Bí Ẩn Ngôi Nhà Đỏ

Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22
Ông Beverley Rời Đi

❊ ❊ ❊

“Lạy Chúa!” Bill thốt lên khi đặt bức thư xuống.

“Tôi biết thế nào anh cũng nói vậy mà,” Antony lẩm bẩm.

“Tony, ý anh là anh đã biết hết chuyện này rồi sao?”

“Tôi đoán được phần nào. Dĩ nhiên là không biết hết mọi chi tiết.”

“Lạy Chúa!” Bill lặp lại, rồi dán mắt vào bức thư. Chỉ một lát sau, anh ngẩng đầu lên. “Anh đã viết gì cho hắn vậy? Có phải là tối qua không? Sau khi tôi đã vào Stanton ấy?”

“Đúng vậy.”

“Anh đã nói gì? Rằng anh đã phát hiện ra Mark chính là Robert à?”

“Ừ. Ít ra là tôi bảo rằng sáng nay tôi có thể sẽ đánh điện cho ông Cartwright ở phố Wimpole, và nhờ ông ấy—”

Bill chen ngang đầy sốt ruột ngay trước khi câu nói dứt hẳn. “Ừ, thế chuyện đó là thế nào vậy? Hôm qua bỗng dưng anh lại ra điều thám tử thế. Lâu nay chúng ta cùng làm việc với nhau, anh kể cho tôi mọi thứ, rồi đùng một cái anh trở nên vô cùng bí ẩn, kín đáo và nói năng úp mở—từ đó là gì nhỉ?—về nha sĩ, về việc bơi lội và quán ‘Cày và Ngựa,’ rồi—thôi nào, rốt cuộc là sao chứ? Anh biến mất tăm; tôi chẳng hiểu chúng ta đang nói về cái quái gì nữa.”

Antony cười và xin lỗi.

“Xin lỗi nhé, Bill. Lúc đó tự nhiên tôi thấy hứng thú thế thôi. Chỉ trong nửa tiếng cuối cùng; để kết thúc mọi chuyện ấy mà. Giờ tôi sẽ kể cho anh nghe tất cả. Dù thực ra chẳng có gì nhiều để kể cả. Khi đã biết rồi thì mọi thứ trở nên thật đơn giản—quá ư hiển nhiên. Về ông Cartwright ở phố Wimpole ấy mà. Dĩ nhiên ông ấy chỉ để nhận diện thi thể thôi.”

“Nhưng sao anh lại nghĩ đến nha sĩ cho việc đó chứ?”

“Còn ai làm tốt hơn được cơ chứ? Anh có làm được không? Làm sao mà làm được? Anh có bao giờ đi tắm sông với Mark đâu; chưa từng thấy lúc cậu ta cởi trần. Cậu ta có biết bơi đâu. Bác sĩ của cậu ta làm được chắc? Trừ khi cậu ta từng giải phẫu gì đặc biệt, mà chưa chắc lúc đó đã được. Nhưng nha sĩ của cậu ta thì có—bất cứ lúc nào, luôn luôn—nếu cậu ta đến gặp nha sĩ đủ thường xuyên. Thế nên mới có ông Cartwright ở phố Wimpole chứ.”

Bill đăm chiêu gật đầu rồi đọc lại bức thư.

“Tôi hiểu rồi. Thế ra anh đã bảo với Cayley rằng anh đang đánh điện cho Cartwright để nhận diện thi thể ư?”

“Đúng thế. Và đương nhiên là đến lúc đó thì hắn hết đường chối cãi. Một khi chúng ta biết Robert chính là Mark thì ta biết hết mọi chuyện rồi.”

“Sao anh biết được?”

Antony đứng dậy khỏi bàn ăn sáng và bắt đầu nhồi tẩu.

