Chiều thứ Hai, một người đàn ông không rõ danh tính lao vào đoàn tàu nhanh New Lots ở ga xe điện ngầm phố Mười bốn. Ông Hoover[1] đang họp với Nội các của mình. Robert McDermott, sinh viên đại học Fordham đang đọc kinh sáng, ca ngợi Đức Mẹ Đồng trinh. Một phụ nữ tên là Plotkin sống ở Brownsville khu Brooklyn quyết định bỏ chồng mãi mãi. William K. Fenstermacher, thợ sửa chữa ở phố East 149, đến đại lộ Tremont sửa radio cho bà Jones nhưng không có bà ta ở địa chỉ đó, nên phải quay về cửa hàng và mất toi hơn một giờ rưỡi. Babe Ruth[2] đánh một quả tháu cáy, rơi vào chỗ ngồi trên khán đài không mái che bên phải. Grayce Johnson cố kiếm một chân ở dàn hợp xướng trong The Band Wagon, một vở nhạc kịch thời sự đả kích, nhưng người ta bảo đang diễn tập rồi. Patrolman John J. Barry, cảnh sát mang số 17858, vẫn còn đau vì bị một nữ đảng viên cộng sản đá vào háng tại cuộc biểu tình ở quảng trường Union thứ Sáu tuần trước. Jerry, một gã say, ngủ gục trên ghế quán rượu lậu phố West 49 và suốt buổi chiều không thức dậy. Hai anh em sinh đôi giống nhau như đúc được giao cho bà Lachase ở bệnh viện Lying-In. Một chiếc Studebaker mui kín đâm sầm vào bánh xe dự trữ của chiếc Ford hai chỗ trên phố Broadway và Canal; tài xế xe Ford thụi vào mồm tài xế xe Studebaker. Cả hai bị bắt giam. Joseph H. Dilwyn, 42 tuổi, rụng hết răng vì chính nha sĩ mà ông đã theo suốt mười hai năm nay. Một phụ nữ vô danh lấy tiền chồng đưa trả tiền điện để mua một chiếc mũ mới kiểu Eugenie. Harry W. Blossom, đến New York lần đầu tiên sau Thế chiến, ngủ thiếp ngay trong rạp Strand và mất nửa bộ phim. Lúc ba giờ mười lăm chiều, ông Francis F. Tearney, bán vé trên xe buýt Jackson Heights số 15 ở đại lộ Năm, ngả mũ trước Thánh đường St. Patrick. James J. Walker, thị trưởng thành phố New York ăn trưa muộn tại câu lạc bộ Hardware. Một cô gái dùng kẹp uốn tóc làm chập mạch ở câu lạc bộ Pan-Hellenic. Một người đàn ông không rõ danh tính lao vào đầu tàu nhanh Bronx Park ở ga xe điện ngầm đại lộ Mott. Sau khi thử việc ba ngày, cô Helen Tate, thư ký đánh máy của tờ New York Life, nhớ ra tên người phụ nữ trẻ cô gặp từ hai mùa hè trước tại một bữa tiệc ở Red Bank. Ông N. J và bà Harvey L. Fox kỷ niệm ba mươi năm ngày cưới, mở tiệc trưa tại khách sạn Bossert, Brooklyn. Al Astor, một nghệ sĩ tự do, tỉnh dậy tưởng là thứ Ba. John Lee, một cô bé da màu, rứt cánh một con ruồi ở trường công 108. Công ty bất động sản Caswell lừa bán một loạt người đóng thuế ở đại lộ Lexington cho Jack W. Levine với số tiền khoảng 125.000 đôla. Gloria Wandrous, sau khi tắm nước nóng ở nhà, đi ngủ mà lòng vẫn lo ngay ngáy về việc đã lấy chiếc áo khoác lông chồn của bà Liggett. Eddie Brunner ở nhà Norma Day suốt buổi chiều, nghe nhạc, nhất là bản Gió trong hàng liễu của Rudy Vallée.
Chiều thứ Hai, Emily Liggett và các con về nhà bằng tàu hỏa. Ra khỏi taxi, họ cầm áo khoác và để mấy cái túi cho người gác cửa trông hộ. Emily lên thẳng phòng mình xem xét đồ đạc, như những người New York hồi ấy thường làm, không ai bàng hoàng hơn bà khi thấy chiếc áo khoác lông chồn không còn trong tủ.
Kỳ nghỉ cuối tuần trôi qua tốt đẹp như thế; êm ả và thanh bình. Ngày thứ Bảy ấm áp, sáng Chủ nhật cũng ấm và đến chiều trời hơi lạnh làm Emily nghĩ đến chiếc áo khoác. Thực ra đến lúc phải cất nó rồi và bà đã ghi chú đấy là việc đầu tiên phải làm vào sáng thứ Ba. Năm nay bà dã chi 3.000 đôla để bảo hiểm chiếc áo, bằng nửa giá mua năm 1928. Bà bảo hiểm áo với hy vọng nếu có chuyện gì xảy ra sẽ lấy được tiền. 3.000 đôla có thể làm được nhiều việc, và bà đã chán chiếc áo khoác lông chồn. Bà chẳng bao giờ thấy vui khi được sở hữu nó. Lương tâm New England của bà bứt rứt; khi mặc quá nhiều lần một chiếc áo trong một mùa, nhân nó lên ba lần ứng với ba mùa và chia cho 6.000 đôla đã bỏ ra để mua nó cho mỗi lần mặc. Thế là quá nhiều. Đó là một phép tính đúng vì bà biết lúc này không thể có được 3.000 đô ngoài việc bảo hiểm. Muốn lấy cho được 6.000 đô là chuyện lố bịch. Vì thế, đây là một kỳ nghỉ cuối tuần may mắn.
Bà mở tủ, trông nó hầu như trống rỗng. Chiếc áo khoác không còn ở đó. Bà gọi người đầu bếp, cô hầu và căn vặn họ, nhưng cuộc cật vấn của bà cũng như việc chính bà và họ tìm kiếm chiếc áo không thu được kết quả gì. Cuộc tra hỏi của bà không mang lại tí ti manh mối nào về cái điều mà cô hầu nghĩ đến - suy ra từ việc cô ta phát hiện có vài món đồ nho nhỏ bị lấy đi trong phòng ngủ và buồng tắm của ông Liggett.
Emily gọi điện cho Liggett, nhưng ông không có trong văn phòng, nhân viên thư ký không nghĩ là ông sẽ quay lại. Emily định gọi đến hai câu lạc bộ của ông và một, hai quán rượu lậu vì nghĩ rằng kẻ lấy cắp chiếc áo phải bị tố giác ngay lập tức. Nhưng rồi bà quyết đợi và kể với Weston trước khi báo cảnh sát. Khi Liggett về đến nhà, bà kể ngay cho ông nghe chuyện chiếc áo. Ông kinh hãi; ông hoảng sợ gấp đôi vì không biết nó đã biến mất, nhưng khi biết thì ông đoán ra ngay kẻ nào lấy. Ông bảo Emily tốt hơn hết là không nên báo cảnh sát; những mất mát như thế sẽ được báo ngay cho công ty bảo hiểm, mà báo cho công ty bảo hiểm là một việc rất tệ.
- Các công ty bảo hiểm đều liên kết với nhau. - ông nói. - Họ có một loại sổ đen để trao đổi. Nếu ôtô của em bị lấy trộm, chỉ trong một tuần các công ty bảo hiểm đều biết. Việc này làm em có cơ nguy bị mất một thứ tương tự, và khi mất thật, em không thể lấy được tiền bảo hiểm, ví dụ như nếu họ trả lại chiếc áo khoác, chí ít em cũng phải trả một khoản cao hơn phí bảo hiểm nhiều; và không chỉ riêng nó, mà còn với bất cứ thứ gì em định bảo hiểm.
Liggett không tin mọi điều này, thật ra một số điều ông biết không chính xác, song nó lấp đi sự bối rối của ông. Cô gái ấy, con ranh bảnh bao ấy, cũng chính là cô gái đã ngủ với ông tối hôm qua, người mang đến cho ông cái cảm giác mà trước kia ông chưa bao giờ có được, có thể chỉ là một ả ăn trộm tầm thường… vậy mà đã vượt mặt ông. Càng nghĩ ông càng cáu, cho đến tận lúc muốn bóp cổ con ôn ấy. Ông bảo Emily là sẽ đến một hãng thám tử tư thuê tìm chiếc áo trước khi báo cho công ty bảo hiểm hoặc cảnh sát. Emily nói rằng đây không phải là cách bà định làm. Tại sao phải tốn kém cho hãng thám tử tư khi đấy là nhiệm vụ của công ty bảo hiểm và họ vui vẻ hứng lấy việc đó còn hơn có nguy cơ mất 3.000 đô cho chiếc áo? Không, không được, ông khăng khăng. Sao bà không chịu nghe ông? Bà không để ý gì sao? Ông chẳng vừa nói các công ty bảo hiểm đều có sổ đen, và khả năng biến mất của chiếc áo sẽ có lời giải thích rất giản dị. Chi phí cho hãng thám tử không nhiều, chắc chỉ mươi đôla. Không báo cho công ty bảo hiểm, ông sẽ tiết kiệm được rất nhiều.
- Giờ mình cứ để anh giải quyết chuyện này. - ông bảo Emily. Nghe có vẻ hơi bất thường với bà, và bà không thích thế. Nhỡ các thám tử tư không tìm thấy áo? Nhỡ công ty bảo hiểm bực mình vì mãi đến phút cuối ông mới báo về vụ mất trộm? Nhỡ họ hỏi vì sao ông không báo ngay cho cảnh sát? Cứ tiến hành mọi việc theo thông lệ có hay hơn không? Bà luôn cho rằng làm như bình thường là tốt nhất. Khi một người qua đời, bạn sẽ phải nhờ đến dịch vụ tang lễ, và khi bị mất trộm, phải báo cảnh sát. Liggett suýt nói:
- Mình là ai mà nói về sự việc bình thường? Mình đã ngủ với tôi trước khi lấy tôi.
Ông xấu hổ khi nghĩ đến chuyện đó, nhưng lại cho rằng mình luôn nghĩ đến nó. Đó chỉ là một sự khởi đầu hé cho ông thấy ông chưa bao giờ yêu Emily. Ông hãnh diện vì Emily gục ngã vì ông trước khi họ cưới, đến mức ông đui mù trước tình cảm thực của mình về bà. Tình cảm thực sự của ông là đam mê nhưng nó đã qua rồi; từ đó trở đi chỉ còn là thói quen của hôn nhân. Với Gloria, ông thực sự yêu.
