Áo Khoác Lông Chồn

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Chàng trai ra khỏi giường và vào căn bếp nhỏ, bấm nút trên tường mở cửa trước. Anh mặc đồ lót liền mảnh, không được tươi tỉnh như hôm trước. Anh gãi đầu và ngáp trong lúc đứng cạnh cửa, đợi cho đến khi có ai đó bấm chuông. Chuông reo, anh hé cửa.

- À. - anh nói và mở cửa hết cỡ.

- Chào anh yêu, xem em mang gì đến cho anh này. - Gloria giơ một cái chai gói cẩn thận.

- Ồ. - anh nói, lại ngáp. - Cảm ơn em. - anh trở lại giường và nằm sấp. - Anh chẳng muốn gì hết.

- Dậy đi. Một sáng mùa xuân đẹp thế này. - Gloria nói. - Em không ngờ anh chỉ có một mình.

- Hừm, anh đang một mình. Anh chẳng có sôđa đâu. Em phải uống rượu không pha, hoặc uống nước lã. Anh chẳng muốn gì hết.

- Sao thế?

- Anh say.

- Vì cái gì?

- Ồ, anh chẳng biết. Nghe này Gloria, anh như chết rồi. Em không phiền nếu anh đi ngủ một lúc chứ?

- Chắc chắn là có. Pyjama của anh đâu? Anh mặc đồ lót đi ngủ à?

- Anh chẳng còn bộ nào. Anh có hai bộ, cả hai đem giặt rồi. Mà anh cũng chẳng rõ giặt ở hiệu nào.

- Hai chục đôla đây. Ngày mai anh mua vài bộ, hoặc tìm ra hiệu giặt và trả cho họ.

- Anh còn ít tiền.

- Bao nhiêu?

- Anh không biết.

- Thôi, cứ cầm lấy. Anh sẽ cần đấy. Mà em không tin anh còn tiền.

- Sao bỗng nhiên em giàu thế? Chiếc áo choàng này mới ư?

- Vâng. Mới toanh. Anh không bảo em cởi ra à? Hiếu khách thế!

- Giời ạ, em cứ cởi ra nếu muốn. Cứ cởi ra nếu muốn.

- Nhìn này. - cô nói, vì anh ta lại nhắm tịt mắt. Cô mở phanh áo choàng.

Anh ta đột nhiên mang vẻ mặt của người bị đánh mà không thể đánh trả lại.

- Ra thế. - anh ta nói. - Em đã ăn cắp chiếc áo.

- Hắn xé rách áo em, chiếc áo dạ hội mới của em. Em phải có gì để mặc vào ban ngày chứ. Em chỉ mặc áo dạ hội, mà không thể ăn mặc như thế ra ngoài được.

- Anh cho là anh sẽ uống một cốc.

- Tốt.

- Thằng cha ấy là ai?

- Anh không biết hắn đâu.

- Sao em biết anh không biết hắn? Của nợ, sao em không nói phắt ra hắn là ai có phải đỡ mất thời gian không? Em lúc nào cũng thế. Anh hỏi em, em nói anh không biết, hoặc em nói loanh quanh, vòng vo cả tiếng đồng hồ làm anh muốn phát rồ rồi mới kể cho anh nghe. Nếu em nói ngay từ đầu có phải hơn không.

- Thôi được, em sẽ nói đây.

- Nào, tiến lên và kể cho anh nghe!

- Tên hắn là Weston Liggett.

- Liggett? Liggett. Weston Liggett. Anh biết hắn.

- Anh không biết. Sao anh lại biết hắn?

- Anh không quen hắn, nhưng biết hắn là ai. Hắn là tay đua thuyền buồm và từng là một vận động viên Yale có hạng. Rất dễ gần. À, đã có vợ. Anh đã nhìn thấy tên vợ hắn. Chuyện ra sao? Em đã đến đâu?

- Nhà hắn.

- Nhà hắn? Thế vợ hắn, bà ta có thích các cô gái không? - lúc này anh ta tỉnh hẳn. - Bà ta cho em chiếc áo này? Em đến đó và có được nó?

- Em nghĩ anh đang giả vờ.

- Em tưởng anh giả vờ ư. Thì đúng là thế. Mọi chuyện lại bắt đầu, rồi lại chấm dứt. Vì thế em mới đến đây, vì em tưởng anh có ai đó. Em có biết em nên đến đâu không? Em nên đến nhà thương điên. Họ đưa những người chỉ làm một phần mười những việc em làm vào nhà thương điên. Này, cầm lấy những đồng tiền bẩn thỉu và chai whisky khốn kiếp của em rồi xéo ra khỏi đây.

Cô không nhúc nhích. Cô ngồi đó, trông như một người đang mệt mỏi vì phải đợi tàu. Hầu như cô không nghe anh nói. Tâm trạng này trái ngược với sức sống tràn trề một phút trước đây của cô, chắc chắn là cô đã nghe thấy những lời anh nói và chúng làm tâm tính cô biến đổi hẳn.

- Anh xin lỗi. - anh ta nói. - Anh rất xin lỗi, Gloria. Thà anh cắt cổ còn hơn nói thế. Em tin anh chứ? Hãy tin anh, nhé? Hãy tin rằng anh nói thế chỉ vì…

- Vì anh tin thế. - cô nói. - Không. Bà Liggett không phải là dân đồng tính, nếu anh muốn biết. Em đến căn hộ của họ với chồng bà ta và ngủ với ông ấy. Em lấy cắp chiếc áo choàng vì hắn xé rách áo em. Hắn gần như cưỡng hiếp em. Hừ. Anh cho chuyện ấy là buồn cười, nhưng đấy là sự thực. Nhiều người không hiểu em như anh đâu, anh thừa biết thế. Giờ thì em đi đây.

Eddie đứng dậy và chặn ở cửa.

- Thôi đi. - cô nói. - Chúng ta đừng vật lộn nhau nữa.

- Ngồi xuống, Gloria. Em cứ ngồi xuống đã.

- Vô ích thôi Eddie, em quyết rồi. Em không thể coi anh là bạn vì anh mắng nhiếc em lúc em tin cậy kể chuyện cho anh nghe. Em tâm sự với anh nhiều hơn với bất cứ ai khác, kể cả bác sĩ tâm lý của em. Nhưng ít ra ông ta còn có đạo đức nghề nghiệp. Ít ra ông ta không nổi khùng và rủa sả em. Em tin anh như một người bạn, vậy mà…

- Em có thể tin anh. Đừng đi. Vả lại, em không thể đi như thế này. Hãy nghe anh, ngồi xuống đã, em yêu. - anh cầm tay cô, và cô để anh dẫn đến ghế. - Anh sẽ gọi điện cho một cô gái anh quen, tối qua anh vừa đi ăn với cô ấy, bảo cô ấy mang ít quần áo lại đây. Cô ấy có tầm vóc như em.

- Cô ta là ai?

- Em không biết đâu. Tên cô ấy là Norma Day. Cô ấy học ở đại học New York. Rất xinh. Anh sẽ gọi và cô ấy đến ngay bây giờ. Đằng nào anh cũng có hẹn với cô ấy mà. Được không?

- Được. - Gloria hài lòng và tươi tỉnh hẳn lên. -Em đi tắm một cái. Được chứ?

- Nhất định rồi.

- Thế nhé. - cô nói. - Anh ngủ đi.

•••

Weston Liggett bước ra sân ga đến chỗ bắt đầu một dãy ôtô đỗ, và lúc đến đầu dãy, ông nghe thấy sáu, bảy tiếng còi. Một chiếc Ford - loại vừa chở khách vừa chở hàng - chạy tới. Cô gái lái xe trẻ măng, hai cô khác trạc tuổi cô cùng ngồi trong cabin. Liggett bỏ mũ ra vẫy.

- Chào các cô gái xinh đẹp! - ông ta nói. Ông đứng cạnh cửa xe bên phải. Cô gái lái xe nói với ông:

- Bố ơi, đây là Julie Rand. Đây là bố mình.

- Chào cô. - ông nói với cô gái lạ mặt, rồi với cô ngồi giữa. - Chào Frances.

- Chào Liggett yêu quý. - Frances nói.

- Bar đâu? - ông nói.

- Nó lái xe đưa mẹ đến câu lạc bộ. Chúng ta sẽ đến đấy ăn trưa. Bố lên xe đi kẻo muộn mất.

- Không muộn đâu. Mẹ biết bố đi chuyến tàu này.

- Đằng nào chúng ta cũng muộn. - Ruth Liggett nói. -Luôn luôn muộn. Y như quý ông Jimmy Walker[1] vậy.

- Ô hô hô. - cô Rand cười phá.

- Cửa kia đóng chưa, bố? - Ruth nói.

- Bố nghĩ là rồi. Rồi. - ông nói.

- Nó vẫn lách cách. Chúng ta nên xoay chuyển việc này trong lúc có thể vớ bẫm gì đó.

- A ha ha. Chúng ta sẽ xoay chuyển và bán nhà. Thế có hợp ý con không? - ông nói.

- Ồ. Lúc nào cũng nói đến chuyện chúng ta khánh kiệt ra sao. Mà lại ngay trước mặt người lạ.

- Ai là người lạ? À, cô Rand. Cô ấy không hẳn là người lạ kia mà? Cô có phải là con gái ông Henry Rand không?

- Không, cháu là cháu ông ấy. Bố cháu là David Rand. Song cháu đang đến thăm bác Henry và bác gái Bess.

- Ờ, vậy cháu không phải là người lạ rồi. Cháu thích chiếc ôtô này không?

- Không gọi là ôtô, bố ơi. - Ruth nói.

- Cháu rất thích. - cô Rand nói. - Cháu thấy nó rất đẹp.