“Tôi không chắc mình có thể giải thích thế nào nữa, Bill. Anh biết mấy bài toán đại số mà đề bài bảo: ‘Hãy gọi x là đáp số,’ rồi anh giải ra xem x bằng bao nhiêu không. Vâng, đó là một cách; còn một cách khác mà ở trường chẳng bao giờ cho điểm, đó là đoán đáp số. Cứ giả vờ đáp số là 4 đi—xem nào, liệu nó có thỏa mãn điều kiện bài toán không? Không. Thử tiếp với 6; nếu 6 cũng không đúng, vậy còn 5 thì sao?—cứ thế tiếp tục. Chà, viên Thanh tra, ông Khám nghiệm tử thi và đám người đó đã đoán đáp số của họ, thoạt nhìn có vẻ khớp, nhưng anh và tôi đều biết nó thực sự không khớp; có mấy điều kiện trong bài toán mà đáp án ấy chẳng ăn nhập gì sất. Thế nên chúng ta biết đáp án của họ sai, và ta phải nghĩ ra một đáp án khác—một đáp án giải thích được tất cả những điều đang làm chúng ta khó hiểu. Chà, ngẫu nhiên thế nào mà tôi lại đoán đúng. Có diêm không?”

Bill đưa cho anh một hộp diêm, và anh châm tẩu.

“Ừ, nhưng thế thì vẫn chưa thỏa đáng lắm đâu, anh bạn già. Phải có cái gì đó bỗng nhiên gợi ý cho anh chứ. Nhân tiện, tôi xin lại hộp diêm nhé, nếu anh không phiền.”

Antony cười và lấy nó ra khỏi túi.

“Xin lỗi... Thử để tôi nhớ lại dòng suy nghĩ của mình lúc đó xem nào, rồi kể cho anh nghe tôi đã đoán ra thế nào nhé. Trước hết là quần áo.”

“Ừ?”

“Đối với Cayley, quần áo dường như là một manh mối cực kỳ quan trọng. Tôi không hiểu rõ tại sao, nhưng tôi nhận ra rằng với một kẻ ở địa vị của Cayley, manh mối nhỏ nhất cũng có giá trị lớn không tương xứng. Vì lý do nào đó, Cayley đã đặt tầm quan trọng phóng đại này vào bộ quần áo mà Mark mặc vào sáng thứ Ba ấy; tất cả mọi thứ, đồ bên trong lẫn đồ bên ngoài. Tôi không biết tại sao, nhưng tôi chắc chắn rằng trong trường hợp đó, việc thiếu chiếc cổ áo không phải là vô tình. Khi thu dọn quần áo, hắn đã bỏ sót chiếc cổ áo. Tại sao?”

“Có phải cái ở trong giỏ đựng đồ bẩn không?”

“Đúng thế. Xem chừng là vậy. Tại sao Cayley lại bỏ nó vào đó? Câu trả lời hiển nhiên là hắn không làm thế. Mark đã bỏ nó vào đó. Tôi nhớ lại những gì anh kể về việc Mark là kẻ kỹ tính, có rất nhiều quần áo các thứ, và tôi cảm thấy cậu ta chính là kiểu người không bao giờ mặc lại cùng một chiếc cổ áo đến lần thứ hai.” Anh dừng lại, rồi hỏi, “Anh nghĩ vậy có đúng không?”

“Hoàn toàn chính xác,” Bill quả quyết nói.

“Ừ, tôi đoán thế. Thế là tôi bắt đầu nhìn thấy một ẩn số x có thể khớp với đúng phần này của vấn đề—phần quần áo. Tôi hình dung cảnh Mark thay quần áo; tôi thấy cậu ta theo phản xạ ném chiếc cổ áo vào giỏ đựng đồ bẩn, y như cách cậu ta vẫn vứt mọi chiếc cổ áo từng cởi ra trước đó, nhưng lại để phần quần áo còn lại trên ghế theo cách thông thường; và tôi thấy Cayley sau đó thu gom tất cả quần áo—tất cả những món trông thấy được—mà không nhận ra là thiếu chiếc cổ áo.”