Bỗng ông chợt nhớ là không thể yêu Gloria. Ông không thể yêu một kẻ ăn cắp tầm thường. Cô ả vốn là một kẻ cắp tầm thường. Có thể thấy điều đó trên mặt cô ả. Trên gương mặt ấy, ngoài vẻ kiều diễm còn có một cái gì đó bất thường, khuôn miệng, cặp mắt, cái mũi - có lẽ xung quanh mắt hoặc là cái miệng? - cô ta không có một vẻ ngoài bình thường. Emily thì có. Emily có cái đó. Ông có thể nhìn Emily thản nhiên, bâng quơ như thể không quen bà - như thế có khách quan không? Ông có thể nhìn bà và thấy bà giống như hàng chục cô gái khác sinh trưởng và được nuôi dưỡng như bà. Bạn nhìn thấy họ trong nhà hát, tại các hộp đêm sang trọng nhất, trong các câu lạc bộ hợp mốt ở Long Island và bạn thấy cũng những cô gái ấy, những người đàn bà ấy, ăn mặc như thế, khác chăng chỉ là giọng nói của họ, trong các câu lạc bộ ở các thành phố khác, tại các cuộc đua ngựa, đấu bóng và khiêu vũ, tại các cuộc họp mặt của Đoàn Thanh niên. Sau mười tám năm kết hôn, ông xếp Emily vào loại đó. Ông biết vì sao Emily thuộc loại đó, hoặc biết cái gì tạo nên sự khác biệt trên diện mạo một người như Emily và diện mạo một cô gái như Gloria. Gloria sống một cuộc sống nhớp nhúa, rượu chè, ngủ với nhiều đàn ông và có Chúa mới biết hết mọi sự; cô ta nhìn thấy nhiều thứ của “cuộc sống” hơn là Emily từng nhìn thấy. Trái lại, Emily được nuôi dưỡng theo một kiểu nhất định, quen với tiền và những cách tiêu tiền rộng rãi. Nói cách khác, suốt đời mình, Emily chỉ thấy các thứ đẹp đẽ, nhà đẹp, xe đẹp, tranh đẹp, đất đai vườn tược đẹp, quần áo đẹp và người đẹp. Những sự việc dễ nhìn và những người ưa nhìn, hình thái khỏe khoắn, răng tốt, những người có sữa tiệt trùng để uống và ăn thức ăn thích hợp suốt đời ngay từ lúc sơ sinh, sống trong những ngôi nhà được giữ gìn sạch sẽ và sơn khi cần sơn, được chăm sóc từ ôtô, đồ đạc đến thân thể, cả đầu óc cũng thế; những thứ ấy làm nên diện mạo của Emily và những cô gái, những người phụ nữ như bà. Trong khi đó, Gloria chấp nhận những người cô gặp như ông đã thấy hai đêm trước chẳng hạn, cái đêm đầu tiên ông đi ra ngoài cùng cô. Ví dụ như người đàn ông háu ăn kia. Anh ta từ đâu đến? Có khi anh ta từ khu ổ chuột. Liggett tình cờ biết khu nhà ổ chuột, tám chục gia đình dùng chung một nhà vệ sinh ngoài trời. Một điều tầm thường, nhưng cứ thử hình dung mà xem! Hãy thử tưởng tượng bạn sống nhiều năm khi đã trưởng thành ở một nơi như thế, có phần hơi giống như sống trong quân đội. Hãy hình dung nó ảnh hưởng đến đầu óc bạn ra sao. Và lẽ tất nhiên một thứ như thế không chỉ ảnh hưởng đến tâm trí bạn, mà còn hiện ngay trên mặt bạn. Trong trường hợp của Gloria, nó không hiển nhiên như thế. Cô có hàm răng tốt, nước da đẹp và thân thể khỏe mạnh, nhưng vẫn có một cái gì đó không ổn. Ví như, cô không được học tại những trường tốt nhất. Có lẽ đó là một việc nhỏ, nhưng quan trọng. Ông không biết tí gì về gia đình cô; chỉ biết cô ở với mẹ và bác. Có lẽ cô là con hoang. Có thể lắm. Điều đó rất dễ xảy ra ở đất nước này. Có khi mẹ cô chưa bao giờ lấy chồng. Chắc thế, ở nước này dễ xảy ra thế lắm. Ông chưa bao giờ nghe thấy chuyện đó, trừ đám người nghèo khổ, mà gia đình Gloria không nghèo. Nhưng sao lại không thể xảy ra ở nước này kia chứ? Ngay lần đầu tiên ông và Emily ở cùng nhau, họ đã có thể có con, ngày ấy người ta chưa biết cách phòng ngừa như bây giờ. Gloria lớn tuổi hơn Ruth, nên có khi mẹ cô đã làm một việc như Emily nhưng không gặp may đó thôi. Có khi cha Gloria đã chết trong tai nạn đường sắt hoặc gì đó, ông ta định cưới mẹ Gloria nhưng ngay trong đêm đầu tiên ở với nhau, trên đường về nhà ông đã bị ôtô chẹt, hoặc một kẻ cướp đường hay cái gì đó giết chết. Có thể lắm. Ở New Haven, ông có một người bạn rất bí mật về gia đình mình. Mẹ anh ta là diễn viên, và chưa từng nghe nói gì về người cha. Lúc này, Liggett muốn biết rõ hơn về người bạn này. Ông không nhớ tên anh chàng, nhưng một số người trong đám bạn bè của ông đã tự hỏi Tên-Hắn-Là-Gì. Ông tìm trong Record. Một họa sĩ. Phải, con hoang thường là người có tài. Trong lịch sử đã có một vài người trong số những người nổi tiếng nhất là con hoang. Từ con hoang không hàm ý xúc phạm, mà là con của tình yêu. (Là đứa con của tình yêu đáng nể biết bao, nghe hay hơn con hoang nhiều. “Nếu mình là con hoang, thà bị gọi là con hoang hơn là con của tình yêu”). Giờ là Gloria, cô đang vẽ hoặc tô. Cô mê nghệ thuật. Chắc chắn cô quen biết nhiều người vui tính. Cô biết cả mớ những anh chàng ở New Haven, Billy và những cậu trai kiểu ấy. Nhưng ai cũng có thể gặp họ, ai cũng có thể gặp Gloria. Chết tiệt! Đấy là điều tệ nhất. Ai cũng có thể gặp Gloria. Ông vừa nghĩ thế suốt bữa ăn, vừa nhìn vợ và hai cô con gái, thấy hiển hiện trên mặt họ điều ông nghĩ về việc họ được nuôi dưỡng đúng cách, nhìn ngắm những thứ đẹp đẽ và làm nên bề ngoài của họ. Nhìn họ, ông lại nghĩ đến Gloria, đến bất cứ ai cũng có thể gặp cô, bất cứ ai, bất cứ người nào cô vớ được trong một quán rượu lậu ở đâu đó, chắc lúc này, giây phút này đang ở cùng cô.
- Tôi nghĩ sẽ không đợi được món tráng miệng. - ông nói.
- Dâu tây nhé? Mình không đợi món dâu sao? - Emily hỏi.
- Ô, ngon quá! Dâu tây. - Ruth nói. - Bố à, bố đợi ăn dâu đã. Nếu bố đi, con sẽ phải ăn nốt phần của bố và sẽ nổi mụn vì dâu mất.
- Mình không phải đi. - Emily nói.
- Tôi phải đi thôi. Tôi vừa nghĩ ra một người, về việc chiếc áo.
- Mình không gọi điện cho anh ta được sao? Một thám tử tư chắc phải có số điện thoại chứ.
- Không. Không phải người đó. Anh ta là một thám tử trong biên chế của thành phố và nếu tôi gọi điện cho anh ta, anh ta phải báo cáo về việc đó. Giá tôi thông qua các kênh chính quy. Tôi sẽ tiếp xúc với anh ta qua một người bạn là Casey, ở Tammany Hall.
- Ở đâu? Mình không thể gọi cho Casey và hẹn sao?
- Emily, tôi phải giải thích mọi chuyện kỹ càng đến thế ư? Tôi vừa nghĩ ra một việc và phải làm ngay. Tôi không muốn ăn dâu, hay nếu dâu ngon đến thế mình có thể cho vào tủ lạnh cho đến lúc tôi về.
- Được. Tôi mong nó không có nghĩa là một trong những cuộc chè chén say sưa cả đêm của mình với các bạn ở Tammany Hall.
Nếu không có các cô con gái ở đấy, ông đã trả lời một câu sắc nhọn hơn:
- Lẽ ra tôi phải là một bác sĩ.
Chiếc taxi đưa ông đến một hiệu thuốc ở khu vực Grand Central và ông cố liên hệ với Gloria qua điện thoại. Ông thử gọi đến nhà cô, đến vài quán rượu lậu và - không hiểu vì sao - ông lại có số của cô ở hai khách sạn tại quảng trường Times. Một người đàn bà (ông đoán là mẹ Gloria) nói cô ra ngoài ăn trưa và chiều. Giọng nói và lời lẽ nghe có vẻ trang trọng làm ông muốn cười vào ống nghe. Ông không thể kể (và ông cố nén) rằng hiện ông đang rất cáu Gloria vì cô đã lấy trộm chiếc áo của Emily, hoặc vì trong tâm trí ông, cô đang ôm ghì một thằng trai trẻ Princeton làm bộ làm tịch. Ra khỏi trạm điện thoại, ông toát mồ hôi và khó chịu, ông lật mũ ra sau gáy. Ông đứng cạnh máy nước uống Coca-Cola và lúc đặt cốc lên cái máy nghe cách, âm thanh của thủy tinh, nhưng cái cốc này ắt hẳn không tốt nên nứt và vỡ làm ông đứt ngón tay, tuy nhẹ nhưng cũng gây nên một cơn náo loạn trong cửa hàng. Người dược sĩ và gã bán sôđa rất lo lắng làm ông phát cáu và thô lỗ với họ, đi ra không uống nữa là giải pháp của ông. Lúc đó ông cảm thấy mình đáng kính và trịch thượng, đứt ngón tay chỉ làm ông buốt nhói nhưng rất khó chịu, những người trong cửa hàng quá ân cần làm ông bối rối.
- Trời đất ơi, sao các vị không gọi xe cứu thương đi. - ông nói và đi tìm đồ uống.
Phố Năm mươi hai ở giữa đại lộ Năm và Sáu, đông đặc những ôtô và âm thanh, chẳng bao giờ thay đổi. Tiếng íp íp của taxi và a o oa của những chiếc Lincoln nổi bật trong dàn hợp xướng. Giống như đám cưới buổi tối trong một thị trấn nhỏ; bên trong là những người được mời, còn bên ngoài là tiếng ồn ào om sòm chẳng dính gì đến những thứ còn lại.
Ông bước vào trong và gọi một Scotch pha sôđa. Quán rượu đầy những người cố tình đi xem hát muộn, những người đàn ông nông thôn mặc complê màu nâu sáng đang uống Old Fashioned và cười quá to so với bất cứ câu dí dỏm nào họ có thể nói ra. Liggett không muốn bắt chuyện với ai, kể cả những người bồi rượu. Ông hết uống lại hút thuốc, hết hút lại uống, và khi hút xong điếu thuốc, ông ăn khoai tây rán, uống cạn cốc, ông châm điếu thuốc khác và gọi cốc nữa. Cứ thế, ông đợi cho họ đến nhà hát và bên quầy chỉ còn mình ông. Lúc đó những người mặc complê nâu sáng hôn những người đàn bà xinh đẹp. Liggett vừa uống vừa nghĩ, họ say sớm quá. Ông nhận ra mình uống quá nhiều và kiên quyết dừng lại, dù có về nhà hay đã say khướt. Ông quyết uống cho thật say, về nhà ông sẽ bực mình vì không được uống say, say ở đây ông có thể nghĩ ra một việc điên rồ để làm, biết đâu ông lại tìm thấy Gloria. Cô có thể ở đâu nhỉ? New York rộng mênh mông, nhưng những nơi Gloria đến không quá nhiều. Loại nhà hát sang một bên, cô chẳng bao giờ đến nhà hát. Nơi duy nhất cô có thể đến là một căn hộ nào đó trong thành phố. Bất cứ nơi đâu, từ những ngôi nhà trên nhánh sông Harlem của Trung tâm New York đến các căn hộ trên sông East, hoặc căn hộ một phòng ở Village hay xưởng vẽ của một họa sĩ ở phố West Sáu mươi, hoặc một nơi nào đó trên đường Riverside. Bất cứ căn hộ nào.
Ông về nhà muộn, ông đã đến chín quán rượu lậu trong một khu nhà, và bị hai quán khác từ chối. Ông ra về mà vẫn chưa gặp được Gloria.
Cô ở với Eddie suốt đêm. Cô đến căn hộ của anh, họ đi nhà hàng ăn tối; Eddie ăn nhiều spaghetti, anh cuốn mì quanh nĩa một cách thành thạo. Họ uống hết một chai vang đỏ. Nhà hàng nhỏ và ngon, mùn cưa trên sàn và một bàn đánh pun, nơi những người Ý già cả chơi một trò mà Eddie không sao hiểu nổi, bắn hòn bi-a vào giữa hai con ky bé xíu. Một cái radio nhỏ đang bật. Họ không đổi tần số và chương trình đi từ âm nhạc đến kể chuyện phiêu lưu, rồi một nữ ca sĩ hát những bài về tình yêu tan vỡ, ông chủ nơi này không hề lược bỏ tí gì. Gloria và Eddie là người Mỹ duy nhất ở chỗ này, chẳng ai chú ý đến họ. Muốn được phục vụ, họ phải gọi người hầu đang chơi bài với ba khách quen.
- Tối qua em làm gì? - Eddie hỏi.
- À, đi xem phim.
- Rạp nào? - Eddie hỏi.
- The Strand.
- Em xem gì?
- Ờ, Norma Shearer[3] trong phim Người lạ có thể hôn.
- Thế ư? Em thích phim ấy không? Có hay không?
- Không hay lắm. Song, em thích chị ta. Em thấy chị ta hấp dẫn khủng khiếp.
- Chị ta người Canada. Quê ở Montreal. Em biết chứ, Montreal, Nova Scotia. - Eddie nói.
- Montreal không phải ở Nova Scotia. - Gloria nói.
- Anh biết. Còn phim Người lạ có thể hôn không chiếu ở The Strand, nếu em chú ý. Tất nhiên anh thì không. Anh mặc kệ, chỉ không hiểu em nghĩ thế nào mà phải nói dối anh.
- À, có khi em nhớ nhầm tên rạp.
- Không, em không thể. Em có thể đến nhầm rạp, nhưng không thể xem phim ấy vì Người lạ có thể hôn không chiếu ở Broadway. Trước kia thì có, nhưng hiện giờ thì không. Vì thế em đừng nói dối anh thêm nữa.
- Em cứ nói dối anh nếu em muốn. Đằng nào thì đấy cũng không phải việc của anh.
