ly whisky soda. Peter cầm lấy cuốn sách mà bạn mình vừa đặt xuống và lướt qua các trang.

“Tất cả những người này khi làm việc đều mang theo sự thiên vị trong đầu, dù ít hay nhiều,” anh nói; “họ tìm thấy những gì họ muốn tìm.”

“Ồ, đúng vậy chứ,” viên thám tử đồng tình; “nhưng người ta học được cách chiết khấu điều đó gần như tự động, ngài biết đấy. Hồi còn học đại học, tôi hoàn toàn đứng về phía bên kia—Conybeare, Robertson, Drews và những người đó, cho đến khi tôi nhận ra họ quá bận rộn tìm kiếm một tên trộm mà chưa ai từng thấy, đến mức họ chẳng thể nhận ra dấu chân của những người trong nhà, có thể nói là vậy. Thế là tôi mất hai năm để học cách cẩn trọng.”

“Hừm,” Lord Peter lẩm bẩm, “thế thì thần học chắc phải là môn thể dục tốt cho não bộ đấy, vì cậu chính là gã cẩn trọng nhất mà tôi từng biết đấy. Nhưng này, đọc tiếp đi chứ—thật là tệ khi tôi lại đến làm phiền cậu vào giờ nghỉ ngơi thế này.”

“Không sao đâu, ông bạn già,” Parker nói.

Hai người ngồi im lặng một lát, rồi Lord Peter cất lời:

“Cậu có thích công việc của mình không?”

Viên thám tử suy nghĩ câu hỏi đó rồi đáp lại:

“Có—có chứ. Tôi biết nó hữu ích, và tôi phù hợp với nó. Tôi làm nó khá tốt—có lẽ không đến mức xuất thần, nhưng đủ tốt để cảm thấy tự hào về nó. Nó rất đa dạng và buộc người ta phải luôn giữ vững phong độ chứ không được chùng xuống. Và nó có tương lai. Vâng, tôi thích nó. Sao thế?”

“Ồ, không có gì,” Peter nói. “Với tôi thì đó chỉ là một sở thích thôi, cậu thấy đấy. Tôi bắt đầu dấn thân vào nó khi mọi thứ xung quanh gần như sụp đổ trước mặt tôi, bởi vì nó quá ư là kích thích, và điều tồi tệ nhất là tôi lại tận hưởng nó—đến một mức độ nào đó. Nếu mọi thứ chỉ nằm trên giấy thì tôi đã tận hưởng từng chút một rồi. Tôi thích phần mở đầu của một vụ án—khi người ta chưa biết gì về những kẻ liên quan và mọi thứ thật kích thích, thú vị. Nhưng khi đến lúc thực sự truy đuổi một con người bằng xương bằng thịt và đưa hắn lên đoạn đầu đài, hoặc thậm chí nhốt hắn vào tù, tội nghiệp gã khốn ấy, thì dường như chẳng có lý do gì để tôi xen vào cả, vì tôi đâu có kiếm sống bằng nghề này. Và tôi cảm thấy như thể mình không bao giờ nên thấy nó thú vị mới phải. Thế mà tôi lại thấy thế.”

Parker chú ý lắng nghe bài phát biểu này.

“Tôi hiểu ý ngài,” anh nói.

“Lấy lão Milligan làm ví dụ nhé,” Lord Peter nói. “Trên giấy tờ, chẳng có gì thú vị bằng việc tóm đuôi lão Milligan cả. Nhưng lão lại là một lão già khá tử tế khi trò chuyện cùng. Mẹ tôi thích lão. Lão lại có cảm tình với tôi. Thật là vô cùng giải trí khi cứ đến moi thông tin từ lão về cái vụ hội chợ từ thiện cho nhà thờ, nhưng khi lão tỏ ra vui mừng khôn xiết về chuyện đó, tôi lại cảm thấy mình chẳng khác gì một con giòi bọ. Giả sử lão Milligan thực sự cắt cổ Levy rồi quẳng xuống sông Thames đi chăng nữa. Thì đó cũng có phải việc của tôi đâu.”

“Đó là việc của ngài cũng như của bất kỳ ai khác,” Parker nói; “làm vì tiền cũng chẳng tốt đẹp gì hơn là làm vì không công cả.”

“Không, tốt hơn chứ,” Peter bướng bỉnh cãi. “Phải kiếm sống mới là lý do duy nhất biện minh cho việc làm cái thể loại việc đó.”

