Áo Khoác Lông Chồn

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Eddie Brunner là một trong những người California không ưa nhìn. Anh cao và dáng vẻ trông vụng về, trừ khi mặc trang phục của một vận động viên đua thuyền, hoặc áo đuôi tôm giá 150 đôla. Anh không thành công lắm với chiều cao hơn mét tám của mình. Khi đứng nói chuyện, anh hay làm điệu bộ, và thường là một điệu bộ giống hệt nhau; anh giơ hai bàn tay như đang giữ một quả bóng chày, sắp làm một cú chơi xấu tưởng tượng. Anh không thể chuyện trò sôi nổi nếu không đứng, nhưng anh cũng không hay nói chuyện hăng hái. Giống như mọi người California khác, anh hay dùng kiểu mệnh đề phụ khi trình bày: “Hôm nay trời sắp mưa, đó là điều tôi nghĩ… Herbert Hoover sẽ là Tổng thống của chúng ta, đó là phỏng đoán của tôi… Tôi chỉ có hai đôla, đó là tất cả.”

Trong hai năm ở New York, anh đã có bốn hoặc năm tháng dễ chịu. Ở Stanford, anh là người được mến mộ, khác với người nổi tiếng. Trong trường, các nam thanh nữ tú coi nhiệm vụ của mình là phải thành người nổi tiếng. Người được mến mộ làm việc mà không cần để ý có bị ghét hay không. Eddie Brunner vẽ nhiều biếm họa. Ra ngoài, anh được hâm mộ nhiều hơn ở Stanford vì các tạp chí đại học in lại tranh của anh. Anh tiếp thu tác phẩm của vài họa sĩ châm biếm đầu tiên của các trường, nhất là Taylor của Dartmouth, và tạo thành một kiểu khôi hài riêng. Anh vẽ những người bé tí, mắt như quả bóng chày dội ngược, đầu và thân trông như bị ấn ngồi xổm. Anh có chữ ký hóc hiểm: một chữ “B” viết hoa và bức vẽ người đang chạy đua. Một chữ ký nhỏ xíu, vì những người Eddie vẽ rất bé. Anh không vẽ nữ giới trong trường, nếu có thể tránh được; những người đàn bà anh vẽ đều có đôi chân mập mạp và thân hình lùn bè bè. Thỉnh thoảng anh vẽ một cái đầu đàn bà để minh họa cho những câu nói đùa Chàng-Nàng, phần lớn do anh tự viết.

Trong ba năm Eddie cộng tác, nhờ những bức biếm họa của anh mà tờ Stanford Chaparral có lượng người mua cao trong số các nguyệt san hài của trường. Năm thứ nhất anh chẳng làm gì, chỉ ở lỳ trong trường, thực ra vì anh lười, anh mê mẩn những đĩa hát nào đó và một cô gái.

Khi ra trường, anh được nhiều bạn học giỏi giang cùng lớp 29 ngấm ngầm ghen tị. Ngay những người giàu có cũng đố kỵ với anh. Trong con người anh có một cái gì đó; trở lại miền Đông người ta cũng biết về Eddie. Các bức vẽ của anh chẳng được in hết lần này đến lần khác trên Judge và College Humor đó sao? Cha của Eddie - một người nghiện rượu may mắn phát tài nhờ mở các lớp chơi gôn thu nhỏ đến loạt thứ tư, đã thấy chán các lớp này đúng lúc và biến chúng thành các quán ăn tự phục vụ trên xe ở bất cứ nơi nào luật khu vực cho phép - năm ngoái đã làm một thương vụ huy hoàng trong trường của Eddie. Brunner - cha chưa bao giờ vui đến thế khi được hộ tống một đoàn các “nhà thể thao” và nhà báo đến cuộc đấu lượt về quan trọng ở miền Đông. Jack Dempsey[1] là bạn thân của ông. Ông ta nguyên là sinh viên đại học Kansas, nhưng sau những trận thi đấu đã tổ chức các bữa tiệc bóng đá linh đình ở Stanford, tiếp đến là ở St. Francis. Những bữa tiệc không làm Eddie bối rối, vì anh không tham gia các hội nam sinh viên của cha, mỗi khi quý ông hào hoa này xuống Stanford ghé thăm các bạn học năm xưa và bận bịu túi bụi đến mức Eddie phải theo những kế hoạch của ông. Với cha mình, Eddie hờ hững khoan dung, khi thì đền bù cho sự thiếu vắng các tình cảm khác, hoặc khá hơn là thay cho sự coi thường mà đôi khi anh có cơ nguy cảm thấy.

Eddie nhận sự hào phóng của cha bằng những lời cảm ơn lễ phép. Anh biết rằng ở năm học cuối cùng, mỗi tuần Brunner-cha trợ cấp cho con trai ít nhất 50 đôla tiền tiêu vặt. Eddie dùng khoản tiền này sưu tầm các đĩa hát cũ và cho gái. Hầu như thành thông lệ, cứ sáu tháng, Eddie lại yêu một cô mới, đắm đuối cho đến khi khủng hoảng vì quá yêu, như kỳ thi giữa năm chẳng hạn. Nó làm anh sao nhãng bọn con gái, và khi trở lại nếp sống hàng ngày, anh chợt nhận ra đã vô tư lỡ hẹn và phải có một cô mới. Với chiếc Packard cũ song vẫn dùng tốt và cái vẻ không có khả năng uống quá nhiều rượu, thái độ tử tế theo bản năng của anh và những gì mà các cô gái gọi là tính hóm hỉnh, anh tha hồ chọn các cô gái Stanford cho cuộc tháo chạy tiếp theo.

Eddie tưởng khoản trợ cấp vẫn tiếp tục và anh sẽ đến New York, ở lại cho đến khi tìm được việc làm. Vì thế với những đĩa hát, giấy Bristol và các thiết bị khác được xếp chặt trong hòm đồ thủy thủ, cùng hành lý xách tay là quần áo đủ dùng, Eddie và hai ông bạn nối khố lái xe đến New York.

Cha anh đã thu xếp với viên thư ký về khoản trợ cấp, và nó sẽ đến như thường lệ. Anh chiếm một căn hộ trong tòa nhà đẹp đẽ ở Greenwich Village cùng hai người bạn thân; mỗi người dùng một phòng ngủ có sẵn đồ đạc và dùng chung một phòng khách. Họ mua một quầy rượu và rất nhiều rượu gin, lắp đặt một tủ đá lớn hơn và bắt đầu làm việc trong thành phố. Một trong những người bạn cùng phòng với Eddie chơi trombone khá hay, người kia chơi piano, còn Eddie chơi tenor banjo và guitar Hawaii cũng khá. Eddie còn tậu cây kèn đồng mellophone, hy vọng lặp lại thành tích của Dudley trong đĩa Travelin’ Blues mà anh coi là một bài xuynh hay và đã ghi vào đĩa. Anh chưa bao giờ chơi mellophone, nhưng thỉnh thoảng vào những đêm thứ Bảy và Chủ nhật, ba người bạn chơi nhạc jazz ứng tấu; cả ba chơi và uống gin ướp gừng, vừa chơi vừa tán dương lẫn nhau, và trong lúc nghỉ họ đấm hoặc nhăn nhó khi người này hoặc người kia chơi quá sướt mướt. Một đêm kia, chuông cửa reo và một thanh niên trông như thường xuyên say xỉn hỏi liệu anh ta có thể vào nghe được không. Anh ta mang theo một cô gái Do Thái tuyệt đẹp. Eddie hơi lưỡng lự, nhưng người thanh niên ấy nói chỉ muốn vào và nghe nhạc thôi.

- Hay quá! - mấy người bạn ở cùng la to. - Mời các vị ngồi và uống một cốc. Hai cốc cũng được. Các vị thích nghe bài gì nào?

- Ding Dong Daddy. - người lạ nói. - Tên tôi là Malloy. Đây là cô Green. Cô Green ở tầng trên. Là bạn gái của tôi.

- Thế là được rồi. - họ nói. - Ngồi xuống đi ông bạn, chúng tôi sẽ diễn tấu một bài tặng các vị.

Họ chơi, và khi xong, Malloy và cô Green nhìn nhau gật đầu.

- Tôi có trống. - Malloy nói.

- Ở đâu? Trên gác à? - Eddie nói.

- Ồ, không. Cô Green và tôi không thường sống chung, Sylvia nhỉ?

- Không nhiều. Gần như chung sống nhưng không nhiều. - Sylvia nói.

- Thế bộ gõ để ở đâu? - Eddie nói.

- Ở nhà tôi tại Pennsylvania. - Malloy nói. - Nhưng tuần sau tôi sẽ mang đến đây. Bây giờ các bạn không phiền nếu Sylvia chơi nhạc chứ?

Anh chàng thổi trombone đưa cô cây kèn. Eddie giơ cây đàn banjo.

- Không. - Malloy nói. - Piano.

- Chà, piano. Thế có nghĩa là tôi phải đi pha rượu thôi. - anh chàng chơi piano nói.

- Vâng, tôi cũng đoán thế sau khi anh nghe Sylvia chơi đàn. - Malloy nói.

- Cừ lắm hả? - người thổi trombone nói.

- Chơi đi, Sylvia. - Malloy nói.

- Trước hết tôi phải uống cốc nữa đã.

- Đưa cô ấy cốc nữa. - Eddie nói. - Đây, cô uống của tôi.

Sylvia uống ừng ực và tháo nhẫn ra đưa cho Malloy.

- Đừng quên chúng từ đâu ra đấy nhé. - cô nói. - Một điếu thuốc.

Malloy châm thuốc cho cô và cô kéo hai hơi dài.

- Cô ấy cừ gớm. - một người bạn của Eddie nói với người kia.

Lúc đó hai bàn tay nhỏ nhắn của cô đập ba hợp âm trầm, một, hai, ba.

- Chúa ơi! - mấy anh chàng California kêu lên, đứng phắt dậy và đến đứng sau cô.

Sylvia chơi đàn suốt một giờ liền. Trong lúc cô chơi, các chàng kia ghi danh sách những bài cô chơi. Cuối giờ, cô muốn ngừng nhưng họ cố nài.

- Được thôi. - cô nói. - Tôi sẽ chơi nhại các nhân vật nổi tiếng. Đầu tiên là Vincent Lopez chơi bản Nola.

- Thôi thôi, cô có thể nghỉ. - Eddie nói.

- Không quá sớm đâu. - cô nói. - Phòng vệ sinh nữ đâu, nhanh lên?

- Cô ấy làm nghề gì? Cô ấy là ai? Cô ấy làm gì để sống? - mấy anh chàng California muốn biết.

- Cô ấy là nhân viên khảo giá thị trường ở Macy. - Malloy nói.

- Thế là gì?

- Một nhân viên khảo giá thị trường. - Malloy nói. - Cô ấy đi khắp các cửa hàng tìm xem họ có bán rẻ hơn Macy không, thế thôi.

- Nhưng lẽ ra cô ấy nên… Thế làm sao anh quen được cô ấy? - anh chàng chơi piano hỏi.

- Này, tôi không thích cái giọng của anh, rõ chưa? Cô ấy là người yêu của tôi, và tôi là một tay khó chơi đấy.

- Ồ, tôi không nghĩ anh là một tay khó chơi. Anh to lớn, nhưng không thô bạo, tôi đoán thế.

- Đúng, không thô bạo, nhưng đủ thô bạo với anh đấy. - Malloy nói và nhảy tới chỗ anh chàng chơi piano. Anh chàng thổi trombone vồ lấy cánh tay Malloy. Anh chàng chơi piano đánh vào cánh tay đang giơ lên.

- Mặc họ đánh nhau. - Eddie nói nhưng vẫn ôm lấy Malloy. - Nghe này anh bạn, anh có một mình còn chúng tôi ba người, chúng tôi có thể đánh quỵ anh và ném anh xuống cầu thang nếu cần. Nhưng chúng tôi không làm thế. Anh bạn tôi đây là một võ sĩ quyền Anh nhà nghề đấy.

- Bảo họ bắt tay nhau đi. - người thổi trombone nói.

- Để làm gì? - Eddie hỏi. - Sao họ phải bắt tay nhau?

- Buông anh ta ra. - người chơi piano nói.

- Thôi được, thả anh ta ra. - Eddie nói với người thổi trombone. Họ buông anh ta ra, Malloy theo sau người chơi piano rồi bỗng đột ngột dừng lại và ngã ngồi xuống sàn.

- Anh đừng làm thế. - người thổi trombone nói.

- Sao lại không? - người chơi piano nói.

- Sao lại không? Anh ta muốn thế mà. - Eddie nói.

- Hừ, anh ta ăn vạ đấy. - người thổi trombone nói.

- Anh ta sẽ ổn thôi. Tôi e là thế. - người chơi piano nói. Anh ta tiến đến, cúi xuống nói với Malloy. - Anh thấy thế nào, bị đo ván hả?

- Không sao. Anh là người đánh tôi? - Malloy nói, sờ nhẹ xương quai hàm.

- Phải. Này, nắm lấy tay tôi. Đứng dậy, trước khi người yêu của anh quay lại.

- Ai kia? A, Sylvia. Cô ấy đâu?

- Cô ấy còn trong nhà xí.

Malloy chậm rãi đứng dậy nhưng không được giúp đỡ. Anh ta lún người vào cái ghế sâu và nhận cốc nước.

- Tôi tưởng thắng được anh, anh chàng không say ạ.

- Không. Không. Bỏ ý nghĩ ấy đi. - người chơi piano nói.

- Đừng hạ cố thế. - Malloy nói.

- Cậu ấy có thể hạ cố thế lắm chứ. - Eddie nói. - Anh bạn tôi là một trong những đấu thủ hạng nhẹ nghiệp dư xuất sắc nhất The Coast[2]. Anh có biết The Coast ở đâu không?

- Sao cậu không thôi áp đảo anh ta? Để anh ta yên. - người thổi trombone nói.

Sylvia xuất hiện.

- Các anh có nghĩ tôi bị kẹt không? Tôi không tìm thấy đèn buồng tắm. Sao thế Jimmy, có chuyện gì thế?

- Anh vừa bị một quả đấm.

- Ai? Ai đánh anh? Anh à? Cái đồ khốn mắt lồi?

- Không, không phải tôi. - người thổi trombone nói.

- Thế thì ai? Anh! Tôi có thể nói anh cay cú vì tôi thể hiện cho anh thấy phải chơi piano ra sao, anh phải đòi sự ưu việt của anh bằng cách nào đấy nên mới đấm đá một người say. Đi thôi Jimmy, chúng mình ra khỏi đây. Ngay từ đầu em đã bảo là không muốn đến đây mà.

