Áo Khoác Lông Chồn

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Một sáng Chủ nhật tháng Năm, cô gái mà sau này gây một sự náo động ở New York, thức giấc quá sớm vì đêm hôm trước. Một phút trước cô còn ngủ, ngay sau đó cô tỉnh giấc hoàn toàn và đâm thất vọng. Nỗi thất vọng mà trước kia có lẽ cô đã có đến 2.000 lần, 365 buổi sáng trong một năm. Nói chung, nguyên nhân thất vọng là sự ân hận thuộc hai loại. Ân hận vì cô biết dù sắp tới, cô có làm gì đi nữa cũng sẽ chẳng có gì hay hớm. Lý do cụ thể của những giây phút kinh hoàng hoặc lẻ loi này thường không do lời lẽ hoặc hành động gây nên. Bởi chưng, năm nay cô đã đi khá xa. Đủ xa để nhận thức được việc cô làm hoặc nói đêm qua không chỉ có một mình. Cách đối xử của cô đêm trước có thể đổ cho nỗi thất vọng của bất cứ ngày nào, thường xuyên tồi tệ nhưng không đủ tệ để gây ra nỗi thất vọng sâu sắc đến thế. Lúc đầu còn mơ hồ, rồi sau khi thắng được thói quen không thành thật với chính mình, cô nhận ra mình đã chìm sâu vào trạng thái thất vọng. Cô đã vượt xa nỗi thất vọng ban đầu, vì cô chai lỳ đến mức quen phớt lờ lý do chính gây nên mọi nỗi thất vọng có thể đến trong đời.

Thực ra thì có một nguyên nhân.

Nhưng trong suốt nhiều năm cô đã cố không nghĩ đến nó, hy vọng đẩy nó ra xa và tách khỏi nó. Thế rồi sáng sáng, thỉnh thoảng là các buổi trưa, mỗi khi tỉnh dậy thất vọng tràn trề, cô lại tự hỏi trước khi đi ngủ mình đã làm gì mà hôm nay lại khiếp sợ đến thế. Cô cố nhớ lại từng tí một, rồi bất chợt “Ồ, mình nhớ ra rồi”, và dần dần giải thích được những hồi nhớ các sự việc tồi tệ cô đã làm. Sau đó là lúc âm thầm nguyền rủa và la hét, thì thầm tự lên án mình thật gay gắt. Cô chẳng hay biết trong những cơn thịnh nộ tự buộc tội, cô đã gọi mình là gì. Cô cứ thì thào, thì thào mãi những lời bọn đàn ông nói với nhau lúc muốn xúi giục giết người. Cuối cùng, cô mệt lử và buông xuôi trong tình trạng yếu ớt, nhưng không đến mức tỏ ra yếu đuối với tất cả mọi người. Với những người khác cô là kẻ bất chấp, nhưng cô biết rồi sự việc sẽ tiếp tục diễn ra như thế.

Việc trước hết là phải dậy và mặc quần áo. Sáng Chủ nhật hôm ấy, cô làm những việc thường làm, mang lại cho cô niềm vui nho nhỏ. Dải rút bộ pyjama cô mặc đã tuột ra đêm qua, cô mở bộ pyjama và cười. Cô tự nhủ: “Không biết ông ta đâu nhỉ?”

Ra khỏi giường, giữ bộ pyjama vào sát người, cô loạng choạng và khá say, nhưng đi khắp căn hộ cô vẫn không tìm thấy ông ta đâu. Đó là căn hộ lớn. Có một căn phòng rộng rãi, bên trong bày chiếc đại dương cầm, nhiều đồ gỗ nặng nề, góc phòng có một giá sách, nhiều bức ảnh phóng to những người đàn ông, đàn bà, các chàng trai và cô gái trên lưng ngựa hoặc đứng cạnh ngựa đã thắng yên cương. Một bức ảnh chụp một cô gái trên xe, ngựa đã thắng vào xe, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ thấy một sợi dây chắc là của người giám mã không có trong ảnh. Vài dải rubăng xanh lơ - giải thưởng ở Hội chợ Connecticut - lồng trong khung ảnh. Có mấy bức ảnh thuyền buồm mà khi xem kỹ, cô phát hiện thuyền không nhiều nhưng có hai bức chụp cùng một chiếc thuyền buồm thuộc câu lạc bộ Sound Inter. Một bức chụp tám tay chèo, một bức chụp người bơi thuyền cầm mái chèo dài. Cô ngắm kỹ bức ảnh này. Anh ta cắt tóc ngắn, đi tất len ngắn cổ dày, sơmi vải bông có ba khuy nơi cổ, một chữ cái nhỏ trên chỗ trái tim, quần bơi buộc túm lại ở ngay chính giữa với cái bên trong. Cô ngạc nhiên thấy anh ta treo một bức ảnh như thế trong căn phòng này, nơi ắt phải có nhiều cô gái nhìn thấy. “Nhưng họ chẳng bao giờ nhận ra anh ta, trừ khi có người nói anh ta là ai.”

Phòng ăn rộng gần bằng căn phòng đầu tiên. Căn phòng làm cô nghĩ đến những miếng thịt rưới đẫm nước sốt. Ngoài phòng ngủ cô đã nằm, còn bốn phòng ngủ khác. Hai phòng ngủ của con gái, phòng thứ ba của người hầu và phòng thứ tư của bà chủ. Cô nấn ná trong phòng này.

