“Và giờ thì chỉ còn lại hai chúng ta, Natacha,” Rouletabille thì thầm ngay khi bước ra ngoài. Cậu vẫy chiếc xe ngựa đầu tiên chạy qua và đọc địa chỉ tới datcha des Iles. Khi ngồi vào xe, cậu ôm trán bằng cả hai tay; mặt cậu nóng bừng, hàm bặm chặt. Nhưng bằng một nỗ lực phi thường của ý chí, cậu gần như lập tức lấy lại được sự bình tĩnh và tự chủ. Khi xe đưa cậu quay trở lại qua sông Neva, qua chiếc cầu nơi cậu từng cảm thấy vô cùng phấn chấn cách đó không lâu, và nhìn thấy những hòn đảo hiện ra lần nữa, cậu thở dài nặng nề. “Ta cứ tưởng mọi chuyện đối với riêng mình đã kết thúc xuôi chèo mát mái rồi cơ chứ, thế mà giờ đây ta lại chẳng biết nó sẽ dừng lại ở đâu.” Đôi mắt cậu tối sầm lại trong giây lát với những suy nghĩ u ám và bóng hình của Người đàn bà Mặc áo Đen hiện lên trước mắt; rồi cậu lắc đầu, nhồi tẩu, châm lửa, lau đi một giọt nước mắt chắc hẳn là do hơi khói xộc vào mắt, và chấm dứt ngay mọi nỗi niềm cảm xúc vẩn vơ. Chỉ mười lăm phút sau, cậu giáng cho người đánh xe một cú đấm mạnh như trời giáng của một nhà quý tộc Nga chính hiệu vào lưng để ra hiệu rằng họ đã đến biệt thự Trebassof. Một khung cảnh vô cùng tao nhã hiện ra trước mắt cậu.
Tất cả mọi người đang vui vẻ dùng bữa trưa trong khu vườn, quanh chiếc bàn ở nhà hóng mát. Tuy nhiên, cậu lấy làm ngạc nhiên khi không thấy Natacha ở cùng họ. Boris Mourazoff và Michael Korsakoff đều có mặt ở đó. Rouletabille không muốn để lộ tung tích. Cậu ra hiệu cho Ermolai, người đang đi ngang qua khu vườn và vội vã chạy ra đón cậu ở cổng.
“Bà chủ đâu?” chàng phóng viên hỏi nhỏ, đồng thời đặt ngón tay lên môi để nhắc nhở người đầy tớ trung thành phải cẩn trọng.
Chỉ trong hai phút, Matrena Petrovna đã có mặt ở phòng canh để gặp Rouletabille.
“Nào, Natacha đâu rồi?” cậu hối hả gặng hỏi trong khi bà cứ nắm lấy tay cậu hôn lấy hôn để như thể đang tôn thờ cậu làm thánh vậy.
“Nó đi vắng rồi. Phải, đi ra ngoài. Ồ, tôi không giữ nó lại. Tôi đã chẳng thèm cố gắng níu kéo nó. Biểu cảm của con bé làm tôi hoảng sợ, anh có thể hiểu được mà, tiểu thiên sứ của tôi. Ơ kìa, sao anh thiếu kiên nhẫn thế! Chuyện gì thế hả? Tình hình thế nào rồi? Anh đã quyết định ra sao? Tôi là nô lệ của anh đây. Xin hãy ra lệnh cho tôi. Hãy ra lệnh cho tôi đi. Chìa khóa biệt thự đây ư?”
“Đúng vậy, hãy đưa cho tôi chìa khóa hiên nhà; chắc bà có vài chiếc. Tôi phải có khả năng lẻn vào nhà vào tối nay nếu cần thiết.”
Bà rút một chiếc chìa khóa từ trong váy ra, trao nó cho chàng thanh niên và thì thầm vài từ bằng tiếng Nga với Ermolai, dặn dò anh ta phải tuân lệnh vị thần hộ mệnh nhỏ bé domovoi-doukh trong bất cứ việc gì, dù là ban ngày hay ban đêm.
“Giờ hãy nói cho tôi biết Natacha đã đi đâu.”
“Cha mẹ của Boris vừa đến thăm chúng ta cách đây không lâu, để hỏi thăm tình hình của tướng quân. Họ đã đưa Natacha đi cùng, như họ vẫn thường làm ấy mà. Natacha cũng sẵn lòng đi theo họ lắm. Tiểu domovoi ơi, hãy nghe tôi này, hãy lắng nghe Matrena Petrovna đây — Ai mà ngờ được là con bé hình như đã mong chờ điều đó từ trước chứ!”
“Thế ra con bé đã đến nhà họ ăn trưa ư?”
“Chắc là thế, trừ khi họ đến một quán cà phê nào đó. Tôi không rõ nữa. Cha của Boris thích gia đình tụ họp ăn trưa ở quán Barque vào những ngày trời đẹp. Bình tĩnh lại đi, tiểu domovoi của tôi ơi. Anh bị làm sao thế? Tin xấu à? Có tin xấu gì phải không?”
“Không, không; mọi chuyện đều ổn cả. Nhanh lên, địa chỉ nhà gia đình Boris.”
“Ngôi nhà ở góc quảng trường St. Isaac và phố de la Poste.”
“Tốt. Cảm ơn bà. Vĩnh biệt.”
Cậu bắt đầu đi về phía quảng trường St. Isaac, tiện đường ghé qua khách sạn Grand Morskaia để thuê một thông dịch viên. Có cậu ta đi cùng có lẽ sẽ hữu ích. Tại quảng trường St. Isaac, cậu hay tin gia đình Morazoffs và Natacha Trebassof đã đi tàu hỏa tới Bergalowe, một trong những ga xe lửa gần đó ở Phần Lan, để ăn trưa.
“Chỉ vậy thôi sao,” cậu lẩm bẩm, rồi thầm nói thêm với chính mình, “Và biết đâu điều đó lại chẳng đúng sự thật.”
Cậu trả tiền cho người đánh xe và thông dịch viên, rồi ăn trưa tại quán bia Brasserie de Vienne gần đó. Nửa giờ sau, cậu rời đi trong tâm trạng bình tĩnh hơn nhiều. Cậu rảo bước đến khách sạn Grand Morskaia, bước vào trong và hỏi người gác cổng schwitzar:
“Anh có thể cho tôi xin địa chỉ của tiểu thư Annouchka được không?”
“Nữ ca sĩ ở Krestowsky phỏng?”
“Đúng người tôi đang tìm đấy.”
“Cô ấy vừa ăn trưa ở đây xong. Cô ấy vừa mới rời đi cùng vị hoàng tử.”
Chẳng màng tò mò xem đó là vị hoàng tử nào, Rouletabille nguyền rủa vận may của mình và một lần nữa gặng hỏi địa chỉ của cô ta.
“Thì cô ấy ở trong một căn hộ ngay bên kia đường chứ đâu.”
Cảm thấy khá hơn đôi chút, Rouletabille băng qua đường, theo sau là người thông dịch viên mà cậu vừa thuê. Ở bên kia đường, khi lên đến chiếu nghỉ tầng một, cậu được biết tiểu thư Annouchka đi vắng cả ngày. Cậu bước xuống, vẫn có thông dịch viên lủi thủi theo sau, và sực nhớ tới lời ai đó từng bảo rằng ở Nga rộng lượng bao giờ cũng có lợi, cậu liền đưa cho người thông dịch năm rúp và gặng hỏi vài thông tin về cuộc sống của tiểu thư Annouchka ở St. Petersburg. Người thông dịch thì thầm vào tai cậu:
“Cô ấy đến đây từ một tuần trước, nhưng chưa từng dành một đêm nào ở căn hộ bên đó cả.”
Anh ta chỉ tay về phía ngôi nhà họ vừa rời khỏi, rồi nói thêm:
“Đó chỉ là địa chỉ khai báo với cảnh sát mà thôi.”
“Đúng, đúng,” Rouletabille gật đầu, “Tôi hiểu rồi. Tối nay cô ấy có buổi biểu diễn phải không?”
“Thưa ngài, đó sẽ là một màn ra mắt tuyệt diệu đấy ạ.”
“Phải, phải, tôi biết rồi. Cảm ơn anh.”
Tất cả những sự trắc trở trong những việc cậu dấn thân làm ngày hôm đó, thay vì làm cậu nản lòng, lại đẩy cậu chìm sâu vào những suy tính cẩn trọng. Cậu đút tay vào túi quần, vừa huýt sáo nho nhỏ vừa quay lại quảng trường St. Isaac, đi vòng quanh nhà thờ, chăm chú quan sát ngôi nhà ở góc phố, thám thính tòa đài tưởng niệm, bước vào trong, săm soi từng tiểu tiết rồi thốt lên kinh ngạc khi bước ra, và cuối cùng lại ghé qua dinh thự của nhà Mourazoffs một lần nữa. Sau khi nhận được tin họ vẫn chưa về từ thị trấn Phần Lan, cậu liền quay về phòng khách sạn tự nhốt mình trong đó và hút liền một tá tẩu thuốc. Cậu bước ra khỏi làn khói mịt mờ ấy vào đúng giờ ăn tối.
Vào lúc mười giờ tối hôm đó, cậu bước xuống xe ngựa trước cửa nhà hát Krestowsky. Khu giải trí Krestowsky, sừng sững giữa các hòn đảo mang dáng dấp chẳng khác nào Thủy cung Aquarium, vốn không hẳn là một nhà hát, cũng chẳng phải quán ca nhạc, tiệm trà ca, nhà hàng hay khu vườn công cộng; nó là sự tổng hòa của tất cả những thứ đó cùng vô vàn điều thú vị khác. Nhà hát mùa hè, nhà hát mùa đông, nhà hát ngoài trời, sảnh trình diễn, máng trượt nhân tạo, sân tập thể thao, đủ mọi loại hình vui chơi giải trí, lối đi dạo trong vườn, quán cà phê, nhà hàng, phòng ăn riêng tư — mọi thứ có sức hút quyến rũ, khơi gợi những cuộc vui chơi trác táng nhất, hay cung cấp cho những ai chẳng hề biết đến giấc ngủ cho đến tận ba hoặc bốn giờ sáng phương tiện để kiên nhẫn chờ đón bình minh đều được hội tụ cả ở đây. Những đoàn nghệ sĩ lừng lẫy nhất của thế giới cũ và mới biểu diễn tại đây giữa bầu không khí cuồng nhiệt luôn được duy trì nhờ sự lo xa của ban quản lý: vũ công người Nga và ngoại quốc, và trên hết là các nữ ca sĩ hát châm biếm người Pháp, những búp bê nhỏ của các quán trà ca, miễn là họ còn trẻ trung, tươi tắn và ăn mặc trang nhã, đều có thể tìm thấy vận may của mình tại chốn này. Nếu chẳng có được may mắn ấy, họ ít nhất cũng chắc chắn tìm thấy vào mỗi buổi tối một gã trượng phu già đời nào đó, và thường là cả những sĩ quan sẵn sàng chi ra hai mươi lăm rúp chỉ để đổi lấy cái hân hạnh có một thiếu nữ sinh ra bên bờ sông Seine làm bạn đồng hành bên bàn tiệc. Sau phần trình diễn ca hát của mình, những người phụ nữ này lại khoe sắc vóc và nụ cười rạng rỡ dọc theo các lối đi dạo trong khu vườn hoặc giữa những dãy bàn của các thực khách uống champagne. Đương nhiên, những tên tuổi hàng đầu sẽ không bị ép buộc phải đi lại mệt nhọc như thế, mà có thể lui về nghỉ ngơi nếu họ muốn. Mặc dù vậy, ban quản lý vẫn vô cùng cảm kích nếu họ chấp nhận lời mời từ một vị quan chức cấp cao trong quân đội, bộ máy hành chính hay tài chính — những kẻ đang tìm kiếm vinh dự được nghe nữ ca sĩ cất lên những khúc ca Digan miền Vieux Derevnia trong một phòng riêng cùng bầu bạn không vướng bận chút u sầu. Họ hát ca, họ ngả ngớn, họ bàn chuyện Paris, và trên hết là họ uống. Nếu đôi khi bữa tiệc tùng nhỏ kết thúc có phần thô ráp, thì đó là lỗi tại chén rượu champagne nồng ấm và đượm tình, nhưng thông thường những cuộc hoan lạc ấy vẫn khá vô hại, mang một nét tính cách chắc chắn có thể làm phiền lòng các hội ái hữu bài trừ rượu chông gai nhưng chẳng khiến ngài Thượng nghị sĩ Berenger phải bận tâm nhúng tay vào.