- Em đừng nói dối anh mãi thế, vì anh sẽ không ở gần mà nghe đâu.
- Sao thế? Anh sắp đi xa?
- Không. Anh còn đi đâu được? Không, chỉ vì anh không muốn gặp em. Anh không muốn gặp em nếu em cứ nói dối anh. Anh biết gần hết các chuyện về em và không để tâm đến cách sống của em, vì đấy là việc của em. Nhưng đừng có gây rắc rối vì nói dối anh. Em cứ để dành những lời dối trá cho người nào em phải nói dối nhé.
- Thì…
Eddie cười.
- Tất nhiên trừ khi em muốn luyện tay nghề với anh. Mà này, em phải làm khéo hơn. Em đừng tưởng Norma tin câu chuyện đêm trước về em và người anh họ tưởng tượng của em, cả cái trò tào lao nơi em mất hết quần áo. Em nghĩ gì về người khác kia chứ? Em không gây cho họ một tí tẹo lòng tin được sao? Em biết không, bịa đặt một câu chuyện điên rồ để giải thích một việc em không cần phải giải thích là một loại xúc phạm. Em biết đấy, Norma là bạn gái của anh và cô ấy không hề nghĩ sai về chúng ta.
- Anh đã kể cho cô ấy rồi ư?
- Dĩ nhiên là thế.
- Sao kia? Anh nói gì với cô ấy?
- Anh kể chúng ta không là bồ bịch gì hết.
- Ai nêu ra chuyện ấy? Anh nói trước hay Norma hỏi anh? Sao anh lại kể với cô ấy?
- Anh không biết. - Eddie nói và ngẫm nghĩ. - Vì anh quen biết cô ấy trước. Norma hỏi anh có yêu ai không, anh bảo không. Cô ấy nói còn cô gái tên Gloria thì sao, có người nói anh gặp cô ta luôn. Người ta kể với Norma là anh gặp em, nhưng cô ấy chỉ biết tên em thôi. Vì thế anh bảo em chỉ là bạn, và chỉ thế mà thôi.
- Thế ư?
- Thế đấy. Chẳng có gì đáng phải nhắc lại.
- Norma không nói rằng nếu anh và em là bạn suông, thì anh có là người bạn suông duy nhất của em không?
- Không. Không hẳn thế.
- Không hẳn ư? Tuy nhiên anh biết cô ấy nói gì đại loại như thế chứ?
- Hơi giống thế thôi. Mà quỷ thật, Gloria ạ, đúng thế. Norma không tin thế. Cô ấy muốn biết làm sao anh có thể gặp gỡ một cô gái xinh đẹp như em mà vẫn giữ được tình bạn thuần khiết. Ý anh là giữ cho nó thuần khiết.
- Anh tức vì tưởng cô ấy nhạo anh. Nó làm anh xấu xí, chẳng đáng là người đàn ông để em ngủ cùng.
- Em nhầm rồi. Nếu anh bực mình thì vì hiện giờ đã khá muộn để đùa rồi.
- Anh đã từng bực mình vì việc đó?
- Không.
- Sao không?
- Anh không biết.
- Vì với anh, em không hấp dẫn?
- Không phải thế.
- Vậy thì vì cái gì?
- Chúng ta không nói chuyện này nữa, đấy là lý do duy nhất anh có thể nói lúc này. Em muốn có một lý do về mặt tâm lý không?
- Có.
- Được, vậy anh không phải là người dành cho em. Em uống thêm chút vang nhé?
- Vâng, em nghĩ là nên uống thêm vang làm từ nho chua.
- Chà, ơn Chúa. - Eddie nói. - Anh suy ra rằng anh là trái nho chua vì anh thích Norma hơn em?
- Sao lại không? Đấy chẳng phải là sự thực sao?
- Không, tất nhiên là không.
- Anh không thích em vì anh cảm thấy mình cao giá hơn. Anh biết đủ thứ về em và chính vì thế anh chẳng bao giờ đề nghị ngủ với em.
- Anh đã từng đề nghị như thế.
- Vâng. Ngủ với anh. Phúc đức thật. Khi em say, anh cho là em sẽ rầy rà nếu về nhà mà lướt khướt. Anh bảo em nên ngủ lại nhà anh. Về mặt nào đó, đấy là sự sỉ nhục lớn nhất anh có thể làm. Nó chứng tỏ anh nghĩ gì về em. Anh vượt quá tầm hấp dẫn tình dục của em. Anh có thể ngủ với em mà chẳng cảm thấy gì.
- Lạy Chúa tôi.
- Vâng, lạy Chúa tôi. Em không tốt. Em không đáng để đụng chạm. Anh sẽ bị ô uế nếu chạm vào em. Đấy là kiểu anh nghĩ về em phải không?
- Không.
- Đúng thế! Anh căm ghét em, Eddie Brunner. Anh không thể chịu nổi em. Anh cao quý thế kia mà, anh…
- Thôi, dừng lại.
- Sao em phải thôi? Vì em nói quá to chứ gì. Em làm anh lúng túng vì nói quá to. Phải không nào?
- Em đang nói chỉ to hơn tiếng thì thầm.
- Khốn kiếp, sao lại không? Này! Ông kia! - Gloria gọi một trong những ông già người Ý.
- Cô gọi tôi?
- Phải. Lại đây.
Ông già tiến đến và ngả mũ.
- Có tôi. - ông ta nói.
- Tôi nói có quá to không?
- Ồ không. Không to chút nào, cô ạ. Cô đang thoải mái mà. - ông ta mỉm cười với Eddie.
- Tôi không hỏi tôi có thoải mái không. Tôi hỏi ông tôi nói có quá to không?
- Ồ không. Chúng tôi không để ý đâu. - ông ta nói.
- Tôi nói to thế có làm phiền ván bài của các ông không?
- Không. Không. Không đâu.
- Tốt. Ông có thể đi.
Ông già nhìn cô rồi nhìn Eddie, ông cười với Eddie rồi ngả mũ chào và trở lại với cuộc chơi. Ông giải thích sự gián đoạn bằng tiếng Ý, từng người chơi đều quay lại nhìn Gloria trước khi tiếp tục.
Eddie vẫn ăn.
- Anh vẫn ngồi đấy à.
- Ừ. Như thể không có gì xảy ra. Uống vang đi, cô gái ác nghiệp ạ, rồi lại thấy thương thân hơn thôi. John!
Người hầu đến.
- Lấy chai vang nữa. - Eddie nói.
Họ không nói gì trong lúc người hầu đi lấy rượu. Anh ta mở chai và rót một ít vào cốc của Gloria.
- Thật sỉ nhục! - Gloria nói.
- Thưa cô? - người hầu nói.
- Thật sỉ nhục. Anh không thấy anh ta làm gì à? Anh thừa hiểu là nên đề nghị anh ta rót vào cốc của anh ta trước chứ.
- Anh sẽ uống cốc của em. - Eddie nói.
- Không phải ý ấy. Anh ta cho rằng rót một ít vào cốc của anh trước, rồi rót đầy cốc em, sau đó mới rót đầy cho anh. Anh biết, vậy vì sao anh ta không biết thế hả?
- Vang này vừa đóng chai, thưa cô. Nó là chai duy nhất vì các vang khác đóng chai lâu rồi.
- Anh không phải nói với tôi về vang. Tôi biết về các loại vang còn sành hơn anh nhiều.
- Vâng, thưa cô. Đây là vang nhà làm và là chai duy nhất tối nay đấy ạ.
- Tôi không hỏi anh tiểu sử của nó. Tôi muốn một cốc vại.
- Lấy cho cô ấy một cốc vại. Rye pha sôđa. - Eddie nói.
- Hãy chiều cô ấy. - Gloria nói. - Để cô ấy làm theo cách của cô ấy. Được, tôi không muốn làm một cốc vại. Tôi muốn một chai vang khác, và phải rót thật đúng kiểu, dù nó đóng chai từ năm 1926 hay mấy phút trước. Cả đời, tôi chưa bao giờ bị sỉ nhục như thế.
- Liệu em có say không đấy? - Eddie hỏi.
- Không, anh biết là em không say mà.
- Vậy em bực nỗi gì? Thôi được, John, lấy chai vang khác. Em sao thế, Gloria? Có người làm gì em phải không? Anh thì chẳng bao giờ thích thế cả. Chỉ lát nữa thôi, anh sẽ bắt đầu thương thân. Có lẽ em ghét anh và không muốn kể với anh.
- Không.
- Kể đi, có chuyện gì thế?
- Em không muốn nói đến việc đó.
- Em có thể nói với anh. Bao giờ cũng thế mà.
- Bản thân em còn chẳng hiểu ra sao nữa đây. Anh không chịu được đâu. Em yêu anh, Eddie. Ôi chao, em thật tởm.
- Em yêu ai phải không?
- Không phải cách em muốn.
- Em định nói anh?
- Không. Mà có. Nhưng anh không phải là người em nghĩ đến. Không, đấy là Liggett.
- Em yêu Liggett ư?
- Ồ, em nghĩ thế. Em chẳng biết nữa.
- Ông ta có biết không?
- Không.
- Em yêu ông ta thực sao?
- Vâng. Ông ấy thì không. Em biết ông ấy nghĩ gì. Ông ấy cho em là… một người dễ dụ dỗ. Đêm đầu tiên đi với Liggett, em đã lên giường với ông ấy. Còn tệ hơn thế. Ông ấy vớ được em trong một quán rượu lậu.
- Chà, vớ được em trong một quán rượu lậu còn hay hơn là ở ga Grand Central chứ.
- Sao anh lại nói thế! Trả lời em đi! Sao anh lại nói thế?
- Anh không biết. Chuông reo địa ngục. Anh đã nói gì sai?
- Sao anh lại nhắc tới ga Grand Central. Anh biết gì về ga Grand Central?
- Ờ, thì… đấy là… một… cái ga.
- Anh vừa bảo vớ được em trong một quán rượu lậu còn hay hơn là ở ga Grand Central. Sao anh lại nói thế? Anh biết em được nhặt ở ga Grand Central?
- Không, em ư?
- Ôi, lạy Chúa. Ôi, Eddie. Đưa em ra khỏi đây ngay, về nhà anh đi.
- Được rồi. John! Bảo John tôi không muốn vang nữa. Đưa hóa đơn lại đây.
Họ về nhà và cô kể cho anh nghe về tiến sĩ Reddington. Cô ở lại đấy cả đêm vì sợ, còn Eddie ngủ trên ghế, anh quan sát cô trong lúc giả vờ đọc. Anh kiệt sức vì lần đầu tiên trong đời, anh thấy thèm giết chết một người.
•••
Sáng hôm sau, thứ Ba, Liggett thức giấc với cảm giác hơi nôn nao, nó làm ông nhớ tới những buổi sáng sau trận đá bóng và đua thuyền, khác hẳn sau một đêm nhậu nhẹt như đêm qua, có thể hy vọng phục hồi một phần trong ít phút sau khi tiểu tiện và sau một ngày luyện tập vất vả không được đi tiểu luôn, chí ít là trước khi sung sức nhất. Với Liggett, cuộc chèo thuyền quá vất vả làm cứng các cơ trong ruột, dẫn đến chứng táo bón và mụn nhọt. Ông uống rượu để không còn các ảnh hưởng ấy nữa. Đi vệ sinh xong là những nôn nao khó chịu kiểu này tiêu tan hết. Một cốc nước ép cà chua nêm chút nước sốt Worcestershire, một tách cà phê đen và một đĩa súp cà chua rưới kem là bữa sáng ưa thích của ông.
Ông đang ăn súp thì Emily vào.
- Có tin gì về chiếc áo không?
- Anh không tìm thấy Casey. Hôm nay anh sẽ liên hệ với anh ta.
- Trên áo vét của anh có cái gì kìa. Đây, để em lấy đi cho.
- Không, không sao. Để đấy cho anh.
- Để em làm cho. Anh sẽ bị dây bẩn mất. Cứ để em. - bà dùng con dao cạo sạch vết súp. - Xong rồi.
- Cảm ơn em.
- Tối nay chúng mình đi xem hát nhé. Em muốn xem Bart Marshall. Còn anh thích Zita Johann.
- Bart Marshall? Anh ta là ai?
- Herbert Marshall. Em cười nôn ruột.
- Họ đóng vở gì vậy?
- Ngày mai và Ngày mai. Của Philip Barry.
- Ừ. Nếu mua được vé. Chúng mình sẽ mời ai nhỉ?
- Em nghĩ nên mời vợ chồng Farley. Chúng mình sắp về nông thôn mà em chưa gặp chị ấy từ mùa thu năm ngoái. Em nghĩ đến anh chị ấy vì họ tham gia câu lạc bộ Chủ nhật, và chị Farley là một phụ nữ dễ thương. Em thích chị ấy.