Cô mở các tủ chứa đồ và ngắm nghía mọi thứ. Cô nhìn cái giường, gọn gàng và lạnh lẽo. Cô ngửi các lọ trên bàn trang điểm, rồi mở một cánh cửa tủ khác. Thứ đầu tiên cô nhìn thấy là chiếc áo choàng bằng lông chồn vizon và đó là thứ duy nhất cô thực sự thích.

Cô quay ra và trở lại phòng ông ta, thu dọn đồ của mình: giày, tất, quần lót, áo dạ hội. “Hay quá, mình không thể mặc cái này nữa. Không thể ra ngoài giữa ban ngày ban mặt mà lại mặc áo dạ hội và áo choàng.” Chiếc áo dạ hội, đúng hơn là một chiếc áo dài không tay xếp cẩn thận trên ghế. Nhưng lúc nhìn lại lần thứ hai, cô nhớ lại đêm trước rõ ràng hơn. Chiếc áo dài dạ hội bị xé, rách toạc từ nửa tà trước đến tận eo. “Thằng chó đẻ.” Cô ném chiếc áo lên sàn của một trong các tủ đồ và cởi phăng bộ pyjama đang mặc - bộ pyjama của hắn ta. Cô đi tắm và chậm rãi lau khô người bằng rất nhiều khăn rồi vứt bừa bãi trên sàn buồng tắm, sau đó cô lấy bàn chải đánh răng của ông ta và đưa xuống dưới vòi nước nóng. Sờ tay vào thấy nước quá nóng, cô chắc đủ nóng để tiệt trùng. Ý nghĩ này làm cô bật cười: “Mình đã lên giường với hắn, đã tiếp nhận đủ thứ từ hắn, nhưng lại khử trùng bàn chải răng của hắn.” Cô đánh răng, dùng một loại nước súc miệng, tự pha nước quả muối và uống một cách thích thú. Cô cảm thấy tỉnh táo hơn nhiều và không biết sau này còn thấy khá hơn nữa không. Nỗi thất vọng đã tan. Giờ thì cô biết việc mình sắp làm là tồi tệ, cô đối mặt với nó và cảm thấy hài lòng. Cô khó mà đợi được nữa.

Cô mặc quần lót, đi tất, giày và chải tóc, rồi trang điểm. Cô dùng ít phấn son. Cô mở cửa tủ và thọc tay vào các túi quần áo của ông chủ, nhưng không tìm thấy thứ cô muốn. Cô thấy thứ đó - thuốc lá - trong ngăn tủ trên cùng. Cô châm một điếu và vào bếp. Trên bàn bếp có một cái phong bì, lúc trước đi rảo quanh nhà cô đã không để ý. “Gloria”, chữ viết bằng bút chì, lối chữ tròn, ngả về bên trái.

Cô bóc phong bì dính nhớp vì dán không chặt, lôi ra ba tờ hai chục đô la và một bức thư ngắn. “Gloria, tiền này đền cho chiếc áo của em. Anh phải về quê. Sẽ gọi em vào thứ Ba hoặc thứ Tư. W.”

- Nhất trí cao! - cô nói thật to.

Lúc này cô đi lại nhanh hơn. Cô tìm thấy hai cái mũ phớt màu đen gần giống nhau trong tủ của một cô gái. Cô đội một chiếc. “Cô ta sẽ tưởng đã mang chiếc kia về quê và đánh mất rồi”. Cô nhận ra cảnh tượng thật khôi hài khi cô, đi tất, đi giày, mặc quần lót và đội mũ phớt đen. “Nhưng chúng ta sẽ sớm hoàn tất thôi.” Quay lại tủ chứa đồ của bà chủ, cô lấy chiếc áo khoác lông chồn và mặc vào. Rồi cô vào phòng ngủ của ông chủ, nhét sáu chục đôla vào cái xắc nhỏ dát cườm của mình. Thế là đủ lệ bộ.

Trước khi rời căn hộ, cô dừng lại và soi vào tấm gương to trong tiền sảnh. Cô rất thích thú. “Giá là mùa xuân, bộ này diện phải biết. Nhưng dù sao cũng không tồi.”

Cô thích thú đi thang máy xuống. Người coi thang máy không đẹp trai, nhưng cao ráo và trẻ trung, rõ ràng là người Đức. Cô khoái chí khi nghĩ nếu mở phanh chiếc áo khoác lông chồn này ra trước mặt anh chàng, sẽ xảy ra chuyện gì nhỉ?

- Tôi gọi taxi cho cô nhé? - anh ta hỏi, không hề ngoảnh lại suốt dọc đường.

- Được. - cô nói. - Anh ta sẽ không nhớ ra cô nếu có người bảo tả lại cô. Anh ta sẽ chỉ nhớ cô là một người đẹp, hoặc có vẻ là đẹp, nhưng anh ta sẽ không thể miêu tả kỹ càng. Anh ta sẽ chỉ nhớ cô mặc chiếc áo khoác lông chồn vizon, và bất cứ ai được hỏi về cô cũng chỉ nhớ có thế. Đấy là điều duy nhất anh ta có thể miêu tả cô, dù người hỏi là ai đi nữa. Anh ta không phải là người trực thang máy khi cô vào căn nhà này đêm trước; người đó hơi già, không hề bỏ cái mũ đồng phục dù ở trong thang máy. Cô nhớ cái mũ đó. Vì thế, đương nhiên anh chàng này sẽ không căn vặn việc cô mặc áo khoác lông chồn, thay cho chiếc áo khoác nhung cô mặc lúc vào đây. Tất nhiên thôi! Thậm chí anh ta còn không biết cô từ căn hộ nào đi ra nữa kia.