Một cuộc chiến tranh với mùi khói súng vẫn còn hăng hắc, một cuộc cách mạng với những tiếng gầm gừ bại trận cuối cùng vẫn chưa dứt hẳn vào thời điểm diễn ra những sự kiện này, chẳng hề làm suy giảm chút nào sự náo nhiệt hằng đêm ở Krestowsky. Rất nhiều thanh niên khoác lên mình bộ quân phục bảnh bao vào tối hôm đó, miệng hô vang câu “Nichevo” dọc theo những lối đi rực rỡ ánh đèn của khu vườn công cộng, hay ngồi kín các bàn tiệc ngoài trời, uống rượu vodka tại các quầy hàng, hoặc ngắm nhìn dáng vóc của những cô đào lưu lạc, từng đến đây vào trước thềm ra trận rồi trở về với nụ cười ngây thơ, say đắm hệt như xưa, với cùng một lý tưởng về niềm vui phù phiếm, và vẫn thản nhiên ôm hôn những người đồng đội qua đường đầy hứng khởi. Vài người trong số họ giờ đây tay áo đã buông thõng bên sườn, hoặc phải chống nạng khi đi, hay thậm chí bước đi trên một chiếc chân giả, nhưng tất cả vẫn tóm lại một câu: “Nichevo!”
Đám đông tối nay đông đúc hơn hẳn ngày thường, bởi đây là cơ hội được lắng nghe Annouchka cất giọng trở lại lần đầu tiên kể từ những ngày u ám ở Moscow. Các sinh viên đã sẵn sàng dành cho cô những tràng pháo tay hoan hô nhiệt liệt, và chẳng ai dám phản đối điều đó, bởi suy cho cùng, nếu giờ đây cô được cất tiếng hát thì đó là vì cảnh sát cuối cùng đã chịu mở đường. Nếu chính phủ của Sa hoàng ban phác cho cô con đường sống, thì không phải để ép cô phải chết đói. Ai nấy đều phải kiếm sống bằng mọi cách có thể. Annouchka chỉ biết hát và múa, thế nên cô buộc phải hát và múa!
Khi Rouletabille bước chân vào Vườn Krestowsky, Annouchka đã bắt đầu phần trình diễn của mình, khép lại bằng một khúc “Roussalka” vô cùng hoành tráng. Vây quanh bởi một dàn đồng ca gồm các vũ công nam nữ mặc trang phục truyền thống đi bốt đỏ, tay đập nhịp trống lắc tamburanh, rồi bất ngờ chuyển sang tư thế cứng đờ để thả cho giọng ca thuộc âm vực bình thường của nữ nghệ sĩ cất lên, Annouchka đã thu hút toàn bộ sự chú ý của đám đông khán giả khổng lồ đổ dồn về phía mình. Tất cả các khu vực khác trong cơ ngơi đều vắng tanh, bàn ghế đã được dọn sạch, và một biển người thở hổn hển đang chen lấn quanh sân khấu ngoài trời. Rouletabille đứng lên ghế ngay khoảnh khắc những tiếng hô “Bravos” vang dội cất lên từ một nhóm sinh viên. Annouchka cúi đầu chào họ, phớt lờ phần còn lại của khán giả — những kẻ vẫn chưa dám công khai bày tỏ thái độ. Cô hát những khúc ca dân gian cổ xưa được cải biên theo thị vị đương đại, đan xen giữa những màn vũ đạo đặc sắc. Chúng đạt được thành công vang dội, bởi cô đã dồn trọn tâm can vào đó và hát bằng thứ giọng lúc thì mơn trớn, lúc thì đe dọa, có lúc lại mang vẻ tuyệt vọng đầy tráng lệ, thổi một ý nghĩa sâu sắc vào những ca từ vốn dĩ chẳng mảy điều khiến cơ quan kiểm duyệt phải hoài nghi trên mặt giấy. Thị vị thời bấy giờ rõ ràng vẫn chuộng âm hưởng cách mạng, thứ sức ảnh hưởng vẫn bám rễ sâu bên những bờ sông Neva. Những gì cô đang làm quả thực vô cùng táo bạo, và hình như chính cô cũng nhận thức được sự cả gan đó, bởi với sự khôn ngoan tuyệt vời, cô lập tức tung ra một khúc ca ái quốc ngay sau một câu hát đầy nguy hiểm khiến ai nấy đều tranh thủ vỗ tay rào rào. Bằng cách đó, cô đã thành công trong việc thu hút mọi phe phái đối lập trong khán phòng và giành lấy một thắng lợi hoàn toàn cho bản thân. Giới sinh viên, phe cách mạng, phái cấp tiến và các học viên sĩ quan cùng tung hô nữ ca sĩ, ca ngợi không chỉ nghệ thuật của cô mà hơn hết thảy là người em gái của kỹ sư Volkousky — người từng bị kết án phải bỏ mạng cùng anh trai dưới loạt đạn của trung đoàn Semenovsky. Về phần mình, những thân tín của triều đình không thể quên rằng chính cô là kẻ từng gạt phăng cánh tay của Constantin Kochkarof ngay trước điện Kremlin — kẻ được Ủy ban Trung ương Cách mạng giao nhiệm vụ ám sát Đại công tước Peter Alexandrovitch khi ngài ngồi xe trượt tuyết đến dinh thự của Tỉnh trưởng. Quả bom phát nổ cách đó mười thước, cướp đi sinh mạng của chính Constantin Kochkarof. Rất có thể trước khi chết, hắn đã kịp nghe Annouchka hét lên rằng: “Đồ khốn! Chúng bảo mày đi giết hoàng tử chứ không phải ám sát con cái của ngài.” Số là, Đại công tước Peter Alexandrovitch lúc đó đang ôm hai nàng tiểu công chúa bảy và tám tuổi trong lòng. Triều đình từng muốn ban thưởng cho cô vì hành động anh hùng đó. Nhưng Annouchka đã nhổ nước bọt vào mặt sứ giả của Cục trưởng Cảnh sát khi lão đến gặp để bàn chuyện tiền nong. Tại nhà hát Hermitage ở Moscow, nơi cô từng ca hát sau đó, một vài người ái mộ đã cảnh báo cô về khả năng bị phe cách mạng trả thù. Thế nhưng phái cách mạng ngay lập tức trấn an rằng cô chẳng có gì phải sợ. Họ tán thành hành động của cô và cho cô biết rằng họ giờ đây đang trông cậy vào việc cô sẽ ra tay trừ khử Đại công tước vào một lúc nào đó khi ngài đi một mình; điều đó đã khiến Annouchka phải bật cười. Cô là một đứa trẻ cứng đầu ngỗ ngược enfant terrible, chẳng ai biết bạn bè cô là ai, nổi tiếng là kẻ khôn ngoan và mọi đường dây mưu lược của cô đều là một ẩn số bất khả xâm phạm. Cô rất thích thú khi làm cho những kẻ bảo trợ mình trong các phòng ăn riêng phải run lẩy bẩy bên mâm tiệc. Có lần cô đã nói thẳng thừng với một trong những tchinovnik quyền lực nhất ở Moscow rằng: “Này lão bạn già, ông là chủ tịch của Hội Trăm Đen đấy. Số mệnh của ông đã được định đoạt rồi. Ngày hôm qua ông đã bị các đại biểu của Ủy ban Trung ương ở Presnia kết án tử hình. Hãy đọc kinh cầu nguyện đi thôi.” Lão ta với tay với lấy ly champagne. Lão chưa bao giờ kịp uống cạn ly rượu đó. Bọn dvornick khênh lão ra ngoài trong cơn trúng gió tai biến mạch máu cérébrale. Kể từ dạo cứu được các tiểu công chúa, cảnh sát đã có lệnh được buông lỏng cho cô muốn hành động và ăn nói thế nào tùy ý. Cô từng nhúng tay vào những âm mưu thâm độc nhất chống lại chính phủ. Những kẻ dù chỉ dính líu chút ít đến các âm mưu đó mà không thuộc lực lượng cảnh sát đều lặng lẽ biến mất. Bạn bè của họ thậm chí chẳng dám hé miệng hỏi dăm ba tin tức về họ. Điều duy nhất chắc chắn về họ là họ đang thụ án lao động khổ sai ở đâu đó tận những mỏ quặng thuộc dãy Ural. Vào thời điểm bùng nổ cách mạng, Annouchka có một người anh trai làm kỹ sư trên tuyến đường sắt Kasan-Moscow. Hắn Volkousky này là một trong những thủ lĩnh của Ủy ban Đình công. Giới chức trách đã gí mắt theo dõi hắn. Cuộc cách mạng nổ ra. Hắn, với sự trợ giúp của người em gái, đã thực hiện một trong những hành động lẫy lừng đến mức khắc ghi tên tuổi họ như những anh hùng lưu truyền đến muôn đời hậu thế. Khi công việc hoàn thành, họ bị bắt bởi binh lính của Trebassof. Cả hai đều bị kết án tử hình. Volkousky bị hành quyết trước, và người em gái đang chuẩn bị đến lượt mình thì một sĩ quan chính phủ cưỡi ngựa phi nước đại đến để ra lệnh dừng loạt đạn. Sa hoàng, sau khi hay tin về số phận dự kiến của cô, đã gửi lệnh ân xá qua đường điện báo. Sau sự kiện đó, cô biến mất. Người ta cho rằng cô đã thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh châu Âu như thói quen của mình, bởi cô thông thạo mọi thứ tiếng hệt như một người Digan chính cội. Giờ đây, cô đã tái xuất trong vinh quang rực rỡ tại Krestowsky. Tuy nhiên, một điều chắc chắn là cô chưa từng quên đi người anh trai của mình. Đám dưa lê mách quéo đồn rằng nếu chính phủ và cảnh sát tỏ ra kiên nhẫn đến vậy thì đó là vì họ thấy làm thế có lợi cho mình. Cuộc sống công khai, rành rành trước mắt mà Annouchka trưng ra ít gây phiền toái cho họ hơn là những hoạt động ngầm của cô. Lũ cảnh sát quèn vây quanh Cục trưởng Cảnh sát Mật vụ St. Petersburg, lão Gounsovski khét tiếng, thường nở những nụ cười đầy ẩn ý mỗi khi nhắc đến chuyện này. Trong mắt bọn chúng, Annouchka mang cái biệt danh bỉ ổi là “Chim mồi”.
Rouletabille chắc hẳn phải nắm rất rõ mọi chi tiết cặn kẽ về Annouchka, bởi cậu chẳng hề tỏ ra ngạc nhiên chút nào trước sự quan tâm lớn lao và cảm xúc mạnh mẽ mà cô khơi gợi. Từ góc khuất nơi mình đứng, cậu chỉ có thể nhìn thấy một phần sân khấu và đang kiễng cả chân lên để ngắm nữ ca sĩ thì cảm thấy vạt áo bị ai đó kéo giật lại. Cậu quay người lại. Đó chính là vị luật sư vui tính nổi tiếng với những chiến tích ăn uống đình đám, Athanase Georgevitch, đi cùng vị hội viên hội đồng Hoàng gia vui tính Ivan Petrovitch, đang ra hiệu bảo cậu trèo xuống.
“Mau đến chỗ chúng tôi đi; bọn tôi có hẳn một lô ghế riêng đây.”
Rouletabille chẳng cần ai phải nài nỉ thêm, liền nhanh chóng có mặt ở hàng ghế đầu trong một lô khán giả — nơi cậu có thể vừa quan sát sân khấu vừa bao quát cả khán giả bên dưới. Vừa lúc đó, tấm màn nhung hạ xuống khép lại phần đầu tiên trong màn biểu diễn của Annouchka. Chẳng mấy chốc, nhóm bạn lại có sự góp mặt của Thaddeus Tchitchnikoff, ông trùm buôn gỗ lớn vừa từ sau cánh gà bước ra.
“Ta vừa mới đi gặp nữ minh tinh xinh đẹp Onoto về đấy,” tay người Lithuania thông báo với một tiếng cười thỏa mãn lớn. “Kể ta nghe ít tin tức xem nào. Mấy cô đào đang ghen lú cả ruột trước thành công rền trời của con nhỏ Annouchka kìa.”
“Thế quái nào mà anh lại lê la vào tận phòng hóa trang của Onoto thế hả Athanase?” gã thắc mắc.
“Ồ, chính Gounsovski dẫn ta vào đấy chứ ai, bạn hiền ạ. Hắn ta khoái ba cái trò nghệ thuật lắm, các cậu biết rồi đấy.”
“Cái gì! Lại còn đi lại thân thiết với cả Gounsovski cơ à?”
“Thề có Chúa, ta nói thật đấy các bạn quý hóa ạ, hắn ta chẳng phải là tay xã giao tồi đâu. Hắn từng giúp ta một vố nhỏ ở Bakou năm ngoái. Một mối quan hệ ngon lành trong cái thời buổi công cộng nhiễu nhương này.”
“Giờ anh chuyển sang kinh doanh dầu mỏ rồi phỏng?”
“À thì, làm linh tinh đủ thứ để kiếm sống ấy mà. Ta có một cái mỏ nhỏ tẹo dưới mạn Bakou, chẳng to tát gì đâu; và một căn nhà, bé xíu thôi để phục vụ cho cái công việc cỏn con của ta.”
“Đúng là một tay trùm độc quyền Thaddeus đích thực,” Athanase Georgevitch vừa lớn tiếng tuyên bố vừa giáng một cú vỗ trời giáng vào đùi lão bằng bàn tay to tướng của mình. “Gounsovski thân chinh đến tận đây để canh chừng màn ra mắt của Annouchka cơ à? Chỉ có điều cái thói đời là lão lại tót vào phòng hóa trang của Onoto, đúng là cái đồ quỷ sứ.”