- Chà, nói lảng cừ ghê! Cô ấy không thích đâu. Cô ấy không muốn đi xe này. Bố nên nhìn thấy Rand lúc đó. Ra khỏi nhà, cô ấy chỉ nhìn một cái và nói: “Đây là thứ bọn mình sắp đi ư?” Đúng không nào? Thú nhận đi.”

- Ờ, trước kia mình chưa bao giờ đi xe tải.

- Xe tải! - Ruth nói.

- Ở chỗ cháu không có loại xe vừa chở khách vừa chở hàng sao?

- Không. Bọn cháu chỉ đi các loại ôtô thông thường.

- Cô ấy từ… nơi ấy tên là gì nhỉ, Randy?

- Wilkes-Barre, PA[2].

- Một thành phố rất đẹp. - Liggett nói. - Tôi nhớ rất rõ. Ở gần Scranton. Tôi có những người bạn rất thân ở Scranton.

- Bác có quen ai ở Wilkes-Barre không? - cô Rand hỏi.

- Tôi cho là không, kìa… Ruth!

- Lẽ ra hắn ta phải đi đúng đường của mình chứ.

- Con đừng viện cớ thế. Bố nhắc con đừng liều khi có nhiều người khác trong xe.

- Ôi chào, hắn không đâm được con đâu.

- Đấy không phải việc con nghĩ. Chả trách chiếc xe này móp méo hết cả.

- Bố đừng đổ tại con. Con không lái nó nhiều đến thế đâu.

- Phải, bố công nhận con không phải chịu trách nhiệm về chiếc xe này, nhưng chiếc Chrysler thì có đấy. Khớp ly hợp không khỏe vì con chạy suôi. Chắn bùn thì cong queo.

- Có người đã làm cong một cái. Cái đằng sau bên trái ấy. Việc này xảy ra khi ai đó lái xe chứ không phải con.

- Thôi, không nói đến chuyện đó nữa.

- Lẽ tất nhiên là không. Con đúng. Chính vì thế chúng ta mới không nói nữa.

- Thế có công bằng không? Bố đổi đề tài khi bố sai ư, Ruth?

- Không, bố yêu quý. Như thế không công bằng. - cô giơ bàn tay ra phía sau. Ông hôn tay cô.

- Sao thế, bố!

Những người khác không nhìn thấy.

- Suỵt. - ông nói rồi im lặng cho đến lúc tới câu lạc bộ. - Đây rồi. Bố đi rửa mặt đã. Ba phút nữa gặp lại nhé.

Trong phòng thay đồ, ông bấm chuông gọi người phục vụ và dàn xếp đổi hai cái séc lấy tiền mặt. Câu lạc bộ quy định mỗi ngày chỉ được đổi không quá một séc hai lăm đôla ra tiền mặt, nhưng ông ghi hai ngày và người phục vụ, trước kia đã làm việc này nhiều lần, đổi cho ông năm chục đô. Sáu chục đô la để lại cho Gloria và các khoản khác chi cho cô làm ông chỉ còn lại ít tiền, và ông biết Emily sẽ thấy lạ khi ông tiêu nhiều thế trong có một đêm.

Ông gọi một cốc vại whisky pha sôđa và uống, thầm hỏi vì sao lại cảm thấy mềm lòng như thế với Emily, trong khi biết chắc mình chẳng sẵn sàng gặp bà chút nào. Lúc này ông càng chẳng muốn gặp bà. Ông phân vân vì đã hôn tay Ruth. Đã lâu rồi ông không hôn tay con, và chưa bao giờ ông làm nhiệt tình và tự nhiên đến thế. Trước kia, đây là một phần trò ông hay chơi với Ruth; cô đóng vai một cô gái được ve vãn, còn ông là một anh chàng nhà quê. Ông gặp cả nhóm trong quán thịt nướng.

Ông đến thẳng chỗ Emily và hôn lên má bà.

- Chà, có người cầm một cốc vại kìa. - bà nói.

- Người đó cần một cốc vại. - ông đáp. - Người đó thấy nôn nao và rất cần uống một cốc. Mọi người uống gì nào? Cocktail nhé?

- Không, cảm ơn. - Emily nói. - Em nghĩ bọn con gái không nên uống gì nếu chúng muốn chơi tennis. Chúng ta gọi món nhé?

- Thịt nướng. - Ruth nói. - Cậu thế nào, Randy? Thịt nướng nhé?

- Ừ.

- Tất cả chúng con đều muốn ăn thịt nướng. - Ruth nói. - Em cũng thích, phải không Frannie?

- Em thì không. - Barbara, con gái út nhà Liggett nói. - Chẳng đỏng đảnh gì đâu nhưng thịt nướng đúng là món em không muốn ăn. Julie, nếu chị không thích thì cứ nói. Chị cũng thế, Frannie. Mẹ có thích thịt nướng không?

- Không con ạ, mẹ thích sườn hơn. Liêu có phải đợi lâu không, Harry?

- Khoảng mươi phút, thưa bà Liggett. Các vị có thể dùng món súp khai vị, ăn hết súp sẽ có món sườn.

- Bố ăn thịt nướng nhé? - Ruth nói.

- Ừ. Cho bố cocktail cà chua trước, được không Ruth?

- Được chứ ạ. Vậy quyết định thế nào đây? Mấy suất sườn nào? Mẹ ăn sườn. Barbara, sườn. Randy, sườn. Bố, thịt nướng. Frannie, thịt nướng và con, thịt nướng. Anh nhớ chưa, Harry?

- Rồi, thưa cô Liggett. Còn món rau?

- Mang nhiều rau. - Ruth nói.

Suốt lúc Ruth chọn món, Liggett quan sát con và nghĩ đến Emily. Emily - lúc này ông không nhớ ra - vẫn còn nguyên khuôn miệng, cái mũi, cấu trúc xương và trong chừng mực nào đó, nước da đã từng tạo nên vẻ đẹp của bà. Nhưng hiện giờ Emily không còn đẹp nữa. Những gì Emily giữ lại được chỉ làm người ta tự hỏi chuyện gì đã khiến bà chỉ còn là một phụ nữ xoàng xĩnh có nét ưa nhìn. Lẽ đương nhiên cặp mắt có ảnh hưởng nhất. Giờ đây trông chúng giống mắt một người bị nhiều cơn đau đầu, dù việc đó chẳng xảy ra lần nào. Emily là người hết sức khỏe khoắn.

Ông quan sát đôi bàn tay bận bịu của bà: hết mở khăn ăn, sờ sẫm mà không thay đổi vị trí bộ đồ ăn bằng bạc, rồi chắp hai tay lại. Bà có thói quen ngắm nghía đôi bàn tay khi sử dụng. Ông băn khoăn và lần đầu tiên chú ý đến điều đó. Ông không thể nhớ đã lần nào nhìn thấy bà ngắm đôi tay khi để yên chưa, chắc lúc ấy bà có ý thức là chúng vô dụng. Bà ngắm nghía như thể kiểm tra khả năng và sự khéo léo của chúng. Đó chỉ là một phần khác trong cách sống của bà. Cuộc đời bà cũng y như thế.

Bà thường ngồi nhà, tay cầm quyển thơ và nhìn ra cửa sổ, mắt mơ màng. Ông nhìn lại bà lần nữa, rồi lần nữa, tự hỏi những ý nghĩ hay ho gì bắt nguồn từ những dòng thơ kia. Đột nhiên, bà nói một câu đại loại như:

- Anh nghĩ xem tối thứ Năm tới em có nên mời anh chị Hobsons không? Anh ưa chị ta phải không?

Liggett cho rằng có nhiều đức ông chồng giống như ông; ít nhất có hai hoặc ba người cùng trang lứa đã thổ lộ với ông rằng họ không hiểu vợ. Một vài người đã kết hôn chừng hai chục năm. Họ khá chung thủy nếu không nói là hoàn toàn chung thủy, chu cấp cho vợ con đầy đủ, là người cha tốt, làm việc chăm chỉ, cư xử chừng mực. Khoảng một năm sau cuộc suy thoái, khi thấy đó không phải là một sự kiện nho nhỏ sắp qua nữa, những người đàn ông này bắt đầu ngẫm nghĩ đến những thứ cuộc đời đem lại cho họ hoặc họ đã nhận được. Thường thì đàn ông loại này tính toán “Mình có vợ và hai đứa con…” rồi tiếp đến là các khoản “đầu tư” cho họ, tiền mặt, việc làm, nhà cửa, ôtô, du thuyền, ngựa, quần áo, đồ đạc, tài sản ủy thác, ống nhòm, quan hệ hội hè… Họ - những người đàn ông này - nhận ngay ra rằng, vào mùa xuân năm 1931, toàn bộ của nả sờ sờ chỉ còn một phần tư giá trị ban đầu, có khi còn ít hơn thế. Có nhiều trường hợp chẳng còn gì. Khi nạn suy thoái đạt tới đỉnh điểm, những người đàn ông ấy phải thừa nhận một thực tế là những thứ có thể mua bán trước kia từng rất giá trị thì nay chẳng đáng giá gì. Ít nhất là nó thể hiện ra như thế. Một số ít người còn phân vân liệu những thứ họ từng mua có giá trị đúng như số tiền đã bỏ ra không. Chà! Cũng bõ công suy nghĩ, đáng mua những cuốn sách đắt tiền, dày cộp để tìm hiểu xem ra sao. Một số anh chàng thích đùa, nhanh nhạy trên sàn chứng khoán đêm đêm về nhà lục tìm xem John Stuart Mill[3] viết gì, xem John Stuart Mill là thằng cha nào.