- Gượm đã em. Đừng nghĩ sai trái thế. Đây là lỗi của anh.

- Anh thôi cái trò làm một quý ông khỉ nợ ấy đi. Nó không hợp với anh đâu. Đi thôi, hay em đi một mình và không cho anh vào nhà.

- Anh sẽ đi, nhưng anh sai và anh muốn nói thế. Xin lỗi anh, tên anh là…

- Brunner.

- Còn anh, còn anh và cảm ơn anh vì… đằng nào, tôi cũng xin lỗi.

- Không sao.

- Nhưng tôi vẫn nghĩ có thể thắng được anh.

- Giờ hãy đợi một phút, nghe này. - người chơi piano nói. - Nếu anh muốn dàn xếp chuyện này ngay bây giờ tôi sẽ ra ngoài, hoặc ngay ở đây…

- Im đi. - Eddie nói. - Cậu cũng tệ như anh ta. Xin chào. Chúc ngủ ngon.

Khi cửa đã khép lại, Eddie quay sang người chơi piano:

- Cuối cùng anh ta đã ổn. Anh ta đã xin lỗi, cậu không thể đổ lỗi cho anh ta là muốn táng cậu.

- Một gã bậy bạ. Nếu gặp hắn lần nữa, tôi sẽ tống cho một quả vào mặt.

- Có lẽ. Có khi không dễ thế đâu nếu hắn tỉnh táo. Hãy nhớ là hắn chân nam đá chân chiêu nên mới bị cú đấm choáng người của cậu. Tôi không muốn nghe thêm về chuyện này nữa. Mặc xác nó đấy!

- Ái chà, cậu làm tôi đau tức cả mông.

- Lời lẽ vừa ra khỏi miệng tôi là cậu phản ứng liền. Các cậu mới là những kẻ khó chơi. - Eddie nói.

- Này, nhưng cái con bé ấy chơi piano cừ ra phết. - người thổi trombone nói.

Đấy là lần đầu tiên trong hai cuộc gặp giữa Eddie Brunner và Jimmy Malloy. Cuộc sống của Eddie trôi đi như thường lệ trong một thời gian. Anh vẽ một ít tranh và chẳng bán được cái nào. Chất liệu của anh quá nhạy cảm, quá tốt cho một thư ký tòa soạn. Nhưng nó không thuộc loại cho tờ New Yorker, là thị trường khác duy nhất anh có thể nghĩ đến hồi ấy. Vì thế ba người bạn có những buổi hòa tấu ngẫu hứng của họ, và một vài tối không chơi nhạc, họ ngồi trò chuyện. Các tên tuổi họ nhắc đến là: Bix Beiderbeck, Frankie Trumbauer, Miff Mole, Steve Brown, Bob MacDonough, Henry Busse, Mike Pingatore, Ross Gorman và Benny Goodman, Louis Armstrong và Arthur Shutt, Roy Bargy và Eddie Gilligan, Harry MacDonald và Eddie Lang, cùng những tên tuổi khác như Mannie Kline và Louis Prima, Jenney và Morehouse… Những tên tuổi này với một số người có ý nghĩa vĩ đại không kém Wallenstein[3], Flonzaley và Ganz.

Đầu tháng Mười năm đó, Eddie nhận được một bức điện của mẹ “CHA CON MẤT VÌ ĐỘT QUỴ SÁNG NAY. THỨ BẢY ĐƯA TANG. HÃY VỀ”. Eddie đếm số chữ. Anh biết tính mẹ, chắc chắn bà cho là các mạo từ không đáng tốn tiền trong một bức diện. Anh rút quá số tiền gửi ở ngân hàng và đổi một cái séc lớn đủ để về nhà, lấy tiền mặt tại một quán rượu lậu trên phố anh quen. Về đến nhà, một ông bác đằng ngoại kể cho anh nghe cha anh mất ra sao, vào lúc giữa hoặc bắt đầu bữa tiệc ở khách sạn Hollywood, nhiều nhân vật nổi tiếng của Hollywood vây quanh. Họ giấu mẹ Eddie, một người đàn bà bé nhỏ, ngớ ngẩn và buồn bã từ nhiều năm nay, bà nghe tin đó không hề sửng sốt. Khi người ta chuẩn bị tang lễ, bà chỉ nhắc đi nhắc lại:

- Tôi không biết, Roy hay nói ông ấy muốn được chôn với dải băng thờ. Ông ấy muốn được dạo hành khúc, nhưng tôi không thể nghĩ ra tên bài.

Người ta bảo bà đừng lo. Sau tang lễ, bà nói bà chú ý thấy ông Farragut có mặt tại đám tang.

- Thế mới vinh dự chứ. - bà nói. - Tôi nghĩ Roy có thể vào Câu lạc bộ Burlingame nếu ông ấy thử lần nữa, chứ sao ông Farragut lại ở đây hôm nay?

Ông Brunner vẫn đổ cho ông Farragut đã bỏ phiếu chống ông gia nhập vào tổ chức duy nhất ông có thể tham gia.

Roy Brunner ngã chúi vào viên cảnh sát trưởng khi bị ngất bất thần vì xuất huyết não. Ông đã cho thuê những chiếc ôtô dùng làm quán ăn, vì định làm một việc gì mới với số tiền ông còn giữ lại. Ở địa phương, ông được tiếng là người khôn ngoan, bắt mạch được quần chúng qua việc kinh doanh những sân gôn thu nhỏ đi trước thời đại. Ý tưởng mới mẻ của ông là ở bất cứ góc phố nào cũng có thể xem phim năm xu; chiếu phim thời sự và phim ngắn với giá vé chỉ có năm xu. Mỗi lần chiếu nửa giờ. Không phải tốn nhiều tiền, vì chỉ chiếu phim thời sự và phim ngắn mà lại thu được khá. Một đồng năm xu ư? Người ta còn muốn gì với một đồng năm xu? Chỉ là cách giết thời gian mà thôi. Ông đến Hollywood định làm dự án này vào đúng lúc Thần Chết tàn nhẫn triệu ông. Giấy tờ chưa được ký, ông chưa kịp gặp những nhân vật quan trọng nhất, nhưng ông đã báo với họ ngày mai hoặc ngày kia ông sẽ có mặt trong thành phố, và bữa tiệc này chỉ là dịp gặp gỡ thân mật với vài huấn luyện viên bóng đá, mấy tay chơi gôn nhà nghề và vài cô gái được nhiều người biết đến y như Nữ Diễn viên Điện ảnh. Ông có mọi thứ quả quyết trên đời, và không thiếu lý trí. Là người có thể nêu gương cho các nhà sản xuất phim rằng khi nắm bắt được thị hiếu công chúng thay đổi, có thể bán cho họ bất cứ thứ gì, miễn là biết cách quảng cáo. Nhưng chưa có giấy tờ nào được ký.

- Hiện tại mẹ cháu sẽ đến ở với bác và bác gái Ella. - bác của Eddie bảo, và thế là thu xếp xong một vấn đề cho Eddie. Anh không muốn ở gần mẹ. Anh yêu bà vì bà là mẹ anh và đôi khi anh thấy thương bà, nhưng cả đời anh (ngay từ khi còn rất trẻ, anh đã nhận thức được điều này), bà chỉ mải mê với một việc của riêng mình là theo dõi những việc làm thiếu suy nghĩ của chồng. Bà thích một người chín chắn hơn mà Eddie biết, nhưng người ấy không nói chuyện với anh trên phố. Bà là thành viên của một Gia đình Tiên phong, ở California có nghĩa là Hậu duệ Mayflower[4], rất có ý nghĩa ở miền Đông. Tuy nhiên, các Hậu duệ Mayflower cũng phải có thời gian nghỉ ngơi và hồi phục vì chuyến đi hiểm nghèo và kiệt sức; nhiều người đã làm thế, dù việc giao phối giữa những người có quan hệ gần gũi không đẩy mạnh sự phục hồi. Nhưng cách đây không lâu lắm, những người Tiên phong đã có một chuyến đi còn vất vả hơn nhiều, và thật có lý khi cho rằng càng đi xa miền duyên hải Thái Bình Dương, nhiều nhóm người càng yếu kém đi khi truyền cho hậu thế di sản của những tấm thân mệt mỏi. Roy Brunner rời Kansas bằng tàu hỏa, và vợ ông đã trở thành vợ ông - ông hơi ngạc nhiên - ngay từ lần đầu tiên ông hỏi bà. Trước đó bà chưa được ai hỏi cưới bao giờ và sợ sẽ không được hỏi lần nữa. Bà sẵn lòng học hỏi trong cuộc sống vợ chồng, miễn là chồng có thể dạy bà, nhưng ông khó chịu với bà và đến nơi khác tìm nguồn vui. Đến khi Roy phải cho Eddie biết về cuộc sống tình dục, thì vợ ông nói:

- Mình nói với nó ra sao?

Bà hỏi vì vẫn hy vọng khám phá bản thân mình vào thời gian đó. Nhưng câu trả lời của Roy là:

- Ôi chào, tôi vừa nói với nó rồi. Nó đã biết khối thứ.

Eddie biết người bác nghĩ mẹ anh là một vị khách trọ có lời. Điều đó làm anh hơi áy náy, nhưng biết làm thế nào? Mẹ anh muốn ở đấy, và được chăm sóc đầy đủ. Bà Brunner cho Eddie năm trăm đôla trong số tiền của bà, và ký quyền ủy nhiệm có lợi cho bác anh. Eddie trở về New York, tin rằng vẫn tiếp tục được trợ cấp.

Nhưng không bao giờ có nữa. Tài sản của cha anh là một mớ lộn xộn, và nạn phá sản đã ngốn gọn tất cả. Bác của Eddie bị ngã nhưng không tàn tật. Ông viết thư cho Eddie khi anh chỉ còn một tháng rưỡi nữa trong hợp đồng thuê nhà một năm. Ông bảo Eddie rằng họ tương đối may mắn.

- Cháu còn trẻ. - ông viết. - Và có thể tự kiếm sống. Bác mong cháu thỉnh thoảng có thể gửi chút ít cho mẹ, vì chúng ta cho mẹ cháu một mái nhà nương thân, một chỗ để ngủ và ăn, ngoài ra không còn gì hơn…

Eddie bán chiếc ôtô được 35 đôla, đem cầm chiếc mellophone đẹp đẽ được 10 đôla. Đầu tháng Chạp, anh gom góp tất cả tiền nong mới thấy còn chưa đầy 200 đôla. Các bạn ở cùng đã kiếm việc làm, họ sẵn lòng cho Eddie ở chung và cho nợ tiền thuê nhà, nhưng đến tháng Giêng một người mất việc trong đợt đầu Phố Wall giãn người, và đến tháng Ba cả bọn bị đuổi khỏi căn hộ.

Thế là mỗi người một ngả. Một cậu có chị gái đã lấy chồng, sống đâu đó ở khu ngoại ô New Jersey. Cậu ta đến ở với chị. Người kia, cậu võ sĩ quyền Anh, đã chết vì viêm phổi trong một căn phòng trên đại lộ A. Eddie không biết tin này, mãi đến sau khi cậu bạn được hỏa táng khá lâu. Eddie lang thang từ nhà trọ này sang nhà trọ khác, ban đầu ở Village rồi sau ở phố West Bốn mươi, sống giữa những người Ailen ở đại lộ Mười. Anh lưu lại khu phố trên vì mỗi ngày tiết kiệm được một hào tiền vé ôtô. Anh cố tìm việc ở mọi nơi, ở mọi người anh quen biết. Anh giúp việc trong một nhà hàng được một tuần, dọn bàn và bưng những khay đầy bát đĩa bẩn xuống bếp. Anh đánh rơi một khay và bị đuổi, nhưng cũng trả được phần nào tiền thuê nhà và được no bụng. Anh nghĩ đến nghề lái taxi, nhưng không biết tiến hành ra sao. Anh biết là phải có bằng lái và nhiều chi tiết khác, nhưng không có tiền lấy bằng. Anh thử làm diễn viên. Người ta vẫn nói anh có thể đóng các vai hài. Chỉ đến khi được chọn anh mới phát hiện mình chẳng có chút kinh nghiệm nào: anh không biết cánh gà là gì, cũng chẳng biết tí tẹo nào về sân khấu. Một đêm kia đói quá, anh đành đồng ý với một tên đồng tính, nhưng muốn được ăn trước và tay kia không tin anh, nên anh táng cho hắn một quả cầu may và cảm thấy khỏe hơn. Anh ước giá có can đảm tước đoạt tiền của tay đó. Anh bán cái cà vạt lấy 25 xu và làm chân cò mồi cho hai nhà bán đấu giá, nhưng những người xướng giá cho rằng anh cao quá, người ta dễ nhớ mặt. Sau đó, thông qua bà chủ nhà trọ có mấy đứa con đôi khi được anh vẽ cho những bức tranh vui, anh biết một cơ hội kỳ lạ: làm người gác đêm cho một khách sạn, đúng hơn là một nhà thổ. Bà ta biết công việc này thông qua mối quen biết ở Tammany. Anh làm nhân viên trực tổng đài và giữ thang máy từ sáu giờ tối đến tám giờ sáng, được 10 đôla một tuần, phòng ở và tiền diêm thuốc. Khách hàng vào đọc mật khẩu: “Tôi là bạn ông Stone”. Eddie xem xét người khách, hỏi muốn gặp ai, và người đàn ông sẽ nói tên một trong ba phụ nữ. Lúc đó Eddie gọi lên phòng người phụ nữ có tên ấy, nói:

- Có một người bạn ông Stone muốn gặp cô.

Khi cô gái đồng ý, Eddie bảo khách:

- Cô ấy nói không nhớ ra ông. Ông có thể tả cô ấy cho tôi không?

Người đàn ông hoặc tả cô gái, hoặc nói thật là chưa đến đây lần nào, tất cả chỉ là kế hoãn binh. Nó cho Eddie cơ hội quan sát khách kỹ hơn và cô điếm có thời gian sửa soạn để giải trí cho khách, hoặc mặc quần áo sẵn sàng cho cuộc vây bắt bất ngờ nếu Eddie bấm điện báo lên phòng cô ta. Eddie được lệnh phải tống cổ những gã say xỉn, vì nơi này không nộp tiền bảo kê nên phải trả bằng giá cắt cổ. Eddie chưa tống cổ ai bao giờ.

Anh gặp Gloria trong khi làm công việc này. Một đêm kia, cô đến, say khướt, đi cùng một người đàn ông da rám nắng cũng say bí tỉ, cài trên khuyết áo huân chương Bắc đẩu Bội tinh. Lúc đầu Eddie hơi hoảng, nhưng anh đoán hãy còn quá sớm, chưa đến mùa cho một cảnh sát có nước da sạm nắng như người đàn ông này. Người đó nói:

- Bảo với Jane là có thiếu tá đến. Cô ấy sẽ hiểu.

