Trên trang bìa cuốn sách này là một đoạn trích thông báo của Công ty Điện thoại New York, ngày 8 tháng 12 năm 1930, đóng khung hẳn hoi. Nó báo trước sắp thêm một con số vào tên cơ quan trung ương của tổng đài điện thoại. Ví dụ: “HAnover sẽ là HAnover 2”. Thông báo này như một đề từ, thường gồm một đoạn trích nguyên văn in trên giấy trắng.
Là một tiểu thuyết gia hiện đại (tôi dùng từ hiện đại với ý khá lỗi thời, có nghĩa là mới) sẽ thay thế những đoạn thơ hoặc văn xuôi mẫu mực bằng dạng ngôn ngữ quảng cáo rời rạc chuẩn mực, rồi chuyển từ trang riêng thành trang có tên nhà xuất bản - bằng cách đó, biến thương mại thành nghệ thuật rồi đem bán cho độc giả - anh ta có thể dễ dàng bị gạt bỏ như những kẻ hậu hiện đại tầm thường, biến chi tiết thành kể lể, không hề biết sự khác biệt giữa một điểm thắt nút và một dòng.
Song năm 1935, năm Áo khoác lông chồn ra mắt lần đầu và là tác phẩm nổi tiếng, nền văn hóa hoàn toàn khác, mọi ngành nghề kinh doanh đang hồi hỗn loạn. Bút pháp dùng trong bản thông báo này được dùng ở mọi loại, chứng tỏ ngay từ đầu rằng John O’Hara, người viết sử biên niên của Mỹ, không chỉ là một cây bút hết sức độc đáo, mà còn rất thực tế.
Có thể nói (theo thông lệ) ông là người đi trước thời đại, nhưng (cũng theo thông lệ) dường như ông là người của chúng ta. Nhưng đây là một thời đại rành mạch, gay gắt, trong đó từng dòng từng chữ đều bị kiểm soát nghiêm ngặt. Đây không phải là hoàn cảnh năm 1935.
Năm 1935, nhiều sự việc không nói ra thì tốt hơn. Nhiều đam mê ngấm ngầm, nhiều quy tắc bất thành văn. Có nhiều người giàu không kể xiết và có những anh hùng không được tôn vinh. Tư cách đạo đức có khi không thích hợp. Hành xử có thể không đúng đắn. Đạo đức có thể không được tha thứ. Đạo đức có thể không được khoan dung.
Năm 1935, chỉ số Dow Jones đóng cửa ở mức 144.13, không những cho thấy tác động của nạn Đại Suy thoái, mà còn truyền đạt một ý nghĩa đặc biệt, đây là một giai đoạn có không ít việc buôn bán ngoài luồng. Năm 1935, Luật cấm buôn bán rượu mới hết hiệu lực được hai năm, sau khi kéo dài mười ba năm liền. Trong nhiều thành công khác, nó còn có tác dụng dân chủ hóa hoàn toàn và rất quái đản tính chất vụng trộm của nền đạo đức, chi phối các cuộc ngoại tình của tầng lớp thượng lưu Mỹ.
Nếu mọi quán rượu đều lậu thì không có quán nào công khai. Một quán bán rượu lậu không phải là một câu lạc bộ tư nhân ít thành công; ngoài ra, không ai nhầm Tommy Guinan’s Chez Florence là Union League. Thời điểm đó chính xác là thế. Có nhiều lúc, người ta không thích chạm trán với những người có thể bị bắt gặp, và nói chung, họ thích theo cách khác hơn. Vì thế, những khu nhà lụp xụp được phép mở rộng và thêm thắt nhiều thứ theo nhiều kiểu cách, một số rất mới mẻ.
Những cuộc tình nói trên không khác với ngày nay hoặc ngày hôm qua, hoặc thực ra không khác với bất cứ ngày nào. Ngoại tình, đồng tính luyến ái, vân vân và vân vân trong mọi dạng mọi kiểu hầu như không chịu ảnh hưởng của thời gian. Thèm muốn nhục dục là sự thôi thúc của xác thịt, còn sức mạnh của con người là nhận thức. Làm thế nào hiểu được một hành động hoặc sự thèm muốn cùng một lúc, để cảm nhận được đấy chính là thứ mang lại cho con người tác động của bản năng giới tính, là một khúc ngoặt đặc biệt. Tội lỗi, sự bí mật, lòng ngưỡng mộ, niềm vui và nỗi thất vọng, tất cả đều là phản ứng đề phòng phản ứng, tất cả có thể tồn tại, có thể trở thành mốt.
Trong thực tế, tầng lớp thượng lưu Mỹ nhắc đến trên đây có phần khác biệt với ngày nay, tuy không khác nhiều đến mức bạn khó hình dung nổi. Năm 1935, nét độc đáo của giai cấp hiển hiện vừa nhiều hơn vừa ít hơn ngày nay, và không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là mối quan tâm đầu tiên của John O’Hara. Việc này không hề đơn giản do những tham vọng xã hội của ông (ông thường tự trách mình về điểm này), hơn nữa ông hiểu rõ hơn bất cứ nhà văn Mỹ nào khác rằng, giai tầng có thể vừa bộc lộ vừa nhào nặn nên tính cách, sự hời hợt có thể trọn vẹn đến vô cùng, và quần áo có thể thực sự làm nên con người ra sao. Fitzgerald hay khen ngợi việc này, nhưng Fitzgerald tán dương đồng tiền quá nhiều.