- Ờ, anh đã gặp anh ta. Anh ta có một người bạn nói là biết anh ở New Haven. Một người Do Thái.
- Ô hô. Anh ư? - Emily cười.
- Em cười gì thế? Anh chẳng có gì chống lại người Do Thái. Anh có vài người bạn tốt là dân Do Thái. Paul và Jimmy. Em thừa biết là anh mến họ.
- Em biết, nhưng không phải lúc anh đang ở trường.
- Nghe này, em đừng nói vòng vo thế nữa. Đây không phải lúc màu mè. Mời nhà Farley bằng mọi giá (nhà Farley toàn người danh giá). Anh trai Farley là bạn thân của Al Smith[4]. Em mua vé nhé, còn việc ăn mặc thì sao?
- Em nghĩ là thắt cà vạt đen.
- Đúng. Farley lúc nào cũng mặc rất lịch sự, nếu em không ghi rõ thắt cà vạt đen, anh ấy có thể mặc áo đuôi tôm, cuối mùa mà phải chui vào áo đuôi tôm thì thật đày đọa. Vở kịch này có hay không?
- Josie thích nó.
- Cô ấy thì biết cái quái gì kia chứ?
- Anh thích Josie. Em đã nghe anh nói là anh thích cô ta.
- À, em định nói đến Josie Wells. Anh tưởng em nhắc đến Josie Demuth.
Ông lau miệng vào mép khăn ăn. Ông nhìn đồng hồ, rồi phải nhìn lại lần nữa mới rõ là mấy giờ.
- Anh sẽ về nhà sớm hết mức có thể. Anh đến Philadelphia lúc mười giờ, nhưng sẽ về để còn nhiều thời gian ăn tối, hy vọng thế. Anh không đến văn phòng đâu, trừ khi từ Philadelphia về, anh ghé qua. Tạm biệt. - ông hôn bà.
•••
- Chị Farley, đây là Emily Liggett. Tôi đã cố vẫy chào chị trong câu lạc bộ Chủ nhật.
- Tôi nhìn thấy chị và mấy cô gái. Ruth đấy à?
- Vâng. Nó không…
- Ồ, chắc cháu nó vui tính lắm. Tôi biết Barbara, nhưng phải nhìn đến hai lần mới chắc đấy là Ruth. Trước kia cháu kháu khỉnh, và bây giờ thì xinh đẹp.
- Cảm ơn chị. Giá tôi có thể nói với cháu câu ấy, nhưng tôi nghĩ nên để dành. Khi cháu nó cần phấn chấn lên. Tôi tự hỏi không biết anh chị có đến dùng bữa tối nay không vì mời sát ngày quá. Tôi muốn mời anh chị vào Chủ nhật, nhưng nếu thế chỉ có bốn chúng ta, chị, anh Farley, chồng tôi và tôi. Tôi nghĩ chúng ta có thể đi xem hát.
- Tối nay ư? À vâng, tôi nghĩ là được. Hầu như chắc chắn đấy.
- Thế thì hay quá. Anh chị đã xem vở Ngày mai và ngày mai chưa?
- Chưa, chúng tôi chưa xem. Sáng nay Paul nói đấy là một trong những vở anh ấy muốn xem. Tôi nghĩ vở đó được giải Pulitzer, hay ít ra nhiều người tưởng thế.
- Ồ, người ta lại trao giải Pulitzer sao?
- Vâng, trên báo sáng nay. Ngôi nhà của Alison của Susan Glaspel đoạt giải.
- Ngôi nhà của Alison. À vâng. Hình như là của Emily Dickinson[5], nhưng tôi chưa đọc lần nào. Người ta diễn nhiều vở hay ở Civic Repertory[6], nhưng đi xuống tận đấy thật phiền nhiễu. Vâng, tôi rất mừng vì anh chị sẽ đến. Bảy rưỡi nhé, và các đức phu quân của chúng ta nên thắt cà vạt đen.
- Tuyệt, rất cảm ơn anh chị. - Nancy nói.
Bà ấy thích Emily Liggett, và hài lòng vì biết bà Liggett đã không vẫy chào mình hôm Chủ nhật. Lời nói dối ấy là một trong những điều thú vị. Nancy Farley thừa biết bà Liggett đã nhìn thấy mình ở câu lạc bộ, rồi hôm thứ Hai đã nghĩ đến bà có lẽ đến vài lần, và chắc đến tối qua mới quyết định mời bà đến ăn tối. Nancy không mong hoặc tha thiết muốn là bạn thân của Emily Liggett. Emily Liggett là một trong vài người phụ nữ Nancy hay nghe nói tới, nhìn thấy họ cả đám trong câu lạc bộ mùa hè và qua những mái đầu của bao nhiêu người trong nhà hát. Bà biết Emily thích bà - điều đó hay ho và có ý nghĩa hơn là thích vẻ ngoài của bà - sự ưa thích đó nằm trong nhiều đặc tính như tôn trọng và tán thành lẫn nhau. Họ chưa bao giờ là bạn thân, vì chưa bao giờ cần đến điều đó. Nancy biết nếu tình cờ bà và Emily Liggett cùng đi du ngoạn trên một chiếc du thuyền hoặc một chuyến tàu hỏa đường dài, họ sẽ tìm ra nhiều bạn chung hơn trong nhóm quen biết ở New York; nhưng Nancy hài lòng tiếp nhận sự ưa thích đó vì hạ cố, vì có nhiều thị hiếu chung. Giờ đây, trong cảm giác ngưỡng mộ của bà có thêm chút nồng nhiệt với bà Liggett; nó động viên bà Liggett mời vợ chồng Farley đến dùng bữa, và đó chính là điều làm Nancy thích thú. Bà gọi đến văn phòng của Paul và nhắn qua thư ký rằng họ sẽ đến nhà Liggett dùng cơm tối. Sau đó bà vào phòng Paul, thấy một trong những bộ dạ phục của ông đã ủi tinh tươm, bà kiểm tra chiếc áo sơmi, cổ áo và cà vạt của ông như thường lệ.
Các con trai bà đến trường từ lâu và Nancy chẳng có việc gì làm cho đến năm giờ. Hàng ngày cứ đến năm giờ chiều, trừ khi Paul có kế hoạch khác, Nancy lái xe xuống đại lộ Lexington đến gần Graybar Building, nơi đặt văn phòng của Paul. Bà đã làm việc đó bốn năm nay. Nó bắt đầu một cách ngẫu nhiên. Một buổi chiều, bà tình cờ ở gần văn phòng ông ở số nhà 247 đại lộ Park, bà đợi và bắt gặp ông đi ra. Họ cùng thấy đấy là một ý hay và bà có thể vui vẻ làm thế hàng ngày. Nó có lý do riêng, hồi này có nhiều bữa tiệc tối, và bà phải ghé vào đón ông để cùng đi dự. Dù chưa bao giờ nói ra với nhau hoặc với người khác, nhưng cả Nancy lẫn Paul đều ghét bước vào một căn phòng nào đó một mình. Họ cùng bày ra một bình phong hòa hợp tốt đẹp, và trong ý nghĩ của bè bạn thì hai người luôn luôn là vợ và chồng. Chỉ với những nhân viên vẽ đồ án hoặc người làm công và một vài doanh nhân quen với Paul, ông mới được nhận dạng riêng. Sau những giờ làm việc, ai cũng nghĩ ông là người đóng vai nam của cặp ông bà Paul Farley không thể tách rời. Với Nancy thì hầu như thế thật. Nó thật vì là phụ nữ, bà có đủ mọi thứ - sắc đẹp, tính xấu, vẻ quyến rũ, thị hiếu tồi, thị hiếu tốt, hấp dẫn về tình dục - nên được nhận dạng nhanh hơn và giữ được đàn ông lâu hơn. Thế là họ cùng đến dự các bữa tiệc, hoặc đơn giản là cùng về nhà. Ngày nào, bà cũng đi đón ông.
Sau một thời gian việc này bắt đầu thành thói quen, Nancy không còn thấy là niềm hạnh phúc nguyên sơ nữa. Ban đầu vì tình cờ, sau đó ngày nào Paul cũng xuất hiện ở ghế sau ôtô và véo nhè nhẹ vào gáy Nancy. Lúc đầu thì có duyên, Nancy nghĩ thế. Bà mong được thế. Rồi sau đó, bà thấy mình muốn cưỡng lại, bà căng thẳng thần kinh và ngồi vào ngay giữa ghế trước, thầm mong ông không thể bất ngờ tóm lấy gáy bà. Nhưng ông vẫn luôn luôn làm thế. Nó thành trò chơi với ông, và rất hiếm khi bà may mắn nhanh hơn ông. Hồi đó, họ có một chiếc Packard bốn chỗ. Khi họ mua chiếc ôtô bỏ mui, bà nghĩ ngay đến việc có thể nâng cửa bên phía bà, và ông không thể chạm vào gáy bà. Tuy vậy cũng không ổn; ông vẫn gây bất ngờ bằng cách gõ mạnh cái nhẫn lên cánh cửa đã kéo kín. Từng tí, từng tí một, thói quen đi đón Paul dần dần trở thành phiền nhiễu, rồi hầu như thành nỗi kinh hoàng. Nó làm bà hốt hoảng, dù ban đầu bà thấy việc ông làm thật đáng yêu và dịu ngọt. Vào trong xe được mấy phút bà mới tập trung được vào lời ông nói. Vài lần, trong những ngày đẹp trời ông có lý do đòi bà đi đón, bà không thể đối phó nổi - dù từ đối phó không hẳn chính xác - và bà kiếm cớ để không đến. Những lần như thế, Paul thấy bị tổn thương đến mức bà tự nhủ mình thật đáng ghét; Paul tốt bụng, ân cần, dịu dàng từng ly từng tí như thế, có lý nào bà không thể bỏ qua một khiếm khuyết nho nhỏ dường ấy? Nhưng sự ân hận này không kéo dài. Nó là một dạng buông thả và chắc chắn không giải quyết được vấn đề.
Vấn đề không phải là nói thẳng với Paul là bà phản đối việc ông véo gáy bà. Từ những cuộc trò chuyện với bạn bè và những quan sát của mình, Nancy biết rằng trong mọi cuộc hôn nhân (sau tất cả mọi sự, rút lại chỉ là hai con người chung sống với nhau), người vợ giữ mồm giữ miệng là điều tối thiểu để chồng không ghét cay ghét đắng mình. Bà biết có cuộc hôn nhân tan vỡ chỉ vì người chồng có thói quen để lòng trắng trứng lòng thòng qua thìa mỗi khi ăn trứng luộc lòng đào. Mà việc này sáng nào cũng diễn ra. Bà còn biết một trường hợp khác, người chồng bỏ vợ mà đi vì ông ta nói vợ không sạch sẽ; mất một tháng các nhà phân tâm học mới được ông chồng tiết lộ rằng người đàn bà kia đi vệ sinh xong cứ để giấy bập bềnh trong bồn cầu. Những việc như thế bạn phải giữ kín, chúng còn tệ hơn những thứ đem ra cãi vã om sòm: thái độ của chồng bạn (hoặc vợ bạn) trên giường, thị hiếu của anh ấy (hoặc cô ấy) trong ăn mặc, chơi ăn gian, hay tán tỉnh yêu đương lăng nhăng, cư xử tồi, khác biệt về quan điểm, nói năng lải nhải, nhắc đi nhắc lại, khoe khoang khoác lác hoặc quá nhún nhường, đúng giờ hoặc không đúng giờ, đủ thứ khác mà người ta có thể cãi nhau không giấu giếm. Lúc nào bà cũng cầu Chúa cho Paul thôi đi. Nhưng, không; chắc ông làm thế vì tưởng bà muốn thế.
Nancy Farley chẳng có việc gì để làm cả ngày thứ Ba, bà nghĩ đến thói quen nho nhỏ của Paul vào lúc sớm sủa này. Hôm nay trời rất đẹp. Bầu trời không một gợn mây, bà chẳng kiếm ra cớ gì xác đáng để không đi đón Paul. Một ngày như thế này, lại rảnh rỗi, làm bà có nhiều dịp thỉnh thoảng nghĩ đến John Watterson, chàng nghệ sĩ chất phác mà ai cũng bảo duyên dáng hơn tất cả, phải, họ nói anh chàng quyến rũ hơn tất cả những người họ từng biết. Watterson xuất thân trong một gia đình Boston vô cùng danh giá, đã từng học ở Harvard, thường đóng các vai cứng rắn, dù rất điển trai trong bộ áo đuôi tôm. Ông làm người ta nhớ đến Tổng thống Lincoln; ông cao và giản dị giống Lincoln, và Lincoln chắc cũng có giọng nói mê hoặc. Watterson có giọng nói như thế. Hết vở này đến vở khác, Watterson được yêu quý đến mức người ta gọi thẳng tên ông: “Này, anh có đến xem buổi diễn đầu tiên của John không?”, ngụ ý Watterson rõ ràng như Kit, Alfred, Lynn, Helen, Oggie, Jane, Zita, Bart, Blanche, Eva, Hopie và Leslie, nghĩa là những người mang tên ấy có ý nghĩa như chính họ vậy. Watterson nhất định sẽ đến, và đến rồi, ông bình thản làm nghề, vào, ra sân khấu.