Jane hiểu ngay và bảo Eddie cho anh ta lên. Cô gái, Gloria, đi cùng anh ta. Eddie đủ từng trải để đoán ra Gloria đến đây lần đầu, nhưng không phải lần đầu làm khán giả. Trong thang máy, viên thiếu tá vẫn mỉm cười một mình, ậm ừ và nói với Gloria:

- Ổn chứ, em yêu?

Đến tầng của Jane, viên thiếu tá cho Eddie một đôla như thể đây là phong tục thời thượng cổ. Eddie quay lại trực tổng đài. Khoảng hai chục phút sau, anh nghe thấy tiếng bước chân và Gloria đứng trước mặt anh.

- Anh cho tôi vay một đôla anh ấy vừa cho anh được không? - cô nói. - Tôi sẽ trả lại anh mà. Anh không muốn bị rắc rối đấy chứ?

- Không. Nhưng làm sao tôi biết cô có trả tôi không? Nói thực, tôi cần số tiền ấy lắm.

- Tôi đoán anh không phải loại dắt khách kiếm tiền.

- Đấy chính là điểm cô nhầm, nhưng này, cầm lấy.

- Ngày mai tôi trả anh. Ngày mai, tôi sẽ trả hai đôla. - cô nói. - Mà này, anh làm gì ở đây?

- Một cô gái xinh đẹp như cô muốn tôi làm gì ở một nơi như thế này? - Eddie nói.

- Chào anh. - Gloria nói. - Cảm ơn anh triệu lần.

Eddie có cảm giác cô gái sẽ trả tiền, và hai đêm sau, cô trả thật. Cô đưa anh năm đôla. Cô nói không phải trả lại tiền thừa, anh cứ cầm lấy.

- Đêm hôm ấy có xảy ra chuyện gì không? - Gloria hỏi.

- Anh bạn cô nôn ọe tứ tung và Jane phải chạy đi tìm bảo vệ.

- Ồ, anh không phải là bảo vệ sao?

- Trông tôi có giống một bảo vệ không?

- Không, nhưng…

- Nhưng tôi không giống người giữ thang máy trong một nhà thổ, cô muốn nói thế chứ gì.

- Anh là người miền Tây?

- Wisconsin. - Eddie đáp.

- Nơi nào của Wisconsin?

- Duluth. - Eddie nói.

- Duluth ở Minnesota.

- Tôi biết. - Eddie nói.

- Nói tránh đi là việc của anh. Thôi được. Mà tôi chỉ hỏi vậy thôi. Gặp anh sau nhé.

- Tôi có một thứ của cô đây, cô Wandrous.

- Cái gì?

- Ví của cô, cô để quên trong phòng Jane lúc vội bỏ đi. Chính vì thế cô mới phải vay tiền, cô nhớ chưa? Tôi đã mạn phép tìm chủ nhân, nhưng không tìm ra cô trong danh bạ điện thoại. Tôi không ngờ lại gặp cô.

- Ồ.

- Tôi định có dịp xem cô còn ở địa chỉ ghi trên bằng lái xe không. Tốt hơn hết là cô lấy bằng mới đi. Bằng năm 1928 không còn mấy hiệu lực nữa. Giờ là năm 1930.

- Anh có đưa cho ai xem không?

- Không.

- Sao lại không?

- Tôi chỉ nghĩ đây là việc của người khác. Không phải việc của tôi, nhưng thà tôi ngó qua còn hay hơn một trong những anh chàng thỉnh thoảng lượn quanh đây.

- Anh là người tốt và tin cậy được. Tôi bất chợt nghĩ anh làm tôi nhớ đến ai.

- Tôi biết.

- Anh biết?

- Tôi phải biết. Tôi đã nghe câu đó nhiều lần.

- Ai nhỉ?

- Lindbergh[5].

- À, đúng rồi. Tôi đoán anh đã nghe câu ấy nhiều rồi. Tối nào anh được nghỉ?

- Tuần nào cũng phải làm thêm ngày thứ Ba.

- Không có đêm nào nghỉ ư? Tôi tưởng họ phải cho anh nghỉ một đêm chứ.

- Ở đây họ phá nhiều quy định và luật lệ lắm. Cô muốn biết đêm nghỉ của tôi để làm gì?

- Chúng ta có thể đi ăn tối.

- Thế ư? Cô tưởng tôi làm ở đây mà có thể đưa các cô gái đi ăn tối sao?

- Ai nói anh đưa tôi đi nào? Tôi chỉ nói chúng ta có thể đi ăn tối. Trong những hoàn cảnh nhất định, tôi không phản đối trả tiền bữa ăn của mình.

- Ví dụ xem.

- Ví dụ, ăn với người tôi thích.

- Giờ chúng ta kiếm một chỗ nào đó nhé. - anh nói, nhưng không thể kéo dài sự suồng sã. Lần đầu tiên trong nhiều tháng nay, có người đích thân nói chuyện với anh. Cô hiểu điều đó.

- Anh không thể kiếm người làm thay sao?

- Làm thế nào được?… Mà khỉ thật, sao lại không? Trước tôi, có một người làm việc này, hiện đang làm ngoài phố. Anh ấy chỉ giữ thang máy cho một khách sạn, có khi anh ta làm thay tôi nếu họ đồng ý. Song tôi không muốn mất việc.

Người da đen ấy nói rất vui lòng làm thay Eddie một đêm, nhưng bà Smith, bà chủ của Eddie, nói các cô gái trên gác không thích người da đen làm việc đó.

Thế là bắt đầu tình bạn của Gloria và Eddie.

•••

Có thể thoải mái nói đến một trong nhiều chuyện về Gloria, và người ta đã nói nhiều rồi. Có thể nói cô là một người đa dạng - một số mặt rất đặc sắc - có khả năng giúp đỡ mọi người, nhưng lại không thể giúp chính mình. Người ta có thể viết một cuốn tiểu thuyết về Gloria mà không cần phải đi quá xa nguyên mẫu. Lẽ tất nhiên, công việc chớp nhoáng của các biên tập viên năm 1931 (hình như họ là những người cuối cùng đọc báo) tìm thấy trong Gloria một biểu tượng của tầng lớp thanh niên hiện đại. Cô không phải là biểu tượng của tuổi trẻ ngày nay như Lindbergh hoặc tay chơi gôn Bob Jones, hoặc Prince George, Rudy Vallée, Linky Mitchell, DeHart Hubbard hoặc bất cứ ai tính đến năm 1930 chưa đầy ba mươi tuổi. Có thể không tượng trưng cho tầng lớp thanh niên ngày nay, nhưng là biểu tượng của lứa trung niên hiện đại, dù sao thì “biểu tượng” cũng là một thuật ngữ sai. Bức biếm họa “cô gái mới lớn” trong những năm 1920 của John Held Jr. hoặc các chàng trai, cô gái mà Scott Fitzgerald[6] dè dặt tạo nên không phải là biểu tượng cho thanh niên thời ấy. Trên thực tế, chẳng có mối liên hệ nào giữa các nhân vật của Scott Fitzgerald và John Held Jr. Các nhân vật của Scott Fitzgerald là hai nghệ sĩ Lawrence Fellows và Williamson, được khắc họa rõ nét hơn nhân vật của John Held. Held vẽ các chàng trai, cô gái đến trường trung học East Orange và đại học Illinois. Các bức tranh của Held đều là biếm họa và được ưa chuộng, vì thế người ta hay liên tưởng nhân vật của Fitzgerald với các bức vẽ của Held. Nhân vật của Fitzgerald không mặc áo mưa màu vàng rực rỡ, quần màu trắng cùng đủ thứ lỉnh kỉnh như áo lót dễ mặc, dễ cởi, ghim cài, giày mũi vuông, di chuyển như người máy và lắc lư vờ vịt như các nhân vật của Held. Nhân vật của Held ra sức trông đúng là của Held; nhân vật của Scott Fitzgerald là bản sao của các nguyên mẫu.

Người đàn ông bình thường, ông Thường dân, ông Đóng thuế được Rollin Kirby[7] vẽ trông y như một người bình thường ở New York, thu nhập hơn 5.000 đôla một năm. Ông ta mặc quần áo như Brooks[8], đội mũ giống Herbert Johnson[9], những thứ trang phục khá lạ lùng ở Des Moines, Iowa, nơi có họa sĩ biếm họa JN. Darling. Nhưng ở New York - lãnh thổ của Kirby - người đóng thuế của Kirby trông thật điển hình. Ông ta là người ăn mặc đẹp nhưng không phải là loại đỏm dáng; như trong các tờ chương trình biểu diễn. Rất dễ hình dung ông ta đến nha sĩ, đưa vợ đi xem hát, nhớ lại cuộc họp mặt ở Amherst, say rượu mỗi năm hai lần, đã mổ viêm ruột thừa, dành dụm tiền nong gửi cho con trai là sinh viên dự bị loại khá, đi xem các buổi biểu diễn mới, và không cần liếc nhìn tên, xem là thấy ngay biếm họa của Rollin Kirby. Nhưng không ai gọi người đàn ông này là biểu tượng của tầng lớp trung niên hoặc người Đóng thuế Mỹ. Nếu đi trên các phố Syracuse, Wheeling hoặc Terre Haute, ông ta sẽ bị coi là người xa lạ. Ở các thành phố lớn hơn, ông ta là một người lạ nổi bật, và chắc chắn được nhận ra ngay là người New York. Còn cô gái của Held sẽ làm bất cứ thanh niên trưởng giả nào ngượng ngùng khi dẫn đến buổi vũ hội Princeton. Và một chàng trai trong ban giám hiệu trường đại học, lái chiếc Templar đến trụ sở Pi Beta Phi[10] dự hội nghị các trường miền Tây cũng sẽ được các nữ hội viên nhận ra ngay lập tức, dù chưa nhìn thấy bằng lái của Connecticut trên xe anh ta. Có những người đàn ông và đàn bà điển hình, già và trẻ, nhưng các biên tập viên chỉ lướt qua cũng chọn ngay ra một cô gái hoặc một chàng trai nào đó và gọi anh ta (hoặc cô ta) là biểu tượng của thanh niên hiện đại.

Có thể có một biểu tượng của tầng lớp phụ nữ trẻ trung, hiện đại, nhưng báo chí sẽ không thích in ảnh cô ta. Cô ta sẽ phải trần truồng. Thiếu nữ khoảng hai mươi tuổi ở cuối thập niên 1920 phải có kích thước nhất định. Cô gái phải cao khoảng một mét sáu nhăm, cân nặng xấp xỉ năm chục ký. Thân hình phải cân đối. Trên thực tế, chắc nhiều cô gái hợp với ngoại hình này, không kể đến giai tầng xã hội. Có một lý do tốt đẹp nữa là từ năm 1905 đến 1915, ngành y áp dụng chế độ điều trị cho phụ nữ có thai gần giống như nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ sơ sinh. Ngay cả trẻ em Sicilian và dòng dõi Ghetto cũng đột ngột cao hẳn lên, vậy hệ thống ấy chắc phải chuẩn; dường như không có lời giải thích khác cho sự đồng đều này. Điểm này rất dễ nhận thấy trong các gia đình đông đúc: những đứa bé sinh trong hoặc sau Thế Chiến hầu như cao hơn, thon hơn và khỏe hơn anh chị của chúng.

Gloria mất khoảng mười năm là “cô gái mới lớn”; vậy nếu cô ra đời sớm hơn mười năm ắt cô phải đạt tiêu chuẩn năm 1921, hai mốt tuổi, hấp dẫn về thể xác. Một trong nhiều điểm khác giữa Gloria với người có thể là cô năm 1921, là cô “rất hấp dẫn với cả hai giới”, và đến năm 1931 cô vẫn hấp dẫn cả hai giới, nhưng với một cõi trần rất khác về ý nghĩa và sự hiểu biết bên trong.

Trước đó, có một manh mối về lý do trở lại tâm trạng thất vọng làm Gloria buồn bã. Năm mười một tuổi, Gloria bị một gã đàn ông trạc tuổi cha mình lạm dụng. Hồi đó, Gloria sống cùng mẹ và bác ở Pittsburg. Cha cô, một nhà hóa học, là một trong những người đầu tiên chết vì nhiễm phóng xạ. Từ “cha” được nói bằng mọi ý định dịu dàng hoặc xúc động nhờ một bức ảnh chụp lớp đại học của ông. Đó là bức ảnh duy nhất của cha mà mẹ cô có, ngẫu nhiên tìm thấy như những ảnh cưới của họ khi chuyển từ ngôi nhà này sang ngôi nhà khác. Bức ảnh đó không giúp gì nhiều cho một đứa trẻ muốn được như những đứa khác; Gloria thấy cha là người đàn ông có một vòng trắng bao quanh đầu, đứng hàng thứ hai trong ba hàng thanh niên trên bậc một tòa nhà bằng đá. Suốt tuổi ấu thơ, hễ nhìn bức ảnh thánh nào có vầng hào quang, cô lại nghĩ đến ảnh cha mình, nhưng tự hỏi vì sao vầng hào quang không bao quanh cả phía trước và dưới cằm vị thánh, vì sao vòng tròn trắng không bao quanh đầu cha mình xuống tận vai như của vị thánh. Nghĩ đi nghĩ lại Gloria chưa bao giờ thấy cha mình là một vị thánh, và chưa bao giờ nghĩ đến các vị thánh mà nhớ tới cha.

Bác William R. Vandamm (R thay cho Robespierre) là anh trai của mẹ Gloria. Ông cũng là nhà hóa học và là bạn cùng lớp với cha cô ở Cornell. Sau khi ra trường, Vandamm và cha của Gloria sang Chile, ở lại đấy một thời gian dài đủ để cùng ghét đất nước đó và cùng phá hợp đồng. Họ cùng về nước và Wandrous cưới em gái Vandamm. Cùng cảnh ít tiền, nên cô dâu và chú rể chung nhau mua sắm cho cuộc hợp nhất, đó là một trong những cuộc hôn phối ít người biết đến và đứng đắn diễn ra vào các ngày thứ Bảy. Khi Wandrous mất, chính Vandamm đến công ty radium, dùng thế lực hội Tam điểm, những quan hệ nghề nghiệp cũng như chính trị của ông tác động đến công ty về việc cấp tiền nuôi dưỡng và ăn học cho Gloria. Họ muốn cho người góa phụ cổ phần trong công ty radium, nhưng Vandamm quá ráo riết nên bị mất gần một triệu đôla. Sau này chuyện đó mới vỡ lở, song Vandamm là người duy nhất biết, nên cố tình làm em gái nhãng đi.