“Nói tiếp đi,” Bill sốt sút nói.

“Chà, tôi khá chắc chắn về điều đó, và tôi muốn có một lời giải thích cho nó. Tại sao Mark lại thay đồ ở dưới đó thay vì trên phòng ngủ của mình? Câu trả lời duy nhất là việc thay đồ phải được giữ bí mật. Cậu ta thay đồ lúc nào? Thời điểm khả dĩ duy nhất là khoảng thời gian giữa bữa trưa (lúc cậu ta bị gia nhân trông thấy) cho đến lúc Robert đến. Và khi nào thì Cayley gom quần áo lại thành một bọc? Lại một lần nữa, câu trả lời duy nhất là ‘Trước khi Robert đến.’ Thế là cần thêm một ẩn số x nữa—để khớp với ba điều kiện đó.”

“Và câu trả lời là một vụ mưu sát đã được trù liệu từ trước, ngay cả khi Robert chưa đến ư?”

“Đúng vậy. Chà, bây giờ thì, người ta không thể mưu sát chỉ dựa vào mỗi bức thư đó, trừ phi đằng sau bức thư còn ẩn chứa nhiều điều hơn thế mà chúng ta không biết. Cũng chẳng thể có chuyện một vụ mưu sát được vạch ra mà không cần chuẩn bị gì hơn ngoài việc thay một bộ đồ khác để trốn chạy. Mọi việc quá ư trẻ con. Hơn nữa, nếu Robert sắp bị sát hại, tại sao lại phải mất công đi loan tin về sự hiện diện của hắn cho tất cả các anh—thậm chí, bất chấp rắc rối, còn báo cả cho bà Norbury? Tất cả những điều đó có nghĩa là gì? Tôi không biết. Nhưng lúc này tôi bắt đầu cảm thấy rằng Robert chỉ là một tình tiết; rằng âm mưu này là do Cayley dựng lên chống lại Mark—hoặc để xúi giục Mark giết anh trai hắn, hoặc xúi giục anh trai hắn giết Mark—và vì một lý do khó tài nào hiểu nổi, Mark dường như lại hùa theo âm mưu đó.” Anh im lặng một lúc, rồi nói, gần như chỉ để nói với chính mình, “Tôi đã nhìn thấy những cái vỏ chai brandy trống không trong chiếc tủ đó.”

“Anh có nói gì về chúng đâu,” Bill phàn nàn.

“Tôi chỉ thấy chúng sau đó thôi. Tôi đang tìm chiếc cổ áo, anh nhớ chứ. Mãi sau tụi nó mới hiện lên trong đầu tôi; tôi hiểu Cayley sẽ cảm thấy thế nào về chuyện đó... Tội nghiệp gã!”

“Nói tiếp đi,” Bill giục.

“Chà, thế rồi chúng ta có cuộc điều tra cái chết, và dĩ nhiên tôi để ý thấy, chắc anh cũng vậy, một chi tiết kỳ lạ là Robert đã hỏi đường ở trạm gác thứ hai chứ không phải trạm thứ nhất. Thế là tôi nói chuyện với Amos và Parsons. Điều đó càng làm cho mọi chuyện trở nên kỳ quặc hơn. Amos bảo tôi rằng Robert đã đi vòng để bắt chuyện với hắn; thực ra là đã gọi với theo hắn. Parsons bảo rằng vợ hắn loanh quanh ngoài khu vườn nhỏ ở trạm gác thứ nhất suốt cả buổi chiều, và chắc chắn là Robert chưa từng đi qua đó. Hắn cũng bảo tôi rằng chiều hôm đó Cayley đã giao cho hắn làm một việc trên bãi cỏ trước nhà. Thế là tôi lại đoán tiếp. Robert đã dùng lối đi bí mật—lối đi dẫn ra công viên nằm giữa trạm gác thứ nhất và thứ hai. Vậy là Robert đã ở trong nhà; đó là một màn kịch dàn dựng giữa Robert và Cayley. Nhưng làm sao Robert có thể ở đó mà Mark không hề hay biết? Hiển nhiên là Mark cũng biết. Tất cả những điều đó có nghĩa là gì?”