Cô đợi anh ta đi trước, đến tận cánh cửa lớn bằng nhôm-kính của tòa nhà, quan sát anh giơ một ngón tay lên gọi taxi. Cô quyết định thưởng cho anh ta vì khoản phục vụ nho nhỏ này - nó sẽ làm anh ta nhớ cô - rồi vào taxi, ngồi sát góc để anh ta không nhìn rõ cô.

- Cô đến đâu? - tài xế hỏi.

- Quảng trường Washington. Tôi sẽ chỉ chỗ đỗ. - cô chỉ hướng cho tài xe đến một trong những căn nhà ở quảng trường Washington và trả tiền, rồi bước vào và hỏi về một người tưởng tượng. Cô nấn ná đủ lâu để tài xế và chiếc taxi đi khuất. Sau đó, cô đi ra gọi chiếc taxi khác đến phố Horatio. Cô sẽ đột ngột ghé thăm Eddie. Eddie sẽ nổi khùng, vì chắc chắn anh ta có một cô gái khác ở đấy, sáng Chủ nhật mà. Cô phấn chấn và ngay sau khi ra khỏi chiếc taxi này, cô sẽ đến chỗ Eddie, sẽ mua một lít Scotch mang đến cho anh ta và cô nàng kia. Đến góc phố Madison, tài xế suýt đâm phải một người đàn ông và một cô gái; anh ta quát lên, người lái xe quát trả.

- Cho qua, nhổ vào mắt bọn chúng. - Gloria bảo.

•••

Cũng trong khu đó, một cô gái khác đang ngồi ở đầu một cái bàn ăn khá dài. Cô vừa hút thuốc vừa đọc báo, thỉnh thoảng lại đặt điếu thuốc xuống cái gạt tàn và đưa bàn tay rảnh lên vuốt mái tóc ngắn, ẩm ướt ra sau gáy. Phần tóc còn lại của cô khô, nhưng một đường hằn sâu trên da đầu và cổ chứng tỏ cô đã đội mũ tắm. Cô xoa xoa tóc, cố làm cho khô rồi xoa những ngón tay lên vai áo choàng, lướt xuống đằng trước và dừng lại ở ngực. Cô để tay che kín một phần ngực, những ngón tay tì lên hốc nách. Rồi khi giở trang báo, cô lại nhặt điếu thuốc lên và cầm trong giây lát cho đến lúc đầu điếu thuốc cháy đỏ nhắc cô hoặc dụi nó đi hoặc cháy ngón tay. Cô đặt xuống gạt tàn lần nữa và lại bắt đầu lau tóc đằng sau gáy.

Ngay sau đó cô đứng dậy và ra khỏi phòng. Khi trở lại, cô trần truồng, mặc độc quần lót và nịt vú. Cô không trở lại bàn mà đứng trên một chân, khuỵu đầu gối kia lên ghế và nhìn ra bên ngoài dãy cửa sổ chạy suốt chiều dài căn phòng. Cô đang trong tư thế ấy thì chuông reo, và cô chạy vào bếp.

- Xin chào… bảo anh ấy lên nhé.

Cô chạy vội vào phòng ngủ, sau đó vừa đi ra vừa kéo chiếc áo len casơmia qua vai. Cô mặc váy bằng vải tuýt, đi tất len mỏng và giày leo núi, lưỡi giày Scotch hơi thò ra. Chuông lại reo, còn cô đã ra đến cửa.

- Chúc mừng. Chúc mừng, chúc mừng, chúc mừng và chúc mừng. Tiểu thư Stannard khỏe không? Tiểu thư Stannard khỏe không?

- Chào Jimmy. - cô nói. Cô đóng cửa, và ngay lập tức anh chàng kéo cô vào vòng tay và hôn cô.

- Hừm. Không hưởng ứng. - anh ta nói rồi ném mũ lên một cái ghế và ngồi phịch xuống trước khi cô ngồi. Anh ra hiệu mời cô thuốc lá, nhưng cô lắc đầu từ chối.

- Anh uống cà phê nhé? - cô nói.

- Ừ, anh sẽ uống một chút nếu ngon.

- Em sẽ pha ngay đây, còn em uống hai tách rồi. Ít ra thì uống cũng được.

- Chà, em cứ pha đi. Anh ngờ rằng em sẽ quẳng ngay cà phê em pha cho mình.

- Vậy anh có muốn uống hay không nào?

- Một ít thôi. Một tách nóng hổi chỉ dành cho quý ông mặc complê xanh thôi.

- Complê xanh thì sao? Anh không mua chiếc Tên-Nó-Là-Gì à? Em cứ tưởng bọn mình sắp về nông thôn. - cô nhìn bộ quần áo của mình rồi nhìn quần áo anh ta. Anh mặc complê vải séc màu xanh, cổ áo trắng tinh hồ cứng, đi giày đen. - Anh đã kiếm được việc làm ở phố Wall từ khi em gặp anh lần cuối sao?

- Chưa. Chưa cho cả hai câu hỏi. Anh chưa mua xe của Norman Goodman, chứ không phải Tên-Nó-Là-Gì. Em gặp anh ta vào tối chúng ta đến nhà Michel, và em gọi anh ta là Norman. Còn câu hỏi anh đã kiếm được việc làm ở phố Wall chưa, thì anh không trả lời. Tối qua, Norman gọi điện cho anh nói anh ta phải lái xe đưa bố đi cắt bao quy đầu hoặc cái gì đó.