“Ồ, nhưng này!” Parker nói. “Nếu Milligan đã cắt cổ lão Levy tội nghiệp mà chẳng vì lý do gì ngoài việc muốn làm cho mình giàu hơn, tôi không hiểu tại sao hắn lại phải dùng số tiền 1,000 bảng để chuộc tội bằng cách cúng tiền cho mái nhà thờ Duke’s Denver, hay tại sao hắn lại được tha thứ chỉ vì hắn ngây thơ một cách ngốc nghếch, hoặc hợm hĩnh một cách trẻ con.”

“Một đòn cay đắng đấy,” Lord Peter nói.

“Ừ, nếu ngài thích, thì thậm chí là chỉ vì hắn có cảm tình với ngài thôi đấy.”

“Không, nhưng mà—”

“Này, Wimsey—ngài có nghĩ chính hắn đã sát hại Levy không?”

“Ờ, thì có thể lắm.”

“Nhưng ngài có thực sự nghĩ thế không?”

“Tôi không muốn nghĩ thế.”

“Chỉ vì hắn có cảm tình với ngài sao?”

“À, điều đó khiến tôi bị thiên vị, tất nhiên rồi—”

“Tôi dám cá đó là một sự thiên vị hoàn toàn hợp lý. Ngài không nghĩ một tên sát nhân máu lạnh lại có khả năng nảy sinh thiện cảm với ngài chứ?”

“Thì—hơn nữa, bản thân tôi cũng có chút thiện cảm với hắn.”

“Tôi dám cá điều đó cũng hoàn toàn hợp lý thôi. Ngài đã quan sát hắn và rút ra những suy luận vô thức từ những quan sát đó, và kết quả là, ngài không nghĩ hắn đã làm điều đó. Vậy, tại sao lại không chứ? Ngài có quyền tính đến yếu tố đó mà.”

“Nhưng nhỡ đâu tôi sai và chính hắn đã làm thì sao?”

“Vậy thì tại sao lại để sự tự cao tự đại hão huyền của ngài về năng lực đánh giá con người cản trở việc lật tẩy vụ án mạng lạnh lùng kỳ lạ của một con người vô tội và đáng mến?”

“Tôi biết chứ—nhưng tôi cứ có cảm giác mình đang chơi không đẹp thế nào ấy.”

“Này, Peter,” người kia nghiêm túc nói, “giả sử ngài vứt bỏ cái phức cảm sân trường Eton ấy ra khỏi đầu một lần và mãi mãi đi. Dường như chẳng có chút nghi ngờ nào về việc có chuyện không hay đã xảy ra với Sir Reuben Levy cả. Cứ gọi đó là án mạng đi, để cuộc tranh luận thêm phần vững chắc. Nếu Sir Reuben đã bị sát hại, thì đó có phải là một trò chơi không? Và đối xử với nó như một trò chơi thì có công bằng không?”

“Đó mới chính là điều khiến tôi cảm thấy xấu hổ đấy,” Lord Peter nói. “Nó vốn là một trò chơi đối với tôi, lúc đầu là thế, và tôi cứ thế vui vẻ tiến bước, rồi đột nhiên tôi nhận ra có ai đó sắp phải chịu tổn thương, thế là tôi lại muốn rút chân ra.”

“Vâng, vâng, tôi biết,” viên thám tử nói, “nhưng đó là vì ngài đang quá bận tâm đến thái độ của chính mình. Ngài muốn tỏ ra nhất quán, ngài muốn trông thật bảnh bao, ngài muốn hiên ngang bước đi một cách bất cần trong một vở hài kịch rối gỗ hoặc không thì phải sải bước thật oai nghiêm trong một vở bi kịch về những nỗi sầu khổ của con người và đủ thứ khác. Nhưng điều đó thật trẻ con. Nếu ngài có bất kỳ nghĩa vụ nào đối với xã hội trong việc tìm ra sự thật đằng sau những vụ án mạng, ngài phải làm điều đó với bất kỳ thái độ nào thuận tiện nhất. Ngài muốn tỏ ra tao nhã và thờ ơ ư? Không vấn đề gì, nếu ngài tìm ra sự thật bằng cách đó, nhưng bản thân thái độ đó chẳng có giá trị gì sất, ngài biết đấy. Ngài muốn trông thật đường boảng và nhất quán—điều đó thì liên quan gì chứ? Ngài muốn săn đuổi một tên sát nhân chỉ để lấy trò vui rồi sau đó bắt tay hắn và nói: ‘Chơi đẹp lắm—chúc may mắn lần sau—ngày mai anh sẽ được phục thù!’ Này, ngài không thể làm thế được đâu. Cuộc đời không phải là một trận bóng đá. Ngài muốn làm một tay chơi thể thao thanh tao ư. Ngài không thể làm một tay chơi thể thao kiểu đó được đâu. Ngài là một con người có trách nhiệm.”