“Hừm, hắn có màng quái đâu. Các cậu có biết tối nay hắn đi ăn tối với ai không? Với Annouchka đấy, các bạn của ta ơi, và chúng ta cũng được mời nữa cơ đấy.”
“Thế quái nào lại có chuyện đó được nhở?” vị ủy viên hội đồng vui tính ngạc nhiên hỏi.
“Hình như Gounsovski đã gây áp lực với bộ trưởng để cho phép Annouchka được biểu diễn bằng cách cam đoan rằng hắn sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm. Điều kiện duy nhất hắn đòi hỏi ở Annouchka là cô ta phải nhận lời ăn tối với hắn vào cái đêm ra mắt này.”
“Và Annouchka đã đồng ý ư?”
“Hình như đó là điều kiện tiên quyết. Hơn nữa, người ta đồn rằng Annouchka và Gounsovski cũng chẳng đến nỗi cơm không lành canh không ngọt với nhau đâu. Gounsovski từng giúp Annouchka không ít lần. Thiên hạ xì xào rằng lão đang cắm sừng... à nhầm, đang chết mê chết mệt cô ta đấy.”
“Trông mặt lão chẳng khác nào một tay buôn ô dù,” Athanase Georgevitch khịt mũi coi thường.
“Cậu đã được diện kiến lão ở cự ly gần bao giờ chưa?” Ivan gặng hỏi.
“Ta từng được mời ăn tối ở nhà lão rồi đấy, dù chẳng lấy gì làm tự hào cho cam, thề có Chúa.”
“Đúng như hắn đã nói,” Thaddeus tiếp lời. “Khi biết chúng ta cùng có mặt ở đây, hắn đã dặn ta rằng: ‘Hãy dẫn cậu ta theo, đó là một tay cừ khôi biết dùng nĩa rấtừ tuyệt; và nhớ dẫn theo cả bác Ivan Petrovitch thân mến cùng tất cả bạn bè của các anh nữa.’”
“Ồ, ta chỉ đến nhà lão ăn chực một bữa,” Athanase làu bàu, “chỉ vì có một đặc ân mà lão sắp sửa giúp ta thôi.”
“Lão ta làm phúc cho thiên hạ suốt ấy mà, con người đó ý thức lắm,” Ivan Petrovitch nhận xét.
“Tất nhiên, tất nhiên rồi; lão buộc phải làm thế chứ,” Athanase đáp trả. “Cục trưởng Cảnh sát Mật vụ sinh ra để làm gì nếu không phải để giải quyết mọi việc cho thiên hạ? Cho tất cả mọi người, các bạn thân mến ạ, và tiện thể ké thêm chút ích lợi cho bản thân nữa chứ. Một lão trùm mật vụ mà muốn giữ được chiếc ghế của mình thì phải chơi thân với tất cả mọi người, từ ông tá cho tới bố vợ thiên hạ, hệt như lời La Fontaine từng nói (nếu các cậu biết lão tác giả đó) ấy. Các cậu hiểu ý ta nói gì mà.”
Athanase cười lớn khoái chí, mừng vì chớp được cơ hội thể hiện sự am hiểu văn hóa Pháp qua các điển tích, rồi liếc nhìn Rouletabille để xem cậu có bắt được tần số của câu chuyện hay không; nhưng Rouletabille lúc bấy giờ đang bận chăm chú quan sát một bóng hình ẩn hiện dưới lớp khăn voan ren đen theo phong cách Tây Ban Nha đến mức chẳng buồn đáp lại màn thể hiện của Athanase bằng một nụ cười hiểu ý.
“Các anh đúng là có những suy nghĩ ngây thơ thật đấy. Cứ như thể trùm mật vụ thì phải là một con ngợp ăn thịt người không bằng,” vị luật sư vừa nói vừa gật đầu chào xã giao khắp lượt bạn bè xung quanh.
“Thì chứ sao nữa. Hắn ta cần phải hiền như cục đất ở cái xó xỉnh chốn đó ấy chứ, ngoan ngoãn hệt như cừu non vậy. Gounsovski mềm oặt ra như một con cừu. Cái hồi ta đến nhà lão ăn tối, món thịt cừu dọn lên còn dính đầy mỡ gân. Lão ta y chang như thế. Ta cá là người toàn thân lão tuyền những ngấn mỡ là mỡ. Bắt tay lão cứ ngỡ như đang vớ phải một nhúm mỡ cục ấy chứ. Thề có danh dự! Lúc ăn thì mồm nhai mỡ màng tóp tép. Đầu óc lão cũng y chang thế nốt; trọc lóc, các cậu biết đấy, với cái sọ bóng nhẫy như mỡ lợn mới rán. Lão nói năng nhỏ nhẹ và nhìn cậu chằm chằm hệt như một đứa trẻ con đang ngóng mẹ dọn cho bữa ăn ngon lành vậy.”
“Nhưng mà — sao cơ — đó chính là Natacha mà!” đôi môi chàng thanh niên lẩm bẩm.
“Chính nó chứ còn ai vào đây nữa, đích thị là Natacha rồi,” Ivan Petrovitch thốt lên, vừa giơ ống nhòm lên để nhìn cho rõ ai là người mà chàng phóng viên trẻ tuổi đang đăm đăm hướng mắt tới. “À, cô bé đáng yêu! Con bé đã ao ước được gặp Annouchka từ lâu lắm rồi.”
“Cái gì, Natacha á! Quả đúng thế thật. Đúng là Natacha rồi! Natacha kìa!” những người khác nhao nhao. “Lại còn đi cùng bố mẹ của Boris Mourazoff nữa chứ.”
“Nhưng ngặt nỗi Boris lại chẳng có mặt ở đây,” Thaddeus Tehitchnikoff khúc khích cười.
“Ồ, chắc cậu ta quanh quẩn ở đâu đây thôi. Nếu có mặt cậu ta thì kiểu gì chúng ta chả thấy cả Michael Korsakoff nữa. Bọn chúng lúc nào cũng dính nhau như sam.”
“Sao con bé lại nỡ rời xa tướng quân cơ chứ? Nó từng thề non hẹn biển là không thể sống thiếu ngài cơ mà.”
“Trừ khi đi xem Annouchka,” Ivan đáp. “Nó cuồng gặp cô ta lắm, cứ nhắc đi nhắc lại mãi lúc ta đến chơi nhà đến mức ngay cả Feodor Feodorovitch cũng cảm thấy hơi chướng tai gai mắt với con bé, còn Matrena Petrovna thì mắng cho một trận tơi bời hoa lá. Nhưng mà hễ con gái đã muốn gì thì thần linh cũng phải chiều lòng. Đời nó thế đấy.”
“Quả thật là vậy, ta biết chứ,” Athanase thêm vào. “Ivan Petrovitch nói chuẩn không cần chỉnh. Từ lúc đọc được tin Annouchka sắp sửa ra mắt ở Krestowsky là Natacha đứng ngồi không yên. Nó tuyên bố sống chết gì cũng phải mục sở thị cho bằng được đại minh tinh này.”
“Cha nó suýt chút nữa thì kéo được nó ra khỏi cái đám đông nhộn nhạo ấy rồi,” Ivan khẳng định, “và như thế mới phải lẽ chứ. Chắc chắn con bé đã tự mình sắp xếp cái vụ lùm xùm này với thằng Boris và bố mẹ nó rồi đây.”
“Đúng thế, lão Feodor chắc tịt mù chẳng hay biết gì chuyện con gái mình lén lút đi cổ vũ cho nữ anh hùng nhà ga Kasan đâu. Con bé này quả thật gan góc ra trò, thề có Chúa,” Athanase xuýt xoa.
“Các cậu phải nhớ rằng, Natacha dẫu sao cũng là một nữ sinh,” Thaddeus vừa nói vừa lắc đầu; “một nữ sinh chính hiệu. Bây giờ nhiều gia đình gặp phải những chuyện tai bay vạ gió kiểu đó lắm. Ta nhớ lại, nhân chuyện lão Ivan vừa nhắc lúc nãy, là hôm nay nó đã ngỏ lời xin Michael Korsakoff trước mặt ta cho biết địa chỉ biểu diễn của Annouchka. Hơn thế nữa, nó còn bảo muốn được trực tiếp trò chuyện với nữ nghệ sĩ đó nếu có thể. Michael đã nhíu mày từ chối ngay cả trước mặt ta. Nhưng anh ta chẳng thể từ chối nổi nó, cũng giống như những người khác vậy. Michael có thể tiếp cận Annouchka dễ dàng hơn bất cứ ai. Các cậu nhớ chứ, chính anh ta là người đã phi ngựa bạt mạng mang chiếu chỉ ân xá đến kịp lúc để cứu mạng mụ phù thủy xinh đẹp đó; đời nào cô ta dám quên ơn cứu mạng nếu còn tiếc rẻ cái mạng sống của mình.”
“Bất cứ ai hiểu rõ về Michael Nikolaievitch đều biết anh ấy đã làm tròn bổn phận một cách nhanh chóng,” Athanase Georgevitch cộc lốc cắt ngang. “Nhưng anh ấy sẽ chẳng thèm bước thêm một bước nào để cứu Annouchka đâu. Ngay cả bây giờ, anh ấy cũng đời nào chịu đánh đổi sự nghiệp của mình để lai vãng tới nhà của một ả đàn bà lúc nào cũng nằm trong tầm ngắm của đám mật vụ dưới quyền Gounsovski và mang cái biệt danh ‘Chim mồi’ không phải là vô cớ đâu.”
“Thế sao tối nay chúng ta lại nhận lời đi ăn tối với Annouchka làm quái gì?” Ivan thắc mắc.
“Đâu ra chuyện đấy. Chúng ta được chính Gounsovski mời cơ mà. Đừng có quên điều đó, nhỡ mai mốt có tai vạ gì lọt tai thiên hạ, hỡi các bạn hiền,” Thaddeus nhắc nhở.
“Mà nói cho cùng, Thaddeus ạ, ta nhận lời mời của ngài cục trưởng cảnh sát mật vụ đáng kính nhà ta đơn giản vì không muốn tỏ ra thất lễ thôi. Ta từng ăn tối ở nhà lão rồi. Giờ ngồi đối diện với lão tại một bàn tiệc công cộng thế này coi như ta đáp lễ lại cái sự lịch thiệp đó. Các cậu nghĩ sao hả?”
“Đã từng ăn chực nhà lão rồi thì kể nghe xem ngoài mớ mỡ màng ra thì lão ta là loại người thế nào đi,” vị ủy viên hội đồng tò mò gặng hỏi. “Thiên hạ đồn đại về lão nhiều quá. Tốt nước sơn hơn tốt gỗ, đối đầu với lão có vẻ thiệt thân hơn là làm bạn, thế nên ta mới nhận lời mời. Mà đằng nào thì các cậu từ chối thế quái nào được cơ chứ?”
“Lần đầu tiên lão ngỏ ý mời ta đến khách gia,” vị luật sư giải thích, “ta thậm chí còn chẳng biết lão là ai. Chưa từng bén mảng tới gần lão bao giờ. Bỗng một ngày đẹp trời nọ, có một tên cảnh sát mò đến tận nhà truyền đạt lệnh mời ăn tối của ngài đại nhân — hay ít nhất, ta hiểu rằng từ chối cái lời mời khỉ gió ấy là dại dột, hệt như cậu vừa nói đấy, Ivan Petrovitch ạ. Lúc bước chân vào nhà lão, ta cứ ngỡ mình đang lọt tỏm vào một pháo đài, còn bên trong thì trông chẳng khác nào một cửa hàng bán ô. Khắp nơi toàn ô với ủng. Đúng là hôm ấy trời mưa tầm tã thật. Điều làm ta ngạc nhiên là chẳng có lấy một tên lính canh gác cầm súng lục to đùng nào ở tiền sảnh cả. Lão chỉ bố trí một gã gác cổng schwitzar nhỏ thó, nhút nhát, đứng đó đón chiếc ô của ta, miệng lầm bầm ‘barine’ và cúi gập người chào hết lần này đến lần khác. Lão ta dẫn ta đi qua những căn phòng bình thường đến mức chẳng có gì phòng bị để vào một phòng khách làng nhàng tầm thường chẳng kém. Chúng ta dùng bữa tối cùng phu nhân Gounsovski, người cũng đẫy đà béo ú chẳng kém gì chồng, và ba bốn gã đàn ông nào đó mà ta chưa từng nhìn thấy mặt ở bất cứ đâu. Chỉ có độc một tên đầy tớ đứng hầu bàn. Thề có Chúa!