Lần đầu tiên để mắt đến ông, điều đầu tiên Nancy nói là ông chân thật, rồi bà sửa lại là “một người có tính chân thật”. Mái tóc ông như người Anhđiêng, thẳng, đen và rũ xuống trán, ông chưa bao giờ có ý giữ cho nó khỏi rủ xuống. Môi ông đầy đặn, thốt ra những âm thanh trầm, ấm với giọng Chicago mà ông không bao giờ cố thay đổi, trừ khi đóng vai thuyền trưởng tàu quét thủy lôi của Anh và vai người Anhđiêng trong các bộ phim. Ông được nhắc tới là có đôi bàn tay đẹp. Bàn tay ông to, hai ngón út đeo nhẫn khắc dấu riêng, rất hợp với ngón tay ông. Ông thích phụ nữ có bộ mông vừa với bàn tay xòe rộng của ông, và dù Nancy không hoàn toàn khớp với tiêu chuẩn, bà thuộc loại mông nhỏ, ông vẫn thèm muốn bà.
Bà đã nhìn thấy Watterson có lẽ đến hơn chục lần ngoài sân khấu. Việc này làm ông khổ sở vô cùng vì ông thừa biết, số lần ông nhìn thấy Nancy cũng bằng số lần bà nhìn thấy ông. Nhưng thế mới là ông Watterson và bà Farley. Trong ba lần cuối bà nhìn thấy ông, ông đã mời bà đến vào buổi chiều, bất cứ chiều nào, khi bà có chút thời gian. Ông sẽ đến tận nơi ấy. Nếu bà đến coi như là sự thông cảm, vân vân và vân vân. Bà hiểu như thế. Tiếp đó ông hiểu ông nổi tiếng ra sao, mọi người phụ nữ ông quen biết cũng hiểu danh tiếng của ông.
- Tôi không khắc lời nguyền, nhưng tôi đánh cược là sẽ làm bà say. - ông nói. Phải, ông thành thật và ông có tên trong danh bạ điện thoại.
Giờ đang mùa xuân và Nancy không có việc gì làm suốt ngày cho đến cuộc thử thách hàng ngày với Paul; tuần trước bà gặp Watterson, ông đã nói:
- Bà không vào uống một cốc ư, bà Farley. Thế thì có sao?
- Tôi không khát.
- Khát ư? Có ai uống vì khát đâu? Tôi sắp đi nghỉ cuối tuần nhưng sẽ về vào thứ Ba, tên tôi có trong danh bạ, vì thế tôi nghĩ bà cần uống một cốc vào thứ Ba. Hoặc thứ Năm. Tôi rất muốn ngày thứ Năm. Hoặc thứ Tư. Hay bất cứ ngày nào cũng được. Nhưng bắt đầu từ thứ Ba. - rồi ông cười xòa, xua tan mọi lời trách cứ và để bà hiểu rằng cố nhiên ông không nghĩ bà sẽ ghé đến.
Trong cuộc sống với Paul trước kia, Nancy đã không kìm được mình và hôn một người đàn ông khác, một nụ hôn dài, hôn lúc đứng, miệng bà hé mở và chân dạng ra. Giờ đây bà nhớ lại, người đó cũng là một nghệ sĩ. Một diễn viên trẻ, gần như vô danh. Hôm nay nghĩ đến Watterson rồi nhớ lại cậu diễn viên trẻ, bà trở lại thực tế tự khám phá mình. Đó là điều bà phát hiện ra khi quan sát tiến triển của cuộc sống tình yêu ngoài hôn nhân của bè bạn, trong lúc ra vẻ không để ý đến. Trong thực tế, có một loại đàn ông hấp dẫn và nổi tiếng hay săn đuổi phụ nữ, những người phụ nữ đứng đắn như Nancy có thể hình dung là tình tang thì được, nhưng không cưới dù anh ta là người đàn ông cuối cùng trên trái đất. Trước kia Nancy đã nghe một câu khôi hài của Pháp: “Anh có thể vào rừng nhưng không cần mua nó” (có vẻ hay hơn câu của Mỹ: “Tại sao phải nuôi một con bò khi sữa rẻ thế?”). Nancy đã dùng nhận xét về Rừng để bào chữa cho thái độ của một số gã đàn ông bà thích, nhưng không thích tư cách của họ. Trong ba hoặc bốn năm gần đây, chỉ có một lần bà toan áp dụng câu đó với đàn ông. Phải, bà sẽ không lấy một người như Watterson, nhưng có những người đàn ông như Watterson thì sao không khám phá họ kia chứ? Vì sao không khám phá họ, chí ít cũng là một người? Bà biết từng sợi lông trên người Paul, họ biết nhau tường tận đến hết mức có thể. Một người đàn ông mới mẻ sẽ là một sự mới mẻ, và Nancy lấy làm kinh ngạc về bản thân. Có lẽ bà cũng sẽ mới mẻ trọn vẹn với bản thân mình cũng như với người đàn ông mới. Đây là thời gian thích hợp để khám phá. Bà thản nhiên quyết định sẽ có một cuộc tình với chàng nghệ sĩ Watterson.
Bà ngồi xuống, tờ The Good Earth đặt trước mặt. Bà gạt nó sang bên lúc quyết định xong, bà đứng dậy vào phòng để đồ, nơi những cái mũ để trên cùng, trông như những cái khuy cổ áo bằng gỗ to tướng. Bà cầm hai cái mũ, thử cả hai rồi quay lại lấy cái thứ ba và đội. Găng, ví, dập tắt thuốc lá, bà đã sẵn sàng lên đường.
Ôtô đậu bên ngoài. Bà lên xe, lái qua mấy khu nhà đến nơi Watterson sống. Lúc đến nhà ông ta, bà rẽ sang phải mà không thay đổi tốc độ. Dù sao chăng nữa… không phải là hôm nay. Bà có một linh cảm. “Nếu bàn chân mình nới lỏng chân ga, mình sẽ vào. Nhưng không, không, không phải hôm nay”. Bà đi xem phim - George Arliss trong Nhà triệu phú. “Mình đã bỏ lỡ một cơ hội.” - bà nghĩ đến Watterson và tự nhủ, rồi thích thú nhắc đi nhắc lại.
•••
- Em uống cà phê nhé? Anh sẽ pha, nếu em đợi được. - Eddie nói.
- Thế ư? - Gloria nói. - Ôi Eddie. Chào Eddie yêu quý.
- Chào em yêu. Còn cà phê thì sao?
- Em sẽ pha. Đợi em một chút cho em tỉnh ngủ đã.
- Em không phải pha đâu. Có sẵn rồi. Mọi việc em cần làm là uống thôi.
- Cảm ơn anh. - cô ngồi dậy trên giường, đưa hai tay ra với cái tách và đĩa lót. Cô uống một ít. - Ngon quá. - cô nói. - Anh pha à?
- Vâng, thưa quý cô. - Eddie nói.
Anh ung dung buông người xuống giường làm nó nảy lên và cà phê của cô trào ra.
- Em ngủ ngon không?
- Hừm. Rất ngon. - cô nói. - Còn anh? Anh ngủ ở đâu? Anh chàng tươi tỉnh của em.
- Ngay ở đây.
- “Ngay ở đây” là đâu? - cô nhắc lại.
- Kia kìa. Trên ghế.
- Kia, kia, kia, dưới gầm ghế. Nhanh, nhanh, nhanh, vớ lấy súng. - cô nói. - Không, anh đã ngủ ở chỗ nào, cưng?
- Anh nói rồi, trên ghế.
- Không thể được. Với đôi chân này ư? Anh không thể ngủ trên bất cứ cái ghế nào với đôi chân dài ngoằng ngoẵng. Anh làm thế nào với đôi chân này?
- Anh chẳng làm gì hết. Anh chỉ đút mông thật sâu vào trong ghế, còn chân thì… anh không biết. Duỗi thẳng ra. À ừ, duỗi thẳng về hướng tây nam, anh ngủ tít và chân anh cũng ngủ.
- Chao ôi, chắc anh phải cảm thấy bực bội lắm. Anh có mỏi không?
- Không, nói thực là anh thấy dễ chịu. Lúc đi ngủ anh đã mệt rồi. Sau khi em ngủ lơ mơ, anh đọc một lúc rồi cứ để đèn sáng mà ngủ. Lúc thức giấc, anh đoán khoảng ba hay bốn giờ; anh tắt đèn, dậy và đắp thêm áo bành tô. Anh chợt nhớ ra. Em biết đấy, chính là chiếc áo lông thú em mặc đến đây hôm Chủ nhật. Nó vẫn ở trong tủ kia kìa. Tốt hơn hết là em mang nó đi và làm gì thì làm. Mang trả lại nơi em lấy nhé?
Hình như Gloria cũng nghĩ đến việc ấy.
- Được không? - Eddie nói. - Gloria, đấy không phải việc của anh, và em làm gì cũng không phải việc của anh, anh chỉ muốn em trả lại chiếc áo ấy. Đó là một hành động phóng đãng, có lẽ em có đủ thứ lý do trên đời khi em làm việc đó, vào lúc đó, nhưng em không thể giữ một chiếc áo như thế, giá nó khoảng bốn, năm trăm đôla hoặc hơn.
- Bốn hoặc năm ngàn đấy.
- Giêsu! Càng thêm mọi lý do. Chúa ơi, họ bảo hiểm một chiếc áo như thế, với số tiền như thế, cưng ạ. Việc đầu tiên em nên biết là họ sẽ cài thám tử ở ngay ngưỡng cửa nhà chúng ta.
- Em ngờ lắm. Em hình dung mình có thể giữ nó miễn là em muốn.
Eddie nhìn cô một lúc rồi đứng dậy.
- Em muốn uống thêm chút cà phê không? Còn đấy, nếu em muốn.
- Anh không thích thế à?
- Anh thích hay không thì có gì khác nhau đâu? Anh đã nói với em điều anh nghĩ. Anh không nói thêm nữa.
- Anh vẫn có thể nói được chứ. Lại đây. - cô nói và giơ hai bàn tay lên. Anh lại ngồi xuống giường. Cô vòng tay ôm lấy đầu anh, kéo anh vào ngực mình. -Anh không biết em làm việc đó vì anh sao, anh yêu quý của em. Anh là tất cả những gì em có, Eddie ạ. Eddie, anh sợ em. Em không tốt, Eddie. Em biết em không tốt, nhưng vì anh, em có thể thành người tử tế, Eddie, Eddie thân yêu của em ạ. Nào, lại đây. Một giây thôi, anh yêu. Một giây thôi. Cưng của em. Cưng cần cắt tóc. Ôi chao… Cái gì thế!
- Điện thoại. - anh nói.
- Trả lời đi. Không trả lời sẽ rắc rối đấy.
- Alô. - anh nói vào ông nghe. - Gì ạ? Vâng. Tôi đang nói đây.
Một lúc ngừng.
- Vì sao, ông là đồ… - Eddie dập máy. - Tiệm giặt ủi Bush Brothers Hand. Một lũ khốn.
- Đấy là hiệu giặt anh nợ tiền phải không?
- Lạy Chúa tôi. Có lẽ thế. Anh quên béng tên của nó. Anh còn không nghĩ rằng mình từng biết đến nó. Không, có thể không phải. Tiệm Bush Brothers mới mở, đang hút khách, vì thế chắc không phải là nơi anh gửi đồ đến giặt. Họ không muốn bất cứ việc làm mới. Còn anh muốn em.
- Anh ư? Em đây. Có ai nhìn thấy chúng ta qua cửa sổ đằng kia không?
- Có thể. Anh sẽ đóng cửa lại. Để anh làm.
- Em nên đứng dậy.
- Không, đừng thế.
- Em sẽ có con mất.
- Em không muốn có con à?
- Có chứ, rất muốn. Nhưng, không sao.
Anh ngồi thẳng lại và nhìn lảng đi. Anh ra hiệu ném bóng vào rổ bằng nắm đấm.
- Không. - anh nói.
- Ổn mà, Eddie. - cô nói. - Không sao đâu, anh yêu.
- Không. - anh nói. - Không, không được. Nó không an toàn chút nào.
- Em không bệnh tật mà. Anh không cần lo chuyện đó, nếu đấy là điều anh lo lắng.