“Lúc này là khi nào vậy?” Bill ngắt lời. “Ngay sau cuộc điều tra—sau khi anh gặp Amos và Parsons, dĩ nhiên rồi chứ?”

“Đúng. Tôi đứng dậy rời khỏi họ, và đến tìm anh. Lúc đó tôi đã nghĩ quay lại chuyện quần áo. Tại sao Mark lại thay đồ một cách lén lút thế? Giả trang ư? Nhưng thế còn khuôn mặt cậu ta thì sao? Cái đó quan trọng hơn quần áo nhiều chứ. Khuôn mặt cậu ta, bộ râu—cậu ta sẽ phải cạo râu đi—và rồi—ôi, cái đồ ngốc này! Tôi thấy anh đang nhìn tấm áp phích đó. Mark đang diễn kịch, Mark hóa trang, Mark giả dạng. Ôi, đúng là một tên ngốc vô phương cứu chữa! Mark chính là Robert... Cho xin hộp diêm nào.”

Bill lại chuyền hộp diêm sang, đợi cho đến khi Antony châm lại tẩu thuốc, rồi chìa tay đòi lại ngay lúc nó chuẩn bị thò vào túi người kia.

“Ừ,” Bill trầm ngâm nói. “Ừ... Nhưng khoan đã. Thế còn vụ quán ‘Cày và Ngựa’ thì sao?” Antony nhìn anh với vẻ mặt buồn cười.

“Anh sẽ không bao giờ tha lỗi cho tôi đâu, Bill,” anh nói. “Anh sẽ không bao giờ đi săn manh mối với tôi nữa đâu.”

“Ý anh là sao?”

Antony thở dài.

“Đó là một cú lừa đấy, Watson ạ. Tôi muốn anh đi khuất mắt. Tôi muốn ở một mình. Tôi đã đoán ra ẩn số x của mình rồi, và tôi muốn kiểm chứng nó—kiểm chứng bằng mọi cách, qua mọi thứ chúng ta đã khám phá ra. Lúc đó tôi buộc phải ở một mình. Thế nên—” anh cười và nói thêm, “Chà, tôi biết là anh đang thèm một ly.”

“Anh đúng là đồ quỷ sứ,” Bill nói, trừng mắt nhìn anh. “Còn vẻ quan tâm của anh khi tôi bảo có một người phụ nữ đã trọ ở đó—”

“Thì, khi anh đã cất công đến thế, tỏ ra quan tâm một chút mới là lịch sự chứ.”

“Đồ khốn! Anh—anh đúng là một tên Sherlock! Thế mà cứ chực hớt tay trên hộp diêm của tôi. Thôi, nói tiếp đi.”

“Hết rồi. Ẩn số x của tôi đã khớp.”

“Thế anh có đoán ra cô Norris và ngần ấy chuyện không?”

“Ờ, không hẳn. Tôi không nhận ra rằng Cayley đã nhúng tay vào việc đó từ đầu—đã xúi cô Norris dọa dạt Mark. Tôi cứ tưởng hắn chỉ chớp lấy cơ hội thôi.”

Bill trầm ngâm im lặng suốt một hồi lâu. Rồi, vừa nhả khói tẩu, anh vừa chậm rãi hỏi:

“Cayley tự sát rồi à?”

Antony nhún vai.

“Tội nghiệp gã,” Bill nói. “Anh thật rộng lượng khi cho hắn một con đường sống. Tôi mừng vì anh đã làm thế.”

“Anh biết đấy, tôi không tài nào ghét nổi Cayley.”

“Hắn là một tên quỷ quyệt thông minh. Nếu anh không xuất hiện đúng lúc như thế, đời nào bộ mặt của hắn bị phơi bày.”