Trong số bạn bè của Liggett, có những người đàn ông bắt đầu kiểm kê “mình có một vợ và hai con”, cùng bản danh sách những của cải vật chất dành cho họ, rồi trở lại mục đầu tiên: vợ. Lúc đó họ khám phá ra rằng, họ không thể chắc chắn là đã có vợ. Tỷ lệ “tử vong” các cuộc hôn nhân trong tầng lớp của Liggett gần đạt đến 100%, nhưng trước cuộc đại suy thoái chẳng có lý gì để phát hiện ra việc này; hầu hết đều tin rằng họ làm việc vì hạnh phúc của vợ con cũng như sự thăng tiến của mình, nhưng đàn bà nhàn rỗi thường lười biếng, dù ông chồng làm ăn buôn bán kiếm ra hàng triệu hay đang cố giữ những công việc chỉ mang lại bốn chục đôla mỗi tuần. Năm 1930, bạn nhìn thấy những người đàn ông như Liggett trên phố Long Island và Westchester, đội mũ, mặc áo gió, đi giày thể thao; Chủ nhật tản bộ với vợ, cố sức hiểu vợ vì tin rằng vợ là thứ họ có thể trông mong. Lẽ tất nhiên họ chẳng có chủ ý xúc phạm trong thái độ cư xử, và các bà vợ cũng chẳng nghĩ là bị xúc phạm nên mọi sự vẫn suôn sẻ. Vợ thì biết chồng hay đưa mình đi xem đá bóng, đến rạp hát; chồng thanh toán các hóa đơn chọ vợ, mua quà Giáng sinh cho vợ, rộng rãi với những mối quan hệ xấu của vợ, không can thiệp vào việc giáo dục và nuôi dưỡng các con. Đôi khi, người vợ còn chẳng để ý vì sao chồng mình lại khác thường hơn, cố gần gũi hơn. Chị ta biết có một cuộc suy thoái; chị đã đọc trên báo về những người vợ can đảm kề vai sát cánh với chồng; chị đọc các bài thuyết giảng trên báo số ra thứ Hai, trong đó các giáo sĩ dạy các con chiên (và đám đông, lúc nào cũng là đám đông) rằng cuộc suy thoái là một việc tốt đẹp vì nó đưa vợ và chồng xích lại gần nhau.

Liggett không phải là một người chồng như thế; Emily càng không phải là người vợ như thế. Trước hết, Liggett là dân Pittsburgh, còn Emily là dân Boston. Chỉ riêng điều ấy cũng đủ quan trọng lắm rồi. Nếu không cưới được Emily, Liggett sẽ chỉ là người để Emily rẻ rúng. Hình như suốt đời, Emily đã dồn nén sự khinh rẻ, và chắc phải giãi bày với một người thuộc tầng lớp thượng lưu Mỹ, vì không một người nước ngoài hoặc người Mỹ thuộc tầng lớp dưới có thể hiểu được rằng, bà cảm thấy mình có quyền được biểu lộ sự khinh miệt. Những thứ Emily có là tính thống trị của thực dân, là sự gắn bó trọn vẹn với những anh chàng Harvard siêng năng và những người đàn bà của họ. Lẽ tất nhiên Câu lạc bộ Winsor-Vincent kết nối trực tiếp bà với những người xuất thân cùng giới. Bà có quan hệ với một vài gia đình ở New York và họ thành một quần thể bất khả xâm phạm; họ không bao giờ lỗi thời. Liggett sửng sốt vì phải mất một thời gian dài sau khi cưới Emily, ông mới hiểu rằng bà chưa bao giờ ghé vào khách sạn nào ở New York. Bà giải thích lý do duy nhất để đến New York là thăm họ hàng, và bà ở nhà họ chứ không đến khách sạn. Ông đồng ý, và đúng là như thế, ông chẳng bao giờ kể với bà những chuyện nghịch ngợm từ thuở còn bé tại các khách sạn New York: lần ông thả một cuộn giấy vệ sinh xuống đại lộ Năm, lần ông men theo gờ cửa sổ này đến cửa sổ khác. Ông cảm thấy sờ sợ bà.

Nhưng Emily thà lấy Liggett còn hơn lấy một anh chàng Boston. Anh ta giàu có và điển trai, là một vận động viên đích thực của trường Yale. Những phẩm chất ấy đủ giải thích sự hấp dẫn của anh ta với cô. Nhưng Liggett còn hơn thế. Emily hào phóng, khỏe mạnh, sôi nổi, cô muốn có anh ngay từ lần gặp đầu tiên. Hồi mới giao du với Emily, Liggett sợ dáng vẻ và giọng nói của cô (anh không bao giờ khắc phục được giọng nói, chỉ quen dần với cung cách). Emily không xinh đẹp như nhiều cô gái khác anh quen, nhưng anh không quen và không gần gũi người nào khác ngoài cô. Họ gặp nhau trong bữa tiệc của cô tiểu thư giàu có bước vào giới thượng lưu, một trong những cuộc viếng thăm New York hiếm hoi của cô - lần cuối cùng của anh trước khi bắt đầu đợt tập huấn. Ngày hôm sau, Liggett hẹn Emily đi uống trà nhưng phải hủy và họ bắt đầu thư từ qua lại. Liggett thường xuyên viết thư vì anh phải tiếp tục học, đồng thời tập huấn chèo thuyền; còn Emily theo một lịch trình chặt chẽ: mỗi tuần không bao giờ trả lời quá một bức thư, và hai ngày sau khi nhận được thư mới trả lời. Vì Emily, Liggett quyết học trường Kinh doanh Harvard. Việc này làm bố anh rất hài lòng. Ông bèn thưởng cho anh một chiếc Ford bốn chỗ và bất cứ thứ gì anh đòi. Có một thứ anh không thể xin, đó là tấm thân trắng nõn nà của Emily. Một đêm đông ở Boston, Emily đã hiến thân cho anh không hề đòi hỏi. Sau khi chờ đợi ba tuần khốn khổ xem có xảy ra sự gì không, họ quyết định đính hôn.

Emily thà lấy Liggett còn hơn lấy một anh chàng Boston, vì Liggett chẳng bao giờ coi sự đam mê của cô là chuyện đương nhiên. Một người đàn ông Boston có thể nghĩ như thế, hoặc nhìn ngó quanh quất để tìm người hơn hoặc tương tự. Liggett không hề coi là chuyện dĩ nhiên. Có nhiều cách nói tế nhị về việc ngủ với nhau. Khi nói bằng sắc thái của đại lộ Commonwealth, không một người đàn ông nào sinh trưởng ở tả ngạn sông Connecticut có thể không chủ ý. Khi một người đàn ông lắng nghe những lời ấy, khi anh ta truyền đạt cho người phụ nữ hoặc đề nghị cô ấy nói lên, anh ta không tiếp nhận tất cả ngay lập tức. Anh ta còn muốn nhiều hơn nữa.

Sự thể là như thế, và đó là điều bí mật. Những khoảnh khắc gần gũi của họ là của riêng họ, đến mức Liggett chưa một lần nói đến việc Emily mang thai đứa con đầu lòng của họ với bất cứ ai, kể cả với em gái mình. Họ nhất trí đấy là chuyên vặt; đích thân Emily nói chuyện này với em gái Liggett. Nhưng đấy chỉ là một phần trong cách ông cảm nhận Emily. Trong suy nghĩ của Liggett, bất cứ việc gì liên quan đến cuộc sống tình dục của họ không phải chuyên đem ra bàn với người thứ ba.

Ở mức độ nào đó, mọi việc khác trong quan hệ của họ là vừa phải. Trong lúc bốc đồng, Liggett luôn muốn nói về Emily, nhưng ông đã đi một bước quan trọng vượt lên trên sự thô thiển: ông thầm nhận ra sự cám dỗ của mình là thông tục. Một tài sản có giá trị đến đâu cũng có thể có một hiệu quả xấu. Khi cần, một người đàn ông có thể nói về vợ mình với người thứ ba, hoặc nam hoặc nữ. Vì không thể bàn về Emily với một người đàn ông, ông bèn đến nơi có thể nói với một người phụ nữ. Phải nói với một người biết Emily, một người gần gũi với bà. Ông nhìn quanh ngó quẩn và lần đầu tiên nhận ra rằng trong từng ấy năm sống ở New York - bảy năm, kể từ 1920 - Emily không có lấy một người bạn thân. Bạn thân nhất của bà là Martha Harvey, người Boston. Martha đã ly dị chồng. Bà lấy một triệu phú trẻ dốt nát, lúc nào cũng say khướt, thấp hơn bà gần chục centimét và chưa bao giờ nói nổi một từ bất lịch sự hoặc vô lễ với bất cứ ai trên đời. Martha lớn lên cùng Emily, họ gặp nhau thường xuyên, nhưng Liggett thấy không thể đến gặp bà để bàn luận về Emily. Martha cùng một giuộc với Emily mà thôi.

Song, thời điểm thật cấp bách. Tiền của gia đình Emily đổ phần lớn vào nhà máy sợi. Cha Emily, một bác sĩ, là người vui tính, không giàu óc tưởng tượng cho lắm. Ông học y vào cái thời các nhà phẫu thuật còn nói là “mủ đáng ca ngợi”. (Ông chưa bao giờ hết ngạc nhiên khi biết rằng Walter Reed[4] đã đúng). Trên thực tế, sự hiện diện của ông trong ngành y được giải thích là do ông ham mổ cho mèo. Đây là hoạt động trí não duy nhất ông thích thú, vì thế cha mẹ ông hướng ông vào ngành y. Một hướng đạo sinh được khen ngợi như cha của Emily sẽ có ích trong lúc cấp cứu, nhưng rất ít bạn bè đến với ông vì cảm lạnh hoặc đau họng để ông có dịp rèn luyện tay nghề. Nghề nghiệp chỉ là cái cớ để ông bỏ bê trách nhiệm tài chính, nhưng cứ một, hai năm ông lại nảy ra một ý tưởng, và lần này là bán tống bán tháo cổ phiếu nhà máy sợi rồi ném tiền mặt vào một chỗ nào đấy rất mơ hồ. Lần này chỗ mơ hồ ấy là đồng mác Đức. Ông chỉ biết chúng là thứ có giá trị, vì từ thời thanh niên ông đã đến Đức du lịch. Ông thấy ý tưởng ấy thật thú vị, và tài sản của ông sẽ sớm tăng lên gấp đôi. Ông sẽ có một lâu đài bên bờ sông Rhine, nơi hồi ấy người ta bảo có thể thuê nó với đầy đủ người giúp việc và mọi trang thiết bị với giá 100 đôla một tháng.