- Ồ, anh hiểu. Anh không nghĩ thế đâu.
- Anh quen nghĩ thế rồi. Đúng không?
- Từ lâu lắm rồi. Trước khi quen biết em.
- Em chưa bao giờ làm chuyện đó với anh.
- Anh biết. Anh không nghĩ nhiều hơn đâu. Đấy không phải điều anh nghĩ lúc này.
- Anh không yêu em ư? Anh yêu Norma?
- Không.
- Anh có nói với Norma là anh yêu cô ấy không?
- Một hoặc hai lần.
- Cô ấy yêu anh?
- Không. Anh không nghĩ thế. Mà cũng có thể.
- Anh có vẻ không chắc chắn.
- Ồ, anh biết chắc. Cô ấy không yêu anh. Không, anh không làm việc gì với Norma hết. Anh yêu em.
Cô chạm vào vai anh.
- Em biết. Và em yêu anh. Anh là người duy nhất em yêu, và là người duy nhất yêu em.
- Anh không tin. Chà, em điên quá.
- Không. Em biết. Em biết cả những điều anh không biết. Hay có khi anh biết mà không nói ra thôi. Vì em đã ở với nhiều người đàn ông nên anh nghĩ là…
Đừng nói nữa. Đừng nói gì nữa.
- Được thôi. - cô nói, rồi im lặng như Eddie. Sau đó, cô tiếp. - Nếu anh không biết em đã ở với nhiều đàn ông như thế, anh có yêu em không?
- Anh rất yêu em.
- Nhưng nó sẽ khác hẳn, phải không? Tất nhiên rồi. Em ngu mới hỏi anh câu đó. Nhưng anh trả lời em thành thực xem nào? Nếu anh gặp em mà không biết gì về em, anh sẽ nghĩ về em ra sao?
- Em định nói gì vậy? Theo anh, trong thành phố này, không có cô gái xinh đẹp hơn em. Gương mặt em, và em có một thân hình rất đẹp. - anh ngừng lại. Cô nhìn chằm chằm về phía trước, không nghe anh.
Thất vọng.
- Em nghĩ gì thế? - anh hỏi.
- Hả?
- Em đang nghĩ gì mà nghiêm trang thế?
- Giờ thì mọi sự ổn rồi phải không? Anh sẽ ổn nếu em dậy chứ gì? Ý em là em mặc quần áo vào. Anh sẽ ổn chứ?
- Anh sẽ ổn.
- Vì em biết nhiều người lúc bị kích động chẳng xảy ra chuyện gì. Em sẽ không làm thế. Nếu đó là vấn đề, thì… ờ, em không biết. Em không biết bây giờ nên nói với anh thế nào, Eddie. Nếu anh thấy không thoải mái trong phần ngày còn lại vì chúng ta đã bắt đầu một chuyện mà chưa kết thúc, thì cứ chấm dứt đi.
- Anh sẽ không làm thế. Thậm chí lúc này anh chẳng thấy thích như thế.
- Em cũng không muốn thế, nhưng em không muốn anh cảm thấy như bị xoắn trong cái máy vắt.
- Anh không thế đâu. Em đừng lo gì cho anh.
- Thế thì em sẽ dậy và đi tắm một cái.
- Anh sẽ lấy cho em khăn mặt sạch. Anh có một cái.
- Hay quá.
- Đây, anh sẽ lấy cho em áo choàng tắm của anh. - anh nói, và dừng lại lúc bước đến tủ. - Người Đan Mạch sầu muộn sẽ đến, và đấy là điều buồn nhất trong năm. - anh mỉm cười với cô.
- Sao anh lại nói thế?
- Chẳng biết nữa.
- Như thế nghĩa là gì? Người Đan Mạch sầu muộn sẽ đến, và đấy là điều buồn nhất trong năm. Câu ấy có nghĩa gì đặc biệt không?
- Không, hoàn toàn không. Anh chỉ nghĩ mình là một người buồn rầu, em là người buồn rầu, làm anh nghĩ tới người Đan Mạch sầu muộn và anh bịa ra anh chàng đó. Người Đan Mạch sầu muộn sẽ đến, và đấy là điều buồn nhất trong năm. Nó chẳng là gì cả. Anh chỉ hòa trộn lời và giai điệu thôi. Người Đan Mạch sầu muộn sẽ đến, và đấy là điều buồn nhất trong năm. Em hay đến vào lúc chín giờ nhưng hiện nay em đến vào mười giờ. Anh sẽ lấy áo choàng tắm cho em.
- Cả khăn mặt nữa nhé. Khăn mặt cần hơn đấy.
- Không, không cần hơn. Không cần trong tình trạng hiện tại của anh.
- Ồ… anh thực sự cảm thấy là…
- Không, không. Không có gì nghiêm trọng đâu.
Gloria bước xuống giường và mặc áo choàng tắm của Eddie, cánh tay cô gấp lại đằng trước và vai hơi khom xuống. Cô mỉm cười với anh và anh cười đáp lại.
- Anh nghĩ… anh nghĩ là chưa bao giờ cảm thấy tệ hơn. Không buồn. Không phải nỗi buồn theo cách anh, em và mọi người nghĩ về nó. Nó chỉ là thứ chúng ta có, thế thôi. Anh sẽ không nói nữa.
- Vậy anh chấm dứt ngay lúc này đi.
- Anh phải chấm dứt? Anh đoán là anh phải thế. Thật kinh khủng khi em nghĩ rằng em ở với nhiều người đàn ông và làm đời em lộn xộn đến thế, rồi khi người em thực sự muốn ở cùng vì em yêu anh ta, lại là người duy nhất em không thể ở cùng vì nếu làm thế, ngay lập tức anh ta sẽ trở nên giống hệt những người khác, mà em thì không muốn thế. Thứ anh ta có mà người khác không có làm em không thể ở cùng anh ta.
- Không, như thế không đúng. Em không muốn anh nghĩ thế. Không phải thế đâu. Có khi là thế, nhưng em không nghĩ thế.
- Không, anh cho là không, nhưng… anh không biết nữa. Quỷ tha ma bắt nó đi. Em ra ngoài đi dạo đi. Mươi phút nữa em quay lại anh sẽ mặc quần áo xong.
- Em sẽ mua bữa sáng.
Cô đứng ở cửa buồng tắm nhìn anh mặc áo khoác.
- Em là một con đàn bà hư hỏng, Eddie ạ. Anh có biết vì sao không?
- Vì sao?
- Vì em biết cái gì là đúng, nhưng không thích thế. Anh chưa bao giờ nhìn thấy em không mặc gì, nhỉ?
- Anh sẽ mua bữa sáng.
- Thế mới đúng chứ. - cô nói.
Mười lăm phút sau anh vẫn chưa về. Cô bắt đầu lo lắng nhưng mươi phút sau anh về, và họ ăn sáng. Anh còn mua cho cô một hộp nước cam và một tờ báo buổi sáng.
- Hừ. Legs Diamond bị bắt rồi. - Gloria nói. - Trước kia em đã gặp anh ta.
- Ai không bị bắt? - Eddie nói. - Người ta bắt anh ta vì tội gì? Anh cược là đỗ xe gần chỗ lắp vòi rồng chữa cháy.
- Không. Luật Sullivan. Nó là vo vo, vù vù, rầm rầm, ào ào. Vũ khí. Trong của nả của anh ta có vũ khí chết người. Bài của Joel Sayre. Một bài báo thú vị. Phải, em đã gặp Legs Diamond. Anh nói gì nhỉ? Ai không bị bắt? Nhiều người chứ. Em gặp anh ta, và anh chàng ở cùng em không biết anh ta, dù rất nổi danh, nên cứ nói chuyện phiếm hoài. Mẹ của Thống đốc Roosevelt[7] bị ốm và ông ấy đến Paris thăm mẹ. Bà cụ đang nằm viện. Anh có biết hồi còn nhỏ, ông ấy bị liệt không? Em mới biết cách đây khoảng một, hai tháng. Nhìn ảnh không biết được, vì ông ấy luôn nắm cánh tay một cảnh sát bang. Hừm. Ở đây nói là do hậu quả từ vụ chiếc máy bay Fokker 29 của Bộ Thương mại nổ tung trong không trung, trong vụ đó Knute Rockne[8] bị thiệt mạng. Em thấy Fokker[9] đáng bị lên án.
- Anh cũng có thể bị kết án vì chứng minh thư. Hè năm nay anh không đi xa được vì chứng minh thư của anh chỉ có hạn đến tháng Mười.
- Của em cũng không hợp lệ. Ồ, giải Pulitzer này. Ngôi nhà của Alison? Giờ thì vì ích lợi của Chúa. Ngôi nhà của Alison. Cả Tuyển tập thơ Collected Poems của Robert Frost[10]. Chắc là hay đây. Edmund Duffy. Anh đã đọc Chìa khóa thủy tinh chưa?
- Chưa.
- Ông ấy viết cả Chim ưng xứ Mantơ, nhưng không hay lắm. Ồ, có bài này cho anh này. Nghe nhé. Đây là ông già Coolidge. “Collins H. Gere, chà chà chà chà, thuộc thế hệ có cá tính mạnh và mục đích cao. Sự thoáng qua của chúng đánh dấu đoạn cuối cùng của một thế kỷ”. Sự thoáng qua của ai? Ý ông ta là sự thoáng qua của cá tính mạnh và mục đích cao? Có lẽ thế. Có lẽ ông ta đúng. Anh có biết ai là người có cá tính mạnh và mục đích cao không?
- Em.
- Không phải, lại xúc phạm em rồi. Nghĩ ra người khác đi. Thuộc thế hệ chúng ta, không già hơn, vì Coolidge viết sự thoáng qua của chúng đánh dấu đoạn cuối cùng của một thế kỷ, em đoán ý ông ta là thế kỷ có cá tính mạnh và mục đích cao. Như anh bây giờ chẳng hạn. Để em xem nào. Anh có cá tính mạnh không, anh yêu?
- Không cá tính.
- Em nói là có. Còn mục đích cao thì em không chắc. Tính mục đích của anh cao đến mức nào?
- Thấp.
- Không cá tính và mục đích thấp.
- Không phải là mục đích thấp. - Eddie nói. - Anh chỉ nói thấp trong những mục đích cao thôi. Chúng không giống nhau hẳn đâu.
- Anh nói đúng. Em không thể nghĩ ra người nào em thích có cá tính mạnh và mục đích cao. Anh có quan tâm đôi Giant đánh Brooklyn không? Tỷ số sáu trên ba. Terry tăng tỷ số lên gấp ba khi Giant chơi ép, Vergez chặn một cú bóng hoàn hảo. Không có vẻ bẩn thỉu lắm, nhưng anh có trí nhớ như em. Em phải xem Bethlehem Steel. Bác em có một số cổ phần trong đó. Kết thúc ở mức 445/8. Thế là đủ. Ôi chao, đấy mới là tin buồn. Clayton, Jackson và Durante bị tách ra. Schnozzle sắp đến Hollywood và họ sẽ tan tác. Thế mới buồn. Đấy là tin xấu nhất đời. Sao anh lại cho em xem tờ báo này? Không chơi ky nữa? Không mua mũ nữa? Không có bức điện kiểu như: “Khai trương tại Les Ambassadeurs ngay khi tôi học phát âm được từ ấy”. Chà. Nó làm em buồn, buồn thật đấy. Em mong ông ấy chia lương của mình cho những người khác. Anh thích cái mũ này không? Ở trang bên phải… bên phải em.
- Không. Nó che mất mắt.
- Thế à. Em phải về nhà, sống trong sự đùm bọc của gia đình đây. Một sự đùm bọc chán chưa từng thấy. Mai em gọi cho anh nhé?
- Ừ. Còn chiếc áo lông thú thì sao?
- Em không biết. Mai em sẽ gọi cho anh.
- Ừ, thế em không trả lại cho anh chàng kia sao?
- Ờ, em không thể mang nó đến cho anh ta.
- Anh không hiểu vì sao. - Eddie nói. - Nếu em muốn trả lại áo thì có thể lắm chứ. Còn làm thế nào là tùy em.
- Thôi được, em sẽ làm thế nếu điều đó làm anh vui hơn. Em sẽ gọi cho anh ta ngay bây giờ.
Cô gọi điện cho Liggett.
- Anh ta ra khỏi thành phố rồi, văn phòng nói thế.
- Vậy thì ngày mai gọi cho anh ta.
Về đến nhà, Gloria thấy một bức điện của Liggett, hẹn gặp cô ở quán rượu lậu ưa thích của họ vào lúc bốn giờ. Ở văn phòng, họ nói với cô rằng ông đã ra khỏi thành phố, nhưng cuộc sống của cô đầy những điều trái ngược như thế.