Đến lúc tráng miệng, Gounsovski kéo riêng ta ra một góc và bảo rằng ta không khôn ngoan khi cứ ‘tranh cãi kiểu đó’. Ta liền hỏi lão thế ý lão là gì. Lão cầm lấy đôi bàn tay ta giữa đôi bàn tay nhớp nháp mỡ của lão và lặp đi lặp lại: ‘Không, không, cãi cọ kiểu thế là dại dột đấy.’ Ta chẳng thể moi thêm được câu nào khác từ miệng lão. Mà nói cho chuẩn, ta tự hiểu lấy, và các cậu biết đấy, kể từ dạo đó ta đã tự động lược bỏ bớt những khúc tranh tụng rườm rà không cần thiết trong các bản bào chữa trước tòa — những thứ từng mang lại cho ta cái tiếng tai quở trách là phát ngôn quá đà tự do trên báo chí. Ở cái tuổi này rồi thì dại gì mà dây dưa! Hừm, ngài Gounsovski vĩ đại! Lúc nhâm nhi tách cà phê, ta tiện miệng hỏi lão có thấy đất nước dạo này đang trải qua giai đoạn quá ư căng thẳng hay không. Lão liền đáp rằng lão đang đếm từng ngày ngóng chờ đến tháng Năm để được lui về nghỉ ngơi tại một cơ ngơi nhỏ có mảnh vườn xinh xắn mà lão tậu được ở Asnieres, ngoại ô Paris. Khi nhắc đến căn nhà ở quê ấy, phu nhân Gounsovski lại thở dài thườn thượt đầy khao khát những niềm vui thôn dã bình dị. Nhắc đến tháng Năm là nước mắt bà ta chực trào. Hai vợ chồng nhìn nhau tình tứ hết chỗ nói. Bọn họ chẳng mảy nghĩ ngợi lấy một giây rằng: ngày mai hay ngày kia thôi, trước khi cái hạnh phúc điền viên ấy kịp thành hiện thực, biết đâu vợ chồng ta đã bị lột sạch sành sanh mọi thứ rồi ấy chứ. Không hề! Họ vô cùng chắc chắn về kỳ nghỉ hạnh phúc của mình và chẳng có gì có thể làm họ bận tâm dưới lớp mỡ dày cộm ấy. Gounsovski làm ơn làm phước cho bao nhiêu người đến nỗi chẳng ai nỡ lòng nào ôm hận thù lão cả, tội nghiệp lão chưa. Hơn thế nữa, các vị bô lão thân mến của ta ạ, các cậu đã bao giờ để ý thấy rằng chẳng có ma nào thèm giở trò ám hại các sếp mật vụ bao giờ chưa? Người ta đi thanh toán trùm cảnh sát, tổng đốc cảnh sát, các vị bộ trưởng, đại công tước, thậm chí cả những kẻ tai to mặt lớn hơn nữa, nhưng lũ trùm mật vụ thì chưa bao giờ, chưa bao giờ bị tấn công cả. Bọn chúng có thể thảnh thơi dạo bước trên phố, trong những khu vườn ở Krestowsky, hít thở bầu không khí trong lành ở vùng quê Phần Lan hay thậm chí là vùng ngoại ô Paris. Bọn chúng đã ban ơn huệ nhỏ nhặt này đến người này người nọ, hết chỗ này đến chỗ khác, đến mức chẳng ai nỡ ra tay làm tổn hại bọn chúng dù chỉ là một mảy may. Ai nấy đều đinh ninh rằng những người khác còn được đối xử tệ hơn mình. Đó chính là bí mật của cái nghề này đấy các bạn ạ, chính là nó. Các cậu thấy ta nói thế có chuẩn không?”
Những người còn lại nhao nhao hưởng ứng: “Ài ài, ngài Gounsovski khôn ngoan thật đấy. Lão thừa biết cách sống. Quá rõ là đằng khác. Tất nhiên rồi, cứ nhận lời dự tiệc của lão đi. Có cả Annouchka tham gia nữa thì kiểu gì chả vui náo nhiệt.”
“Thưa các ngài,” Rouletabille đột ngột lên tiếng khi vẫn đang mải mê quan sát những nhân vật khác trong khán phòng, “các ngài có nhận ra vị sĩ quan đang ngồi ở cuối dãy ghế dưới khu vực dàn nhạc kia không? Kìa, ngài ấy đang đứng dậy kìa.”
“Hắn ta á? Ơ hay, đó chẳng phải là Hoàng tử Galitch, một trong những đại quý tộc giàu có nhất miền Bắc sao. Giờ thì ngài ấy sạt nghiệp tơi bời rồi còn đâu.”
“Cảm ơn các ngài; đích thị là ngài ấy rồi. Tôi biết ngài ấy,” Rouletabille vừa nói vừa ngồi xuống ghế, cố kìm nén cảm xúc đang trào dâng.
“Nghe đồn lão ta là một kẻ si mê Annouchka đến cuồng dại,” Thaddeus úp mở. Đoạn, lão đứng dậy rời khỏi lô ghế.
“Vị hoàng tử này đã bị phá sản bởi gái gú,” Athanase Georgevitch, kẻ tự nhận là thông làu mọi giai thoại tình ái trong đế chế, chen vào.
“Lão ta cũng từng có quan hệ cơm lành canh ngọt với Gounsovski đấy,” Thaddeus nói vọng lại.
“Tuy nhiên ở triều đình, người ta coi lão là một phần tử bất trị, chẳng đáng tin cậy. Lão từng có chuyến viếng thăm kéo dài đến chỗ Tolstoy đấy.”
“Xì! Gounsovski chắc chắn đã lập được đại công nào đó cứu nguy cho vị hoàng tử liều lĩnh này rồi,” Athanase chốt hạ. “Mà còn cậu nữa Thaddeus, cậu vẫn chưa kể cho chúng ta nghe cậu đã làm gì với Gounsovski ở Bakou đấy nhé.”
(Rouletabille không bỏ sót một từ nào trong những câu chuyện đang rôm rả xung quanh, dẫu cho đôi mắt cậu chưa từng rời khỏi bóng hình ẩn khuất dưới tấm khăn choàng đen lẫn vị Hoàng tử Galitch — kẻ thù không đội trời chung của cậu,* kẻ mà cậu có cảm giác vừa xuất hiện trở lại vào một thời điểm vô cùng hiểm nghèo.)
* như đã kể trong “Người đàn bà mặc áo đen.”
“Ta đang trên đường từ Balakani trở về bằng xe ngựa drojki,” Thaddeus Tchitchnikoff bắt đầu kể, “và vừa tiến gần đến Bakou sau khi mục kích đống hoang tàn của những giàn khoan dầu đã bị người Tartar thiêu rụi, thì ta bắt gặp Gounsovski giữa đường. Lão cùng hai người bạn đang gặp vận đen rận khi xe bị gãy một bánh. Ta liền dừng xe lại. Lão giải thích rằng lão thuê một người đánh xe người Tartar, và gã đánh xe này, khi nhìn thấy một tên người Armenia lộc cộc đi trước mặt, chẳng khá khẩm hơn lại dại dột phi thẳng xe tông trực diện vào xe của lão người Armenia kia. Lão đã phải với tay giật lấy dây cương từ tay gã, nhưng ngặt nỗi bánh xe đã bị gãy quẹo rồi.” (Rouletabille giật thót người, bởi cậu bắt gặp một cái liếc mắt ra hiệu giữa Hoàng tử Galitch và Natacha — người đang rướn người dựa vào thành ghế của lô.) “Thế là ta liền đề nghị chở Gounsovski cùng mấy người bạn lên xe của ta, và tất cả cùng rồng rắn kéo nhau về Bakou, sau khi Gounsovski — với bản tính hằng cứu giúp người khác như Athanase Georgevitch vừa ca ngợi — đã kịp cảnh cáo gã đánh xe người Tartar chớ có dại dột mà làm thịt nốt tay người Armenia kia.” (Đúng lúc dàn nhạc tấu lên khúc nhạc dạo đầu cho màn biểu diễn mới của Annouchka, Hoàng tử Galitch chớp lấy thời cơ mọi ánh mắt đang đổ dồn về tấm màn nhung đang kéo lên để lướt qua chỗ ngồi của Natacha. Lần này hắn không nhìn Natacha, nhưng Rouletabille quả quyết rằng đôi môi hắn đã động đậy khi sượt qua người cô.)
Thaddeus tiếp lời: “Phải thanh minh thế này, căn nhà nhỏ của ta ở Bakou nằm sát ngay lối rẽ ra bến cảng. Lúc đó ta có thuê mấy nhân viên người Armenia làm việc ở đó. Về đến nơi, các cậu đoán xem ta đập vào mắt ta là gì nào? Một hàng lính túc trực súng ống đầy đủ, vâng, có cả đại bác hẳn hoi, thề có danh dự, đang chĩa thẳng nòng vào nhà ta và một viên sĩ quan đang điềm tĩnh ra lệnh: ‘Mục tiêu đã rõ. Khai hỏa đi!’” (Rouletabille lại phát hiện thêm một điều nữa — hai, ba phát hiện liền. Ngay gần đó, đứng nấp phía sau ghế ngồi của Natacha là một bóng hình chẳng xa lạ gì với chàng phóng viên trẻ, và kìa, ở một chiếc ghế dưới khu vực dàn nhạc là hai gã đàn ông khác mà cậu từng chạm mặt trong trại lính của Koupriane ngay sáng hôm nay. Quả là trí nhớ tốt về khuôn mặt đã cứu cậu một bàn thua trông thấy. Cậu nhận ra mình không phải là kẻ duy nhất đang theo sát từng đường đi nước bước của Natacha.) “Lúc nghe viên sĩ quan ra lệnh,” Thaddeus kể tiếp, “ta suýt ngã lăn kềnh khỏi xe drojki. Ta vội vã chạy đi tìm ngài cảnh sát trưởng. Lão giải thích ngọn ngành sự tình nhanh gọn, và ta cũng lẹ làng hiểu ra vấn đề. Trong lúc ta vắng nhà, một nhân viên người Armenia của ta đã nã súng vào một tên người Tartar đi ngang qua. Phải thừa nhận là hắn đã bắn chết toi gã đó. Tỉnh trưởng hay tin liền thị uy ra lệnh pháo kích san bằng ngôi nhà để làm gương, y hệt như những gì từng làm với mấy căn nhà khác. Ta liền tạt ngang tìm Gounsovski và tóm tắt rắc rối bằng hai câu ngắn gọn. Lão bảo chẳng cần thiết phải nhúng tay vào rách việc, khuyên ta cứ trực tiếp thương lượng với viên sĩ quan là xong. ‘Cứ dúi cho hắn một món quà ra trò, chừng một trăm rúp, là hắn tự khắc cho quân rút khỏi nhà anh thôi.’ Ta quay lại tìm viên sĩ quan và kéo riêng hắn ra một góc; hắn bảo rất muốn tạo điều kiện giúp đỡ ta hết mức có thể, nhưng thượng lệnh đã ban ra là phải pháo kích san bằng ngôi nhà bằng được. Ta đem câu trả lời thuật lại cho Gounsovski, và lão liền xúi: ‘Vậy thì bảo hắn quay nòng đại bác sang hướng ngược lại, nã pháo vào hiệu thuốc bên đường kìa, rồi hắn muốn bị đặt lý do bắn nhầm địa chỉ nào chẳng được.’ Ta làm y hệt thế, và thế là hắn ngoan ngoãn cho quân xoay nòng pháo. Bọn chúng pháo kích tan nát hiệu thuốc nhà người ta, còn ta thì tốn vỏn vẹn một trăm rúp là êm chuyện. Gounsovski tuy có béo múp míp hệt như gã bán ô, nhưng ta thì đời đời kiếp kiếp mang ơn lão ta từ tận đáy lòng, các cậu hiểu chưa hỡi Athanase Georgevitch.”
“Hoàng tử Galitch đang mang tiếng tợn thế nào ở triều đình vậy?” Rouletabille bất ngờ cất tiếng hỏi.
“Ái chà chà!” những người khác bật cười ha hả. “Từ dạo công khai đến yết kiến Tolstoy thì lão ta bị cấm bén mảng tới triều đình luôn rồi còn đâu.”
“Thế còn — quan điểm của lão? Lão thuộc phe phái nào?”
“Trời ạ, thời buổi này quan điểm của ai nấy đều nham nhở bát nháo cả lên, đố ai mà mò ra được.”
Ivan Petrovitch lẩm bẩm: “Trong mắt nhiều kẻ, lão ta bị xếp vào hàng phần tử quá khích và dính chàm sâu nặng.”
“Thế mà chẳng ai dám sờ gáy lão ư?” Rouletabille gặng hỏi.
“Ừ thì, chà chà,” vị ủy viên hội đồng đế chế vui tính đáp lời, “phải nói là chính lão mới là kẻ đang cố chõ mũi vào bọn chúng thì có.”
Thaddeus hạ thấp giọng xuống và thì thầm: “Thiên hạ đồn rằng chẳng ai dám động đến lão vì lão nắm thóp được một nhân vật cực kỳ quyền thế trong triều đình, dây vào thì văng miểng bét nhè — một vụ bê bối tày trời ấy chứ chẳng chơi.”
“Thôi ngay cái giọng điệu đó đi Thaddeus,” Athanase Georgevitch hầm hè cắt ngang. “Nhìn cái cách cậu ăn nói bạt mạng thế đủ biết mới từ dưới tỉnh dề vác mặt lên đây rồi, nhưng nếu cứ tiếp tục chém gió kiểu này thì ta đứng dậy biến luôn đấy.”
“Athanase Georgevitch nói chuẩn đấy; cẩn trọng cái mồm vào Thaddeus,” Ivan Petrovitch hùa theo khuyên nhủ.
Lũ lượt những kẻ ba hoa đều ngậm bồ hòn làm ngọt, bởi tấm màn nhung đang từ từ kéo lên. Giữa không gian khán phòng, những lời thì thầm to nhỏ đầy vẻ kỳ bí tiếp tục được rỉ tai nhau về tiết mục thứ hai này của Annouchka, nhưng chẳng một ai đoán trước được nó sẽ diễn ra theo kịch bản nào, và trên thực tế, nó vô cùng giản dị. Gạt bỏ đi cái không khí cuồng phong vũ vũ đèo bòng múa may quay cuồng cùng dàn đồng ca hoành tráng rực rỡ ở phần đầu, Annouchka xuất hiện trong hình ảnh một nữ nông dân Nga nghèo khổ đứng giữa khung cảnh thảo nguyên hoang vu lạnh lẽo, cô lặng lẽ quỳ rạp xuống đất và thành kính đọc lời nguyện cầu buổi tối. Annouchka đẹp đến nao lòng. Chiếc mũi khoằm với cánh mũi nhạy cảm, đường nét lông mày sắc sảo, ánh nhìn khi thì dịu dàng đắm say, lúc lại đe dọa đầy bất trắc, đôi gò má nhợt nhạt bầu bĩnh cùng toàn bộ biểu cảm trên khuôn mặt cô phơi bày rõ mồn một sức mạnh của những tư tưởng tân thời, sự bộc phát tự nhiên, quyết tâm sắt đá và trên hết là niềm đam mê cuồng nhiệt. Lời nguyện cầu mang đậm chất trữ tình đầy khát khao. Cô sở hữu một chất giọng trầm contralto tuyệt mỹ tác động kỳ lạ đến tâm can khán giả ngay từ những nốt nhạc đầu tiên. Cô khẩn nài Thiên Chúa ban bánh mỳ hằng ngày cho muôn dân trên mảnh đất nước Nga bao la, bánh mỳ cho thể xác lẫn tâm hồn, khơi gợi dòng lệ chực trào trong mắt tất cả những con người có mặt tại đó, bất kể họ thuộc phe phái chính trị nào. Và khi nốt nhạc cuối cùng vút bay qua vùng thảo nguyên hoang vu lạnh giá, cô đứng dậy chầm chậm bước về phía căn nhà tồi tàn, những tràng pháo tay cuồng nộ từ một khán phòng đang chìm trong trạng thái hoan hỉ ngất ngây đã thay lời khẳng định về cảm xúc chấn động phi thường mà cô vừa khơi gợi. Chàng thanh niên bé nhỏ Rouletabille, dù không hiểu hết ngôn từ, nhưng bằng trực giác đã chạm đến tinh thần của khúc nguyện cầu ấy, rưng rưng khóc. Mọi người đều khóc. Ivan Petrovitch, Athanase Georgevitch, Thaddeus Tchitchnikoff đều nhất loạt đứng phắt dậy, giậm chân rầm rầm và vỗ tay rào rào như những đứa trẻ đang phấn khích tột độ. Bọn sinh viên, dễ dàng nhận diện qua viền xanh đồng phục trên áo khoác, cất lên những tiếng hú hét điên cuồng. Và đột nhiên, những giai điệu đầu tiên của quốc thiều vang lên. Thoạt đầu có chút ngập ngừng, chần chừ đứt quãng. Nhưng không lâu. Những kẻ từng nơm nớp lo sợ về một cuộc biểu tình chống đối ngấm ngầm nhận ra rằng chẳng có lấy một lý do gì để phản đối một lời kinh cầu nguyện cho vị Sa hoàng. Mọi cái đầu đều cởi trần và giai điệu Bodje Taara Krari dâng cao, đồng lòng hướng về phía những vì tinh tú.
Qua màn nước mắt, chàng phóng viên trẻ tuổi chưa từng lơ là việc theo sát nhất cử nhất động của Natacha. Cô đã chồm người dậy nửa vời, rồi ngả người tựa vào thành lô. Cô gọi đi gọi lại một cái tên mà Rouletabille không thể nghe rõ giữa tiếng ồn ào hỗn độn, nhưng cậu linh cảm chắc chắn đó là “Annouchka! Annouchka!” “Đứa con gái liều mạng,” Rouletabille lẩm bẩm, và chớp lấy thời cơ sự hỗn loạn của đám đông đang dâng cao, cậu lặng lẽ rời khỏi lô ghế mà không bị ai chú ý. Cậu len lỏi giữa biển người hướng về phía Natacha — người mà cậu đã mòn mỏi tìm kiếm từ sáng tới giờ. Khán giả, sau những tràng la ó đòi encore vô vọng đối với khúc nguyện cầu của Annouchka, bắt đầu tản đi, và chàng phóng viên bị cuốn phăng đi cùng dòng người trong khoảnh khắc. Khi vừa lách đến dãy các lô ghế, cậu phát hiện Natacha cùng gia đình mà cô đi cùng đã biến mất tus lủi. Cậu đảo mắt tìm kiếm khắp bốn bề nhưng chẳng thấy bóng dáng người mình cần tìm đâu, liền nổi điên cắm cổ chạy thục mạng dọc theo các hành lang, cho đến khi một ý nghĩ bất chợt lóe lên làm máu trong người cậu đông cứng lại. Cậu hỏi thăm lối đi dành riêng cho nghệ sĩ ở đâu, và ngay khi được chỉ đường, cậu liền cắm cổ chạy tới đó. Cậu đã đoán không trật đi đâu được. Ở hàng đầu tiên của đám đông đang đứng chờ Annouchka bước ra, cậu nhận ra Natacha với phần đầu trùm kín trong chiếc khăn choàng đen để không ai có thể nhận diện được khuôn mặt. Hơn nữa, góc vườn này đang chìm trong ánh sáng lờ mờ chạng vạng. Cảnh sát giăng hàng rào chắn lối; cậu không thể chen chân lại gần Natacha như ý muốn. Cậu đành tìm cách luồn lách như một con rắn qua đám đông. Khoảng cách giữa cậu và Natacha chỉ còn vỏn vẹn bốn, năm người thì một màn chen lấn xô đẩy dữ dội bùng nổ. Annouchka bước ra. Những tiếng hô vang dậy: “Annouchka! Annouchka!” Rouletabille quăng mình quỳ rạp xuống đất và lết bằng cả bàn chân lẫn đầu gối để chui đầu lọt qua hàng rào an ninh do cảnh sát canh gác cho Annouchka đi qua. Tại đó, khoác chiếc khăn choàng đỏ rực, tay cắp mũ, là một gương mặt mà Rouletabille nhận ra ngay lập tức. Đó chính là Hoàng tử Galitch. Họ đang vội vã rảo bước để tránh sức ép sắp sửa ập đến của đám đông. Nhưng Annouchka khi sượt qua chỗ Natacha đã dừng chân lại đúng một giây — một cử động nhỏ không thể lọt khỏi tầm mắt của Rouletabille — và quay đầu về phía cô thốt lên đúng một từ: “Caracho.” Rồi cô bước tiếp. Rouletabille đứng phắt dậy lách người quay trở lại, nhưng ngặt nỗi cậu lại để lạc mất Natacha một lần nữa. Cậu rảo mắt tìm kiếm khắp nơi. Cậu cắm cổ chạy ra phía đường xe chạy và vừa vặn đến nơi để tận mắt nhìn thấy cô lên xe ngựa cùng gia đình Mourazoff. Chiếc xe lập tức lăn bánh phóng thẳng về hướng datcha des Iles. Chàng thanh niên đứng chôn chân tại chỗ, trầm ngâm suy tính. Cậu buông thõng tay ra hiệu như thể đã buông xuôi phó mặc cho vận mệnh đưa đẩy. “Thôi thì,” cậu lẩm bẩm, “biết đâu thế lại hay,” rồi tự nhủ với bản thân, “Giờ thì đi ăn tối thôi cậu trai trẻ ạ.”
Cậu xoay người bước đi và chẳng mấy chốc đã có mặt dưới ánh đèn chói lọi của nhà hàng. Các sĩ quan đang đứng tụ tập, tay nâng ly chúc tụng nhau hết bàn này sang bàn khác và trao nhau hàng ngàn lời ngợi khen với dáng vẻ kiều diễm nữ tính đến ngạc nhiên.
Cậu nghe thấy tên mình được gọi vang lên đầy hứng khởi, và nhận ra giọng nói của Ivan Petrovitch. Ba vị hảo hữu đang quây quần bên chai champagne ngâm trong xô đá, nhấm nháp mấy chiếc bánh paté nhỏ xíu trong lúc chờ đợi giờ ăn tối vốn đã cận kề.
Rouletabille sẵn sàng nhận lời mời của họ, và đi theo nhóm khi người trưởng bồi bàn thông báo với Thaddeus rằng các vị khách đã được mời vào phòng riêng. Họ tiến lên tầng một và được dẫn vào một căn phòng rộng lớn có ban công mở hướng ra sảnh nhà hát mùa đông lúc này đang bỏ trống. Nhưng căn phòng đã có người ngồi kín. Trước chiếc bàn phủ khăn trải bàn sáng loáng, Gounsovski đang đóng vai trò chủ nhà tiếp đón.
Lão tiếp đón họ hệt như một kẻ ăn kẻ ở, đầu cúi gằm, nụ cười khép nép khúm núm cùng cái lưng còng xuống, cúi gập người chào liên tiếp mỗi khi từng vị khách được giới thiệu với lão. Athanase đã miêu tả lão không trật đi đâu được, một con búp bê bằng mỡ. Dưới vầng trán rộng trùm sụp xuống, người ta khó lòng nhìn rõ đôi mắt lão ẩn sau cặp kính tròng xanh dường như lúc nào cũng chực rơi xuống mỗi khi lão cúi gập cái đầu béo ú với ánh nhìn vừa rụt rè vừa quyền lực tột độ ấy. Khi lão cất giọng nói lanh lảnh như vịt đực, phần cằm ngấn mỡ xệ xuống ngấn cổ, đồng thời lão có thói quen đưa ngón cái và ngón trỏ của bàn tay phải kẹp giữ lấy gọng kính để ngăn không cho nó trượt khỏi chiếc mũi ngắn tẹt và dày cộp của mình.
Đứng phía sau lão là bóng dáng cao ngạo, kiêu kỳ của Hoàng tử Galitch. Lão ta được chính Annouchka mời đến, bởi cô chỉ đồng ý mạo hiểm tham gia bữa tiệc tối này khi có sự hiện diện của ba bốn người bạn tâm giao là các sĩ quan — những kẻ dẫu mang dòng dõi cao quý nhưng vẫn không thể tránh khỏi việc bị Okrana (Cảnh sát Mật vụ) gí mắt giám sát. Gounsovski chứng kiến bọn họ kéo đến với một tiếng cười khằn khặc đầy nham hiểm và không tiếc dành cho họ những cử chỉ tôn kính tận tụy nhất.
Lão yêu Annouchka. Chỉ cần vô tình bắt gặp dù chỉ một lần cái nhìn ghen tuông đầy nọc độc lóe lên từ sau cặp kính tròng xanh khổng lồ khi lão đăm đăm ngắm nhìn nữ ca sĩ là đủ để thấu hiểu tâm can đang nung nấu điều gì trong lòng mụ con hoang của Vùng Đất Đen xinh đẹp ấy.
Annouchka đang ngồi, hay đúng hơn là đang ngả ngớn nằm dài theo phong cách phương Đông trên chiếc ghế bành dài chạy dọc theo bức tường phía sau bàn ăn. Cô phớt lờ chẳng thèm đếm xỉa đến bất cứ ai. Thái độ của cô vô cùng xa cách, thậm chí mang sắc thái thù địch. Cô dửng dưng để mặc mái tóc đen óng ả tuyệt đẹp buông xõa thành hai bím tóc vắt qua bờ vai được nâng niu vuốt ve bởi những bàn tay thơm phức của người đẹp Onoto — nữ nghệ sĩ vừa thưởng thức giọng hát của cô tối nay và đã lao đến ôm chầm lấy cô trong niềm phấn khích tột độ sau khúc ca cuối cùng. Onoto cũng là một nghệ sĩ, và chút hờn ghen thoáng qua ban đầu trước thành công của Annouchka đã hoàn toàn bay biến sau cơn chấn động cảm xúc mà bài kinh cầu nguyện bên túp lều nghèo mang lại. “Đến ăn tối cùng tôi nhé,” Annouchka từng ngỏ lời với cô ta.
“Với ai cơ chứ?” nữ nghệ sĩ người Tây Ban Nha gặng hỏi.
“Với Gounsovski.”
“Nằm mơ đi cưng.”
“Đi đi mà. Cậu sẽ giúp tôi trả món nợ này, và biết đâu lão ta cũng sẽ hữu ích cho cậu nữa đấy. Lão ta hữu dụng với tất cả mọi người cơ mà.”
Quả thực Onoto không tài nào hiểu nổi đất nước này, nơi những kẻ thù không đội trời chung lại có thể ngồi chung mâm đớp hít với nhau.