Liggett chẳng quan tâm đến việc ông già tiêu bao nhiêu tiền vào ý tưởng to lớn ấy, nhưng thấy ông đã dùng số tiền ấy rất dại dột. Làm bác sĩ chẳng kiếm đủ ăn, nhưng ông được thừa kế. Với Liggett, thừa kế là một loại lòng tin mà vị bác sĩ không có quyền vi phạm. Chí ít thì không có quyền lãng phí. Nếu vị bác sĩ hết năm này đến năm khác đừng ra vẻ có trách nhiệm thường xuyên trong việc tiền nong, thì ông lão cũng không liều lĩnh phung phí tất cả tiền của chỉ vì một linh cảm ngu xuẩn. Năm ấy bông được giá và trong lúc còn đang bàn thảo thì đau đớn thay, cổ phiếu trên thị trường sụt giảm, ít ra Liggett đã thấy có dịp cho thị trường mua cổ phiếu của vị bác sĩ mà không gặp phản ứng mạnh mẽ. Không, Liggett không thể chê bai nặng lời quyết định bán của ông già (thực ra, còn hơn là lúc giá chạm đáy mới bán). Nhưng đồng mác Đức, chao ôi!

Liggett những mong Emily có một người anh trai, hoặc một người em gái như nhiều người khác. Nhưng em gái của Emily là người hoàn toàn xa lạ, còn anh trai thì bà không có. Tiếp sau là một người bạn - Martha. Ông bỏ dự định nói với Martha khi tên bà ta gợi lên hình ảnh của bà. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, Liggett thấy cần phải nói về tình trạng này với ai đó. Hè năm ấy, Emily và hai đứa con gái ở Hyannisport, còn Liggett không muốn nói với Emily là ông không thể làm được gì. Bà nuôi dạy con cái rất nghiêm khắc và nói về người cha sẽ làm bà lo lắng.

Khi ông gọi điện, Martha sắp sửa đi ăn tối một mình; bà không ngạc nhiên hay tò mò khi ông gọi điện mời cơm. Bà đồng ý. Ông hỏi bà có thích uống rượu không, bà đáp là có, rất thích, và ông nói sẽ mang theo một chai gin. Ông tạt vào một cửa hàng trên đại lộ Lexington, mua chai gin sáu đôla, uống một cốc với ông chủ Matt, rồi lên taxi - một trong những loại Yellow nhỏ, thấp do Philadelphia sản xuất vào thời ấy, trông chẳng Mỹ tí nào.

Martha sống ở Murray Hill giữa Park và Madison, trong một căn hộ có thang máy. Họ uống cocktail hoa cam mà Liggett rất ưa. Martha hỏi thăm Emily một lần, chỉ một lần thôi. Bà nói:

- Emily sao rồi? Chị ấy đang ở Hyannisport phải không?

Ông nói Emily khỏe, và suýt tự trách mình đã nói thế, dù Martha biết hay không, thì Emily cũng không khỏe tí nào. Sau đó, khi thấy Martha không đả động gì đến Emily, ông nhận thấy mối nguy thực sự khi nói về Emily, người có tất cả những gì Martha có - sự tự tin, đĩnh dạc mà với nó Martha đã nhận lời ông mời ăn tối vì cô là chính cô, không chỉ đơn thuần là một người bạn đáng tin cậy của vợ ông - có thể tâm sự với cô ấy đấy. Nhưng đồng thời những điều ông muốn thổ lộ cứ tàn dần. Ông bắt đầu thấy vui vì được bầu bạn với Martha.

- Cô đói không? - ông hỏi.

- Không đói lắm. Chúng ta đợi thêm chút nữa. Khoảng chín giờ trời sẽ mát mẻ, nếu anh không có việc gì vội.

- Ồ không, tôi không vội gì đâu.

- Chúng ta uống cocktail nữa nhé? Anh biết không, tôi thích uống rượu. Kỳ thật, trước khi lấy Tommy tôi chưa bao giờ biết gì về chuyện rượu chè, còn anh ấy hay ép tôi uống kỳ say, nhưng thế là không tốt. Tôi không thích bị người khác chuốc say. Nếu muốn, tự tôi uống đến say. Tôi sẽ làm như thế.

Ông cầm cái bình pha rượu xuống bếp, làm mấy ly cocktail rất nặng, không chủ tâm hoàn toàn nhưng cũng không hoàn toàn ngẫu nhiên, vì điều bà vừa nói nhắc ông đến một thực tế về cơ thể và sinh học, dù-ông-muốn-gọi-nó-là-cái-quái-gì-đi-nữa, rằng: Martha đã từng có chồng, vì thế đã từng ngủ với một người đàn ông. Vào lúc này, điều đó không có nghĩa gì hơn với ông. Chỉ lạ là không hiểu vì sao ông không nghĩ bà như một phụ nữ có cuộc sống riêng tư. Hầu như ông luôn nghĩ Martha là người ông biết khá rõ, là một người bạn tốt, một người bạn không biết đến tình dục của Emily.

- Hôm nay ở Paris là Ngày Bastille. - ông nói khi mang cocktail trở lại. (Đây cũng là ngày tuyên án Sacco và Vanzetti[5]).

- Thế đấy. Tôi hy vọng sang năm sẽ có mặt ở đó trong Ngày Bastille.

- Thực thế ư?

- Tôi nghĩ thế. Hè này tôi không thể đến Cape được vì Tommy mà biết tôi ở đâu là réo điện thoại suốt ngày.

- Không có cách nào ngăn chuyện đó ư? - ông hỏi.

- À, tôi nghĩ là có. Con người hay nghĩ ra nhiều thứ giống y như cảnh sát vậy. Nhưng sao lại làm thế kia chứ? Hình như người ta không nhớ là tôi thích Tommy.

- Thế ư?

- Rất thích. Tôi không yêu anh ta, nhưng thích anh ta.

- Chà, tôi không biết thế đấy.

- Tất nhiên là anh không ngờ.

- Thật đấy mà. Tôi nghĩ đây là lần đầu tiên cô và tôi thực sự trò chuyện với nhau.

- Đúng thế.

Martha vắt một cánh tay lên lưng ghế sofa. Bà bỏ điếu thuốc xuống và dụi vào cái gạt tàn, rồi cầm ly cocktail lên. Bà tránh mắt ông khi nâng ly:

- Nói thực, tôi chưa bao giờ nghĩ cả hai chúng ta lại thích ngồi nói chuyện và uống cocktail với nhau như thế này.

- Vì sao?

- Anh có muốn biết sự thực không? - bà nói.

- Tất nhiên là có.

- Vậy thì được. Thực ra tôi chưa bao giờ ưa anh.

- Cô không ưa?

- Không. - bà nói. - Nhưng lúc này thì có.

Tại sao? Tại sao? Tại sao? Ông muốn hỏi. Tại sao? Tại sao lúc này em lại ưa tôi? Tôi thích em. Sao tôi thích em đến thế!

- Nhưng lúc này cô ưa tôi! - ông nhắc lại.

- Phải. Anh không muốn biết vì sao bây giờ tôi lại thích anh, sau một thời gian dài không ưa anh à?

- Lẽ tất nhiên là muốn chứ, nếu cô muốn nói và nếu không thấy tôi hỏi vô duyên.

- Lại đây. - bà nói. Ông ngồi cạnh bà trên sofa và cầm lấy tay bà. - Em thích mùi của anh.

- Vì thế mà bây giờ em thích tôi, còn trước kia thì không?

- Mặc xác cái trước kia! - bà đặt tay lên má ông. - Đợi một chút. - bà nói. - Đừng đứng dậy. Để em làm cho. - bà bước đến một trong hai cửa sổ lớn và kéo mành xuống. - Trên phố có người đấy.

Ông đã có bà, mặc nguyên quần áo. Từ lúc đó trở đi, ông không bao giờ yêu Emily được nữa.

- Anh muốn ở lại đây đêm nay không? - bà nói. - Nếu chúng ta ở với nhau suốt đêm mà em có thai cũng chẳng hại gì. Anh muốn ở lại không?

- Có, có chứ.

- Tuyệt. Em sẽ gọi cho người hầu, bảo cô ta sáng mai đừng đến sớm. Anh sẽ ra khỏi đây trước mười giờ, em định nói là sáng mai, được không?

Hè năm ấy, họ có một cuộc tình đắm say, dữ dội. Họ ăn tối tại các nhà hàng Pháp nho nhỏ, uống loại whisky dở tệ bằng tách cà phê nho nhỏ. Tháng Chín, Martha đi xa bằng thuyền buồm, và đêm trước khi ra khơi, bà bảo ông:

- Bây giờ nếu chết em cũng chẳng cần, còn anh?

- Không. Với lại, anh muốn sống. - ông đã tính toán suốt mùa hè trên giấy nháp, những thu xếp tài chính để ly dị Emily. - Anh nhắc lại nhé, lấy anh đi.

- Không, anh yêu ạ. Chúng ta không phải một cặp hay ho gì đâu. Nhất là em. Nhưng em hiểu rằng trong phần đời còn lại của chúng ta, bất cứ khi nào gặp nhau, nếu em nhìn vào mắt anh và anh nhìn vào mắt em vẫn thấy thứ hiện giờ chúng ta nhìn thấy, vậy không gì có thể ngăn chúng ta được, phải không?

- Không. Không gì hết.