Cô đến đó trước bốn giờ, ngồi một mình bên cái bàn nhỏ ngắm thiên hạ đi vào. Chiều hôm đó, quán được một đám khá tiêu biểu ghé thăm. Họ nhắc tên cô với nhiều ý kiến khác nhau về cá tính của cô. Hầu hết những người này đều nổi tiếng về một mặt nào đấy, tuy phần lớn danh tiếng của họ không vượt quá hai chục nhà phía bắc, bốn chục nhà phía nam, bảy nhà phía đông và bốn nhà phía tây. Có nhiều người khác không cừ khôi nhưng nổi bật ở Harrisburg, Denver, Albany, Me., Dayton và Hartford. Trong số đó có bà Dunbar Vicks ở Cleveland, mỗi năm đến thành phố này ba hoặc bốn lần, xem bộ sưu tập cá nhân các bộ phim tục tĩu của một người bạn và lên giường với một thanh niên trước kia làm việc cho Finchley. Bà Vicks đang đứng ở quầy rượu, quay lưng lại với Walter R. Loskind, giám thị của Hollywood, đang nói chuyện với đạo diễn Percy Luffberry. Percy nhờ vả Walter nhiều. Khi đạo diễn bộ phim Chiến tranh của chiến tranh, Percy chịu trách nhiệm các vụ nổ nhỏ ở đây đó trên mặt đất, không đủ làm ai bị thương nhưng đủ để nâng bổng các vai phụ mặc quân phục Đức lên khỏi mặt đất. Các diễn viên phụ đã được báo trước và được trả thêm vì cảnh quay như thật này. Mọi sự diễn ra suôn sẻ cho đến lúc Percy muốn một diễn viên phụ phải bò trên mặt đất thay cho đi. Khi đạn nổ, người diễn viên ấy bị tung bổng lên làm mất cả hai mắt, nếu không có Walter ủng hộ, ắt Percy bị tông thẳng xuống địa ngục mà sửa chữa lỗi lầm. Ngồi tận bên kia phòng là bà Noel Lincoln, vợ một nhà tài chính nổi tiếng mê thể thao, bà đã bị sẩy thai bốn lần mới phát hiện ra (hoặc trước khi bác sĩ của bà dám nói thật với bà) chồng bà phải chịu một phần trách nhiệm vì rủi ro này. Bà Lincoln ngồi với cô bé Alicia Lincoln, cô cháu gái xinh đẹp của chồng, vốn là người cung cấp cocaine cho nhóm bạn rất thân trong tầng lớp thượng lưu, nhà hát và giới nghệ thuật. Alicia đang đợi một anh chàng tên là Gerald đưa cô đến những nơi mà các cô gái không thể đến nếu không có người hộ tống. Bruce Wix, đại diện cho các nghệ sĩ, bước vào và cố lọt vào tầm mắt của Walter R. Loskind, nhưng Walter không buồn ngó ngàng. Bruce đứng một mình bên quầy. Nhà văn Henry White bị gọi có người chờ trên điện thoại, đấy là cách sơ đẳng để xua một người say nhưng ông ta không biết. Trên đường ra, ông ta cúi chào nha sĩ Jack Fry đến với một trong những cô bạn xinh đẹp. Đang là buổi chiều, nên cô bạn không đeo ngọc trai mà nha sĩ Fry hay mượn cho các cô gái và các nữ diễn viên đeo khi đi ra ngoài cùng ông. Lúc này ông bà Whitney Hofman ở Gibbsville, Pennsylvania đến, họ muốn làm bạn bè tốt hơn nên tìm chuyện để nói không hề e dè. Họ đến đây nhờ em họ của Whitney là Scott Hofman, một anh chàng trạc ba mươi tuổi, mắt lác, mỗi tuần không phải cạo râu quá một lần. Mike Romanoff bước vào, nhìn quanh phòng rồi đi ra. Một nhóm sáu thanh niên, vợ chồng Mortimer House, vợ chồng Jack Whitehall, cô Sylvia House và anh Irving Ruskin, bị chặn lại ở cửa vì không đặt chỗ trước. Họ phải tránh đường cho một nhà ngoại giao Mỹ Latinh làm việc tại Washington, cho thấy đất nước ông ta nghĩ về việc này ra sao. Ông ta đã bị sốt rét trước khi nhiễm siflis vì chỉ định nhầm khi điều trị một cách máy móc. Bên trong, nơi họa sĩ Ludovici ngồi - ông ta đã mấy lần không chấm sửa những bức ảnh khỏa thân của Gloria, cô đang muốn được trả lại - có tiếng đập bàn gọi người phục vụ. Ông ta đi cùng June Blacke, diễn viên và người mẫu sau bốn ngày giành được gần một ngàn đôla ở Twenty Grand nên vẫn còn vui. Vụ cá độ không thông qua dân môi giới chuyên nghiệp, cô ta lại không cần tiêu tiền mặt. Đó là một cuộc dàn xếp khá rắc rối giữa cô và Archie Jelliffe - người đã bảo June rằng sẽ đặt cược cho cô nếu cô đưa một cô gái trinh nguyên đến nhà nghỉ ở nông thôn của ông ta, để ông ta khám phá đến tận chân tơ kẽ tóc. Trinh nữ hiện đang nằm bệnh viện tư có phải là lỗi của June không? Chủ báo Robert Emerson vào cùng với phó của ông ta, Jerry Watlington. Emerson đang cố làm cuộc sống của Watlington dễ thở hơn vì ông vừa bỏ phiếu trống ở một câu lạc bộ danh tiếng mà Emerson là thành viên. Emerson chân thành ân hận vì lá phiếu kia và lúc này muốn đền bù. Horace H. Tuttle liều lĩnh vừa bị đuổi khỏi hai trường dự bị đại học vì chống đối, đi cùng bà Denis Johnstone Humphries (hãn hữu mới đánh vần đúng cả ba tên) ở Sewickley Heights gần Pittsburgh. Bà Humphries kể với Horace rằng bà phải đi vòng bằng xe lửa vì những người đình công ném đá vào chiếc Rolls của bà. Tệ nhất là đúng lúc bà đích thân lái chiếc Rolls đến cuộc Triển lãm Hoa, và khi những hòn đá ném trúng xe, bà đã nhanh trí nằm xuống sàn nhưng quên mất hoa và đè nát chúng. Câu chuyện của bà không bị cắt ngang khi Horace gật đầu với Billy Jones, một tay lừa đảo hào hoa, đang đi nhanh tới quầy với hai đôla trong tay, nhanh chóng cầm cốc đúp whisky pha sôđa đi ra, hai đôla vẫn còn nguyên trong tay. Người bồi rượu chỉ phát hiện ra nhờ sự miêu tả Billy - Billy vẫn bị coi là gàn gàn vì bị táng vào đầu. Cô đào điện ảnh Kitty Meredith bước vào cùng cậu con nuôi lên bốn, ai cũng khen cậu bé kháu khỉnh và tự tin khi nhấp một ngụm rượu của mẹ.
- Xin lỗi, anh đến muộn. - Liggett nói.
Gloria ngước nhìn:
- Không sao. - cô nói. - Năm phút nữa em đi khỏi đây hay ít ra cũng không ngồi một mình.
- Ai thế? Người lúc này đang nhìn em chằm chặp kia kìa?
- Em sẽ không nói với anh đâu.
- Ủa, vậy em đang uống gì?
- Bia.
- Một bia và một brandy pha sôđa.
- Có chuyện gì thế? - Gloria nói. - Em về nhà thấy lời nhắn của anh. Em gọi đến văn phòng, nhưng người ta bảo anh đi vắng.
- Tối qua em ở đâu?
- Ồ, không. Đừng nói cái giọng ấy. Anh tưởng anh là ai chắc?
- Thôi được, anh xin lỗi. - ông chăm chú châm điếu thuốc rồi nhớ ra, ông mời cô một điếu. Cả hai việc trì hoãn được một lát trước khi ông nói: “Nếu điều anh muốn hỏi có làm em bực thì hãy cố nén nhé? Trước hết… cứ để anh nói đã… trước hết, anh nghĩ em biết anh quá say mê em. Em có biết điều đó không?
Không trả lời.
Ông nhắc lại:
- Em biết điều đó không?
- Anh đã bảo đừng ngắt lời anh.
- Vậy là em biết?
- Không chắc lắm. Quá say mê em chẳng có ý nghĩa gì.
- Vậy đấy. Mê theo cách ngu xuẩn nhất. Đừng đùa giễu chuyện này. Anh quá mê em. Anh không nghĩ gì về em hết. Anh không biết bao lâu nữa mới gặp lại em. Khi anh không biết em ở đâu, như đêm qua chẳng hạn, anh đã đến đây và khắp mọi chỗ cố tìm em.
Ông thấy cô chẳng mảy may chú ý.
- Em đúng. - ông tiếp. - Đấy không phải là điều anh muốn nói. Ít nhất là lúc này. Ý anh là lúc này anh muốn nói đến việc khác.
- Đấy là điều em nghĩ.
- Đấy là điều em nghĩ ư? Vậy thì, Giêsu, anh muốn giá chúng ta ở một nơi nào khác, uống đi và chúng ta sẽ ra khỏi đây. Anh không muốn nói trong cái nơi ồn ào náo loạn này, giữa những con người hò hét như mất trí này.
Cô uống thêm ít bia và để lại một ít trong cốc.
- Đấy là tất cả những gì em muốn.
Ông để lại hai đôla hai lăm xu lên bàn và họ đi ra. Ông từ chối lên taxi đỗ bên cửa, mà đi xuôi xuống khu nhà ở đại lộ Năm bắt chiếc taxi đang chạy tới.
- Phố Bốn mươi và đại lộ Bảy. - ông bảo người lái xe.
- Chúng ta đi đâu thế này?
- Nơi em gặp anh đêm trước. Chỗ tòa báo. - ông bỏ mũ và để lên đầu gối. - Em biết không Gloria, anh đang nghĩ xấu về em. Việc xảy ra với anh cũng thường xảy ra với nhiều người đàn ông anh biết là những người chồng tốt. Anh muốn nói anh không phải là người chồng đặc biệt tồi. Anh tốt với vợ trong hầu hết mọi chuyện. Anh luôn giữ kín những điều có thể làm tổn thương cô ấy…
- Anh là loại có tình nhân và xúc phạm cô ta trước mặt vợ vì tưởng điều đó lung lạc được vợ.
- Em nhầm. Mà không, em đúng. Lần duy nhất anh có người tình mà vợ anh biết được, anh đã nói những lời miệt thị cô tình nhân. Sao em biết những việc ấy nhỉ? Ý anh là em chưa quá hai mươi hai tuổi. Làm sao em biết những việc ấy?
- Làm sao em biết ư? Đời em còn gì hơn là khám phá những việc như thế kia chứ? Anh nói tiếp đi, kể cho em nghe những chuyện xảy ra với những người đàn ông cùng trang lứa với anh.
- Chuyện xảy ra với những người đàn ông cùng tuổi anh ư? Là thế này, họ là những người chồng tốt. Họ cứ là những người chồng tốt, làm việc chăm chỉ, vui chơi thoải mái, chơi gôn, kiếm được tiền, đến các bữa tiệc y như nhau, với các khách khứa y như nhau, khi thì đi với người phụ nữ họ đã chung sống suốt đời, khi thì với cô thư ký ở văn phòng, có khi là một ca sĩ hộp đêm. Anh biết trường hợp một người đàn ông và cô bạn thân của anh ta. Họ chưa từng làm gì ngoài việc người đàn ông định tự tử, thế thôi. Anh ta đã có vợ, hạnh phúc - ờ, anh đang nói cái quái gì nhỉ, một gia đình hạnh phúc. Liệu có người như thế không? Anh hay nghĩ liệu có người như thế không. - ông ngừng lời.
- Cái gì làm anh bỗng dưng ngừng lại? Anh thật thú vị.
- Anh ư?
- Em nói thế đấy.
- Anh vừa phát hiện ra một điều, hoặc gần như thế. Anh đang băn khoăn liệu có người có vợ lại hạnh phúc không, và anh cho rằng mình không hạnh phúc. Lạy Chúa, anh đang trong một tình cảnh tồi tệ hơn thế. Thậm chí anh còn không biết mình là người đã kết hôn thật bất hạnh. Anh không hiểu gì về mình nữa. Chắc là anh hạnh phúc, vì bất cứ khi nào hồi tưởng và nhớ lại những khoảng thời gian hạnh phúc, anh luôn thấy hồi ấy anh không biết mình hạnh phúc. Đúng thế, nếu giờ đây anh hạnh phúc vì có em. Cứ để anh nói. Anh đang nói to lên những điều mình nghĩ.
- Hơi quá to với người lái xe đấy, hay còn chưa đủ to.
- Ờ, thì anh ta chỉ nghe thấy thế. Đây là cuối đường.
