Cách đây 6 năm, quãng 2007, trong một lần dọn dẹp tủ báo lưu, dễ có đến hơn nghìn tờ, tôi chợt thấy mình có vô khối những bài ký du lịch, viết từ mãi năm 2000. Để riêng ra một góc, tôi nhẩm tính nếu đem in khéo hòm hòm cũng được cuốn sách. Hồi ấy tôi chẳng có mấy bản thảo, nghĩ nếu người ta đồng ý xuất bản cho thì cũng được thêm đầu sách nữa. Mới lụi cụi đem đi photo mấy bài báo đó, cho vào bì thư khổ A4 rồi đầu tiên mang “rao” cho công ty sách Bách Việt. Mấy ngày sau, người nhà sách gọi điện cho tôi bảo đến lấy lại bản thảo, với lý do “không phù hợp”. Lâu lắm về sau, nhà văn Võ Thị Xuân Hà, giám đốc công ty sách Hà Thế hỏi tôi có tập bản thảo nào thì cứ gửi. Tôi mang một tập truyện ngắn dịch chọn lọc đến và tập phô tô lần trước. Mấy bữa sau chị Hà bảo chị quan tâm hơn đến tập truyện dịch, còn “cái kia” không phù hợp. Cầm cái tập phô tô lem nhem về, tôi nhủ thầm mình rõ dại, trông bản thảo xấu xấu bẩn bẩn như vậy ai người ta hiểu là thứ gì mà in. Tôi kiên nhẫn thuê người đánh máy lại, in sạch đẹp rồi phô tô ra mấy cuốn, đóng bìa cẩn thận cho dày dặn và mang lên công ty sách Thái Hà. Công ty này có trụ sở ở toà nhà đối diện nhà tôi. Tôi đi sang chỉ ba chục bước, vào phòng khách tự giới thiệu và chìa ra tập bản thảo, rất giống mấy bận đầu của những năm cuối cùng thế kỷ 20, khi còn là sinh viên, lọ mọ vác bản thảo đến từng toà soạn gặp những người chưa từng gặp bao giờ để xin được in. Ngay sáng hôm sau người của Thái Hà gọi điện cho tôi bảo tập sách quả rất thú vị nhưng… không phù hợp với chủ trương của công ty. Thêm vài bận nữa thì tôi đề nghị với nhà văn Trần Thanh Hà, biên tập viên của NXB Công an Nhân dân, xem chị có hứng thú in một cuốn sách du ký có tên là “Đảo thiên đường” hay không, giọng điệu của tôi có vẻ thờ ơ, nhưng trong bụng hầu như hồi hộp và hy vọng. Chị nhận in với điều kiện chỉ 2000 bản thôi và bàn giao nó cho công ty sách Phương Đông. Lúc ấy suýt nữa tôi buột miệng: In 2000 bản chứ in 200 bản cũng được, không trả nhuận bút cũng không sao, miễn được một cuốn sách lưu lại những hồi ức huy hoàng trên mỗi chặng đường như một vật kỷ niệm. Năm 2009, cuốn sách ra mắt, tự dưng nó lại được bán hết, rồi in tái thêm vô số bản. Nhưng điều ấy không quan trọng bằng việc nó gắn liền với hình ảnh và cá tính của bản thân tôi, hơn bất kỳ cuốn sách nào tôi từng viết cho đến giờ phút này.
Cùng khoảng thời gian trước và sau đó, rất nhiều cuốn sách du ký của các tác giả nữ khác cũng được phát hành rộng rãi và “bỗng dưng” bán chạy (Cái “bỗng dưng” này tôi cũng ngờ rằng là một sự không lường trước của các nhà xuất bản về mức độ thành công của chúng trên khía cạnh thị trường). Có thế kể đến “Venise và những cuộc tình Gondola”, “Trả lại nụ hôn” của Dương Thuỵ; “Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương”, “Bánh mì thơm và cà phê đắng” của Ngô Thị Giáng Uyên, “Từ tuyết đến mặt trời” của Nguyễn Phan Quế Mai và mới đây nhất là “Xách ba lô lên và đi” của Huyền Chip. Chưa kể “nghe nói” rất nhiều tác giả nữ (không chuyên) khác cũng đang sắp sửa ra mắt những cuốn bút ký ghi dấu từng chặng đường của mình. Điều tôi muốn nói ở đây không phải là vấn đề xuất bản hay văn học hay du lịch, mà tại sao độc giả lại ưa thích đến thế hình ảnh những nữ nhân đi lại và dịch chuyển. Sao thế khi mà nửa thế kỷ nay thể loại bút ký du lịch này đã vô cùng phổ biến trên báo chí, mạng xã hội, cũng không ít những cuốn sách tương tự được xuất bản dưới cái tên của các tác giả nam, hoặc của các tác giả nước ngoài. Mà họ viết rất thú vị hẳn hoi chứ không phải tẻ nhạt. Nhưng chúng không tạo được hiệu ứng mạnh mẽ đến vậy trong cộng đồng những người trẻ. Tôi lờ mờ đoán ra, liệu có phải cũng như vạn vật luôn thay đổi theo thời gian, hình ảnh của người phụ nữ cũng đã thay đổi từ lúc nào mà tôi không để ý. Thời phong kiến, phụ nữ “tam tòng, tứ đức”, thời kỳ cách mạng, phụ nữ “ba đảm đang” trở thành phong trào, tiếp nối là “Giỏi việc nước, đảm việc nhà." Giờ hình như người ta không cần tam tòng ba đảm đang nữa, người ta cũng giảm dần cái yêu cầu việc nhà việc nước ở người phụ nữ, mà phụ nữ đang hô hào nhau tạm rời bớt cái bếp và bàn giấy để hưởng thụ, để đi lại, để khám phá, chinh phục, mạo hiểm và để… mạnh mẽ. Độc giả dường như thích hình ảnh phụ nữ dám bứt phá, dám là chính mình, dám đi, dám làm và mở rộng tầm mắt ra thế giới. Rồi cũng chợt nhận ra, chỉ trong vòng chừng mươi năm thôi, từ những tờ báo, tạp chí dành cho phụ nữ với những chủ đề muôn năm cũ như “Làm thế nào để giữ chồng?” thì bây giờ người ta thi nhau hô hào phụ nữ… bỏ chồng và hãy sống cho chính mình nếu như gã ta không xứng đáng. Thậm chí khuyến khích phụ nữ làm “gái hư” với những tiêu đề hấp dẫn kiểu “Làm gái hư thật tuyệt”, “Bí quyết phòng the khiến chàng ngộp thở”. Các nhà báo và cộng tác viên báo chí hùa nhau phê phán “gái ngoan”, gọi họ là nước lọc, nước ốc. Từ những bài viết ăn khách một thập niên về trước cho chủ đề hot “Cái giá phải trả của việc sống thử” (Nhiều tạp chí còn tạo hẳn diễn đàn về chủ đề này để in dài kỳ lai rai tới cả hai quý, tất nhiên bàn về cái giá phải trả đối với người phụ nữ), giờ báo chí chuyển sang hướng dẫn các nàng chủ động trong việc phòng the, thậm chí nhiều trang báo mạng cổ động cho việc nàng solo trên giường.
Cách đây hơn một thập niên, hình ảnh người phụ nữ chiều chồng, chăm sóc chồng như thể chăm sóc một em bé vẫn còn được ngợi khen và tôn vinh, nay trên mặt báo người ta khâm phục những người phụ nữ biết “quyến rũ chồng” và dạy cho phụ nữ các chiêu để trở thành… người tình của chồng. Thôi rồi chủ đề ấm cúng “Hãy giữ lửa cho căn bếp”, “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, nay các tác giả ủng hộ cho việc phụ nữ có thể sống tốt với phong trào độc thân mà chả cần tới đàn ông, và những bài viết “10 lợi ích của việc không kết hôn” khiến cho tạp chí thêm phần bán chạy. Hình ảnh người phụ nữ đẹp với mascara dày rợp và móng tay đỏ chót không hoàn toàn quyến rũ nhất ở thế kỷ 21 này, mà dường như những gì cô ta mang về để kể sau khi đi một vòng quanh thế giới mới thực lắm thú vị. Tôi cũng không biết những cuốn sách du ký của các tác giả nữ mang lại cho độc giả (chủ yếu là nữ, tôi đoán thế) điều gì nhiều hơn sách của các tác giả nam? Họ nhìn thấy một hình ảnh mà họ mong muốn nhưng chưa thực hiện được chăng? Hay còn điều gì khác mà tôi chưa luận ra?
Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam, phụ nữ được thoải mái tự cởi trói như thời nay. Các người mẫu, ca sĩ, diễn viên tự cởi quần áo chụp hình trước bao con mắt nhiếp ảnh gia râu mày, giữa một thiên nhiên bao la rộng lớn chẳng ngại ngùng gì ánh nhìn lén ở đâu đó sau các bụi cây. Mà có sao đâu khi sau đó thế nào những bức ảnh cũng được tải lên mạng. Các nữ họa sĩ đương đại hoặc là vẽ phóng đại linh vật Yoni ra giữa triển lãm, hoặc là cởi sạch áo quần chỉ để lại lông chim trên người trong một buổi trình diễn. Các nhà văn nữ cũng cởi sạch áo quần của nhân vật trên trang giấy. Các nữ sinh viên bỏ lại sách vở và trường đại học để đi phượt vòng quanh thế giới. Các nữ doanh nhân, nữ chính trị gia lấn dần quyền lực tưởng chừng bất biến của các đấng mày râu. Đối với phụ nữ thời nay, dường như cuộc đời đã tươi đẹp hơn kể từ khi thực hiện được công cuộc “hiện đại hoá” thoát khỏi sức kiềm toả 4000 năm của các loại bếp lò, bếp củi, bếp dầu, bếp than tổ ong, bếp điện, bếp ga, bếp từ. Tôi vẫn tin tưởng tuyệt đối ở triết lý “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà”. Tôi (chúng tôi) gặp may mắn, bởi lẽ nếu những cuốn du ký như “Đảo thiên đường” ra mắt công chúng vào hai thập niên trước, số phận của chúng đã không mang đậm màu hồng như khi được ấn hành vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21.