“Tôi tự hỏi đấy. Vụ việc rất tinh vi, nhưng thường thì chính những thứ tinh vi lại hay bị lộ tẩy. Điểm bất lợi từ góc nhìn của Cayley là dù Mark mất tích, nhưng người lẫn thi thể cậu ta mãi chẳng thể tìm thấy. Chà, chuyện đó hiếm khi xảy ra với một kẻ mất tích lắm. Cuối cùng thế nào người ta cũng tìm ra; có thể là tội phạm chuyên nghiệp thì không; nhưng một kẻ nghiệp dư như Mark thì có chứ! Hắn có thể giữ kín bí mật về cách hắn giết Mark, nhưng tôi nghĩ sớm muộn gì việc hắn sát hại Mark cũng sẽ phơi bày.”

“Ừ, nghe cũng có lý... Ồ, cho tôi hỏi một điều thôi. Tại sao Mark lại kể với bà Norbury về người anh trai tưởng tượng của mình cơ chứ?”

“Chuyện đó cũng làm tôi thắc mắc khá nhiều đấy, Bill. Có thể cậu ta chỉ đang giở trò như Othello thôi—tự bôi nhọ chính mình bằng một màu đen đúa. Ý tôi là cậu ta có lẽ đã quá nhập tâm vào vai Robert đến mức gần như tin rằng Robert có thật, và buộc phải kể cho mọi người nghe. Dù vậy, khả năng cao hơn là cậu ta cảm thấy sau khi đã kể cho tất cả mọi người ở nhà nghe rồi, tốt hơn là nên kể cho cả bà Norbury nữa, nhỡ đâu bà ấy gặp một người trong nhóm các anh; trong trường hợp đó, nếu các anh nhắc đến việc Robert sắp tới, bà ấy có thể sẽ nói, ‘Ôi, tôi chắc chắn cậu ta chẳng có người anh em nào cả; nếu có thì cậu ta đã kể với tôi rồi,’ và thế là làm hỏng trò đùa của cậu ta. Cũng có khả năng là Cayley đã xúi cậu ta làm thế; hiển nhiên là Cayley muốn càng nhiều người biết về Robert càng tốt.”

“Anh có định báo cảnh sát không?”

“Có chứ, tôi đoán họ buộc phải biết thôi. Biết đâu Cayley lại để lại một bức thư tuyệt mệnh khác thì sao. Tôi chỉ mong hắn không bán đứng tôi; anh thấy đấy, từ tối hôm qua tôi đã trở thành một thứ đồng lõa rồi còn gì. Và tôi phải đi gặp cô Norbury nữa.”

“Tôi hỏi,” Bill giải thích, “vì tôi đang tự nhủ không biết mình nên nói gì với—với Betty. Cô Calladine ấy mà. Anh biết đấy, thế nào cô ấy cũng sẽ gặng hỏi cho xem.”

“Có lẽ anh sẽ chẳng gặp lại cô ấy trong một thời gian rất, rất dài đâu,” Antony buồn bã nói.

“Thực ra thì, tôi tình cờ biết được là cô ấy sẽ ở nhà nhà Barrington. Và ngày mai tôi sẽ lên đó.”

“Vậy thì anh cứ nói với cô ấy đi. Rõ ràng là anh đang thèm thuồng được nói lắm rồi còn gì. Chỉ là đừng để cô ấy thắc mắc gì trong một hoặc hai ngày tới nhé. Tôi sẽ viết thư cho anh.”

“Được rồi!”

Antony gõ tàn thuốc ra rồi đứng dậy.

“Nhà Barrington à,” anh nói. “Đông người không?”

“Khá đông, tôi nghĩ thế.”

Antony mỉm cười nhìn người bạn của mình.

“Ừ. Thế thì, nếu có ai trong số họ chẳng may bị sát hại, anh cứ gọi tôi nhé. Tôi vừa mới bắt nhịp được với mấy vụ này rồi đây.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của A. A. Milne

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.