Lần này người đón họ không phải là anh chàng bồi rượu, mà là một người đàn ông cao ráo, buồn bã như thể lẽ ra anh ta phải là một biệt kích Texas. Họ vào một phòng nhỏ cách xa quầy, chia thành nhiều ngăn, và khi người bồi rượu mang đồ uống đến, Liggett bắt đầu:
- Trong taxi anh không cảm thấy như thế này. Giờ anh phải nói và cố nói hết. Gloria, hôm Chủ nhật em đã lấy chiếc áo khoác lông thú ở nhà anh phải không?
Im lặng.
- Phải không? Em không trả lời vì em giận hay vì gì?
- Thế anh nghĩ sao?
- Anh đang hỏi em.
- Phải, em đã lấy đấy.
- Vậy em trả lại nhé? Đấy là áo của vợ anh, và anh phải khó khăn lắm mới can được cô ấy báo cảnh sát.
- Sao anh không để chị ấy báo cảnh sát?
- Em thích chiếc áo ấy lắm sao?
- Em có thể có nó được chứ?
- Phải. Em có thể, nhưng không dễ lắm đâu. Cố nhiên, việc này làm gia đình anh náo loạn. Trước hết, các thám tử thẩm vấn những người làm công và người gác thang máy, xem hôm Chủ nhật họ có thấy em cổ mặc chiếc áo ấy ra khỏi nhà không. Sau đó họ nói với vợ anh rằng tối hôm thứ Bảy có một cô gái trong căn hộ. Vợ anh có thể tha thứ cho tội bất trung của anh nhưng vì các con, anh cho rằng cô ấy không tha thứ cho việc anh đưa người khác vào nhà mình. Đấy là nhà cô ấy, dù nói cho cùng thì cũng là nhà anh. Thế là om sòm nhà cửa, và chưa hết, khi đã báo cảnh sát, họ phải bắt giữ và chắc chắn sẽ biết em là ai.
- Từ anh ư?
- Không. Không phải từ anh. Họ có thể bắt giữ anh, nhưng anh sẽ không nói với họ. Nhưng từ… Em đi taxi chứ gì? Chắc thế. Vậy là họ biết em đi từ đâu, vân vân. Họ có nhiều cách để tìm ra, không cần anh giúp. Cho nên em đừng giữ chiếc áo ấy lâu. Nhỡ vợ anh báo cho công ty bảo hiểm? Việc đó sẽ gây khó khăn cho công việc làm ăn của anh. Không phải là nó để lại nhiều rắc rối, mà vì anh có một công việc ngon lành. Nếu vợ anh hận và đề nghị công ty bảo hiểm khởi kiện anh như một người xa lạ, người ta sẽ bắt giữ anh vì tội dung túng hoặc đồng lõa với tội phạm trước sự thật hay một việc gì đó tương tự, và các tờ báo khổ nhỏ sẽ vồ lấy tin ấy. Không, em sẽ không thể giữ nó.
- Không được trả tiền cho sự vi phạm ấy hử?
- Anh không biết có trả được hay không, nhưng anh biết điều này, em sẽ không được gì khi cất giữ chiếc áo đó.
- Đừng nói đến chiếc áo.
- Không kể chiếc áo. Họ sẽ tịch thu nó. Thôi nào, em đừng vô lý như thế. Anh sẽ mua cho em một cái giống hệt.
- Đấy là một chiếc áo đắt tiền.
- Anh cho là nó được bảo hiểm bốn ngàn đôla. Anh nghĩ công ty bảo hiểm phải thực hiện đúng cam kết. Em đang làm gì vậy, em thấy ngộ lắm à?
- Hơi hơi. Tối hôm thứ Bảy, anh đã chơi tôi. Chơi ác, xé rách váy áo tôi, đấy là hành động của một kẻ man rợ cổ lỗ.
- Anh xin lỗi. Anh đã xin lỗi từ trước rồi.
- Trước kia nghe có vẻ không thuyết phục lắm, nhưng bây giờ anh đang mắc kẹt…
- Nghe này, Chúa nguyền rủa…
- Này, đừng viện Chúa ra với tôi. Tôi sẽ đi.
- Ôi đừng, em đừng đi.
- Có, tôi đi và anh đừng cản tôi, nếu anh biết cái gì là tốt cho anh.
- Nghe này, em là một con sói cái xinh xắn. Anh sẽ bị tống giam trước khi để em thoát thân với chiếc áo ấy, và cả em cũng vậy. Ngồi xuống!
Ông với lấy bàn tay cô, nhưng Gloria chạy ra khỏi quán.
- Để tôi ra khỏi đây. - cô nói với người bồi rượu.
- Đừng mở cửa. - Liggett nói.
- Tránh ra, thưa ông. - người bồi rượu nói.
- Có chuyên gì đấy, Joe? - một người ngồi bên quầy hỏi. Liggett thấy anh ta mặc đồng phục. Người đàn ông quay lại, và đó là đồng phục của cảnh sát tuần tra. Viên cảnh sát đội mũ lên và tiến tới.
- Đừng làm anh ấy đau. Cho tôi ra ngoài thôi. - Gloria nói.
- Ông ta gạ gẫm cô? - viên cảnh sát hỏi.
- Tôi chỉ muốn ra ngoài. - Gloria nói.
- Nghe này, thưa ông cảnh sát…
- Tránh ra, kẻ hợm. - viên cảnh sát nói và Liggett chưa kịp hiểu gì thì anh ta đã thọc tay vào trong áo khoác của Liggett, túm chặt và xốc ngược áo vét ông lên. Liggett không thể động đậy. Họ để Gloria ra, còn viên cảnh sát vẫn giữ chặt Liggett.
- Chúng ta làm gì với hắn đây, Joe? - viên cảnh sát nói. - Anh biết hắn chứ?
- Trước kia tôi chưa bao giờ gặp ông ta. Ông là ai vậy?
- Tôi có thể xác nhận nhân thân.
- Vậy xác nhận đi. - viên cảnh sát nói.
- Nếu ông bỏ tôi ra, tôi sẽ nói. - Liggett nói.
- Ngồi phía sau hắn, Joe, để phòng xa.
- Ồ, tôi không làm gì đâu.
- Nào, nói tôi nghe. Ông chọn nhầm chỗ và định làm gì hả. Phải thế không, Joe?
- Cứ để ông ta thử nói xem.
- Tôi là bạn rất thân của Pat Casey[11], nếu ông muốn biết. - Liggett nói.
- Một người bạn của Pat Casey. - viên cảnh sát nói. - Hắn nói hắn là bạn của Pat Casey, Joe.
- Trời mới biết được việc đó. - Joe nói.
Và rồi, viên cảnh sát tát tới tấp vào mặt Liggett hết bằng mu đến lòng bàn tay.
- Này thì… bạn… của… Pat Casey. Đừng có nói thế với tao, mày là đồ khốn. Tao không cần biết mày là bạn của Giáo hoàng thành Rome, bất cứ… con chó đẻ… nào… định… xỏ… tao. Giờ thì xéo khỏi đây. Này thì Pat Casey!
- Xéo đi. Ra khỏi đây. - Joe nói.
Ligget không nhìn thấy gì. Nước mắt chảy ròng ròng xuống mũi ông vì những cái tát của tay cảnh sát.
- Tao sẽ làm hết sức. - Liggett nói, sẵn sàng đánh trả. Viên cảnh sát nhào tới, đẩy mạnh và nhanh làm ông ngã ngửa. Joe đang đứng phía sau, và viên cảnh sát đã đẩy Liggett xuống. Ông ngã ra ngoài, trên cầu thang quán rượu, hai người đàn ông bắt đầu đấm đá ông cho đến khi ông lết hết những bậc cầu thang.
Ông không còn mũ, không nhìn thấy gì, quần áo nhàu nát, bẩn thỉu, đầy đất cát, đờm dãi và khi được vực dậy trên sàn, ông run bắn vì xương cụt bị va mạnh khi viên cảnh sát đẩy ông, mũi ông chảy máu, những chỗ bị đá trên người đau nhức.
Bị tước quyền đánh trả khi không có gì để mất thật kinh khủng, nó làm Liggett cảm thấy yếu hẳn. Chỉ trong vài phút, họ đã đánh ông dữ dội hơn ông bị đánh từ trước tới nay, và ông biết lúc này mình có thể bị đánh đến chết, nhưng bọn chó đẻ ấy không cho ông cơ hội chống trả. Ở bên ngoài, thiên hạ vô tư hoặc có khi còn thân thiện, nhưng không được đánh nhau ở bên ngoài. Còn ở trong kia, trên gác mới có đánh nhau, và ông muốn quay lại đánh hai gã đó; không theo phép tắc gì hết, cứ đá, đấm, lắc, húc và cắn. Lúc này thứ duy nhất ông đối mặt là đường phố, quay lại sẽ có quá nhiều rắc rối, và trong thâm tâm, ông biết mình không còn đủ sức trèo lên cầu thang. Nếu có thể lên được cầu thang và vào trong, ông có thể đánh nhau, nhưng các bậc thang lại quá nhiều. Ông nghe thấy cửa trên gác bật mở, rồi đóng sập lại khi cái mũ lăn xuống chân ông. Ông cúi nhặt mũ, rất đau đớn và đội lên mái đầu nhức nhối, rồi bước ra phố. Ông loạng choạng lao vào một chiếc taxi. Người lái xe không muốn cho ông vào, nhưng lại sợ cán phải ông. Rồi khi tài xế hỏi: “Đi đâu?”, Gloria mở cửa xe.
- Không sao đâu, tôi biết ông ta. - cô nói.
- Vâng, thưa cô Wandrous. - tài xế nói.
- Ra. Đi ra. Ra khỏi xe tôi. - Liggett nói.
- Đến số 274 phố Horatio. - Gloria bảo người lái xe.
- Được. - tài xế nói và với tay ra sau đóng cửa, nghe cách một tiếng.
Liggett vừa nhổm dậy mở cửa vừa lẩm bẩm:
- Tôi sẽ không đi đâu với cô hết.
Cô cố ngăn ông lại nhưng không hăng hái lắm. Đường phố đầy những người, một số ít từ trung tâm bán lông thú dồn về cửa cực nam đến ga xe điện ngầm quảng trường Times. Cô thấy Liggett chui vào chiếc ôtô khác.
- Có phải đi theo ông ta không? - tài xế hỏi.
- Có, nếu anh vui lòng. - cô nói.
Chiếc taxi của cô theo Liggett đến cách nơi ông ở một khối nhà. Cô bảo dừng lại và nhìn ông ta ra xe, thấy người gác cửa tòa nhà trả tiền tài xế.
- Đến số ấy phố Horatio. - cô nói.
Eddie không trả lời, dù cô nhấn chuông liền năm phút. Cô để lại một bức thư ngắn cho anh rồi ra về.
❀ ❀ ❀
[1] Herbert Hoover (1874-1964): Tổng thống thứ 31 của Mỹ (nhiệm kỳ 1929- 1933).
[2] Babe Ruth (1895-1948): cầu thủ bóng chày nổi tiếng, được hâm mộ nhất trong lịch sử bóng chày nước Mỹ.
[3] Norma Shearer (1900-1983): diễn viên điện ảnh Canada, sinh trưởng ở Mỹ. Bà đóng nhiều phim, từ phim câm đến phim có tiếng.
[4] Al Smith (1873-1944): chính khách, ứng viên tổng thống sáng giá trên chính trường Mỹ trong thập niên 1920.
[5] Emily Dickinson (1830-1886): nhà thơ nữ nổi tiếng và là một trong các tác giả lỗi lạc nhất trên văn đàn nước Mỹ.
[6] Nhà hát do nữ nghệ sĩ Mỹ Eva le Gallienne (1889-1991) thành lập năm 1926 ở New York.
[7] Franklin Delano Roosevelt (1882-1945): Tổng thống thứ 32 của Mỹ, đương nhiệm dài nhất trong các đời tổng thống (từ 1933 - 1945).
[8] Knute Rockne (1888-1931): cầu thủ bóng đá nổi tiếng của Mỹ và là một trong những huấn luyện viên thành công nhất trong lịch sử bóng đá thế giới.
[9] Anthony Fokker (1890-1939): nhà thiết kế và sản xuất máy bay người Mỹ gốc Hà Lan, có ảnh hưởng lớn trong ngành hàng không, đặc biệt là phương pháp dùng ống thép hàn trong kết cấu thân máy bay.
[10] Robert Frost (1874-1963): nhà thơ Mỹ bốn lần đoạt giải Pulitzer; tác phẩm của ông thường tái tạo khung cảnh đồng quê với ngôn ngữ đơn giản, mộc mạc.
[11] Pat Casey: cầu thủ bóng chày nổi tiếng của bang Oregon, Mỹ.