“Tôi không nghĩ cậu nên đọc nhiều sách thần học thế đâu,” Lord Peter nói. “Nó có ảnh hưởng làm con người ta trở nên thô bạo đấy.”

Anh đứng dậy đi đi lại lại trong phòng, thẫn thờ nhìn lướt qua các giá sách. Rồi anh lại ngồi xuống, nhồi tẩu, châm lửa và nói:

“Thôi được, tốt hơn là tôi nên kể cho cậu nghe về tên Crimplesham hung ác và chai lì này.”

Anh kể chi tiết chuyến đi đến Salisbury của mình. Một khi đã chắc chắn về nhân thân tốt của anh, ông Crimplesham đã cung cấp cho anh những chi tiết đầy đủ nhất về chuyến đi lên thành phố của ông ta.

“Và tôi đã xác thực toàn bộ chuyện đó,” Lord Peter rên rỉ, “và trừ khi lão ta đã hối lộ phân nửa dân số Balham, nếu không thì chẳng có nghi ngờ gì về việc lão đã dành cả đêm ở đó. Và buổi chiều thì thực sự ở bên mấy người ở ngân hàng. Và có vẻ như phân nửa cư dân Salisbury đã tiễn lão ấy lên đường vào hôm thứ Hai trước bữa trưa. Và chẳng có ai ngoài gia đình lão hay cậu thanh niên Wicks là có được thứ gì từ cái chết của lão cả. Và ngay cả khi cậu Wicks muốn thủ tiêu lão đi chăng nữa, thì việc đi sát hại một kẻ vô danh trong căn nhà của Thipps chỉ để đeo cặp kính của Crimplesham lên mũi hắn ta thì quả là quá gượng ép.”

“Cậu Wicks ở đâu vào hôm thứ Hai?” Parker hỏi.

“Ở một buổi khiêu vũ do vị Chưởng nhạc tổ chức,” Lord Peter đáp một cách điên rồ. “David—tên cậu ta là David—nhảy múa trước hòm giao ước của Chúa ngay trước toàn thể khu nhà thờ lớn Cathedral Close.”

Có một khoảng lặng.

“Kể cho tôi nghe về cuộc điều tra đi,” Wimsey nói.

Parker chiều ý bạn tóm tắt lại các bằng chứng.

“Ngài có tin rằng thi thể đã bị giấu trong căn hộ rốt cuộc hay không?” anh hỏi. “Tôi biết là chúng ta đã tìm kiếm, nhưng tôi đoán có lẽ chúng ta đã bỏ sót thứ gì đó.”

“Chúng ta có thể. Nhưng Sugg cũng đã lục soát rồi mà.”

“Sugg!”

“Cậu đang đối xử bất công với Sugg đấy,” Lord Peter nói; “nếu có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự đồng lõa của Thipps trong vụ án, Sugg đã tìm ra chúng rồi.”

“Tại sao?”

“Tại sao ư? Bởi vì hắn ta đang tìm kiếm chúng. Hắn cũng giống như mấy tay bình luận thư Ga-lát của cậu vậy. Hắn nghĩ rằng hoặc là Thipps, hoặc là Gladys Horrocks, hoặc là anh người yêu của Gladys Horrocks đã làm việc đó. Thế nên hắn tìm thấy những dấu vết trên bệ cửa sổ nơi anh người yêu của Gladys Horrocks có thể đã trèo vào hoặc đưa thứ gì đó cho Gladys Horrocks. Hắn chẳng tìm thấy dấu vết nào trên mái nhà, bởi vì hắn có tìm kiếm ở đó đâu.”

“Nhưng hắn đã kiểm tra mái nhà trước tôi cơ mà.”

“Đúng, nhưng chỉ để chứng minh rằng chẳng có dấu vết nào ở đó cả. Hắn lập luận thế này: Bạn trai của Gladys Horrocks là thợ kính. Thợ kính đến bằng thang. Thợ kính rất dễ tiếp cận với thang. Do đó bạn trai của Gladys Horrocks rất dễ tiếp cận với thang. Do đó bạn trai của Gladys Horrocks đã đến bằng thang. Do đó sẽ có dấu vết trên bệ cửa sổ và không có dấu vết nào trên mái nhà. Do đó hắn tìm thấy dấu vết trên bệ cửa sổ nhưng chẳng có dấu vết nào trên mái nhà cả. Hắn không tìm thấy dấu vết nào trên mặt đất, nhưng hắn nghĩ rằng hắn đã tìm thấy chúng nếu cái sân đó không vô tình được lát bằng nhựa đường. Tương tự như vậy, hắn nghĩ ông Thipps có thể đã giấu thi thể trong phòng chứa đồ hoặc đâu đó. Do đó cậu có thể chắc chắn là hắn đã lục soát phòng chứa đồ và tất cả các nơi khác để tìm dấu vết có người sinh sống. Nếu chúng ở đó, hắn đã tìm thấy rồi, bởi vì hắn đang tìm kiếm chúng. Do đó, nếu hắn không tìm thấy thì đó là vì chúng không hề có ở đó.”