Vandamm là nhà hóa học công nghiệp khá giỏi và là ông bác rất tử tế. Khi Gloria còn bé, ông sống xa cô phần lớn thời gian. Ông nhận việc làm chừng một năm, sau đó lại nhận việc khác tốt hơn, kiếm được cả tiền, kinh nghiệm và sự quen biết. Ông ở trong trụ sở các câu lạc bộ đàn ông và YMCA[11] trên khắp đất nước, dành nửa phép hàng năm vào dịp Giáng sinh để nghỉ lễ với em gái và cháu. Ông mang về nhà nhiều món quà đẹp đẽ, thường do một trong hàng loạt các phụ nữ trẻ xinh đẹp mà ông chú ý chọn hộ. Ở thành phố nào ông đến làm việc, tình hình cũng gần như thế. Ông khéo léo, được kính trọng và có công việc tử tế, lại chưa vợ. Thế là ông chọn ra một trong các phụ nữ trẻ đã gặp, đối xử lịch sự với cô ta, đưa cô đến các buổi vũ hội tinh tế, gửi tặng hoa và lúc nào cũng nói tình bạn là điều tuyệt vời. Mỗi lần bỏ việc và chuyển đến thành phố khác, ông để lại đằng sau một phụ nữ trẻ ngơ ngác, người mà trong suốt một năm ông đến nhà ăn tối vào mỗi Chủ nhật tới năm chục lần nhưng không thổ lộ gì, còn hoa và kẹo đều là những thứ dễ hỏng. Song đã có hai ngoại lệ: một cô gái yêu ông và không ngại bày tỏ nỗi lòng. Trong trường hợp này, ông bỏ kiểu ứng xử thuần khiết vì nàng nhìn ông bằng con mắt hết sức tình tứ mỗi lần thấy ông tại các bữa tiệc hoặc ở một mình. Thấy cơ nguy không thể kết thúc đến nơi, ông bảo nàng rằng nàng làm ông xúc động như chưa một cô gái nào làm được thế, và đó là lý do ông bỏ việc ở nhà máy. Nếu ở lại, ông sẽ bị giục giã hỏi nàng một điều mà ông không có quyền hỏi. Vì sao lại không có quyền? Nàng muốn biết. Vì ông còn em gái và cháu gái. Họ chỉ sống bằng tiền ông chu cấp, và không có khoản nào hơn. Vì lý do ấy mà ông ghét phải bỏ công việc này; ông không có quyền làm thế và trước kia ông chưa từng làm thế.

- Tôi sẽ không bao giờ lấy vợ. - ông tuyên bố, dường như đấy là một sự kiện chính trị đáng kể của quốc gia. Câu đó làm cô nàng chững lại. Nó cũng làm ông chững lại; thay vì làm ông bớt hấp dẫn, nó lại làm ông dường như cao quý, như một người từ tâm kín đáo cho đi hàng triệu. Nó làm cô nàng cảm động như chưa bao giờ được cảm động. Trước kia, so với những người phụ nữ có đủ tư cách thích hợp, nàng và những người phụ nữ khác như nàng làm các anh chàng độc thân hơi e ngại. Nhưng William không so sánh. Ông quyết định chọn nàng, dẫu không thể vì sự độc lập của ông. Ông phải có nàng. Té ra chỉ là vấn đề thời gian trước khi ông có nàng.

- Hãy ôm em đi. - một đêm trăng kia, nàng nói và vòng cánh tay ra sau lưng. Lúc đó, ông chưa sẵn sàng chiếm hữu nàng, nhưng chỉ trong chốc lát thôi. Phần còn lại suốt năm ấy, tối thứ Bảy nào ông cũng có nàng, sau khi tạt vào hiệu thuốc ở đầu kia thành phố. Trời đẹp, họ tản bộ ở sân sau rồi bất ngờ lao vào thùng xe. Khi thời tiết xấu, họ phải chờ cha mẹ nàng đi nằm, rồi mới chui xuống dưới tầng hầm. Họ chặn cái xô lau nhà ngay sau cánh cửa tầng hầm để nếu có ai xuống, cái xô sẽ lăn xuống các bậc thang báo hiệu. Tầng hầm còn hơn trên thùng xe, vì trên sàn hầm, váy lót dài của nàng không bị lấm như trên thùng xe.

Ngoại lệ thứ hai là một cô gái ở thành phố bên cạnh. Ông yêu nàng và đề nghị nàng lấy ông. Nàng từ chối, dứt khoát và thấy thương ông, nàng gợi ý họ vẫn có thể là bạn. Ông háo hức vồ lấy câu đó, vì ông không muốn gì hơn ở nàng. Nhiều năm sau, ông đọc tin về nàng. Nàng và một bác sĩ đã có vợ chết cùng nhau trong khách sạn ở Chicago. Vị bác sĩ bắn xuyên tim nàng rồi quay súng tự tử. Sau từng ấy năm, Vandamm mới hiểu vì sao nàng không nhận lời ông: nàng đã có người khác.

Cuộc Thế chiến là điềm lành cho Vandamm. Ông đã hơi chán mọi thứ tự do của mình. Ông bắt đầu ghét những lần đến thăm hiệu thuốc vào tối thứ Bảy; ông ghét vì không thể ngủ ngon; ông ghét vì đầu óc tỉnh táo mà không đi đến cuộc hôn nhân nào. Ông ghê tởm trụ sở câu lạc bộ của các trường đại học nhỏ nơi ông ở. Ông ghét chất giọng Mỹ. Không một thành phố nào ông từng sống gợi cho ông ấn tượng như ba gia đình đầu tiên. Khi gặp họ, ông có thể thấy họ coi ông ra sao: một người miền Đông không đủ tốt cho miền Đông, và coi ông như một ông vua giữa bầy khỉ hơn là một con khỉ giữa các ông vua. Ông quyết định trải nghiệm thế là đủ, và từ nay trở đi ông sẽ kiếm tiền.

Ông đến Pittsburg và kiếm việc làm không khó khăn gì. Trong những năm chiến tranh, ông được hưởng lương cao, ông và cô em gái mua một ngôi nhà ở East End. Hóa ra ông phải dọn nhà lần nữa, lần này đến Wilmington, Delaware, nhưng những chuyến về thăm nhà - ông coi đó là nhà - ngày càng thường xuyên hơn. Một trong những kết quả của các chuyến thăm nhà ấy, là ông phát hiện mình rất yêu quý cháu gái. Ông chưa bao giờ rơi vào một hoàn cảnh oái oăm như thế. Tình yêu là một từ ông đã học được cách phản đối sử dụng. Nhưng hễ cô cháu ra khỏi tầm mắt là ông lại ngong ngóng được nhìn thấy cô. Cô là người ông có thể yêu quý mà không cần thận trọng trong lời nói và việc làm. Giống như được thư giãn sau nhiều năm dè giữ. Tình yêu ấy bắt đầu vì vẻ xinh đẹp của đứa trẻ, và ông hãnh diện có quan hệ thân thuộc. Gloria rất ăn ảnh và ông giữ nhiều bức ảnh của cô trong ví. Ông mừng vì cô không phải là con gái ông, vì ông có thể yêu cô nhiều hơn nữa. Những người làm cha phải yêu quý con gái mình và đôi khi không thể vượt quá, nhưng một ông bác có thể yêu quý đứa cháu gái xinh xắn và có thể thành bạn bè. Cô lắng nghe ông, và ông có thể quá mức với cô như ông thích thế. Em gái ông ủng hộ sự nhiệt tình của anh trai, dù bà không nhận thức được ông cho bà nhiều hơn thân phận một người phụ nữ được hưởng đặc quyền trong nhà.

Chiến tranh, công việc, tiền ông kiếm ra là một nửa cuộc đời ông. Gloria là nửa kia, cái nửa mà ông không nói đến nhiều.

Ông nhận tiền của em gái và tăng nó lên gấp đôi cho bà, không hẳn là cho bà mà cho Gloria. Rồi khi nhìn nhận việc mình đã làm, ông coi đấy là một ý tưởng khác thường. Lần đầu tiên trong đời, ông lăn vào một việc nguy hiểm là hoạch định cuộc đời cho người khác. Ông muốn tống khứ em gái đi lấy chồng. Đấy là tất cả cho hiện tại. Gả chồng cho em gái xong, rồi xem chuyện gì xảy ra. Nhưng ông không thể thôi nghĩ có thể xảy ra chuyện gì, và không thấy vui vì kế hoạch của mình. Em gái ông còn đủ trẻ để có con, và nếu bà có con với người chồng mới, thì chẳng còn gì mà nói. Ông lập luận rằng em gái ông ắt phải vui khi ông nuôi Gloria. Sau đó, ông mới tính đến chuyện hôn nhân cho mình. Nếu tìm được người phụ nữ thích hợp và Gloria ưa, ông sẽ ưng và có thể cưới người đó vì Gloria. Suốt mấy tháng ròng, ông suy tính toàn bộ cuộc đời mới cho mình. Ông nghĩ đến việc đó như một sự sắp đặt lại cuộc sống riêng mà ông chưa bao giờ tính toán, sắp xếp cuộc sống của người khác, trừ Gloria bé bỏng hãy còn trẻ măng…

Ở Wilmington, ông gặp một thiếu tá của Cục Quân nhu. Thiếu tá Boam không giống đa phần đàn ông không trải qua cuộc sống quân ngũ. Ông qua các cấp úy và lên hàm thiếu tá ở Cục Quân nhu, sĩ quan hậu cần tiểu đoàn và quân y; trong bộ quân phục trông ông rất oai. Ông khỏe khoắn, cường tráng, sung sức. Người đàn ông này làm việc xa Washington, phần lớn thời gian ở Wilmington, Eddystone, Bethlehem và Pittsburgh. Suốt thời chiến, Vandamm vẫn là một thường dân. Ông cận thị, nhẹ cân, bàn chân bẹt và quân đội không cần ông. Họ không nói sống sượng như thế, chỉ nói họ muốn ông là một thường dân.

- Lần sau đến Pittsburgh, mời anh ghé qua nhà và gặp em gái tôi. - Vandamm bảo thiếu tá Boam. Viên thiếu tá trả lời rất vui lòng và làm thế thật; lần gặp Vandamm sau đó, ông nói đã ghé thăm và ăn tối với bà Wandrous, một bữa tối rất ngon. Vandamm muốn biết ông ta có gặp Gloria không, nhưng viên thiếu tá nói lúc ông đến đã muộn nên Gloria đi ngủ lâu rồi. Với Vandamm, câu đó nghĩa là Boam đến muộn và chắc phải thích thú mới ở lại, và ông nhận ra Boam đã lưu lại gần đến giờ tàu chạy.

Boam góa vợ, có một cô con gái đã trưởng thành. Chắc phải lấy vợ từ khi rất trẻ, Vandamm nghĩ, mới có con gái đã lấy chồng. Người con gái sống ở Trenton, nhưng Boam chưa đến thăm cô lần nào.

- Hiện giờ nó có nhà riêng để trông nom. - Boam nói. - Tôi không thích đến đó với danh nghĩa bố vợ.

Hình như Boam khá lẻ loi, và như thế thật hợp với kế hoạch của Vandamm. Một người góa vợ cô đơn, trung niên, khỏe khoắn, chắc là làm việc tốt nên mới được phong hàm thiếu tá ngay lập tức.

- Em có ưng thiếu tá Boam không? - Vandamm hỏi em gái. Bà nói thích ông ta. Bà đánh giá đàn ông qua kích cỡ. Bà thích đàn ông cao hơn thấp, và cao lớn hơn cao mà gầy gò.

Cuộc đình chiến gây trở ngại cho kế hoạch của Vandamm. Thiếu tá Boam cởi bỏ thắt lưng và đai sĩ quan, ủng, đinh thúc ngựa, quân phục gắn hai chữ V bằng bạc trên ông tay áo trái. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, ông ghé thăm Vandamm ở Wilmington và lần đầu tiên trong mối kết giao, ông thấy thoải mái. Nói chuyện vòng vo, cuối cùng ông thổ lộ với Vandamm:

- Bây giờ là lúc tôi phải kiếm việc làm đây. - Câu ấy bày tỏ Boam sắp không ở vị trí được trả lương cao nữa. Ông sắp trở về và chẳng còn gì. Ông kể với Vandamm rằng khi nước Mỹ bước vào cuộc chiến, ông muốn thành chủ tịch danh dự cho một công ty, nhưng không được. Ông đã tiêu rất nhiều tiền và nhiều thứ khác trong quan hệ với con gái. Cách duy nhất ông có thể phục vụ đất nước là được phong cấp sĩ quan. Ông bảo lương thiếu tá là thua lỗ về tài chính, nhưng ông chỉ làm được thế cho đất nước. Và bây giờ chẳng có công việc nào đợi ông.

Việc này lại tiện cho Vandamm. Ông bảo với thiếu tá là sẽ xem xét vì ông có một công việc. Viên thiếu tá cảm ơn ông và nói sẽ thử vận dụng các quan hệ riêng trước đã, nếu không đi đến đâu thì Vandamm đừng ngạc nhiên nếu một ngày đẹp trời Boam xuất hiện ở Pittsburgh hoặc Wilmington.

Năm 1921, Boam xuất hiện nhưng không phải đi xin việc mà để đáp lễ. Ông ta kể đã tìm được một công việc mập mờ có tính chất chính trị cho một mưu đồ về hóa học. Công việc mập mờ đó là vận động hành lang, sắp ký hòa ước với Đức, và công việc của Boam là quan sát khi nào các nhà máy nhuộm của Đức mở lại, liệu có ngáng trở công nghiệp nhuộm của Mỹ không, đại loại như thế. Ông thổ lộ việc này rất khó khăn vì nhiều nhà máy của Đức do Mỹ sở hữu hoặc đã từng là sở hữu của Mỹ cho đến khi chiến tranh nổ ra, và người Mỹ đã di dời chu đáo. Một số người Mỹ còn muốn nhà máy của họ được trả lại gần như nguyên vẹn, và đó là một ngành kinh doanh nhiều rủi ro nếu Đức thấy công nghiệp nhuộm của nước mình bị phân biệt đối xử. Chính quyền Đức không dám làm gì, nhưng không thể chặn được bàn tay phá hoại của công nhân trong các nhà máy nhuộm của Đức, nếu họ nghe phong thanh rằng phương tiện sống của họ bị Quốc hội Mỹ chặt đứt. Nói cách khác là ở Mỹ có hai phe. Một là những người có nhà máy ở Đức không muốn Quốc hội tiếp nhận bất cứ bộ máy thuế quan nào, cho đến sau khi họ nhìn thấy diễn biến tại nhà máy của họ. Phe khác khăng khăng rằng không nhiều thì ít, lần đầu tiên người Mỹ đã bước vào ngành nhuộm khi Hải quân Anh kìm chân Hải quân Đức. Những người Mỹ này đã chi nhiều tiền xây dựng công nghiệp nhuộm của chúng ta (dù bị cản trở rất nhiều vì bí mật nghề nghiệp của ngành nhuộm vẫn được giấu ở Đức), và họ không muốn lãng phí tiền của họ chỉ vì Đức bại trận. Nếu chúng ta không lấy được chút gì đó từ cuộc chiến tranh bị Chúa Trời nguyền rủa này, thì chiến thắng phỏng có ích gì?