- Ông ta là giáo sĩ Do Thái ư?

- Ồ không, không phải thế đâu. Bố anh ta không phải giáo sĩ Do Thái, chuyện cắt bao quy đầu là anh bịa ra đấy.

- Thế bây giờ chúng mình làm gì? Em hiểu là anh không mượn được xe của ai. Thật là một ngày đẹp trời để về nông thôn.

- Anh đang sẵn tiền. Anh nghĩ chúng mình đến Plaza ăn sáng, nhưng xem chừng em đã ăn rồi. Anh định đi nghe một bài thuyết giảng, nhưng một ngày đẹp trời như hôm nay thì phải lẩn thôi. Những bài thuyết giảng ấy làm sao phù hộ được cho anh kia chứ. Họ đưa chúng đến văn phòng của anh, và anh chỉ việc sao lại rồi dán lên thôi. Anh chỉ viết lời nói đầu, đại loại như “Nạn suy thoái đã thức tỉnh lòng tin của dân Mỹ, theo lời Cha Makepeace John Meriwether là Đức linh mục nhà thờ Tân Giáo Free Patrick, đừng đánh vần nó với ký tự a nếu không muốn bị mất việc.” - Vân vân và vân vân. Cho anh chút kem được không?

- Em e rằng em đã dùng hết kem rồi. Anh dùng sữa nhé?

- Khỉ thật, em có thân hình đẹp quá, Isabel. Đi lại loanh quanh nữa xem nào. Đến bên cửa sổ.

- Không đâu. - cô ngồi xuống. - Anh thực lòng muốn gì vậy?

- Không đến Plaza à? Ngay lúc anh đang sẵn xu?

- Sao anh giàu thế?

- Anh bán một thứ cho New Yorker.

- Thật thế ư? Gì vậy?

- À, khoảng một tháng trước khi có việc gần Lăng mộ Grant, anh phát hiện cả khu nhà thuyền này vắt ngang con sông. Dân chúng sống trong nhà thuyền suốt mùa đông dài dằng dặc. Họ có cả bếp gas, điện, đèn, radio, và suốt mùa đông các nhà thuyền này ngự trên các cọc bằng gỗ. Xuân đến, họ kéo thuyền ra khỏi Rockaway hoặc nơi nào đó tương tự và sống ở đấy suốt mùa hè. Anh nghĩ nó sẽ là bài hay cho mục Chuyện của Hội đồng Thành phố, anh đã tìm hiểu kỹ càng và gửi bài đi, thế là hôm qua anh nhận được một tờ séc ba mươi sáu đôla, oách chưa? Họ muốn anh làm nhiều hơn nữa cho họ.

- Anh sắp làm nữa chứ?

- Anh nghĩ thế. Tất nhiên anh không thể viết bài dài, vì có tin hay không tùy em, nhưng anh còn công việc và một cuốn tiểu thuyết.

- Cuốn tiểu thuyết đến đâu rồi?

- Giống như Ông già Nôen vậy. Mà em thừa biết Ông già Nôen là thế nào rồi.

- Em nghĩ là em sẽ bỏ anh.

- Vĩnh viễn?

- Nói cho khá dứt khoát thì vâng, vĩnh viễn. Một ngày đẹp trời như thế này để về nông thôn. - cô đứng dậy và đến bên cửa sổ. - Hãy nhìn những người đàn ông kia xem. Em quan sát họ không biết chán.

- Những người đàn ông nào? Ngắm anh quá đủ rồi, chẳng cần phải đứng dậy mà ngắm bọn đàn ông. Em kể cho anh về họ đi.

- Họ nuôi chim bồ câu. Chủ nhật nào họ cũng ở trên mái nhà suốt ngày, xua lũ chim bay đi. Cô hầu của chúng ta nói rằng, một người có đàn bồ câu mười tám con xua chúng đi với hy vọng khi chúng bay về sẽ là mười chín hoặc hai chục con. Một hoặc hai con ở đàn khác bị nhầm, sẽ nhập vào đàn đó và tăng số lượng đàn chim của ông ta lên. Như thế không gọi là ăn cắp.

- Nhưng em không đi ăn sáng ở Plaza ư?

- Em ăn rồi, và em cược là anh cũng thế.

- Coi như là thế. Nước cam, bánh mì nướng phết mứt, cà phê. Anh muốn chúng mình ăn bầu dục và món nhồi, trứng ốp la, khoai tây rán. Giống người Anh. Nhưng nếu em không muốn thì thôi vậy. Anh chỉ muốn vui, hay ít ra là đổi khác.

- Để lần khác. Nhưng để em mặc quần áo, rồi chúng ta tiêu tiền của anh theo kiểu khác, nếu anh vẫn muốn thế.

- Anh quên mất là còn nợ em mười đôla.

- Trước hết chúng ta hãy tiêu từng ấy. Giờ em đi mặc quần áo nhé.

Jimmy cầm mấy tờ báo lên.

- Times này! - anh kêu to. - Em chưa bao giờ đọc bài của anh trên Times. Đúng không? - Nhưng cô đã khép cửa phòng ngủ lại. Mươi phút sau cô xuất hiện.

- Ái chà. Đẹp quá. Rất đẹp. Hừm.

- Anh thích không?

- Nó là bộ đẹp nhất anh được thấy. Cả cái mũ nữa. Một cái mũ rất xinh. Anh thấy năm nay mũ mãng của các cô gái đẹp hơn hẳn mọi năm. Đáng yêu kinh khủng. Anh đoán họ phải làm mũ theo kiểu gì đó.