Hai câu đầu của Áo khoác lông chồn như sau: “Một sáng Chủ nhật tháng Năm, cô gái mà sau này gây một sự náo động ở New York, thức giấc quá sớm vì đêm hôm trước. Một phút trước cô còn ngủ, ngay sau đó cô tỉnh giấc hoàn toàn và đâm thất vọng.” Tên cô gái là Gloria Wandrous. Cô nhận ra mình thức giấc trong “căn hộ của một người lạ”. Lạ có nghĩa là mới mẻ hơn là bất thường, theo nghĩa rộng của tình dục. Người đàn ông đặc biệt này là Weston Liggett, trong thực tế là hình ảnh đích thực của tính quy củ, chính thống và đúng mực. Hình ảnh này được O’Hara trực tiếp xây dựng khi miêu tả đồ đạc của chủ nhà, lúc Gloria Wandrous xem xét khắp căn hộ rộng rãi của Liggett. Những bức ảnh bầy ngựa, các buổi biểu diễn ngựa, các cuộc thi thuyền buồm tám mái chèo. Một bản miêu tả đầy đủ và trọn vẹn về quần áo, tư thế của tay chèo trẻ tuổi. Từ đồ đạc được nêu trước từ gia đình.
Trong cuộc đời non trẻ của mình, Gloria Wandrous đã gặp ít nhất hai người đàn ông kỳ lạ, kỳ lạ với nghĩa không đúng lễ giáo, không đúng lễ giáo với nghĩa là kẻ lầm đường lạc lối. Năm 1935, lạm dụng tình dục trẻ em và những hậu quả của nó không phải là đề tài phổ biến (tôi dùng từ phổ biến theo cả hai nghĩa) trong văn chương như ngày nay; người ta gọi lạm dụng là thứ đã nhàm, có ở khắp mọi nơi. Nhưng giữa sự phô bày kích động với sự thực ghê tởm có sự khác biệt, và sự khác biệt không phải là hiểu biết tường tận mà là sự nhạy cảm, và tài năng là phần bị xem nhẹ từ lâu của thuộc tính bị lãng quên đã lâu. Bất cứ ai ở bất kỳ lứa tuổi nào, đọc hoặc đọc lại cuốn sách này sẽ thấy điều đó hoàn toàn dễ hiểu.
Đọc lại một cuốn tiểu thuyết, nhất là đọc lần đầu khi còn trẻ, không chỉ có nghĩa là đọc lần nữa. Nó cũng có nghĩa không chỉ đánh giá lại cuốn sách mà còn đánh giá lại ấn tượng ban đầu của người đọc về cuốn sách, lúc ấn tượng còn nguyên sơ nhất. Khi viết Áo khoác lông chồn (khoảng năm 1934), John O’Hara hai mươi chín tuổi. Tôi đọc cuốn sách này lần đầu vào năm 1964, khi mới mười ba tuổi. Có thể hiểu được rằng vào lúc ấy, tôi không ngờ đó là cuốn sách của một người trẻ tuổi. Than ôi, đến giờ tôi mới biết.
Ở tuổi mười ba, tôi chưa hiểu thấm thía giọng điệu từng trải, thạo đời, thậm chí chán sống của cuốn sách; không bực mình vì sự thể hiện khá quả quyết của cách xử thế quá sành sỏi; sự hăng hái còn non nớt của nó xem ra gần gũi với từng khía cạnh của cuộc sống kém đạo đức của những người sinh trưởng ở chốn thượng lưu và cuộc sống cao thượng của những người sinh trưởng hèn kém.
Nhưng dù chưa biết đến những điều ấy, ở tuổi mười ba, tôi cũng gần như đánh giá được đầy đủ sự tình tế thực sự của John O’Hara, tính bặt thiệp chân thật, tài năng bẩm sinh để nhận thức, hiểu biết và cảm thấu của ông. Ông tỉnh táo hiếm có với những thứ còn xa mới đáng ngưỡng mộ và tỏ thái độ miệt thị thay cho thán phục. Ông hiểu tường tận sự hung ác có thể tạo nên cách hành xử tàn bạo, cũng như những đường cắt cúp của một bộ trang phục cũng gần với những đường cắt của một con dao như thế nào.
Ở tuổi mười ba, tôi còn chưa nhận thức được rằng những thứ bất thường như thế, đáng quý trọng như thế, đầy kích thích như thế không phải là thạo đời, mà là sự am hiểu của chàng thanh niên John O’Hara hai mươi chín tuổi. Cuối cùng thì giờ đây, tôi đã hiểu.
Princeton, New Jersey, 2002