Thế là thiếu tá Boam vẫn giữ tước hiệu quân sự, phần vì các nhân viên khách sạn và nhà hàng ở Washington đều biết ông là thiếu tá Boam, phần vì nó cho ông một địa vị với các nghị sĩ Quốc hội. Ông lưu lại Washington kể từ khi Chính quyền Harding dọn đến. Ông nói đến Quốc hội một cách thân thiết:

- Chúng tôi đã làm được nhiều việc ở đó. Anh sẽ không tin vào số lượng công việc chúng tôi làm đâu, mà ai đây?

- Đây là Gloria. Con chào thiếu tá Boam đi. - bà Wandrous bảo.

- Chào bác. - Gloria nói.

- Lại đây cho ta ngắm cháu nào. - viên thiếu tá nói. Ông chìa tay, bàn tay phẳng, rộng, nâu rám. - Chà, một quý cô đây. Cháu lên mấy rồi, Gloria?

- Cháu sắp mười hai. - cô bé nói.

- Lại đây. - Boam nói. - Ngồi lên lòng ta nào.

- Thiếu tá, cháu nó nghịch lắm đấy. - bà Wandrous nói.

- Không sao, nếu thiếu tá muốn chơi với con bé. - Vandamm nói. - Lại đây Gloria, ngoan nào.

- Cô bé đến nga-a-a-a-a-y đây. - thiếu tá Boam nói. - Hấp! - ông nhấc Gloria và dặt nó ngồi lên chân trái. Ông để bàn tay trái lên lưng cô bé và cứ để nguyên thế trong lúc nói chuyện. Lúc ông nói, bàn tay ông cử động, lúc vỗ về và siết chặt bắp đùi để trần của nó, lúc vỗ vào tấm lưng bé bỏng. Gloria ngước nhìn ông lúc ông làm thế, còn ông vẫn nói say sưa. Giọng ông to, rắn rỏi và thoải mái làm Gloria dễ chịu, cô bé ngả đầu lên vai ông. Gloria thích sức ép của bàn tay ông, nó không làm cô đau như một vài người vẫn làm. Cô thích tiếng nói oang oang, thích mùi sơmi sạch sẽ của ông và sờ bộ complê bằng flanen mềm mại của ông.

- Nhìn này. - Vandamm nói và hất đầu cho thấy Gloria thoải mái ra sao.

Boam gật đầu, mỉm cười và nói tiếp. Lát sau, cô bé Gloria thiếp đi, vì đã quá giờ đi ngủ. Bà Wandrous bế Gloria khỏi lòng Boam, và ngay lập tức Boam đứng dậy.

Sau đó, ông cố giữ khoảng cách với nhà Wandrous-Vandamm, nhưng càng cố giữ lại càng tìm ra nhiều cớ. Ông trù tính đến đó sau khi biết chắc Gloria đã đi ngủ, nhưng lại buột miệng:

- Bé Gloria thế nào rồi?

Vandamm trả lời ngay:

- Lên xem nó ngủ chưa.

Công việc giữ Boam ở Pittsburgh ba hoặc bốn ngày. Ông lưu lại đến nửa tháng. Thông thường, ông luôn biết chuyện gì xảy ra với mình. Song ông không biết mình muốn làm gì với đứa trẻ này. Ông chỉ biết rằng muốn đưa nó đi xa, ở một mình với nó.

Hồi đó, Gloria đã là một cô bé xinh đẹp, mái đầu có những búp tóc quăn màu nâu sẫm, cặp mắt đẹp làm người ta giật mình ngay từ cái nhìn đầu tiên và càng nhìn lâu càng thấy chúng không có gì thú vị. Nhưng cứ mỗi lần nhìn, lại thấy chúng đẹp khác hẳn lần đầu tiên, vẻ đẹp của đôi mắt ấy nhờ cấu tạo và màu sắc, màu nâu sẫm và là mắt của một đứa trẻ, chúng không thay đổi nhiều và vì thế làm chúng không thú vị. Gloria giống như hầu hết các bé gái khác. Cô rất ác với súc vật, nhất là với chó. Cô không sợ chó, cho đến sau khi làm bạn với chúng rồi lấy gậy vụt chúng và sau đó đâm sợ, dù người lớn hay gọi cô bé là con cún xinh. Nhà Gloria thuê một cô gái da đen tên là Martha chiều chiều từ đại lộ Wiley đến đưa Gloria đi dạo. Các cô bảo mẫu da trắng khác không thích cô gái da màu ngồi với họ. Họ không thích cô bé Gloria xinh xắn. Gloria hiểu được rằng nhóm bạn của mình đáng ưa hơn bạn của Martha, và Martha chẳng có quyền gì với cô. Mẹ Gloria chẳng hạn chế cô điều gì, ngoài việc xem cô có tươm tất trước khi ra ngoài không. Ngoài một lần rửa ruột duy nhất và những lần đến nha sĩ, Gloria sống cả tuổi thơ hoàn toàn theo ý mình. Gloria học hành rất dễ dàng; cô thông minh, và biết trưng ra mọi sự sáng dạ dù nhỏ để giành được phần thưởng xứng đáng. Gloria thích các cậu bé cho đến khi chúng chơi thô bạo, và cô đánh lại bất cứ đứa con trai nào coi thường con gái.

Suốt thời thơ ấu, có một nghịch lý triền miên: là một đứa bé, Gloria thờ ơ với việc hay được mọi người gọi là nàng Công chúa bé nhỏ. Cô không phải là người tạo ra hoặc nảy nở một tình yêu trẻ thơ.

Trên đường đến nhà Gloria, Boam không cho phép mình nghĩ có thể xảy ra sự gì, hoặc mong sự gì xảy ra. Trong thời gian ở Pittsburgh, hai ngày một lần ông lại đến nhà Gloria, nhưng hôm nay nắng đẹp và ông biết sẽ làm gì đó. Ông có linh cảm rằng sau bữa trưa, bà Wandrous sẽ ra ngoài. Bà ấy đi thật. Cô hầu trả lời ở cửa biết ông, khi nghe nói bà Wandrous đi vắng và ông định ra về, cô ta mời ông vào.

- Cô có biết bao giờ bà chủ về không? - ông hỏi.

- Thưa ông không, nhưng cháu nghĩ sẽ không sớm đâu ạ. Bà chủ vào khu thương mại mua sắm. Ông chỉ đến chậm độ nửa giờ thôi. Cháu mang trà cho ông hay thứ gì khác ạ?

- Không, cảm ơn, cô cứ đi làm việc đi. Tôi chỉ ngồi đây một lát, nhỡ bà Wandrous về. Bé Gloria ra ngoài chơi à?

- Không ạ, cô chủ ở nhà. Hôm nay cô bảo mẫu không đến. Cháu sẽ đưa cô vào ạ.

- Tôi muốn chào tạm biệt cô bé. Tối nay tôi đi.

Cô hầu mừng vì thoát khỏi Gloria. Cô đang dở việc và bà Wandrous không chấp nhận bất cứ lý do gì nếu chưa xong việc.

Gloria chạy vào và đứng lại nhìn ông. Rồi cô bé thoáng cười.

- Hôm nay cô bé của tôi thế nào rồi? - ông nói.

- Cảm ơn bác, tốt ạ. - Gloria nói.

- Lại đây, ta sẽ đọc cho cháu nghe mục chuyện vui. - ông nói và cầm tờ báo lên. Ông gật đầu với cô hầu, cô ta đi ra.

Gloria bước đến, đứng giữa hai chân ông trong lúc ông ngồi và đọc các trang chuyên tranh vui. Thái độ của cô chăm chú, nhưng mắt không hề chú ý. Khuỷu tay cô tì lên chân ông đến không chịu nổi; ông nhìn vào mắt cô bé như nhìn vào mắt một người đàn bà. Gloria không tỏ ra sợ hãi. Có lẽ điều đứa trẻ này có - mà Vandamm là loại đàn ông cũng có - đã giải thích được sự ngưỡng mộ của ông với đứa bé này chăng?

Ông ngừng đọc báo.

- Để ta sờ bắp thịt của cháu xem. - ông nói. Cô bé gập tay lại cho ông thấy. - Hừm. - ông nói. - Đấy là cơ bắp của một cô gái.

Rồi im lặng.

- Cháu đã sẵn sàng nghỉ hè chưa? - ông hỏi.

- Rồi ạ. - cô bé đáp.

- Không cần nhiều đâu. - ông nói. Lúc đó, sự hoang mang, nỗi sợ hãi và nhu cầu thôi thúc tràn ngập lòng ông, bàn tay ông trở nên man rợ. Ông hôn lên miệng Gloria, mạnh đến mức làm cô bé đau và không biết sẽ xảy ra sự gì, nhưng biết chắc là phải cưỡng lại.

Ông cố trổ các ngón điêu luyện. Ông nâng Gloria lên cao và nói chuyện, cố làm cô bé cười. Ông muốn đưa Gloria ra khỏi nhà, nhưng lại sợ. Ông chưa làm gì ngoài việc sờ mó, nhưng ông sợ cô bé nói ra. Ông không thể ra về cho đến khi biết chắc Gloria không quá sợ mà chạy vào bếp, huyên thuyên gì đó với cô hầu. Rồi ông nói:

- Giờ ta đã hôn tạm biệt cháu, nên ta nghĩ là nên về thôi. Được chứ?

Gloria không biết nói sao cho lễ phép.

- Cháu có nhớ ta không? - ông hỏi. - Bao giờ trở về, ta sẽ tặng cháu một món quà thật đẹp. Cháu thích gì nào?

- Cháu không biết. - Gloria nói.

- Lần sau đến đây, ta sẽ mang cho cháu một món quà rất đẹp từ New York. Đấy là bí mật của bác cháu mình, nhé?

- Vâng. - Gloria nói.

- Cháu chào tạm biệt ta đi chứ?

- Vâng. - Gloria nói.

- Ngoan lắm.

- Tạm biệt, - Gloria nói.

- Ngoan lắm. Tạm biệt Gloria. Cháu nói với mẹ và bác là ta chào họ nhé. - Ông định cho Gloria tiền nhưng sự thận trọng của kẻ tham lam đã thắng. Ông đi và không bao giờ quay trở lại, nhưng vẫn bị nhớ.

Gloria muốn kể với ai đó việc Boam đã làm. Cô quên sao được hàm răng ông đã làm cô đau như thế nào. Cô nhớ bàn tay ông ta. Cô vào bếp và đứng quan sát cô hầu đang đánh bóng đồ bạc. Cô ngắm cô ta và không trả lời lúc cô ta hỏi:

- Cô nhìn gì thế?

Gloria không thể kể với cô ta.

Một năm sau Gloria mới dám kể lại câu chuyện. Mẹ cô ngờ vực hết lời này đến lời khác, còn người bác thì phủ nhận. Nhưng Vandamm biết có gì đó trục trặc, vì Gloria đột nhiên không thích ông hoặc bất cứ thứ gì ông mua hoặc làm cho cô bé. Ông tưởng là do lứa tuổi. Gloria đã mười hai, có khi cô bé hành kinh sớm hơn các cô gái khác. Hàng lô lý do. Cô bé khá rầu rĩ. Hơi suy nhược nữa. Tuy nhiên, chẳng thể mong lúc nào nó cũng là một đứa trẻ mãi. Nhưng câu chuyện dần vỡ lở, từng tí một, cho đến khi mẹ và bác Gloria tái tạo lại tình cảnh. Họ đưa Gloria đến bác sĩ, nhưng cô không cho ông ta chạm vào người. Họ phải đưa cô đến gặp một nữ bác sĩ. Vandamm thuê một thám tử tư tìm kiếm Boam và vận động hất cẳng Boam khỏi công việc của ông ta ở Washington. Song không cần đến việc này. Sau khi lạm dụng Gloria, Boam quay lại Washington xin thôi việc và không để lại địa chỉ mới. Viên thám tử tư tìm hiểu và biết chắc rằng một hoặc hai năm trước chiến tranh, Boam đã mắc vào một chuyện bẩn thỉu tương tự. Vị hôn phu của con gái ông ta phát hiện ra chuyện đó, cô con gái bèn bỏ trốn với người yêu và không bao giờ giáp mặt bố nữa. Đó là lý do ông ta không bao giờ đến thăm con gái ở Trenton.

Sau việc xảy ra với Boam, không có hậu quả nào về thể chất, nhưng trạng thái tinh thần của Gloria đã ảnh hưởng đến sức khỏe nói chung. Vandamm nghĩ nên rời Pittsburgh thì hơn. Để thay đổi quang cảnh. Đến New York.

Trong ba năm liền, chuyển đến New York hóa ra là một ý hay. Họ cho Gloria học trường dòng ban ngày, nơi các cô gái đều mặc đồng phục. Vì thế ngay từ ngày đầu, Gloria đã giống hệt các cô gái khác. Hàng ngày, bà Wandrous đưa con gái đến trường và đón khi tan học. Ở đây, Gloria không phải là cô gái xinh đẹp nhất hoặc thông minh nhất, và cũng không được chú ý gì đặc biệt. Cô có ít bạn, và đến hè cùng những bạn này đi trại ở Maine, do hai giáo viên trong khoa quản lý. Trại hè có nhiều cô gái từ các trường khác đến làm Gloria đỡ chán vì cứ phải nhìn mãi những gương mặt quen quá hóa nhàm. Trở lại trường, luôn luôn có nhiều nữ sinh mới. Tận dụng một đức độ nhất định, Gloria đòi chuyển trường. Cô muốn đi học ở California, nhưng khi truy nguyên nhân thì lý do duy nhất là cô thích giai điệu Rừng cam California rất phổ biến thời đó. Bác cô suýt chiều theo ý thích ngông cuồng ấy của cháu, nếu như tình trạng tài chính của họ không sa sút đến thế. Ông cố tìm việc làm ở California, và lần đầu tiên ông thấy mình là người may mắn; những người đàn ông tử tế làm việc ở đó hưởng lương tháng ít hơn tiền thuê nhà của ông ở New York. Rồi bất cứ lần nào Gloria đòi đến California hoặc miền Tây Hudson đều bị gạt đi, vì chỉ trong vòng một tuần lễ ở đấy xảy ra hai vụ bạo lực, càng củng cố thêm định kiến chống lại miền Tây vững như bàn thạch của Vandamm. Vụ án Leopold-Loeb nhắc nhớ đến chuyện xảy ra với Gloria; vụ tự tử của người phụ nữ và vị bác sĩ mà Vandamm đã biết từ lâu. Rồi họ quyết định chọn trường New England hợp mốt cho Gloria. Cô ở đó gần trọn năm, cho đến khi có một người đàn ông khác, rốt cuộc làm Boam gần giống như thần hộ mệnh, cuốn lấy cô.