- Em cho là còn phải làm nhiều việc với mớ tóc của em. Tóc em vẫn còn ẩm, trông rối như tổ quạ, mà lỗi tại anh đấy. Nếu biết chúng ta không về nông thôn, em đã không tắm làm gì. Tắm kỹ quá làm em ướt hết cả tóc. Nhớ nhắc em tạt qua hiệu thuốc…

- Em yêu, rất vui lòng!

- …để mua một cái mũ tắm cho tử tế. Jimmy à, trước khi đi, em muốn nói với anh lần cuối, anh đừng nói những điều như thế với em nữa nhé. Em không phải nhân tình của anh, cũng không phải gái đứng đường, và em không quen trò chuyện kiểu ấy. Chẳng vui vẻ gì, và chưa có ai nói chuyện với em như thế. Anh thường trò chuyện với đám phụ nữ ở báo kiểu ấy à? Em chắc họ cũng chẳng thích đâu. Anh có thể khen ngợi bộ áo của em mà không cần đi sâu vào chi tiết thân hình em, và…

- Vậy anh nên nhân danh Chúa nhé? Cả ý tưởng về bộ áo thể hiện thân hình em nữa? Tại sao nó đẹp thế trên người em? Vì em có bộ ngực và nhiều thứ khác nữa rất đẹp. Giờ thì Chúa nguyền rủa, tại sao anh không nên nói như thế?

- Em nghĩ anh nên đi đi thôi. - cô bỏ mũ và ngồi xuống.

- Thôi được, anh sẽ đi. - anh cầm mũ và nện bước xuống tiền sảnh hẹp ra cửa căn hộ. Nhưng anh không mở cửa. Đặt tay lên quả đấm, anh xoay người và quay lại.

- Em không nói gì đâu đấy. - cô nói.

- Anh biết. Em không nhúc nhích. Anh biết. Em biết anh có thể không ra khỏi cửa này hơn là ra ngoài các cửa sổ kia. Em có vui lòng tha thứ cho anh không?

- Rồi sẽ lặp lại y như thế, lại vẫn cung cách ấy, sự việc ấy, lý do ấy. Rồi anh sẽ trở lại xin em tha thứ, và em sẽ bỏ qua cho anh. Mỗi lần em làm thế, Jimmy ạ, em lại căm ghét bản thân. Không phải vì việc bỏ qua cho anh, mà vì em ghét những lời lẽ ấy, ghét trò chuyện kiểu ấy, và em biết, em biết lý do duy nhất anh nói với em kiểu ấy vì em là loại con gái để anh nói kiểu ấy, chính vì thế mà em hận. Anh phải hiểu điều đó.

- Em yêu, không phải thế đâu. Em không phải loại con gái nào hết. Em là em, Isabel ạ. Em không tin anh khi anh nói với em những lời vẫn thường nói ư? Chúng ta làm gì không quan trọng, song bất cứ khi nào nhìn thấy em như thế này, trong buổi sáng, giữa ban ngày có nhiều người khác, anh không thể tin nổi em là của anh. Hoặc đã từng là của anh. Em mặc bộ áo và đội cái mũ này xinh lắm. Anh tiếc là đã nói kiểu ấy.

- Anh không nói với Lib kiểu ấy. Hoặc với Caroline.

- Anh chẳng trò chuyện với họ theo bất cứ kiểu gì. Anh không muốn bị quấy rầy. Đi nào, kẻo anh lại nói cái gì sơ suất chăng.

- Thôi được, hôn em đi. Đừng khó chịu nữa. - cô chìa tay và anh kéo cô đứng lên, cho đến lúc cô dựa sát vào anh.

- Anh phải hôn em thật mãnh liệt. Anh mà không hôn em mãnh liệt sao? Không thể có chuyện đó. - anh cười.

- Không hẳn thế. - cô nói. - Nhiều lần rồi đấy thôi. - cô cười.

- Giờ anh không muốn đi nữa. - anh nói.

- Chúng ta đi thôi. Để em tìm chìa khóa. - cô lục chiếc xắc tay. - Son môi này. Em thoa một chút. Đưa em khăn mùi soa của anh nào.

Anh mở và giữ cửa cho cô, bàn tay rảnh làm như muốn vỗ mạnh vào lưng cô song không dám chạm vào. Cô bấm chuông gọi thang máy, sau khi rên rỉ và kêu vo vo một lúc, cánh cửa mở.

- Chào cô Stannard. - người gác thang máy nói.

- Xin chào. - cô nói. Họ bước vào và buồng thang máy bắt đầu hạ xuống, nhưng được một tầng thì dừng lại, một ông và một bà bước vào. Người đàn ông cao đúng bằng người đàn bà, vì thế trông có vẻ thấp hơn.

- Chào ông Farley, chào bà Farley. - người gác thang máy nói.

- Xin chào. - ông bà Farley nói.

Không ai nói chuyện với ai. Họ nhìn vào vai người gác thang máy. Xuống đến tầng trệt, Isabel mỉm cười để bà Farley ra trước, cô theo sau, rồi ông Farley gật đầu ra hiệu bằng mắt cho Jimmy ra trước, và rõ ràng là ngạc nhiên khi Jimmy ra trước thật. Ông bà Farley đi ra cửa trước họ; người gác đứng đó, mở cửa ôtô cho họ. Chiếc ôtô Packard bốn chỗ bỏ mui, loại thể hiện quyền thế, chẳng hề giống loại xuồng cao tốc kêu ùng ục trong nước chút nào.