Rouletabille ngay lập tức bị Hoàng tử Galitch tóm lấy tống ra một góc và chất vấn:
“Cậu mò tới đây làm gì hả?”
“Tôi làm vướng chân vướng cẳng ngài phỏng?” chàng trai lạnh lùng hỏi vặn lại.
Vị hoàng tử nhếch mép nở nụ cười mang vẻ bề trên đầy giễu nhợt.
“Trong lúc vẫn còn kịp,” lão ta thong thả bảo, “tin tôi đi, cậu nên chuồn lẹ đi, cút khỏi đất nước này mau đi thôi. Cậu vẫn chưa nhận đủ lời cảnh cáo hay sao?”
“Đúng thế,” chàng phóng viên đáp gọn lỏn. “Và ngài có thể tiết kiệm khỏi phải đưa thêm bất cứ lời cảnh cáo nào nữa từ bây giờ trở đi đấy.”
Cậu quay lưng đi thẳng.
“Ơ hay, hóa ra đây là cậu nhóc người Pháp ở biệt thự Trebassof đây mà,” giọng lanh lảnh của Gounsovski cất lên khi lão đẩy một chiếc ghế về phía chàng trai và khẩn khoản mời cậu ngồi xuống giữa lão và Athanase Georgevitch — kẻ đang cặm cụi chiến đấu với đĩa khai vị.
“Chào cậu nhé, thưa ngài,” giọng nói trầm ấm, trang nghiêm của Annouchka cất lên.
Rouletabille cúi đầu chào.
“Tôi thấy mình đang lạc vào một chốn toàn những người quen cũ cả,” cậu thản nhiên đáp lời mà chẳng hề tỏ ra chút bối rối.
Cậu hướng lời tán dương đầy sinh động về phía Annouchka, và cô liền ném gió cho cậu một nụ hôn gió.
“Rouletabille!” nàng Onoto xinh đẹp kêu lên. “Ôi chao, hóa ra cậu nhóc này chính là thám tử tài ba từng phá giải bí ẩn Căn phòng Vàng đây ư?”
“Chính là cậu ta chứ còn ai.”
“Thế cậu mò ra cái xó xỉnh này làm gì?”
“Cậu ta đến để cứu mạng Tướng quân Trebassof ấy mà,” Gounsovski khúc khích cười nhạt. “Đúng là một cậu nhóc gan dạ và đáng yêu làm sao.”
“Cảnh sát thì lúc nào mà chẳng nắm rõ mọi đường đi nước bước,” Rouletabille lạnh lùng đáp. Đoạn, cậu gọi một ly champagne, dẫu cho cậu chưa từng bao giờ uống loại thức uống này.
Chén chú chén anh, champagne bắt đầu phát huy tác dụng. Trong lúc Thaddeus và đám sĩ quan nhao nhao kể cho nhau nghe những giai thoại kỳ thú ở Bakou hoặc xu nịnh các kiều nữ, Gounsovski — sau khi đã dẹp bỏ màn khích bác — liền nhoài người về phía Rouletabille và ân cần ban phát cho chàng trai những lời khuyên răn thắm đượm tình cha con.
“Cậu đã dấn thân vào một sứ mệnh vô cùng cao cả, cậu bạn trẻ ạ, và nó lại càng trở nên chông gai trắc trở hơn gấp bội bởi vì Tướng quân Trebassof không chỉ bị kết án bởi chính kẻ thù của ngài, mà còn bởi sự thiếu hiểu biết đến cùng cực của lão Koupriane nữa. Nghe cho kỹ đây: Koupriane là bạn tri kỷ của tôi và là một con người tôi vô cùng kính trọng. Lão ta tử tế, dũng mãnh hệt như một chiến binh, nhưng thú thật tôi chẳng thèm chấp nhặt dăm ba xu cắc ké cho cái lực lượng cảnh sát của lão đâu. Dạo gần đây lão chõ mũi vào công chuyện của chúng ta bằng cách tự lập ra đội mật vụ riêng, nhưng tôi chẳng buồn mảy may can thiệp làm gì. Cho bọn chúng tự vui đùa với nhau đi. Dù sao thì đó cũng là mốt thời thượng mới mà; thời buổi này đứa nào chẳng khao khát có riêng cho mình một lực lượng mật vụ cơ chứ. Còn cậu nữa, rốt cuộc thì cậu đang mải miết mưu tính trò gì ở cái xó này hả? Làm phóng viên chiến trường ư? Không. Săn án theo kiểu cảnh sát phỏng? Đó là cơm áo gạo tiền của chúng tôi chứ chẳng phải việc của cậu. Tôi chúc cậu gặp nhiều may mắn, dẫu tôi chẳng mong đợi gì mấy. Hãy nhớ rằng nếu cậu cần bất cứ sự trợ giúp nào, tôi sẵn lòng hỗ trợ hết mình. Bản tính tôi thích làm ơn làm phước cho đời mà. Và tôi hoàn toàn không muốn bất kỳ tai họa nào giáng xuống đầu cậu đâu.”
“Ngài thật quá tốt bụng,” Rouletabille chỉ đáp lại ngắn gọn như thế, rồi lại cất tiếng gọi thêm một ly champagne nữa.
Vài lần Gounsovski chủ động khơi chuyện bắt chuyện với Annouchka, nhưng cô chỉ mải miết thưởng thức bữa ăn và phớt lờ chẳng thèm đoái hoài gì đến lão.
“Cậu có biết ai là kẻ vỗ tay nhiệt liệt nhất dành cho cậu tối nay không?”
“Không,” Annouchka hờ hững đáp.
“Con gái của Tướng quân Trebassof đấy.”
“Chuẩn không cần chỉnh, thề có Chúa,” Ivan Petrovitch chen vào xác nhận.
“Đúng thế, đúng thế, Natacha có mặt ở đó mà,” hội đồng hương từ datcha des Iles nhao nhao hùa theo.
“Riêng tôi thì tận mắt chứng kiến con bé khóc nức nở,” Rouletabille trân trân nhìn thẳng vào Annouchka.
Nhưng Annouchka lạnh lùng đáp trả bằng một giọng băng giá:
“Tôi không biết con bé đó là ai hết.”
“Thật là bất hạnh cho nó khi có một người cha...” Hoàng tử Galitch châm ngòi.
“Thưa Hoàng tử, xin đừng lôi chính trị vào đây, nếu không thì cho phép tôi xin phép cáo lui,” Gounsovski húng hắng cắt ngang. “Nào, chúc sức khỏe nàng Annouchka kiều diễm.”
“Cạn ly, Gounsovski. Nhưng ngài chẳng cần phải bận tâm lo lắng về chuyện đó đâu.”
“Tại sao chứ?” Thaddeus Tchitchnikoff thắc mắc với vẻ mặt đầy ẩn ý.
“Bởi vì lão ta quá ư là hữu dụng đối với chính phủ chứ sao,” Ivan Petrovitch lớn tiếng châm biếm.
“Không,” Annouchka sửa lại; “là hữu dụng đối với phe cách mạng cơ.”
Tất cả bật cười ha hả. Gounsovski vội đưa tay xốc lại gọng kính đang trượt xuống bằng động tác quen thuộc và khúc khích cười nhạt nhẽo, gợi cảm giác y hệt như mỡ đang sôi sùng sục trong chảo:
“Thiên hạ vẫn đồn đại thế đấy. Và đó chính là sức mạnh của tôi.”
“Chiêu bài của lão ta quá ư thâm thúy,” vị hoàng tử nhận xét. “Bởi vì lão chơi thân với tất cả mọi người, nên suy cho cùng tất cả mọi người đều dính chàm với cảnh sát mà chẳng hề hay biết.”
“Thiên hạ đồn... chà chà... thiên hạ đồn rằng...” (Athanase đang bị nghẹn họng bởi một mẩu bánh mỳ nhỏ nhúng trong súp) “rằng lão ta đã quét sạch sành sanh lũ đầu gấu lưu manh cùng toàn bộ đám ăn mày trước cửa nhà thờ Kasan rồi đấy.”
Thế là họ bắt đầu huyên thuyên kể cho nhau nghe những câu chuyện về đám lưu manh đầu gấu — lũ cướp giật đường phố hoành hoành khắp ngõ ngách St. Petersburg kể từ sau những biến cố chính trị vừa qua mà chẳng ai có thể tống cổ chúng đi được nếu không chịu xì tiền chi mạnh tay.
Athanase Georgevitch cao hứng kể: “Có những tên lưu manh sinh ra để đời vốn dĩ phải thế dù thực tế chẳng có thật. Có một gã từng chặn đường một thiếu nữ ngay trước nhà ga Varsovie. Cô gái hoảng hồn, lập tức run lẩy bẩy chìa ngay chiếc ví bên trong có vỏn vẹn hai rúp năm mươi kopeck cho hắn. Tên lưu manh vơ sạch sành sanh không sót một xu. ‘Trời ơi,’ cô gái khóc mếu, ‘giờ tôi chẳng còn một xu dính túi để mua vé tàu nữa rồi.’ ‘Vé bao nhiêu tiền?’ tên lưu manh gặng hỏi. ‘Sáu mươi kopeck.’ ‘Sáu mươi kopeck! Sao mày không nói sớm từ đầu!’ Và thế là tên cướp, dẫu vẫn thủ lận hai rúp trong túi, lại hào phóng móc túi trả lại đồng năm mươi kopeck cho đứa trẻ đang run rẩy, thậm chí còn tốt bụng bù thêm mười kopeck tiền túi của hắn nữa chứ.”
“Câu chuyện dở khóc dở cười y chang cũng từng xảy ra với tôi vào mùa đông hai năm trước ở Moscow,” kiều nữ Onoto lên tiếng kể. “Tôi vừa bước chân ra khỏi cửa thì bị một tên lưu manh chặn đường. ‘Nôn ra hai mươi kopeck mau,’ hắn quát. Tôi hoảng quá đến mức chẳng tài nào mở nổi cái ví tiền ra được. ‘Nhanh cái tay lên,’ hắn giục. Cuối cùng tôi cũng dúi được cho hắn hai mươi kopeck. ‘Giờ thì,’ hắn phán, ‘hôn tay tao mau.’ Và tôi buộc phải cúi đầu hôn tay hắn, bởi tay kia hắn đang lăm lăm cầm con dao găm kè kè kìa.”
“Ồ, lũ này lăm lăm dao găm nhanh như chớp ấy mà,” Thaddeus tiếp lời. “Có lần rời khỏi khu thương mại Gastinidvor, ta bị một tên lưu manh chặn đường vung con dao róc thịt to tướng ngay dưới mũi. ‘Bán rẻ cho một rúp rưỡi đấy,’ hắn gạ gẫm. Các cậu cứ tin đi, ta chốt đơn mua ngay chẳng thèm cò kè ngả giá một lời. Lời to chứ lị, tính ra rẻ chán phải đáng giá ít nhất ba rúp ấy chứ. Nào, cạn ly vì sắc đẹp của nàng Onoto nhé.”
“Tôi lúc nào cũng thủ sẵn khẩu súng lục trong người mỗi khi ra đường,” Athanase khoe khoang. “Làm thế cẩn tắc vô ưu vẫn hơn. Tôi nói câu này ngay trước mặt các quan chức cảnh sát đấy nhé. Nhưng thà bị cảnh sát sờ gáy tống giam còn hơn là để mấy thằng lưu manh xiên cho một nhát dao vào sườn.”
“Bây giờ thì chẳng còn chỗ nào bán súng lục nữa đâu,” Ivan Petrovitch khẳng định chắc nịch. “Tất cả các cửa hàng kiểu đó đều bị đóng cửa niêm phong hết rồi.”
Gounsovski chỉnh lại gọng kính, xoa xoa đôi bàn tay béo múp míp và điềm nhiên cất giọng:
“Nhưng chỗ tay thợ khóa của tôi thì vẫn còn vài khẩu đấy. Bằng chứng rành rành là ngày hôm nay, ngay tại khu Kaniouche nhỏ bé, gã thợ khóa của tôi tên là Smith đã tót vào cửa hàng của lão tiệm tạp hóa ở góc phố định bụng bán cho lão ta một khẩu súng lục. Đó là một khẩu Browning. ‘Một thứ vũ khí có độ tin cậy tuyệt đối,’ hắn quảng cáo, ‘chưa bao giờ bắn lép và cực kỳ dễ sử dụng.’ Vừa dứt lời, gã thợ khóa liền lôi súng ra thử nghiệm và tặng luôn một viên đạn găm thẳng vào lá phổi của lão chủ tiệm tạp hóa. Lão tamạng vong ngay tại chỗ, nhưng ngặt nỗi trước khi nhắm mắt xuôi tay lão vẫn kịp mua đứt khẩu súng lục đó đấy. ‘Cậu nói chuẩn không cần chỉnh,’ lão thối mồm thều thào với gã thợ khóa trước lúc đứt hơi; ‘đúng là một thứ vũ khí khủng khiếp thật.’ Rồi lão tẻo luôn.”