•••

Khi bạn xa nhà cả năm, từ cái ngày (có một Sự Việc nào đó) không giống những ngày khác, dù tốt hay xấu, bạn sẽ khó mà quên. Nếu xấu, thì cũng đủ xa. Ảnh hưởng của nó có thể kéo dài, nhưng sẽ không tự lừa mình rằng việc đó có thể xảy ra lần nữa. Một cái gì đó đang thiếu. Một thứ thiếu vắng trong cuộc sống, được hồi tưởng lại là cái có thật; ngay từ khi bắt đầu bạn biết điều mình sắp nhớ đến là một loại cảnh mộng, liên quan đến khoảnh khắc này. Nếu một năm trước bạn thấy cơ thể mình bị rách toạc, máu trong người chảy ra, mọi thứ bên ngoài chỉ là sự đau đớn ùa vào trong bạn, bạn sẽ không thể nhớ lại lần nữa. Không một ngày, không một khoảnh khắc. Khi một sự việc khủng khiếp - bất kể là gì - bắt đầu, khoảnh khắc đó có thể sống lại. Hoặc khi có một việc tốt lành (nhưng lẽ tất nhiên cuộc sống không tạo ra nhiều việc tốt; chí ít là chúng ta không đánh dấu các mốc việc tốt như việc xấu). Người ta không dùng từ cay đắng cho kem, cho các huân chương bạn giành được ở trường, chuyến đi chơi trên toa xe lửa lộ thiên, một thứ đẹp để mặc, hoặc The Star-Spangled Banner[12]dù Star-Spangled Banner đến sát bên. Đấy là âm nhạc, thứ âm nhạc cổ điển tội nghiệp, dù là của Bach hay Carmichael, chỉ biết rằng bắt đầu bằng sự cố gắng đến tuyệt vọng để tạo ra hoặc nắm bắt một thứ mà bản thân nó không có. Âm nhạc là thứ nhân tạo, vậy sao âm nhạc cổ điển lại có thể khiêm nhường và hay đến thế, nó là loại nghệ thuật tối thượng, trong đó từng phần nhỏ thấm thìa nỗi đau của một ngày quan trọng, một sự kiện quan trọng trong cuộc sống con người? Không thể có câu trả lời. Trong lúc Nhạc trưởng chỉ huy, bạn có thể nhắm mắt lại trong giây lát, nhưng rồi bạn lại mở mắt và thấy mình hoàn toàn sai lầm khi tưởng là đang lắng nghe nhạc, bạn sẽ hiểu được từng nốt khi ông ta vung cây gậy trong cánh tay phải bị thấp khớp, mệt mỏi sang bên trái. Tuy nhiên chẳng có gì phải xin lỗi hết. Chỉ của rởm mới nói thực sự không để ý đến Toscanini[13], nhưng một kẻ rởm đời sẽ nói thế. Kẻ rởm ấy tưởng mình oách lắm khi nói có thể nhận ra thiên tài vì ông ta là một người đàn ông, một con người. Vậy ai viết nên âm nhạc? Một hồn ma lìa khỏi xác ư?

Chúng ta đã trải qua các giai đoạn dài và khó chịu khi đóng những cái ghế, mà quên mất rằng ghế chỉ dùng để ngồi. Cũng như thế, âm nhạc là thứ để thưởng thức, và chúng ta có thể đối mặt với nó mà không hại gì: nó phải có sự kết hợp của con người nếu là thứ để thưởng thức. Tình yêu cũng y như vậy. Nó có thể xảy ra chỉ vì một hoặc nhiều lý do, hai người không lên giường cùng nhau; đôi khi yêu thế là đủ, còn tốt hơn là ngủ với nhau. Tình yêu có thể xa vời với ý nghĩ ăn nằm với nhau, cũng như căm ghét cái ý nghĩ giết người. Nhưng ghế là để ngồi, âm nhạc thì tốt cho điều bạn muốn, tình yêu là ngủ với nhau, hận thù là thèm giết chóc…

Ba năm trôi qua, Gloria có thể sống an toàn với bác và mẹ, cách biệt hẳn khả năng sống lại cái thời với thiếu tá Boam. Không thể nói Boam đã cho cô một ân huệ. Ông ta tồi tệ với cô vì làm cô khác đi một cách âm thầm, làm cô có một điều bí mật quá lớn nhưng lại không thể san sẻ. Nhưng cô đã đạt được một điều lớn hơn và mạnh hơn, không phải là cảm giác ẩn dụ và điều cô biết là một người đàn ông quan trọng như thiếu tá Boam, một người không biết trông ra sao khi cởi bỏ quần áo, lại muốn làm với bạn những việc y như các cậu bé muốn, đã trở thành sự hiểu biết dứt khoát. Sự hiểu biết ấy hình thành vì bạn thiếu tò mò hoặc không sẵn sàng học hỏi. Vì sợ, bạn không muốn khám phá quá nhiều khi bước vào tuổi mười ba hoặc mười bốn, nhưng bạn luôn tự nhủ mình biết nhiều thứ mà các cô gái khác không hề biết.

Các cô gái khác đánh giá cao Gloria vì họ tưởng cô thực sự ngây thơ. Trẻ con thường tôn trọng sự ngây thơ. Tất cả chỉ do cô không muốn nghe trò chuyên, hỏi han, góp nhặt tin tức. Nhưng sự ngây thơ thật sự đã qua rồi. Nó đánh lừa cả mẹ cô lẫn bạn bè cùng trang lứa. Bà Wandrous dùng hai cách để nói với Gloria về những chuyển biến trong cơ thể mà cô đã cảm thấy: một là phần nào câu chuyện cũ về một cô gái bị gã đàn ông trưởng thành “lạm dụng”; phần khác thật khủng khiếp phải nhắc cho đứa con nhớ rằng bà đã từng có cuộc chung đụng. Nhưng khi bà nói, Gloria bình thản tiếp nhận thông tin (mẹ cô nói quá sơ sài) và không hỏi gì. Bà Wandrous thở phào, nhẹ cả người và lôi tuột Gloria ra khỏi trường nội trú.

Gloria cùng năm cô bạn rời trường để nghỉ xuân. Tàu hỏa thật tệ hại và một ngày không ấm áp; mỗi khi tàu dừng lại, người đàn ông ngồi trên ghế gần như bị sáu cô gái vây quanh phải đứng dậy đóng cửa, sau khi các hành khách để cửa mở. Đóng cửa xong, ông ta trở lại chỗ ngồi - ghế thứ ba từ phía cửa, và lơ mơ ngủ. Suốt đời mình, Gloria thích nghe tiếng ngáy, còn người đàn ông này cứ ngáy vô tư. Nó làm cô khoái ông ta, và đến ga sau cô đứng dậy đóng cửa, vì ghế của cô gần cửa hơn. Ông ta mỉm cười và gật đầu vài lần, nói cảm ơn cô. Đến ga Grand Central, người đàn ông xách cặp da và cái túi đến gần bà Wandrous đang đón Gloria xuống tàu và nói:

- Tôi muốn được chúc mừng bà có cô con gái rất biết cư xử và chu đáo. Một cô bé thật lễ phép và lịch sự. - ông ta mỉm cười và bước đi. Bà Wandrous muốn biết ông ta là ai, bà nghĩ hoặc là một giáo sĩ, hoặc là giáo viên trong trường Gloria. Gloria nói cô đoán được vì sao ông ta nói thế, và kể cho mẹ nghe. Mẹ cô nhìn người đàn ông đang leo lên đoạn đường dốc, nhưng sự lo sợ bản năng của bà không kéo dài. “Trên đời vẫn còn nhiều người tốt đấy chứ.” - bà tự nhủ. Bà dễ nghĩ thế thật; cung cách cư xử của Gloria đem lại sự hãnh diện và niềm vui cho mẹ cô.

Sau kỳ nghỉ, Gloria trở về cùng một cô gái khác, nhưng họ không ngồi cạnh nhau. Cô bực mình vì viễn cảnh suốt đường về không có ai để trò chuyện, và rất hài lòng khi có tiếng đàn ông nói:

- Trong thời tiết dễ chịu này, chúng ta không phải lo vì cái cửa nữa.

Đó chính là người đàn ông đã ngáy. Ông ta hỏi cô học ở đâu, nói rằng ông ta biết hai hoặc ba cô gái ở đấy và kể cho cô biết họ là ai, hỏi cô học những gì, cô có thích giáo viên không, rồi ông ta giải thích mình cũng là giáo viên, nếu cô có thể gọi hiệu trưởng là một giáo viên.

Không phải ngẫu nhiên mà ông ta đi cùng chuyên tàu đưa cô về New York kết thúc năm học. Cô có nhiều bạn nhưng nhìn thấy ông, cô nói chuyện như với một người bạn cũ. Lần này ở ga Grand Central mẹ cô đến muộn, còn ông ta tụt lại đằng sau. Cô bảo với bạn là phải đợi mẹ, và khi thấy cô đứng một mình, ông ta tiến đến và bảo cô nên đi taxi. Ông ta có thể cho cô đi nhờ xe.

Mọi sự quá dễ dàng. Hai ngày sau đó, vào một buổi chiều, cô đến khách sạn của ông ta. Người trực tầng đưa cô lên vì ông ta là khách quen của khách sạn, được biết đến như một nhà giáo đáng kính và chắc đang mong cô nhưng quên nói. Trong vòng một tháng, ông được cô cho hưởng tận chín tầng mây và ngây ngất. Mọi sự diễn ra trong căn phòng đó.

Cô không gặp ông thường xuyên như mong muốn; họ chỉ có thể cùng nhau ở New York. Cô ở lại trường thêm hai hoặc ba năm nữa nhưng không học xong dự bị đại học. Vào tháng Năm của năm thứ hai, bà chủ nhà tìm thấy một chai rượu gin trong phòng Gloria và cô bị “yêu cầu không được trở lại”. Mẹ cô hơi lo nhưng lại cho là vì thực tế Gloria rất được các cậu trai hâm mộ, và thâm tâm bà lấy làm mừng; bà nghĩ việc đó chứng tỏ chuyện Boam đã lùi vào quá khứ. Gloria được các chàng trai hết sức yêu mến, và trong một ngôi trường ít nghiêm ngặt, cô có thể đoạt giải quán quân liên trường. Cô theo học trường khác, bỏ trường College Boards vì Smith, và nghĩ trường ấy tốt hơn. Cô muốn học Mỹ thuật. Ở New York. Muốn có căn hộ riêng.

Người bác thích thú thấy cô được mến mộ vì đấy là việc làm dễ nhất của ông. Ông không bao giờ tha thứ cho mình vì đã đưa Boam vào nhà, nhưng ông cũng không hoàn toàn đổ lỗi cho bản thân. Sự nổi tiếng của Gloria hiện thời bù đắp cho việc đó, Vandamm là người không thành kiến, ông luôn đứng về phía cháu gái mỗi khi có tranh chấp giữa hai mẹ con.

Cả bà Wandrous lẫn Vandamm ngày càng không còn trẻ nữa. Gloria đã thắng mẹ trong việc bà từ chối không cho cô đi học mỹ thuật ở New York. Họ bảo còn việc căn hộ, cứ để xem sao đã. Hiện tại, họ dọn đến một ngôi nhà được thừa kế ở Village, sửa sang tầng trên cùng làm xưởng vẽ. Vandamm gặp may trong việc kinh doanh thời đó và ông tưởng Gloria có tài thực sự. Cô thuộc loại sáng dạ; cô có thể chép tranh biếm họa của Hugo Gellert, William Auerbach-Levy, Covarrubias, Constantin Alajalov, Ralph Barton,… bất cứ bức biếm họa nổi tiếng nào. Năm ấy, cô đã nói đến một việc thú vị là đến học ở Hội Sinh viên Mỹ thuật, nhưng lần nào mở lớp mới cô cũng quên đăng ký, thế là cô cứ tiếp tục chép các bức biếm họa khi chẳng còn việc gì làm, cô cũng chụp ảnh mẫu vài lần, thường là khỏa thân. Nhưng trong hai hoặc ba năm liền, việc quan trọng nhất với cô là say sưa rượu chè. Từ giữa năm 1927 đến 1930, Gloria là một trong những kẻ nghiện nặng nhất trong giới lưu linh. Câu lạc bộ Dizzy, Hotsy-Totsy, Tommy Guinan’s Chez Florence, Câu lạc bộ Type & Print, Basque, Michel, Tony phố East 53, Tony phố West 49, 42 phố West 49, Aquarium, Mario, Clamhouse, Bandbox, Câu lạc bộ phố West 44, McDermott, Sligo Slasher, News-writers, Billy Duffy, Jack Delaney, Sam Schwartz, Richmond, Frank & Jack, Frankie & Johnny, Felix, Louis, Phyllis, 21 phố West 53, Marlborough House,… nơi nào người ta cũng nhẵn mặt và tên cô, bồi rượu ở các nơi đó kinh hãi vì tửu lượng của cô. Họ đều biết quán chưa đóng cửa cô đã say xỉn, nhưng không hề muốn cưỡng lại. Không hề nghĩ đến chuyện kiêng rượu. Chẳng có lý gì lại kiêng rượu. Cô uống rye pha nước suốt ngày. Khi chợt nhớ ra suốt hai mươi tư giờ chưa ăn gì, cô đến một nơi bán chịu trứng, gọi một trứng sống, đập vào cốc vại cocktail Old Fashioned, rót rượu thuốc Angostura vào và nốc cạn. Đêm hôm ấy cô sẽ ăn tối: lườn cá bơn rán rưới sốt Tacta. Ngày hôm sau, có thể không ăn, có thể chỉ húp nước dùng với một quả trứng sống. Thuốc lá làm cô nhức đầu. Cô hút Chesterfield hoặc Herbert Tareyton, không hút thứ khác. Cô không quan hệ tình dục trong nhiều ngày kế tiếp nhau, cô kết giao với một nhóm thanh niên Yale ngoài hai mươi tuổi, được gia đình trợ cấp đầy đủ, uống những loại rượu ngon nhất và xúi họ nói với gia đình là sẽ ở lại New York. Họ hiểu và thỏa thuận rằng thứ quan trọng nhất đời là rượu, và trong quan hệ với các chàng trai trẻ này, cô tin và họ cũng tin cô, như một đứa em gái. Người ta không lo cho cô. Chỉ có một anh chàng hơi béo, trông tởm lợm, từ miền Trung Tây mỗi năm đến hai lần luôn lo lắng cho cô, nhưng cậu ta thôi ngay khi thấy đó là việc không nên làm. Các chàng trai khác tham gia thị trường chứng khoán qua điện thoại, từ trưa đến lúc đóng cửa. Đến ba giờ rưỡi, họ biết giá trị của mình: được tôn vinh ở Texas Guinan’s hay dìm nỗi buồn ở các nơi khác. Rồi những chuyến đi vòng vòng bằng ôtô gắn biển không phải của New York, mà các xe này ít khi sạch sẽ, trừ trong mùa bóng đá. Mùa hè ở New York có lắm thứ thú vị. Planter’s Punches[14], Mint Juleps[15], Tom Collinses[16]. Rickeys[17]. Bạn có hai hoặc ba thứ này mở đầu cho cả mùa, đến quán bia một chuyến và trở về với whisky pha nước. Dùng thứ gì để lừa bản thân? Mọi thứ xong xuôi ngay tức khắc. Nếu đến nửa đêm bạn mới quyết định đến hộp đêm nghe Helen Morgan hoặc Libby Holman, bạn cuống quýt mặc quần áo, hẹn một giờ sau rồi mua vài chai, và thế là đến hộp đêm. Nhà hát không còn là mốt nữa. Rạp chiếu bóng còn được ưu ái chút ít. Các bữa tiệc thì không, trừ khi phải là loại đặc biệt. Các đám cưới thì phải đến bằng mọi cách. Lớp trẻ khoái nhất khi có thể đến “42”, mặc áo đuôi tôm và say khướt, “vui mừng trở lại với những người lịch sự, không coi champagne là một thứ để uống”.