- Ai mà tưởng được rằng chúng mình phải cuốc bộ trong khi cái lũ rác rưởi kia cưỡi ôtô như thế. Không sao, mọi sự rồi sẽ thay đổi, tất cả sẽ thay đổi. Anh đoán em biết là ai to mồm nhất ở quảng trường Union hôm kia.

- Em nghĩ là em biết. - Isabel nói.

- Anh không thích giọng điệu của em. Không hiểu sao anh không hẳn thích giọng của em. - anh ta bắt đầu huýt sáo còn cô hát: “Hãy đưa em trở lại Manhattan, thành phố cũ thân yêu, bẩn thỉu.”

Ở đại lộ Madison, họ suýt bị chiếc taxi Paramount to tướng tông phải. Bị Jimmy chửi, người tài xế nói: “Xéo mẹ mày đi, tao nhổ vào mắt mày.” Cả Isabel và Jimmy nghe rõ ràng người khách duy nhất, một cô gái mặc áo lông thú, bảo người lái xe:

- Cho qua, nhổ vào mắt bọn chúng.

Chiếc ôtô bật đèn và lao nhanh về hướng nam Madison.

- Một cô gái đẹp. - Isabel nói. - Anh quen cô ta không?

- Làm sao anh quen? Rõ ràng cô ta là người vùng lân cận. Chúng ta không nói năng kiểu ấy ở thành phố cũng như ở làng quê.

- Lẽ tất nhiên là không, trừ việc em thấy chiếc xe đó đang vội vã tiến vào khu thương mại.

- Đúng thế. Rồi cái đôi vợ chồng cáu kỉnh trong thang máy nữa chứ. Một quý ngài đeo kính và vợ ông ta. Anh cuộc lúc này họ đang cãi vã nhau trong chiếc xe đẹp đẽ, to bự ấy. Thà anh quen cô gái hét từ taxi “Nhổ vào mắt bọn chúng”, còn hơn hai con người lịch sự không chịu lùi trước người khác lấy một giây.

- Đấy chính là chỗ khác nhau giữa anh và em. Em thà sống trong khu vực này của thành phố, nơi con người ít ra cũng…

- Anh không nói đến việc sống với họ, hay họ là hàng xóm. Anh chỉ nói thà anh quen loại con gái kia còn hơn những người này. Anh chỉ nói thế thôi.

- Em vẫn giữ nguyên ý kiến. Đúng hơn là em biết người đàn ông ấy và vợ ông ta. Đơn giản là tình cờ em biết họ là ai. Ông ta là một kiến trúc sư.

- Còn anh chẳng cần biết họ là ai, mặc kệ cả cô gái kia là ai.

- Một cô gái mặc áo lông chồn vizon trong một ngày như thế này. Cô ta là loại rẻ tiền.

- Phải, chiếc áo lông chồn cho thấy chắc hẳn cô ta đã có thời phong lưu.

Jimmy im lặng vài giây rồi tiếp:

- Em biết anh nghĩ gì không? Không, em không biết đâu. Nhưng anh sẵn sàng nói nếu em hứa sẽ không buồn chán?… Anh chỉ nghĩ giữa chúng ta có một sức hút mạnh về xác thịt, nếu không thì sao chúng ta cứ tiếp tục gặp gỡ nhau khi cãi vã nhiều đến thế?

- Anh nghĩ lại mà xem, thực ra chúng ta chỉ cãi nhau vì một lý do duy nhất, là cách anh nói chuyện với em thôi.

Jimmy nín lặng, và họ lặng lẽ đi tiếp qua vài khối nhà.

•••

Mỗi sáng Chủ nhật, Paul Farley không bao giờ thích ở một mình với vợ, và Nancy Farley cũng không thích một mình với Paul. Gia đình Farley là dân Công giáo thứ thiệt, mặc dù khi họ cưới nhau vào mùa hè thứ tư sau chiến tranh, nếu chỉ đọc về họ trên báo mà không để ý đến tên, bạn sẽ không thể nghĩ rằng lễ thành hôn được tổ chức tại Nhà thờ St. Vincent Ferrer. Bài báo viết về Paul như sau: “Anh học trường Lawrenceville và Princeton, phục vụ ở nước ngoài với hàm thiếu úy trong đại đội pháo binh thuộc Sư đoàn 27. Anh là hội viên Hội Cựu chiến binh Trung đoàn A, thành viên Câu lạc bộ Princeton và Câu lạc bộ Vợt và Tennis.” Về Nancy: “Cô McBride là thành viên của Junior League, từng học ở trường Brearley và Westover, đã ra mắt công chúng vào mùa hè năm ngoái tại vũ hội của Câu lạc bộ Colony, sau đó tại vũ hội Cotillon của Những người độc thân trên xa lộ Baltimore.”