Đám đông cười vang khoái chí. Bọn chúng thấy câu chuyện buồn cười hết chỗ nói. Quả thực ngài Gounsovski vĩ đại này lúc nào cũng thủ sẵn trong tay những mẩu chuyện cười ra nước mắt. Đứa nào lại không muốn kết giao làm bạn với một kẻ như thế chứ? Annouchka rủ lòng từ bi ban ơn một nụ cười nhạt. Gounsovski thấy vậy liền cung kính chìa tay ra hệt như một gã ăn mày xin bố thí. Nữ nghệ sĩ khẽ chạm đầu ngón tay vào bàn tay lão hệt như đang nhét đồng hai mươi kopeck vào tay một tên lưu manh rách rưới, rồi rụt phắt lại với vẻ mặt đầy tởm lợm. Đúng lúc đó, cánh cửa bật mở nhường chỗ cho đoàn nghệ sĩ người Digan bước vào. Đoàn người da ngăm đen nhanh chóng tràn ngập căn phòng. Hàng đêm, những người đàn ông và phụ nữ khoác trên mình trang phục dân tộc từ vùng Old Derevnia xa xôi — nơi họ quây quần chung sống trong một thứ cộng đồng gia trưởng cổ xưa mang những lề thói chẳng hề thay đổi suốt hàng thế kỷ — lại tỏa đi khắp các chốn ăn chơi, các nhà hàng sang trọng. Tại đó, họ gom góp những khoản tiền thù lao kếch xù, bởi việc thuê họ đến ca hát vào cuối những buổi tiệc tùng là một thứ mốt xa hoa thời thượng, và ai nấy đều hào phóng vung tiền thưởng cho họ để không phải chịu thua kém thiên hạ. Họ đệm đàn guzlas, đàn castanets, trống lắc tamburanh và cất cao những khúc ca cổ xưa, lúc thì thê thiết não nùng, lúc lại cuồng nhiệt dồn dập hệt như bước chân của những tộc người du mục nguyên thủy thuở hồng hoang khai thiên lập địa.
Khi họ vừa bước vào, những thực khách có mặt liền chủ động dạt sang hai bên nhường chỗ, và Rouletabille — người từ nãy đến giờ bắt đầu lộ rõ vẻ mệt mỏi và choáng váng là điều dễ hiểu đối với một chàng thanh niên không có thói quen chè chén những dòng champagne thượng hạng nhất — bèn chớp lấy thời cơ chuyển động chen chúc để chiếm lấy một góc ghế sofa nằm không xa vị trí của Hoàng tử Galitch — người đang ngự trị ở chiếc ghế bên tay phải Annouchka.
“Kìa, Rouletabille ngủ gục mất rồi kìa,” nàng Onoto kiều diễm trêu chọc.
“Tội nghiệp cậu nhóc!” Annouchka thốt lên ngậm ngùi.
Đoạn, cô quay đầu về phía Gounsovski:
“Lão mau tống cổ cậu ta ra khỏi tầm mắt chúng tôi đi được không hả? Lúc nãy tôi vừa nghe thấy vài huynh đệ của chúng ta to nhỏ với nhau mấy câu có nguy cơ làm tổn hại đến sức khỏe của cậu ta đấy nhé.”
“Ồ, chuyện đó ấy à,” Gounsovski vừa làu bàu vừa lắc đầu, “đó là chuyện nằm ngoài phạm vi quản lý của tôi rồi. Cứ phi thân đến tìm Koupriane mà hỏi cho ra lẽ. Cạn ly nhé, nàng Annouchka kiều diễm.”
Nhưng đoàn nghệ sĩ Digan đã dạo lên những hợp âm mở đầu cho khúc ca của họ, và giọng hát của các ca sĩ lập tức thu hút toàn bộ sự chú ý của mọi người, ngoại trừ Hoàng tử Galitch và Annouchka — hai kẻ đang nửa quay người hướng về phía nhau, thì thầm to nhỏ vài câu giữa chốn không gian âm nhạc ầm ĩ hỗn độn. Về phần Rouletabille, chắc chắn cậu phải say khướt ngủ sâu như chết thì mới có thể phớt lờ không bị đánh thức bởi mớ âm thanh chát chéo nhưng du dương đến thế. Sự thật là — theo bề ngoài — cậu đã nốc một lượng champagne kha khá, và ai cũng biết rõ, ở nước Nga này men rượu vốn là thứ quật ngã gục ngã những kẻ tửu lượng kém cỏi. Khi đoàn ca múa Digan hát xong bài thứ ba, Gounsovski ra hiệu cho họ lui binh sang chốn khác để làm xiêu lòng những đôi tai khác, đồng thời nhét vào tay trưởng đoàn một tờ ngân phiếu hai mươi lăm rúp. Nhưng Onoto lại muốn góp phần nhỏ bé của mình, và một màn quyên góp hòm công đức diễn ra. Ai nấy đều tung những đồng rúp rủng rỉnh vào chiếc đĩa được chìa ra bởi một cô bé người Digan da ngăm đen với mái tóc đen nhánh rũ rượi, chải chuốt cẩu thả rủ lòa xòa trước trán, che khuất cả đôi mắt và khuôn mặt đến mức trông ngộ nghĩnh hệt như một cành liễu rủ ngâm đẫm mực. Chiếc đĩa chuyền tay đến chỗ Hoàng tử Galitch, nhưng lão ta lục tung cả hai túi áo lên mà chẳng vớt vác được đồng nào.
“Thôi kệ bố nó đi!” lão ngông nghênh tuyên bố với phong thái đại gia. “Ta chẳng dắt túi xu nào cả. Nhưng thềm đây chiếc ví của ta; ta xin hiến nó cho em làm kỷ niệm nhé Katharina.”
Thaddeus và Athanase được một phen trầm trồ tán thán sự hào phóng của vị hoàng tử, nhưng Annouchka lạnh lùng xen vào:
“Vị hoàng tử đang hành động rất phải phép đấy chứ, bởi bạn bè của tôi không bao giờ có thể trả hết món ơn huệ mà con bé đó từng cưu mang đùm bọc tôi trong túp lều rách nát của nó khi tôi phải chui lủi trốn tránh, trong lúc cái bộ phận mật vụ khét tiếng của các người đang vò đầu bứt tai không biết phải xử trí ra sao với tôi, ngài Gounsovski thân mến ạ.”
“Ơ hay,” Gounsovski cãi cùn, “tôi đã bật mí cho cô hay rồi đấy chứ, việc của cô đơn giản chỉ là xách va li đến thuê một căn hộ sang chảnh giữa lòng thành phố thôi mà.”
Annouchka nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đất hệt như một gã nài xe ngựa dã chiến, khiến mặt Gounsovski từ sắc vàng chuyển sang tái mét xanh lè.
“Nhưng mà sao cậu lại phải dại dột trốn chui trốn lủi kiểu đó thế hả Annouchka?” Onoto vừa ân cần vuốt ve những lọn tóc mây tuyệt đẹp của nữ ca sĩ vừa thắc mắc.
“Cậu thừa biết là tôi từng bị kết án tử hình, rồi sau đó mới được ân xá cơ mà. Tôi may mắn chuồn khỏi Moscow được, và đời nào tôi lại dại dột đâm đầu vào tròng để bị bắt lại rồi nếm mùi vị ngọt ngào của chốn Siberia chứ.”
“Nhưng lý do gì mà cậu bị kết án tử hình cơ chứ?”
“Trời đất quỷ thần ơi, con nhỏ này đúng là mù tịt chẳng biết gì sất!” những người khác nhao nhao kêu lên.
“Chúa tôi ơi, tôi vừa chân ướt chân ráo từ London và Paris trở về cơ mà — làm sao mà tôi ngửi nổi mấy chuyện thâm cung bí sử này chứ! Nhưng mà bị kết án tử hình ấy á! Nghe chừng có vẻ kích thích phết nhỉ.”
“Kích thích lắm chứ,” Annouchka đáp bằng giọng điệu lạnh băng. “Và nếu cậu có một người anh trai thương yêu hết mực, Onoto ạ, thì thử tưởng tượng xem cảm giác chứng kiến hắn bị đem ra xử bắn ngay trước mắt mình sẽ còn kích thích đến mức nào.”
“Ôi tình yêu của tôi, tha lỗi cho tôi đi mà!”
“Thôi để ta kể cho cô nghe chuyện gì đã xảy ra với người bạn thân thiết của chúng ta, để sau này cô có muốn khơi gợi lại cũng biết đường mà tránh làm tổn thương đến Annouchka nhé,” Hoàng tử Galitch cất lời.
“Chúng ta tốt nhất nên lướt qua những ký ức kinh hoàng ấy đi thì hơn,” Gounsovski rụt rè rướn mi mắt lên từ sau cặp kính tròng xanh ngỏ ý can ngăn, nhưng lão lập tức phải cúi gằm mặt xuống khi chạm phải cái liếc mắt sắc như dao cau của Annouchka.
“Kể đi, Galitch.”
Vị hoàng tử tuân lệnh.
“Annouchka có một người anh trai tên là Vlassof, kỹ sư trưởng tuyến đường sắt Kasan, kẻ được Ủy ban Đình công giao trọng trách lái đoàn tàu tẩu thoát duy nhất cho các thủ lĩnh lực lượng cách mạng khi binh lính của Trebassof, với sự hậu thuẫn của trung đoàn Semenowsky, đã giành quyền kiểm soát thành phố. Ổ kháng cự cuối cùng diễn ra ngay tại nhà ga. Bắt buộc phải cho tàu lăn bánh. Mọi ngả đường đều bị quân đội phong tỏa tứ phía. Khắp nơi toàn lính là lính! Vlassof quay sang bảo đồng đội: ‘Tôi sẽ cứu tất cả các anh;’ và đồng đội chứng kiến hắn trèo lên đầu máy xe lửa cùng với một người phụ nữ. Người phụ nữ đó — chính là kẻ đang ngồi lù lù ở đây này. Gã thợ đốt lò của Vlassof đã bị bắn chết từ chiều hôm trước trên một chiến lũy; chính Annouchka là người đã dũng cảm nhảy vào thế chỗ hắn. Mọi công tác chuẩn bị hoàn tất và đoàn tàu lao đi vút như tên bắn. Trên cung đường lắt léo hiểm trở đó, dễ dàng trở thành bia nêm cho làn mưa đạn, Vlassof đã phóng đi với vận tốc lên tới chín mươi véc-stơ một giờ. Hắn rồ ga đẩy kim đồng hồ tốc độ chạm ngưỡng phát nổ. Ả đàn bà ngồi đằng kia thì vẫn tiếp tục cặm cụi ném từng xẻng than vào buồng đốt. Hiểm họa rình rập lúc bấy giờ không đến từ quân đội cho bằng nguy cơ phát nổ banh xác bất cứ lúc nào. Giữa bom đạn mịt mờ, Vlassof vẫn giữ nguyên cái đầu lạnh lùng điềm tĩnh quen thuộc. Hắn phóng bạt mạng không chỉ với cửa buồng đốt mở toang mà còn cưỡng bức quạt gió tối đa. Đúng là một phép màu khi đầu máy xe lửa không bị văng đập nát bét vào đoạn cua hiểm trở của bờ kè. Nhưng rồi họ cũng vượt qua được. Chẳng một ai thiệt mạng. Chỉ độc nhất một người phụ nữ bị thương. Cô ta dính trọn một viên đạn vào ngực.”
“Chính là đây!” Annouchka hét lên.
Bằng một cử chỉ vô cùng tráng lệ, cô xé toang vạt áo trước ngực để lộ phần ngực trắng ngần đang phập phồng thở dốc, và đặt ngón tay lên một vết sẹo dài — thứ khiến lớp mỡ trên thái dương của Gounsovski bắt đầu tan chảy thành từng giọt mồ hôi đầm đìa đến mức lão chẳng dám đưa mắt nhìn vào.