Hai năm sau, ông gặp lại bà ở Paris. Trong khoảng thời gian chờ đợi, ông đã gặp và ăn nằm với mươi người đàn bà khác, còn Martha hú hí với một tài xế taxi người Bạch Nga. Khi mắt họ gặp nhau, họ nhận ra một điều chắc chắn rằng họ chẳng nhớ nhung gì nhau, nói gì đến yêu đương.

Những lúc ông ở lại thành phố, nếu có người bạn tốt bụng nào nói với Emily, bà chẳng bao giờ tỏ ra có gì khác thường. Ông làm việc này khá kín đáo, tránh né những kẻ dòm ngó. Trong số những người đàn bà ông dan díu, có một phụ nữ Anh thuộc tầng lớp quý tộc phá sản đổ bệnh lậu cho ông, hoặc như người ta gọi tránh đi là loét dạ dày. Ông giãi bày với Emily là ngoài loét dạ dày, ông còn bị thoát vị ruột; bà chấp nhận tuy chẳng hiểu rõ thoát vị ruột là gì, nhưng biết không phải là đề tài nhắc đến trong câu chuyện bên bàn ăn. Bà thờ ơ đến mức ông có thể để những đồ dùng chữa bệnh ngay ở nhà.

Còn bác sĩ Winchester không mua đồng mác nữa. Một người môi giới chứng khoán thật thà đã can ngăn ông.

•••

Liggett chăm chú nhìn vợ.

- Tối nay hay sáng mai mình vào thành phố?

- Đến sáng thứ Ba kia. Ngày mai các con nghỉ học.

- Sao vậy?

- Có một đứa bị bệnh bạch hầu, người ta đang phun thuốc khử trùng ở trường. - Ruth nói. - Bố muốn ra ngoài sao?

- Đúng thế. Bố muốn đi chơi thuyền buồm một chuyến ra trò. Nhưng tối nay bố phải về thành phố, nên con, Bar, Frannie và cô Rand mang bút vẽ đi, ngày mai làm việc nhé?

- Xin lỗi bố, con chết vì cười đây. - Ruth nói.

- Con sẽ đi nếu những người khác đi. - Barbara nói.

- Bố sẽ an toàn và bố thừa biết thế mà. - Ruth nói.

- Này các con… - Emily nói.

•••

- Chúng mình không đến Plaza à? - Isabel Stannard nói.

- Không. Anh mất hứng rồi. - Jimmy nói.

- Gì kia?

- Thôi, em ạ. Chẳng bõ đâu.

- Cái gì chẳng bõ kia? - cô hỏi.

- Em nói lại bất cứ chỗ nào em nói lúc đầu ấy? Không đến Plaza nữa. Mà tiết kiệm làm gì nhỉ? Em có muốn đến nơi nào khác không?

- Em nghĩ chúng ta sẽ đến đó khi nào thấy thích hơn.

- Chà, anh không hiểu rõ ý em. Anh cảm thấy thích nó. Anh thích nó từ trước khi nhìn thấy em, thích như lúc lên nhà em, và em cũng…

- Không, không hẳn thế đâu. Hãy nhớ em đã ăn mặc chỉnh tề để về nông thôn. Em tưởng chúng mình sắp lái xe đi.

- Hừm. Nào thì đi, đi đâu? - anh ta nói.

- Đi bộ xuống đại lộ Năm…

- Cho đến phố Childs 48.

- Được. - cô nói. - Với em thì chẳng sao.

- Anh nghĩ là sẽ thế.

- Chúng ta có thể đi bộ đến số 21.

- Hôm nay là Chủ nhật.

- Chủ nhật họ không mở cửa à? Em nhớ em đã ở đó vào một ngày Chủ nhật.

- Ồ, anh biết em đã đến vào lúc nào đó. Nhưng không phải vào giờ này. Bây giờ quá sớm, cưng ạ. Sớm quá. Khoảng năm giờ rưỡi họ mới mở cửa.

- Anh chắc đấy không phải là quy định mới chứ?

- Cũng những người ấy khi ở số nhà 42 phố West 49 đã quy định ngày Chủ nhật như thế. Bây giờ ở số 21 phố West 52, họ cũng quy định y như thế. Cũng những người ấy, quy định ấy, chỉ khác địa điểm thôi.

- Một cái nữa trong những cái mũ ấy. - cô nói.

- Một cái nữa trong những cái mũ nào?

- Anh không nhìn thấy à? Em thấy chúng khá đẹp đấy chứ, nhưng em không biết có nên mua một cái hay không. Những cái mũ ấy. Anh không để ý cô gái vừa đi qua với một gã ngoại quốc à? Cô nàng đang hút thuốc kia kìa.

- Cô ta được trả tiền vì việc đó đấy.

- Trả tiền gì?

- Trả tiền để hút thuốc. Anh đọc trên mục của Winchell…

- Cái kiểu suy nghĩ lan man hết chuyện này đến chuyện khác của anh giống hệt một con dê rừng nhảy từ vách đá cheo leo này sang vách khác…

- Từ vách đá cheo leo này sang vách khác, rồi trở lại…

- Em biết rồi, đừng nói nữa. Vì sao cô ta được trả tiền?

- Vậy ai được trả tiền, hở bé của anh, cưng của anh?

- Người đàn bà, chứ còn ai. Người đội mũ kia kìa. Người em vừa bình luận. Anh bảo Walter Winchell nói cô ta kiếm được tiền.

- Chứ sao. Cô ta được trả tiền vì hút một điếu thuốc trên đại lộ Năm. Winchell viết thế trên mục của anh ta sau cuộc diễu hành lễ Phục sinh. Họ đang cố quảng bá việc phụ nữ hút thuốc trên đường phố…

- Việc này sẽ không bao giờ xảy ra.

- Nó sẽ không bao giờ xảy ra với ngọn đèn Welsbach[6] cổ lỗ, nếu… Xin chào. Xin chào. - anh nói với hai người, cô gái và người đàn ông.

- Ai thế? Nhìn kìa, cô ta đội một trong những cái mũ kiểu Eugénie[7]. Khá hấp dẫn đấy chứ. Cô ấy là ai vậy?

- Là người mẫu ở Bergdorf Goodman.

- Cô ấy là người Pháp?

- Sắp thành người Pháp như em vậy…

- Còn Pháp hơn anh tưởng đấy.

- Ừ, hơn anh. Cô ấy là… - em vẫn nghe đấy chứ? - … người Do Thái, còn anh ta là luật sư, chuyên về các vụ ly hôn ở Broadway. Anh ta là loại em nhìn thấy trên các báo khổ nhỏ sáng thứ Hai. Anh ta quà cáp cho các biên tập viên tờ News và Mirror, nên được quảng cáo miễn phí trên trang ba. Lẽ tất nhiên báo luôn viết về các thân chủ của anh ta, nhưng anh ta muốn tên mình được in ở đoạn thứ ba, kèm địa chỉ. Winthrop S. Saltonstall, số 14 Broadway.

- Hừ. Winthrop S. Saltonstall không phải là một cái tên Do Thái.

- Đấy là em nghĩ thế.

- Em cho rằng cô ta đang tiến hành ly dị; tất nhiên có khi cô ta chỉ quen biết anh ta thôi.

- Đúng thế. Em hiểu việc đấy.

- Em luôn muốn đến xem lễ ở nhà thờ St. Patrick. Hôm nào anh đưa em đi nhé?

- Em nói sao, một buổi lễ? Ý em là lễ Misa.

- Vâng, em nghĩ thế.

- Được thôi, hôm nào anh sẽ đưa em đi. Chúng ta sẽ cưới ở nhà thờ St. Pat.

- Một lời dọa hay lời hứa đây?

Anh sững người.

- Nghe này Isabel, em hãy cho anh một ân huệ nhé? Một ân huệ lớn?

- Gì vậy, em không biết. Nhưng là gì vậy?

- Em hãy cư xử như một cô gái Bryn Mawr[8] xinh đẹp, quyến rũ, lo lắng về những điều Leuba dạy, lễ phép, có giáo dục…

- Vâng, được, và gì nữa?

- Với anh, hãy bỏ những thổ ngữ thông tục đi nhé? Lúc em muốn nói tiếng lóng, muốn nói những lời lém lỉnh, hãy cố kiềm chế sự thôi thúc lại.

- Nhưng em không nói câu nào lém lỉnh.

- Ô hô hô, em đang nói với anh kìa.

- Em vẫn không hiểu ý anh, Jimmy.

- Người ta nên dỡ bỏ các hàng rào này để dân chúng thấy họ đang làm gì. Anh là một người quan sát già dặn về xây dựng, anh nghĩ mình sẽ nói điều này với Ivy Lee[9].

- Anh đang nói cái gì thế?

- Anh vừa nghĩ ra lúc chúng ta đi ngang qua nơi đang xây dựng Radio City, nếu người ta bỏ các hàng rào đi, anh sẽ có thể theo dõi tiến độ và báo cáo với Rockefeller. Ivy Lee là cố vấn các quan hệ công cộng của họ.

- Ivy Lee. Nghe như tên một cô gái.

- Em nên lắng nghe cả tên họ.

- Là gì?

- Ivy Ledbetter Lee. Anh ta kiếm 250.000 đôla một năm. Chúng ta đến rồi, chắc khó kiếm nổi một bàn.

Họ kiếm được một bàn. Họ biết chính xác mình muốn gì, kể cả toàn bộ cà phê họ uống với giá cho một tách. Bữa tối, bạn có thể ăn mọi món mình thích với giá cố định.

- Chiều nay chúng ta làm gì nào?

- Ồ, bất cứ thứ gì anh muốn. - cô nói.

- Anh muốn xem Kẻ thù của công chúng.

- Tuyệt. James Cagney[10].

- Em thích Cagney?

- Em ngưỡng mộ ông ta.

- Vì sao? - anh hỏi.

- Ờ, vì ông ta rất hấp dẫn. Một tay khó chơi. Vì sao thì… Em chỉ nghĩ đến một thứ.

- Thứ gì?