Sau khi cưới, họ có ba đứa con liên tiếp, nhưng khi đứa thứ ba là con gái qua đời, Nancy, vốn rất mong có con gái, bèn đi đến một quyết định. Đó là một sự dàn xếp trọng đại trong đời. Thời còn con gái, Nancy thường làm mọi thứ theo lời bảo ban của một chuỗi người: mẹ - bằng cấp thấp hơn cha cô, cô bảo mẫu, gia sư, các giáo viên của cô và Nhà thờ. Trong gia tộc McBride, từ thiêng liêng tuy xa xôi nhưng dễ nhận thấy, vì ông bác đằng nội của Nancy là bạn thân của cố Giáo chủ Gibbons, và những người trong họ McBride vơ lấy điều đó để xác định vị trí cho mình. Gia đình đó mộ đạo, kể cả đám đầy tớ, và trong những lần xuất hiện đầu tiên của Nancy, ngôi nhà lớn ở đường East 70 vẫn là một phần những hình ảnh sùng đạo, một cái tủ không thể thiếu ngăn đựng những chuỗi tràng hạt đứt, những cây thánh giá có hình Chúa Cứu thế sứt sẹo, Kinh cầu nguyện, Sách lễ Misa của Cha Lasance và nhiều cuốn kinh khác dành cho những dịp đặc biệt. Một trong những chiến bại của Nancy chống lại ách áp chế của người lớn (bao giờ họ cũng thắng) là, đòi bỏ bình đựng nước thánh nhỏ bằng sứ trắng treo trên cửa phòng ngủ của cô. Cuối cùng cô đầu hàng vì một người bạn ở Westover đến thăm cô đã tò mò và rất hài lòng trước món đồ thiêng liêng này.

Nancy là út trong bốn người con. Anh cả Thomton hơn Nancy mười tuổi. Anh đã tốt nghiệp trường Yale danh giá và trường Luật Fordham. Anh cùng làm việc với cha trong một công ty luật và chẳng quan tâm gì ngoài luật pháp và chơi gôn.

Tiếp theo là Mollie, chị gái duy nhất của Nancy. Mollie hơn Nancy tám tuổi. Lúc Nancy kết hôn, Mollie đang ở Philippines, sống cuộc đời làm vợ một sĩ quan quân đội.

Trẻ hơn Mollie hai tuổi là Jay-Joseph, nhưng luôn bị gọi là Jay. Cậu chưa học xong trung học, và từ khi bị lao phổi, cậu hầu như sống suốt đời ở New Mexico. Cậu có một tác phẩm lịch sử hoành tráng về Nhà thờ và dân Anh-điêng ở miền Tây nam.

Giữa Jay và Nancy còn một người nữa nhưng là ca chửa ngoài dạ con làm mẹ Nancy suýt chết. Họ giấu Nancy chuyện này suốt thời con gái và sau khi cưới, rồi cả khi Nancy đã có hai con. Nancy không hề biết vụ chửa ngoài dạ con bất hạnh của mẹ, chỉ vì bà McBride không biết nên giải thích ra sao. Nó được giữ kín đến khi con gái của Nancy chết ngay lúc sơ sinh, lúc đó bà McBride mới kể với cô. Nancy tức điên lên vì được biết muộn đến thế trong đời. Nó có thể không tác động đến thái độ của Nancy với các con, nhưng làm cô cảm thấy bị xúc phạm vì sự xa cách, thiếu cởi mở của mẹ. Lẽ ra mọi người nên kể lại những chuyện như thế chứ. Mẹ nên kể cho mình những chuyện như thế,… rồi khi nhắc đến mẹ và những vấn đề liên quan đến tình dục, Nancy nhớ lại những gì được cho là nên làm và những gì đã thực xảy ra là hai chuyện khác nhau hoàn toàn. Bà McBride chấp nhận giáo lý của Nhà thờ, coi việc giáo dục giới tính cho các con sẽ gây nên nhiều phiền toái và không được phép. Vì vậy, khi Nancy mười bốn tuổi, bà chỉ bảo: “Việc này xảy ra với các cô gái”, tất cả vẻn vẹn có thế, cho đến khi Paul và Nancy kết hôn. Lúc đó bà McBride mới cung cấp cho con gái mẩu thông tin thứ hai:

- Đừng bao giờ cho Paul chạm vào người khi con hành kinh.

Những điều khác Nancy học được từ việc trao đổi với những người quen ở trường, từ việc lén đọc các cuốn sách mỏng phổ biến kiến thức trong Thế chiến, tường thuật tỉ mỉ những hành động hung bạo của bọn lính Đức với các cô gái Bỉ, các nữ tu sĩ, các bà già. Những cuốn sách mỏng này không khuyến khích Nancy đóng góp vào Liberty Bonds[1], nhưng giúp cô hiểu nhiều điều về giải phẫu cơ thể cô và cơ thể bọn thanh niên mà cô vẫn bơi cùng hết mùa hè này đến mùa hè khác ở bờ biển Nam Long Island.

Với Nancy, sex là việc bình thường, sôi nổi và lành mạnh, chỉ hơi khó chịu khi con gái cô chết. Paul là người ý tứ, dịu dàng và hài hước. Mang thai, sự yên ổn vô song khi cho con bú, những điều chỉnh sau thời kỳ cho bú - tất cả thực hiện ít sợ hãi và đau đớn nhất, đôi khi còn thú vị - nhất là lúc cho con bú - một niềm vui siêu phàm, vì những lúc đó Nancy cảm thấy gần như sùng tín. Cô muốn có nhiều con, và vui mừng vì sự việc diễn ra như thế: được Nhà thờ chấp thuận và niềm vui tột độ khi làm mẹ. Rồi đứa con gái nhỏ chết, lần đầu tiên Nancy phát hiện ra rằng không thể đổ lỗi cho thân xác vì những điều đày đọa đôi khi đến với mình. Ngày đứa trẻ chết, Nancy đã cắt đứt với nhà thờ La Mã. Đó là sự tan vỡ âm thầm, nhưng không cuộc tan vỡ nào với nhà thờ La Mã là ngẫu nhiên.