“Mười lăm ngày sau,” vị hoàng tử tiếp tục câu chuyện, “Vlassof bước chân vào một quán trọ ở Lubetszy. Hắn không hề hay biết nơi đó đang tụ tập đầy rẫy lính tráng. Sắc mặt hắn không hề biến sắc. Bọn chúng xông vào lục soát. Chúng tóm được một khẩu súng lục và xấp tài liệu giấu trong người hắn. Bọn chúng thừa biết đã tóm được con cá bự cỡ nào. Một con mồi ngon béo bở. Vlassof bị tống giam về Moscow và bị kết án tử hình bằng đội hành quyết. Người em gái, dẫu mang thương tích đầy mình, vẫn dò la tin tức để tìm đến kết đoàn với anh. ‘Em không đời nào,’ cô ấy quả quyết với anh, ‘để anh phải chết cô độc một mình đâu.’ Cô cũng bị kết án tử. Trước giờ phút hành quyết, lính tráng ngỏ ý muốn bịt mắt họ lại, nhưng cả hai đều cự tuyệt, tuyên bố thà đối mặt trực diện với cái chết còn hơn. Theo lệnh, đội hình sẽ xử bắn toàn bộ những tử tù cách mạng khác trước, rồi mới đến lượt Vlassof, và cuối cùng là em gái hắn. Mặc cho Vlassof van xin được chết sau cùng nhưng vô ích. Những đồng đội lần lượt ngã quỵ gục xuống đất, máu tuôn xối xả từ những vết thương chí mạng. Vlassof ôm chầm lấy em gái rồi hiên ngang bước ra cọc bắn. Tại đó, hắn dõng dạc tuyên bố trước binh lính: ‘Giờ là lúc các anh phải làm tròn bổn phận theo đúng lời thề trước quốc kỳ. Hãy thực hiện nó một cách lương thiện hệt như tôi đã hoàn thành nghĩa vụ của mình. Thưa Đại úy, hãy ban lệnh đi.’ Loạt đạn vang rền. Vlassof vẫn đứng sừng sững sừng sững không xiêu vẹo, hai tay khoác chéo trước ngực, nguyên vẹn vô sự. Chẳng một viên đạn nào găm trúng người hắn. Lính tráng không nỡ khai hỏa vào hắn. Hắn buộc phải gằn giọng ra lệnh lần nữa yêu cầu bọn họ làm tròn bổn phận và tuân lệnh cấp chỉ huy. Bấy giờ bọn chúng mới bắn loạt thứ hai, và hắn gục xuống. Hắn trân trân nhìn em gái với đôi mắt ngập tràn nỗi thống khổ tột cùng. Nhận thấy anh mình vẫn còn thoi thóp thở, và với vẻ ra chiều nhân đức, viên đại úy — theo lời khẩn nài của Annouchka — liền bước tới kết liễu nỗi thống khổ của tử tù bằng cách nã thẳng một phát súng lục vào vành tai hắn. Giờ thì đến lượt Annouchka. Cô quỳ sụp xuống bên thi thể người anh trai, hôn lên đôi môi đẫm máu của hắn, rồi đứng phắt dậy dõng dạc tuyên bố: ‘Tôi đã sẵn sàng.’ Khi những nòng súng vừa giương lên, một viên sĩ quan hớt hải phi ngựa phóng như bay đến mang theo sắc lệnh ân xá của Sa hoàng. Cô chối từ sự ân xá đó, và kẻ vốn dĩ không bị trói buộc khi đối mặt với cái chết lại phải chịu cảnh bị trói quặt tay chân ép buộc phải sống khi hay tin mình được tha mạng.”
Giữa bầu không khí im phăng phắc đầy nghẹt thở của tất cả những kẻ có mặt, Hoàng tử Galitch toan cất lời bình luận thêm dăm ba câu cho câu chuyện rùng rợn của mình, nhưng Annouchka đã lạnh lùng cắt ngang:
“Câu chuyện đến đây là chấm hết,” cô phán. “Cấm ngậm miệng lại, thưa Hoàng tử. Nếu tôi nài nỉ anh tường thuật lại nó với đầy đủ sự kinh hoàng, nếu tôi muốn anh khơi gợi lại thời khắc đau thương tột cùng khi anh tôi bỏ mạng, thì đó là để cho ngài đây” — cô ngoắt ngón tay chỉ thẳng mặt Gounsovski — “được tường tận một lần và mãi mãi rằng: dẫu cho tôi có nhẫn nhịn chịu đựng vài tiếng đồng hồ để hòa mình vào cái đám đông nham nhở tạp nham bị áp đặt lên tôi thế này, giờ đây khi tôi đã sòng phẳng trả xong món nợ bằng cách chấp nhận cái bữa tiệc tơ lơ mơ gớm ghiếc này, thì tôi cắt đứt hoàn toàn mọi quan hệ với cái tên mối lái nhà thổ kiêm đao phủ vắt cổ chày ra nước đang ngồi lù lù ở đây.”
“Cô ta điên rồi,” lão lẩm bẩm trong miệng. “Con mụ này điên nặng rồi. Chuyện quái gì đang xảy ra với cô ta thế này? Có biến gì thế nhỉ? Rõ là ban ngày ban mặt cô ta còn niềm nở, dễ thương lắm cơ mà.”
Và lão lắp bắp với vẻ mặt thiểu não cùng nụ cười gượng gạo đến tội nghiệp:
“Ái chà, phụ nữ đúng là sinh vật khó hiểu! Thế rốt cuộc là tôi đã đắc tội gì với cô ta cơ chứ?”
“Mày đã đắc tội gì với tao ư, đồ khốn nạn? Belachof, Bartowsky và Strassof đâu rồi? Cả Pierre Slutch nữa? Hết thảy những đồng đội từng thề sống thề chết cùng tao thề thốt trả thù cho anh tao đâu rồi? Bọn chúng đâu hết rồi hả? Mày đã tống cổ bọn chúng lên cái đoạn đầu đài nào? Chôn vùi bọn chúng ở cái mỏ quặng khỉ ho cò gáy nào rồi? Thế mà mày vẫn trơ tráo tiếp tục làm cái nghề sai nha bỉ ổi ấy hả? Còn bạn bè tao, những người bạn khác, những thanh niên ngây thơ vô số tội chẳng gây ra tội tình gì sác ngoài việc ham vui tạt vào phòng hóa trang của tao quá thường xuyên và ngây thơ nghĩ rằng họ có thể thoải mái buôn chuyện tự do — họ đâu rồi hả? Tại sao mày lại lần lượt cướp họ đi khỏi tao? Tại sao họ lại biến mất một cách bí ẩn như thế? Chính mày, đồ chó chết, chính mày là kẻ đã theo dõi, rình rập họ, biến tao thành tòng phạm ghê tởm của mày, lôi kéo tao vào cái công việc bẩn thỉu nhơ nhuốc của mày, đồ khốn nạn! Mày thừa biết thiên hạ gọi tao là gì chứ. Mày biết điều đó từ lâu lắm rồi, và có lẽ mày đang cười hô hố khoái chí lắm đúng không. Nhưng tao, tao mãi cho đến tận tối nay mới bàng hoàng vỡ lẽ; mãi đến tối nay tao mới thấu tận tâm can mình nợ mày những gì. ‘Chim mồi! Chim mồi!’ Tao ư? Thật là kinh tởm! Ái chà, đồ chó chết, đúng là đồ chó chết! Mẹ mày, vào cái ngày mày chui ra khỏi bụng chui lên cõi đời này, mẹ mày...” Đến đây, cô tuôn ra tràng chửi rủa cay độc và thô tục nhất mà một người Nga có thể thốt ra để lăng mạ một con người.
Cô run lẩy bẩy nức nở trong cơn thịnh nộ, nhổ nước bọt phì phì vì căm phẫn, rồi đứng phắt dậy sẵn sàng chuồn bước, toàn thân quấn chặt trong chiếc khăn choàng lớn hệt như một lá cờ đỏ rực rỡ. Cô hiện lên như một bức tượng đài của sự thù hận và báo thù. Cô thật kinh hoàng và đáng sợ. Nhưng cô cũng thật xinh đẹp. Trước câu lăng mạ chí tử cuối cùng, Gounsovski giật nảy mình chồm phắt dậy đứng thẳng người lên hệt như vừa váng vất hứng trọn một cú đấm trời giáng vào mặt. Lão chẳng thèm liếc nhìn Annouchka, mà trân trân dán chặt mắt vào Hoàng tử Galitch. Ngón tay lão run rẩy chỉ thẳng mặt hắn:
“Chính là gã này,” lão rít lên qua kẽ răng, “là kẻ đã rót vào tai cô ta toàn bộ những chuyện nhảm nhí đó.”
“Phải, chính là ta đấy,” vị Hoàng tử điềm nhiên thừa nhận.
“Caracho!” Gounsovski gầm lên, lập tức lấy lại vẻ bình tĩnh đáng sợ.
“Ờ đấy, nhưng đố mày dám sờ gáy lão đấy,” mụ con hoang kiêu hãnh của Vùng Đat Đen thách thức; “mày chưa đủ tầm để làm trò đó đâu.”
“Tôi thừa biết ngài đây có vô số chỗ dựa thế lực to lớn ở triều đình,” trùm mật vụ nhún vai với vẻ bình thản đầy điềm gở. “Tôi chẳng có thù oán gì với ngài cả. Thưa phu nhân, cô vừa gào thét về số phận cay đắng của những người bạn bị hy sinh. Tôi hy vọng rằng có ngày cô sẽ nắm bắt thông tin chuẩn xác hơn, và sẽ thấu hiểu rằng tôi đã cố gắng cứu vớt tất cả những ai trong khả năng có thể.”
“Đi thôi,” Annouchka lầm bầm. “Tôi mà ở đây thêm tí nữa thể nào cũng nhổ nước bọt vào mặt hắn cho bõ ghét.”
“Vâng, cứu hết mức trong khả năng có thể,” lão ta lặp lại, kèm theo cử động quen thuộc là túm lấy gọng kính. “Và tôi sẽ tiếp tục làm thế. Tôi xin hứa sẽ chẳng thèm hé răng phàn nàn gì khó nghe với vị hoàng tử hơn là chuyện nhắc đến cô bồ nhí người Digan Katharina của ngài ấy — người mà ngài vừa hào phóng ban phát tài sản hồi nãy, chắc hẳn là bởi vì Boris Mourazoff trả thù lao bèo bọt quá cho những chuyến xách mé chạy việc vặt mỗi sáng đến biệt thự Krestowsky Ostrow của ả ta chăng.”
Nghe dứt câu nói đó, sắc mặt cả Hoàng tử lẫn Annouchka đều biến đổi ngoạn mục. Cơn giận dữ bùng nổ đỉnh điểm. Annouchka quay ngoắt đầu đi hệt như đang bận chỉnh lại nếp gấp khăn choàng. Về phần Galitch, lão ta chỉ nhướng vai khinh bỉ đầy kiên nhẫn rồi lẩm bẩm:
“Lại thêm một thứ trò bẩn thỉu bị đặt nào đó mà ngài đang nhào nặn ra, thưa ngài, và chúng tôi thì chẳng thèm phí lời đáp trả làm gì.”
Dứt lời, lão cúi đầu chào cả bàn tiệc, khoác tay Annouchka hiên ngang sải bước đi trước. Gounsovski cúi người chào, lưng gần như gập vuông góc làm đôi. Khi ngẩng đầu lên, đập vào mắt lão là ba gương mặt đang tái mét xanh lè vì khiếp hãi và kinh hoàng của Thaddeus Tchitchnikoff, Ivan Petrovitch và Athanase Georgevitch.
“Thưa các ngài,” lão cất giọng vô hồn, thứ âm thanh dường như chẳng thuộc về thể xác lão nữa, “thời khắc chia tay đã điểm. Tôi thiết nghĩ chẳng cần phải nói nhiều rằng chúng ta đã có một bữa tối thân tình như những người bạn, và nếu các ngài muốn, chúng ta có thể chôn vùi vào quên lãng toàn bộ những gì đã diễn ra tại căn phòng này.”
Ba kẻ còn lại, hồn vía lên mây, vội vã thề non hẹn biển giữ kín như bưng mọi chuyện. Lão lạnh lùng bồi thêm câu chốt, lần này mang giọng điệu đầy sát khí: “Phụng sự Sa hoàng,” và cả ba lắp bắp đồng thanh: “Chúa phù hộ Sa hoàng!” Đoạn, lão tống tiễn họ ra tận cửa. Khi cánh cửa vừa khép sập lại sau lưng bọn họ, lão lẩm bẩm: “Annouchka nhỏ nhắn của tôi ơi, cô đừng có mà tính toán qua mặt tôi nhé.” Lão hộc tốc quay người lao tới chiếc ghế sofa nơi Rouletabille đang ngả ngới nằm ngủ mê mệt bất tỉnh nhân sự, và giáng cho cậu một cái vỗ vai trời giáng.
“Dậy mau lên. Đừng có mà diễn tuồng giả vờ ngủ gật nữa. Không còn một giây nào để lãng phí đâu. Bọn chúng chuẩn bị ra tay thực hiện vụ Trebassof vào tối nay đấy.”
Rouletabille đã chồm người đứng phắt dậy từ bao giờ.
“Ồ, thưa ngài,” cậu lạnh lùng đáp, “tôi chẳng cần ngài phải nhiều lời ban phát thông tin đó đâu. Dù sao thì cũng cảm ơn ngài, và chúc ngài ngủ ngon.”
Cậu quay lưng bước thẳng ra ngoài.
Gounsovski giật chuông gọi hầu phòng. Một tên đầy tớ hớt hải xuất hiện.
“Bảo bọn chúng mở toang tất cả các phòng dọc theo hành lang này ra đi; ta không kìm chân bọn chúng nữa đâu.” Bằng cách đó, Gounsovski đã tự túc khôn ngoan che chở cho chính bản thân mình.
Bơ vơ một mình trong phòng, trùm cảnh sát mật vụ tự tay lau mồ hôi trên trán và nốc cạn nguyên một ly nước đá lớn chỉ trong một hơi duy nhất. Đoạn, lão lẩm bẩm:
“Koupriane tối nay có khối việc để làm đây; chúc lão ta gặp nhiều may mắn. Còn bọn chúng, mặc xác chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, ta rửa tay gác kiếm mặc kệ đời.”
Và lão xoa xoa đôi bàn tay mỡ màng của mình đầy thỏa mãn.