- Ông ấy… em mong anh đừng phiền lòng, nhưng ông ấy hơi giống anh.

- Được rồi, anh sẽ gọi điện hỏi lúc nào thì chiếu phim chính.

- Sao lại thế?

- Vì anh xem rồi còn em thì chưa, và anh không muốn em xem đoạn cuối trước.

- Ồ, em không hiểu.

- Anh sẽ nhắc lại cho em sau khi em xem xong. Anh xuống nhà gọi điện đây. Nếu Quốc vương Prajadhipok[11] có vào định làm quen mà không ca ngợi em, nhớ đuổi ông ta đi nhé.

- Ồ, ông ta tinh mắt đấy chứ. Chà, em hiểu rồi.

•••

- Ông thử quay lại số đó lần nữa xem? - ông già nói. Ông ta cầm chiếc điện thoại với kiểu như phản đối loại điện thoại cầm tay, kiểu phản kháng thông thường với một thứ mới mẻ. Ông ta cầm bằng cả hai tay, một tay đặt ở chỗ cần thiết, tay kia khum lại dưới ống nói.

- Đây là Stuyvesant, trực tổng đài. Ông đang quay S,T,U?… Vâng, tôi nghĩ có lẽ ông quay S,T,Y.

Ông ta đợi, nhưng quá năm phút đành phải bỏ cuộc.

Joab Ellery Reddington, Cử nhân Văn chương đại học Wesleyan, Thạc sĩ Văn chương đại học Harvard, Tiến sĩ Triết học đại học Wesleyan, đến New York vì một mục đích đặc biệt, nhưng thành công của chuyến đi tùy thuộc cú điện đàm đầu tiên này. Không nối được liên lạc, chuyến đi sẽ thành vô ích. Ông ta biết quá đủ, quá rõ mọi thứ, biết địa chỉ, biết quá nhiều taxi, mạng xe buýt, xe điện ngầm và đường sắt trên cao, các tuyến ôtô trên phố, giúp hủy diệt không gian và thời gian cho bất cứ ai muốn đích thân có mặt trước cửa nhà Gloria Wandrous. Nhưng một trong những điều cuối cùng Tiến sĩ Reddington muốn làm trên đời là bị phát hiện loanh quanh gần nhà Gloria Wandrous. Điều thiết tha nhất ông muốn làm là gặp được cô, từ đó nảy sinh một hành động cực đoan khác: Rốt cuộc, điều ông mong muốn nhất lại là thoát khỏi đám bạn bè của Gloria Wandrous, tách rời mọi liên hệ với cô mà có lần ông đã nghe ông Xương Xẩu nói với ông Đối Thoại rằng, chỉ cần mất hai chục đôla để gửi cho cô một bưu thiếp. Không, ông dứt khoát không muốn đến gần nhà cô nàng. Nhưng ông muốn tiếp xúc với cô, chỉ để bàn thảo với cô, thỏa thuận với cô. Nếu không thỏa thuận được với cô, ông… ông sẽ không hé môi, dù với chính mình.

Nhưng không có ai trả lời điện thoại. Hay mẹ cô, bác cô đã gặp chuyện gì? Tiến sĩ Reddington không ngạc nhiên khi biết Gloria không có nhà. Cô rất ít khi ở nhà. Nhưng ông thường xuyên gọi về nhà cô và được cho một con số để gọi. Ông thừa biết dù mẹ hoặc bác cô có biết hay không, số họ cho thường là của một cửa hàng bán rượu lậu hoặc căn hộ một anh chàng độc thân; quán bia Harlem là nơi tiến sĩ Reddington có lần tạt đến (lúc này ông không muốn nghĩ đến cách những tên da đen chẳng ngạc nhiên hoặc sửng sốt khi một người như ông, mang huy hiệu Phi Beta Kappa, trang phục và mọi thứ quá ư bảo thủ lại xuất hiện ở quán bia vào giữa trưa thứ Bảy, tìm một cô gái say khướt chào hỏi ông bằng những lời rất chi thô thiển, chứng tỏ ông không phải là bậc phụ huynh nghiêm khắc đến tìm đứa con gái cứng đầu cứng cổ, nhưng… ông đúng là như thế).

Tiến sĩ Reddington ngồi trên mép giường (theo cách ông diễn dạt) và tự rủa mình là một thằng ngốc, ngốc thảm ngốc hại vì không bao giờ ghi lại những số ông đã gọi. Lý do ông không ghi lại những con số này là không muốn bị tìm thấy chết cùng với chúng trên người. Ông ngồi trên giường, ngón tay lần tìm sợi lông thoát khỏi lưỡi dao cạo sáng nay trên làn da trắng, mềm, hơi ướt của chiếc cằm xị. Chẳng có cái nào. Chẳng bao giờ có. Toàn là người thợ cắt tóc cạo mặt cho ông. Ông ngồi đúng kiểu trầm ngâm cổ điển nhưng chẳng nghĩ được gì. Chúa ơi, sao không có lấy một cái tên nào nhỉ? Một cái tên trong những số ông đã gọi?

Thật vô ích khi cố nghĩ ra tên của các cửa hàng bán rượu lậu. Ông không mấy hiểu biết về các cửa hàng này vì ông không bao giờ uống rượu; nhưng từ những lần đi cùng Gloria, ông biết đấy là nơi thân tình như quán của Jack hoặc Giuseppe, khi chủ cửa hàng đưa cho bạn tấm thẻ vào cửa (bạn phải ném đi ngay khi đã ra ngoài an toàn), nơi được gọi là Câu lạc bộ Aristocrat hoặc một thứ gì đại loại như thế. Vì thế thật vô ích khi cô nhớ ra tên những nơi đó, và gần như cố nhớ ra chúng là việc quá rắc rối. Không thể bảo một tài xế taxi lái ngược xuôi khắp các đường phố, từ Quảng trường Sheridan đến phố Mười bốn, với hy vọng nhận ra lối vào tầng hầm bạn đã qua cả đêm dài trước đó. Không, việc phải làm là cố nhớ ra một cái tên, một tên người mà Gloria biết.

A. Ab, Ab, Ab, ante, con, de… không, không phải lúc nghĩ đến các giới từ Latinh. Bây giờ mà nghĩ đến chúng chỉ tổ làm ông hoang mang. Suy nghĩ một cách khắt khe, đó là điều thích đáng. A trong Abbott. A trong Abercrombie. A trong Abingdon. A trong Abrams. Ông đã ngạc nhiên khi tình cờ biết con gái của Abrams chơi dương cầm hay đến thế. Lúc này ông trìu mến nghĩ đến cô và nhớ ra cô chơi dương cầm cực kỳ điêu luyện. Cô là kẻ suy đồi đến tận xương tủy, thế nhưng, khi cha cô đến gặp ông để hỏi ý nghĩa việc cô con gái đã kể với ông, tiến sĩ Reddington suýt nói với cha cô gái về cách ông ta nuôi dạy con. Thay vào đó, ông nói:

- Ông nghe đây Abrams, ông nói với tôi một việc kinh khủng, một bổn phận nghiêm túc. Tôi suy ra rằng ông tin vào lời của một đứa trẻ nhạy cảm để chống lại tôi?

Người đàn ông bé nhỏ đã nói ông ta chỉ hỏi, chỉ muốn biết sự thực, cho dù ông có thể đi xa hơn sự thực.

- Ồ, thế ư? Đi xa hơn? Tôi có thể hỏi ai đã đưa ra lời chống lại tôi vậy? Tôi sinh trưởng trong thành phố này, và ông biết đấy, ở thành phố này tổ tiên tôi đã nổi danh suốt năm thế hệ. Bản thân tôi đã hai mươi hai năm trong nghề sư phạm, còn ông ở đây bao lâu rồi? Hai năm? À, sáu năm. Sáu năm là gì so với hàng trăm năm? Ông có nghĩ người của ông sẽ nghe lời ông chống lại tôi không? Tiến sĩ Stein chẳng hạn. Ông cho là ông ta tin ông hơn tin tôi ư? Vớ vẩn. Ông tưởng ông ta tin ông, đem thí cả địa vị trong cái cộng đồng có rất ít người của ông, sát cánh với ông để tấn công tôi bằng câu chuyện chẳng có cơ sở thực tế nào? Ông Abrams, tôi có thể đánh ông nhừ tử vì việc đã đến buộc tội tôi. Điều duy nhất ngăn tôi lại vì tôi cũng là một người cha. Tôi nghĩ chúng ta nói thế là đủ lắm rồi. Con gái ông là việc của ông. Công việc của tôi là trông nom xem cô ấy được dạy những gì, nhưng việc của tôi chỉ bắt đầu từ chín giờ sáng và chấm dứt lúc ba giờ chiều.

Vợ chồng Abrams chắc đang ở New York. Chí ít thì họ cũng đưa con gái ra khỏi trường, nhanh chóng bán ngay cửa hàng sau khi hai ông bố nói chuyện với nhau. Abrams. Ở New York có lắm Abrams.

B. C. D. E. F. G. H. Nghĩ đến mọi người trong thành phố, đến số tiền hãng điện thoại kiếm được. Tất cả mọi người với những vướng mắc của họ. B.

Buckley. Brown. Brown có một chữ e ở cuối. Bames. Barnard. Brace. Butterfield. Brunner! Gloria biết một người tên là Brunner. Tiến sĩ Reddington tìm ra số và nói cho người trực tổng đài.

Ông ta nghe chuông reo, rồi một giọng nói chuyên nghiệp:

- Quý khách gọi số nào ạ?… Rất tiếc thưa ông, số điện thoại đó đã bị cắt.

Ông đổi cách. Đây là một linh cảm. Ông ngước nhìn địa chỉ và ghi nhớ, rồi xuống dưới nhà và gọi taxi đến nơi đó. Ông bảo tài xế đợi ở góc phố Hudson, người lái xe nhìn ông thiện cảm và nói sẽ đợi.