•••

Người đàn ông xách chiếc vali Gladstone màu đen từ chối những người khuân vác giúp đỡ. Ai muốn làm một việc tầm thường là xách hộ ông? Một việc nhỏ mọn như thế này. Họ nghĩ gì nhỉ? Chắc họ tưởng ông không đủ khỏe để xách nó sao? Trông ông không xách nổi chiếc vali nhỏ, một chiếc Gladstone như thế này ư? Họ không nghĩ là ông đã già đấy chứ? Hừm. Trời ơi, nếu thế thì họ buộc phải nghĩ lại đấy. Công cụ cách của thần Jupiter. Phần lớn các anh chàng khuân vác trẻ trung và trông khá cường tráng, nhưng ông ta hít một hơi sâu lúc nhanh nhẹn đi ngược lên con đường dốc thoai thoải rồi vào một nhà ga lớn. Ông đánh cược rằng mình khỏe như phần lớn bọn họ. Ông có thể bẻ họ gẫy làm đôi, vậy mà họ tưởng ông đã già và định xách hộ chiếc vali Gladstone! Ông hình dung cả đoàn mồ hôi ròng ròng trên lớp da bóng loáng như satanh. Bóng loáng như satanh. Hay thật. Eo ôi. Ông thấy buồn nôn, không muốn nghĩ đến những thân người; ông vỗ vào bụng và nắm chặt cái huy hiệu Phi Beta Kappa[2], rồi bắt đầu cuốn dây đeo đồng hồ quanh ngón tay, nhưng không hiểu sao ông lại nghĩ đến chuyện nhục dục, dù muốn nghĩ tránh đi. Ông muốn nghĩ đến công cụ cách, đến lối nói bị động vòng vo, đến dạng trung gian, đến tang và côtang, đến cuộc họp Ban Giám hiệu vào thứ Ba tuần sau… Ông ước giá đừng nghĩ đến cuộc họp vào thứ Ba tuần sau ấy hoặc bất cứ thứ Ba nào. Ông ước luôn nghĩ đến cuộc họp Ban Giám hiệu vào thứ Ba tuần sau.

Ông lên một chiếc taxi và nói địa chỉ. Tài xế bật đồng hồ chậm đến mức ông phải nhắc lại địa chỉ. Người tài xế gật đầu và để lộ nửa khuôn mặt. Người đàn ông nhìn bộ mặt và ảnh của tài xế. Chẳng giống nhau mấy, nhưng họ bao giờ chẳng thế. Ông cho rằng một hãng taxi đáng tin cậy mới được hoạt động ở nhà ga. Ồ, điều đó chẳng có gì quan trọng.

“Giá ta hay nghĩ đến những cuộc họp Ban Giám hiệu mà không phải ở đây lúc này, trong chiếc taxi dơ dáy của New York, tự lừa mình là đến thành phố này vì một lý do bịa đặt. Chúa nguyền rủa cô gái ấy! Ta là người đàn ông tốt. Ta là người đàn ông tồi, một người đàn ông tội lỗi, nhưng cô ta còn xấu xa hơn. Cô ta thực sự tồi tệ. Cô ta xấu xa, cô ta độc ác. Cô ta là quỷ dữ. Cô ta không chỉ ác hiểm, mà còn là quỷ dữ. Dù bây giờ mình có làm bất cứ việc gì cũng đều là lỗi của cô ta hết, vì cô gái ấy là xấu xa. Trước kia mình có tệ đến đâu cũng chưa là gì. Mình không phải kẻ đồi bại. Trước khi quen biết cô ta, mình không muốn đến New York. Cô ta làm mình phải đến New York. Cô ta buộc mình bịa ra những lý do đến New York, buộc mình nói dối vợ, lừa gạt vợ, một người đàn bà tốt và tội nghiệp. Cô gái ấy thật tai hại, lửa địa ngục không đủ cho cô ả. Ôi chao, không khí mát mẻ hơn nhiều! Không khí mát mẻ này thật tuyệt, dù ở trong taxi. Không khí taxi tươi mát! Chúa ơi! Amos ‘n’ Andy[3]. Mình ở đây, đang nghĩ đến Amos ‘n’ Andy, đến ý nghĩa của chúng. Gia đình. Bảy giờ. Mùi nấu nướng, bữa ăn đã sẵn sàng thì Amos ‘n’ Andy bắt đầu. Mình mà là người thích nghe Amos ‘n’ Andy ư?”

Cửa mở, ông xuống xe và trả tiền tài xế.

❀ ❀ ❀

[1] Liberty Bonds: trái phiếu tự do của kho bạc Mỹ phát hành trong Thế chiến I, nhằm trợ cấp tài chính cho các nước đồng minh châu Âu như Pháp, Anh, Ý.

[2] Phi Beta Kappa: một hội kín do các sinh viên chưa tốt nghiệp trường đại học William và Mary thành lập từ năm 1776. Ngày nay, danh nghĩa hội viên danh dự dựa trên vị trí học vấn cao. Biểu tượng của hội là chiếc chìa khóa vàng in chữ cái Hy Lạp #ÂÊ.

[3] Amos ‘n’ Andy: loạt truyện truyền thanh phát trên đài NBC (Công ty Phát thanh Quốc gia - Mỹ) từ 1928 và kéo dài hơn 20 năm liền, rồi phát trên tivi từ 1951 - 1953. Trong chương trình này, các diễn viên da trắng đóng vai các nhân vật da đen Phi-Mỹ với sự châm biếm thái quá.

Người dịch: Đinh Thị Thanh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.