“Thôi được rồi,” Parker nói, “đừng nói nữa. Tôi tin ngài rồi đấy.”

Anh tiếp tục đi vào chi tiết các bằng chứng y tế.

“Nhân tiện đây,” Lord Peter nói, “chuyển hướng sang vụ án kia một chút, cậu đã nghĩ đến khả năng có lẽ Levy đã đến gặp Freke vào tối thứ Hai chưa?”

“Đã đi; và thực tế là đã đến,” Parker nói, có phần bất ngờ, và tiến hành thuật lại cuộc gặp gỡ của anh với chuyên gia thần kinh học.

“Hừm!” Lord Peter lẩm bẩm. “Này, Parker, đây đều là những vụ án kỳ lạ phải không? Mọi hướng điều tra đều dường như đi vào ngõ cụt. Nó vô cùng kích thích đến một thời điểm nào đó, ngài biết đấy, rồi chẳng có kết quả gì xuất hiện cả. Giống như những dòng sông bị vùi lấp trong cát vậy.”

“Đúng thế,” Parker nói. “Và tôi lại vừa đánh rơi một manh mối khác vào sáng nay.”

“Manh mối gì thế?”

“Ồ, tôi đã dò hỏi thư ký của Levy về chuyện làm ăn của ông ta. Tôi không thu được mấy thông tin có vẻ quan trọng ngoại trừ những chi tiết bổ sung về Argentina này nọ. Sau đó tôi nghĩ mình nên đi hỏi quanh khu Phố Thành về số cổ phiếu Dầu mỏ Peru đó, nhưng Levy thậm chí còn chưa từng nghe đến chúng theo như những gì tôi có thể nắm bắt được. Tôi đã lùng sục các nhà môi giới và phát hiện ra rất nhiều sự bí ẩn và che giấu, như người ta vẫn luôn thế, ngài biết đấy, khi có ai đó đang thao túng thị trường, và cuối cùng tôi đã tìm ra một cái tên đứng đằng sau tất cả. Nhưng đó lại không phải là Levy.”

“Không phải á? Của ai thế?”

“Thật kỳ lạ là, lại là Freke. Dường như có gì đó rất bí ẩn. Ông ta đã mua một lượng lớn cổ phiếu vào tuần trước, theo một cách đầy bí mật, một vài trong số đó đứng tên chính mình, rồi sau đó lẳng lặng bán tống bán tháo vào hôm thứ Hai với một khoản lợi nhuận nhỏ—chỉ vài trăm bảng, một số tiền mà ngài sẽ nghĩ chẳng đáng để phải nhọc công làm đến thế.”

“Tôi không thể ngờ lão ta lại dính vào thể loại canh bạc đó đấy.”

“Thông thường thì không. Đó mới là điều kỳ lạ.”

“À, biết thế nào được,” Lord Peter nói; “người ta làm những việc đó chỉ để chứng minh cho chính họ hoặc ai đó thấy rằng họ có thể kiếm được một gia tài theo cách đó nếu họ muốn. Bản thân tôi cũng từng làm thế với quy mô nhỏ rồi.”

Anh gõ tẩu và đứng dậy ra về.

“Này, ông bạn già,” anh đột ngột cất tiếng khi Parker đang tiễn ra cửa, “cậu có thấy câu chuyện của Freke chẳng khớp lắm với những gì Anderson đã nói về việc lão già đó rất vui vẻ trong bữa tối hôm thứ Hai không? Cậu có thể vui vẻ nổi không, nếu cậu nghĩ mình đang vướng vào một rắc rối kiểu đó?”

“Không, tôi không thể,” Parker đáp; “nhưng,” anh nói thêm với sự cẩn trọng quen thuộc của mình, “vẫn có những kẻ thích đùa cợt ngay cả trong phòng chờ của nha sĩ. Ngài là một ví dụ đấy.”

“Ừ, đúng thế thật,” Lord Peter nói rồi bước xuống lầu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.