Tiến sĩ Reddington xuống phố, theo sau một cô gái cắp cái gói to. Bất cứ lúc nào khác có lẽ cô đã chú ý đến ông, nhưng không phải hôm nay. Ông chỉ nhìn thấy lưng của một cô gái có thân hình đẹp, đang cắp một cái gói. Rồi ông nhụt hết chí khí khi cô rẽ vào số nhà ông đã tìm ra, và ông đi thẳng không dừng lại; ông nghĩ đến người tài xế, anh ta đang nhìn theo tự hỏi vì sao ông đi qua số nhà ấy. Bối rối, ông vòng trở lại taxi, họ rời khu vực lân cận và về khách sạn trong ánh nắng.

•••

- Cô tốt bụng kinh khủng. - Gloria nói.

- Ồ, có gì đâu. - cô Day đáp.

- Rất cảm ơn Norma. - Eddie Brunner nói.

- Ồ, tôi hơi sơ ý. Tôi hiểu vì sao rồi. - cô Day nói. - Hôm nay chắc cô bị nướng chín trong chiếc áo khoác lông chồn này.

- Eddie, anh nhìn ra ngoài cửa sổ hộ em một phút. - Gloria nói.

- Ồ! Cô thực sự cần những thứ này. - cô Day nói khi Gloria cởi áo choàng. - Tôi rất vui khi có chúng. Thông thường cứ đến Chủ nhật, tôi cho người quét dọn những thứ thừa. Tôi không định mang đến một chiếc váy lót.

- Với chiếc váy này thì không cần. Bộ này đẹp quá. Cô mua ở đâu đấy?

- Cửa hàng Russek. Cô có chơi bài pôke, người thua phải cởi quần áo không?

- Thế này cũng gần như thế còn gì? Về mặt nào đó thì có. Thế đấy, chúng tôi quăng đủ thứ chuyện tào lao và tôi suýt bị tống ra đường khi vận may của tôi thay đổi, rồi khi tôi đề nghị đánh cược chiếc váy của mình, bọn đàn ông tóm lấy tôi và lẽ tất nhiên tôi nghĩ là bọn họ chẳng kiềm chế tôi làm việc đó đâu; không phải bọn đàn ông mà các cô gái trong bữa tiệc đã kìm tôi lại. Tôi có nhiều bạn tốt. Thế là tôi cáu điên lên và bỏ đi.

- Cô đang học ở New York?

- Không, tôi sống ở đây nhưng không thể về nhà với bộ dạng như thế này. Gia đình tôi không cho phép tôi hút thuốc lá. Ổn rồi, Eddie.

- Cô mặc bộ này đẹp hơn tôi đấy. - Norma nói.

- Tôi thì không nói thế. - Eddie nói.

- Tôi cũng không. - Gloria nói. - Nhưng Eddie chẳng bao giờ nói điều gì làm tôi tự mãn hết. Chúng tôi quen nhau đã lâu rồi mà.

- Eddie, em tưởng sau hôm thứ Sáu anh bỏ rượu. - Norma nói.

- Anh đã bỏ rồi.

- Đúng thế. Chai này là của tôi. - Gloria nói. - Tôi mua cho Eddie vì muốn làm anh ấy vui lòng. Tôi nghĩ sẽ ở đây cả ngày và định hối lộ Eddie để anh ấy đến một trong những cửa hàng Broadway, tôi nghĩ ở đấy có vài tiệm mở cửa tối Chủ nhật, hình như họ vẫn mở đấy. Nhưng anh ấy nghĩ ra gọi cô, và tôi thấy cô làm việc này thật tốt quá. Em sẽ treo bộ này ở một trong những ngăn để đồ của anh, Eddie nhé. Ngày mai em ghé qua. Em định cất vào kho, nhưng cứ lần lữa, cứ hoãn mãi…

- Tôi hiểu. - cô Day nói.

- … Thế là đêm hôm qua tôi mừng vì không cất đi, vì một người anh họ của tôi đến Yale; anh ấy và một người bạn đi xe mui trần đến và trời thì lạnh. Không mui. Họ rét cứng cả người, nhưng vẫn nhất định lái xe đến một nhà có tiệc gần Princeton.

- Ồ. Thế gia đình cô không lo à? Thế là cô không về nhà?

- Sáng nay xe bị hỏng trên đường về vào một giờ tồi tệ. Bob, người bạn của ông anh họ tôi, đưa chúng tôi đến dự một bữa tiệc khi chúng tôi quay lại thành phố, nơi tôi rơi vào cái trò chơi cứt đái ấy.

- Thế anh họ cô thì sao? Tôi tưởng là…

- Bất tỉnh vì lạnh, với lại anh ấy cũng chẳng giúp được gì nhiều. Không phải vì anh ấy để họ bắt tôi cởi quần áo, mà vì anh ấy không uống được rượu. Không người nào trong gia đình tôi uống rượu. Tôi uống hai cốc Scotch và choáng váng. Tôi nghĩ là cô đã thấy rồi.

- Ồ không. Nhưng tôi không bao giờ có thể nói chuyện với người khác cho đến lúc họ bắt đầu làm những việc quá ư khủng khiếp. - cô Day nói.

- Ờ, tôi cảm thấy rất tuyệt. Tôi thấy giống như được tặng cả bữa tiệc. Mà này, trước khi tôi quên, cô hãy cho địa chỉ, tôi sẽ giặt sạch chỗ đồ này và gửi trả cô.

- Được thôi. - cô Day nói và cho địa chỉ.

- Chúng ta đến Brevoort đi, nhưng tôi thết đấy.

- Tôi tưởng cô mất hết tiền rồi. - cô Day nói.

- Tôi mất, nhưng trên đường vào thành phố tôi sẽ đổi một cái séc lấy tiền mặt. Một người đàn ông làm việc cho bác tôi đã viết cho tôi một cái séc. Đi chứ?

•••

Mũi chiếc Packard mui trần lúc lên lúc xuống. Chiếc xe chạy như thể nó là một chiếc xe tăng đang chạy trên con đường vốn chỉ toàn xe tải. Paul Farley vừa lái vừa cắn cắn môi dưới, còn người đàn ông ngồi cạnh trông hoàn toàn mãn nguyện với bản thân và thế gian, tay chống cằm và búng tàn thuốc xuống sàn xe của Farley.

- Dừng lại. - người đó nói. - Liếc qua một cái. Xem từ đây trông nó ra sao.

Farley dừng xe, chẳng vui lắm và nhìn quanh. Anh hài lòng khi nhìn ngôi nhà đã hoàn tất, vì đó là công trình của anh.

- Tôi thấy trông khá đẹp đấy chứ. - Farley nói.

- Tôi cho là thế. - Percy Kahan nói. Ông ta chỉ biết nói “Tôi cho là thế” khi định nói “Anh rất đúng”. Những người như Farley chẳng bao giờ hiểu khi người ta nói những lời đơn giản như “Anh rất đúng” hoặc một câu dè dặt, thận trọng kiểu “Tôi cho là thế”. Nhưng thế còn hay hơn là phạm lỗi vì dè dặt còn hơn là hăng hái. Ngoài ra, ông ta là người mua; Farley vẫn đang làm kiến trúc sư cho ông ta nên không thể để Farley tưởng mình làm việc quá tốt.

- Một công trình đặc sắc. Tôi biết thế khi thực hiện một công trình hoàn hảo, và tôi đã hoàn thành một cái cho ông, thưa ông Kahan. Còn về phòng trò chơi, dự toán ban đầu của tôi không đủ. Tôi có thể làm xong sớm hơn, nhưng tôi cho rằng bây giờ ông sẽ không ngập ngừng với giá 1.200 đôla. Ông hiểu tôi muốn nói đến phòng trò chơi chứ. Tôi vẫn có thể thực hiện nó đỡ tốn kém hơn nhiều, nhưng nếu ông muốn nó hòa hợp với toàn cảnh ngôi nhà, lời khuyên hay nhất của tôi là đừng cố tiết kiệm những thứ lặt vặt. Tôi là một trong các kiến trúc sư đầu tiên làm phòng trò chơi, và nhận thấy chúng là nét đặc biệt quan trọng cho một ngôi nhà hiện đại. Vâng, cho đến lúc này, ông đã nhìn thấy các phòng chơi đủ để nhận biết phần lớn chúng giống cái gì. Không gian trong hầm quá rộng, nên người ta đặt vào một quầy rượu di động, một bàn bóng bàn, vài bức tranh khổ lớn của Pháp…

- Ồ, tôi muốn có những thứ đó. Anh có thể kiếm được không?

- Tôi nghĩ là có. Tôi chưa bao giờ yêu cầu họ làm bất cứ điều gì, vì tôi có quan niệm riêng về những thứ của Pháp, nhưng đấy chỉ là tiểu tiết. Vả lại, điều tôi muốn nói không ngoài việc tôi là một trong những người đầu tiên quan niệm phòng chơi là thứ bổ sung quan trọng cho một ngôi nhà. Tôi muốn chỉ cho ông thấy một số thứ trong khu vực Manhasset. Ông biết đấy là khu vực nhà Whitney.

- Chà, anh cũng làm dinh cơ cho Jock Whitney?

- Không, tôi không làm, nhưng hai năm trước tôi đã chi 11.000 đôla cho một phòng chơi kiểu đó.

- Nhưng đấy là hai năm trước. - ông Kahan nói. - Phòng chơi của nhà ai vậy?

- Ờ, theo đúng quy định, tôi không được tiết lộ tên và con số, ông Kahan ạ. Ông hiểu cho. Vả lại, ông cũng thấy tôi không cố lừa lấy vài đô vì nét đặc biệt quan trọng của ngôi nhà. Ví dụ, ông nói muốn có một lò sưởi rộng. Vậy ông phải chi tiền vào đó. Ông thấy đấy, không cần có chuyên môn ghê gớm về việc này; chúng tôi cứ làm mà không có sự chuẩn bị nào cho các lò sưởi ở phía đó của ngôi nhà, phía sẽ là phòng chơi nếu ông muốn. Ông có ý tưởng đúng về việc này. Vậy sẽ có lò sưởi ở đó.