- Đả đảo Princeton! - Gloria nói.

- Đả đảo Princeton! - đám thanh niên hùa theo.

- Mặc xác Harvard! - Gloria hô.

- Mặc xác Harvard! - cả đám gào lên.

- Hoan hô cánh ta!

- Hoan hô cánh ta!

- Bing-go, bing-go, bingo, bingo là ling-go. - Gloria hát, đám thanh niên cười và hòa theo, giọng hơi run, say khướt khó mà bắt kịp cô, trừ khi cô làm những việc này khi còn chưa say. Cô không được mời đến các đám cưới họ được mời, nhiều khi không hẳn vì cô quậy phá, nhưng giá như cô hiểu được rằng một cú điện gọi cho người môi giới chứng khoán là rất quan trọng. Trong ngày cưới, cô phải đợi họ đi chơi trên những du thuyền của Pháp vào những ngày họ thích, nhưng khi họ gặp cô, cô đã có sẵn mớ hóa đơn rượu đợi họ, cho biết cô cũng từng được mời ăn trưa. Không phải vì cô nghèo. Cô thường chi hẳn mười lăm hay hai chục đôla cho những cuốc taxi và các thứ đồ, hoặc khi bạn cạn tiền cô sẵn sàng đỡ cho ngay. Nhưng cô làm thế chỉ vì không suy nghĩ kỹ.

Cô từng nhìn thấy Weston Liggett vài lần. Ông đến, có khi một mình, có khi với một người đàn ông, có khi với nhiều người đàn bà. Ông đứng bên quầy rượu, uống và cư xử phải phép. Lần thứ hai hoặc thứ ba nhìn thấy ông, cô để ý thấy ông nhìn cô lâu hơn là phải cư xử cho khôn ngoan, ngay cả trong những quán bán rượu lậu quy định nghiêm ngặt nhất.

- Anh nói chuyện với ai đấy? - cô hỏi anh chàng sinh viên Yale.

- Ồ, một người tên là Liggett. Ông ta học cùng trường với anh trai tôi.

- Ở Yale?

- Phải. Ông ta là một trong các vận động viên. Bơi thuyền.

Như thế có nghĩa là ông sẽ không bao giờ làm quen với cô, và cô sẽ không bao giờ nói chuyện được với ông cho đến khi họ được giới thiệu chính thức. Có thể ngày nào trong năm ông cũng nhìn thấy cô, nhưng vì họ có nhiều mối quen biết chung, cô sẽ không làm gì với ông hết; còn Liggett hiểu rằng chẳng mấy chốc ông sẽ thành một gương mặt vừa quen vừa lạ mà Gloria có nhìn thấy cũng không nhận ra, dù cô chỉ có một mình và ông cũng chỉ một mình. Có thể cô chẳng bao giờ nói chuyện với ông nếu không xảy ra một tai nạn: cô có thai.

Một đêm mùa đông 1929-1930, cô về nhà cùng hai anh chàng Yale còn lại. Những người khác đã về hết, nhưng hai người này ở lại. Đêm hôm ấy họ say rất sớm, và không nốc nổi giọt nào nữa. Gloria thường cởi bỏ quần áo trong buồng tắm mỗi khi ở lại nhà họ, và họ cho cô mượn pyjama. Đêm hôm ấy cũng thế. Nhưng lúc cô nằm trên sofa, Bill nói:

- Lại đây ngủ với anh.

- Được thôi. - cô nói.

Cô cầm gối, kéo lê cái chăn bông theo sau và leo lên giường với anh ta. Cô nằm xoay lưng lại, nhưng biết ngay rằng đêm nay anh chàng sẽ không chỉ là anh bạn thân Bill mọi khi. Anh ta ôm cô quá chặt, bộc lộ rõ ràng. Cô để Bill quấy vài phút rồi quay lại, vòng tay ôm và hôn anh ta. Xét cho cùng, họ đã là bạn bè từ lâu, và cô thích Bill.

Cô cũng thích Mike, đang nằm trên một cái giường khác, và không bỏ sót tí gì.

- Còn anh thì sao đây, Gloria? - Mike hỏi.

- Được thôi. - cô nói.

Sau đó họ gọi thêm một cô nữa, hay đúng hơn là Gloria gọi. Các cô gái họ gọi sẽ không đến vào giờ này, nhưng Gloria biết một cô, chỉ cần có một cô nữa. Mọi sự đâm ra nhiều hơn là các chàng Yale dè trước, và nó đặt dấu chấm hết cho tình bạn rượu chè của họ. Sau đêm đó, không hẳn là khó chịu, Gloria bước vào một đoạn đời khác, dẫu nó trở lại y như đoạn trước. Ngày hôm sau, khi cùng Jane rời căn hộ của các chàng trai, Gloria không bao giờ chơi bời với các cậu sinh viên Yale nữa. Cô có ý tốt, họ cũng có ý tốt, nhưng đây là lúc cô đang tiến triển.

Hè năm ấy, năm 1930, Gloria gặp Eddie Brunner. Cô đến chỗ anh làm với “thiếu tá” vì cô gặp người này ở quán bán rượu lậu và bỗng sợ: nhỡ anh ta là thiếu tá Boam mà cô không nhận ra. Trong suốt cuộc đời, cô chỉ gặp một viên thiếu tá khác là Boam, và thật kinh khủng nếu phát hiện ra người này chính là ông ta. Liệu cô có quên gương mặt người đàn ông ấy không nhỉ? Lần đầu tiên cô nghĩ đến việc có thể quên mặt Boam, và khi nghĩ thế, cô phải công nhận là có thể dễ dàng gặp Boam trên phố nhưng chẳng nhận ra. Viên thiếu tá này té ra không phải là Boam, nhưng không biết ngay tức thì. Khi cô hỏi tên anh ta (nó chìm trong tiếng lẩm bẩm giới thiệu về quán bán rượu lậu), anh ta bảo tên tuổi thì có gì khác đâu, cứ gọi anh ta là Thiếu tá. Thế càng làm cô hãi hơn, nhỡ là Boam mà cô không nhận ra. Phần còn lại của đêm, cô quấy quả vì tên anh ta, còn anh ta từ chối một cách thân thiện, bảo sẽ cho cô biết trừ khi cô đến chỗ này chỗ nọ với anh ta. Hóa ra tên anh ta là O’Brien hay Kelly hay một cái tên Ailen nào đó, nhưng khi biết tên thì cô đã biết quá nhiều về anh ta rồi.

Năm 1930, nhiều gã đàn ông khoái ngủ với Gloria, còn Eddie là người duy nhất không thích. Ban đầu, Eddie sợ bệnh xã hội, còn sau khi Gloria trở thành bạn thân, anh nghĩ đã nhìn thấy trong con người cô một thứ mà anh không muốn ngủ cùng. Anh coi cô như một đứa em gái nhõng nhẽo. Những khi ở bên nhau, đi xem phim, ăn sáng, uống vài cốc bia hay whisky pha sôđa ở nhà anh, anh cảm nhận mình đang có mặt trong sự hiện hữu của một Gloria thật sự. Phần còn lại của đời cô đóng kín. Họ nói đến nhiều chuyện trong thời thơ ấu (thật thú vị khi cùng phát hiện ra một người qua những hồi ức tuổi thơ, và thấy nước Mỹ mới nhỏ làm sao).

- Khi còn bé, anh có học đếm một-hai-ba, hai-ba-bốn hoặc hỏi vặt “bao nhiêu, bấy nhiêu” là gì không?

- Có chứ.

- Khi còn bé, anh có quát nạt các cô bé tên là Marguerite như thế này không: “Marguerite, đi rửa chân, Bộ Y tế đang đi qua đường kia kìa?”

- Không, bọn anh chẳng bao giờ quát thế.

- Adam, Eve và Pinch-Me ra sông bơi. Adam và Eve chết đuối, ai được cứu?

- Pinch-Me. - sau đó là - Ôi!

- Anh có đi học khiêu vũ không?

- Ồ, có chứ.

- Người hầu của anh có mang theo giày múa balê trong túi xách cho anh không?

- Anh không có người hầu.

- Em cũng không có anh chị em, nhưng người hầu thì…

- Ôi lạy Chúa, anh chẳng bao giờ làm thế.

Những câu chuyện dài thường bắt đầu bằng: “Khi anh (em) còn bé…”, chuyện giết một con rắn, gẫy một ngón tay hay suýt cứu sống ai đó. Họ nói đến các mẩu chuyện trong Chàng trai Mỹ, cả hai đều hâm mộ Marcus Aurelius Fortunatus Tidd, chàng béo lắp bắp của Clarence Budington Kelland, những câu chuyện về người Anhđiêng của Altschuler, các cô gái Bradford Hall, Người Dơi Larry và Silver Nell - có phải tên cô ta thế không nhỉ? Trong truyện của Jimmie Dale? Những truyện ấy dành cho người lớn, nhưng đọc xong Eddie đã đi lùng sục hải cẩu xám khắp vùng lân cận. Gloria dùng ôtô loại gì? Cho đến năm cô mười hai tuổi, bác cô mới đổi chiếc National và các thêm lấy chiếc Hames. Nhưng chúng không phải là đồ cũ. Cha Eddie có một chiếc Lozier, một chiếc Abbott-Detroit và một chiếc Stutz Bearcat (chỉ ba tuần sau khi mua, ông đã đập tan thành nhiều mảnh), một chiếc Saxon, một chiếc Earl, một chiếc King Eight,… lúc nào ông cũng mua ôtô. Đương nhiên là ông mua rất nhiều xe Ford, một chiếc Owen Magnetic cũ và một máy bay nữa. Ông có chiếc máy bay trong một vụ thắng bạc, nhưng ông sợ học bay. Gloria có chơi trò Diabolo không? Có, và đã bị cộp vào đầu. Thế anh đã từng bán trứng Phục sinh nhuộm để thắng một máy quay phim chưa? Anh có biết ai từng thắng một con ngựa Shetland chính hiệu bằng cách bán những phần đặt mua báo dài hạn không? Không, nhưng cô ấy đã tích cóp giấy gói bánh mì và thắng một cái xe đạp. Anh gọi đi vệ sinh là gì? Anh có biết một cậu bé lấy trộm tổ chim chưa? Không, giống như người ta làm một bồn rượu gin. Cả hai đều chưa nhìn thấy rượu gin làm trong bồn tắm.

- Em yêu anh, Eddie yêu quý. - cô nói.

- Anh yêu em, Gloria. - anh nói, nhưng còn muốn nói nhiều hơn nữa, ví như “Dù người ta nói gì về em cũng không quan trọng”, hoặc “Ước gì anh quen biết em từ năm năm trước nhỉ”, hay là “Sao em không tỉnh trí lại?”

Cô biết rượu chè có thể dẫn đến vô sinh, và họ cũng muốn thế, nhưng nếu thế thật thì có hay không nhỉ.

- Eddie. - cô thay đổi chủ đề. - Sao anh không đến nha sĩ? Anh sắp rụng cái răng kia kìa, như thế sẽ làm nụ cười của anh xấu đi. Ngày mai đến nha sĩ đi nhé, hứa với em nào?

Anh đưa cô về nhà, nhưng họ biết cô sẽ lại bỏ đi, và sau những buổi tối vui vẻ ấy họ biết chẳng còn gì mà mong đợi, người đàn ông có cô ngay sau đó sẽ tự nhủ: “Hay thật, mình tưởng đã biết mọi thứ, nhưng sau tất cả những nơi mình đã đến, nếm mùi mọi loại đàn bà, có một đứa trẻ, một đứa trẻ Mỹ…”

Cô đã nạo thai một lần vì các chàng Yale và sau nhiều cuộc rượu chè say sưa. Đêm đầu tiên gặp Weston Liggett, cô vừa lao ra khỏi một cuộc nhậu nhẹt sau khi gặp Eddie. Trong cuộc chè chén này, cô đã thay quần áo hai lần (từ lâu, cô biết rõ là không thích bị mẹ căn vặn khi cô nói sẽ ở lại nhà bạn). Trong những ngày như thế này, tệ nhất là đến quán rượu lậu mà trời vẫn còn sáng, cô phải vào vội khu thương mại, lấp kín phần ngày còn lại bằng cách đi tắm và thay quần áo. Cô bắt gặp Liggett trong một xe moóc cải tiến, và lúc đó không có ai. Nó được những cô gái bao và người có thu nhập kha khá ở vùng xung quanh lui tới. Gloria đến vì có người quen gọi điện báo tất cả bọn họ tụ tập ở đó thay cho nơi khác. Cô đến vào khoảng chín rưỡi tối và thấy chỉ có mình cô ngoài một đôi, người lính già và một phụ nữ trẻ, cô nàng lôi ông ta ra ngoài để moi hết mọi thứ. Gloria nói anh chàng người Ý vạm vỡ cho cô vào:

- Tôi hẹn gặp bà Voorhees và hội của bà ấy. Tôi sẽ đợi ở quầy.