Ông Kahan, tôi muốn ngôi nhà này thật hợp lý. Tôi sẽ thẳng thắn với ông. Nhiều kiến trúc sư không dám mạnh dạn, nhiều người khác khá yếm thế khi nghĩ đến tương lai. Cố nhiên một số người trong chúng tôi va vấp khá nặng, nhưng cá nhân tôi không có điều gì phàn nàn. Tính đến năm nay, tôi kiếm được hơn nửa triệu đôla trong công việc…

- Lãi ròng?

- Ồ không. Không phải lãi ròng. Tôi là kiến trúc sư dân dụng, ông Kahan ạ. Nhưng so với những thứ tôi làm trong ba năm gần đây thì cái kia khá hoàn hảo. Năm ngoái là năm phát đạt nhất của tôi đấy, thưa ông Kahan.

- Ông đừng đùa.

- Ồ, vâng. Tôi đã có nhiều công trình ở Palm Beach. Còn năm nay là một năm tốt đẹp và đúng với ý tôi. Nhưng tôi hơi e ngại cho năm sau. Không phải vì dân chúng không còn tiền, mà vì họ sợ tiêu tiền. Họ sẽ tiếp tục cất trữ của nả. Tôi biết một người đàn ông đang đổi mọi thứ tài sản ra vàng. Khi không thể kiếm được vàng thoi thực sự, thì lấy giấy đảm bảo vàng. Vậy đấy, chẳng có gì hay. Tình hình chung là hoảng sợ và lo âu, sang năm là năm bầu cử tổng thống, nhưng có bầu cử tổng thống hay không, tôi cũng phải kiếm tiền bằng mồ hôi nước mắt của mình thôi. Cho đến nay, tôi chưa sa thải một nhân viên vẽ đồ án nào, nhưng trời ạ, nếu người ta rút tiền khỏi công việc kinh doanh và tích trữ trong những hòm phủ đầy bụi hoặc trong hầm bí mật ở nhà, hậu quả chung là khá xấu.

Còn với ngôi nhà như nhà của ông đây, ông Kahan ạ, theo kinh nghiệm của tôi thì người ta sẽ ngắm nhìn và không thể không say mê, nếu có một hoặc hai bức ảnh trên tờ Town and Country, Country Life và Spur, biết đâu những người thèm tích trữ tiền sẽ…

- Anh định đưa ảnh ngôi nhà này lên tờ Town and Country?

- Tất nhiên rồi. - Farley nói. - Ông cho rằng tôi sẽ bán nhà này mà không… trừ khi ông không thích. Nếu ông thích thì đương nhiên là…

- Ồ không. Không phải đâu. Tôi thích. Song, anh đừng kể với bà nhà tôi. Tôi muốn dành cho bà ấy một sự ngạc nhiên thú vị.

- Nhất định rồi. Phụ nữ thích thế mà. Mà phụ nữ là cực kỳ quan trọng trong những việc như thế này. Như đã nói, tôi hy vọng dân chúng nhìn thấy ngôi nhà này và bạn bè, hàng xóm của ông sẽ kéo tới. Đấy là lý do tôi muốn ông có một phòng chơi dành cho những khi ông muốn chiêu đãi một cách thân tình. Mọi người sẽ thấy ông có một ngôi nhà thực sự tinh tế, rồi họ sẽ muốn biết ai làm ra nó. Ông Kahan ạ, tôi thấy bất cứ khi nào làm tốt công việc của mình cũng sẽ phát đạt, nhất là hiện nay.

- Town and Country hả? Tôi hay anh sẽ gửi ảnh đây?

- Ồ, họ sẽ cử người tới. Ông biết không, họ gọi điện và tìm ra đồ án của tôi. Tôi, hoặc chí ít là thư ký của tôi, kể với họ về những ngôi nhà tôi đang làm, đó là thông lệ mà. Tôi cho là trong vòng mươi năm nay, tôi có nhiều nhà được chọn chụp ảnh trên báo hơn bất cứ kiến trúc sư nào cùng trang lứa. Chúng ta quay lại câu lạc bộ chứ? Tôi hình dung các quý bà đang lo nhỡ xảy ra chuyện gì.

- Thôi được, giờ thì anh nghe đây, Farley, tôi không muốn anh trả tiền bữa ăn lần nữa. Có nhớ lần cuối cùng chúng ta ăn ở đây, tôi nói lần sau tôi thết không?

- Thế hở. - Farley cười khúc khích. - Tôi sợ bị lừa. Tôi phải có chữ ký. Lúc khác vào thành phố tôi sẽ câu ông một bữa ra trò, và tôi xin cảnh báo trước, bà Farley nhà tôi uống được vang đấy. Tôi thì chẳng biết rượu chè ra sao, nhưng bà ấy thì biết.

Họ lái xe đến câu lạc bộ, nơi các bà vợ đang đợi. Bà Farley gõ ngón tay đeo nhẫn cưới và nhẫn đính hôn, đúng kiểu sốt ruột; bà Kahan véo thùy tai trái, một việc bà làm mỗi khi căng thẳng.

- Tốt. - cả bốn người đồng thanh.

Farley hỏi những người khác có thích cocktail không, và hết thảy đều nói có. Ông ta đưa Kahan vào phòng thay đồ rửa tay và giám sát việc pha cocktail. Lúc họ bước vào, một người đàn ông đi ra, vội đến mức đâm sầm vào ông Kahan.

- Ồ, xin lỗi ông. - người đó nói.

- Không sao, ông Liggett. - Kahan nói.

- Ơ kìa, chào ông. - Liggett nói. - Rất vui được gặp ông.

- Ông không biết tôi. - Kahan nói. - Nhưng chúng ta học cùng lớp ở New Haven.

- À vâng, tất nhiên.

- Tên tôi là Kahan.

- Vâng, tôi nhớ rồi. Chào Farley.

- Chào Liggett, ông ra uống cocktail với chúng tôi nhé?

- Không, cảm ơn. Cả nhà đang đợi tôi trong ôtô. Rất vui được gặp ông, Kann. Tạm biệt Farley.

Ông bắt tay và vội vàng đi ra.

- Ông ta không biết tôi, nhưng tôi nhận ra ông ta ngay.

- Tôi không biết ông học ở Yale đấy. - Farley nói.

- Tôi hiểu. Tôi chẳng bao giờ nói đến chuyện ấy. - Kahan nói. - Thỉnh thoảng tôi gặp người giống Liggett, một trong những anh chàng to xác; có hôm tôi gặp tiến sĩ già Hadley trên phố và tự giới thiệu mình với ông ấy. Tôi không thể làm khác được. Tôi nghĩ bốn năm ở đó thật lãng phí thời gian, tôi, một Heeb bé nhỏ ở Hartford, nhưng tháng Mười một năm ngoái tôi phải đến Hollywood vì cuộc thi đấu Yale-Harvard, và Trời phạt nếu tôi không có một bức điện đặc biệt kèm bài bình luận thể thao phát tại chỗ. Radio không đủ cho tôi. Tôi phải có bài bình luận phát tại chỗ. Đúng, tôi học ở Yale.

❀ ❀ ❀

[1] Jimmy Walker (tên đầy đủ là James John Walker, 1881-1946): chính khách Mỹ, thị trưởng New York từ năm 1925 đến năm 1932.

[2] PA: Pennsylvania.

[3] John Stuart Mill (1806-1873): nhà kinh tế, triết học Anh, có ảnh hưởng lớn đến tư duy nước Anh thế kỷ 19, không chỉ trong triết học, kinh tế mà còn ở nhiều lĩnh vực khác như khoa học chính trị, logic và đạo đức.

[4] Walter Reed (1851-1902): bác sĩ quân y, nhà phẫu thuật và vi trùng học người Mỹ, đã xác định được nguyên nhân bệnh sốt vàng da và bệnh thương hàn, từ đó tìm ra cách ngăn chặn và kiểm soát các loại bệnh dịch này.

[5] Nicola Sacco (công nhân làm giày) và Bartolomeo Vanzetti (người bán cá rong) bị tòa án Massachusetts buộc tội giết người và lấy cắp hơn 15.000 đôla của nhà máy giày. Vụ án kéo dài hơn 6 năm liền, bị thế giới phản đối nhưng ngày 23 tháng 8 năm 1927, Sacco và Vanzetti vẫn bị hành quyết trên ghế điện. Tròn 50 năm sau, Thông đốc bang Massachusetts mới ra quyết định nhận lỗi xử án sai và minh oan cho hai người.

[6] Đèn măng xông, phát minh nổi tiếng năm 1885 của nhà hóa học người Áo Carl Freiher von Welsbach Auer (1858-1929).

[7] Eugénie (1826-1920): vợ của Napoleon III, là nữ hoàng Pháp từ năm 1853 đến năm 1870.

[8] Bryn Mawr: trường nghệ thuật tư thục đành cho nữ giới ở Bryn Mawr, Pennsylvania.

[9] Ivy L. Lee: một trong những người đầu tiên hành nghề PR (quan hệ công chúng) rất hiệu quả, làm việc cho nhà công nghiệp Mỹ lừng danh John D. Rockefeller.

[10] James Cagney (1899-1986): diễn viên điện ảnh Mỹ từng đoạt giải Oscar, nổi tiếng với những vai mạnh mẽ.

[11] Prajadhipok (1893-1941): vua Thái Lan với niên hiệu Rama VII, trị vì từ năm 1925 đến năm 1935, là nhà cầm quyền chuyên chế cuối cùng của đất nước này.

Người dịch: Đinh Thị Thanh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.