Cô uống hết một cốc và đang hút thuốc thì Liggett vào. Ông ngồi ở đầu kia quầy, trệu trạo nhai khoai tây rán và uống Scotch pha sôđa. Nhận ra Gloria, ông cầm cốc đến chỗ cô.

- Chúng ta chưa quen nhau, nhưng tôi hay nhìn thấy cô…

- Vâng, đi cùng Billy.

- Tôi học cùng trường với anh cậu ta.

- Vâng, anh ấy có kể với tôi.

- Tên tôi là Liggett.

- Anh ấy cũng nói thế. Tôi là Gloria Wandrous.

Lúc đó người bồi rượu đang nghỉ ngơi.

- Wandrous? Tôi sẽ đánh cược với mọi người, cái tên nghe kỳ quá.

- Đúng thế, người ta cứ tưởng tôi bịa, vì có nhiều tên kỳ quặc như Gladys Glad, Hazel Dawn và Leatrice Joy. Tôi không nghĩ thế. Đánh vần là w, a, n, d, r, o, u, s và phát âm là Wan-drous, nhợt nhạt và mệt mỏi.

- Không nhợt nhạt và mệt mỏi tí nào.

- Hừm. Không tồi. Không tốt, nhưng cũng không tồi.

- Chà, tôi không làm ra vẻ hóm hỉnh đâu. Tôi chỉ là một doanh nhân làm ăn cần mẫn.

- Ồ, thế ra các doanh nhân lại làm việc ư? Tôi chưa nghe thấy đấy.

- Ờ, không nhiều như chúng tôi mong. Tôi muốn nói rằng có lẽ cô có hẹn.

- Anh không cho là tối nào tôi cũng đến đây, như một phụ nữ bí ẩn che mạng luôn ngồi một mình nhấm nháp rượu khai vị sao?

- Đúng là tôi nghĩ thế hoặc mong thế. Tôi cho là cô đến đây để tránh những chỗ thông thường…

- Địa điểm vốn là thứ mà anh và tôi quan tâm mà.

- Đúng. Nhưng cô Wandrous, xin đừng né tránh làm gì. Đây là một doanh nhân cần mẫn, tối thứ Bảy mà lại tự do như khí trời…

- Tự do như khí trời. Tôi có một người bạn là nhà văn, thỉnh thoảng anh ấy thích dùng câu đó. Tự do như khí trời. Hay thật.

- Cô không muốn đến các nơi khác với tôi ư?

- Sao lại các nơi khác? Ở đây không tốt sao? - cô nói. - Không, ông…

- Liggett.

- Ông Liggett. Không, tôi đang đợi mấy người khác. Ông nhập bọn với chúng tôi vui ra phết. Ông cứ ngồi đây cho đến lúc họ đến, tôi sẽ giới thiệu ông với những người tôi quen.

- Ồ, cô không hiểu họ đâu. Có khi cô không thích họ.

- Cũng có thể. Mà họ đây rồi, hay ít ra là nghe có vẻ thế. Chào cả hội nhé.

- Gloria yêu quý, chưa bao giờ cô nhanh đến thế. Kìa, Weston Leegett. Tôi không biết các vị quen nhau. Weston, đồ ma giáo, anh làm tan tác hội của tôi rồi, nhưng không sao. Như thế có nghĩa chúng ta thừa một nam. Nhìn xem này. Gloria, đây là ông Zoom, ờ, ông Zoom, cô đã quen Mary, Esther và mọi người rồi, còn đây là Weston Liggett, một người bạn lớn của Peter Voorhees. Các vị là bạn học hay sao nhỉ?

- Bạn hồi dự bị đại học. Mà tôi không muốn đảo lộn nhóm các vị. Tôi sẽ… để tôi mua cho các vị một cốc, rồi…

- Có bốn người đang từ nhà tôi xuống đây. - bà Voorhees nói. - Elaine và ba người đàn ông, vì thế anh thực sự thừa khi tất cả chúng tôi ở đây. Chà, tôi đang nghĩ xem nên uống gì. Có lẽ một Stinger[18]. Elaine. Nếu các ông kia biết cô tới, chắc họ không đợi Elaine.

- Họ biết chứ. - Gloria nói.

- Chỉ biết tên thôi. Weston, cô ấy xinh nhỉ? Cô ấy chỉ bằng tuổi con gái anh thôi, Weston. Anh biết thế chứ? Tôi mong anh không là người vờ vẫn.

- Tôi sắp nhận nuôi cô ấy. - Liggett nói. - Chính vì thế chúng tôi mới đến đây, ký vài thứ giấy tờ và cô ấy sẽ thành con gái tôi.

- Tôi muốn biết anh muốn gì hai cô con gái kia?

- Có ai đói không? - một người trong nhóm nói.

- Có Zoom.

- Tôi gọi món nhé. Một suất thăn bê ngon.

- Món ấy chẳng ngon lắm sau bữa tối ở nhà tôi.

- Gà non nhé? Tôi mà ăn gà non thì chẳng biết bao nhiêu cho đủ. Tôi đã nói với mọi người khi chúng ta ngồi xuống. Các vị nghe nhé. Tôi sẽ kể khi chúng ta an tọa, và nói thật, tôi kể chuyện này chẳng phải vì nghĩ đến bữa gà non. Tôi vốn phàm ăn mà. Ông có ở trong quân ngũ không, ông Liggett?

- Ừm.

- Lúc ấy ông mới hiểu nó ra làm sao. Tôi tự nhủ một điều lúc còn ở Pháp. Tôi tự hứa khi trở về nhà, có một việc tôi sẽ không bao giờ làm là để bị đói. Muốn ăn gì tôi sẽ ăn nấy.

- Xem trò này này. - bà Voorhees nói. Ông Zoom đang làm xảo thuật. Đặt một đồng năm mươi xu thăng bằng trên vành cốc, một đồng đôla kẹp giữa đồng xu và vành cốc. Rút đồng đôla ở dưới đồng năm mươi xu ra - và nếu trò xảo thuật thành công - mà đồng xu vẫn thăng bằng trên vành cốc.

- Hay thật. - bà V. nói.

- Tôi có thể làm một trò hay hơn bằng xoa bóp. Các vị xoa bóp các ngón tay…

- Suỵt. Tuyệt vời! Tôi không thể để nó lên miệng cốc, chưa kể đến sau khi anh rút đồng tiền đi. Các vị có một cảm giác rất khoái về… tôi nghĩ là muốn ăn một món gì đó. Bồi, có món gì bắt đầu bằng chữ Z không? Một món tráng miệng.

- Zabag[19]…

- Món ấy đấy. Tôi sẽ ăn một ít. Em không ăn gì à, Mary?

- Tôi biết một trò xoa bóp khác. Xát ngón tay vào khăn bàn. Đợi đến khi trải khăn lên bàn, rồi tôi sẽ chỉ cho các vị xem. Các vị có thìa hoặc dĩa. Các vị nhấc thìa bằng…

- Nghe này, Hoover bình an rồi.

- Nhìn cái lão ngố kìa. Lão không thấy cô ả làm lão thành thằng ngu hay sao? Tôi mừng vì ông bô tôi ngỏm trước khi đủ già để…

- Xin lỗi bà, đầu bếp nói rằng…

- Nhìn hắn ta kìa. Hắn sướng run lên vì cái quái gì thế?

- Chắc lại giống y như ở chỗ cũ thôi. Chắc chắn. Chỉ khác lúc trước ở phố trên, bây giờ là khu thương mại. Tôi nghĩ họ khốn khổ lắm khi cứ phải giữ khư khư cái không khí ấy. Tôi đã nói với…

- Các vị đã xem việc họ làm trên tờ The New Yoker tuần trước chưa?

Vừa lắng nghe, Gloria và Liggett vừa nhận ra họ đang nắm tay nhau. Sự dịu dàng choán lấy cô, ban đầu vì cô cảm thấy có trách nhiệm với Liggett, sau đó cô thích ông ta; ông ta thú vị hơn những người này.

- Bao giờ những người kia tới, chúng ta có thể đi nếu ông muốn. - cô nói.

- Hay lắm. Tuyệt vời. - Liggett nói. - Rồi sẽ ổn với…

- Bà ấy chẳng để ý đâu. Bà ấy chỉ ghét ở một mình. Thêm hay bớt hai người nào có khác gì.

- Hay. Chúng ta sẽ đến một nơi và khiêu vũ. Lâu lắm rồi tôi chưa tình nguyện khiêu vũ. Đấy là một lời khen, tôi mong cô hiểu. Tôi không biết mình không sẵn sàng khiêu vũ từ bao giờ nữa. Tất nhiên là tôi nhảy điệu Turkey Trot. Chắc cô biết nhảy điệu ấy?

- Ừm. Cả Bunny Hug. Maxixe. Can-Can. Mà này, Can-Can là cái quái gì ấy nhỉ? Nó có đáng làm họ kích động hay làm ra vẻ kích động thế không?

- Nghe này, cô Wandrous xinh đẹp, tôi chưa già đến mức không nhớ nổi điệu nhảy Can-Can. Can-Can rất được hâm mộ trong vòng một thế kỷ, nhưng tôi thì không. Tôi chẳng được ưa chuộng gì trong thế kỷ này.

- Tôi không tin thế. Chí ít thì tôi không tin vào những điều nghe được bây giờ, rằng trong đời đã có lúc ông không được ưa chuộng.

- Có nhiều khi tôi không được ưa chứ, và tôi bắt đầu nghĩ bây giờ là một trong những lúc ấy.

Họ đã đến nhiều quán rượu lậu, nhất là các quán kiểu mới, vì đây là khởi đầu của một thời kỳ phức tạp. Từ những loại rượu tồi trá hình trong những tách uống cà phê, các quán bán rượu lậu đã tiến tới là những ngôi nhà trên toàn thành phố, có người hầu mặc đồng phục, các cô gái bán thuốc lá, một dàn nhạc dây và một nhóm bốn hoặc năm vũ công da đen, đồ nguội khai vị miễn phí, có tới bốn hoặc năm bồi rượu, có chìa khóa mạ bạc và quà kỷ niệm cho các khách hàng lui tới thường xuyên, có những cuộc giải trí đắt tiền, bếp trưởng cao cấp, những bản thông cáo được chạm khắc tinh tế, hệ thống thanh toán và cơ chế kinh doanh phức tạp, tất cả đều rất hoàn hảo, và vì cạnh tranh nên phải có bình phong cần thiết cho công cuộc kinh doanh mang lại lợi nhuận vô cùng to lớn này - những đài phát thanh có quyền lực lớn, những xuồng máy cao tốc, và nhiều mánh khóe khác như các tàu thủy “Q” của Anh, vũ khí cực mạnh chống kẻ cướp, những mối quan hệ đầy quyền lực ở đúng nơi đúng chỗ. Các loại rượu và vang phải hết sức ngon, đúng thị hiếu trưng ra với những người sành rượu và mê rượu.

Khi tất cả đã say xỉn, ghép thành nhiều đôi và bỏ rơi họ, Gloria và Liggett về nhà ông như một nơi cuối cùng để đến. Ông băn khoăn mãi làm thế nào gợi ý đến một khách sạn. Ông nghĩ mãi mà không ra. Ở nơi cuối cùng họ đến, họ gọi taxi. Liggett nói địa chỉ nhà ông và như thế thật dễ dàng. Khi nghe địa chỉ, Gloria đoán nơi cô sắp đến chẳng phải là tổ ấm tình yêu và khi nhìn thấy căn hộ, cô mới biết là không phải.

❀ ❀ ❀

[1] Jack Dempsey (1895-1983): võ sĩ quyền Anh nhà nghề nổi tiếng của Mỹ.

[2] The Coast: bờ biển Bắc Mỹ ven Thái Bình Dương.

[3] Albretch von Wallenstein (1583-1634): tướng Bohemian, lãnh đạo quân đội Hoàng gia tại Đan Mạch và Thụy Điển trong cuộc Chiến tranh Ba mươi năm.

[4] Tên con tàu chở những tín đồ Thanh giáo Anh đến Mỹ năm 1620 và thành lập khu kiều dân Plymouth bang Massachusetts.

[5] Charles Lindbergh (1902-1974): phi công, kỹ sư Mỹ từng đoạt giải Pulitzer, là người đầu tiên một mình lái máy bay vượt Đại Tây Dương không nghỉ.

[6] F. Scott Fitzgerald (1896-1940): nhà văn nổi tiếng của Mỹ, tác giả cuốn tiểu thuyết Gasby vĩ đại.

[7] Rollin Kirby (1875-192): họa sĩ chuyên vẽ biếm họa, nhà văn hài hước Mỹ, được giải Pulitzer các năm 1921, 1924 và 1928.

[8] Gwendolyn Brooks (1917-2000): nhà thơ Mỹ, là người Mỹ da đen đầu tiên nhận giải thưởng Pulitzer.

[9] Herbert Johnson F.: chủ tịch công ty Johnson Wax ở Racine, Winsamsin.

[10] Hội nữ sinh viên thành lập năm 1867 tại đại học Monmouth, bang Illinois.

[11] Hội Thanh niên Cơ đốc

[12] Quốc ca Mỹ.

[13] Arturo Toscanini (1867-1957): nhạc trưởng nổi tiếng của Ý, sự nghiệp của ông kéo dài gần 70 năm.

[14] Một loại thức uống pha bằng rượu rum, chanh hoặc nước chanh, đường, nước hoặc sôđa, đôi khi thêm bia đắng.

[15] Một loại thức uống làm bằng rượu bourbon pha đường rót lên đá bào, thêm hương liệu hoặc bạc hà.

[16] Một loại cocktail gồm rượu gin, chanh hoặc nước chanh, sôđa và đường.

[17] Một loại cocktail gồm rượu gin hoặc vodka pha sôđa, chanh hoặc nước chanh và đường.

[18] Whisky pha sô đa.

[19] Món tráng miệng của Ý, làm từ lòng đỏ trứng, đường, rượu vang Marsala đánh trong nước nóng cho đến lúc nhạt màu và sủi bọt. Món này ăn với bánh quy xốp.

Người dịch: Đinh Thị Thanh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.